1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã mỹ bằng,huyện yên sơn ,tỉnh tuyên quang

98 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại nơi đây đã diễn ra rất nhiều sinh hoạt văn hóa như: Lễ hội, âm nhạc, múa, các làn điệu dân tộc và một số tín ngưỡng thờ cúng của các dân tộc thiểu số … Trong những năm vừa qua, xã đã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

CÔNG TÁC VĂN HÓA TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ MỸ BẰNG, HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH

TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Quốc Bảng Sinh viên thực hiện : Hoàng Ngọc Tiếp Lớp : QLVH 10A

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của bất cứ ai Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo

Hà Nội, ngày tháng năm 2013

Tác giả khóa luận

Hoàng Ngọc Tiếp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của chính bản thân, tôi còn nhận được nhiều sự giúp đỡ từ phía nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến Sỹ Trần Quốc Bảng,

là giảng viên trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện bài khóa luận, thầy đã dành nhiều thời gian thảo luận và định hướng cho đề tài của tôi Đặc biệt, thầy đã hỗ trợ và nhiệt tình giúp đỡ tôi có phương pháp nghiên cứu hiệu quả để đạt kết quả tốt nhất Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Bằng và đặc biệt là đồng chí Nguyễn Hải Dương - Trưởng Ban Văn hóa, Thông tin, Thể thao xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập tài liệu và khảo sát thực tế ở địa phương

Với những khó khăn đặc thù cùng với kiến thức còn hạn chế, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2013

Sinh viên

Hoàng Ngọc Tiếp

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

4, Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của đề tài 4

6 Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5

1.1 Khái niệm văn hóa và công tác văn hóa 5

1.1.1 Khái niệm văn hóa 5

1.1.2 Công tác văn hóa 7

1.2 Khái quát về vấn đề xây dựng nông thôn mới 12

1.2.1 Khái niệm xây dựng nông thôn mới 12

1.2.2 Nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 13

1.2.3 Các tiêu chuẩn nông thôn mới 22

1.2.3.1 Tiêu chuẩn “Hộ nông thôn mới” 22

1.2.3.2 Tiêu chuẩn “Thôn nông thôn mới” 23

1.2.3.3 Tiêu chí “Xã nông thôn mới” 24

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa công tác văn hóa với vấn đề xây dựng nông thôn mới 28

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC VĂN HÓA TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ MỸ BẰNG, HUYỆN YÊN

SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG 32

2.1 Khái quát về xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 32

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 32

2.1.1.1 Vị trí địa lý 32

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 33

2.1.2 Lịch sử hình thành 35

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

2.1.3.1 Điều kiện kinh tế 37

2.1.3.2 Tình hình văn hóa - xã hội 39

2.1.3.3 Văn hóa truyền thống 41

2.2 Thực tiễn của công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 42

2.2.1 Công tác thông tin tuyên truyền 42

2.2.2 Công tác tổ chức hoạt động nhà văn hóa – câu lạc bộ 45

2.2.3 Hoạt động thư viện – đọc sách báo 48

2.2.4 Hoạt động văn nghệ quần chúng 49

2.2.5 Hoạt động bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, giáo dục truyền thống 51

2.2.6 Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa và hoạt động thể thao vui chơi giải trí 54

2.2.6.1 Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa 54

2.2.6.2 Phong trào xây dựng gia đình văn hóa 55

2.2.6.3 Phong trào xây dựng làng văn hóa và khu dân cư văn hóa 58

2.2.6.4 Phong trào xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa 61

Trang 6

2.2.6.5 Công tác xã hội hóa văn hóa và hoạt động thể thao vui chơi giải trí 62

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CÁ NHÂN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC VĂN HÓA TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ MỸ BẰNG, HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG 65

3.1 Một số tồn tại và hạn chế của công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Bằng 65

3.1.1 Một số tồn tại và hạn chế 65

3.1.2 Nguyên nhân 71

3.1.2.1 Nguyên nhân chủ quan 71

3.1.2.2 Nguyên nhân khách quan 71

3.3 Một số đề xuất và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Bằng 72

3.3.1 Một số đề xuất 72

3.3.2 Một số giải pháp 77

KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm

và đã có nhiều cơ chế, chính sách để phát triển nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn" ghi rõ: "Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả

hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực

tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ,

có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân" [3B]

Quá trình xây dựng nông thôn mới bắt đầu từ năm 2008 Đến nay, diện mạo của các địa phương trên toàn quốc đang từng ngày khởi sắc Hệ thống cơ sở hạ tầng từ thôn cùng xóm vắng đến ven đô đều được thay đổi rõ rệt; cơ cấu và phương thức sản xuất nông nghiệp được chuyển đổi, tạo ra nhiều giá trị mới; chất lượng sống của nhân dân được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cả về xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển sản xuất cho tới hoạt động văn hóa - là yếu tố mang tính cơ sở, chiến lược và bền vững Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi đất nước nước ta đang tham gia vào quá trình hội nhập với khu vực và thế giới, làm thế nào để chúng ta hòa nhập nhưng không hòa tan và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình Có thể nói, trong quá trình phát triển của đất nước, xây dựng nền văn

Trang 8

hóa dân tộc và hiện đại là một tất yếu khách quan, được định hướng trên những phương tiện, đường lối, chính sách và những bước đi cụ thể với từng địa phương trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước nói chung và nông thôn nói riêng

Mỹ Bằng là một xã miền núi nằm ở phía tây của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, nơi đây có rất nhiều các dân tộc anh em cùng sinh sống bao gồm: dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, H’Mông … Chính điều đó đã tạo nên một chuỗi văn hóa phong phú, đa sắc màu Tại nơi đây đã diễn ra rất nhiều sinh hoạt văn hóa như: Lễ hội,

âm nhạc, múa, các làn điệu dân tộc và một số tín ngưỡng thờ cúng của các dân tộc thiểu

số … Trong những năm vừa qua, xã đã đạt được rất nhiều những thành tích đáng kể trong tiến trình thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Cụ thể, trong năm 2012, xã đã đạt được 14/19 chỉ tiêu dành cho nông thôn mới Song song với quá trình xây dựng nông thôn mới, xã Mỹ Bằng luôn luôn quan tâm đến công tác văn hóa

Do điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn và điều kiện đi lại còn hạn chế nên người dân ở nơi đây rất hiếm khi được tham gia và thưởng thức các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống và đương đại Bên cạnh đó, các thiết chế văn hóa phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt văn hóa của nhân dân tại địa phương đang bị xuống cấp trầm trọng và chưa hoàn thiện Chính điều đó đã tạo nên rất nhiều những khó khăn cho hoạt động xây dựng đời sống văn hóa tại địa phương

Có thể nói rằng: xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới luôn

là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong mối quan hệ giữ kinh tế và văn hóa Đó là làm sao để nhân dân trong xã Mỹ Bằng vừa có một đời sống vật chất khang trang, đầy đủ lại vừa có một đời sống văn hóa tinh thần phong phú, lành mạnh Và một điều quan trọng hơn nữa là làm sao để đưa văn hóa hội nhập cùng sự phát triển của xã hội nhưng lại không làm mất đi các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương Hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và phong trào “Xây dựng nông

Trang 9

thôn mới” Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Bằng đang từng bước thực hiện nhiệm vụ của Đảng

và Nhà nước đã đề ra Tuy nhiên còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả của công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã

Mỹ Bằng là vô cùng cần thiết

Là một người con sinh ra tại xã Mỹ Bằng, đặc biệt lại là người dân tộc thiểu số Tôi mong muốn được đóng góp ý kiến của mình cho công tác xây dựng đời sống văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại mảnh đất nơi mình đã sinh ra

Vấn đề trên tuy không mới nhưng chưa có ai nghiên cứu Do vậy, tôi chọn đề tài:

“Công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận về văn hóa và vấn đề xây dựng nông thôn mới

2.2 Tìm hiểu thực tiễn của công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại

xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

2.3 Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

3.2 Phạm vi nghiên cứu: xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi đã dựa trên đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và văn hóa làm cơ sở phương pháp luận, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu:

Trang 10

- Phương pháp điều tra, quan sát, mô tả

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp thống kê, phân loại

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa và vấn đề xây dựng nông thôn mới

Chương 2: Thực tiễn của công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại

xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

Chương 3: Một số đề xuất cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả công tác văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1 Khái niệm văn hóa và công tác văn hóa

1.1.1 Khái niệm văn hóa

“Văn hóa” là một thuật ngữ đa nghĩa, thường được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau Theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội, thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm, biểu hiện phương thức sống và sự sáng tạo của một dân tộc

Theo nghĩa chung nhất, văn hóa là hoạt động phát huy những năng lực bẩm sinh và bản chất của con người Đó là năng lực của nhận thức, hiểu biết, sáng tạo, là năng lực tình cảm, cảm xúc, tưởng tượng hướng tới cái chân, thiện, mỹ Văn hóa là hoạt động của con người, bằng lao động và tri thức, tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, tạo ra các chuẩn mực của xã hội, được thực hiện qua nhiều hoạt động như giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật, đạo đức, lối sống … Theo nghĩa đó, văn hóa bao trùm mọi hoạt động của đời sống xã hội, cũng như mọi hoạt động của cá nhân trong cộng đồng, nó vừa là sản phẩm tinh thần, vừa là sản phẩm vật chất do con người sáng tạo ra

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, người Hy Lạp cổ đại đã đưa ra lý giải đầu tiên về khái niệm văn hóa: từ “Văn hóa” đầu tiên được sử dụng là “Cultura” với nghĩa là cấy cày, vun trồng Như vậy, trên thực tế văn hóa lúc ban đầu chỉ mang ý nghĩa là lao động chân tay Đến năm 43 trước công nguyên được gọi là “Culturaanimi” chỉ ý nghĩa vun trồng trí tuệ, điều đó cho thấy sự phát triển về nhận thức của con người theo thời gian Theo UNESCO: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm

Trang 12

người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người những suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên công trình vượt trội lên bản thân” [24;tr23]

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở

và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [3;tr184]

Tầm quan trọng của văn hóa là vô cùng lớn, Liên Hợp Quốc đã từng cho rằng: Văn hóa có vai trò quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia, dân tộc, văn hóa đứng ở

vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Xác định được tầm quan trọng đó, Đảng

và Nhà nước ta luôn quan tâm và chỉ đạo sát sao các hoạt động văn hóa trong cả nước qua từng thời kì Tại nghị quyết trung ương V khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [8;tr55]

Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể thấy rằng: Văn hóa là sự phát triển năng lực của con người trong quá trình không ngừng nâng cao trình độ làm chủ của mình đối với

tự nhiên, xã hội và bản thân nhằm thỏa mãn nhu cầu về tinh thần và nhất là trong hoạt

Trang 13

động thực tiễn hướng tới các giá trị nhân văn Chính lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của văn hóa Trên hành tinh này không có gì quý hơn con người, thực chất chiến lược văn hóa cũng

là chiến lược con người Nếu văn hóa là sự phát triển năng lực khẳng định bản thân con người theo hướng ngày càng đạt tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, thì sự phát triển của văn hóa - nghệ thuật phải hướng vào con người, phát hiện ra bản chất con người và hoàn thiện nó cả về thể chất và tâm hồn, đạo đức và trí tuệ

1.1.2 Công tác văn hóa

Đời sống văn hóa là sự hiện diện, tồn tại và phát triển cả đời sống tinh thần trong toàn bộ hoạt động thực tiễn xã hội Văn hóa vốn là một hiện tượng xã hội gắn liền với

sự hình thành và phát triển của xã hội loài người Văn hóa mang bản chất là những giá trị chân, thiện, mỹ gắn với mọi sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần, mọi hoạt động của con người trong lĩnh vực xã hội Đời sống văn hóa bao gồm một tổng thể những hoạt động văn hóa tác động qua lại trong đời sống cá nhân trong cộng đồng để thúc đẩy

sự phát triển của đời sống xã hội Đời sống văn hóa cũng có khi được hiểu là cầu nối giữa văn hóa xã hội và văn hóa cá nhân Nó là một tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể Nó biểu hiện nhân cách văn hóa, cảnh quan văn hóa bao quanh con người, tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trong không gian, thời gian cụ thể, trực tiếp hình thành nếp sống và lối sống của con người

Công tác văn hóa ở cơ sở là hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cho nhân dân, là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã nhấn mạnh: “Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đưa văn hóa văn nghệ đến các vùng kinh tế mới, vùng căn cứ cách mạng, vùng dân tộc thiểu số và các vùng xa xôi, hẻo lánh” [6B]

Trang 14

Công tác văn hóa ở cơ sở là tổng hợp những hoạt động của các cơ quan làm công tác giáo dục văn hóa nhằm tuyên truyền, giáo dục, truyền bá văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa tinh thần của nhân dân và xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, tiến bộ trên từng địa bàn dân cư Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cũng có nghĩa là xây dựng đời sống vật chất và tinh thần phát triển vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Định hướng phát triển văn hóa Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa … Làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người … Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân … Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành mạnh” [7B]

Công tác văn hóa ở cơ sở được thể hiện ở những nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất là xây dựng con người văn hóa theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương V khóa VIII Trong văn kiện này, ban chỉ đạo Trung ương Đảng khóa VII đã nêu những đức tính cơ bản của con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới bao gồm: [8;tr59]

+ Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa

+ Có ý thức tập thể đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

+ Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỉ cương, phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

+ Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình và xã hội

Trang 15

+ Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực

Thứ hai là xây dựng gia đình văn hóa Đó là việc xây dựng gia đình có đời sống ấm no hạnh phúc, bình đẳng, hòa thuận, các thành viên thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, gia đình thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và các đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Thứ ba là xây dựng nếp sống văn hóa trong cộng đồng góp phần tạo ra lối sống lành mạnh, tốt đẹp cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình và toàn xã hội

Thứ tư là hoạt động xây dựng các thiết chế văn hóa nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động văn hóa

Năm 1981 – 1985 với việc phát động phong trào “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”, Bộ Văn hóa - thông tin đã đề ra chỉ tiêu rõ ràng bao gồm 6 nội dung chuyên ngành

cơ bản như sau:

Một là, hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động

Đây là nhiệm vụ chủ yếu của công tác văn hóa thông tin, có vai trò đưa thông tin đến với nhân dân một cách nhanh nhất và đầy đủ nhất về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tuyên truyền nêu gương người tốt việc tốt, phê phán các thói hư, tật xấu trong xã hội, góp phần tạo dựng nếp sống văn hóa ở cơ sở, hình thành những thói quen tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân Khi cung cấp và tiếp nhận thông tin cần đảm bảo thông tin nhiều chiều, khách quan, góp phần đẩy mạnh dân chủ hóa mọi mặt đời sống văn hóa, tăng cường hiểu biết, nâng cao dân trí Thông qua các hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động, các địa phương có cơ hội mở rộng, giao lưu và hợp tác với nhau, giúp đỡ nhau cùng phát triển về mọi mặt

Hai là, hoạt động nhà văn hóa - câu lạc bộ

Trang 16

Có thể nói đây là một thiết chế không thể thiếu đối với công tác văn hóa ở cơ sở Nhà văn hóa - câu lạc bộ là nơi để người dân có thể tham gia các hoạt động văn hóa, thể hiện tài năng của mình Đồng thời tạo nên một nét sinh hoạt mới, tích cực, tiến bộ trong cộng đồng Thông qua hoạt động của nhà văn hóa - câu lạc bộ sẽ giúp phát hiện và bồi dưỡng các tài năng trẻ và thành lập những đội văn nghệ nòng cốt để phục vụ cho phong trào văn hóa của địa phương Mặt khác, việc thành lập các câu lạc bộ còn giúp bảo lưu, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương và tạo điều kiện cho nhân dân được giao lưu, học hỏi những kinh nghiệm trong cuộc sống và công việc

Ba là, hoạt động thư viện đọc sách báo

Như chúng ta đã biết, sách báo là nguồn tri thức vô tận có chức năng cung cấp thông tin, truyền dạy kinh nghiệm, tri thức và nâng cao hiểu biết cho nhân dân Vì vậy, việc xây dựng thiết chế thư viện, cung cấp các tủ sách, đầu sách để đáp ứng nhu cầu của nhân dân là việc làm vô cùng cần thiết Mỗi địa phương cần đầu tư cho việc xây dựng thư viện để nó trở thành điểm đến quen thuộc của người dân mỗi khi họ cần tra cứu những thông tin liên quan đến đời sống và sản xuất

Bốn là, hoạt động văn nghệ quần chúng

Đây là hoạt động rất quan trọng góp phần làm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần của bà con nhân dân, khích lệ khả năng sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật trong quần chúng, làm phong phú đời sống văn hóa ở địa phương và bảo lưu, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống Nhờ các hoạt động văn nghệ quần chúng mà người dân được thưởng thức và trực tiếp tham gia biểu diễn, đây là cơ hội để họ được thể hiện mình và quảng bá các giá trị văn hóa của dân tộc, địa phương mình

Năm là, hoạt động bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, giáo dục truyền thống

Đây là hoạt động thiết thực nhằm duy trì và đẩy mạnh công tác văn hóa ở cơ sở Việc bảo vệ các di tích lịch sử góp phần xây dựng cảnh quan văn hóa và giao lưu văn hóa,

Trang 17

thông qua đó bảo vệ văn hóa truyền thống của các địa phương và các dân tộc Công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử có vai trò quan trọng trong việc khơi dậy tình yêu quê hương đất nước trong giới trẻ, giáo dục truyền thống văn hóa và truyền thống cách mạng, lưu giữ các giá trị di sản và gắn với phát triển du lịch tại địa phương

Sáu là, hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa, hoạt động thể thao vui chơi giải trí

Xây dựng nếp sống văn hóa được xem là yếu tố quan trọng trong công tác văn hóa ở cơ

sở, trong đó công tác xây dựng gia đình văn hóa được coi là yếu tố nền tảng cốt lõi nhất góp phần hình thành nên giá trị văn hóa của cá nhân và cộng đồng Bởi trong giai đoạn hiện nay, gia đình không chỉ đảm bảo chức năng sinh sản, duy trì nòi giống mà còn có vai trò to lớn về văn hóa, kinh tế, xã hội

Bên cạnh đó, hoạt động thể thao vui chơi giải trí cũng đóng vai trò rất quan trọng, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của các cá nhân trong cộng đồng mà còn góp phần tạo nên một đời sống văn hóa đa dạng, phong phú, lành mạnh, tiến bộ cho mỗi địa phương

Có thể nói, công tác văn hóa ở cơ sở chính là một nhiệm vụ then chốt của ngành văn hóa, thể thao và du lịch, là một chủ trương lớn của Đảng mang ý nghĩa chiến lược đồng thời có tính thời sự và cấp bách, là bước đi ban đầu không thể thiếu trong công cuộc

“Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và đồng thời cũng

là bước đầu xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc trên khắp mọi miền của tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 18

1.2 Khái quát về vấn đề xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Khái niệm xây dựng nông thôn mới

Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế; nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước … còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề

xã hội bức xúc Vì vậy phải tiến hành xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Quyết định số 800/ QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 Thời gian qua, các địa phương trong cả nước đang tiến hành xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Đây là chương trình mục tiêu Quốc gia mang tính toàn diện, là động lực phát triển lâu dài, bền vững ở khu vực nông thôn,

hướng đến “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

Có thể nói xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có

Trang 19

nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế

- chính trị tổng hợp giúp cho nông dân có thêm niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

1.2.2 Nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:

1.2.2.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm

2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu

tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020

- Phân công quản lý, thực hiện:

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện nội dung 1 “Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ”;

Trang 20

+ Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện nội dung 2: “Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế -

xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện

có trên địa bàn xã”;

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh 02 loại quy hoạch trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân xã tổ chức lập quy hoạch, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư, trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện các quy hoạch đã được duyệt

1.2.2.2 Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

- Nội dung:

+ Nội dung 1: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa);

+ Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

+ Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

+ Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

Trang 21

+ Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

+ Nội dung 6: Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;

+ Nội dung 7: Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số

xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa) Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)

- Phân công quản lý, thực hiện:

+ Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn thực hiện nội dung 1: “Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã”;

+ Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện nội dung 2: “Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã”;

+ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện nội dung 3: “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã”; + Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện nội dung 4: “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã”;

+ Bộ Giáo dục hướng dẫn thực hiện nội dung 5: “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã”;

+ Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện nội dung 6: “Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ”;

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện nội dung 7: “Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã”;

Trang 22

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

1.2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt;

- Nội dung:

+ Nội dung 1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;

+ Nội dung 2: Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;

+ Nội dung 3: Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;

+ Nội dung 4: Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;

+ Nội dung 5: Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn

- Phân công quản lý, thực hiện:

+Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện nội dung 1, 2, 3, 4;

+ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện nội dung 05

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;

Trang 23

+ Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

1.2.2.4 Giảm nghèo và an sinh xã hội

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

- Nội dung:

+ Nội dung 1: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho

62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a

của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

+ Nội dung 2: Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo;

+ Nội dung 3: Thực hiện các chương trình an sinh xã hội

- Phân công quản lý, thực hiện:

+ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện các nội dung trên;

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung có liên quan nêu trên; Đồng thời chỉ đạo thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

1.2.2.5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến

2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn

- Nội dung:

+ Nội dung 1: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;

+ Nội dung 2: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;

+ Nội dung 3: Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

- Phân công quản lý, thực hiện:

Trang 24

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, hướng dẫn thực hiện các nội dung 1, 3;

+ Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện nội dung 2;

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án theo nội dung 1, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện

1.2.2.6 Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến

2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;

- Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

- Phân công quản lý, thực hiện:

+ Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án;

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án; đồng thời chỉ đạo thực hiện; + Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

1.2.2.7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cƣ dân nông thôn

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến

Trang 25

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

1.2.2.8 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến

2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn;

- Phân công quản lý, thực hiện:

+ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, hướng dẫn thực hiện nội dung 1;

+ Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, hướng dẫn thực hiện nội dung 2;

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư và

tổ chức thực hiện

1.2.2.9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế,

Trang 26

công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80%

ở các công trình công cộng…

- Phân công quản lý, thực hiện:

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, hướng dẫn thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng dự án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các xã xây dựng dự án, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư và

tổ chức thực hiện

1.2.2.10 Nâng cao chất lƣợng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến

2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

- Nội dung:

+ Nội dung 1: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

Trang 27

+ Nội dung 2: Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;

+ Nội dung 3: Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong

hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

- Phân công quản lý, thực hiện:

+ Bộ Nội vụ chủ trì, hướng dẫn thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung có liên quan; đồng thời chỉ đạo, triển khai thực hiện;

+ Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án theo nội dung 1, 3 và tổ chức thực hiện

1.2.2.11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến

2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới

- Phân công quản lý, thực hiện:

+ Bộ Công an chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án;

+ Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

Trang 28

1.2.3 Các tiêu chuẩn nông thôn mới

1.2.3.1 Tiêu chuẩn “Hộ nông thôn mới”

Một là, Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương:

- Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật Nhà nước (không

di dịch cư trú tự do; không phá rừng làm nương; không hủy hoại nguồn nước; không lấn chiếm, sử dụng đất đai trái phép; không mua, bán, vận chuyển, tàng trữ lâm sản, khoáng sản trái phép; không khiếu kiện đông người), quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng;

- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư;

- Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn

xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm;

- Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng Hai là, gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng:

- Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan;

- Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, đặc biệt là tiếng nói, chữ viết, trang phục và phong tục tập quán tốt của dân tộc mình, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình;

Trang 29

- Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; có trên 50% số người trong hộ có bảo hiểm y tế;

- Nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh-sạch-đẹp; sử dụng nước sạch; nhà tắm, nhà vệ sinh

và chuồng nuôi gia súc hợp vệ sinh, được chỉnh trang xây dựng theo quy hoạch; các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao;

- Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động

“Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng

Ba là, Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả:

Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trên 50% lao động trong hộ được đào tạo nghề

Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “Xóa đói giảm nghèo”, năng động làm giàu chính đáng

Kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao

Bốn là, Sản xuất và xây dựng nơi ở phải theo quy hoạch

1.2.3.2 Tiêu chuẩn “Thôn nông thôn mới”

Có tối thiểu 70% số hộ đạt tiêu chuẩn “Hộ nông thôn mới”

- Thực hiện đúng theo quy hoạch của xã về hạ tầng, sản xuất, dân cư

- Các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội đạt chuẩn (giao thông: trên 50% số đường trục thôn được cứng hóa đạt chuẩn; cơ bản đường ngõ, xóm không lầy lội vào mùa mưa; 65% đường trục chính ra đồng được cứng hóa; thuỷ lợi: hệ thống thuỷ lợi trên địa bàn đáp ứng cơ bản yêu cầu về sản xuất và dân sinh; điện: trên 70% số hộ sử

Trang 30

dụng điện an toàn, thường xuyên; cơ sở vật chất trường học trên địa bàn đạt chuẩn;

có nhà văn hóa, khu thể thao theo quy định của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch; 60% nhà ở đạt chuẩn Bộ Xây dựng, không còn nhà tạm

- Về thu nhập: 90% số hộ có đời sống ổn định; Tỷ lệ hộ nghèo <5%

- Đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, phong phú:

+ Có hương ước cộng đồng và được thực hiện đầy đủ; các công trình lịch sử, văn hoá, cảnh quan được tôn tạo, bảo vệ; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang…; không có người mắc tệ nạn xã hội (nghiện hút, cờ bạc, mại dâm, vận chuyển, tàng trữ, mua bán ma tuý và các văn hoá phẩm độc hại thuộc diện cấm lưu hành) Có phong trào giúp nhau giảm nghèo, cải thiện, nâng cấp nơi ăn, ở phù hợp yêu cầu nông thôn mới

+ 100% trẻ trong độ tuổi được đến trường; Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở; Tổ chức tốt tuyên truyền giáo dục pháp luật; tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 50%

+ Bảo hiểm y tế trên 50% số hộ; Không xảy ra dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm đông người; 100% trẻ em được tiêm chủng; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng nhỏ hơn 1,5%

+ 60% hộ sử dụng nước sạch, nhà tắm, nhà tiêu, chuồng nuôi gia súc hợp vệ sinh; Không có hoạt động suy giảm môi trường; Nghĩa trang được quản lý theo quy hoạch; Rác thải, chất thải được thu gom xử lý thích hợp; Đường làng, ngõ xóm phong quang, sạch sẽ

- Trong năm, Chi bộ và các tổ chức đoàn thể xếp loại khá; không có các điểm nóng

về an ninh trật tự xã hội; không có khiếu kiện đông người vượt cấp kéo dài

1.2.3.3 Tiêu chí “Xã nông thôn mới”

Gồm 19 tiêu chí trên 5 lĩnh vực được quy định tại Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 31

2 Giao thông

- Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện

3 Thủy lợi

- Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; tỷ lệ km kênh mương

do xã quản lý được kiên cố hóa

4 Điện

- Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn

Trang 32

5 Trường học

Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia

6 Cơ sở vật chất văn hóa

- Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

- Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao

12 Cơ cấu lao động

Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp

Trang 33

- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

18 Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh

- Cán bộ xã đạt chuẩn; có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh"; các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên

19 An ninh, trật tự xã hội

An ninh, trật tự xã hội được giữ vững

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa công tác văn hóa với vấn đề xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được thực hiện ngày càng đi vào chiều sâu và đã đạt được những kết quả quan trọng Nhận thức của người dân ngày càng được nâng cao; hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ nét; sản xuất phát triển cả về tính chất lẫn quy mô … Tuy nhiên, bên cạnh những tiêu chí thiên về vật chất, cần chú trọng xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh, làm nền tảng tinh thần

và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Với những mục tiêu mang tính tổng thể, chiến lược và có tính thực tiễn cao, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được coi là cơ hội lớn đối

Trang 34

với sự phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng chất lượng và bền vững Trên thực tế, nông thôn là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về thành phần dân cư Nông nghiệp và nông thôn có một vị trí và vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước Văn hóa nông thôn - cội rễ là văn hóa làng - là điểm hội tụ,

là bản thể của văn hóa Việt Bởi lẽ, từ xa xưa, cộng đồng nhỏ của người Việt là những xóm làng bé nhỏ khoảng mấy chục hoặc mấy trăm nóc nhà Hầu như mọi sinh hoạt kinh

tế và tinh thần đều được diễn ra trong làng Làng luôn là điểm tựa tinh thần cho mỗi con người và tình làng nghĩa xóm đã trở thành một tình cảm quý báu của nền văn hóa Việt Nam Trong tâm thức của mỗi người Việt, hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình, dòng sông, bến đò, rặng tre, cánh đồng … luôn là những gì vô cùng gần gũi và in sâu trong tâm hồn mỗi người Theo thời gian, nông thôn Việt, làng Việt ngày nay đã khác xưa Nền kinh tế phát triển, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, cơ cấu kinh tế và cơ cấu

xã hội biến đổi, quỹ thời gian của con người cũng trở nên eo hẹp hơn, không gian văn hóa làng Việt, nông thôn Việt cũng theo đó mà biến đổi dần Các khu công nghiệp tràn

về, những làng quê yên ả giờ đây rộn rã tiếng công trường xây dựng, những khu đô thị, những chung cư cao tầng mọc lên thay cho cảnh làng quê thanh bình, tĩnh lặng, không gian kiến trúc của các làng cổ bị mất đi, nhiều nét sinh hoạt văn hóa bị mai một, tệ nạn

xã hội có xu hướng gia tăng …

Vì vậy, việc gìn giữ và phát huy yếu tố văn hóa trong xây dựng nông thôn mới vừa

là mục tiêu, vừa là yêu cầu của sự phát triển bền vững; vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng mang tính nhân văn của Đảng và Nhà nước Xây dựng nông thôn mới là phải tạo ra con người mới, sản phẩm mới và giá trị mới của nông thôn Một nông thôn hiện đại phải có những giá trị mới về kinh tế, văn hóa Nông thôn văn minh nhưng vẫn phải bảo tồn, gìn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống

Trang 35

Tuy nhiên nhìn chung, xây dựng nông thôn mới hiện nay vẫn còn tập trung chủ yếu vào xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển sản xuất, chưa chú trọng đầu tư phát triển đồng bộ các tiêu chí “Phi sản xuất” như: Văn hóa, giáo dục, môi trường, an ninh nông thôn … những yếu tố mang tính cơ sở, chiến lược và bền vững Điều này cũng đã đặt ra một bài toán cho các nhà Quản lý văn hóa là làm thế nào có thể phát triển công tác văn hóa song song với tiến trình xây dựng nông thôn mới và làm thế nào để xây dựng nông thôn Việt Nam “Giàu” và “Văn hóa”

Nói về mối quan hệ giữa công tác văn hóa và vấn đề xây dựng nông thôn mới, Nhà nghiên cứu - Họa sỹ Lê Anh Tuấn đã phân tích: “Trong xây dựng nông thôn mới, văn hóa và kinh tế có mối quan hệ và hỗ trợ nhau rất tích cực Thực tế, nếu xã nào chịu đầu

tư cho văn hóa thì diện mạo của xã đó sẽ có sự sáng sủa và nổi trội hơn Xét đến cùng, văn hóa và kinh tế đều hướng đến một mục đích, đó là thúc đẩy xã hội tiến lên Tuy nhiên một bất cập hiện nay, đó là trong đầu tư phát triển kinh tế có cả chiến lược và chiến thuật; còn đầu tư cho phát triển văn hóa thì chỉ có chiến lược mà chưa có chiến thuật” [4B]

Để khắc phục tình trạng này, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 22/QĐ-TTg, ngày 05/01/2010 phê duyệt đề án "Phát triển văn hoá nông thôn đến năm

2015, định hướng đến năm 2020" hướng tới mục tiêu chung là: Nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật và các quy định về văn hóa của người dân ở nông thôn; xây dựng, củng cố và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở, tạo điều kiện để người dân ở nông thôn nâng cao mức hưởng thụ tham gia hoạt động và sáng tạo văn hóa; nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, thực hiện các tiêu chí phát triển văn hóa nông thôn mới cấp xã, tạo nền tảng vững chắc để phát triển văn hóa nông thôn và môi trường văn hóa nông thôn lành mạnh, phong phú, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, tạo động lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp và xây dựng nông

Trang 36

thôn mới Đề án còn nêu rõ, phát triển văn hóa nông thôn trên cơ sở kế thừa những kết quả, thành tựu đã đạt được trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn; việc xây dựng nông thôn văn minh, hiện đại phải bảo tồn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với từng vùng, miền, từng dân tộc

Có thể nói, công tác văn hóa và vấn đề xây dựng nông thôn mới có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Khi tiến hành xây dựng nông thôn mới sẽ

giúp cho người dân có điều kiện để tham gia các hoạt động văn hóa do hệ thống đường

xá nông thôn được cải thiện sẽ giảm bớt khó khăn trong việc đi lại, khi đời sống vật chất của người dân được ổn định họ sẽ có điều kiện để thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tham gia các hoạt động văn hóa - nghệ thuật

Mặt khác, trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới có 2 tiêu chí thuộc lĩnh vực văn hóa Đó là tiêu chí số 6 (xây dựng cơ sở vật chất văn hóa ) và 16 (Xây dựng làng văn hóa) Vì vậy, để đạt được thành công trong quá trình xây dựng nông thôn mới chúng

ta phải thực hiện 2 mục tiêu trên thuộc công tác văn hóa ở cơ sở

Việc xây dựng các thiết chế văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư sẽ giúp cho công tác văn hóa có điều kiện để phát triển, giúp cho người dân có điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa - nghệ thuật

Ngược lại, công tác văn hóa cũng góp phần giúp cho tiến trình xây dựng nông thôn mới được thực hiện nhanh và hiệu quả hơn Thông qua hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động và các hoạt động văn nghệ quần chúng, sẽ giúp cho người dân thấu hiểu và làm theo các chính sách của đảng và pháp luật của nhà nước về xây dựng nông thôn mới, giữ vững niềm tin đối với Đảng và cống hiến hết mình cho công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước

Đảng và Nhà nước ta đã xác định, văn hóa là nền tảng và là động lực của sự phát triển Vì vậy, trong xây dựng nông thôn mới, cần phải coi xây dựng và phát huy yếu tố

Trang 37

văn hóa là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu Theo đó, việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở có vai trò là nền móng để đặt những viên gạch đầu tiên cho “Đại công trình” Nông thôn mới Khi khối đoàn kết cộng đồng dân cư được củng cố, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân được tăng cường, dân chủ được tôn trọng và mở rộng, dân trí được nâng cao, dân sinh được cải thiện, kinh tế được mở mang, giao lưu được

mở rộng, tệ nạn xã hội được ngăn chặn, đời sống văn hóa tinh thần phong phú và lành mạnh … thì nông thôn mới mới thực sự hiện diện và phát triển bền vững

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC VĂN HÓA TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI

XÃ MỸ BẰNG, HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

2.1 Khái quát về xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Mỹ Bằng là một xã Miền núi nằm ở phía Tây của huyện Yên Sơn

Phía Bắc giáp với xã Bạch Hà và xã Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

Phía Đông giáp xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

Phía Tây giáp thị trấn Thác Bà và xã Hán Đà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

Phía Nam giáp xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và xã Đông Khê, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ [12;tr2]

Trên địa bàn xã có con đường quốc lộ 37 (Đường 13A cũ) chạy ngang qua trung tâm từ Đông sang Tây nối thành phố Tuyên Quang với thị trấn Thác Bà, Yên Bái, giao với quốc lộ 70, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ Đây là hai con đường giao thông huyết mạch phục vụ tích cực công cuộc chi viện cho tiền tuyến trong các chiến dịch biên giới Tây Bắc, Nghĩa Lộ, Điện Biên Phủ Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ được Trung ương Đảng, Chính Phủ xác định đây là con đường huyết mạch được ưu tiên số 1 của chiến dịch Đương thời đây là con đường giao lưu đi lại để trao đổi Kinh tế - Văn hoá - Xã hội giữa nhân dân xã Mỹ Bằng với thành phố Tuyên Quang nói riêng và với nhân dân các tỉnh Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ nói chung

Với vị trí chiến lược là ngã ba đường nơi giáp ranh của ba tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, là cửa ngõ phía Tây của tỉnh nối liền giữa Tây Bắc và Việt Bắc

Trang 39

Ngoài việc giao lưu kinh tế - Văn hoá - Xã hội, Mỹ Bằng còn có vị trí hết sức trọng yếu

về mặt chính trị quân sự Vì thế thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã xây dựng các đồn bốt, tháp canh ở đây để kiểm soát các hoạt động đi lại trao đổi buôn bán và thu thuế của nhân dân như: đồn Kiểm Lâm (thôn Cây Quân - cạnh phà Hiên), để kiểm soát đường sông, Gò Đồn (thôn Lũng) để kiểm soát con đường từ Mỹ Bằng đi Thác Bà, đồn Tây (thôn Đõ) để kiểm soát Mỹ Bằng đi Nhữ Hán [12;tr3]

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Mỹ Bằng là vùng đất giáp ranh có con sông Chảy hình thành đường biên giới giữa hai tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái, địa hình của xã cao ở phía Bắc, thấp dần về phía Nam Ở trung tâm xã và lan toả sang hai phía Đông, Tây là các dãy đồi bát úp, nhấp nhô xen kẽ, giữa là ba con suối bắt nguồn từ đỉnh núi Là và các hồ nước trong xã Vì vậy việc sử dụng nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu cho đồng ruộng của xã chủ yếu là nước

từ các con sông, suối, ngòi và nước thiên nhiên

Với khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Nam Trung Quốc nên

ở Mỹ Bằng có 2 mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, hanh khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9 với kiểu thời tiết nóng ẩm mưa nhiều, lượng mưa tập trung vào tháng 7, 8 gây lũ lụt ở các xóm ven sông, lũ quét đối với các xóm ở dưới chân núi (Phía Bắc xã), nhiệt độ cao nhất là 37 độ, nhiệt độ thấp nhất trong năm là

10 -12 độ Lượng mưa trung bình 1500 - 1800 mm/năm Tạo lên thảm thực vật phong phú Theo các bậc cao niên trong xã kể lại, cách đây chưa đầy nửa thế kỷ xã Mỹ Bằng

có nhiều rừng rậm, có cả rừng nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý như: Lát, Lim, Sến, Táu nhưng nhiều nhất vẫn là Lim Rừng xã Mỹ Bằng có nhiều loại cây ăn quả quý như: Trám Đen, Trám Trắng, Đài Hái, Sung, Ngoã Mật Được nhân dân địa phương dùng làm thức ăn và hàng hoá, có giá trị dinh dưỡng cao Bên cạnh đó, ở rừng Mỹ Bằng còn

có nhiều loại cây khác, trong đó có nhiều loại cây được nhân dân sử dụng vào rất nhiều

Trang 40

việc trong sinh hoạt và đời sống hàng ngày như vật liệu làm nhà, đồ dùng trong nhà, phương tiện sản xuất, dược liệu điều trị bệnh và bồi bổ sức khoẻ Chưa kể nhiều loại chim thú quý hiếm như: Hổ, Báo, Lợn rừng, Hươu, Nai, Trăn, Rắn Trong một thời gian dài người dân trong xã sống chủ yếu nhờ vào các sản vật của rừng được thiên nhiên ban tặng Rừng già đã cùng người dân Mỹ Bằng sát cánh đùm bọc, che chở trong các cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc [12;tr2,3]

Vùng rừng núi cao phía Bắc, Đông Bắc xã với những dãy núi đồi liên tiếp bao bọc như những lá chắn thép khổng lồ có độ cao trung bình trên 500m so với mực nước biển (Đặc biệt có ngọn núi Là - Đá Bàn cao trên 900m) với những hang động, hang đá sâu rộng thuận lợi cho việc trú ngụ an toàn của các nhà hoạt động cách mạng Các sườn đồi núi có độ dốc trung bình từ 15 độ trở lên, chủ yếu là đất đỏ, vàng trên nền đá Apatít Nơi đây có những rừng cây rậm rạp, um tùm, nhiều tầng là nơi đóng quân hoạt động bí mật an toàn của các vị lãnh đạo cách mạng, các cơ quan, kho tàng và công xưởng

Vùng rừng đồi đan xen với các dãy núi chiếm phần lớn diện tích trong xã chủ yếu là những đồi rừng bát úp trải dài xuống phía Nam của xã Trước đây là những rừng cây rậm rạp thuận lợi cho việc đóng quân, trú ẩn và sản xuất của các công binh xưởng, cơ quan đơn vị bộ đội, thì ngày nay lại được khai thác trở thành những vùng đất trồng chè làm tăng thu nhập cho nhân dân trong xã

Vùng đất thấp ven sông là những thung lũng tạo lên những cánh đồng màu mỡ phù sa chạy dọc suốt bờ sông Chảy, đan xen với những khe suối, hồ đập là nơi canh tác, sản xuất thuận lợi cho việc trồng cấy lúa nước

Đất đồi ở Mỹ Bằng có tầng canh tác dày, độ dinh dưỡng khá cao phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của nhiều cây công nghiệp và các loại cây dài ngày như Chè, Sắn, Mía và cây nguyên liệu giấy Đây là thế mạnh để phát triển kinh tế đồi rừng của xã Mỹ Bằng [12;tr3]

Ngày đăng: 05/06/2021, 00:25

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w