Tiếp đến là bài viết của tác giả Bùi Văn Nguyên trong bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, xuất bản năm 1964, ông khẳng định vị trí của Nguyễn Quang Bích trong dòng văn học yêu nước cận
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ văn hóa, thể thao vμ du lịch
Trường đại học văn hóa hμ nội
Ngô Thị Minh Tâm
Danh nhân nguyễn quang bích trong đời sống văn hóa Việt Nam
Chuyên ngành: Văn hóa học Mã số: 60 31 70
Tóm tắt Luận văn thạc sĩ văn hóa học
Hμ Nội - 2012
Trang 2Mục lục
Lời cảm ơn
Bảng chữ viết tắt
Mục lục
Mở đầu
Chương 1: Danh nhân và vấn đề tôn vinh danh nhân trong lịch sử văn hóa truyền thống nước ta
1.1 Thuật ngữ danh nhân dưới góc nhìn văn hóa học
1.1.1 Khái niệm văn hóa
1.1.2 Danh nhân - một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc
1.1.2.1 Quan niệm về danh nhân
1.1.2.2 Danh nhân - bộ phận của di sản văn hóa dân tộc
1.1.3 Danh nhân - một nhân cách văn hóa
1.2 Tôn vinh danh nhân và ý nghĩa của việc tôn vinh danh nhân
1.2.1 Vấn đề tôn vinh danh nhân trong lịch sử văn hóa truyền thống
1.2.2 ý nghĩa của việc tôn vinh danh nhân
Tiểu kết chương 1
Chương 2: Danh nhân Nguyễn Quang Bích - con người và sự nghiệp
2.1 Khái quát về thời đại và sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích
2.1.1 Bối cảnh lịch sử thời Nguyễn
2.1.2 Thân thế Nguyễn Quang Bích
2.2 Sự nghiệp Nguyễn Quang Bích
2.2.1 Sự nghiệp cứu nước
2.2.1.1 Sự nghiệp chính trị
2.2.1.2 Sự nghiệp quân sự
Trang
1
4
[
11
12
12
16
16
20
22
23
23
27
31
32
32
32
38
42
42
42
45
Trang 32.2.1.3 Sự nghiệp ngoại giao
2.2.2 Sự nghiệp thơ văn
2.3 Giá trị nhân cách danh nhân Nguyễn Quang Bích
2.3.1 Tư tưởng yêu nước thương dân
2.3.2 Tận trung với nước…………
2.3.3 Tinh thần bất khuất, anh dũng
2.3.4 Tình nhân ái, đoàn kết
2.4 Nhận định về vai trò của danh nhân Nguyễn Quang Bích đối với sự phát triển, xây dựng nền văn hóa dân tộc
Tiểu kết chương 2
Chương 3: Bảo tồn và Phát huy giá trị danh nhân Nguyễn Quang Bích trong đời sống văn hóa Việt Nam
3.1 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân Nguyễn Quang Bích trong đời sống văn hóa Việt Nam
3.1.1 Khu tưởng niệm Nguyễn Quang Bích (xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình)
3.1.2 Di tích cột cờ Hưng Hóa và đền thờ Nguyễn Quang Bích (thị trấn Hạ Hòa, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ)
3.1.3 Di tích Căn cứ Tiên Động (xã Tiên Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ)
3.1.4 Di tích Căn cứ Tôn Sơn, xã Mộ Xuân, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
3.1.5 Các chương trình học tập, giáo dục theo gương danh nhân
3.1.6 Hình thức đặt tên đường phố, trường học
3.1.7 Lễ dâng hương, hội thảo khoa học
50
52
58
58
61
62
63
65
67
69
69
69
72
73
77
78
79
79
Trang 43.2 Các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân Nguyễn Quang
Bích trong đời sống văn hóa Việt Nam
3.2.1 Phương hướng chung
3.2.2 Các giải pháp
3.3 Kiến nghị
Kết luận
81
81
83
86
88
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử dân tộc, danh nhân là những người có đóng góp đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng, là tấm gương tiêu biểu cho truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Theo dòng chảy lịch sử, danh nhân trở thành tinh hoa của đất nước, góp phần bồi đắp nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người
Danh nhân Nguyễn Quang Bích - nhà yêu nước, nhà thơ, lãnh tụ phong trào Cần Vương chống Pháp đầu tiên ở Bắc kỳ, ông sinh ra và lớn lên dưới triều Nguyễn, làm quan tới chức Hiệp biện đại học sĩ, Lễ bộ thượng thư, Hiệp thống Bắc kỳ quân vụ đại thần, tước thuần trung hầu - một trong tứ trụ triều
đình dưới thời Nguyễn Cuộc đời và sự nghiệp của ông được người đương thời
và hậu thế đánh giá cao trên nhiều phương diện: GS, thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã viết: “Cụ Nguyễn Quang Bích, sĩ phu yêu nước, không tham danh vọng, một lòng vì dân vì nước đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, để lại cho dân tộc ta những bài học quý báu về đường lối chính trị, quân sự, về chiến lược quân sự” Giáo sư Phạm Thiều trong tác phẩm
Ba nhân vật một tâm hồn đã đánh giá: Miền Nam có thủ khoa Huân, miền
Trung có Phan Đình Phùng, miền Bắc có Nguyễn Quang Bích “Tâm hồn yêu nước được kết tụ ở ba con người ưu tú Bắc Trung Nam, nói lên tính thống nhất của dân tộc ta về mặt tư tưởng Tâm hồn ấy mãi trường tồn trong không gian
và thời gian”
Thủ lĩnh Cần Vương Tống Duy Tân xưa đã viết về ông:
“Một trụ chống trời danh vọng lớn Bốn bề dậy đất tiếng quân ran Nghe tên lũ giặc đà lạnh gáy Thấy mặt ai người chẳng vững gan”
Trang 6Đã hơn một thế kỷ đi qua, nhưng những đóng góp của nhân vật lịch sử này như mạch nguồn chảy mãi trong đời sống văn hóa Việt Nam
Hiện nay, trước ngưỡng cửa của sự giao lưu hội nhập kinh tế văn hóa, danh nhân như tấm gương soi suốt dặm đường phát triển của dân tộc Đây là sợi chỉ đỏ gắn kết giữa truyền thống và hiện đại Tấm gương, đạo đức, nhân cách Nguyễn Quang Bích cùng những thành tựu trong cuộc đời ông sẽ là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao, có tác dụng giáo dục lòng yêu nước, tinh thần học tập, sáng tạo của các thế hệ tương lai
Theo quan niệm chung, danh nhân không phải chỉ là người của một thời
đại, mà còn là nhân vật lịch sử được nhân dân tôn vinh và truyền tụng từ đời này sang đời khác, cho nên danh nhân trở thành bộ phận của di sản văn hóa dân tộc Bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hoá danh nhân là việc làm cần thiết của mỗi quốc gia, là nhân tố quan trọng của sự phát triển bền vững, góp phần thiết thực vào việc giữ gìn cốt cách, bản sắc văn hóa dân tộc Tìm hiểu về danh nhân Nguyễn Quang Bích chính là hướng đến mục tiêu như thế!
Là người con của quê hương Thái Bình, hậu duệ đời thứ 5 của danh nhân Nguyễn Quang Bích, tôi rất tâm đắc với việc sưu tầm, nghiên cứu, tìm hiểu về danh nhân Nguyễn Quang Bích - Người đã làm rạng danh dòng họ Ngô ở Tiền Hải, Thái Bình Để tìm hiểu sự nghiệp, biểu thị sự tri ân với tổ
tiên, tôi lựa chọn đề tài: “Danh nhân Nguyễn Quang Bích trong đời sống
văn hóa Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn hóa học
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, nghiên cứu về danh nhân ở nước ta đã được nhiều học giả sưu tầm, tập hợp và biên soạn dưới dạng từ điển như: Từ điển nhân vật lịch sử, từ điển văn hóa, từ điển văn học, các loại sách về danh
nhân…
Trang 7Là một trong những thủ lĩnh của phong trào Cần Vương kháng Pháp, từ nhiều thập kỷ qua, nhà yêu nước, nhà thơ Nguyễn Quang Bích đã được giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, giới thiệu
Có công lớn trong việc giới thiệu về Nguyễn Quang Bích là nhóm tác giả Kiều Hữu Hỷ, Lã Xuân Mai, Nguyễn Xuân Bách, Nguyễn Bỉnh Khôi,
Đinh Xuân Lâm với công trình Thơ văn Nguyễn Quang Bích được xuất bản
lần đầu tiên năm 1961 và tái bản năm 1973 Đây là công trình biên khảo tập hợp khá đầy đủ thơ văn Nguyễn Quang Bích và một số tư liệu khác Cuốn
Lịch sử cận đại Việt Nam, Tập II của GS Trần Văn Giàu và GS Đinh Xuân
Lâm do nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội phát hành năm 1961, trong đó bài giới thiệu của GS Đinh Xuân Lâm đã đưa ra một cái nhìn khá toàn diện về con người, cuộc đời cũng như thơ văn Nguyễn Quang Bích: “Tư tưởng và tình cảm của ông bắt nguồn sâu từ trong truyền thống vĩ đại không có gì quý hơn độc lập tự do của dân tộc ta trong lịch sử” Tiếp đến là bài viết của tác giả Bùi Văn
Nguyên trong bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, xuất bản năm 1964, ông
khẳng định vị trí của Nguyễn Quang Bích trong dòng văn học yêu nước cận
đại Việt Nam, tác giả cho rằng: “Sự kết hợp giữa nhà yêu nước và tâm hồn thi nhân đã giúp Nguyễn Quang Bích bộc lộ được tâm hồn của một cô thần sống chết vì nước, đồng thời ghi lại những nét chân thật về cuộc kháng chiến chống Pháp của nghĩa quân, về thiên nhiên vùng Tây Bắc…” Tiếp đến là các sách,
tạp chí nghiên cứu sự nghiệp chống Pháp của Nguyễn Quang Bích như: Bàn
thêm về tính chất, vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh chống xâm lược Pháp vào cuối thế kỷ XIX” của GS Đinh Xuân Lâm và GS Nguyễn Văn
Khánh Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6 năm 1986, Vai trò của cụ Hoàng giáp
Ngô Quang Bích trong sự nghiệp chống Pháp cứu nước cuối thế kỷ XIX của
GS Lê Văn Lan Lịch sử Vĩnh Phú của Lê Tượng, Vũ Kim Biên - Ty Văn hóa
Thông tin Vĩnh Phú xuất bản năm 1980 Đặc biệt, nhà sử học người Pháp lơ-Phuốc-ni-ô (Charler Fourniau) trong cuốn sách nghiên cứu về lịch sử của
Trang 8Sac-phong trào Cần Vương chống Pháp đã giới thiệu Nguyễn Quang Bích và văn thơ của ông như một biểu hiện tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Ngoài ra, nghiên cứu về danh nhân Nguyễn Quang Bích đã có ba cuộc hội thảo vào các năm 1988, 1991 và 2011 Năm 1988, nhân việc Nhà nước ta công nhận di tích lịch sử, phần mộ và từ đường Nguyễn Quang Bích tại quê hương Tiền Hải, Thái Bình, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thái Bình phối hợp với Viện Văn học tổ chức hội thảo khoa học về ông Cuộc hội thảo đã tập trung làm sáng tỏ và khẳng định vị trí lịch sử, nhân cách văn hóa và những
đóng góp của ông với tư cách một nhà lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Bắc Bộ
Năm 1991, kỷ niệm 100 năm ngày mất của Nguyễn Quang Bích tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, các nhà khoa học tiếp tục có những tham luận nghiên cứu chuyên sâu về ông Trong diễn văn khai mạc kỷ niệm 100 năm ngày mất Nguyễn Quang Bích, Nhà thơ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Nông Quốc Chấn đã nhấn mạnh: “Cuộc đời kháng chiến do ông lãnh đạo hơn sáu năm trời
ở vùng rừng núi phía Bắc quả đã điền nốt những dấu chấm đỏ vào khoảng trắng cuối cùng trên bản đồ Việt Nam kháng Pháp” Các bản tham luận tại hội
thảo trên đã được tập hợp giới thiệu trong cuốn Nguyễn Quang Bích - nhà yêu
nước, nhà thơ do Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Bộ Văn hóa - Thông tin
phát hành năm 1993 Cuối cùng phải kể đến các cuốn sách mới được xuất bản
gần đây: Ngư Phong và Tượng Phong thi văn tập của tác giả Trà Hải, Vũ Đình Ngạn, nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1998, Phong trào Cần Vương ở
Phú Thọ cuối thế kỷ XIX của Hội khoa học lịch sử tỉnh Phú Thọ (2007), Khởi nghĩa Tiên Động của Triệu Triệu, nhà xuất bản Văn hóa thông tin (2008), Hỏi
đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích trong tủ sách Lịch sử Việt Nam
do thượng tá Đặng Việt Thủy chủ biên, nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 2008
Trang 9Năm 2011, nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày mất Nguyễn Quang Bích, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ
đồng tổ chức hội thảo Danh nhân Nguyễn Quang Bích với phong trào Cần
Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX tại tỉnh Phú Thọ Hội thảo đã tập hợp được
40 tham luận của các nhà nghiên cứu đánh giá về Nguyễn Quang Bích trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên là những công trình đơn
lẻ, chưa có tính chất hệ thống, chủ yếu tập trung xoay quanh sự nghiệp thơ văn, quân sự của Nguyễn Quang Bích mà chưa đi sâu tìm hiểu các giá trị của danh nhân Nguyễn Quang Bích nói chung và việc phát huy các giá trị đó trong
đời sống văn hóa xã hội nước ta Để có cái nhìn khái quát và cách phân tích,
đánh giá cụ thể những giá trị nhân văn sâu sắc của danh nhân Nguyễn Quang Bích chính là vấn đề luận văn đặt ra và tiến hành nghiên cứu
3 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu danh nhân Nguyễn Quang Bích trong lịch sử văn hóa dân tộc gắn với các hình thức tôn vinh, tưởng niệm, bảo tồn và phát huy giá trị nhân cách Nguyễn Quang Bích trong đời sống văn hóa Việt Nam nhằm giáo dục lối sống, tư tưởng, tình cảm cho thế hệ trẻ vì sự nghiệp phát triển đất nước
3.2 Yêu cầu
- Tìm hiểu khái niệm danh nhân như một bộ phận của Di sản văn hóa dân tộc
- Tìm hiểu về con người, sự nghiệp và các giá trị của nhân cách Nguyễn Quang Bích
- Đánh giá, phân tích những tác động và ảnh hưởng của danh nhân Nguyễn Quang Bích thông qua các hình thức tôn vinh, tưởng niệm của dân tộc
ta trong lịch sử
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm phát huy giá trị danh nhân Nguyễn Quang Bích, phù hợp với điều kiện, xã hội nước ta hiện nay
Trang 104 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Như tên đề tài đã nêu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Danh
nhân Nguyễn Quang Bích trong đời sống văn hóa Việt Nam” Vấn đề này cho
đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu danh nhân Nguyễn Quang Bích ở các lĩnh vực: Con người, sự nghiệp, nhân cách, những ảnh hưởng của danh nhân Nguyễn Quang Bích trong đời sống văn hóa Việt Nam gắn với các hình thức tôn vinh, tưởng niệm thông qua các văn bản đã được công bố, các công trình tưởng niệm, dấu tích liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích tại quê hương sinh thành (xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình)
và địa bàn hoạt động của Nguyễn Quang Bích trong phòng trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX (tỉnh Phú Thọ ngày nay)
5 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận Mác - Lê nin về lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, để trình bày danh nhân như một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc, đồng thời phân tích vị thế của danh nhân trong đời sống văn hóa Việt Nam
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử học, văn hóa học, dân tộc học, phương pháp điền dã, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu trong nghiên cứu, đánh giá
Trang 116 Đóng góp của luận văn
- Lần đầu tiên nghiên cứu, phân tích vai trò của danh nhân Nguyễn Quang Bích như một nhân cách văn hóa, nêu cao tinh thần yêu nước chống thực dân xâm lược, quyết tâm dành lại chủ quyền cho dân tộc
- Tìm hiểu vấn đề tôn vinh, tưởng niệm danh nhân Nguyễn Quang Bích trong truyền thống yêu nước của nhân dân
- Khuyến nghị những phương hướng, giải pháp nhằm tôn vinh và phát huy giá trị danh nhân Nguyễn Quang Bích trong đời sống văn hóa của xã hội Việt Nam đương đại
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Danh nhân và vấn đề tôn vinh danh nhân trong lịch sử văn hóa truyền thống nước ta
Chương 2: Danh nhân Nguyễn Quang Bích - con người và sự nghiệp
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân Nguyễn Quang Bích trong đời sống văn hóa Việt Nam
Trang 12Chương 1 Danh nhân vμ vấn đề tôn vinh danh nhân
trong lịch sử văn hóa truyền thống nước ta
Xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, danh nhân là những người có những đóng góp đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của
đất nước, được nhân dân truyền tụng từ đời này sang đời khác và là tấm gương sáng cho các thế hệ học tập và noi theo
Thân Nhân Trung (1418 - 1499) - một danh nhân thời Lê sơ, trong bài
ký đề tên tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) lưu tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp Bởi vậy, các đấng đế vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên…” Hiền tài
ở đây chính là chỉ các danh nhân của đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời thường lấy gương trung liệt của các anh hùng dân tộc để giáo dục cán bộ, chiến sĩ Người chỉ rõ: “Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các anh hùng dân tộc, các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [62, tr 35]
Trong quá trình tồn tại và phát triển, trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã tạo lập cho mình một di sản văn hóa tinh thần phong phú và
đa dạng Trong những di sản đó, nổi bật lên truyền thống tôn vinh danh nhân như là những giá trị bền vững và trường tồn, tiêu biểu cho nhân cách và đạo lý của con người Việt Nam Chúng ta có quyền tự hào về các thế hệ ông cha, ngay từ những buổi đầu dựng nước đã biết tôn trọng và gìn giữ truyền thống tôn vinh danh nhân, biết khai thác nguồn lực tinh thần to lớn từ những danh
Trang 13nhân, nhằm tập hợp và phát huy tính tích cực sáng tạo trong cộng đồng, huy
động sức mạnh toàn dân tộc đóng góp vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước
Hiện nay, trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế, một lần nữa danh nhân được coi như một nguồn lực để phát triển Họ không chỉ là người sáng tạo nên các giá trị văn hóa trong lịch sử, là những biểu tượng văn hóa truyền thống, đại diện cho quốc gia, dân tộc mà còn là ngọn nguồn của sự sáng tạo những giá trị văn hóa mới, là nền tảng tinh thần của cả một cộng đồng, là tấm gương sáng trong giáo dục truyền thống cũng như nhân cách cho thế hệ tương lai Danh nhân được coi là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo nên thế cân bằng trong đời sống tinh thần của con người trong xã hội hiện đại Hơn nữa, mỗi dân tộc muốn phát triển bền vững luôn luôn phải biết lĩnh hội, kế thừa
và tiếp thu những tinh hoa văn hóa dân tộc, tạo cơ sở cho những sáng tạo mới
Để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vai trò của danh nhân Nguyễn Quang Bích trong đời sống văn hóa Việt Nam, chúng ta cần làm rõ một số khái niệm sau:
1.1 Thuật ngữ danh nhân dưới góc nhìn văn hóa học
Trong xã hội hiện đại, danh nhân xuất hiện ở nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, giáo dục, khoa học…, vì vậy danh nhân có thể là đối tượng nghiên cứu của các ngành Chính trị học, Kinh tế học, Giáo dục học, Quân sự học …,
ở đây nói: tiếp cận, nghiên cứu danh nhân dưới góc nhìn văn hóa học, điều đó
có nghĩa là văn bản sẽ vận dụng hệ khái niệm của bộ môn Văn hóa học để phân tích danh nhân Để thực hiện việc này, trước hết phải làm rõ nội dung của khái niệm văn hóa theo nghĩa khoa học của nó
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa được giải nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, nhưng có một
điểm chung mà mọi người đều thừa nhận, rằng: về phương diện cá nhân, văn hóa là phẩm chất chỉ có ở con người, nó là cái để phân biệt giữa người với
động vật; về phương diện chủng loại, văn hóa là phương thức tồn tại đặc hữu
Trang 14của loài người, khác về cơ bản với tổ chức đời sống của quần thể sinh vật trên trái đất Đời sống sinh vật của con người có mối quan hệ mật thiết với văn hóa, nhưng văn hóa do học tập mà có, chứ không phải di truyền theo kênh sinh học
Bàn về văn hóa, nhà triết học, cổ sinh vật học người Pháp Teilhard de Chardin (1881 - 1955) có đưa ra một nhận định, đại lý nói rằng: Trái đất hình thành và phát triển đến một lúc nào đó thì xuất hiện sự sống, ông gọi là sinh quyển (Biosphére) Tiếp đó là sự ra đời của tri quyển (Noosphére), gắn với sự hình thành của con người hiện đại Tri quyển là quyển về ý thức, tinh thần do con người tạo ra trong quá trình hoạt động sống Đó chính là văn hóa - thế giới (đời sống) tinh thần của con người xã hội
Quan niệm văn hóa là thế giới (đời sống) tinh thần của con người xã hội, đã tìm được sự đồng tình ở nhiều nhà nghiên cứu văn hóa phương Tây cũng như ở nước ta Xin nêu một vài ví dụ:
- Nhà nghiên cứu người Pháp Abraham Moles viết trong sách Động học
xã hội của văn hóa: “Văn hóa là bình diện tinh thần của thế giới nhân tạo”
- A.A Radughin, một nhà viết sách giáo khoa “Văn hóa học” cho sinh
viên nước Nga viết trong cuốn Văn hóa học - những bài giảng: “Văn hóa là hệ
thống ý niệm của con người”
- Federico Mayor Zaragora - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO viết
trong bài phát biểu nhân lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa
(1988 -1997: “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo
trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [37, tr 35]
ở nước ta, trong Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh có những lúc dành suy tư cho văn hóa Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
Trang 15luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt thường ngày về mặt ăn, ở và các phương thức hữu dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [24, tr 431]
Hoạt động sáng tạo và phát minh chính là các dạng lao động sản xuất tinh thần của xã hội
Chúng tôi cũng cùng chung quan điểm nêu trên và quan niệm: Văn hóa
là toàn bộ hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được đúc kết thành hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội Nó được biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ thống các phương thức ứng xử của một cộng đồng xã hội nhất định
Ngày nay, khi giải thích từ văn hóa, các nhà Văn hóa học phương Tây chia thành hai trường hợp:
- Từ văn hóa viết hoa, số ít (Culture) được chỉ định là một thuộc tính chỉ
có ở loài người Nó là cái dùng để phân biệt giữa loài người và loài vật Đó là khả năng tư duy, học hỏi, thích ứng và sáng tạo ra những ý niệm, biểu tượng, giá trị, làm cơ sở cho hệ thống ứng xử, để loài người có thể tồn tại và phát triển
- Từ văn hóa không viết hoa, số nhiều (cultures) được chỉ định là những nền (kiểu) văn hóa khác nhau, tức là những lối sống của các thể cộng đồng người, biểu hiện trong những quan niệm về giá trị, trong hệ thống các hành vi ứng xử mà các cộng đồng người ấy đã học hỏi được và sáng tạo ra trong hoạt
động sống của họ Đó còn là những truyền thống của cộng đồng, hình thành nên trong các điều kiện xã hội - lịch sử nhất định
Phù hợp với quan niệm trên, các nhà xã hội học văn hóa đã chia lĩnh vực văn hóa thành hai hướng nghiên cứu là: văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng
Văn hóa cộng đồng là văn hóa của một nhóm xã hội, nó không phải là con số cộng giản đơn của các văn hóa cá nhân - những thành viên trong cộng
đồng hợp lại, mà là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm, giá trị (trong đó có tín
Trang 16ngưỡng) và phương thức ứng xử, mà cả cộng đồng người cùng chia sẻ và tự nguyện thực hiện, đã trở thành lối sống truyền thống của cộng đồng xã hội ấy
Trong lịch sử xã hội loài người, các dạng cộng đồng xuất hiện sớm nhất
là thị tộc, bộ lạc; khi xã hội phân hóa thành các đẳng cấp, giai cấp xã hội thì
có thêm các dạng mới như bộ tộc và quan trọng nhất là dân tộc - quốc gia; cuối cùng bước vào xã hội hiện đại, nhờ các thành tựu của khoa học và công nghệ làm xuất hiện các phương tiện truyền thông đại chúng, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các hình thái giao lưu - tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc - quốc gia, đang thai nghén và góp phần hình thành nên nền văn hóa toàn cầu,
đấu tranh cho các mục tiêu hòa bình và hữu nghị, cho hạnh phúc bền vững toàn nhân loại Ngoài các dạng cộng đồng xã hội trên đây, còn phải kể đến các dạng cộng đồng khác như: gia đình, dòng họ, tộc người, làng xã, lứa tuổi, tôn giáo… Mỗi dạng cộng đồng trong quá trình hoạt động sống chung, có thể hình thành nên một kiểu văn hóa của họ
Văn hóa cá nhân là toàn bộ vốn tri thức và kinh nghiệm, ý chí và cảm xúc tích lũy vào một cá nhân, định hướng cho những lựa chọn và hành xử của cá nhân ấy trong hoạt động thực tiễn xã hội của nó
Là chủ thể của hoạt động sáng tạo, mỗi cá nhân còn là đại biểu mang vác những giá trị tiêu biểu cho một nền văn hóa nào đó mà nó sở thuộc vào, người ta gọi đó là nhân cách văn hóa của nền văn hóa ấy Mỗi nền văn hóa lớn thường sản sinh ra một mẫu nhân cách văn hóa tiêu biểu Ví dụ: người quân tử
là mẫu nhân cách văn hóa của nền văn hóa Nho giáo Trung Hoa, người Tăng lữ là mẫu nhân cách văn hóa của nền văn hóa ấn Độ cổ đại, Triết gia và Nghệ
sĩ là hai mẫu nhân cách văn hóa của văn hóa Hy Lạp cổ điển, người công dân
là mẫu nhân cách của nước cộng hòa La Mã cổ đại, người Võ sĩ đạo là mẫu nhân cách văn hóa Nhật Bản thời trung đại… Nhân cách văn hóa kiệt suất thì
được gọi là danh nhân
Trang 17Văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng có mối quan hệ biện chứng với nhau Sự phát triển của văn hóa cá nhân là điều kiện để sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới, không ngừng làm giàu có thêm cho văn hóa cộng đồng Đến lượt nó, văn hóa cộng đồng phong phú sẽ trở thành môi trường văn hóa thuận lợi nuôi dưỡng cá nhân và tạo điều kiện giải phóng tiềm năng để trở thành những nhân cách văn hóa kiệt suất
1.1.2 Danh nhân - một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc
1.1.2.1 Quan niệm về danh nhân
Danh nhân theo cách hiểu thông thường là nhân vật nổi tiếng, xuất sắc
về đạo đức, trí tuệ Lúc sinh thời họ có những đóng góp to lớn cho việc đại nghĩa, có ảnh hưởng sâu sắc tới cộng đồng Đến khi qua đời, họ vẫn tiếp tục
được mọi người ngưỡng mộ và noi gương
GS Đào Duy Anh giải thích trong cuốn Từ điển Hán Việt, danh nhân là
“người có tiếng ai cũng biết”
Nhà sử học Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí,
phần nhân vật chí (quyển IV) có đoạn viết: Các danh tài tuấn kiệt (tức danh nhân) đời đời đều có, hoặc có người được ghi công vào đỉnh vạc; hoặc có người lập công với lưỡi búa, cờ mao; Có người nổi tiếng ở làng văn, có người
tỏ khí tiết trong lúc cùng, đều là những người nhiều tài năng đáng chép
Phan Huy Chú chia nhân vật (danh nhân) thành 5 loại: - Dòng chính thống các đế vương; - Người phò tá có công lao, tài đức; - Tướng có tiếng và
tài giỏi; - Nhà nho đức nghiệp; - Bề tôi tiết nghĩa Các tác giả công trình Danh
nhân Hà Nội do GS Vũ Khiêu chủ biên đã chia danh nhân thành 2 loại: Nhân
vật lịch sử và các vị thần huyền thoại
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa, danh nhân là
những người có tiếng tăm lừng lẫy Tuy nhiên, trong đời sống xã hội không phải mọi người nổi tiếng đều là danh nhân Chỉ có những người nổi tiếng mà hoạt động sáng tạo của họ hướng về tính nhân bản, mưu cầu hạnh phúc cho
Trang 18mọi người mới được coi là danh nhân Ngược lại, những người nổi tiếng, nhưng hoạt động của họ đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, với những động cơ phi nhân bản như sản xuất vũ khí giết người hàng loạt, sản xuất hê rô in, những người hoạt động lừa đảo, tham nhũng, thoái hóa biến chất đi ngược lại thuần phong mỹ tục…, không thể coi là danh nhân
Như vậy danh nhân, nhân vật hay nhân vật lịch sử chỉ là những tên gọi khác nhau có cùng một nội hàm nghĩa, chỉ người nổi tiếng do có thành tích xuất sắc được nhà nước tôn vinh và cộng đồng thừa nhận
Trong thời kỳ công xã nguyên thủy, khi các hoạt động xã hội còn ở dạng nguyên hợp, nghĩa là chưa có sự phân công lao động rõ rệt, một người có thành tích xuất sắc ở bất cứ phương diện nào cũng được suy tôn là anh hùng hay nhân vật văn hóa (culture hero)
Khi xã hội phát triển tới một trình độ nhất định sẽ nảy sinh sự phân công lao động xã hội, công việc sản xuất ngày càng được chuyên môn hóa từ
đơn giản đến phức hợp Khi xã hội đạt đến sự phân tầng sâu sắc,đồng thời xuất hiện sự phân công giữa lao động chân tay và lao động trí óc Nền sản xuất xã hội cũng được phân chia ra: sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Phù hợp với sự phân hóa trên, lao động xã hội được chuyên môn hóa sâu sắc, tạo nên các ngành nghề cụ thể trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội Trong
điều kiện xã hội ấy, danh nhân được phân chia ra các dạng, tương ứng với các dạng hoạt động chính yếu của xã hội, như: chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, khoa học, y dược, đạo đức, tôn giáo, văn nghệ - giải trí, thể thao… Mỗi dạng danh nhân có thể bao gồm nhiều loại nhân vật có mặt trong đó Ví dụ:
- Danh nhân huyền thoại, gồm một số nhân vật như: Lạc Long quân, Âu Cơ, Vua Hùng, Thánh Gióng, Tản Viên, Cao Lỗ chế tạo nỏ thần, Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành ốc…
- Danh nhân chính trị, gồm: các vị minh quân, minh chúa, các quan thanh liêm, chính trực thời cổ - trung đại, các nhà cải cách xã hội, các chính
Trang 19khách, các nhà hoạt động cách mạng thời cận - hiện đại, các nhà hoạt động ngoại giao giữ nghiêm quốc thể và có công quảng bá thương thiệu đất nước…
- Danh nhân kinh tế, gồm: Các nông gia, doanh gia, thương gia, công nghệ gia có tài, các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, các nhà hoạt động tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán mang lại sự giàu có cho đất nước
- Danh nhân giáo dục, gồm: các nhà nghiên cứu cải cách giáo dục, các nhà giáo được trao tặng danh hiệu cao quý và giải thưởng nhà nước
- Danh nhân khoa học và công nghệ, gồm: các nhà khoa học tự nhiên và xã hội, các nhà công nghệ học có những phát minh, sáng kiến lớn được trao tặng các giải thưởng cao quý
- Danh nhân ngành y dược, gồm: những thầy thuốc tài đức vẹn toàn, các nhà dược học có phát minh lớn, được trao tặng danh hiệu cao quý và các giải thưởng danh dự
- Danh nhân nêu gương đạo đức: những công dân bình thường nhưng có hành vi cao cả như quên mình cứu người, dám xả thân vì nghĩa lớn, như trường hợp “Lê Lai cứu chúa”, hoặc như nàng Mỵ Ê chấp nhận hy sinh để bảo toàn danh tiết
- Danh nhân tôn giáo: các vị tu hành có tấm lòng cao cả, tham gia tổ chức các hoạt động từ thiện, cứu giúp đồng loại
- Danh nhân trong các lĩnh vực giải trí, thể thao, văn nghệ, gồm: các văn nghệ sĩ được trao tặng danh hiệu cao quý và giải thưởng lớn, các danh kỳ, kiện
ướng thể dục thể thao, võ thuật được giải thưởng lớn…
Dựa vào thực tiễn lịch sử văn hóa - xã hội nước ta, có thể nêu lên 3 cấp danh nhân như sau:
Danh nhân làng xã: Đó là những người đầu tiên tập hợp dân cư, lập nên làng xã, những người đem lại phúc lợi cho làng như: tạo nên một nghề mới, tổ chức xây dựng các công trình công cộng như giếng nước, ngôi đình…, có
Trang 20thành tích chiến đấu bảo vệ làng Những người tiêu biểu nhất được tôn là
“phúc thần”, hàng năm dân làng có tổ chức lễ hội tưởng niệm
Danh nhân cấp vùng (địa phương): là những vị thần, những anh hùng chiến đấu chống ngoại xâm hoặc chống thiên tai, ảnh hưởng của họ đã vượt khỏi phạm vi làng xã Các vị thần ấy được nhiều làng thuộc nhiều tỉnh tôn thờ như: vị thần Tản Viên Sơn Thánh được thờ ở một số làng thuộc tỉnh Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc, Phú Thọ
Danh nhân quốc gia: Là những vị anh hùng đã có công đánh thắng giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước; Là các nhân vật văn hóa, lịch sử có ảnh hưởng rộng lớn bao trùm khắp cả nước như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Đinh
Bộ Lĩnh, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi…
Ngoài ra, có thể kể thêm một cấp nữa là “danh nhân thế giới”
Danh nhân thế giới: Là những người nổi tiếng về tài năng và đức độ, không chỉ ở đất nước, dân tộc mình mà còn đối với cả thế giới Trong thế kỷ
XX, nước ta có ba danh nhân được thế giới tổ chức kỷ niệm, đó là: Nhà thơ Nguyễn Du (1765 - 1820); Nhà chính trị Nguyễn Trãi (1380 - 1442); Chủ tịch
Một là, tài năng xuất chúng, thể hiện ở những cống hiến quan trọng,
đóng góp vào tiến bộ của văn hóa - xã hội
Trang 21Hai là, đạo đức cao cả, biểu hiện ở tinh thần sẵn sàng “xả thân vì nghĩa
cả”, nêu tấm gương sáng cho hậu thế noi theo
Ba là, do có tài cao, đức trọng, nên danh nhân văn hóa thường được nhà
nước vinh danh và tặng thưởng công trạng, xã hội tôn vinh như một “biểu tượng” văn hóa đáng tự hào, trân trọng
Ba điểm trên đây có thể xem là hệ tiêu chí để nhận diện một danh nhân Thành tích của danh nhân có tầm ảnh hưởng rộng rãi, vượt ra khỏi phạm vi làng xã, vùng miền, có thể vươn tới tầm dân tộc - quốc gia và nhân loại
Từ những phân tích trên đây, trong luận văn này danh nhân Nguyễn Quang Bích được nghiên cứu theo hướng danh nhân cấp dân tộc - quốc gia của nước ta
1.1.2.2 Danh nhân - bộ phận của di sản văn hóa dân tộc
Để nhận biết danh nhân như là một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc, trước hết cần phải làm rõ khái niệm di sản văn hóa
Theo cách hiểu thông thường, di sản văn hóa là tài sản của thế hệ (hoặc thời đại) trước trao truyền cho thế hệ (hoặc thời đại) sau, tạo nên sự liền mạch văn hóa theo hướng tích lũy, làm cho văn hóa của một cộng đồng người ngày càng giàu có hơn
Như chúng ta đều biết, con người không chỉ sống trong hiện tại mà còn suy ngẫm về quá khứ và trăn trở với tương lai Trong hoạt động thực tiễn, con người thường dựa vào sự tổng kết những kinh nghiệm của quá khứ, lấy nó làm hành trang để dự phóng vào tương lai Những kinh nghiệm, những tạo phẩm
do con người làm ra trong quá khứ mà hiện tại vẫn đang được phát huy hiệu quả, có thể trở thành di sản văn hóa
Di sản văn hóa được coi là “mã di truyền xã hội” Nó là một thành tố quan trọng tạo nên môi trường văn hóa - cái nôi hình thành nên nhân cách văn hóa của con người Đứa trẻ vừa ra đời được tiếp xúc ngay với môi trường văn hóa Đó là vốn di sản văn hóa mà thế hệ trước đã dành sẵn cho nó Trẻ có
Trang 22nhiệm vụ học tập, tiếp thu tiến tới chiếm lĩnh toàn bộ vốn di sản văn hóa của cộng đồng, trở thành thành viên mang nhân cách văn hóa của cộng đồng ấy Tùy thuộc vào điều kiện sống của một nền văn hóa nào đó, đứa trẻ sẽ hình thành nên mẫu nhân cách mang bản sắc của nền văn hóa ấy
Bên cạnh đó, sản phẩm văn hóa được sáng tạo ra khi được cộng đồng chấp nhận và được trao truyền cho thế hệ sau thì mới trở thành di sản văn hóa
Di sản văn hóa được tích lũy làm cho môi trường văn hóa ngày càng phong phú thêm và có chất lượng cao hơn, nhờ đó có thể bồi dưỡng nên những con người mang giá trị văn hóa cao hơn Những con người mang giá trị văn hóa cao hơn ấy lại tích cực tham gia vào quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới, bồi đắp cho môi trường văn hóa ngày càng giàu có và chất lượng Đây chính là con đường phát triển của văn hóa, trong đó di sản văn hóa được coi như cầu nối giữa các thế hệ
Luật Di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, chương 1, điều 1 quy định:
“Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Điều 4 giải thích:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [1, tr 32 - 33]
Trang 23Tóm lại, có thể định nghĩa di sản văn hóa dân tộc như sau: Di sản văn hóa dân tộc là toàn bộ sản phẩm sáng tạo của các thành viên trong cộng đồng dân tộc, được thể hiện ra dưới dạng những đối tượng vật thể (hữu hình) và những đối tượng phi vật thể (vô hình) đều mang tính biểu tượng, được lan tỏa
và trao truyền theo phương thức bắt chước, truyền khẩu và học tập, nhờ đó mà
di sản văn hóa được quảng bá từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, được kế thừa từ thế hệ trước sang thế hệ sau
Di sản văn hóa gồm hai loại hình cơ bản là di sản văn hóa phi vật thể
và di sản văn hóa vật thể Đó là bộ phận hợp thành nền tảng tinh thần xã hội,
là vốn quý của mỗi quốc gia, dân tộc, là “hộ chiếu văn hóa” để các dân tộc, quốc gia giao lưu với nhau
1.1.3 Danh nhân - một nhân cách văn hóa
Như đã phân tích ở phần trên, danh nhân không chỉ là chủ thể của hoạt
động sáng tạo ra các giá trị văn hóa, mỗi cá nhân còn là người đại diện mang vác các giá trị văn hóa đặc trưng cho một thời đại xã hội - văn hóa nào đó, mà danh nhân ấy sở thuộc vào Trường hợp trên đây được nhà Văn hóa học Xô Viết E V Xô cô lốp gọi là “nhân cách văn hóa”, diễn đạt một cách đầy đủ thì:
“Danh nhân là một nhân cách văn hóa kiệt xuất” Người xưa nói: “Anh hùng tạo thời đại (văn hóa), thời đại (văn hóa) tạo anh hùng” cũng là theo nghĩa này
Con người sinh ra, trưởng thành rồi chết đi theo quy luật của tự nhiên Khi người ta chết đi, thể xác sẽ bị tan rữa và trở về với trạng thái vô cơ, như câu nói: “từ cát bụi lại trở về cát bụi” nhưng cái còn lại là giá trị của nhân cách văn hóa Giá trị ấy sẽ tiềm nhập vào ký ức xã hội và trở thành tài sản văn hóa của cộng đồng Tài sản tinh thần ấy qua sự sàng lọc của thời gian mà trở thành di sản văn hóa Nói danh nhân là bộ phận của di sản văn hóa cộng đồng
là như vậy
Trang 241.2 Tôn vinh danh nhân và ý nghĩa của việc tôn vinh danh nhân
1.2.1 Vấn đề tôn vinh danh nhân trong lịch sử văn hóa truyền thống
Có thể nói, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh danh nhân hướng vào công tác giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng Việc giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trên nền tảng nhân cách văn hóa Việt Nam cũng chính là phương thức làm giàu có, đậm đà thêm bản sắc văn hóa dân tộc
Trong xã hội truyền thống, người xưa rất quan tâm đến việc “dương danh” mà hình thức phổ biến là ghi chép vào sử sách, ghi tạc trên bia đá và phong thần Từ đời vua Lê Thánh Tông, việc phong thần càng được đẩy mạnh
và tiếp tục cho đến hết thời Nguyễn Việc phong thần cũng theo cung bậc cao thấp khác nhau như: Thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ đẳng thần Sau khi ban sắc, phong thần nhằm ghi nhận công đức của người được phong, kèm theo đó còn cho phép xây dựng đền, miếu để phụng thờ, tạo cơ sở vật chất cho tín ngưỡng thần linh vận hành trong xã hội
Dựa theo sử sách cũ, trong lịch sử văn hóa truyền thống, ở nước ta có một số hình thức tôn vinh, tưởng niệm danh nhân như sau:
Truy phong người xưa
Hình thức truy phong người xưa xuất hiện khá sớm trong lịch sử dân tộc
và được các triều đại xem như là cách thức động viên, khích lệ tinh thần đoàn kết dân tộc, nêu cao phẩm chất xả thân vì nghĩa lớn của các anh hùng dân tộc
Ban quốc tính
Việc ban họ vua cho người có công lao to lớn được khởi đầu từ triều Lý, nhưng khi Nho học phát triển, người ta nhận ra rằng, việc làm này có nguy cơ mất họ cũ của tổ tiên, trái với đạo dạy người hiền thảo Vì vậy, năm 1464 vua
Lê Thánh Tông ra sắc dụ: “Từ nay về sau, công thần được đặc ân cho quốc tính thì chỉ một đời bản thân người ấy thôi, còn con cháu lại theo họ cũ”
Trang 25Lập đền, miếu, lăng thờ
Ngay từ các triều đại Lý, Trần các đời vua đã quan tâm, chăm lo xây dựng đền, miếu, lăng thờ các công thần khai quốc, danh thần có công với dân với nước, các vị tổ nghề và chuẩn cho nhân dân đời đời thờ tự
Phong chức, tước
Đây cũng là một hình thức khá phổ biến trong xã hội cổ truyền Việt Nam Các danh thần, võ tướng lập nhiều công trạng đều được nhà vua phong chức, tước Từ năm 1434, đời vua Lê Thái Tông, người tài giỏi đỗ đạt cao (đỗ tiến sĩ trong kỳ thi hội) đều được bổ làm quan
Ban thưởng bằng hiện vật
Người được ban thưởng, tùy thuộc thành tích, công trạng mà được nhận những phần thưởng khác nhau Đó có thể là ruộng đất (chủ yếu), là lụa, tiền hay những vật phẩm quý hiếm khác
Ban thưởng cho người thân
Đây là hình thức tôn vinh khá độc đáo trong xã hội cổ truyền, không chỉ người có công được ban thưởng, mà người thân còn được hưởng cùng
Ghi danh sử sách
Năm 1289, sau khi chiến thắng giặc Nguyên, nhà Trần ban thưởng các công thần có công lớn bằng việc chép họ tên công trạng vào tập Trung Hưng thực lục
Việc ghi danh những người có công lao vào sử sách, từ điển danh nhân
(xưa gọi là nhân vật chí) các thời đều có ghi chép đầy đủ như: Đại Việt sử ký
toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục …
Vẽ hình, tạc tượng
Cùng với việc lưu danh công thần lập công lớn trong các cuộc kháng chiến, các vị vua còn cho vẽ hình họ để tôn vinh công trạng, nhân dân thì tạc tượng, vẽ hình danh nhân để biểu thị sự tôn vinh như: Tranh dân gian Đông
Trang 26Hồ vẽ hình cờ lau tập trận, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh…, tượng vua Lê Thánh Tông để ở chùa Huy Văn (Khâm Thiên, Hà Nội) là những ví dụ
điển hình
Phong thần, phong làm thành hoàng
Những người tài năng, đức độ có công với dân với nước, khi qua đời
được triều đình quân chủ phong kiến phong là phúc thần, thượng đẳng thần, thành hoàng làng và cho nhân dân lập đền, miếu thờ ở nhiều nơi trên cả nước như Hai Bà Trưng, đức thánh Trần Hưng Đạo…
Khôn tô chói chói tấm son lòng
Năm Minh Mạng thứ 7 (1847), vua ban thưởng “thơ ngự” cho đại thần Doãn Uẩn vì có công trấn an biên thùy
Ghi danh bia đá
Hình thức này chủ yếu dành cho việc tôn vinh những người học giỏi đỗ cao (bia Văn Miếu) và các vị tướng tài giỏi (bia Võ Miếu) Bia văn miếu đầu tiên được dựng năm 1442, do vua Lê Thái Tông khởi xướng Bia võ miếu được lập năm Minh Mạng thứ 18 (1837) ghi công trạng võ công của Trương Minh Giang, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Phạm Văn Thúy, Mai Công Ngộn dựng
ở bên tả sân Võ Miếu Đến năm Tự Đức thứ nhất (1848) dựng bia ghi công Doãn Uẩn, Nguyễn Hoàng đặt bên tả Võ Miếu; Nguyễn Tri Phương, Đoàn Văn Sách, Tôn Thất Nghị đặt bên hữu Võ Miếu
Trang 27Ban mỹ tự
Ban mỹ tự nghĩa là ban chữ đẹp cho người có công trạng Năm 1471, vua Lê Thánh Tông định ra 24 chữ để vinh phong công thần, đó là: Suy trung, Dực vận, Tả lý, Cẩn lễ, Tán trị, Dương võ, Kính then, Minh nghĩa, Trinh ý, Phụ quốc, Hiệp mưu, Đồng đức, Khiêm cung, Đoan nhã, Kiệm tiết, Tráng liệt,
Uy dũng, Cương chính, Bỉnh văn, Hiệp thuận, Thuần tín, Đôn hậu, Tĩnh nạn, Tuyên lực
Lễ hội
Đây là một hình thức tôn vinh danh nhân mang tính chất đại chúng, biểu thị tấm lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với đối tượng được tôn vinh
Các hình thức khác
Người cao tuổi sống thọ, người phụ nữ tiết hạnh, những người con hiếu
đễ dù không phải là danh nhân nhưng cũng được triều đình quân chủ phong kiến thời xưa ban thưởng để nêu tấm gương
Từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến nay, trên cả nước đã có nhiều hình thức tôn vinh danh nhân như:
Đặt tên danh nhân cho các đường phố, quảng trường, công trình văn hóa công cộng khác (trường học, thư viện, bảo tàng, vườn quốc gia, công viên…)
Xây dựng các tượng đài danh nhân
Xây dựng nhà tưởng niệm
Phong tặng các danh hiệu vinh dự Nhà nước và danh hiệu vinh dự của
địa phương
Anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân…
Tặng thưởng các huân chương cao quý như Huân chương sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương độc lập, Huân chương lao động, Huân chương quân công…
Các danh hiệu cao quý trong ngành khoa học, giáo dục, nghệ thuật, y học, quân sự…
Trang 28Phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân”…
Xuất bản trước tác của danh nhân; xuất bản các ấn phẩm về danh nhân
Tổ chức nghiên cứu, hội thảo khoa học, tuyên truyền, quảng bá về danh nhân
Bước vào thời kỳ hiện đại, con người nhận thức ngày càng rõ ràng rằng: văn hóa không chỉ là động lực và mục tiêu của sự phát triển, mà văn hóa còn
là hệ điều tiết cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội
Trong những thập kỷ qua, nhân loại đã rút ra một bài học kinh nghiệm: nếu dân tộc nào trong quá trình phát triển của mình có tính đến yếu tố văn hóa
địa phương, dân tộc thường có khả năng thành công và ổn định cao hơn
Lâu nay, khi nói đến phát huy giá trị của di sản danh nhân, người ta thường chỉ đề cập đến giá trị tư tưởng với chức năng giáo dục của nó Điều này không sai, nhưng chưa đầy đủ Thực ra di sản danh nhân là một thực thể
đa chức năng, nói một cách khái quát nó có chức năng kép Đó là chức năng tư tưởng và chức năng kinh tế của di sản văn hóa
Với chức năng tư tưởng, danh nhân biểu thị như vốn tài sản tinh thần quý báu của quốc gia, đang hiện diện như bản sắc văn hóa của dân tộc, có khả năng tạo ra nội lực cố kết cộng đồng, góp phần hình thành nên môi trường văn hóa, nuôi dưỡng bản lĩnh nhân cách người Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Khi đặt di sản văn hóa vào môi trường kinh doanh của ngành du lịch, là đã
có dụng ý phát huy chức năng kinh tế của nó
1.2.2 ý nghĩa của việc tôn vinh danh nhân
Việc tôn vinh danh nhân ở nước ta đã có từ rất lâu đời và được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam
Giở lại trang sử cũ từ thời các vua Hùng dựng nước tới nay, ở mỗi địa phương, mỗi vùng, miền những người có công với dân với nước đều được nhân dân lưu danh và truyền tụng Hình thức phổ biến nhất trong các loại hình tôn
Trang 29vinh, tưởng niệm danh nhân ở nước ta là lập đền miếu thờ phụng Hàng năm, vào mỗi dịp “xuân thu nhị kỳ”, dân làng tổ chức lễ hội tưởng nhớ công lao của người xưa với nhiều nghi thức như: giới thiệu thần phả, trình bày tiểu sử và công trạng của danh nhân Có những lễ hội trình diễn lại những nét đặc sắc nhất trong cuộc đời của danh nhân thông qua diễn xướng dân gian như: cảnh
cờ lau tập trận của Đinh Bộ Lĩnh thời thơ ấu, các động tác lao động sản xuất trong các lễ hội trình nghề… Sau phần lễ (nghi lễ tưởng niệm danh nhân) là
đến phần hội rất sôi động, náo nhiệt và được nhân dân háo hức đón chờ Trong phần hội, có rất nhiều trò chơi dân gian như chọi gà, đấu vật, cờ người, đánh
đu… thể hiện nét đẹp văn hóa phong phú, đa dạng đặc trưng của mỗi vùng miền, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và giao lưu văn hóa của nhân dân địa phương Chính nhờ các hoạt động tôn vinh danh nhân được tổ chức hàng năm như vậy, sự nghiệp và công trạng của danh nhân như được làm sống lại và trở thành tâm điểm của văn hóa hội làng, qua đó góp phần giáo dục nhân dân
có ý thức hơn nữa trong việc bảo vệ, phát huy di sản văn hóa danh nhân
và giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hương, đồng thời khơi dậy, bồi đắp, nuôi dưỡng và chấp cánh cho thế hệ trẻ vững bước vào tương lai
Trước đây, do nhận thức chưa đầy đủ, đã có lúc đình, đền, miếu, mạo…
bị coi là tàn dư của chế độ phong kiến lạc hậu, các trò diễn xướng dân gian, các lễ hội là mê tín dị đoan, không phù hợp với đời sống văn hóa mới, con người mới cần phải loại bỏ Hệ quả là rất nhiều di sản văn hóa quý bị phá hoại, đền chùa, miếu mạo bị xuống cấp, bia tượng bị mất mát hoặc sử dụng sai mục đích, làm hư hỏng nghiêm trọng, nhiều di sản văn hóa đã không thể khôi phục được Một số di sản văn hóa phi vật thể về danh nhân, trong đó có truyền thống tôn vinh danh nhân có nguy cơ bị quên lãng, mai một
Bước vào thời kỳ đổi mới, những quan niệm lệch lạc đã được chấn chỉnh lại, trong đó có việc khôi phục và bảo tồn các di tích, lễ hội liên quan
Trang 30đến danh nhân Việc tôn vinh danh nhân đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, phát huy trong từng gia đình, dòng họ, vừa thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với tiền nhân, vừa làm cho các thành viên trong gia đình tự hào về
ông cha mình, qua đó học tập những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của tổ tiên, để không hổ thẹn trước thanh danh của tổ tiên, dòng họ và gia đình
Bên cạnh đó, hiện nay nhiều gia đình, dòng họ đã thành lập hội Khuyến học, hội Bảo trợ nghề nghiệp…nhằm khuyến khích động viên con em trong gia đình, dòng họ nỗ lực phấn đấu trong học tập, lao động sản xuất trở thành con người có ích cho xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho xã hội Ngoài những mặt tích cực đã đạt được, việc tôn vinh danh nhân còn bộc lộ một số hiện tượng tiêu cực như xu hướng chạy theo “hư danh”, xây dựng nhà thờ, lăng mộ quá to, tổ chức ăn mừng rầm rộ hoặc tự đặt ra thể lệ quyên góp phiền hà, làm giảm đi cái “mỹ tục” của sự tôn vinh danh nhân
Trong nhà trường và xã hội, danh nhân là những tấm gương sinh động
đối với các thế hệ trẻ, thể hiện ở nội dung của các bài giảng môn lịch sử, văn học, các hoạt động văn hóa và những buổi học ngoại khóa Những danh nhân tiêu biểu được giới thiệu trong sách giáo khoa, ghi chép thành tiểu sử, viết thành truyện dưới dạng tiểu thuyết hay truyện tranh; được tạc tượng, được đặt tên đường, tên phố, trường học, bệnh viện hay các công trình văn hóa của đất nước và địa phương
Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tôn vinh danh nhân vào công tác giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam Việc giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trên nền tảng nhân cách văn hóa Việt Nam cũng chính là phương thức làm giàu có, đậm đà thêm bản sắc văn hóa dân tộc
Truyền thống tôn vinh danh nhân còn là nguồn đề tài vô tận cho giới văn nghệ sĩ sáng tác, là chiếc cầu hữu nghị giữa các dân tộc, là tài sản mà ngành du lịch có thể khai thác và phát huy tác dụng
Trang 31Truyền thống tôn vinh danh nhân đã trực tiếp góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện con người Việt Nam Tôn vinh danh nhân hiện nay chính là phương thức hữu hiệu để bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự coi: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội”
Trang 32Có thể nói, trong lịch sử hào hùng của dân tộc, danh nhân nước ta có
đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Sinh thời bằng các hoạt động thực tiễn của mình, danh nhân biểu hiện như người đi tiên phong dẫn dắt quần chúng, cổ vũ và động viên mọi người phấn đấu cho sự tiến
bộ xã hội và lợi ích của dân tộc Khi khuất đi, nhân cách và vốn kinh nghiệm của danh nhân tiềm nhập vào ký ức xã hội, biến thành nguồn nội lực tinh thần, làm bệ đỡ vững chắc cho các thế hệ dự phóng vào tương lai Do đó, danh nhân
được coi như là biểu tượng lịch sử trên con đường phát triển của dân tộc, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là bộ phận hợp thành nền tảng tinh thần xã hội, là vốn quý của mỗi quốc gia, dân tộc nên danh nhân trở thành bộ phận của di sản văn hóa dân tộc
Danh nhân là người có tiếng tăm lừng lẫy, là người nổi tiếng được nhân dân ca ngợi, truyền tụng, là đại diện cho một nhân cách lớn, nhân cách kiệt suất nhưng mọi cống hiến của họ phải mang nhân bản, vì con người và làm cho xã hội ngày một tiến bộ, phát triển thì danh nhân đó được coi là người có nhân cách văn hóa
Uống nước nhớ nguồn, trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã tạo dựng cho mình truyền thống tôn vinh danh nhân dưới nhiều hình thức như: xây dựng đình, đền, miếu mạo, đài tưởng niệm, tổ chức
lễ hội tưởng nhớ danh nhân, đặt tên đường phố, trường học, công trình văn hóa để tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, người có công với dân với nước, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho mọi thế hệ
Trang 33Chương 2 Danh nhân Nguyễn Quang Bích - con người vμ sự nghiệp
2.1 Khái quát về thời đại và sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích
2.1.1 Bối cảnh lịch sử - x∙ hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX
Nguyễn Quang Bích (1832 - 1890) sinh ra và lớn lên dưới thời Nguyễn
Đây là triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, được thành lập với sự lên ngôi của vua Gia Long vào năm 1802 và sụp đổ hoàn toàn khi vua Bảo Đại thoái vị Triều Nguyễn tồn tại 143 năm (1802 - 1945), dưới sự trị vì của 13 đời vua So với vương triều Lý (1010 - 1225) và vương triều Trần (1225 - 1400), triều Nguyễn trị vì không dài hơn, nhưng có một vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc Đây là thời kỳ đầy biến động và phân hóa sâu sắc trong lịch sử nước nhà, là tấm gương phản chiếu giai đoạn cuối cùng của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam và là đêm trước của công cuộc dành độc lập và xây dựng đất nước hiện nay Chính thời đại đó, bối cảnh lịch sử xã hội đã có
ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích
Chào đời vào cuối thời Minh Mạng (1820 - 1840) là thời kỳ thịnh đạt nhất của vương triều Nguyễn, tiếp đó là giai đoạn trị vì của vua Thiệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức (1847 - 1883), Dục Đức (1883) - làm vua được ba ngày thì bị phế bỏ và bị giết chết Hiệp Hòa (1883) - nối ngôi đựợc 4 tháng bị ép uống thuốc độc chết Vị vua kế tiếp là Kiến Phúc (1884) - làm vua được 6 tháng cũng đột ngột qua đời Việc lập phế liên tiếp này chỉ kết thúc khi vua Hàm Nghi lên ngôi (1884 - 1885) Vua Hàm Nghi là người có tư tưởng yêu nước, phản đối thực dân Pháp xâm lược, vua đã ban chiếu Cần Vương, được nhiều sĩ phu yêu nước hưởng ứng, trong đó có Nguyễn Quang Bích Thực dân Pháp có ý định mua chuộc, nhưng đã bị nhà vua cự tuyệt, chúng bèn đưa ông
đi an trí ở Algérie (Châu Phi) Vị vua kế tiếp là Đồng Khánh (1885 - 1889) và Thành Thái (1889 - 1907)
Trang 34Như vậy, Nguyễn Quang Bích đã sống hơn nửa thế kỷ đầy biến động của chế độ phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Trong 58 năm của cuộc đời, Nguyễn Quang Bích đã chứng kiến cảnh đất nước lúc còn, lúc mất, vua Nguyễn khi phế, khi hưng đã dẫn đến sự thay ngôi đổi chủ của 9 đời vua, trong đó có những ông vua bạc nhược như Đồng Khánh, Khải Định nhưng có những ông vua yêu nước như Hàm Nghi, Duy Tân, Thành Thái Do bối cảnh lịch sử, xã hội biến động, rối ren như vậy đã dẫn đến sự khủng hoảng, suy vong của vương triều Nguyễn
Ngay sau khi lên ngôi (1802), Nguyễn ánh lấy niên hiệu là Gia Long,
kế tiếp là vua Minh Mạng - với cuộc cải cách hành chính, nhằm thống nhất và
ổn định nền thống trị của vương triều Tuy nhiên từ thời các vua Thiệu Trị, Tự
Đức trở đi, triều Nguyễn dần dần đi vào con đường suy thoái
Về đối nội:
Bộ máy chính trị nhà Nguyễn ngày càng mang nặng tính chất quan liêu,
độc đoán, với một nhà nước quân chủ chuyên chế tuyệt đối, một chế độ chính trị lạc hậu, phản động, mọi quyền hành đều tập trung vào tay nhà vua Quan lại trong triều và các địa phương ngoại trừ một số ít là có tấm lòng trăn trở với
đất nước, những người này trước sau đều tham gia vào các cuộc khởi nghĩa chống thực dân xâm lược, còn hầu hết là những bọn bảo thủ, cầu an Tư tưởng Tống nho ăn sâu vào các tầng lớp vua quan nhà Nguyễn, đã cản trở trào lưu
“Duy tân”, đổi mới khiến cho thế nước càng ngày càng suy vi, tinh thần bạc nhược, đối lập với các trào lưu tiến hóa, nên các vua triều Nguyễn đã không bắt kịp xu thế của thời đại, không đưa ra được những đối sách phù hợp để tự cứu mình, cứu dân tộc trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản châu Âu đang ráo riết bành trướng sang phương Đông
Về kinh tế, triều đình chủ trương phục hồi và củng cố quan hệ sản xuất
cũ, vừa cố tình bóp nghẹt lực lượng sản xuất mới đã mạnh nha hình thành từ thế
kỷ XVIII Nông nghiệp sa sút, nhiều cuộc khẩn hoang được tổ chức khá quy
Trang 35mô, nhưng cuối cùng đất đai khai khẩn lại rơi vào tay địa chủ, cường hào Hiện tượng dân lưu tán trở nên phổ biến Đê điều không được chăm sóc Nạn mất mùa, đói kém xảy ra liên miên, nhiều cuộc khởi nghĩa chống triều đình đã
nổ ra Công thương nghiệp bị đình đốn Chính sách “Trọng nông ức thương”
và xu hướng độc quyền công thương của nhà nước đã hạn chế sự phát triển của thương nghiệp Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn
Quân sự lạc hậu, nhà Nguyễn ra sức đàn áp, khủng bố các phong trào của quần chúng, huy động lực lượng quân sự vào việc dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân trong biển máu Các cuộc hành quân liên miên, một mặt đã làm cho chính lực lượng quân sự của triều đình bị suy yếu dần, mặt khác cũng hủy hoại khả năng kháng chiến của dân tộc, càng tạo điều kiện thuận lợi cho tư bản Pháp thôn tính nước ta
Để biện minh cho thủ đoạn tàn bạo trên, nhà Nguyễn đã ban hành bộ luật Gia Long năm 1815 Bộ luật này soạn ra phỏng theo bộ luật của triều Mãn Thanh (Trung Quốc), chủ trương trấn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân
và giữ vững trật tự phong kiến Ngoài ra, triều Nguyễn còn lợi dụng văn học
để tuyên truyền chế độ thống trị Minh Mạng ra 10 điều Huấn Dụ, Tự Đức diễn âm thập điều diễn ca để truyền bá rộng rãi học thuyết Nho giáo, trên cơ
sở đó củng cố ý thức hệ phong kiến đã bị rạn nứt
- Về Đối ngoại:
Nhà Nguyễn đẩy mạnh công cuộc xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhân dân bị cạn kiệt Còn đối với phương Tây, nhà Nguyễn thi hành chính sách “Bế quan tỏa cảng”, khước từ giao thiệp với các nước phương Tây, không cho phép người Âu lập phố xá, mở cửa hàng đã khiến cho nước ta bị cô lập với thế giới bên ngoài Chính sách đối ngoại có nhiều sai lầm, nhất là việc cấm
Trang 36đạo, giết người theo đạo đạo khốc liệt, đã làm rạn nứt khối đoàn kết dân tộc Việc đuổi và sát hại các giáo sĩ phương Tây đã gây ra những xung đột bất lợi, tạo cớ để cho nước ngoài can thiệp vào nước ta
Trước âm mưu ngày càng ráo riết của tư bản nước ngoài - nhất là của tư bản Pháp, tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn tưởng làm như vậy tránh được họa lớn Nhưng muốn bảo vệ độc lập dân tộc, muốn giữ gìn đất nước trong những
điều kiện quốc gia và quốc tế bấy giờ, biện pháp thích hợp nhất là mở rộng của biển giao thương với nước ngoài, đẩy mạnh phát triển nông công thương trong nước, nhanh chóng bồi dưỡng sức dân để có thể đối phó kịp thời với những âm mưu xâm lược ngày càng đẩy mạnh của thực dân Pháp Trái lại càng đóng chặt cửa và cấm đạo, giết đạo lại càng tạo thêm lý do cho chúng nổ súng xâm lược sớm hơn
Rõ ràng những chính sách nói trên của vương triều Nguyễn đã làm cho nước ta suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây Đặc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đã có cơ sở bên trong nước ta nhờ sự hoạt động ngấm ngầm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt con buôn và giáo sĩ Do đó, lịch sử nước ta lúc này đứng trước hai sự lựa chọn: Một là triều Nguyễn bị đánh đổ và thay thế vào là một triều đại khác đi theo hướng tư bản chủ nghĩa để canh tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc Hai là nước Việt Nam bị mất vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc
địa Đây là sự lựa chọn có lẽ không còn là “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu thắng mạnh”, mà là sự đụng độ của hai nền chính trị: một bên là phong kiến giá cỗi, lạc hậu phương Đông đối chọi với tư bản phương Tây mới trỗi dậy có nền khoa học, kỹ thuật tiên tiến ; giữa súng kíp hỏa mai với tàu chiến, đại bác
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, khi thực dân Pháp âm mưu nổ súng xâm lược nước ta, nội bộ vua quan nhà Nguyễn đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phái chủ hòa và chủ chiến Phái chủ hòa do vua Tự Đức và các quan đại thần như Nguyễn Văn Tường, Phan Thanh Giản, Trương Đăng Quế
Trang 37đứng đầu; Phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Quang Bích và một số nho sĩ khác Phái chủ hòa thắng thế đã lập luận: chiến không bằng hòa, thủ để hòa, chống giặc duy thủ là hơn; người Pháp ở xa, chỉ hám lợi, nếu kéo dài tình thế, quân Pháp sẽ chán nản bỏ đi Còn phái chủ chiến chủ trương: phải giữ để đánh, thủ để công và công để thủ, rồi quét sạch địch Trong hàng ngũ quan lại lúc đó đã có sự phân hóa: một số người trút bỏ mọi vướng bận ở chốn cung đình trở về quê sống “ẩn mình”,
“lánh đục khơi trong”; một số kẻ cơ hội mưu cầu vinh hoa phú quý, tư thông với giặc; một số người có tinh thần chống Pháp nhưng chưa hẳn dám dấn thân vào cuộc chiến mà chỉ ủng hộ bằng lời nói hoặc phản đối người Pháp bằng thơ văn hoặc sự bất hợp tác; một số ít quan quân nhà Nguyễn đã đứng lên chiến
đấu vì chính nghĩa, vì danh dự tổ quốc, dân tộc
Tiếng súng giặc đã nổ ầm bên tai mà triều đình Nguyễn vẫn mải bàn cãi, nghị luận, kẻ hòa, người đánh, trên dưới không nhất trí, đánh hòa không ngã ngũ đã dẫn đến thảm họa mất nước Triều đình lần lượt ký các hiệp ước với thực dân Pháp trong các năm 1862, 1874, 1883 và 1884
Khi nhận định về vương triều Nguyễn, GS Đinh Xuân Lâm đã nhận xét:
“Triều Nguyễn bằng những chính sách phản động đã tự thủ tiêu vai trò lãnh
đạo của mình, đối lập sâu sắc và cuối cùng câu kết với kẻ thù dân tộc trong việc đàn áp, bóc lột nhân dân cả nước Đó là trách nhiệm, đó cũng là tội lớn của nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch sử” [17, tr.77]
Tuy nhiên, mặc dù “công ít, tội nhiều” nhưng trong 143 năm trị vì, vương triều Nguyễn cũng đã có những đóng góp nhất định trên các lĩch vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật… mà một số thành tựu đến nay vẫn là tài sản quý của dân tộc
- Thứ nhất: Triều Nguyễn xây dựng một đế chế vững mạnh và chặt chẽ
từ trung ương đến tận làng xã, hải đảo và biên giới Thông qua việc tổ chức địa bạ, triều Nguyễn có một phương thức quản lý kết hợp giữa xã hội, kinh tế, tài
Trang 38chính, lãnh thổ, chính quyền và luật pháp tốt nhất trong các triều đại phong kiến ở Việt Nam Với một chính quyền mạnh, triều Nguyễn đã có một phương thức điều phối quan chức hợp lý, hạn chế được nạn cát cứ, cục bộ địa phương, nạn tham nhũng, buôn bán thuốc phiện và các hàng quốc cấm
- Thứ hai: Về phương diện văn hóa - giáo dục, triều Nguyễn cũng lập Quốc tử giám, mở khoa thi Hương, thi Hội để đào tạo nhân tài Từ khoa thi Hội đầu tiên năm 1822 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, triều Nguyễn tổ chức được 39 khoa thi hội, lấy đỗ 292 Tiến sĩ và 266 Phó bảng Cùng với các
kỳ thi tuyển chọn Tiến sĩ Văn, nhà Nguyễn còn nâng cấp đào tạo võ quan từ
Cử nhân lên Tiến sĩ Công việc biên soạn quốc sử, các bộ chính sử của vương triều, các bộ tùng thư và địa chí được đặc biệt quan tâm và để lại một di sản đồ
sộ, quý giá cho hậu thế
- Thứ ba: Triều Nguyễn cũng là thời kỳ khởi phát của những chuyến tàu viễn dương thương mại và quan hệ quốc tế với nhiều nước trong khu vực châu
Âu, mở ra một tầm nhìn thế giới từ nửa đầu thế kỷ XIX các vua đầu triều Nguyễn đã tiến hành những cuộc thăm dò, đồng thời lo củng cố quốc phòng,
cố gắng tiếp thu thành tựu kỹ thuật phương Tây, nhất là kỹ thuật xây dựng thành kiểu Vauban, đóng tàu, đúc vũ khí, phát triển thủy quân Vua Minh Mệnh là người có tầm nhìn xa và hướng ra biển Nhà vua đã cử phái đoàn vượt biển đến các căn cứ phương Tây ở Đông Nam á như Indonesia, Singapore, Malaysia, Philippin, tiểu tây dương, ấn Độ, Trung Quốc Cầm đầu các phái
đoàn đó thường là những quan chức cao cấp, những trí thức có tầm hiểu biết rộng như Phan Thanh Giản, Phan Huy Chú, Cao Bá Quát, Bùi Viện…
Thứ tư: Triều Nguyễn có chính sách khẩn hoang phong phú, sáng tạo và thích hợp, đã giải quyết mâu thuẫn về ruộng đất và nạn nhãn mãn ở nông thôn, giải phóng sức sản xuất góp phần tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, bảo vệ trị
an ở vùng đất mới Sự mở mang, phát triển ruộng đất ở miền Nam và một số huyện duyên hải ở miền Bắc, một số tỉnh ở trung du miền Trung là những
Trang 39thành quả to lớn của triều Nguyễn được nhân dân đồng tình ủng hộ Hệ thống giao thông thủy bộ dưới triều Nguyễn cũng phát triển mạnh, nhất là hệ thống kênh đào ở Nam bộ và hệ thống đường dịch trạm nối liền kinh đô Huế với các trấn, tỉnh thành trên cả nước đã có những tác dụng thiết thực trong đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân, làm thay đổi diện mạo của đất nước
Thứ năm: Dưới triều Nguyễn rất nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã được xây dựng, sáng tác hay ít nhất được trùng tu, tôn tạo bao gồm: thành lũy, lăng mộ, đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ kitô giáo, văn hóa truyền khẩu, một số tác phẩm thơ văn, văn bia, địa bạ, mộc bản…., trong đó Cố đô Huế đã được Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới ngày 11/12/1993, Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận là Kiệt tác truyền khẩu của nhân loại ngày 7/11/2003
Điểm lại bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, nước ta đã có nhiều biến động, khủng hoảng dẫn đến sự xâm lăng, đô hộ của thực dân Pháp Nhà Nguyễn vừa là tác nhân, vừa là sản phẩm của chế độ phong kiến đã lỗi thời chưa thoát khỏi tầm vóc kinh tế, chính trị, xã hội trung cổ, nhưng đã có những bước tiến nhất định trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, tạo tiền đề, cơ sở vật chất và tinh thần cho sự phát triển của xã hội đương thời Chính bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thời Nguyễn đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Quang Bích
2.1.2 Vài nét về thân thế Nguyễn Quang Bích (1832 - 1890)
Danh nhân Nguyễn Quang Bích tự là Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, người làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) Ông sinh giờ Thìn, ngày 8 tháng
4 năm Nhâm Thìn (tức ngày 7 tháng 5 năm 1832)
Nguyễn Quang Bích xuất thân trong một gia đình nho học Theo Ngô
gia thế phả chi Tống Văn do Ngô Châu soạn năm 1707 và Ngô Phan Cảnh
Tung chép lại thì Nguyễn Quang Bích vốn họ Ngô dòng dõi từ Ngô Vương
Trang 40Quyền (TKX); Ngô Từ - khai quốc công thần thời Lê (TK XV), là ông ngoại của vua Lê Thánh Tông Trải qua các đời vua Lê (khoảng trên 200 năm), theo thống kê trong gia phả, họ Ngô đã có 01 hoàng hậu, 04 vị tước vương, 11 quốc công, 52 quận công, trên 60 tước hầu, 15 tước bá, 18 người được phong phúc thần… Do đó, dân gian xưa đã có câu “họ Ngô một bồ tiến sĩ”…
Đến đời ông nội thì đổi từ họ Ngô sang họ Nguyễn, vì thế sử sách thế
kỷ XIX đều ghi tên ông là Nguyễn Quang Bích Thân phụ của Nguyễn Quang Bích là cụ Phong công Nguyễn Quang Lưu vốn là người có sức khỏe, chăm chỉ làm ăn, tiết kiệm nên gia đình ông là một gia đình trung nông khá giả trong làng Trong thư gửi Nguyễn Quang Bích, Tiến sĩ Doãn Khuê đã viết về
cụ Nguyễn Quang Lưu: Ông là người ưa giản dị, thích làm điều thiện, một cách để lại ân đức rất sâu xa Chính vì công lao đó, vua Tự Đức đã phong cụ là: “Trung thuận đại phu”
Thân mẫu của ông là cụ Trần Thị Sở, người làng An Bồi, huyện Trực
Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã An Bồi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) Bà là người phụ nữ đảm đang, chịu thương chịu khó
và hết lòng thương yêu chồng con, quan tâm, chăm sóc các con ăn học thành tài
Góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách và khí tiết của Nguyễn Quang Bích, ngoài truyền thống gia đình, các thầy giáo của ông cũng
có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích,
Người khai tâm, mở trí đầu tiên cho Nguyễn Quang Bích là Tú tài Nguyễn Ôn Hòa - một nho sĩ nổi tiếng người làng Hành Thiện, Phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Sớm lập trí từ nhỏ, tư chất thông minh, hiếu học, được thầy ân cần dạy bảo nên Nguyễn Quang Bích đã nổi trội hơn các đồng môn trong lớp Tối tối, bạn bè chỉ học cạn một đĩa dầu rồi đi ngủ, riêng ông đã học tới ba đĩa, sáng lại dậy rất sớm để học thêm Tương truyền, chiếc cột lim ông thường ngồi tựa lưng học lâu ngày đã trở nên nhẵn bóng