1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số thành lũy tiêu biểu ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử Việt Nam

21 1,8K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số thành lũy tiêu biểu ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Tác giả Phan Minh Quốc
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Khảo Cổ Học
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 118,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài về: Một số thành lũy tiêu biểu ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử Việt Nam

Trang 1

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia ra đời và tồn tại với lịch sử mấy nghìnnăm Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của mình, cộng đồng cư dânsinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đã phát minh ra nhiều giá trị vật chất vàtinh thần mà giá trị của nói vẫn còn tồn tại đến ngày nay

Với một quốc gia luôn phải chống chịu hàng trăm cuộc xâm chiếmcủa các thế lực bên ngoài thì một yêu cầu đặt ra để bảo đảm sự tồn tại củađất nước đó là phải có biện pháp hữu hiệu để chống lại các thế lực ngoạibang Một trong những công trình nhằm chống lại sự xâm lấn của ngoạibang là Thành – một công trình có nhiều ý nghĩa cho sự tồn tại của mộtquốc gia, dân tộc

Để tìm hiểu rõ hơn về Thành lũy trong lịch sử của nước ta, ở bài tiểuluận này sẽ chọn 3 thành tiêu biểu nhất trong suốt chiều dài lịch sử của dântộc đó là thành Cổ Loa, thành Hoa Lư và thành Thăng Long – 3 thành tiêubiểu trong hệ thống thành lũy Việt Nam Với mục đích đó, đề tài bài tiểu

luận nay là: “Một số thành lũy tiêu biểu ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử Việt Nam” được chọn để nghiên cứu.

Với thời gian ít ỏi, khả năng người thực hiện còn hạn chế nên đề tàichắc chắn sẽ không thể tránh những hạn chế nhất định, rất mong nhận đượcnhững ý kiến đóng góp

Trang 2

CHƯƠNG MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ THÀNH LUỸ VIỆT NAM1.1 Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến thành

Thành luỹ: là công trình xây dựng kiên cố, vững chắc để bảo vệ,thành xây có nhiều lớp bao bọc để bảo vệ phòng thủ một vị trí quan trọngcủa một tổ chức hay một hệ thống xã hội

Thành quách: là công trình xây dựng kiên cố bằng những vật liệukiên cố như gạch, đá, vững chắc để bảo vệ, thành xây có nhiều lớp bao bọc

để bảo vệ phòng thủ một vị trí quan trọng của một tổ chức hay một hệthống xã hội

Chòi canh – vọng gác: là công trinh được xây dựng ở những vị tríthoáng đảng tầm quan sát lớn để quan sát, canh gác, chiến đấu

Tháp canh: là công trinh được xây dựng ở những vị trí cao tầm quansát lớn để quan sát, canh gác cho thành

Hào: là hệ thống công sự được đào để bảo vệ công trình phòng thủ

và hổ trợ tác chiến khi có chiến tranh

1.2 Lịch sử hình thành thành lũy ở Việt Nam

Thành lũy ra đời ở nước ta tương đối sớm từ thời các vua Hùng, cáccông trình phòng thủ mang tính chất công sự chiến đấu đã được hình thànhdưới những hình thức sơ khai nhất Trong giai đoạn đầu của xã hội ViệtNam do sự thiếu ổn định về mặt kinh tế, chính trị nên trong xã hội luôn cócác cuộc đấu tranh giữ các bộ lạc với nhau, sự tranh chấp địa bàn cư trúnày dần dần trở thành những xung đột quân sự lớn Các bộ lạc nhỏ yếuthông thường phải dựa vào những công sự sơ khai được dựng lên nhưnhững chướng ngại vật để chặn bước tiến của thù để bảo vệ sự tồn tại của

bộ lạc và cộng đồng của mình Sự đe dọa lớn hơn bắt đầu đến từ bên ngoàivới sự xâm lược của các đạo quân phương Bắc Dần dần chính những tác

Trang 3

dụng có lợi của các dạng công sự sơ khai này khiến người ta lưu tâm hơn

và bắt đầu cho xây dựng những công trình kiên cố hơn, để phục vụ công tácquốc phòng của bộ lạc và đất nước Các công trình thành lũy dần được rađời trên cơ sở hoàn thiện kinh nghiệm từ nhiều thế hệ và có sự giao lưu vớicác quốc gia lân bang

Ngoài những thành sơ khai được xây dựng đơn giản đến nay khảo cổhọc đã phát hiện trong giai đoạn này nhiều thành còn dấu vết đến ngày nay:Thành cổ Mê Linh - nơi Hai Bà Trưng đóng đô, Thành Cổ Loa Đông Anh– Hà Nôi, Thành cổ Phong Châu, theo An Nam chí chép : Ở phía tây bắcphủ Giao Chỉ, tức đất Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ đời Hán Luỹ cổ củaTrưng Vương: ở xã Cư An Nay là thôn Cư An xã Tam Đồng huyện MêLinh Thành Luy Lâu, thành Hoa Lư – Ninh Bình…đó là những thành lũyđầu tiên mang nặng kiến trúc và tư duy quân sự của người Việt

1.3 Vài nét về tiêu chí chọn địa điểm xây dựng thành lũy Việt Nam

Do đặc điểm dân cư nước ta giai đoạn đâu thưa thớt và phải thườngxuyên chống đỡ những cuộc “Chinh man” của chủ nghĩa bành trướngPhương Bắc Vì vậy từ lâu cha ông ta đã ý thức sâu sắc phương châm chiếntranh du kích và quan điểm chiến lược lấy ít địch nhiều kết hợp khéo léoyếu tố cốt lõi của binh gia “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” Tuy nhiên đểđương đầu với những đạo quân “Chinh man” với số lượng áp đảo về mọimặt thì việc tạo ra cho mình những cứ địa phòng thủ là điều không thể xemnhẹ

Trên cơ sở đó, cha ông ta đã biết dựa vào những đạo binh lực vôhình từ địa thế tự nhiên của hình sông dáng núi, của cái mà binh phápthường gọi là “Nơi dễ phòng thủ, khó tấn công” Tiêu chí đó một khi đượckết hợp và hòa quyện với chủ nghĩa anh hùng dân tộc được ăn sâu trongtiềm thức của người lính Việt thì nó thành cảnh giới tối cao của thuật dùngbinh Một người địch muôn kẻ để chế ngự và áp đảo quân thù Đó là trí tuệ

Trang 4

của nghệ thuật quân sự sơ khai mà tinh túy là cái giản đơn mà thiết thựctrong quân sự của cha ông ta Diễn giải quan niệm này ta thấy được cái lợinhiều mặt ngoài những gì đã nêu ở trên, cách lựa chọn này cũng là sự chọnlựa tối ưu về sự tiết kiệm và biết quý trọng sức dân của những vị minh quânthiên tử của nước Nam Rõ ràng với số dân ít ỏi kinh tế nghèo yếu lại kinhniên sống trong đao binh của những cuộc rữa hận mà các thế lực chinh phạtphương Bắc reo rắc mà cho xây đắp những thành lũy nguy nga tráng lệ làđiều không tưởng Phỏng điều đó trở thành hiện thực thì vắt kiệt sức dânkhi kẻ thù tới đánh họ cũng chẳng còn hơi sức đâu mà chống cự Bất quácòn tạo ra sự chia rẽ mất lòng dân một điều tử địa trong binh gia.

Vì vậy yếu tố kết hợp điều kiện tự nhiên thuận lợi cho xây dựngcông sự phòng thủ là tiêu chí tất yếu để cất thành, đắp lũy

Một tiêu chí khác cũng không kém phần quan trọng ngoài yếu tố địahình để các chiến lược gia xưa lựa chọn đó là yếu tố “Nhân hòa” xây dựngcông sự thành lũy phải ở khu vực gần dân, phải có dân Từ xưa, cha ông ta

đã biết mối quan hệ khăng khít quân với dân như cá với nước nên xây dựngquân sự không thể nơi không có dân cư Dân là tai, mắt là nguồn nuôi sốngquân đội và là cội nguồn sức mạnh Việt Nam Xây dựng thành phải ở nơi

có sự bổ sung thường xuyên về lương thực và quân số Tức là sự kết hợplôgic hai yếu tố quân đội và hậu cần tại chổ Tạo nên sự vững mạnh choquân đội từ bên trong Yếu tô sống còn cho sức mạnh quân sự của bất kỳđạo quân nào Huống hồ, nghệ thuật quân sự của cha ông ta là chiên tranhnhân dân của toàn dân đánh giặc

Nếu chỉ nhìn vấn đề từ hai yếu tố trên thì chưa đủ, để chọn khảnh đấtnày làm nơi xây thành đắp lũy mảnh đất kia cất đặt bố phòng Nó còn phảiđảm bảo tiêu chí “tính thiêng” của thắng địa, là nơi có nguyên liệu dồi dào,giao thông thuận lợi

Trang 5

Để đạt tới sức mạnh tối đa con người ta thường hay gữi gắm niềm tincủa mình vào một thế lực siêu nhiên nào đó Trong quân sự điều này cũngkhông ngoại lệ Thành Cổ Loa người ta thêu dệt nên “tính thiêng” này bằngviệc giúp sức của thần Kim Quy và chiếc móng Rùa Thần, các thành lũykhác cũng có thế lực thần linh bảo trợ để nó trở thành thành lũy kiên cố bấtkhả xâm phạm.

Các yếu tố nguyên liệu dồi dào để thuận lợi cho xây dựng và giữthành Giao thông thuận lợi là để tác chiến thuật tiện đặc biệt với quân đội

ta tư thế thủy quân và bộ binh thì yếu tố này càng trở nên quan trọng Vậnchuyển dễ dàng chi viện thuận lợi khi có chiến tranh và thuận lợi thôngthương khi ở thời bình cũng là tiêu chí lựa chọn mỗi khi quyết định địa thếxây dựng thành lũy

Tóm lại, tiêu chí chọn đất xây dựng thành lũy Việt Nam có thể góigọn trong bốn chữ đó là: “Địa lợi, nhân hòa”

Trang 6

Hiện nay, di tích Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, HàNội.

2.1.1 Vị trí địa lý và những tiêu chí chọn vị trí

Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổsông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ Từđây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa

Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng Sông Hoàng(tức sông Thiếp) là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nốiliền sông Hồng với sông Cầu trong hệ thống sông Thái Bình

Về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuậnlợi Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng vớimạng lưới đường thủy của sông Thái Bình

Qua con sông Hoàng, thuyền bè ngược lên sông Hồng là vào vùngBắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền ra đến biển cả,nếu đến vùng phía Đông Bắc bộ thì qua sông Cầu vào hệ thống sông TháiBình đến sông Thương và sông Lục Nam

Địa điểm Cổ Loa chính là đất Phong Khê, lúc đó là một vùng đồngbằng trù phú có xóm làng, dân cư đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng,đánh cá và thủ công nghiệp Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấumột giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển

Trang 7

trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùngđồng bằng.

2.1.2 Vật liệu và kỷ thuật xây dựng

Thành Cổ Loa được xây bằng đất do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạchnung Thành có 3 vòng Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong1,6 km Diện tích trung tâm lên tới 2 km² Thành được xây theo phươngpháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó.Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trongđánh ra thì dễ Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có chỗ 8-12 m Chân lũy rộng20-30 m, mặt lũy rộng 6-12 m Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệumét khối Khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu nên việc xây dựngthành Cổ Loa có thể khó khăn và thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu Khi xẻdọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học phát hiện kỹ thuật gia cốthành của Thục Phán: chân thành được chẹn một lớp tảng đá Hòn nhỏ cóđường kính 15 cm, hòn lớn 60 cm Xung quanh Cổ Loa, một mạng lướithủy văn dày đặc đã được tạo ra, thành một vùng khép kín, thuận lợi choviệc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh

2.1.3 Cấu trúc thành Cổ Loa

Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổnhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất tronglịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"

Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo cácđịa hình tự nhiên Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất chocao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tườngthành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đườngthẳng như bức tường thành trung tâm Người xưa lại xây thành bên cạnhcon sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn

Trang 8

cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng.Chiếc Đầm Cả rộng lớn nằm ở phía Đông cũng được tận dụng biến thànhbến cảng làm nơi tụ họp cho đến cả hàng trăm thuyền bè.

Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ

Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc Các đoạn thành vensông, ven đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác Đá kè là loại đá tảnglớn và đá cuội được chở tới từ các miền khác Xen giữa đám đất đá lànhững lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành

và rìa thành để chống sụt lở Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấymột số lượng gốm khổng lồ gồm ngói ống, ngói bản, đầu ngói, đinh ngói.Ngói có nhiều loại với độ nung khác nhau Có cái được nung ở nhiệt độthấp, có cái được nung rất cao gần như sành Ngói được trang trí nhiều loạihoa văn ở một mặt hay hai mặt

Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưngcăn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng,trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền.Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trungtâm lên tới 2 km² Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu,khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó Mặt ngoài lũy, dốcthẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ Lũycao trung bình từ 4 m-5 m, có chỗ cao đến 8 m-12 m Chân lũy rộng 20 m-

30 m, mặt lũy rộng 6 m-12 m Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệumét khối

Thành nội hình chữ nhật, cao trung bình 5 m so với mặt đất, mặt

thành rộng từ 6 m-12 m, chân rộng từ 20 m-30 m, chu vi 1.650 m và cómột cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy

Thành trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng,dài 6.500 m, nơi cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có năm

Trang 9

cửa ở các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ănthông với sông Hoàng

Thành ngoài cũng không có hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000 m,

cao trung bình 3 m-4 m (có chỗ tới hơn 8 m)

Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình

từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn Các vòng hào đều thông với nhau

và thông với sông Hoàng Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không

có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sựvừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ

Sông Hoàng được dùng làm hào thiên nhiên cho thành Ngoại ở vềphía Tây Nam và Nam Phần hào còn lại được đào sát chân tường thành từ

gò Cột Cờ đến Đầm Cả Con hào này nối với hào của thành Trung ở Đầm

Cả và Xóm Mít, chảy qua cửa Cống Song nối với năm con lạch có hìnhdáng như bàn tay xòe, và với một nhánh của con lạch này, nước chảy thôngvào vòng hào của thành Nội

Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cảhoặc ra sông Hoàng và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi Theo truyền thuyết, AnDương Vương thường dùng thuyền đi khắp các hào rồi ra sông Hoàng

2.1.4 Chức năng.

Trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa còn có một yếu tố khác làmphong phú thêm tổng thể kiến trúc này Đó là những gò đất dài hoặc trònđược đắp rải rác giữa các vòng thành hoặc nằm ngoài thành Ngoại, đượcdân chúng gọi là Đống Dân, Đống Chuông, Đống Bắn Các ụ, lũy này đượcdùng làm công sự, có nhiệm vụ của những pháo đài tiền vệ, phối hợp vớithành, hào trong việc bảo vệ và chiến đấu

Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo củangười Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm Với các bứcthành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ

Trang 10

phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô Đồng thời làmột căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh, khi tác chiến.

Về mặt xã hội, với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binhlính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy Thời

kỳ này, vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải đượcbảo vệ chặt chẽ, xã hội đã có giai cấp rõ ràng hơn thời Vua Hùng

2 2 Thành Hoa Lư

Thành Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Ccof Việt dười hai triềuđại Đinh và Tiền lê Sử cũ có ghi chép về việc xây dựng, hưng, phếcủa tòa thành này Song, những ghi chép đó đề sơ sài và ít ỏi

Đại Việt sử lược, bộ sử xưa nhất còn lại đến nay, ghi vắn tắt nhưsau: “Năm đầu hiệu Khai Bảo đời Triệu Tống (968), Đinh Bộ Lĩnhxưng làm hoàng đế ở đọng Hoa Lư, xây cung điện”

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép tường tận hơn: “khi ấy 12 sứ quân đều tự làm hùng trưởng, cắt giữ đất đai… Vua(Đinh Bộ Lĩnh) đánh dẹp được tất cả, mới tự xưng đế, chọn được chổđất bằng phẳng ở Đàm Thôn, muốn dựng làm kinh đô, nhưng vì thếđất chật hẹp , lại không có lợi về sự đặt hiểm, nên lại đóng đô ở HoaLư”

Sử chép rằng: "Mậu Thìn năm thứ 1 (Tống, Khai Bảo năm thứ nhất),Vua (Đinh Bộ Lĩnh) lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh vềđộng Hoa Lư, xây dựng đô mới, đắp thành đào hào, làm cung điện, đặttriều nghi" Đây là chép về vua Đinh Tiên Hoàng sau khi dẹp xong các sứquân, thống nhất đất nước, lên ngôi vua và xây dựng kinh đô

Sử lại chép "Giáp thân năm thứ 5 (984) Dựng nhiều cung điện, làmđiện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, có cột điện dát vàng bạc, làm nơicoi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Từ Hoa, bên tả là

Ngày đăng: 10/04/2013, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w