Nghiên cứu các loại hình KT trong đô thị Hội An từ đó hình dung diện mạo đô thị Hội An qua từng giai đoạn
Trang 1Đại học quốc gia hà nội
trường đại học khoa học xã hội vμ nhân văn
-
tạ thị hoμng vân
di tích kiến trúc hội an
trong tiến trình lịch sử
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại
Mã số: 62 22 54 01
tóm tắt luận án tiến sĩ lịch sử
Hà nội - 2007
Công trình được hoàn thành tại
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc
2 PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Cảnh Minh Phản biện 2: PGS.TS Đỗ Bang
Phản biện 3: PGS.TS Trần Thị Vinh Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm luận án tiến sĩ họp tại:
Vào hồi 8 giờ 30 ngày 28 tháng 07 năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Danh mục các chữ cái viết tắt
DTKT: Di tích kiến trúc KCH: Khảo cổ học KT: Kiến trúc HTQT: Hội thảo Quốc tế
LSKT: Lịch sử kiến trúc TK: Thế kỷ
VN: Việt Nam
Trang 2Những công trình khoa học đ∙ công bố
có liên quan Trực tiếp đến luận án
1 Tạ thị Hoàng Vân (2000), “Kiến trúc Khổng Tử miếu ở Hội An”, T/c Kiến
trúc Việt Nam (6), Tr 48-52
2 Tạ thị Hoàng vân (2000), Sự hình thành đô thị Hội An trong lịch sử, Luận văn
thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Tạ thị Hoàng Vân (2000), “Về kiến trúc Tam quan Chùa Bà Mụ”, Báo cáo
Nghiên cứu viên trẻ lần thứ 1, Viện NCKT (BXD), tr 48-52
4 Tạ thị Hoàng Vân (2003), “Khu mộ của các giáo sĩ phương Tây ở Hội An”,
Tuyển tập NCKH - Viện NCKT (BXD)
5 Tạ thị Hoàng Vân (2003), “Kiến trúc thành phố Đà Nẵng cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX”, Tuyển tập NCKH - Viện NCKT (BXD)
6 Nguyen Ba Dang, Nguyen Vu Phuong, Ta Hoang Van (2004), Traditional
Architecture Vietnamese, The Gioi Publishers
7 Nguyễn Thừa Hỷ (chủ nhiệm đề tài), Vũ Văn Quân, Tạ thị Hoàng Vân
(2004), Đô thị Việt Nam thế kỷ XVI - XVII - XVIII (qua khảo sát một số đô thị
tiêu biểu), Đề tài NCKH cơ bản, Đại học Quốc gia Hà Nội, Mã số: CB-01-12
8 Tạ thị Hoàng Vân (2004), “Một số môtíp trang trí trong các công trình kiến
trúc ở Hội An (QN) (biểu tượng, ý nghĩa, giá trị)”, Báo cáo Nghiên cứu viên
trẻ lần thứ 3, Viện NCKT (BXD), tr 48-52
9 Tạ thị Hoàng Vân (2004), “Tìm hiểu sự ảnh hưởng của yếu tố văn hoá
Trung Hoa ở Hội An (Quảng Nam) (Qua khảo sát loại hình kiến trúc hội
quán)”, Tuyển tập NCKH - Viện NCKT (BXD)
10 Tạ thị Hoàng Vân (2004), “Xu hướng kiến trúc mới” ở đô thị cổ Hội An -
Vấn đề bảo tồn và phát triển”, Tham luận HTQT Việt Nam học lần thứ 2, Tp
Hồ Chí Minh
Đăng trên T/c Kiến trúc Việt Nam (10), tr 48-53
11 Tạ thị Hoàng Vân (2005), “Những công trình kiến trúc của người Minh
Hương ở phố cổ Hội An”, T/c Kiến trúc Việt Nam (6), tr 55-62.
12 Tạ thị Hoàng Vân (12/2005 & 1/2006), “Nhìn lại đô thị Việt Nam thế kỷ
XVII - XVIII”, T/c Kiến trúc Việt Nam, tr 77-82
13 Tạ thị Hoàng Vân (2006), “Tìm hiểu bộ khung gỗ ngôi nhà phố ở Hội
An”, Báo cáo Nghiên cứu viên trẻ lần thứ 4, Viện NCKT (BXD), tr5-14
mở đầu
I Lý do chọn đề tài
1.1 Hội An là đô thị tiêu biểu của Việt Nam ở thế kỷ (TK) XVII-XVIII, còn tồn lại một hệ thống di tích khá nguyên vẹn
2 Nghiên đô thị cổ Hội an nhằm đánh giá chính xác hơn về
đô thị đã từng phồn vinh, bổ sung vào những nghiên cứu về hệ thống
đô thị Việt Nam (VN) trong lịch sử
3 Vẫn thiếu vắng công trình chuyên sâu làm rõ bản chất và
đặc trưng của các loại hình kiến trúc nhằm góp phần vào nghiên cứu LSKT đô thị Hội An nói riêng và VN nói chung
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Di tích kiến trúc Hội An trong tiến trình lịch sử” làm đề tài luận án tiến sĩ
lịch sử
II Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các tác giả VN nghiên cứu Hội An trên nhiều phương diện Ô châu cận lục (1553) của Dương Văn An là tác phẩm đầu tiên đề cập
đến vấn đề hình thành Hội An Các công trình biên niên và địa chí: Đại
Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Nam
thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn hay Ngoại phiên thông thư phác họa đô thị thương cảng Hội An trong bối cảnh xã hội vùng
Thuận Hoá - Quảng Nam đương thời
Sallet với Le vieux Faifo - BAVH (1919), Trần Kinh Hoà với Historical Notes on Hoi An (1975); Phố Đường Nhai và việc buôn bán
ở Hội An TK XVII - XVIII, Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và cổ tích tại Hội An Nguyễn Thiệu Lâu có chuyên khảo La formation et
Trang 3l’évolution du village de Minh Hương (Faifo) - BAVH (1941) nghiên
cứu các vấn đề trên nhiều phương diện (kinh tế, chính trị, địa lý, tự
nhiên, xã hội, nguồn gốc cư dân) thế kỷ (TK) XVII-XVIII Một số
chuyên khảo về kiến trúc (KT) được nhìn nhận dưới góc độ lịch sử và
khai thác rất tỉ mỉ về phố Khách, Hoa thương, Minh Hương xã Bức
tranh Giao chỉ của dòng họ Chaya (Nhật Bản) là nguồn tư liệu quý phác
hoạ về diện mạo Hội An thời kỳ hưng thịnh Ghi chép về Xứ Đàng Trong
1621 của Cristoforo Borri; Hành trình và truyền giáo của A.de Rhodes;
Léon Pagére và Manguin; Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán cũng miêu
tả về diện mạo đô thị Hội An và các kiến trúc trong khu phố
Hội thảo năm 1985, xác định được khung thời gian “vận hành”
của Hội An từ thời Chămpa đến đầu TK XX, xác định mốc thời gian
thịnh đạt là vào nửa đầu TK XVII, nhất là vị trí của Hội An trong các
đô thị cổ VN với mối quan hệ ở trong và ngoài nước HTQT (1990,
1999, 2000, 2002) KT đô thị Hội An đã được đặt ra thành một nội
dung cấp thiết Diện mạo KT của Hội An dần được nhìn nhận theo từng
thời kỳ lịch sử Một số bài nghiên cứu như Đô thị cổ Hội An (QN-ĐN)
(Nguyễn Hồng Kiên); Gặp lại bộ “vài” trong kiến trúc cổ Hội An; Phố
cổ Hội An và việc giao lưu văn hoá ở Hội An (Nguyễn Quốc Hùng)
khởi đầu đánh giá tổng quan DTKT ở Hội An Kiến trúc phố cổ Hội
An - Việt Nam (2003) đã đánh giá, phân loại KT Hội An chủ yếu ở loại
hình KT nhà ở
Các nhà nghiên cứu Nhật Bản và Trung Quốc đã đặt Hội An
trong bối cảnh lịch sử và đối sánh với hình mẫu đô thị phương Đông
nói chung và những đặc trưng riêng/chung với những đô thị đương thời
ở quốc gia họ để minh chứng về mối cộng hưởng, giao lưu trong lịch
sử giữa các vùng đất và các nền văn hoá Nghiên cứu của Lan-Shiang
Huang - Comparison of Traditional Chinese Townhouse in Hoi An and
Lu-Gang đối sánh giữa kiến trúc nhà phố Hội An và ở Lu-Gang qua từng
giai đoạn Charles Wheeler lại đánh giá vị trí Hội An trong lịch sử VN nói chung và trong lịch sử thương mại châu á nói riêng
Tháng 8/2006, KCH đã phát hiện một khối lượng hiện vật kiến trúc phong phú ngay dưới lòng đất đô thị Hội An Những kết quả khai quật này có ý nghĩa quan trọng đã chứng minh về sự hiện diện của người Nhật ở Hội An và khẳng định rõ hơn về giao thông thương mại cũng như sự hiện diện của lớp cư dân tại Hội An ở TK XVI - XVII
Ngót nửa thế kỷ, các nhà khoa học trên mọi lĩnh vực đã tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu dần được nhận diện khu phố cổ ẩn chứa nhiều bí ẩn
III Mục đích, đối tượng phạm vi nghiên cứu
III.1 Mục đích nghiên cứu
- Luận án cung cấp một cái nhìn toàn diện về một loại hình KT
đô thị điển hình của Việt Nam và bổ sung vào hệ thống tư liệu về KT
đô thị cổ Hội An
- Luận án phân tích sự chuyển đổi hình thái đô thị Hội An qua các thời kỳ lịch sử, thông qua việc hệ thống và đánh giá các loại hình
KT ở Hội An Từ đó so sánh và phân tích sự hình thành, phát triển, suy thoái của đô thị để nhìn nhận vẻ độc đáo hiếm có về phong cách KT
- Đánh giá vai trò của loại hình đô thị thương cảng Vai trò của loại hình KT đô thị trong quỹ KT đô thị Việt Nam
III.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu di sản đô thị cổ Hội An một cách toàn diện: xuyên suốt quá trình hình thành phát triển đến khi không còn là
đô thị hưng khởi ở miền Trung Đặt vấn đề “quỹ kiến trúc đô thị” là trọng tâm thông qua việc xác định đặc điểm của từng loại hình KT
Trang 4truyền thống và vai trò của chúng trong không gian đô thị Hội An từ
đầu đến đầu TK XX
IV ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Nghiên cứu các loại hình KT trong đô thị Hội An, từ đó hình
dung diện mạo đô thị Hội An qua từng giai đoạn
- Nghiên cứu các vấn đề về điều kiện tự nhiên, chính trị, lịch
sử, phân tích theo mối liên hệ giữa bối cảnh địa lý, văn hoá của những
vùng/miền/quốc gia lân cận để đánh giá KT Hội An từ nhiều góc độ để
đưa ra những giả thuyết mang tính tổng hợp… minh chứng về kiểu
hình thái KT đô thị Hội An có phong cách độc đáo
- Luận án mong muốn đây là một nghiên cứu về LSKT đô thị Hội An
V Các nguồn tư liệu
Luận án khai thác triệt để các nguồn tư liệu: thư tịch cổ; sách,
tạp chí nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước; ghi chép của
các giáo sĩ, website… và tư liệu thực tế nhiều năm qua Luận án cũng
sử dụng các tư liệu bản vẽ của các đồng nghiệp và kế thừa luận văn
thạc sĩ (5/2000)
VI Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp giữa lôgíc sử học và phân tích, đánh giá, miêu tả
về bố cục, kết cấu công trình và các thuật ngữ kiến trúc chuyên ngành
- Hệ thống hoá tư liệu theo phương thức tổng hợp liên ngành
Phương pháp so sánh đồng đại phương pháp sử học, điều tra XHH
- Phương pháp tiếp cận mới nhìn nhận lịch sử đô thị qua di sản
KT Đặt vấn đề hình thành, phát triển Hội An từ các di sản KT đô thị
VII Đóng góp của luận án
Nghiên cứu đô thị dưới góc độ lịch sử kiến trúc đô thị Loại
hình hoá các di tích kiến trúc (DTKT) ở Hội An và so sánh có tính chất
tương đồng với các đô thị trong nước và nước ngoài
- Tập hợp, hệ thống, phân loại các DSKT Hội An Tiếp cận LSKT làm rõ quá trình hình thành, thay đổi và phát triển của các loại hình KT Hội An và tìm hiểu diện mạo lịch sử đô thị Hội An
- Chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số ý tưởng về mối tương quan giữa sử học và kiến trúc (đặt vấn đề lịch sử đô thị (LSĐT) Hội An qua ngôn ngữ KT)
- Luận án hoàn thành sẽ góp phần vào việc biên soạn giáo trình
về LSKT đô thị VN phục vụ cho công tác giảng dạy nghiên cứu chuyên ngành về lịch sử và LSKT VN
- Luận án góp phần tăng thêm những cứ liệu cho công tác bảo tồn, tôn tạo di tích trong giai đoạn mới, góp phần phát triển du lịch, văn hoá và kinh tế ở Hội An hiện nay
VIII Cấu trúc luận án
Luận án gồm: 4 chương gồm 182 trang (tr.) Mở đầu (15 tr); Kết luận (4 tr.); Tài liệu tham khảo (272 đơn vị) và Phụ lục: gồm 11phụ lục viết (59 trang) và 65 ảnh Phụ lục minh hoạ: 19 bảng ảnh, 4 bảng biểu,
8 sơ đồ, 22 bản đồ, 45 bản vẽ
Chương 1: Những điều kiện tự nhiên - x∙ hội vμ quá trình hình thμnh cảng thị hội an
1.1 Vị trí địa lý tự nhiên vùng Hội An
1.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành vùng đất
Vùng đô thị Đà Nẵng - Hội An là nơi tiếp xúc giữa đất liền và biển Sự hình thành và phát triển vùng của sông Thu Bồn lại chịu ảnh hưởng rất lớn các điều kiện của biển lẫn lục địa Những biến đổi về địa chất trong vùng còn chịu tác động mạnh mẽ do chiều hướng phát triển và những hoạt động kinh tế của nhân dân
1.1.2 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn
Trang 5Luận án phân tích về chế độ gió, không khí, lượng mưa, sương
mù, bão, sóng, dòng chảy, mực nước biển… để thấy rõ đặc điểm riêng
của những yếu tố trên đã tác động đến khu vực Hội An
1.1.3 Đặc điểm chung về sự phát triển địa hình khu vực Hội An
Lịch sử hình thành và
đặc điểm địa hình vùng Hội An
khá phức tạp Những biến đổi
về thuỷ văn và đa dạng về địa
hình là nguyên nhân của quá
trình hình thành một số vùng
đất mới Vì vậy, vùng Hội An
có hệ thống sông ngòi dày đặc
Sơ đồ 1: Vùng hạ lưu sông Thu Bồn -
Cửa Đại Chiêm
và khá nhiều vụng biển cổ là tiền đề thuận lợi của một thương cảng
thời trung cổ, hệ thống giao thương đa chiều nhờ vào hệ thống sông, vị
trí sát biển tạo tiền đề phát triển Hội An về sau
1.1.4 Vị thế vùng Hội An với quan hệ thông thương trong nước và
ngoài nước
Cấu tạo địa hình, địa mạo khu vực Hội An để lại kết quả phức
hệ sông ngòi, đầm, bàu dày đặc tạo thành những “ngã tư nước Hội An
là một cảng sông tiện lợi, đầu mối giao thông thuỷ, bộ quan trọng
trong và ngoài nước Vị trí địa thế vùng Hội An tác động đến sự hình
thành và phát triển, là nhân tố tạo ra hướng phát triển mới mẻ của nền
ngoại thương Thời kỳ tiền Hội An đã mang tính chất một phức hệ
Cảng và Thị
1.2 Điều kiện lịch sử - x∙ hội và những biến động về kinh
tế tác động tới sự hình thành cảng thị Hội an
Các nền văn hoá Sa Huỳnh - tiền Chămpa, Chămpa tham gia vào quá trình hình thành phức hệ văn hoá ở đất Quảng có mối quan hệ bền chặt với Hội An Những phát hiện KCH là chứng tích cho thấy nơi
đây từng là một trung tâm văn hoá - kinh tế - xã hội, từng tồn tại một cảng thị cổ đại của vương quốc có giai đoạn hình thành phát triển song
hành với vương quốc Đại Việt Đây được coi là thời kỳ tiền Hội An
1.2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
- Hoàn cảnh quốc tế và khu vực: TK XVI-XVIII, châu á có
nhiều chuyển biến quan trọng tạo nên xung lực mới Sau phát kiến địa
lý (TK XV) đã hình thành một nền thương mại đường biển quốc tế xuyên đại dương Đó là thời đại - kỷ nguyên của thương mại quốc tế
Châu á được đánh thức, VN cũng nằm trong bối cảnh chung đó
- Tình hình chính trị - xã hội ở Việt Nam: TK XVI vương
quốc Chămpa suy vong Chúa Nguyễn Hoàng tiến hành công cuộc mở
cõi (1558) Dinh trấn Thanh Chiêm thành lập (1602) thì đất Đàng
Trong mới khởi sắc Chúa có nhiều chính sách thuận lợi phát triển giao
lưu với nước ngoài TK XVI, Đàng Trong được gọi là Quảng Nam quốc, thời kỳ hàng hải, mậu dịch quốc tế - khi đó Thuận Quảng nằm
trong tuyến thương nghiệp của nhiều nước Đông - Tây
1.2.2 Hội An thời các chúa Nguyễn
- Chính sách của chính quyền: dinh trấn Quảng Nam được coi
như một thượng đô thứ hai của chúa Nguyễn Đại Việt gia nhập vào hệ thống thương mại Đông á và ĐNA mở rộng ngoại thương với các nước
trong khu vực và các nước phương Tây
- Hoạt động của các thương nhân: Chúa cho phép thương nhân
các nước đến buôn bán Nếu thương nhân Việt đóng góp tích cực trên thương trường trong bước đầu hình thành thương cảng Hội An thì người
Trang 6Nhật đã có một vị trí quan trọng ở Hội An (TK XVI) Thông qua
thương nhân Nhật, VN có điều kiện mở rộng mối quan hệ với nhiều
tuyến buôn bán và bạn hàng trong và ngoài khu vực Thương nhân
Trung Quốc đã góp phần xây dựng Hội An thành trung tâm buôn bán
phồn thịnh, một thành thị độc đáo phương Đông thời trung đại Những
người phương Tây (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh) ở Hội An có cách thức
buôn bán riêng theo truyền thống của họ cũng góp phần vào hoạt động
ngoại thương ở Hội An
1.2.3 Vai trò Chúa Nguyễn đối với sự hình thành cảng thị Hội An
- Vai trò của các chúa Nguyễn trong việc phát triển kinh tế-xã hội:
Chúa tận dụng mọi hình thức ngoại giao từ trực tiếp đến gián tiếp, mở
rộng quan hệ bên ngoài như cho phép tàu buôn nước ngoài vào, lập thương
điếm, miễn phu dịch, sưu sai, viết thư, tiếp đón chu đáo những người
phương Tây đến làm ăn… Nguyễn Hoàng bỏ tiền lệ “bế quan toả cảng”,
khơi thông luồng giao thương, đặt Hội An trên con đường biển xuyên
lục địa Chính sách thu hút thương nhân góp phần vào sự chuyển biến
mới nền kinh tế công thương nghiệp, thúc đẩy sự phát triển phồn thịnh
của vùng Hội An biến nó thành một cảng trung tâm thương mại mang
tính quốc tế Những nỗ lực trên biểu lộ “nhận thức quốc tế” của chúa
Nguyễn trước thời đại mới Trong lãnh thổ Quảng Nam, có một đô thị
quốc tế là Hội An, nơi có phong cách quốc tế nên chúa Nguyễn mới tự
xưng là An Nam quốc
Phố cảng Hội An hình thành đã xác lập một hệ thống cảng thị
mang đầy đủ các yếu tố để vận hành và đóng góp thiết thực vào nền
kinh tế, ngoại giao, văn hoá của đất Đàng Trong nhiều thế kỷ qua
- Chính sách của các chúa Nguyễn đối với dân nhập cư và cư
dân gốc: Các Chúa có những chính sách phù hợp đối với cư dân miền
núi để vừa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa thu nạp họ vào cộng đồng
Đại Việt và tìm kiếm đồng minh Chúa cho các thương nhân nước
ngoài lập phố cư trú, kết hôn, buôn bán và truyền giáo
1.3 Tiểu kết: Khái quát các nội dung vừa trình bày và nhìn nhận vị trí
địa lý, tự nhiên vùng Hội An là đặc trưng của quá trình hình thành, vừa
là diện mạo của Hội An thời kỳ đầu Quyết sách của các chúa Nguyễn
là động lực quan trọng để Hội An phát triển Từ đó, các loại hình KT truyền thống ở Hội An có điều kiện khởi sắc và bộc lộ những đặc điểm
KT của mình Đó là đô thị vừa mang yếu tố hải cảng vừa mang yếu tố
giang cảng, tạo một bề dày đô thị về tầm vóc - Đô thị thương cảng
Chương 2: Di tích kiến trúc hội an từ thế kỷ xvi đến thế kỷ xviii
2.1 Dấu tích những bến thuyền cổ
Những điều kiện tự nhiên thuận lợi của vùng Hội An đã có yếu
tố thị khá mạnh Hội An mang yếu tố cảng thị và cảng phố Hầu hết
các địa điểm liên quan đến giao lưu buôn bán ở Hội An đều nằm bên dòng chảy cổ của sông Thu Bồn Dấu vết những địa điểm trên cho ta hình dung hình thái đô thị Hội An ban đầu và là cơ sở nhận diện đô thị
Hội An hoàn thiện sau này Đó tiền đề tạo dựng thương cảng Hội An
2.2 một số loại hình kiến trúc tiêu biểu
2.2.1 Giếng 2.2.2 Chùa 2.2.3 Đền - miếu 2.2.4 Cầu 2.2.5 Mộ
2.2.6 Nhà thờ tộc/từ đường
Trang 7Đây là những loại hình KT hình thành ở giai đoạn (TK
XVI-XVIII) Luận án phân tích các đặc điểm về bố cục, phân bố, kết cấu và
những đặc trưng nghệ thuật KT của từng loại hình KT
2.3 Vị trí, quy mô các thương điếm
2.3.1 Thương điếm và vị trí, quy mô phố Nhật Bản
Dựa vào căn cứ KCH và tư liệu lịch sử cho phép phỏng đoán
và hình dung về quy mô khu phố đã từng được coi là “đô thị của người
Nhật” Nhật Tuyến đường Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú là
huyết mạch của khu phố Hội An trong nhiều thế kỷ Nó cũng là vị trí
của khu phố Nhật trong lịch sử chạy dọc hai tuyến phố chính trên và
nó cũng trùng hợp với vị trí của bến cảng Hội An xưa
2.3.2 Các thương điếm phương Tây
Đến nay, chúng ta chưa xác định địa điểm Chúa cho phép
người Hà Lan dựng thương điếm Chúng tôi cho rằng, kiến trúc thương
điếm của người Hà Lan đặt tại Hội An có quy mô không rộng Luận án
cũng dẫn chứng về hình thức thương điếm Hà Lan ở Nagasaki (Nhật
Bản) để có sự liên tưởng Thương nhân Bồ Đào Nha và Anh này không
đặt thương điếm ở Hội An
2.3.3 Thương điếm và vị trí, quy mô phố Khách
kiến giải về vị trí và quy mô thương điếm của người Hoa (cũng chính
là hội quán của họ) Có thể lấy mốc là 5 hội quán của người Hoa trên
đường Trần Phú để xác định vị trí khu phố Khách
2.4 Diện mạo đô thị Hội An thời kỳ hình thành và phát triển
TK XVI-XVIII là thời kỳ vàng son của thương cảng Hội An
Hội An là thị trấn có Chúa đóng, thuận tiện cho giao thương quốc tế
nên Hội An sớm hội tụ những cơ hội hình thành và trở nên quan trọng
hơn cửa biển Đà Nẵng bấy giờ Hội An đã có định hình về hành chính
Thương nhân nước ngoài từng gọi vùng Hội An là “Quảng Nam quốc”cũng đủ thấy quy hoạch và giới hạn của Hội An như thế nào Hội
“như một cửa hàng bách hoá lớn (Bazar)” - một chợ phiên quốc tế
Hội An hình thành khu phố có quy hoạch của chính quyền, thể hiện diên cách khá độc đáo của đô thị Hội An trở thành đầu mối lưu thông hàng hoá thuỷ bộ Bám vào sông biển hay vươn mình ra biển là hoạt động thương mại nổi bật Sự hình thành và phát triển các khu phố Nhật, Hoa đã tạo nên diện mạo Hội An thời kỳ hưng thịnh
Hội An là đô thị có xu hướng tiến ra biển, lấy biển làm nhân tố hình thành và phát triển đô thị Hội An thu hút vô số các nguồn hàng từ nhiều nơi khác tới, nó chứng tỏ sức tiêu thụ và đáp ứng một diện trường rộng lớn Với thị trường hàng hoá hoạt động chủ yếu dưới sự điều khiển của chính quyền trung ương, với cách thức buôn bán trao đổi Điều đó
minh chứng về tầm cỡ một đô thị rộng và mạnh; sức mạnh của nguồn
nguyên liệu, sự dồi dào về các mặt hàng hoá đa dạng
2.4 Tiểu kết : Các di tích phân bố đều đặn từ văn hoá tiền Hội An đến
Hội An và gắn với những hoạt động thương mại của đô thị Có sự tồn tại của ba nền văn hoá trên cùng một địa điểm: Sa Huỳnh - Chămpa -
Đại Việt Có sự đa dạng trong phong cách kiến trúc đô thị (kiến trúc
Việt - Hoa - Nhật) Loại hình KT thương điếm cần nghiên cứu sâu hơn
Yếu tố cảng thị tác động quan trọng tới di tích kiến trúc trong khu vực Hội An Các tuyến phố mới hình thành dẫn tới việc các di tích
có xu hướng bám theo sông, biển và phân bố rải rác trên toàn bộ khu vực Hội An Thành phần cư dân đa dạng về văn hoá và phong cách sinh hoạt ở Hội An, đô thị có dáng vẻ quốc tế
Trang 8Chương 3: di tích kiến trúc hội an từ thế kỷ XVIII đến
nửa đầu thế kỷ xx
3.1 Những nhân tố tác động đến quá trình suy tàn của
cảng thị hội an
3.1.1 Các nhân tố tự nhiên
Những yếu tố vốn đã là động lực cho sự hình thành và phát triển
thương cảng Hội An từ thế kỷ XVIII trở đi đã dần dần không còn nữa
Đây cũng chính là yếu tố khách quan khiến cho đô thị này suy tàn
3.1.2 Các nhân tố xã hội
Những phát kiến địa lý và thành tựu khoa học - kỹ thuật đã giúp
cho các nước tư bản phương Tây thực hiện ý đồ bành trường, tìm kiếm thị
trường ở phương Đông Tranh giành thuộc địa trong TK XIX, cho thấy
nhu cầu thị trường của chủ nghĩa tư bản càng hối thúc Tư bản phương Tây
tiến đến mở rộng vùng đất bằng cách chiếm độc quyền khai thác
TK XVIII, nhiều cuộc chiến tranh trong nước gây tổn hại tới
Hội An Nhà nước phong kiến thi hành chính sách bế quan toả cảng
Thế kỷ XIX, do tình hình ngoại thương sa sút, các đô thị kinh tế dựa
vào hoạt động buôn bán quốc tế như Phố Hiến, Hội An đã nhanh
chóng suy thoái Đà Nẵng trở thành cảng biển ngoại giao của triều
Nguyễn (1802)
Bên cạnh các loại hình DTKT ở giai đoạn đầu, một số loại
hình KT mới được định hình bổ sung vào quỹ kiến trúc đô thị Hội An
Những loại hình KT cho ta hình dung về một Hội An với diện mạo
khác so với thời kỳ đầu, cũng chính vì thế chức năng, bố cục, kết cấu
của công trình cũng có những thay đổi phù hợp với bối cảnh lịch sử
của Hội An khi đó
3.2 di tích kiến trúc Hội An từ thế kỷ xviii đến nửa đầu thế kỷ xix
3.2.1 Các loại hình kiến trúc
Đình; Văn miếu, văn chỉ; Hội quán; Nhà thờ, thánh thất; Chợ: là những loại hình kiến trúc hình thành ở giai đoạn (TK
XVIII-đầu TK XIX) Luận án trình bày các đặc điểm về bố cục, phân bố, kết cấu và những đặc trưng về kiến trúc của từng loại hình kiến trúc
3.2.2 Phạm vi và quy mô
Vào thời điểm này, làng Minh Hương đã chiếm phần lớn ở khu vực Hội An Diện tích làng Minh Hương nhưng theo thời gian địa phận của làng được mở rộng ra Diện tích Minh Hương xã đã bao gồm hệ thống các công trình kiến trúc (chùa, miếu, đền, nhà ở, nhà thờ họ )
sự chuyển đổi và bồi lấp của sông Thu Bồn đã bổ sung thêm diện tích cho làng Minh Hương Nhờ phần đất bồi này mà phố đã mở thêm con
đường Bạch Đằng (1886) Năm 1897, Thực dân Pháp và chính phủ Nam triều chỉnh trang vùng đất này thành thị xã, cắt đất mở đường chia lại ranh giới, chính thức dùng tên gọi Faifo cho thị xã
Việc quy hoạch khu vực cư trú, cho thấy làng Minh Hương phần lớn là người Hoa cư trú, cũng có đan xen người Việt Làng Minh
Hương phồn thịnh nên người ta gọi đó là một “tiểu Hội An”
TK XIX-XX
TK XVIII-XIX TKXVII-XVIII
Sơ đồ 2: Phỏng
đoán về vị trí khu phố cổ Hội An qua các thời kỳ
Trang 93.2.3 Diện mạo đô thị Hội An thời kỳ suy tàn
Cuối TK XVIII, việc buôn bán của người châu Âu ở Hội An
ngày một giảm Đô thị suy giảm một phần do tác động từ chính quyền
nhung quan trọg nhất vẫn là sự thay đổi về địa hình khu vực.Không chỉ ở
Hội An, hiện tượng biến đổi các dòng sông cũng thấy ở các đô thị khác
nên mọi nguồn hàng đều đổ về đầu mối Đà Nẵng Đến năm 1847, chỉ
có cửa biển Đà Nẵng là nơi có nhiều tàu thuyền đi lại Đà Nẵng càng
lớn mạnh thì Hội An vắng vẻ bên dòng sông cạn
3.3 di tích kiến trúc hội an từ cuối thế kỷ xix đến đầu
thế kỷ xx
3.3.1 Tình hình quy hoạch - kiến trúc ở Hội An
Cuối TK XIX,
Hội An suy sụp DTKT
bị tàn phá bởi thiên
nhiên và con người Sự
kết nối giữa Hội An và
Đàng Nẵng qua sông Cổ
Cò Đà Nẵng - Hội An là
một phức cảng thị quốc
tế Sông Cổ Cò bị bồi lấp Bản đồ1: Faifo-Edition de Dècembre 1923,
càng khiến cho điểm yếu cơ bản nhất của Hội An là thuyền lớn không
thể cập bến được.Ngày 9/10/1888 vua Thành Thái ra dụ thành lập thị xã
Faifoo (Hội An) làm tỉnh lỵ Quảng Nam
Đầu TK XX, thực dân Pháp thiết lập một con đường sắt nối Đà
Nẵng với Hội An nhưng vì đô thị quá tàn lụi nên thực dân Pháp không
khôi phục lại nữa Loại hình KT công sở được xây dựng đã tạo cho Hội
An một quy hoạch khác hẳn với Hội An trước đó và bổ sung vào các loại hình KT Hội An, tạo một khuôn diện mới cho khu phố bên cạnh ngôi nhà phố truyền thống
3.3.2 Những công trình xây dựng ở Hội An
Nửa sau TK XIX sang đầu TK XX, các công trình nhà ở chịu
ảnh hưởng và có thay đổi về hình thức KT Tại đô thị Hội An đã hình thành phong cách KT kết hợp truyền thống và ảnh hưởng KT Pháp
- Kiến trúc nhà ở/nhà phố: phân tích những đặc trưng kiến trúc mang tính địa phương và sự ảnh hưởng kiến trúc Việt - Hoa Thời kỳ
Pháp thuộc (cuối TK XIX đến giữa TK XX), những ngôi nhà mang phong cách KT thuộc địa xuất hiện nhiều và tập trung trên một tuyến phố Sự đan xen phong cách KT Pháp trong những ngôi nhà phố truyền thống là hệ quả của một lối sống phương Tây đã xuất hiện trong đời sống cư dân ở Hội An, nó cũng cho thấy sự “lấn sân” của người Pháp Nhưng, có thể thấy sự đa dạng về kiểu dáng đã tạo nên “nhịp điệu” cho
khu đô thị cổ kính này Đầu TK XIX: nhà 2 tầng có hiên độc lập/ tầng lửng, mái cổ diêm Cuối TK XIX nửa đầu TK XX: nhà 2 tầng mặt
đứng/tường gỗ; nhà 2 tầng mặt đứng/tường gạch; nhà 2 tầng/mặt đứng
kiểu kiến trúc Pháp
- Kiến trúc công sở: du nhập vào Việt Nam khi người Pháp
tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất Loại hình công trình này là những công trình KT phù hợp với điều kiện khí hậu VN thể
hiện rõ trong việc kết hợp giữ KT VN - Pháp
3.4 tiểu kết: Những nhân tố làm cho đô thị Hội An hưng khởi cũng
là điều kiện hình thành các loại hình DTKT ở giai đoạn đầu hình thành
và phát triển đô thị Khi các nhân tố đó không còn nữa thì đô thị Hội
Trang 10An vì thế mà suy tàn Thông qua phân bố, quy mô, hình thức, chức
năng của công trình ta có thể thấy sự chuyển đổi của đô thị Hội An
Các di tích trong khu phố cổ Hội An phong phú về số lượng,
đa dạng về loại hình và hầu hết còn lại khá nguyên vẹn Mỗi giai đoạn
lịch sử, các loại hình này đóng vai trò khác nhau Đô thị Hội An có sự
kết hợp giữa phong cách KT truyền thống và hiện đại làm sinh động
hơn quần thể di tích
Hình 1: Quá trình phát triển mặt tiền ngôi nhà Hình 2: Quá trình phát triển bố cục ngôi nhà phố (mặt cắt)
Chương 4: Phong cách kiến trúc đô thị hội an
4.1 nghệ thuật - kiến trúc đô thị hội an
4.1.1 Đặc điểm bố cục mặt bằng kiến trúc
Mỗi loại hình kiến trúc đều có bố cục mặt bằng, kết cấu kiến
trúc riêng biệt thể hiện tính đặc thù theo công năng
Đặc điểm chung: kiểu nhà phố nên mặt bằng các ngôi nhà có
chiều ngang hẹp ≈ 4 - 8m, chiều sâu dài ≈ 10 - 40m (nhà hình ống)
đường Nguyễn Thái Học hay phía nam đường Trần Phú chiều sâu có
thể dao động tới 40 - 60m
Bố cục mặt bằng và không gian kiến trúc: Mặt nhà trước
(mặt tiền) ặ vỉa hè ặ hiên ặ nhà chính ặ nhà phụ ặ hiên ặ nhà
cầu ặ hiên ặ nhà sau 3 gian ặ vườn hậu Nhà mặt phố kết hợp cửa
hàng buôn bán tận dụng chức năng linh hoạt hơn kiểu nhà thờ họ và
nhà ở thuần tuý (ở - buôn bán - chứa hàng - thờ cúng)
Nhà phố ở Hội An tổ chức không gian theo chiều sâu và chiều cao, phân chia không gian chặt chẽ, hợp lý thoả mãn yêu cầu mặt bằng hẹp và phải kết hợp nhiều công năng của nhà Tổ chức không gian đến chi tiết kiến trúc, thẩm mỹ trang trí tới quan niệm tín ngưỡng, nhà phố Hội An biểu hiện của lối sống đô thị - thương nghiệp
4.1.2 Tổ hợp công trình và cấu trúc không gian kiến trúc
- Tổ hợp công trình theo tuyến: Quy hoạch chủ đạo của Hội An
vẫn là các công trình bám theo sông, các tuyến phố dạng ô cờ Khu phố
được phân chia ranh giới tương đối bởi các hẻm, con ngõ thẳng, sâu,
ngoằn ngèo, rộng, hẹp dẫn đến từng ngôi nhà, nối thông qua các phố
Kiến trúc nhà phố là đặc trưng trong kiến trúc phố Hội An vì: Bộ khung nhà tổ chức không gian theo chiều sâu và chiều cao và tận dụng
kỹ thuật, VLXD truyền thống của nhà rường; Mặt bằng không gian phân chia chặt chẽ; Các giải pháp về nước thải, ánh sáng, màu sắc được
xử lý tốt; Sử lý kỹ thuật trang trí tránh đơn điệu của ngôi nhà được tận dụng tối đa làm công trình rạng rỡ hơn
- Cấu trúc không gian kiến trúc: Mặt bằng gồm nhiều nếp bố
trí theo chiều sâu Không gian KT gồm 3 phần: không gian buôn bán,
không gian sinh hoạt/ở; không gian thờ cúng
Nhà phố Hội An là một sản phẩm KT có tính văn hoá khu vực
3.1.3 Những đặc trưng trong nghệ thuật trang trí - điêu khắc và biểu tượng kiến trúc truyền thống Hội An
- Những đặc trưng chung: Nghệ thuật tạo hình tinh tế ở các
công trình dân dụng, công trình công cộng và tôn giáo thể hiện trên kết cấu gỗ; trên đồ dụng trang trí với các chủ đề đa dạng đều biểu thị cho