Luận văn, khóa luận, kinh tế, quản trị, thương mại
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đánh dấu sự đổi mới sâu rộng và toàn diện
cả về tư tưởng lẫn đường lối cuả Đảng và Nhà nước ta, đó là việc xoá bỏ cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận đôngtheo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trước đây trong cơ chế quan liêu bao cấp thì hoạt động tiêu thụ của các doanhnghiệp không được coi trọng vì các doanh nghiệp chỉ việc tập trung sản xuất theo kếhoạch của cấp trên, của Nhà nước giao cho còn tiêu thụ sản phẩm đã có nhà nước baotiêu
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm trở thành
hoạt động vô cùng quan trọng, đó là vấn đề sống còn đối vói các doanh nghiệp “Bán thứ khách hàng cần chứ không bán thứ mình có” đã là phương châm của rất nhiều
doanh nghiệp hiện nay Thực tế cho thấy rằng, những doanh nghiệp chỉ cắm đầu vàosản xuất mà không lo đến công tác tiêu thụ sẽ không trụ lại trên thị trường khi mà sựcạnh tranh ngày càng gay gắt Trái lại các doanh nghiệp có chiến lược và kế hoạch đầu
tư nguồn lực cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế cạnhtranh trên thị trường Việc coi trọng công tác tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệpđóng vai trò quan trọng giúp nâng cao vị thế cạnh tranh trên thương trường, giúpdoanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay
Đối với công ty cổ phần gạch Tuynen số 1, một công ty chuyên sản xuất gạchxây dựng nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế cũng nhưcác khu vực lân cận Trong bối cảnh kinh tế hiện nay công tác tiêu thụ ảnh hưởng tới
sự tồn tại và phát triển của bất cứ doanh nghiệp nào, trong đó công ty cổ phần gạchTuynen số 1 Thừa Thiên Huế cũng không là ngoại lệ Trong những năm gần đây công
ty đã cổ phần hoá và không ngừng phát triển hoàn thiện đội ngũ cán bộ có năng lựctrình độ, nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật để thích nghi với cơ chế thị trường Hiệnnay, thị trường vật liệu xây dựng có nhiều biến động, có lúc thị trường vật liệu xâydựng khá sôi động nhưng có khi lại khá im lặng
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 1
Trang 2Xuất phát từ tình hình thực tế công tác tiêu thụ của công ty cổ phần gạch
Tuynen số 1 tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi chọn vấn đề nghiên cứu: “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm gạch của công ty cổ phần gạch Tuynen 1 Thừa Thiên Huế” để làm khoá luận tốt nghiệp.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm
- Phân tích đánh giá thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại công ty cổ phần gạchTuynen số 1 giai đoạn 2007-2009
- Đề ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công
ty cổ phần gạch Tuynen số 1 trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập thông tin:
- Thông tin thứ cấp: tổng hợp thông tin từ các số liệu, các báo cáo thống kê,
các bảng tổng kết hoạt động kinh doanh qua các năm do công ty cổ phần gạch Tuynen
mà công ty cung cấp với số khách hàng được lựa chọn là 80
+ Phỏng vấn trực tiếp đối với 16 đại lý của công ty trên địa bàn tỉnh T T Huế
3.2 Các phương pháp xử lý và phân tích số liệu
* Kết quả bảng câu hỏi thu thập ý kiến đánh giá của khách hàng về chính sáchsản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến hỗn hợp của công
ty được xử lý trên phần mềm SPSS 15.0 for Windowns Chúng tôi phát ra 80 phiếu đốivới khách hàng cá nhân và 16 phiếu đối với khách hàng đại lý, thu về tổng cộng 96phiếu hợp lệ và xử lý trên 96 phiếu đó Đối với các vấn đề định tính được nghiên cứutrong đề tài, chúng tôi đã sử dụng thang đo 5 mức độ (thang điểm Likert) để lượng hóacác mức độ đánh giá của khách hàng và trở thành các biến định lượng Bằng phầnmềm SPSS, chúng tôi sử dụng:
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 2
Trang 3+ Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê và chỉ lấy giá trị Frequency (tần số), Valid Percent (% phù hợp) và Mean (giá trị trung bình) trong bảng thống kê đó.
+ Phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha để đo lường mức độ tin cậy của
thang đo
+ Phương pháp One- Sample T-Test để khẳng định xem giá trị kiểm định có ý
nghĩa về mặt thống kê hay không với độ tin cậy 95%
* Đề tài đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp phân tích như:
+ Phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng được sử dụng như là phươngpháp luận chung xuyên suốt đề tài, để xem xét các hiện tượng kinh tế – xã hội trongmối quan hệ tác động lẫn nhau
+ Phương pháp thu thập xử lý số liệu, tổng hợp, phân tích và đánh giá thựctrạng tiêu thụ hàng hoá
+ Phương pháp phân tích kinh doanh để xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố.+ Phương pháp so sánh
+ Và một số phương pháp khác
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu công tác tiêu thụ gạch xây dựng của công ty
Tuynen và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác tiêu thụ
- Không gian nghiên cứu: Công ty cổ phần gạch Tuynen số 1 Thừa Thiên Huế
- Thời gian nghiên cứu: Phân tích và đánh giá thực trạng tiêu thụ sản phẩm
trong giai đoạn 2007-2009 và đề xuất giải pháp trong thời gian tới
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 3
Trang 4PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan về tiêu thụ sản phẩm
1.1.1.1 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, là khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất xãhội, là đặc trưng lớn nhất của nền sản xuất hàng hoá nhằm thực hiện mục tiêu đã xácđịnh trong chương trình hoạt động của người sản xuất và người kinh doanh thươngmại
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn
đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: sản xuất và kinh doanhcái gì? Sản xuất và kinh doanh như thế nào? Và cho ai? Cho nên việc tiêu thụ sảnphẩm hàng hóa cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng
* Hiểu theo nghĩa rộng: Tiêu thụ hàng hóa là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu doanh nghiệp cần thoả mãn, xác định mặt hàng kinh doanh và tổ chức sản xuất (DNSX) hoặc tổ chức cung ứng hàng hóa (DNTM) và cuối cùng là việc thực hiện các nghiệp vụ bán hàng nhằm đạt mục đích cao nhất.
Do tiêu thụ hàng hóa là cả một quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhaunhưng có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, cho nên để tổ chức tốt việc tiêu thụ hànghóa doanh nghiệp không những phải làm tốt mỗi khâu công việc mà còn phải phối hợpnhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp, giữa các bộ phận tham gia trực tiếp hay gián tiếpvào quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa trong doanh nghiệp Phối hợp nhịp nhànggiữa các khâu kế tiếp có nghĩa là các khâu trong quá trình tiêu thụ hàng hóa không thểđảo lộn cho nhau mà phải thực hiện một cách tuần tự nhau theo chu trình của nó.Doanh nghiệp không thể tổ chức sản xuất trước rồi mới đi nghiên cứu nhu cầu thị
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 4
Trang 5trường, điều đó sẽ làm cho hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, cũng cónghĩa không thể tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa và doanh nghiệp phá sản.
* Hiểu theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được hiểu như là hoạt động bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp cho khách hàng đồng thời thu tiền về
Vậy tiêu thụ hàng hóa được thực hiện thông qua hoạt động bán hàng củadoanh nghiệp nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền thực hiện vòng chu chuyển vốntrong doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu
xã hội
Tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh, là yếu tốquyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
1.1.1.2 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm
- Đối với người tiêu dùng
Tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp góp phần thoả mản nhu cầu thông qua
việc tiếp cận với các hình thức tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp Có được sựphục vụ và điều kiện ưu đãi tốt nhất khi mua sản phẩm hàng hoá, được cung cấp cácdịch vụ cần thiết bởi các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiệnnay Có sự lựa chọn khi mua sắm hàng hoá và được hưởng các chính sách hỗ trợ bánhàng của các doanh nghiệp Mặt khác người tiêu dùng được hướng dẫn chi tiết hơntrong quá trình mua sắm, góp phần nâng cao mức sống văn minh của toàn xã hội
- Đối với doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa đóng vai trò quan trọng quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Bởi vì nhờ tiêu thụ được sản phẩm hàng hóahoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới diễn ra thường xuyên liên tục,tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giúp doanh nghiệp bù đắp dược những chi phí, có lợinhuận đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là điều kiện để thực hiện các mục tiêu của doanhnghiệp, đặc biệt tập trung vào mục tiêu giảm chi phí và tăng lợi nhuận Bởi khi khốilượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên thì chi phí bình quân của một đơn vị sản phẩm giảm
từ đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 5
Trang 6Tiêu thụ hàng hóa làm tăng uy tín của doanh nghiệp cũng như làm tăng thị phầncủa doanh nghiệp trên thị trường Bởi vì khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ,tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó Sứctiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp thể hiện mức bán ra, sự thích ứng với nhu cầungười tiêu dùng và khối lượng hàng hóa tiêu thụ càng tăng thì thị phần của doanhnghiệp càng cao Công tác tiêu thụ sản phẩm có quan hệ mật thiết với khách hàng, nóảnh hưởng đến niềm tin và sự tái tạo nhu cầu của người tiêu dùng, nên nó còn là vũ khícạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp với các đối thủ trên thương trường.
Thông qua tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạchkinh doanh phù hợp, đạt hiệu quả cao do họ dự đoán được nhu cầu của xã hội trongthời gian tới
-Đối với xã hội
Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm hàng hóa có vai trò trong việc cânđối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế là một thể thống nhất với những cân bằng, nhữngtương quan tỷ lệ nhất định Sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ tạo điều kiện cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường trôi chảy tránh được sự mất cân đối, giữđược bình ổn trong xã hội
Tóm lại, để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hànhmột cách thường xuyên, liên tục, hiệu quả thì công tác tiêu thụ sản phẩm phải đượcquan tâm tổ chức tốt Việc quản lý hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệpthường được tiến hành dựa trên cơ sở các chứng từ nhập kho, xuất kho thành phẩm
Do vây, không ngừng nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm là mối quan tâm hàng đầucủa bất kỳ doanh nghiệp nào
1.1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là hoạt động thực tiễn sản phẩm được vận động từnơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Đặc điểm lớn nhất của sản phẩm ở mỗi doanh nghiệp
là nó được sản xuất ra và đem đi bán nhằm thực hiện các mục tiêu hiệu quả đã địnhtrước, đó là:
Thứ nhất: Mục tiêu lợi nhuận
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 6
Trang 7Lợi nhuận là mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanhnghiệp hạch toán kinh doanh Nó là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt độngsản xuất kinh doanh.
lợi nhuận = doanh thu - chi phí
Vì vậy, tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp Tiêu thụsản phẩm tốt thì thu được nhiều lợi nhuận và ngược lại sản phẩm mà không tiêu thụđược hoặc tiêu thụ được ít thì lợi nhuận sẽ thấp, hoặc có thể hòa vốn hoặc lỗ
Thứ hai: Mục tiêu vị thế của doanh nghiệp
Vị thế doanh nghiệp biểu hiện ở phần trăm doanh số hoặc số lượng hàng hóađược bán ra so với toàn bộ thị trường Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến vịthế của doanh nghiệp trên thị trường Tiêu thụ mạnh làm tăng vị thế của doanh nghiệptrên thị trường
Thứ ba: Mục tiêu an toàn
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Sản phẩm được sản xuất ra đểbán trên thị trường và thu hồi vốn để tái sản xuất, quá trình này phải được diễn ra liêntục, có hiệu quả nhằm đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp Do vậy, thị trường bảođảm sự an toàn trong sản xuất kinh doanh
Thứ tư: Đảm bảo tái sản xuất liên tục
Quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: Sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêudùng , nó diễn ra trôi chảy Tiêu thụ sản phẩm nằm trong khâu phân phối và trao đổi
Nó là một bộ phận hữu cơ của quá trình tái sản xuất Do đó, thị trường có ý nghĩa quantrọng đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục, trôi chảy
1.1.1.4 Nội dung chủ yếu của công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
* Nghiên cứu nhu cầu thị trường
Để thành công trên thương trường, đòi hỏi bất cứ một doanh nghiệp nào cũngphải thực hiện công tác nghiên cứu Đây là công việc phức tạp và tốn kém vì vậy phảituân thủ chặt chẽ từng bước để tránh sai lầm và tốn kém vô ích
Bước 1: Tổ chức thu thập hợp lý các nguồn thông tin về nhu cầu của thị trường,
các thông số đó bao gồm: địa điểm, sức mua, sức bán, giá cả, yêu cầu của từng loại thị
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 7
Trang 8trường, từng loại sản phẩm Để xác định hướng kinh doanh mới, phát huy được lợi thếvốn, các doanh nghiệp phải xác định được là không thể đạt được mục tiêu nếu khôngthiết lập được tổ chức thông tin kinh doanh của mình Vì vậy, việc thu thập đầy đủthông tin là việc hết sức cần thiết, nắm vững đặc điểm thông tin là cơ sở cho việc đề racác quyết định kinh doanh đúng đắn, là tiền đề cho sự phát triển kinh doanh của doanhnghiệp.
Bước 2: Phân tích và sử dụng thông tin.
Phân tích và xử lý đúng thông tin để thu thập được về nhu cầu các loại thịtrường Doanh nghiệp phải biết lựa chọn những thông tin đáng tin cậy để tránh sai lầmkhi ra quyết định Việc xử lý thông tin phải đảm bảo tính khả thi trên các thông tin củadoanh nghiệp
Bước 3: Xác định nhu cầu thị trường: xác định nhu cầu thị trường mà doanh
nghiệp có khả năng đáp ứng Khi nhu cầu thị trường rất lớn song doanh nghiệp phảibiết lựa chọn phù hợp với khả năng của mình qua nghiên cứu nhu cầu thị trường phảigiải quyết các vấn đề sau:
- Thời gian cung cấp hàng hoá đúng dịp
- Xác định dung lượng thị trường
- Sản xuất cái gì? đặc điểm của sản phẩm?
- Giá bình quan trên thị trường trong từng thời kỳ
- Những yêu cầu của thị trường về hàng hoá như: Mẫu mã, chất lượng, phươngthức thanh toán, chất lượng, phương thức thanh toán, vận chuyển
- Tình hình hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh về năng lực sản xuất,chất lượng sản phẩm, thị trường của đối thủ cạnh tranh trên thị trường
- Doanh nghiệp cần đạt bao nhiêu phần trăm thị phần trong thời gian tới
* Xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là một kế hoạch hành động của doanh nghiệp đượcdùng một lần để thực hiện những mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Chương trìnhbán hàng không chỉ để ra các mục tiêu bán hàng cần đạt được mà còn xác định trình tự tổchức và các điều kiện để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ Muốn lập chương trình bán hàng
có hiệu quả cần thực hiện các bước sau:
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 8
Trang 9Bước 1: Tập hợp các thông tin, căn cứ cần thiết làm cơ sở cho việc xác định
nhiệm vụ, mục tiêu, trong đó, đặc biệt chú ý tới đơn đặt hàng, hợp đồng iêu thụ đã kýkết, nhu cầu thị trường đã xác định, dự báo nhu cầu thị trường trong tương lai
Bước 2: Xây dựng các phương án về mục tiêu, nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm trong
đó đưa ra quyết định lựa chọn mục tiêu, nhiệm vụ trong thời kỳ hoạch định
Bước 3: Chia toàn bộ công việc cần thực hiện để đạt được mục tiêu bán hàng
thành các phần việc hay các dự án Xác định mối quan hệ giữa các phần việc và xắp xếpchúng theo một trình tự thực hiện trên cơ sở đó lập tiến độ bán hàng
Bước 4: Quyết định người chịu trách nhiệm mỗi phần việc, có thể phân công
theo dõi từng ngành hàng hoặc từng địa phương, từng khách hàng, đại lý hay một sốcửa hàng nào đó
Bước 5: Lựa chọn và quyết định cách thức thực hiện, các nguồn chi phí và các
nguồn lực khác dành cho bán hàng
* Tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Đây là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động bán hàng làhoạt động mang tính nghệ thuật tác động đến tâm lý người mua, nhằm mục đích bánđược hàng nhiều nhất, hiệu quả bán hàng cao nhất Nghệ thuật của người bán là có thểlàm chủ được quá trình bán hay không Quá trình tiêu thụ sản phẩm của các doanhnghiệp có các bước sau:
Bước 1: Đàm phán ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm Trong nền kinh tế thị
trường hợp đồng tiêu thụ sản phẩm không chỉ là căn cứ pháp lý quy định trach nhiệm,quyền hạn mỗi bên tham gia hợp đồng, mà còn là căn cứ quan trọng để doanh nghiệplập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ đạt độ an toàn cao
Bước 2: Tổ chức kho thành phẩm:
Đây là công việc đảm bảo quản lý chất lượng sản phẩm trước khi đem tiêu thụsản phẩm Do đó phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tổ chức kho thành phẩmcủa Nhà nước hoặc doanh nghiệp, tránh tình trạng hao hụt, mất mát, suy giảm chấtlượng Chuẩn bị kho phải đúng với sản phẩm, căn cứ đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm,
đủ lượng hàng dự trữ trong kỳ, thuận tiện cho chuyên chở và chi phí kho là ít nhất
Bước 3: Tổ chức vận chuyển hàng hoá theo phương thức vận tải thích hợp và
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 9
Trang 10có hiệu quả.
Bước 4: Các phương thức thanh toán và giao nhận hàng hoá.
*Các phương thức giao nhận chủ yếu
- Giao nhận tại xưởng: người bán phải đặt hàng dưới quyền định đoạt của ngườimua trong thời hạn và địa điểm hợp lý theo quy định, còn người mua phải nhận hàng tạixưởng của người bán và chịu mọi rủi ro phí tổn vận chuyển
- Giao nhận cho người vận tải: Phương thức này áp dụng quen thuộc trong xuấtnhập khẩu với khách hàng ký hợp đồng thường xuyên, làm sao cho người nhận hàngđúng chất lượng, thời gian và địa điểm quy định
- Giao hàng tại điạ điểm người mua: Hàng được giao tận nơi tiêu thụ, mọi chiphí và rủi ro vận chuyển do người bán chịu
* Các phương thức thanh toán:
Thanh toán bằng tiền mặt, séc, ngoại tệ Thanh toán quan ngân hàng, chuyểnkhoản Thanh toán qua đổi hàng, đối lưu hàng hoá Trả tiền ngay sau khi nhận hàng.Trả tiền trước khi nhận hàng Trả tiền sau khi nhận hàng một khoảng thời gian quyđịnh Việc lựa chọn các phương thức giao nhận hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp tránhđược rủi ro trong tiêu thụ hàng hoá cũng như tăng khả năng về tốc độ tiêu thụ
1.1.1.5 Các chính sách hỗ trợ công tác tiêu thụ sản phẩm
* Chính sách sản phẩm
Chính sách sản phẩm là nền tảng của công tác tiêu thụ sản phẩm Là nhữngphương thức kinh doanh được xây dựng lâu dài để thích ứng kịp thời tình hình biếnđộng của thị trường nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Có thể nói rằng chính sách sản phẩm là nền tảng của chiến lược tiêu thụ sảnphẩm Nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ,cùng với sự gia tăng của nhu cầu tiêu dùng đã làm cho sản phẩm hàng hoá ngày càng đadạng, phong phú, đồng thời nó cũng làm cho sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trên thịtrường ngày càng sâu sắc Vì vậy doanh nghiệp cần xác định được những mặt hàng,những sản phẩm mà thị trường đang có nhu cầu và có khả năng cạnh tranh với sản phẩmcủa các đối thủ cạnh tranh để nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm
Một số loại chính sách sản phẩm:
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 10
Trang 11- Chính sách sản phẩm hiện có trên thị trường hiện có: Mục tiêu của chính sáchnày là duy trì khách hàng hiện có, đồng thời tìm kiếm thêm khách hàng mới trên thịtrường để nâng cao sản lượng tiêu thụ.
- Chính sách sản phẩm hiện có trên thị trường mới: Mục tiêu của chiến lược này
là giúp doanh nghiệp mở rộng được thị phần, tăng doanh số
- Chính sách sản phẩm mới trên thị trường mới: Với chính sách này doanhnghiệp sẽ khai thác thêm những phân khúc thị trường mới giúp doanh nghiệp đa dạngmặt hàng kinh doanh
- Chính sách sản phẩm mới trên thị trường hiện có: Đây là chính sách đa dạnghoá sản phẩm Với chính sách này sẽ giúp doanh nghiệp tránh được rủi ro trong kinhdoanh “ không bỏ hết trứng vào một giỏ”, và sẽ đáp ứng nhu cầu phong phú của kháchhàng một cách tốt nhất
* Chính sách giá cả
Định giá bán sản phẩm là vấn đề hết sức quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đếnkhả năng tiêu thụ sản phẩm, đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy sau việc điều tranhu cầu thị trường, xác định chiến lược sản phẩm ta cần phải xây dựng chiến lược giá
cả nhằm đưa ra mục tiêu và căn cứ đánh giá Mục tiêu trong chiến lược giá cả có thểcho là hai nhóm sau:
Nhóm thứ nhất: liên quan tới lợi nhuận, có thể là tối đa hoá lợi nhuận, hoặc duytrì mức lợi nhuận đang đạt được
Nhóm thứ hai: liên quan tới vị trí của doanh nghiệp trên thị trường và trước cácđối thủ cạnh tranh
Ngoài ra chiến lược giá còn phải xác định một cái khung để hướng dẫn các quátrình lập các mức giá cụ thể cho từng sản phẩm
Do phụ thuộc nhiều yếu tố nên khi ấn định giá ngoài các tính toán cụ thể cònphải có sách lược ứng xử cụ thể cho phù hợp với từng hoàn cảnh và điều kiện củadoanh nghiệp trong từng thời kỳ Nói một cách khác, khi ấn định mức giá các doanhnghiệp còn phải xét tới một loạt các khía cạnh như:
Một là:
+ Thu nhập dân cư
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 11
Trang 12+ Quy mô thị trường
+ Sở thích và tập quán tiêu dùng
+ Khả năng cung cấp của các nhà cạnh tranh
+ Chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước
Nói chung, xác định mức giá sản phẩm phù hợp cho mọi đối tượng khách hàngcủa từng vùng là nội dung rất quan trọng trong việc thúc đẩy công tác tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp Vì trên thị trường sau khi xác định mặt hàng, loại sản phẩmcần mua sắm thì yếu tố gía cả đóng vai trò chủ chốt quyết định hành vi mua sắm củakhách hàng theo quy luật cung cầu, giá càng giảm thì khối lượng cầu càng tăng vàngược lại Vấn đề đặt ra là làm sao thiết lập được mức giá phù hợp với từng kháchhàng, đảm bảo cho việc bù đắp chi phí và có lãi là yếu tố hết sức quan trọng đòi hỏi sựquan sát nhậy bén, có óc sáng tạo tìm hiểu sâu sắc thị trường của các cán bộ làmnghiên cứu thị trường nói chung và cán bộ làm giá cả của từng doanh nghiệp nóiriêng
* Chính sách phân phối sản phẩm
Mục tiêu của chính sách phân phối là định hướng vào người tiêu dùng nhằmđáp ứng nhu cầu của họ thông qua các kênh phân phối tương ứng với từng thị trường
cụ thể, từ đó nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm Việc tổ chức kênh phân phối hợp lý
sẽ giúp mang lại hiệu quả tốt cho hoạt động bán hàng Tuỳ vào đặc điểm của sản phẩmcũng như nguồn lực của doanh nghiệp mà lựa chọn kênh phân phối phù hợp
Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được cấu thành bởi các yếu tố:
- Người sản xuất được coi là người bán thứ nhất, họ bán cái mà họ sản xuất ra.Điểm xuất phát của quá trình vận động hàng hoá là từ nơi sản xuất, từ chính nơi nóđược tạo ra
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 12
Trang 13- Người tiêu dùng: Là người sử dụng sản phẩm mua được để thảo mãn nhu cầunào đó của họ.
- Người bán buôn: thực hiện hoạt động thương mại thuần tuý Đặc trưng cơ bảntrong hoạt động của yếu tố này là mua với khối lượng lớn một loại hàng hoá nào đó.Người bán buôn thường có thế lực lớn
- Người bán lẻ: thực hiện hoạt động thương mại thuần tuý nhưng có thế lực yếuhơn người bán buôn , họ là người tiếp xúc trực tiếp với người mua cuối cùng, nên nắmsát thông tin về thị trường sản phẩm
- Người đại lý: là một loại hình kinh doanh làm chức năng trung gian trong quátrình vận động hàng hoá Đối với công tác bán hàng của doanh nghiệp công nghiệp cầntập trung quan tâm đến đại lý tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp chứ không phải làđại lý cho người bán buôn hay bán lẻ
- Người môi giới: người môi giới là người cần thiết trong mạng lưới bán hàngcủa doanh nghiệp, vì sự phức tạp trong quan hệ cung cầu, tính cạnh tranh ngày cànggay gắt, sự bất lực của người mua và người bán trong việc nắm bắt nhanh, nhạy vàchính xác các thông tin trên thị trường
Các loại kênh tiêu thụ:
Kênh 1: Kênh này doanh nghiệp trực tiếp đưa hàng tới người tiêu dùng cuối
cùng không qua khâu trung gian
Kênh 2: Kênh rút gọn hay kênh trực tiếp, kênh này sử dụng một trong một số
trường hợp, trình độ chuyên môn hoá và quy mô của công ty bán lẻ cho phép xác lậpquan hệ trao đổi trực tiếp với người sản xuất trên cơ sở tự đảm nhận chức năng tựbuôn bán
Sơ đồ 1: Kênh trực tiếp và kênh một cấp (kênh 1 và kênh 2)
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 13
Người bán lẻ
Trang 14Kênh 3: Đây là loại kênh phổ biến nhất trong các kênh phân phối hàng hoá.
kênh này thường được sử dụng đối với những mặt hàng có một số người sản xuất ởmột nơi nhưng tiêu thụ ở nhiều nơi Đặc điểm là những người sản xuất có quy mô lớn,lượng hàng hoá lớn được sản xuất phục vụ cho nhu cầu của một địa phương hay vùng
Kênh 4: Mở rộng của kênh 3 thêm người môi giới, kênh này thường được sử
dụng với mặt hàng thị trường mới
Sơ đồ 2: Kênh hai cấp và kênh ba cấp (kênh 3 và kênh 4)
Kênh phân phối cũng là phương thức giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnhtranh trên thị trường
* Chính sách xúc tiến
Chính sách xúc tiến nhằm thay đổi nhu cầu sản phẩm của khách hàng bằng việctác động vào thị hiếu của họ, bao gồm các hoạt động giới thiệu, quảng cáo, xúc tiếnbán hàng, khuyến mãi, cung cấp và truyền tin về sản phẩm hàng hoá, về đặc điểm vềlợi ích của nó tới người tiêu dùng nhằm kích thích thị hiếu của khách hàng
- Quảng cáo là việc sử dụng các phương diện thông tin truyền thông để giớithiệu về sản phẩm và doanh nghiệp cho các phần tử trung gian hoặc khách hàng trongmột khoảng không gian và thời gian nhất định Hoạt động này có nhiều loại hình như :quảng cáo trên truyền hình, truyền thanh, băng rôn…
- Khuyến mãi là tất cả các hoạt động kích thích như giảm giá hàng bán, chiếtkhấu bán hàng, mua hàng kèm quà tặng…
- Tuyên truyền là hoạt động để cho công chúng biết về những điều tốt mà doanhnghiệp đang thực hiện bằng cách cung cấp những mẫu tin hay hình ảnh cho báo chí,đài phát thanh, truyền hình để đưa thông tin đến cho khách hàng
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Người môi giới
Người bán buôn
Trang 15- Cổ động trực tiếp và bán hàng cá nhân là hình thức khuếch trương trực tiếpgiữa nhân viên bán hàng và khách hàng nhằm thuyết phục họ mua sản phẩm.
1.1.1.6 Hệ thống chỉ tiêu phân tích, đánh giá kết quả công tác tiêu thụ hàng hoá
- Doanh thu tiêu thụ
TR = ∑q x p
Trong đó:
+ TR : Tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
+ ∑q: Tổng khối lượng tiêu thụ
+ p 1 , p 0 : giá bán bình quân ở kỳ báo cáo và kỳ gốc
+ ∑q 1 , ∑q 0 : tổng sản lượng tiêu thụ kỳ báo cáo và kỳ gốc
: Chỉ số chung về giá cả bình quân
: Chỉ số chung về tổng sản lượng hàng tiêu thụ
+ Số tăng (giảm) tuyệt đối:
- Chỉ tiêu lợi nhuận
LN = TR – TC = ∑Q x (P – gt - cn)
Trong đó:
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 15
Trang 16LN : Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
TR : Tổng doanh thu
TC : Tổng chi phí tiêu thụ
∑Q: Khối lượng tiêu thụ
P: Giá bán bình quân
gt: Giá thành sản phẩn đơn vị bình quân
cn: Chi phí ngoài sản xuất đơn vị bình quân
LN = LN1 – LN 0
Để thấy rỏ sự thay đổi lợi nhuận giữa kỳ nghiên cứu ( LN1) với lợi nhuận kỳ gốc (
LN0), cần xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến sự biếnđộng của lợi nhuận
* Ảnh hưởng của nhân tố tổng khối lượng sản phẩm tiêu thụ:
Chỉ số này cho biết ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp Phân tích chỉ số này để ban lãnh đạo công ty lập kế hoạchsản xuất cho phù hợp
Trang 171.1.2 Tổng quan về sản phẩm gạch Tuynen
1.1.2.1 Khái niệm về sản phẩm gạch
Gạch là một loại vật liệu xây dựng được làm từ đất sét nung Lịch sử sản xuất
và sử dụng gạch vẫn là một điều gây tranh cãi, nhưng đã được loài người sử dụng hàngngàn năm trước Công nguyên Gạch Tuynen là sản phẩm được tạo ra từ lò nungTuynen Do đặc tính bền bỉ theo thời gian, gạch đã được sử dụng cho các công trìnhxây dựng có tuổi thọ hàng ngàn năm
1.1.2.2 Giới thiệu về lò nung Tuynen
* Xuất xứ của lò nung Tuynen
Khoảng cuối những năm 60 của thế kỷ XX, ở các tỉnh Hà Nam và An Huy(Trung Quốc) rất khan hiếm năng lượng, nguồn củi đốt cạn kiệt Các lò gạch chuyểnsang dùng than, nhưng than phải vận chuyển từ xa tới nên chi phí cao Lò được xâytheo từng cặp 2 lò cạnh nhau
Khoảng năm 1980-1983 lò đã được cải tiến, tiết diện buồng đốt tăng lên 1 X1,5m và cao 5,5m Nhờ đó năng suất mỗi mẻ đã tăng từ 224 lên 320 viên Buồng đốtchứa từ 7 - 8 mẻ lên 11 - 12 mẻ Việc tăng chiều cao buồng đốt làm tăng đường đi củagạch trước khi đi vào trung tâm cháy, nhờ đó gạch mộc (gạch chưa nung) được sấy lâuhơn, đồng thời cũng tăng thời gian làm nguội gạch sau khi ra khỏi trung tâm cháy.Nhờ đó giảm xốc nhiệt, mặt khác tận dụng được nhiệt ở đầu khói ra để sấy gạch mộc
và nhiệt ở đầu gạch ra để sấy nóng không khí vào lò Do đó lò gạch lò gạch liên tụckiểu đứng đạt tới hiệu suất nhiệt khá cao và tiết kiệm nhiên liệu
* Lò Tuynen kiểu đứng (LTKĐ) tại Việt Nam
Ở nước ta, một số cơ quan khoa học Trung ương đã chuyển giao công nghệ sảnxuất gạch LTKĐ cho nhiều tỉnh, thành phố, do lò gạch LTKĐ có nhiều ưu điểm vượttrội Về khả năng giảm thiểu sự ô nhiễm, lò gạch LTKĐ có cấu tạo kiểu đứng, với quytrình nung gạch gồm 4 giai đoạn: sấy, gia nhiệt, nung và làm nguội, diễn ra từ trênxuống Gạch được cấp liên tục vào lò từ phía trên, ngược chiều với dòng khói mangnhiệt đi từ dưới lên để gia nhiệt cho viên gạch Chính nhờ đặc điểm đó, nhiệt được tậndụng một cách tối đa giữa các giai đoạn Chẳng hạn, khói thải của giai đoạn nung sẽ làmôi chất gia nhiệt cho gạch mộc ở trên đi xuống Không khí lạnh từ dưới lên sẽ được
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 17
Trang 18gia nhiệt nhờ nhận nhiệt từ lớp gạch làm nguội sau giai đoạn nung Bằng cách đó,năng lượng được tái tạo trong viên gạch mà không mất đi đâu cả, lượng khói thải rahầu như không còn Quá trình sản xuất liên tục cũng tiết kiệm được nguyên vật liệunhư củi, dầu và bảo đảm các viên gạch ít bị hao vỡ so với lò thủ công gián đoạn Theotính toán, lò gạch LTKĐ giảm 50% tiêu hao nhiên liệu so với lò thủ công, lưu lượngkhói thải giảm 11,5 lần, lượng SO2 và CO2 giảm 6 lần, nhiệt độ khói thải thấp
* Tính năng kỹ thuật của lò Tuynen
Lò nung Tuynen thông thường có kich thước dài 94m, lò sấy dài 58- 62m, ốngkhói xây cao 25m Lượng khói thải ra được tận dụng tối đa để sử dụng nhiệt thừa củakhói lò nung đưa đưa sang lò Tuynen sấy mộc, nhằm tiết kiệm than Điều này khiếncho lượng bụi thải ra rất ít và nhiệt thải ra tới mức tối thiểu Nhiệt độ của khí thải khi
ra khỏi lò sấy chỉ còn 40 - 500C, không ảnh hưởng tới sức khoẻ của người lao động
Sơ đồ 3: Hệ thống điều khiển lò nung tuynen
Màn hình giao diện SCADA là cầu nối giao diện giữa người và máy rất tối ưutrong việc cài đặt thông số, chỉnh định các thông số đặc trưng của từng loại sản phẩmđáp ứng đúng theo yêu cầu công nghệ giúp cho người vận hành không cần phải cótrình độ giỏi để thay đổi các thông số công nghệ cho phù hợp với quá trình sản xuấtnhưng vẫn đạt được hiệu quả tối đa nhất
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 18
Trang 19Sơ đồ 4: Công nghệ lò nung Tuynen
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Một số kinh nghiệm tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước
Trong những năm gần đây khi nền kinh tế của chúng ta chuyển sang nền kinh tếthị trường thì đã có không ít các doanh nghiệp ăn lên làm ra, tạo được chỗ đứng chomình không chỉ ở thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường khu vực và thế giớinhư công ty Hoàng Anh Gia Lai: được thành lập bởi ông Đoàn Nguyên Đức, khi mớithành lập công ty chỉ có số vốn pháp định gần 2,1 tỷ đồng, đến nay doanh thu hàngnăm của công ty đạt khoảng 200 tỉ đồng Sản phẩm của công ty chủ yếu là các sảnphẩm từ gỗ như bàn ghế, tủ, giường Bài học kinh nghiệm ở đây là giám đốc công ty
đã biết khai thác trịêt để nguồn nguyên liệu tại chỗ từ cây cao su vốn được trồng rấtnhiều ở Gia Lai để lấy mũ, kết hợp với công nghệ phù hợp do chính tay giám đốc lựachọn ở nước ngoài mang về, đối với những sản phẩm cao cấp, ông phải nhập nguyênliệu ngoại về để đảm bảo chất lượng sản phẩm, đối với kỹ thuật ép gỗ và tạo vân ôngphải mời chuyên gia từ Đài Loan sang hướng dẫn Mặt khác công ty cũng tổ chức tốthoạt động bán hàng thông qua các văn phòng giao dịch cả trong và ngoài nước Nhưvậy với việc nghiên cứu thị trường phát hiện nhu cầu và tìm cách thỏa mãn nó bằngchất lượng sản phẩm cao cùng với việc tổ chức bán hàng tốt, Hoàng Anh Gia Lai đãtrở thành doanh nghiệp trẻ đầy triển vọng của việt nam
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 19
Trang 20Một ví dụ nữa, đó là công ty Sapuwa đây là tên viết tắt của Nhà máy nước uốngtinh khiết Sài gòn (Saigon pure water private factory), công ty được thành lập và đivào hoạt động từ tháng 9/1992 sản phẩm của công ty là nước uống tinh khiết, phục vụcho đối tượng là các công ty lớn, người nước ngoài và những người có thu nhập cao.Chiến lược của công ty là chào hàng trực tiếp đến người tiêu dùng, công ty không tiếnhành quảng cáo rầm rộ vì điều này sẽ làm cho giá thành sản phẩm của công ty tăng lêndẫn đến việc giảm sức mạnh cạnh tranh về giá Công ty tiến hành đưa khách hàng đếntrực tiễp xem quy trình sản xuất nước của công ty, từ đó họ tận mắt thấy chất lượngsản phẩm của doanh nghiệp và quyết dịnh mua hàng của doanh nghiệp, với chiến lượctiếp thị trực tiếp này thì Sapuwa đã đạt được những thành công đánh khích lệ, công ty
đã lôi kéo được những khách hàng thường xuyên, đó là các hãng hàng không (VietnamAirlines, Pacific Airlines, Sigapore Airlines ), các ngân hàng trong và ngoài nước(Hongkong Bank, Deutsche Bank ), các bệnh viện, trường học, khu chế xuất, khu vuichơi giải trí Thành công của Sapura cho ta thấy yếu tố chất lượng sản phẩm, giácả,cách tiếp thị, phụ vụ sẽ quyết định đến việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
1.2.2 Tình hình tiêu thụ sản phẩm vật liệu xây dựng
Đất nước ta đang trong giai đoạn xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hoá
và hiện đại hoá Với tốc độ phát triển GDP hằng năm luôn ở mức cao từ đó các côngtrình cơ sở vật chất đã và đang xây dựng phục vụ cho quá trình phát triển của đất nước.Các công trình được xây dựng nhiều từ các công trình của quốc gia cho đến các côngtrình dân dụng được xây dựng một cách rầm rộ Hiện nay, tuy năng lực sản xuất cácsản phẩm vật liệu xây dựng tăng lên hơn 10 lần so với năm 1990 nhưng vẫn chưa đápứng đủ 100% nhu cầu xây dưng trong nước Tuy nhiên, giá cả của các mặt hàng vậtliệu xây dựng thường xuyên biến động đã làm cho thị trường vật liệu xây dựng gặpkhó khăn trong việc tiêu thụ Có lúc giá vật liệu xây dựng lên đến đỉnh điểm như giáthép có lúc đã lên đến 21 triệu/tấn mà sức mua không hề giảm, có lúc giá cả xuốngthấp thì thị trường vật liệu xây dựng vẫn ảm đạm ngay cả trong mùa xây dựng Sự biếnđộng của thị trường vật liệu xây dựng trong những năm gần đây đã làm cho công táctiêu thụ của các Công ty sản xuất kinh doanh sản phẩm vật liệu xây dựng có lúc thănghoa nhưng có lúc lại điêu đứng Điều đó cho thấy được những khó khăn trong công tác
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 20
Trang 21tiêu thụ sản phẩm vật liệu xây dựng nói chung và sản phẩm gạch xây dựng của Công
ty Tuynen nói riêng Việc quan tâm hơn tron công tác tiêu thụ hàng hoá là cần thiếttrong giai đoạn hiện nay Quản lý tốt công tác tiêu thụ sẽ giúp Công ty có đầu ra chosản phẩm tốt hơn nhờ đó mà công ty hoạt động hiệu quả hơn
Vào thời điểm này, đầu năm 2010, có thể nói, đất nước đang bước vào mùa xâydựng, giá cả vật liệu xây dựng đã tăng lên so với những năm trước, tuy nhiên cầu vềxây dựng đang trên đà tăng Nguyên nhân là do nước ta đang trên đà phục hồi về kinh
tế sau giai đoạn khủng hoảng Đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp sử dụng các biệnpháp để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm
Công ty cổ phần gạch Tuynen số 1 của tổng công ty xây lắp Thừa Thiên Huế làmột trong những đơn vị kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Thừa ThiênHuế và sản phẩm chủ yếu là các loại gạch xây dựng Trong thời điểm cạnh tranh ngàycàng gay gắt, công ty nên có các biện pháp phối hợp với các ngành sản xuất vật liệuxây dựng khác trong việc kích cầu xây dựng, đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 21
Trang 22CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH TUYNEN SỐ 1
THỪA THIÊN HUẾ ( HUBRICO-1)
2.1 Giới thiệu về tình hình chung công ty
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần gạch Tuynen 1 Thừa Thiên Huế
Công ty cổ phần gạch tuynen 1 Thừa Thiên Huế được thành lập trên cơ sở là tiềnthân của công ty gốm sứ Thừa Thiên Huế Công ty nằm ở phía Bắc Thành phố Huế, ở
Km 9 quốc lộ 1A thuộc xã Hương Chữ - Huyện Hương Trà - Tỉnh Thừa Thiên Huế Vịtrí của công ty là rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá để tiêu thụ Công ty đượcthành lập và đi vào hoạt động từ năm 1995, hoạt động của công ty là trong lĩnh vựcsản xuất và kinh doanh vật liêu xây dựng và sản phẩm chủ yếu là các loại gạch xâydựng Khi mới thành lập, do còn non kém về mọi mặt như sản trình độ quản lý của cán
bộ công nhân viên, trình độ công nghệ, kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất gạch…cho nên Công ty hoạt động còn kém hiệu quả Đến năm 1998, Uỷ Ban Nhân Dân TỉnhThừa Thừa Thiên Huế ra quyết định sát nhập Công ty vào Công ty xây lắp Thừa ThiênHuế Kể từ đó đến nay hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển, quy mô Công tyngày càng mở rộng, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nhân dân trên địa bàn Đểđạt được những thành quả đó phải kể đến sự hiệu quả của công tác tổ chức quản lý, sựđồng lòng của cán bộ công nhân viên
Công Ty Cổ phần gạch Tuynen 1 Thừa Thiên Huế thành lập theo mô hình
“Công ty Mẹ - Công ty Con” Với việc thực hiện cổ phần hoá đã làm cho Công tyhoàn toàn chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt dù là công ty cổ phầnnhưng vẫn chịu sự quản lý của Nhà Nước do Nhà Nước nắm 50% cổ phần của công ty.Sau khi cổ phần hoá thì Công ty hoạt động với điều hành của: Đại hội Cổ Đông - Hộiđồng Quản Trị - Giám Đốc
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 22
Trang 23Uỷ ban Nhân dân tỉnh và Công ty Xây lắp Thừa Thiên Huế định hướng choCông ty Tuynen 1 Thừa Thiên Huế hoạt động theo kế hoạch chung của toàn Công ty
và được hưởng Cổ phần theo số vốn đầu tư và một phần nhỏ trong quỹ khác như :phúc lợi, quỹ tập thể, hay qũy khen thưởng
Công ty gạch Tuynen 1 là Công ty trực thuộc Công ty Xây lắp Thừa Thiên Huế
Do đó, tình hình tài sản và nguồn vốn và nghĩa vụ thực hiện nộp ngân sách Nhà Nướcđều do Công ty Xây lắp Thừa Thiên Huế quản lý và thực hiện Công ty chỉ là đơn vị
có nhiệm vụ sản xuất, tiêu thụ và hạch toán báo cáo sổ cho Công ty Mẹ Công ty Conkhông có tư cách pháp nhân (chỉ khi được uỷ quyền), tuy nhiên lại có con dấu riêng
Hoạt động chủ yếu của công ty là trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh vật liệuxây dựng, là lĩnh vực thường xuyên biến động Công tác tiêu thụ sản phẩm là mộtkhâu rất quan trọng nó ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.Mặt khác trong cơ chế thị trường thì công tác tiêu thụ càng tỏ rỏ phần quan trọng khi
mà có rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường Do đó, cán bộ công nhân viên củaCông ty không ngừng cố gắng tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của công tygóp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Nâng cao mức lươngcho cán bộ công nhân viên giúp họ càng gắn bó với công ty Công ty hoạt động vớimục đích phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng để từ đó mang lại lợi nhuận cho công
ty Vì vậy, yếu tố về chất lượng sản phẩm, giá cả và chất lượng phục vụ được Công tyđặt lên hàng đầu Công ty đã phấn đấu củng cố, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, máymóc thiết bị hiện đại để đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng cao
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
2.1.2.1 Chức năng
- Chức năng chủ yếu của công ty là sản xuất kinh doanh gạch nung trên dây
chuyền công nghệ hiện đại (lò nung Tuynen), nhằm phục vụ cho công việc xây dựngdân dụng và các công trình trên địa bàn Tỉnh Thừa Thiên Huế và các tỉnh lân cận
- Tổ chức đầu tư và phát triển cơ sở sản xuất gạch Tuynen bằng nguồn nguyênliệu tài nguyên trong khu vực một cách đa dạng hóa sản phẩm Với phương châm “Côngnghiệp hoá- hiện đại hoá” Công ty không ngừng nâng cao và hoàn thiện hệ thống dây
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 23
Trang 24- Xây dựng kế hoạch tổ chức sản xuất trên cơ chế hiện hành, bảo quản và pháttriển nguồn vốn, sử dụng vốn hợp lý đúng chế độ có hiệu quả và làm tròn nghĩa vụ đốivới Nhà Nước.
- Tổ chức thực hiện tốt chính sách về tổ chức quản lý cán bộ, công nhân viên,
sử dụng và an toàn lao động, bảo vệ môi trường, an ninh chính trị, chấp hành nghiêmchỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũngnhư toàn bộ hoạt động trong công ty
- Không ngừng cải tiến kỷ thuật công nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chấtlượng sản phẩm, phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh, giữ vững uy tín của công tytrên thị trường
- Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viêncủa Công ty
2.1.3 Tổ chức bộ máy Công ty
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Công ty
Công ty Cổ phần gạch Tuynen số 1 Thừa Thiên Huế trực thuộc Công ty Xâylắp Thừa Thiên Huế thành lập theo mô hình “Công ty Mẹ - Công ty Con” Do đó, hoạtđộng của Công ty đều nằm dưới sự điều hành của Công ty Xây lắp Thừa Thiên Huế
Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty theo kiểu trực tuyến chức năng được minhhoạ theo mô hình sau:
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 24
Trang 25Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty có toàn quyền và nhân danh công
ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ nhữngvấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc miễnnhiệm Thành viên của hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm các chức vị điều hành trực
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
PHÒNGTHỊTRƯỜNGTIÊUTHỤ
PHÒNGKẾHOẠCHKỸTHUẬT
BANĐIỀUHÀNHPHÂNXƯỠNG
PHÂNXƯỠNG1
PHÂNXƯỠNG2
Trang 26tiếp kinh doanh của công ty.
Hội đồng quản trị có các quyền hạn và nhiệm vụ sau:
+ Quản trị công ty theo điều lệ, nghị quyết của đại hội đồng cổ đông và tuân thủtheo đúng pháp luật
+ Quyết định thành lập, hoặc giải thể các chi nhánh, văn phòng đại diện
+ Quyết định triệu tập, chuẩn bị nội dung và tổ chức đại hội đồng cổ đông.+ Phê duyệt phương án trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật
+ Quyết định chương trình thực hiện các đề án cụ thể và quan hệ quốc tế
+ Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần quyền được chàobán
+ Trình các báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên đại hội đồng cổ đông.+ Bổ nhiệm miễn nhiệm, cách chức giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng,duyệt phương án tổ chức bộ máy và nhân sự của công ty và các đơn vị trực thuộc
- Ban kiểm soát
Là tổ chức thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh và điềuhành của công ty Ban kiểm soát có ba người do đại hội cổ đông bầu ra bao gồm: kiểmsoát viên trưởng đại diện Công ty cổ phần xây lắp, kiểm soát viên đại diện cổ phần cánhân và kiểm soát viên đại diện cổ phần cán bộ công nhân
Ban kiểm soát có các quyền hạn và nhiệm vụ sau:
+ Được quyền yêu cầu các phòng, ban nghiệp vụ Công ty cung cấp tình hình, sốliệu, tài liệu và thuyết minh các hoạt động kinh doanh của công ty
+ Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý điều hành hoạt động kinh doanh
Trang 27Ban Giám Đốc chịu trách nhiệm quản lý và điều hành toàn bộ các Hợp đồngsản xuất kinh doanh của đơn vị theo nghị quyết của Hội đồng quản trị, điều lệ củaCông ty cổ phần và luật Nhà Nước quy định Chỉ đạo trực tiếp hoạt động sản xuấtkinh doanh của toàn Công ty từ ban điều hành sản xuất Ban giám đốc do Hội đồngquản trị quyết định bổ nhiệm về số lượng Ban giám đốc bao gồm: Giám Đốc, PhóGiám Đốc và Kế Toán Trưởng Sự phân công uỷ quyền giữa Giám Đốc với Phó GiámĐốc và Kế Toán Trưởng tuỳ thuộc vào yêu cầu thực tế và phạm vi hoạt động của Công
ty, do Giám Đốc uỷ quyền Trong trường hợp đặc biệt, Giám đốc Công ty thông quathường trực Hội đồng quản trị để có thể thành lập tổ chức chuyên viên làm nhiệm vụ
tư vấn chuyên môn để giải quyết những vấn đề cần thiết từng lĩnh vực Tổ chuyên viênđược triệu tập giải quyết từng việc không biên chế chính thức
- Phòng tổ chức hành chính
Quản lý các mặt công tác về nhân sự, lao động, chế độ, chính sách, tạp vụ vàtrật tự an toàn xã hội Công ty, theo dõi và lưu trữ công văn đi, công văn đến và hồ sơcán bộ công nhân viên
Chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm:
+ Đề xuất bổ sung cơ chế trong lĩnh vực phòng quản lý
+ Giúp việc cho Ban Giám Đốc trong lĩnh vực thực hiện nghĩa vụ và các phânxưỡng trực thuộc điểm kiểm tra, đánh giá năng lực thực tế của cán bộ công nhân viên
để đề xuất mô hình tổ chức của Công ty, các phân xưỡng trực thuộc và đề xuất việcsắp xếp, bố trí, điều phối cán bộ công nhân viên toàn Công ty
+ Theo dõi, thực hiện kiểm tra, giải quyết các chế độ chính sách về Lao động,quản lý và bảo quản hồ sơ nhân sự toàn Công ty
+ Tổ chức kiểm tra, phổ biến công tác an toàn Lao động, theo dõi lập kế hoạch,quyết toán BHXH, BHYT, BHTN để trích nộp theo quy định, tham gia điều tra thống
kê báo cáo các vụ tai nạn lao động xãy ra trong Công ty
+ Đề xuất phương án trả lương theo chế độ Nhà Nước và điều lệ Công ty cổphần và thường trực tron ban chỉ đạo việc thực hiện công tác tổ chức thi đua, khenthưởng và kỹ luật an toàn lao động Công ty
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 27
Trang 28+ Chủ trì việc tổ chức thi nâng bật, tuyển chọn và đào tạo lao động, ký hợpđồng lao động.
+ Lập kế hoạch đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộcông nhân viên
+ Quản lý khuôn dấu, các văn thư của Công ty, quản lý điện thoại, điện, nước
và các việc tạp vụ khác Chịu trách nhiệm quản lý bộ phận bảo vệ tự vệ an toàn công
ty và đảm bảo trật tự an ninh của đơn vị
+ Tiếp nhận, chuyển giao, lưu trữ công văn, tài liệu, báo chí
+ Thực hiện các công tác khác quy định do nghiệp vụ tổ chức văn thư hànhchính, cải tiến các thủ tục về quản lý hồ sơ, giải quyết nội dung nhiệm vụ của phòngquản lý, xữ lý các công việc cụ thể để đảm bảo tính khoa hoc
- Phòng tài chính kế toán
Quản lý các mặt hoạt động Tài chính – Kế toán của công ty
Chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm:
+ Đề xuất điều chỉnh cơ chế trong lĩnh vực phòng quản lý
+ Giúp việc cho Giám Đốc trong công tác quản lý sử dụng và điều tiết nguồnvốn, chi phí hợp lý cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả caonhất, thực hiện nguyên tắc tài chính theo pháp lệnh kế toán, chế độ tài chính và cácquy định của pháp luật
+ Quản lý chứng từ, hoá đơn xuất nhập vật tư, hàng hoá trong toàn bộ Công ty.Kiểm tra hướng dẫn hoạt động các kho vật tư hàng hoá theo chế độ tài chính kế toán
và quy định nội bộ thống nhất trong toàn Công ty
+ Kiểm tra, đôn đốc và trực tiếp chủ trì việc đối chiếu, thu hồi công nợ, thanh toánquyết toán công trình sữa chữa Phát hiện kịp thời các cá nhân, đơn vị gian lận thương mại,
cố tình chiếm dụng vốn của Công ty, đề xuất biện pháp chấn chỉnh và xử lý
+ Lập và tổng hợp kế hoạch tài chính năm kế hoạch với cấp trên và lập kếhoạch vay vốn lưu động tại Ngân hàng
+ Tổng hợp và phân tích các hoạt động kinh tế và lập báo cáo tài chính củaCông ty hàng quý, tháng, năm
+ Thực hiện đầy đủ các quy định khác của công tác kế toán theo pháp luật
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 28
Trang 29+ Cải tiến các thủ tục về quản lý hồ sơ, giải quyết nội dung nhiệm vụ của phòngquản lý, xử lý các công việc cụ thể đảm bảo tính khoa học, chịu trách nhiệm những saisót xảy ra.
- Phòng thị trường tiêu thụ
Chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm:
+ Đề xuất bổ sung điều chỉnh cơ chế nội bộ Công ty trong lĩnh vực tiêu thụ + Nắm bắt thị trường, tham mưu đề xuất cho Giám đốc các phương án tham giacạnh tranh trên thị trường kịp thời, chính xác và có hiệu quả
+ Quan hệ với khách hàng: Khi có sự nhất trí của Giám đốc được phép thựchiện các điều thoả ước trong quá trình giao dịch tìm kiếm thị trường, tuyệt đối giữnhững bí mật của Công ty và nâng cao uy tín Công ty trên thị trường
+ Soạn thảo hợp đồng kinh tế, hợp đồng tham gia các ký kết, thanh lý các hợpđồng với khách hàng, đề xuất mở đại lý bán hàng và mạng lưới tiếp thị
+ Nhận và xử lý thông tin về hàng hoá trên thị trường, tổ chức và phục vụ tốttrong việc đưa hàng hoá đến chân công trình cho khách hàng
+ Chịu trách nhiệm chính trong công tác đối chiếu công nợ và thu hồi công nợ + Quản lý hồ sơ, cải tiến các thủ tục về công tác quản lý, giải quyết nội dungnhiệm vụ của phòng và xử lý các công việc cụ thể để đảm bảo tính khoá học
+ Phối hợp tham gia các phương án liên quan đến công việc cho phòng quản lý
- Phòng kế hoạch - Kỹ thuật
Chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm:
+ Lập kế hoạch định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công tytừng tháng, từng quý, từng năm và báo cáo thống kế, phân tích tình hình thực hiện kếhoạch và báo cáo trước hội nghị giao hàng tháng, sơ tổng kết quý, năm
+ Xây dựng, điều chỉnh các định mức tiêu hao nguyên vật liệu theo yêu cầucủa công tác quản lý và định kì hàng năm, kiểm tra đề nghị cấp vật tư, nguyên liệuphục vụ sản xuất, lập dự đoán các công ty sữa chữa lớn có giá trị 1 triệu đồng trở lên
và giao nhiệm vụ cho công việc sữa chữa nhỏ thường xuyên
+ Xây dựng các quy định về an toàn thiết bị điện sản xuất, vận hành lò và laođộng theo pháp luật hiện hành và tình hình thực tế của đơn vị
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 29
Trang 30+ Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, bảo
vệ môi trường ở cơ sở sản xuất do phòng quản lý
+ Thực hiện và chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra toàn bộ công tác
kỹ thuật công nghệ- cơ khí- phương án sữa chữa thiết bị
- Ban điều hành sản xuất
Ban điều hành sản xuất chịu trách nhiệm trước Giám Đốc về lĩnh vực sản xuấtcủa Công ty, chỉ đạo các đơn vị sản xuất như: phân xưởng sản xuất, phân xưỡng bốcxếp, xưỡng cơ điện, xưỡng thành phẩm, xưỡng bán thành phẩm và các xưỡng chỉ đạocác tổ chức trực thuộc phân xưỡng mình và các phân xưỡng chịu trách nhiệm trướcban điều hành sản xuất
- Các phân xưởng sản xuất
Chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm:
+ Chấp hành nghiệp vụ sản xuất và quy trình công nghệ, năng động sáng tạotrong công tác điều hành sản xuất tạo ra sản phẩm có chất lượng ngày càng cao vềhình dáng, mẫu mã…
+ Quy trình lao động, tổ chức sản xuất hợp lý, khoa học để tăng năng suất laođộng, làm cho người lao động có trách nhiệm trong công việc của mình, có thái độ cư
xữ tốt với tập thể và khách hàng
+ Phân chia tiền lương trong nội bộ phân xưỡng mình theo nguyên tắc côngbằng, dân chủ và theo kết quả lao động của mỗi người
2.1.4 Tình hình trang bị và sử dụng nguồn lực của công ty qua 3 năm
2.1.4.1 Tình hình tài sản của công ty Cổ phần gạch Tuynen số 1 Thừa Thiên Huế
Qua số liệu của bảng 2.1 ta có thể xem xét sự biến động cơ cấu tài sản của Công
ty qua 3 năm giai đoạn 2007-2009:
Tổng giá trị tài sản qua 3 năm có sự biến động rõ rệt Năm 2007 tổng giá trị tàisản của Công ty là hơn 10,7 tỷ đồng, đến năm 2008 tăng lên mức trên 18,4 tỷ đồng,tức gần 8 tỷ đồng hay gần 71% so với năm 2007 Điều này đánh dấu một bước tiếntrong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: doanh nghiệp đã mở rộng quy mô sảnxuất đầu tư thêm thiết bị công nghệ hiện đại Trong đó yếu tố làm tăng tổng giá trị tàisản một cách đột biến này là do doanh nghiệp đã tăng tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 30
Trang 31hạn đã tăng hơn 6,8 tỷ đồng so với năm 2007 tương đương gần 88% chủ yếu là do cáckhoảng đầu tư tài chính ngắn hạn và thành phẩm lưu kho Thành phẩm lưu kho đã đạtcon số 6,565 tỷ đồng và đã tăng so 3,969 tỷ đồng so với năm 2007 tức tăng 152,89%.
Sở dĩ hàng lưu kho tăng mạnh là do Công ty đã mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứngnhu cầu về gạch xây dựng tăng mạnh trong năm 2008 Mặt dù giá cả các mặt hàng xâydựng trong năm 2008 không giảm là bao nhưng có thể nói, năm 2008 là một năm khásôi động đối với vật liệu xây dựng nói chung và gạch nói riêng Nhưng việc để hàngtồn kho quá nhiều thì doanh nghiệp cần phải điều chỉnh lại Hàng tồn kho quá lớn sẽchiếm dụng vốn của công ty, công ty sẽ khó quay vòng vốn một cách nhanh nhất.Tổng giá trị tài sản năm 2008 tăng nhanh sẽ là tiền đề cho Công ty hoạt động kinhdoanh tốt hơn trong thời kì hiện nay Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn trong năm
2008 tiếp tục tăng, trong năm 2008 khoản mục này đạt giá trị 5,5 tỷ đồng tăng 200triệu so với năm 2007 Điều này được lý giải là do Công ty đã thực hiện góp vốn vớicác đơn vị khác trên địa bàn để mua các tài sản cố định Trong khoản mục tài sản dàihạn, thì khoản mục phải thu dài hạn trong năm 2008 đã giảm đáng kể so với năm
2007 Năm 2007, khoản phải thu dài hạn là hơn 1,2 tỷ đồng, nhưng năm 2008 thì chỉcòn 38 triệu đồng Điều này cho thấy công tác thu hồi nợ dài hạn của công ty rất tốt,các khoản nợ dài hạn trong những năm trước phần lớn đều đến kỳ thu lại trong năm
2008 nên khoản mục này mới giảm mạnh so với năm 2007 Đây được xem là mộtthành công của công ty Ngoài ra, khoản mục đầu tư tài chính ngắn hạn năm 2008 là1.4 tỷ đồng Khoản mục này những năm trước không có vì năm 2008 Công ty thựchiện liên kết liên doanh với các đơn vị khác trên địa bàn
Năm 2009, tổng tài sản công ty tiếp tục tăng lên, tuy nhiên mức tăng khôngđáng kể Cụ thể, tổng tài sản tăng hơn 1,7 tỷ đồng tức là đã tăng hơn 9,5% so với năm
2008 Trong 1,7 tỷ đồng tăng lên thì có hơn 1 tỷ nhờ vào mức tăng của tài sản ngắnhạn mà chủ yếu là mức tăng của các khoản đầu tư ngắn hạn, trong khi đó, tài sản dàihạn tăng 650 triệu tương ứng tăng gần 17% với mức tăng từ các khoản đầu tư dài hạn
là chủ yếu Năm 2009 là năm nền kinh tế chịu sự tác động, ảnh hưởng của khủnghoảng tài chính thế giới, do đó việc tài sản của công ty tăng lên không đáng kể cũng làđiều tất yếu
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 31
Trang 32Bảng 2.1 Tình hình tài sản Công ty qua 3 năm 2007 -2009
Đvt :Triệu đồng
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 32
Trang 33SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 33
Trang 34Bảng 2.2 Tình hình nguồn vốn kinh doanh của Công ty giai đoạn 2007 - 2009
ĐVT : Triệu đồng
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 34
Trang 35SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 35
Trang 36Bảng 2.3 : Tình hình lao động của Công ty trong 3 năm 2007 – 2009
(Nguồn: Phòng hành chính Công ty)
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 36
Trang 372.1.4.4 Quy trình công nghệ
Đất sét được khai thác tận mỏ và vận chuyển về Công ty đổ vào bãi đất Đất ở
bãi chứa được máy ủi dàn đều từng lớp dày 20 – 30cm, sau đó gom thành đống cao3.5 – 4.0 m Trong suốt quá trình đất phải được tưới nước, ngâm ủ phong hóa khoảng
6 tháng, đất được máy ủi đưa vào nhà chứa đất, lượng đất trong kho đất đủ để sản xuấttrong 5 ngày Dùng máy ủi để ủi đất vào cấp liệu thùng Qua hệ thống dàn chén vàbăng tải sắt của máy cấp liệu thùng, đất được cắt nhỏ và rãi đều vào băng tải cao suđất được chuyển vào máy cán thô, máy cán thô có khe hở giữa hai quả của lá 5 – 7mmvới tốc độ quay khác nhau sẽ nghiền nhỏ và phá vở cấu trúc ban đầu của đất sét quaphểu rót, đất được chuyển vào máy nhào, hai trục có lưới Ở đầu của máy nhào có bốtrí chổ pha than, lượng than vào đất máy nhào chiếm tỷ lệ 60 -70% tổng lượng thancần phải nung Than pha vào đất phải đảm bảo có cỡ nhở hơn hoặc bằng 3mm Máynhào có hai cách để nhào đất và than đồng đều Đồng thời có ruột gà để ép đất qua cánthép có lỗ 4mm tạo thành các thổi đất có độ dẻo cao Đất rơi xuống băng tải đượcchuyển lên máy cán mịn, khe hở của hai trục cán từ 2 – 3mm, đất được sát chà, nghiềnnhỏ triệt để và rơi xuống máy nhào – ép đùm liên hợp có hút chân không
Đất ra khỏi máy ép đùm dưới dạng dãi băng liên tục Máy cắt gạch sẽ tự độngcắt băng thành các viên gạch mộc có kích thước quy định, các phần đất thừa khi cắt sẽđược thu hồi đưa vào tái chế
Gạch mộc chạy qua băng của máy cắt sang bàn chứa gạch được xếp lên xe đẩy
và chuyển ra sân phơi tự nhiên Gạch mộc được phơi trên sân cán có mái che bằngkính được thiết kế thích hợp để tận dụng tối đa năng lượng mặt trời
Hiệu ứng lồng kính đảm bảo khả năng thông thoáng 6 – 7 ngày phơi trong nhàkính Độ ẩm của gạch sẽ giảm từ 18 – 20% xuống còn 13%, gạch mộc được xếp lên xegoòng để đưa vào Tuynen sấy Cách xếp này được chuyển sang Tuynen nung không
để xếp lại lần thứ hai Tác nhân sấy là hổn hợp khối lò Tuynen
Ra goòng Tuynen sấy, độ ẩm của gạch mộc đạt được 2 – 5% thời gian nungtrong Tuynen sấy là 18 giờ
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 37
Trang 38Sơ đồ 6: Quy trình sản xuất sản phẩm
B
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Bãi chứa đất
Máy nhào hai trục có lưói lọc sỏi
Nhà chứa đấtMáy ủiMáy cấp liệuBăng tảiMáy cán thô
Băng tảiMáy cán mịnMáy nhào ép đùn hút chân không
Bàn cátPhơi tự nhiênTuynen sấyTuynen nung Thành phẩm
Trang 38
Trang 39Sản phẩm trên xe goòng khi đưa ra khỏi Tuynen sấy được chuyển sang Tuynennung Chu kì nung là 46 giờ, gạch mộc được chín ở vùng nung bằng than cám ở nhiệt
2.2.1 Phân tích doanh thu tiêu thụ
Doanh thu là một trong những nhân tố đánh giá hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp Doanh thu được xác định khi bán sản phẩm cho khách hàng để thu tiền haykhách hàng chấp nhận trả tiền Tiêu chí của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh là lợinhuận và doanh thu là yếu tố để thực hiện điều đó Chúng tôi tiêu hành phân tíchdoanh thu tiêu thụ theo các tiêu chí sau:
- Biến động doanh thu theo chủng loại sản phẩm
- Biến động doanh thu theo các tháng trong năm
- Biên động doanh thu trong mối quan hệ với tổng sản lượng tiêu thụ và giá bánbình quân
2.2.1.1 Tình hình biến động doanh thu theo chủng loại sản phẩm
Phân tích tình hình biến động doanh thu theo chủng loại sản phẩm nhằm xácđịnh những loại sản phẩm chủ đạo đóng góp to lớn trong việc làm tăng tổng doanh thucủa doanh nghiệp Từ đó, việc phân tích sẽ giúp công ty có những chiến lược sản xuất,tiêu thụ phù hợp với thị trường Công ty cổ phần gạch Tuynen sản xuất chủng loạigạch khá đa dạng để đáp ứng nhu cầu trên thị trường Nhu cầu trên thị trường đối vớitừng chủng loại gạch là khác nhau Trong danh mục sản phẩm của Công ty chỉ có mộtvài sản phẩm đóng góp lớn vào tổng doanh thu của Công ty Vì vậy chúng tôi chủ yếuchỉ xem xét sự biến động của các sản phẩm chủ yếu tạo nên tổng doanh thu của Công
ty Tình hình biến động doanh thu theo chủng loại sản phẩm của Công ty được thểhiện qua bảng 2.4 Cụ thể:
- Gạch rổng 6 lỗ nhỏ và lớn là 2 dòng sản phẩm chiếm tỉ trọng lớn trong tổngdoanh thu của Công ty Năm 2007 gạch rỗng 6 lỗ nhỏ đạt doanh thu là hơn 3,3 tỷ đồng
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 39
Trang 40chiếm hơn 21% trong tổng doanh thu Còn gạch rỗng 6 lỗ lớn có doanh thu là hơn 3,4
tỷ đồng cũng chiếm 21% trong tổng doanh thu Như vậy, trong năm 2007, doanh thu
từ hai dòng sản phẩm này chiếm gần 42% tổng doanh thu Sang năm 2008 thì doanhthu của 2 loại sản phẩm này tăng khá mạnh Gạch rỗng 6 lỗ nhỏ đã đạt trên 5,2 tỷ đồngdoanh thu chiếm 21,74% trong tổng doanh thu, tăng hơn 1,8 tỷ đồng so với năm 2007tương ứng là tăng trên 55%, còn gạch rỗng 6 lỗ lớn đạt trên 5,3 tỷ đồng doanh thuchiếm 22,15% trong tổng doanh thu, cũng tăng hơn 1,8 tỷ đồng so với năm 2007 tăngtương ứng tăng trên 53% Doanh thu từ hai loại sản phẩm này tiếp tục đóng góp phầnlớn trong tổng doanh thu năm 2008 và có mức tăng khá mạnh Đến năm 2009, mứctăng của hai loại sản phẩm này mặc dù không cao bằng năm 2008 nhưng vẫn ở mứccao Cụ thể, gạch 6 lỗ nhỏ tăng hơn 1,3 tỷ đồng tương ứng là tăng hơn 25%, trong khigạch 6 lỗ lớn tăng hơn 1,4 tỷ đồng tương ứng là tăng gần 27% Tỷ trọng của doanh thu
từ hai loại sản phẩm này tiếp tục chiếm phần lớn trong tổng doanh thu, chiếm hơn45%
- Ngoài ra, các sản phẩm gạch rỗng 4 lỗ nhỏ và gạch rỗng 4 lỗ lớn Năm 2007gạch rỗng 4 lỗ nhỏ đạt doanh thu hơn 1,1 tỷ đồng còn gạch rỗng 4 lỗ lớn đạt gần 2 tỷđồng, cả hai loại sản phẩm này chiếm gần 15% trong tổng doanh thu Năm 2008 thìdoanh thu của dòng sản phẩm này tăng khá mạnh Cả 2 loại sản phẩm đều đạt đượctrên/dưới 3 tỷ đồng doanh thu, và doanh thu từ hai loại sản phẩm này chiếm hơn 24%trong tổng doanh thu Trong năm này, tốc độ tăng doanh thu của hai dòng sản phẩmnày khá mạnh với tốc độ tăng trên 151% đối với doanh thu từ gạch rỗng 4 lỗ nhỏ vàtrên 51% đối với doanh thu từ gạch rỗng 4 lỗ lớn Đến năm 2009, tốc độ tăng của haidòng sản phẩm này chững lại khi doanh thu từ gạch rỗng 4 lỗ nhỏ tăng hơn 28% vàdoanh thu từ gạch rỗng 4 lỗ lớn chỉ tăng hơn 1% Và trong năm 2009, doanh thu từ haidòng sản phẩm này chiếm hơn 22%
- Các loại gạch rỗng 2 lỗ, gạch đặc nhỏ, gạch đặc lớn cũng đóng góp vào doanhthu tiêu thụ nhưng mức độ đóng góp không lớn, sự biến động về doanh thu từ nhữngloại sản phẩm này cũng không đáng kể Riêng các loại gạch nửa 6 lỗ nhỏ và gạch nữa
6 lỗ lớn, doanh thu từ chúng sẽ biến động theo doanh thu của các loại gạch nguyên 6
lỗ nhỏ và 6 lỗ lớn
SVTH: Đinh Xuân Quý – K40TM
Trang 40