1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế

106 640 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTAFTA : Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN APEC : Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CCDV : Cung cấp dịch vụ CNV :Công

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

- -KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ CỦA CƠNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN GỖ THỪA THIÊN

HUẾ

Sinh viên thực hiên : Giáo viên hướng dẫn :

Phạm Thị Trân Huyền ThS Hồng Thị Diễm Thư

Lớp : K45A QTKD TM

Niên khĩa: 2011 - 2015

Huế, tháng 5 năm 2015

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

Lời đầu tiên, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến quý thầy cô giáo trường Đại Học Kinh Tế - Huế, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn: Thạc sĩ Hoàng Thị Diễm Thư đã cho tôi những hướng đi thích hợp và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này.

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến quý Công ty Cổ phần Chế biến gỗ Thừa Thiên Huế đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này Đặc biệt, tôi xin cảm

ơn các anh chị của Phòng Tài vụ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, phỏng vấn và thu thập số liệu, đồng thời luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi rất nhiều trong lĩnh vực chuyên môn và kinh nghiệm thực tế.

Do thời gian nghiên cứu, kiến thức và kinh nghiệm thực tế có hạn, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng đề tài này không thể tránh khỏi những sai sót nhất định Kính mong quý công ty, quý thầy cô giáo và tất cả các bạn đóng góp những ý kiến bổ sung để đề tài được hoàn thiện hơn.

Xin trân trọng cảm ơn!

Sinh viên

Phạm Thị Trân Huyền

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục đề tài nghiên cứu 4

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Lý thuyết về xuất khẩu 5

1.1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu 5

1.1.1.2 Đặc điểm của xuất khẩu 6

1.1.1.3 Các hình thức xuất khẩu 6

1.1.1.4 Vai trò của hoạt động xuất khẩu 12

1.1.1.5 Nhiệm vụ của xuất khẩu 16

1.1.1.6 Ý nghĩa của xuất khẩu 17

1.1.2 Nội dung chính của hoạt động xuất khẩu 17

1.1.2.1 Nghiên cứu tiếp cận thị trường và xác định mặt hàng xuất khẩu 17

1.1.2.2 Lựa chọn đối tượng giao dịch 20

1.1.2.3 Giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng 23

1.1.2.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu 27

1.1.3 Khái niệm của thị trường xuất khẩu và vai trò phân tích thị trường xuất khẩu 28

1.1.3.1 Khái niệm thị trường xuất khẩu 28

1.1.3.2 Vai trò của phân tích thị trường xuất khẩu 28

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 28

1.1.4.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 29

1.1.4.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 30

1.1.5 Phương pháp so sánh 32

1.1.6 Phương pháp biểu mẫu sơ đồ 33 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

1.2 Cơ sở thực tiễn 34

CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN GỖ THỪA THIÊN HUẾ 38

2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế 38

2.1.1 Sơ lược về công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế 38

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế 38

2.1.3 Ngành nghề kinh doanh và chức năng nhiệm vụ của Công ty Cổ Phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế 39

2.1.4 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế 40

2.1.5 Đặc điểm kinh doanh chế biến gỗ của công ty 42

2.1.6 Mặt bằng sản xuất của công ty 42

2.1.7 Tình hình nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn năm 2012 – 2014 44

2.1.8 Tình hình nguồn vốn tại công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn năm 2012 – 2014 46

2.1.9 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian vừa qua 49

2.2 Sơ lược tình hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ trong những năm qua 57

2.2.1 Trên thế giới 57

2.2.2 Trong nước 59

2.2.3 Trong khu vực 60

2.3 Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011- 2014 62

2.3.1 Tình hình hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty trong giai đoạn 2011- 2014 62

2.3.2 Phân tích cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu của công ty từ năm 2011- 2014 64

2.3.3 Phân tích các thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế 68

2.3.3.1 Thị trường EU 71 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

2.3.3.2 Thị trường Nam Mỹ 74

2.3.3.3 Thị trường khác 76

2.4 Các biện pháp mà công ty đang áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất xuất khẩu77 2.5 Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế .78

2.5.1 Những mặt thuận lợi 78

2.5.2 Khó khăn 79

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN GỖ THỪA THIÊN HUẾ 81

3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty trong thời gian tới .81

3.1.1 Định hướng của toàn ngành xuất khẩu sản phẩm gỗ 81

3.1.2 Định hướng phát triển của công ty 84

3.2 Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty 85

3.2.1 Giải pháp tạo vốn 85

3.2.2 Giải pháp về ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào 86

3.2.3 Nâng cao chất lượng sản phẩm 87

3.2.4 Giải pháp khoa học kỹ thuật- công nghệ 88

3.2.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 89

3.2.6 Áp dụng hình thức thương mại điện tử 90

3.2.7 Cải tiến phương thức thanh toán 90

3.2.8 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động marketing 91

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

1 Kết luận 94

2 Kiến nghị 95

2.1 Kiến nghị đối với nhà nước 95

2.2 Kiến nghị đối với công ty 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình lao động của Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai

đoạn năm 2012 - 2014 45

Bảng 2.2: Tình hình nguồn vốn của công ty giai đoạn năm 2012 - 2014 47

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế (2011 – 2014) 50

Bảng 2.4: Tình hình tổng doanh thu của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2014 53

Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2014 62

Bảng 2.6: Giá trị xuất khẩu theo cơ cấu mặt hàng của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011- 2014 65

Bảng 2.7: Giá trị xuất khẩu theo từng mặt hàng của công ty tại các 67

thị trường năm 2013 – 2014 67

Bảng 2.8: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty Cổ phần chế biến gỗ 69

Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011- 2014 69

Bảng 2.9 : Kim ngạch xuất khẩu theo hình thức trực tiếp tại của công ty vào thị trường EU giai đoạn 2011- 2014 72

Bảng 2.10: Kim ngạch xuất khẩu theo hình thức trực tiếp tại của công ty vào thị trường Nam Mỹ giai đoạn 2011- 2014 74

Bảng 3.1: Thống kê thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm 2 tháng 2015 82

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIÊU ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Các bước giao dịch của hoạt động thương mại quốc tế 25

Sơ đồ 1.2: Các bước tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu 27

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế 40

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế 43

Biểu đồ 2.1: Tình hình tổng doanh thu của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế qua 4 năm 2011-2014 54

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu sản phẩm gỗ sản xuất của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế năm 2014 65

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AFTA : Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN

APEC : Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CCDV : Cung cấp dịch vụ

CNV :Công nhân viên

CTXL : Công ty xây lắp

DN : Doanh nghiệp

EU : Liên minh Châu Âu

HC-LĐ&TL : Hành chính lao động và tiền lương

HĐND : Hội đồng nhân dân

HĐND : Hội đồng nhân dân

LC : Thư tín dụng

: Quyết định

TCHQ : Tài chính hải quan

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

UBND : Uỷ ban nhân dân

VCSH : Vốn chủ sở hữu

VPA/FLEGT : Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA) thuộc chương trình Thực

thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT)giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu

WTO : Tổ chức thương mại Thế giới

XNK : Xuất nhập khẩu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, hoạt động xuất khẩu hàng hoá có vai trò rất quan trọng đối với bất kỳmột quốc gia nào trên thế giới Mỗi quốc gia đều tồn tại và phát triển ổn định gắn liềnvới hoạt động thương mại quốc tế Xuất khẩu được coi là phương thức đầu tiên củahoạt động kinh doanh thương mại quốc tế Nhà nước ta đã có nhiều chính sách khuyếnkhích cho hoạt động xuất khẩu phát triển nhằm đạt được những mục tiêu phát triểnkinh tế và chính trị

Nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển mình và hội nhập với nền kinh tếkhu vực và thế giới Một trong những hoạt động cơ bản để thúc đẩy quá trình hội nhậpchính là hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nềnkinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển

Thực tế trong những năm vừa qua, ngành gỗ xuất khẩu của Việt Nam luôn gặthái được những thành tựu to lớn, kim ngạch xuất khẩu năm sau luôn tăng hơn so vớinăm trước và đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển chung của nước nhà Hiện tạicác mặt hàng sản phẩm gỗ đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng thứ 5 ở ViệtNam chỉ sau dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản Sự phát triển này đã đưa Việt Nam

là một trong các nước xuất khẩu sản phẩm gỗ nằm trong top đầu của ASEAN Điềunày đã khẳng định vị thế của ngành xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam, là một trongnhững ngành xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu trong quá trình côngnghiệp hóa đất nước Tuy nhiên cùng với sự phát triển đi lên của ngành sản xuất gỗ thìnhững doanh nghiệp trong nước tham gia vào hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ cũngbộc lộ không ít những hạn chế

Công ty Cổ phần Chế biến gỗ Thừa Thiên Huế là một doanh nghiệp xuất khẩusản phẩm gỗ Từ khi thành lập đến nay Công ty chuyên chế biến, sản xuất và xuấtkhẩu các sản phẩm gỗ ra thị trường nhiều quốc gia khác nhau.Với điểm mạnh nănglực chế biến gỗ của công ty ngày càng tăng lên không chỉ về số lượng, quy mô sảnTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

xuất mà còn về đầu tư thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, trình độ quản

lý, tay nghề của công nhân

Tuy nhiên công ty vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế về mẫu mã, tiêu chuẩn chấtlượng, thương hiệu, pháp luật thương mại quốc tế, thủ tục xuất khẩu sản phẩm gỗ,cách xử lý các đơn hàng xuất khẩu, chứng chỉ quốc tế, khả năng tự cung tự cấp vềnguyên liệu Trong thời gian thực tập ở công ty em nhận thấy những mặt hạn chếtrong hoạt động xuất khẩu của công ty.Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé

kiến thức đã học, đã tìm tòi, đã xâm nhập thực tế, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế” nhằm nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của công ty, và đưa ra một số biện

pháp để khắc phục những mặt hạn chế trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu và gópphần nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của Công ty

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của Công ty Cổ phần chế biến gỗThừa Thiên Huế giai đoạn từ 2011 - 2014 từ đó đề ra những giải pháp nhằm mở rộngthị trường, gia tăng giá trị và hiệu quả xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty trong thờigian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

 Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu

 Phân tích yếu tố về doanh thu, kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu các mặt hàngxuất khẩu sản phẩm gỗ của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn

3 Câu hỏi nghiên cứu

 Những yếu tố nào tác động tới hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty

Cổ phần Chế biến gỗ Thừa Thiên Huế?

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

 Tình hình hoạt động xuất khẩu của công ty Cổ phần Chế biến gỗ Thừa ThiênHuế ra sao?

 Những giải pháp nào có thể áp dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩucủa công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty Cổ phầnchế biến gỗ Thừa Thiên Huế

 Đối tượng điều tra: Cán bộ, công nhân viên làm việc tại công ty Cổ phần chếbiến gỗ Thừa Thiên Huế

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp

Các số liệu và dữ liệu liên quan trong quá trình phân tích chủ yếu dựa vào nhữngtài liệu do công ty cung cấp: báo cáo tài chính, báo cáo xuất khẩu…Ngoài ra trong quátrình phân tích còn sử dụng những thông tin từ các nguồn khác như: sách, báo,internet, tạp chí kinh tế

- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Thu thập và phân tích số liệu liên quanđến thị trường xuất khẩu và kết quả xuất khẩu của của công ty Cổ phần chế biến gỗThừa Thiên Huế Dùng phần mềm excel để tính toán các số liệu thu thập được

+ Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất nhằm so sánh đốichiếu các chỉ tiêu, kết quả Trên cơ sở đó đánh giá được những vấn đề thực hiện được

và chưa thực hiện được, nhằm xác định nguyên nhân và tìm ra giải pháp tối ưu nhất.TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

+ Phương pháp đồ thị và biểu đồ để phân tích mối quan hệ, mức độ biến độngcũng như sự ảnh hưởng của các chỉ tiêu phân tích.

6 Bố cục đề tài nghiên cứu

Phần I: Đặt vấn đề

Phần II: Nội Dung Và Kết Quả Nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Phân tích về hoạt động kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ của Công

ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗcủa Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế

Phần III: Kết Luận và kiến nghị

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Lý thuyết về xuất khẩu

1.1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc giakhác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận.Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia Mụcđích của hoạt động này là thu được một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sở khai thác lợi thế

so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế Khi việc trao đổi hànghoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạtđộng này

Hoạt động xuất khẩu là một mặt của hoạt động thương mại quốc tế nên nó cũng

có những đặc trưng của hoạt động thương mại quốc tế và nó liên quan đến hoạt độngthương mại quốc tế khác như bảo hiểm quốc tế, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế Hoạt động xuất khẩu không giống như hoạt động buôn bán trong nước ở đặc điểm là

nó có sự tham gia buôn bán của đối tác nước ngoài, hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêudùng ở phạm vi nước ngoài

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh

tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hoá thiết bịcông nghệ cao Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốcgia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng

Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian Nó có thể diễn

ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được diễn ra trênphạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau Hoạt động xuất khẩu mang lạinhiều lợi ích cho quốc gia Nó không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp mà còngóp phần thúc đẩy mạnh sản xuất trong nước nhờ tích luỹ từ khoản thu ngoại tệ chođất nước, phát huy tính sáng tạo của các đơn vị kinh tế thông qua cạnh tranh quốc tế.TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

Kinh doanh xuất nhập khẩu còn là phương tiện để khai thác các lợi thế về tự nhiên, vịtrí địa lý, nhân lực và các nguồn lực khác Ngoài ra hoạt động xuất khẩu còn thúc đẩyquan hệ hợp tác quốc tế giữa các nước và đẩy mạnh tiến trình hội nhập nền kinh tếtoàn cầu.

Tóm lại, xuất khẩu là hoạt động kinh doanh thu doanh lợi bằng cách bán sảnphẩm hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài và sản phẩm hay dịch vụ ấy phải dichuyển ra khỏi biên giới của một quốc gia

1.1.1.2 Đặc điểm của xuất khẩu

Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài Do đó,

khi muốn phục vụ họ, nhà xuất khẩu không thể áp dụng các biện pháp giống hoàn toànnhư khi chinh phục khách hàng trong nước Bởi vì, giữa hai loại khách hàng này cónhiều điểm khác biệt về ngôn ngữ, lối sống, mức sống, phong tục tập quán Điều này

sẽ dẫn đến những khác biệt trong nhu cầu và cách thức thoả mãn nhu cầu Vì vậy, nhàxuất khẩu cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn để tìm hiểu nhu cầu của khách hàng nướcngoài để đưa ra những hàng hoá phù hợp

Thứ hai, thị trường trong kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp và khó tiếp cận

hơn thị trường kinh doanh trong nước Bởi vì thị trường xuất khẩu vượt ra ngoài phạm

vi biên giới quốc gia nên về mặt địa lý thì nó ở cách xa hơn, phức tạp hơn và có nhiềunhân tố ràng buộc hơn

Thứ ba, hình thức mua bán trong hoạt động xuất khẩu thường là mua bán qua

hợp đồng xuất khẩu với khối lượng mua lớn mới có hiệu quả

Thứ tư, các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như thanh toán, vận

chuyển, ký kết hợp đồng đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro

Nói tóm lại, hoạt động xuất khẩu là sự mở rộng quan hệ buôn bán trong nước ranước ngoài, điều này thể hiện sự phức tạp của nó Hoạt động xuất khẩu có thể đem lại kếtquả cao hơn hoạt động kinh doanh trong nước nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro hơn

1.1.1.3 Các hình thức xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu hàng hoá được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,điều này căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hoá trước khi xuất khẩu, căn cứ vào nguồnhàng xuất khẩu Hiện nay, các doanh nghiệp thường tiến hành một số hình thức xuấtkhẩu sau

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

1.1.1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp

Hoạt động xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu hàng hoá mà trong đócác doanh nghiệp ngoại thương tự bỏ vốn ra mua các sản phẩm từ các đơn vị sản xuấttrong nước, sau đó bán các sản phẩm này cho các khách hàng nước ngoài (có thể quamột số công đoạn gia công chế biến)

Theo hình thức xuất khẩu này, các doanh nghiệp ngoại thương muốn có hàng hoá

để xuất khẩu thì phải có vốn thu gom hàng hoá từ các địa phương, các cơ sở sản xuấttrong nước Khi doanh nghiệp bỏ vốn ra để mua hàng thì hàng hoá thuộc sở hữu củadoanh nghiệp

Hình thức này không qua một tổ chức trung gian nào, có thể trực tiếp gặp nhaucùng bàn bạc thảo luận để đưa đến một hợp đồng hoặc không cần gặp nhau trực tiếp

mà thông qua thư chào hàng, thư điện tử , fax, điện thoại cũng có thể tạo thành mộthợp đồng mua bán kinh doanh thương mại quốc tế được ký kết

 Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp

Xuất khẩu theo hình thức trực tiếp thông thường có hiệu quả kinh doanh cao hơncác hình thức xuất khẩu khác Bởi vì doanh nghiệp có thể mua được những hàng hoá

có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của mình cũng như của khách hàng với giá cảmua vào thấp hơn

Thông qua thảo luận trực tiếp nên dễ dàng dẫn đến thống nhất ý kiến và ít xảy ranhững hiểu lầm đáng tiếc

Giảm được chi phí trung gian, nhiều khi chi phí này rất lớn, phải chia sẻ lợi nhuận.Giao dịch trực tiếp sẽ có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý kiếncủa khách hàng, khắc phục thiếu sót

Chủ động trong việc chuẩn bị nguồn hàng, phương tiện vận tải để thực hiện hoạtđộng xuất khẩu và kịp thời điều chỉnh thị trường tiêu thụ, nhất là trong điều kiện thịtrường nhiều biến động

 Hạn chế của xuất khẩu trực tiếp

Đây là hình thức xuất khẩu có độ rủi ro lớn, hàng hoá có thể không bán được

do những thay đổi bất ngờ của khách hàng, của thị trường dẫn đến ứ đọng vốn và đôikhi bị thất thoát hàng hoá

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

Đối với thị trường mới chưa từng giao dịch thường gặp nhiều bỡ ngỡ, dễ gặp sailầm, bị ép giá trong mua bán.

Đòi hỏi cán bộ công nhân viên làm công tác kinh doanh xuất khẩu phải có nănglực hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thương, ngoại ngữ, văn hoá của thị trường nướcngoài, phải có nhiều thời gian tích luỹ

Khối lượng mặt hàng giao dịch phải lớn mới có thể bù đắp được các chi phí tronggiao dịch như: giấy tờ, đi lại, nghiên cứu thị trường

1.1.1.3.2 Xuất khẩu gián tiếp

Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu mà nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩuphải thông qua một người thứ ba, người này là trung gian

 Ưu điểm: giảm bớt được chi phí nghiên cứu tìm kiếm bạn hàng, tạo điều kiệnthuận lợi cho việc kinh doanh như: mở rộng kênh phân phối, mạng lưới kinh doanh,

am hiểu thị trường giảm được rủi ro, giảm các chi phí trong quá trình giao dịch

 Nhược điểm: bị thụ động phải phụ thuộc nhiều vào người trung gian, đặc biệt

là không kiểm soát được người trung gian

1.1.1.3.3 Xuất khẩu tại chỗ

Đây là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu ngay tại chính đất nước của mình

để thu ngoại tệ thông qua việc giao hàng cho các doanh nghiệp đang hoạt động ngaytại chính lãnh thổ của quốc gia đó và theo sự chỉ định của phía nước ngoài hoặc cũng

có thể bán hàng qua khu chế xuất hoặc các xí nghiệp chế xuất đang hoạt động ngay tạichính lãnh thổ nước đó

Đặc điểm của hình thức này:

Ưu điểm của hình thức này là: tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm rủi ro trong kinhdoanh xuất nhập khẩu, giảm chi phí kinh doanh xuất nhập khẩu như chi phí vận tải, chiTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

phí bảo hiểm hàng hóa Hình thức này thường được áp dụng đối với quốc gia có thếmạnh về du lịch và có nhiều tổ chức nước ngoài đóng tại quốc gia đó.

1.1.1.3.4 Xuất khẩu ủy thác

Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là một hình thức dịch vụ thương mại, theo đó doanhnghiệp ngoại thương đứng ra với vai trò là trung gian thực hiện việc xuất khẩu hànghoá cho các đơn vị có hàng hoá uỷ thác Trong hình thức này, hàng hoá trước khi kếtthúc quá trình xuất khẩu vẫn thuộc sở hữu của đơn vị uỷ thác Doanh nghiệp ngoạithương chỉ có nhiệm vụ làm các thủ tục về xuất khẩu hàng hoá, kể cả việc vận chuyểnhàng hoá và được hưởng một khoản tiền gọi là phí uỷ thác mà đơn vị uỷ thác trả

Một số lưu ý khi thực hiện xuất khẩu ủy thác:

- Thương nhân được ủy thác cho thương nhân khác xuất khẩu, nhập khẩu hoặcđược nhận ủy thác xuất khẩu các loại hàng hóa trừ trường hợp danh mục cấm xuấtkhẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừngnhập khẩu

- Đối với những hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép thì bên ủy tháchoặc bên nhận ủy thác có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu trước khi ký hợp đồng ủythác hoặc nhận ủy thác

- Các tổ chức, cá nhân Việt Nam không phải thương nhân trên cơ sở hợp đồng kýkết theo qui định của pháp luật được ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phục vụnhu cầu của tổ chức, cá nhân đó, trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạmngừng xuất khẩu hàng hóa thuộc danh mục nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu

- Quyền lợi và nghĩa vụ của bên ủy thác, bên nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu

do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác, nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu

 Ưu điểm của hình thức xuất khẩu ủy thác:

- Ở khía cạnh nào đó tăng cường tiềm năng kinh doanh xuất khẩu cho công tynhận ủy thác nhằm duy trì khách hàng và duy trì thị trường

- Phát triển hoạt động thương mại dịch vụ tăng thu nhập cho doanh nghiệp

- Tạo việc làm cho phòng kinh doanh xuất nhập khẩu

 Nhược điểm của hình thức xuất khẩu ủy thác:

- Có thể tham gia vào các tranh chấp thương mại

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

- Bên ủy thác xuất khẩu không thực hiện tốt các nghĩa vụ thủ tục và thuế xuấtkhẩu và bên nhận ủy thác chịu trách nhiệm liên quan.

- Để giảm thiểu tranh chấp thương mại có liên quan đến hoạt động xuất khẩu ủythác, các bên đi ủy thác và bên nhận ủy thác xuất khẩu nên làm một hợp đồng ủy thácxuất khẩu

1.1.1.3.5 Xuất khẩu gia công

Gia công xuất khẩu là một phương thức sản xuất hàng xuất khẩu Trong đóngười đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặcbán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước Người nhận gia công trong nước tổchức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách Hàng hoá sau khi sản xuấtxong được giao cho bên đặt gia công, bên nhận gia công được trả tiền công Khi hoạtđộng gia công vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì được gọi là gia công quốc tế

Theo hình thức xuất khẩu này, doanh nghiệp ngoại thương đứng ra nhập nguyênnhiên vật liệu, bán thành phẩm về cho các đơn vị nhận gia công từ các khách hàngnước ngoài đặt gia công Sau đó, đơn vị ngoại thương sẽ nhận thành phẩm từ các đơn

vị nhận gia công và xuất sản phẩm này sang cho khách hàng nước ngoài đã đặt giacông Đơn vị ngoại thương sẽ nhận được khoản tiền thù lao gia công

Có 3 hình thức gia công quốc tế:

 Nhận nguyên liệu giao thành phẩm: Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặcbán thành phẩm và không phải chịu thuế quan nhập khẩu cho bên nhận gia công đểchế biến sản phẩm và sau thời gian chế tạo, sản xuất sẽ thu hồi thành phẩm và trả phígia công Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo, quyền sở hữu về nguyên liệuvẫn thuộc về bên đặt gia công Thực chất đây là hình thức làm thuê cho bên đặt giacông và bên nhận gia công không được quyền chi phối sản phẩm làm ra

Đây là hình thức gia công xuất khẩu chủ yếu của nước ta vì công nghiệp sảnxuất nguyên phụ liệu của Việt Nam chưa phát triển, chưa tạo được nguyên liệu cóchất lượng cao

Mua đứt, bán đoạn dựa trên hợp đồng mua bán dài hạn với nước ngoài: Bênđặt gia công bán đứt nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công vàsau thời gian sản xuất chế tạo sẽ mua lại thành phẩm Trong trường hợp này, quyềnTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

sở hữu về nguyên vật liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công Vìvậy, khi nhập trở lại các bộ phận giá trị thực tế tăng thêm đều phải chịu thuế Thựcchất đây là hình thức bên đặt gia công giao nguyên vật liệu, giúp đỡ kỹ thuật chobên nhận gia công và bao tiêu sản phẩm.

Kết hợp: Trong đó, bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính cònbên nhận gia công cung cấp những nguyên phụ liệu

Hình thức gia công chuyển tiếp: là hình thức sản phẩm gia công của hợp đồnggia công xuất khẩu này được sử dụng làm nguyên liệu gia công xuất khẩu khác tạiViệt Nam

 Ưu điểm của hình thức gia công xuất khẩu:

- Hoạt động gia công xuất khẩu có đặc điểm là doanh nghiệp ngoại thương khôngphải bỏ vốn vào kinh doanh nhưng thu được hiệu quả cũng khá cao, ít rủi ro và khảnăng thanh toán đảm bảo vì đầu ra chắc chắn

- Đây là hình thức rất thích hợp với các doanh nghiệp Việt Nam vì các doanhnghiệp vốn đầu tư hạn chế, chưa am hiểu về luật lệ và thị trường thế giới, chưa cóthương hiệu, kiểu dáng công nghiệp nổi tiếng qua gia công xuất khẩu vẫn có thể thâmnhập ở mức độ nhất định vào thị trường thế giới

- Qua gia công xuất khẩu, doanh nghiệp có thể tích lũy kinh nghiệm tổ chức sảnxuất hàng xuất khẩu, kinh nghiệm làm thủ tục xuất khẩu và có thể tích lũy vốn

- Rủi ro kinh doanh xuất khẩu ít vì đầu vào và đầu ra của quá trình kinh doanhđều do phía đối tác đặt gia công nước ngoài lo

- Đây là hình thức giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, thu ngoại tệ

 Nhược điểm của hình thức gia công xuất khẩu:

- Nếu doanh nghiệp muốn thực hiện theo hình thức này, doanh nghiệp phải quan

hệ được với các khách hàng đặt gia công có uy tín Đây là một hình thức phức tạp,nhất là trong quá trình thoả thuận với bên khách hàng gia công về số lượng, chấtlượng, nguyên vật liệu và tỷ lệ thu hồi thành phẩm, giám sát quá trình gia công Do đó,các cán bộ kinh doanh của doanh nghiệp phải am hiểu tường tận về các nghiệp vụ vàquá trình gia công sản phẩm

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

- Hiệu quả xuất khẩu thấp, ngoại tệ thu được chủ yếu là tiền gia công ngày mộtgiảm trong điều kiện cạnh tranh lớn của những đơn vị gia công cao.

- Tính phụ thuộc vào đối tác nước ngoài cao

- Nếu chỉ áp dụng phương thức kinh doanh xuất khẩu thì doanh nghiệp khó cóthể xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, xâydựng thương hiệu và thiết kế kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm

1.1.1.3.6 Buôn bán đối lưu

Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặtchẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua Khối lượng hàng hoá được traođổi có giá trị tương đương

Theo hình thức này, mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải nhằm thu vềmột khoản ngoại tệ mà là thu về một lượng hàng hoá khác tương đương với trị giá của

lô hàng xuất khẩu Doanh nghiệp ngoại thương có thể sử dụng hình thức xuất khẩu này

để nhập khẩu những loại hàng hoá mà thị trường trong nước đang rất cần hoặc có thểxuất khẩu sang một nước thứ ba

Tuy tiền tệ không được thanh toán trực tiếp nhưng nó được làm vật ngang giáchung cho giao dịch này

Hình thức xuất khẩu này giúp doanh nghiệp tránh được sự biến động của tỉ giáhối đoái trên thị trường ngoại hối đồng thời có lợi khi các bên không có đủ ngoại tệ đểthanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình

1.1.1.4 Vai trò của hoạt động xuất khẩu

1.1.1.4.1 Đối với nền kinh tế thế giới

Là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu tiên củaThương mại quốc tế, xuất khẩu có một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình pháttriển kinh tế của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới Do những điều kiện khácnhau nên một quốc gia có thể mạnh về lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác, vìvậy để có thể khai thác được lợi thế, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêudùng các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau dựa trên lý thuyết lợi thế so sánhcủa David Ricacdo, ông nói rằng: “Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với cácquốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể thamTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

gia vào Thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích của chính mình”, và khi tham gia vàoThương mại quốc tế thì “quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất các loại hàng hoá sẽtiến hành chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những loại mặt hàng mà việc sảnxuất ra chúng là ít bất lợi nhất và nhập khẩu những loại mặt hàng mà việc sản xuất rachúng có bất lợi lớn hơn” Nói cách khác, một quốc gia trong tình huống bất lợi vẫn cóthể tìm ra điểm có lợi để khai thác Bằng việc khai thác các lợi thế này, các quốc giatập trung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tương đối Sự chuyên mônhoá đó làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất giúptiết kiệm được nguồn nhân lực như vốn, kỹ thuật, nhân lực trong quá trình sản xuấthàng hoá Do đó, tổng sản phẩm trên quy mô toàn thế giới cũng sẽ được gia tăng.

1.1.1.4.2 Đối với nền kinh tế quốc dân

Xuất khẩu là một trong những nhân tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và pháttriển kinh tế đều khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc giacần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ Nhưnghầu hết các quốc gia đang phát triển như Việt Nam đều thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ

Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công nghệ:

- Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phảicông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậuchậm phát triển Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có một lượng vốn lớn đểnhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến

Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu một nước có thể sử dụng nguồnvốn huy động chính như sau:

● Đầu tư nước ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ

● Thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ trong nước

● Thu từ hoạt động xuất khẩu

Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận được,song việc huy động chúng không phải dễ dàng Sử dụng nguồn vốn này, các nước đivay phải chịu thiệt thòi, phải chịu một số điều kiện bất lợi và sẽ phải trả sau này

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

Do vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng Xuất khẩutạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến quy mô tốc độ tăng trưởng của hoạt độngnhập khẩu Ở một số nước, một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng kémphát triển là do thiếu tiềm năng về vốn do đó nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, songmọi cơ hội đầu tư vay nợ và viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư vàngười cho vay thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu nguồn vốn duy nhất để trả nợthành hiện thực

- Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển

Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã vàđang thay đổi mạnh mẽ Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từnông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ

Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế:

Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa.

Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản chưa

đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bóhẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hộiphát triển

Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu Quan điểm này

tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất khẩu Nó thể hiện:

● Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển Điều này có thểthông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành khác như bông,kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển

● Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sảnxuất, tạo lợi thế nhờ quy mô

● Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, mởrộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia Nó cho phép một quốc gia có thể tiêudùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiều lần giới hạn khả năng sản xuấtcủa quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà họ không có khả năng sản xuất được.TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

● Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuấtcủa từng quốc gia Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển cả về chiều rộng

và chiều sâu Trong nền kinh tế hiện đại mang tính toàn cầu hoá như ngày nay, mỗiloại sản phẩm người ta nghiên cứu thử nghiệm ở nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứhai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và thanh toán thực hiện ở nước thứnăm Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mỗi quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia chothấy sự tác động ngược trở lại của chuyên môn hoá tới xuất khẩu

Với đặc điểm quan trọng là tiền tệ sản xuất sử dụng làm phương tiện thanh toán,xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia Đặc biệt với các nước đangphát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được nhờ xuất khẩuđóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về cung cấp ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua

đó góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế

- Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiệnđời sống nhân dân

Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông qua việcsản xuất hàng xuất khẩu Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêudùng đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của nhân dân

- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ kinh

tế đối ngoại

Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động qua lại,phụ thuộc lẫn nhau Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng cácmối quan hệ kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát triểnnhư du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế… ngược lại sự phát triển củacác ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt độngxuất khẩu phát triển

Có thể nói xuất khẩu nói riêng và hoạt động thương mại quốc tế nói chung sẽ dẫntới những sự thay đổi trong sinh hoạt tiêu dùng hàng hoá của nền kinh tế bằng hai cách:

● Cho phép khối lượng hàng tiêu dùng nhiều hơn với số hàng hoá được sản xuất ra

● Kéo theo sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất Tuynhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác động của xuất khẩuđối với các quốc gia khác nhau là khác nhau

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

1.1.1.4.3 Đối với doanh nghiệp

Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trườngquốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp Xuất khẩu

là một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạchbành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình

Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

do doanh nghiệp sản xuất ra Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh nghiệp không chỉđược các khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước ngoài

Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng caokhả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…phục vụ cho quá trình phát triển

Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ xuất nhập khẩucũng như các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khảnăng xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập

Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tácquản trị kinh doanh Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của chu kỳ sốngcủa một sản phẩm

Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham giaxuất khẩu trong và ngoài nước Đây là một trong những nguyên nhân buộc các doanhnghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, các doanhnghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm cácyếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm các nguồn lực

Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động tạo rathu nhập ổn định cho đời sống cán bộ, công nhân viên và tăng thêm lợi nhuận

Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buônbán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi

1.1.1.5 Nhiệm vụ của xuất khẩu

Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của xuất khẩu đó là xuất khẩu để thu về ngoại

tệ phục vụ cho công tác nhập khẩu Ngoài ra xuất khẩu còn tăng tích lũy vốn, mở rộngsản xuất tăng thu nhập cho nền kinh tế từ những ngoại tệ thu được từ đó đời sống nhândân ngày càng được cải thiện, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

Thông qua xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp nói riêng và cả nước nói chung

mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, khai thác hiệu quả lợi thếtuyệt đối và tương đối của đất nước từ đó kích thích các ngành kinh tế phát triển

1.1.1.7 Ý nghĩa của xuất khẩu

Xuất khẩu là hoạt động quốc tế của một doanh nghiệp, là chìa khóa mở ra cácgiao dịch quốc tế cho một quốc gia bằng cách sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánhtuyệt đối và tương đối của đất nước, thu về nhiều ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩunhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của người dân

Thông qua xuất khẩu hàng hóa các doanh nghiệp trong nước sẽ tham gia cạnhtranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng cuộc cạnh tranh này đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất để thích nghi hơnvới thị trường quốc tế Kết quả là các doanh nghiệp sẽ rút ra được nhiều kinh nghiệmcho bản thân để làm tăng lợi nhuận, nền kinh tế của quốc gia phát triển và quan hệkinh tế đối ngoại cũng được mở rộng

1.1.2 Nội dung chính của hoạt động xuất khẩu

1.1.2.1 Nghiên cứu tiếp cận thị trường và xác định mặt hàng xuất khẩu

1.1.2.1.1 Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới

Như chúng ta đã biết thị trường là nơi gặp gỡ của cung và cầu Mọi hoạt độngcủa nó đều diễn ra theo đúng quy luật như quy luật cung, cầu, giá cả, giá trị…

Thật vậy thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưuthông, ở đâu có sản xuất thì ở đó có thị trường

Để nắm rõ các yếu tố của thị trường, hiểu biết các quy luật vận động của thịtrường nhằm mục đích thích ứng kịp thời và làm chủ nó thì phải nghiên cứu thị trường.Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới có ý nghĩa quan trọng sống còn trong việcphát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế, đặc biệt là công tác xuất, nhập khẩu của mỗiquốc gia nói chung và doanh nghiệp nói riêng Nghiên cứu và nắm vững đặc điểm biếnđộng của thị trường và giá cả hàng hoá thế giới là nền móng vững chắc đảm bảo chocác tổ chức kinh doanh xuất khẩu hoạt động trên thị trường thế giới có hiệu quả nhất

Để công tác nghiên cứu thị trường có hiệu quả chúng ta cầm phải xem xét toàn

bộ quá trình tái sản xuất của một ngành sản xuất hàng hoá, tức là việc nghiên cứukhông chỉ trong lĩnh vực lưu thông mà còn ở lĩnh vực phân phối, tiêu dùng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

Nội dung chính của nghiên cứu thị trường là xem xét khả năng xâm nhập và mởrộng thị trường Nghiên cứu thị trường được thực hiện theo hai bước: nghiên cứu kháiquát và nghiên cứu chi tiết thị trường.

Nghiên cứu khái quát: Nghiên cứu khái quát thị trường cung cấp những thông tin

về quy mô cơ cấu, sự vận động của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trườngnhư môi trường kinh doanh, môi trường chính trị- luật pháp…

Nghiên cứu chi tiết: Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết những thông tin vềtập quán mua hàng, những thói quen và những ảnh hưởng đến hành vi mua hàng củangười tiêu dùng

1.1.2.1.2 Xác định mặt hàng xuất khẩu

Theo như quan điểm của Marketing đương thời thì các nhà kinh doanh phải báncái mà thị trường cần chứ không phải cái mình có Vì vậy cần phải nghiên cứu vềkhách hàng trên thị trường thế giới, nhận biết mặt hàng kinh doanh của công ty Trướctiên phải dựa vào nhu cầu tiêu dùng của khách hàng như quy cách, chủng loại, kích cỡ,giá cả, thời vụ và thị hiếu cũng như tập quán của người tiêu dùng từng địa phương,từng lĩnh vực sản xuất Từ đó xem xét các khía cạnh của hàng hoá trên thị trường thếgiới Về mặt thương phẩm phải hiểu rõ giá trị hàng hoá, công dụng, các đặc tính lýhoá, quy cách phẩm chất, mẫu mã bao gói Để hiểu rõ vấn đề này yêu cầu các nhà kinhdoanh phải nhạy bén, có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm để dự đoán các xuhướng biến động trong nhu cầu của khách hàng

Trong xu thế hiện nay, đòi hỏi việc nghiên cứu phải nắm bắt rõ mặt hàng mìnhlựa chọn, kinh doanh đang ở trong thời kỳ nào của chu kỳ sống của sản phẩm trên thịtrường Bởi vì chu kỳ sống của sản phẩm gắn liền với việc tiêu thụ hàng hoá đó trênthị trường, thông thường việc sản xuất gắn liền với việc xuất khẩu những mặt hàngđang ở giai đoạn thâm nhập, phát triển là có nhiều thuận lợi tốt nhất Tuy nhiên đối vớinhững sản phẩm đang ở giai đoạn bão hoà hoặc suy thoái mà công ty có những biệnpháp xúc tiến có hiệu quả thì vẫn có thể tiến hành kinh doanh xuất khẩu và thu đượclợi nhuận

Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng: Dung lượng thịtrường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất địnhTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

trong thời gian nhất định (thường là một năm) Việc nghiên cứu dung lượng thị trườngcần nắm vững khối lượng nhu cầu của khách hàng và lượng dự trữ, xu hướng biếnđộng của nhu cầu trong từng thời điểm Cùng với việc nắm vững nhu cầu của kháchhàng là phải nắm vững khả năng cung cấp của các đối thủ cạnh tranh và các mặt hàngthay thế, khả năng lựa chọn mua bán.

Dung lượng thị trường không phải là cố định, nó thường xuyên biến động theothời gian, không gian dưới sự tác động của nhiều yếu tố Căn cứ theo thời gian người

ta có thể chia các nhân tố ảnh hưởng thành ba nhóm sau:

● Các nhân tố có ảnh hưởng tới dung lượng thị trường có tính chất chu kỳ nhưtình hình kinh tế, thời vụ…

● Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến động của thị trường như phát minh,sáng chế khoa học, chính sách của nhà nước …

● Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời với dung lượng thị trường như đầu cơ tích trữ,hạn hán, thiên tai, đình công…

Khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố phải thấy được nhóm các nhân tốtác động chủ yếu trong từng thời kỳ và xu thế của thời kỳ tiếp theo để doanh nghiệp cóbiện pháp thích ứng cho phù hợp, kể cả kế hoạch đi tắt đón đầu

Nghiên cứu giá cả các loại hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng:

Trong thương mại giá trị giá cả hàng hoá được coi là tổng hợp đó được bao gồmgiá vốn của hàng hoá, bao bì, chi phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm và các chi phí kháctuỳ theo các bước thực hiện và theo sự thoả thuận giữa các bên tham gia Để có thể dựđoán một cách tương đối chính xác về giá cả của hàng hoá trên thị trường thế giới.Trước hết phải đánh giá một cách chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả và xuhướng vận động của giá cả hàng hoá đó

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới giá cả của hàng hoá trên thị trường quốc tế.Người ta có thể phân loại các nhân tố ảnh hưởng tới giá cả theo nhiều phương diệnkhác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nhu cầu Thông thường những nhà hoạt động chiếnlược thường phân chia thành nhóm các nhân tố sau:

● Nhân tố chu kỳ: là sự vận động có tính quy luật của nền kinh tế, đặc biệt là sựbiến động thăng trầm của nền kinh tế các nước

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

● Nhân tố lũng đoạn của các công ty xuyên quốc gia: Đây là một trong nhữngnhân tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành của giá cả của các loạihàng hoá trên thị trường quốc tế Lũng đoạn làm xuất hiện nhiều mức giá khác nhautrên thị trường cho một loại hàng hoá Lũng đoạn cạnh tranh bao gồm cạnh tranhgiữa người bán với nhau, người mua với người mua Trong thực tế cạnh tranh làmcho giá rẻ đi và chất lượng nâng cao.

● Nhân tố cung cầu: là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cungcấp hay lượng tiêu thụ của hàng hoá trên thị trường, do vậy có ảnh hưởng rất lớn đến

sự biến động của giá cả hàng hoá

● Nhân tố lạm phát: giá cả hàng hoá không những phụ thuộc vào giá trị của nó

mà còn phụ thuộc vào giá trị của tiền tệ Vậy cùng với các nhân tố khác sự xuất hiệncủa lạm phát làm cho đồng tiềm mất giá do vậy ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá củamột quốc gia trong trao đổi thương mại quốc tế

● Nhân tố thời vụ: là nhân tố tác động đến giá cả theo tính chất thời vụ của sảnxuất và lưu thông

Ngoài ra các chính sách của Chính phủ, tình hình an ninh, chính trị của các quốcgia… cũng tác động đến giá cả Do vậy việc nghiên cứu và tính toán một cách chínhxác giá cả của hợp đồng kinh doanh xuất khẩu là một công việc khó khăn đòi hỏi phảiđược xem xét trên nhiều khía cạnh, nhưng đó lại là một nhân tố quan trọng trong quyếtđịnh hiệu quả thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế

1.1.2.2 Lựa chọn đối tượng giao dịch

Căn cứ vào các kết quả của việc nghiên cứu dung lượng của thị trường, giá cảcông ty sẽ tiến hành lựa chọn phương thức giao dịch và thương nhân để tiến hành giaodịch Khi tiến hành giao dịch cần phải căn cứ vào lượng hàng nước đó cần nhập, chấtlượng hàng nhập, chính sách và tập quán thương mại của nước đó Ngoài ra điều kiện

về địa lý cũng là vấn đề cần quan tâm

Việc lựa chọn đối tượng để giao dịch cần phải dựa theo một số chỉ tiêu như sau:

- Tình hình sản xuất kinh doanh của hãng, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh

- Khả năng cung cấp hàng hoá thường xuyên của hãng

- Khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

- Thái độ và quan điểm kinh doanh là chiếm lĩnh thị trường hay cố gắng dành lấyđộc quyền về hàng hoá.

- Uy tín của bạn hàng

Trong việc lựa chọn thương nhân giao dịch tốt nhất nên gặp trực tiếp tránh nhữngđối tác trung gian, trừ trường hợp doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trường mớichưa có kinh nghiệm Việc lựa chọn các đối tác phù hợp là một trong những điều kiệncần để thực hiện thắng lợi các hợp đồng thương mại quốc tế Song nó phụ thuộc rấtnhiều vào năng lực của người làm công tác đàm phán, giao dịch

Nghiên cứu thị trường cung cấp hàng hoá xuất nhập khẩu (nguồn hàng xuất khẩu).Hợp đồng kinh doanh thương mại nói chung và kinh doanh xuất nhập khẩu nóiriêng thực tế là hành vi mua và bán Bán là quan trọng và khi bán được tức là kiếmđược tiền song trên thực tế mua lại là tiền đề ra và cơ sở cho hành vi kiếm tiền Dovậy, nghiên cứu về thị trường cung cấp hàng cho công ty để công ty lựa chọn đượcnguồn hàng phù hợp có ý nghĩa rất lớn

Dựa trên cơ sở nắm chắc nhu cầu của thị trường trên thế giới, các công ty tiếnhành nghiên cứu và xác định được các nguồn hàng để thoả mãn các nhu cầu đó Đốivới các công ty là các doanh nghiệp thương mại chuyên doanh XNK có thể kể đến cácnguồn hàng sau:

- Nguồn hàng tồn kho đầu kỳ ở công ty, xác định theo phương pháp ước tính

- Nguồn hàng thu gom không tập trung

- Nguồn hàng thu gom tập trung

Việc nghiên cứu về nguồn hàng không chỉ bó hẹp trong phạm vi về nguồn cung cấp

mà đòi hỏi phải xác định rõ về khả năng cung ứng của từng nguồn cụ thể như:

- Khối lượng hàng hoá mà mỗi nguồn có thể cung cấp

- Quy cách, chủng loại hay chất lượng của hàng hoá

- Thời điểm hàng hoá có thể thu mua

- Đơn giá ứng với từng loại hàng hoá và phương thức mua

- Đặc điểm kinh doanh của từng khách hàng

Khả năng cung cấp hàng được xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàngtiềm năng Nguồn hàng thực tế là nguồn hàng đã có và đang sẵn sàng đưa vào lưuthông Với nguồn hàng này doanh nghiệp chỉ cần đóng gói là có thể xuất khẩu được.TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

Nguồn hàng tiềm năng là nguồn hàng chưa xuất hiện, nó có thể có hoặc khôngxuất hiện trên thị trường Đối với các nguồn này đòi hỏi doanh nghiệp XNK phải cóđầu tư, có đặt hàng hợp đồng kinh tế thì người sản xuất mới tiến hành sản xuất Việcnghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu còn có mục đích xác định mặt hàng dự định kinhdoanh xuất khẩu có phù hợp và đáp ứng những nhu cầu của thị trường nước ngoài vềnhững chỉ tiêu như vệ sinh thực phẩm hay không, dựa trên cơ sở đó người XNK cónhững hướng dẫn cho người cung cấp điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của thị trườngnước ngoài.

Mặt khác nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu phải xác định được giá cả của hànghoá trong nước so với giá cả quốc tế như thế nào? Để từ đây có thể tính được doanhnghiệp sẽ thu được lợi nhuận là bao nhiêu từ đó đưa quyết định chiến lược kinh doanhcủa từng công ty

Ngoài ra, qua nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu biết được chính sách quản lý củanhà nước về mặt hàng đó như thế nào? Mặt hàng đó có được phép xuất khẩu không?

Có thuộc hạn ngạch xuất khẩu không? Có được nhà nước khuyến khích không?

Sau khi đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường hàng hoá thế giới ( thịtrường xuất khẩu và thị trường trong nước, thị trường nguồn hàng xuất khẩu) công tytiến hành đánh giá, xác định và lựa chọn mặt hàng kinh doanh xuất khẩu phù hợp vớinguồn lực và các điều kiện hiện có của công ty để tiến hành kinh doanh xuất nhậpkhẩu một cách có hiệu quả nhất

Lập phương án kinh doanh:

Trên cơ sở những kết quả thu lượm trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thịtrường, đơn vị kinh doanh lập phương án kinh doanh Phương án này là kế hoạch hoạtđộng của đơn vị nhằm đạt đến những mục tiêu xác định trong kinh doanh

Việc xây dựng phương án kinh doanh bao gồm các bước sau:

 Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân

Trong bước này, người xây dựng chiến lược cần rút ra những nét tổng quát vềtình hình, phân tích thuận lợi và khó khăn trong kinh doanh

 Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh

 Đề ra mục tiêu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

Những mục tiêu đề ra trong một phương án kinh doanh bao giờ cũng là một mụctiêu cụ thể như: sẽ bán được bao nhiêu hàng hoá, với giá cả bao nhiêu, sẽ thâm nhậpvào thị trường nào…

 Đề ra biện pháp thực hiện

Những biện pháp này là công cụ để đạt được mục tiêu đề ra Những biện phápnày bao gồm cả biện pháp trong nước và ngoài nước, trong nước như: đầu tư vào sảnxuất, cải tiến bao bì, ký hợp đồng kinh tế, tăng giá thu mua…

Những biện pháp ngoài nước như: Đẩy mạnh quảng cáo, lập chi nhánh ở nướcngoài, mở rộng mạng lưới đại lý

 Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh

Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh được thông qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

- Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu hoặc hàng nhập khẩu

- Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn

- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận

 Hỏi giá (Inquiry)

Đây có thể coi là lời thỉnh cầu bước vào giao dịch Nhưng xét về phương diệnthương mại thì đây là việc người mua đề nghị người bán cho mình biết giá cả và cácđiều kiện để mua hàng

Nội dung của một hỏi giá có thể gồm: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng,thời gian giao hàng mong muốn Giá cả mà người mua hàng có thể trả cho mặt hàng

đó thường được người mua giữ kín, nhưng để tránh mất thời gian hỏi đi hỏi lại, ngườiTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

mua nêu rõ những điều kiện mà mình mong muốn để làm cơ sở cho việc quy định giá:loại tiền, thể thức thanh toán, điều kiện cơ sở giao hàng.

 Chào hàng (Offer)

Đây là lời đề nghị ký kết hợp đồng như vậy phát giá có thể do người bán hoặcngười mua đưa ra Nhưng trong buôn bán khi phát giá chào hàng, là việc người xuấtkhẩu thể hiện rõ ý định bán hàng của mình

Trong chào hàng ta nêu rõ: tên hàng, quy cách, phẩm chất, giá cả số lượng, điềukiện cơ sở giao hàng, thời hạn mua hàng, điều kiện thanh toán bao bì ký mã hiệu, thểthức giao nhận… trong trường hợp hai bên đã có quan hệ mua bán với nhau hoặc điềukiện chung giao hàng điều chỉnh thì giá chào hàng có khi chỉ nêu những nội dung cầnthiết cho lần giao dịch đó như tên hàng Những điều kiện còn lại sẽ áp dụng những hợpđồng đã ký trước đó hoặc theo điều kiện chung giao hàng giữa hai bên

Trong thương mại quốc tế người ta phân biệt hai loại chào hàng chính: Chàohàng cố định (Firm offer) và chào hàng tự do (Free offer)

 Đặt hàng (Oder)

Đây là lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua được đưa ra dướihình thức đặt hàng Trong đặt hàng người mua nêu cụ thể về hàng hoá định mua và tất

cả những nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng

Thực tế người ta chỉ đặt hàng với các khách hàng có quan hệ thường xuyên Bởivậy, ta thường gặp những đặt hàng chỉ nêu: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng,thời hạn giao hàng và một vài điều kiện riêng biệt đối với lần đặt hàng đó Về nhữngđiều kiện khác, hai bên áp dụng điều kiện chung về thoả thuận với nhau hoặc theonhững điều kiện của hợp đồng ký kết trong lần trước

 Hoàn giá (Counter-offer)

Khi nhận được chào hàng (hoặc đặt hàng) nếu không chấp nhận hoàn toàn giáchào hàng (đặt hàng) đó mà đưa ra một đề nghị mới thì đề nghị mới này là hoàn giá,chào hàng trước coi như huỷ bỏ trong thực tế, một lần giao dịch thường trải qua nhiềulần hoàn giá mới đi đến kết thúc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

 Chấp nhận giá (Acceptance)

Chấp nhận là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của chào hàng (hoặc đặthàng) mà phía bên kia đưa ra khi đó hợp đồng được thành lập Một chấp thuận có hiệulực về mặt pháp luật, cần phải đảm bảo những điều kiện dưới đây:

- Phải được chính người nhận giá chấp nhận

- Phải đồng ý hoàn toàn về điều kiện với mọi nội dung của chào hàng

- Chấp nhận phải được truyền đạt đến người phát ra đề nghị

 Xác nhận (Confirmation)

Hai bên mua bán sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau về các điều kiện giaodịch, có khi cẩn thận ghi lại mọi điều đã thoả thuận gửi cho bên kia, đó là văn kiện xácnhận Văn kiện do bên bán gửi thường gọi là nhận bán hàng do bên mua gửi và giấyxác nhận mua hàng Xác nhận thường được lập thành 2 bản, bên xác nhận ký trước rồigửi cho bên kia Bên kia ký xong giữ lại một bản rồi gửi trả lại một bản

Các bước giao dịch của hoạt động thương mại quốc tế có thể tóm tắt sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Các bước giao dịch của hoạt động thương mại quốc tế

Các hình thức đàm phán:

 Đàm phán giao dịch qua thư tín

Ngày nay đàm phán thông qua thư tín và điện tín vẫn còn là môt hình thức chủyếu để giao dịch giữa các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Những cuộc tiếp xúc banđầu thường qua thư từ Ngay cả sau này khi hai bên đã có điều kiện gặp gỡ trực tiếp thìviệc duy trì quan hệ cũng phải qua thư từ thương mại

So với việc gặp thì giao dịch qua thư tín tiết kiệm được nhiều chi phí Trong cùngmột lúc có thể giao dịch với nhiều khách hàng ở nhiều nước khác nhau Người viết thư

có điều kiện để cân nhắc suy nghĩ tranh thủ ý kiến nhiều người và có thể khéo léo dấukín ý định thực sự của mình

Chấp nhậnXác nhận

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

Những việc giao dịch qua thư tín thường đòi hỏi nhiều thời gian chờ đợi, có thể

cơ hội mua bán sẽ trôi qua Tuy nhiên với sự phát triển của mạng Internet như hiện naythì nhược điểm này đã được khắc phục phần nào Với đối phương khéo léo già dặn thìviệc phán đoán ý đồ của họ qua lời lẽ trong thư là một việc rất khó khăn

 Giao dịch đàm phán qua điện thoại

Việc đàm phán qua điện thoại nhanh chóng, giúp các nhà kinh doanh tiến hànhđàm phán một cách khẩn trương đúng vào thời điểm cần thiết Nhưng phí tổn điệnthoại giữa các nước rất cao, do vậy các cuộc đàm phán bằng điện thoại thường bị hạnchế về mặt thời gian, các bên không thể trình bày chi tiết, mặt khác trao đổi qua điệnthoại là trao đổi bằng miệng không có gì làm bằng chứng những thoả thuận, quyết địnhtrao đổi Bởi vậy điện thoại chỉ được dùng trong những trường hợp cần thiết, thật khẩntrương sợ lỡ thời cơ, hoặc trường hợp mà mọi điều kiện đã thoả thuận song chỉ cần chờxác định nhận một vài chi tiết Khi phải sử dụng điện thoại, cần chuẩn bị thật chu đáo

để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu lên một cách chính xác Sau khi trao đổibằng điện thoại cần có thư xác định nội dung đã đàm phán, thoả thuận

 Giao dịch đàm phán bằng cách gặp trực tiếp

Việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi về mọi điều kiện giao dịch, về mọivấn đề liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán là hình thức đàmphán đặt biệt quan trọng Hình thức này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữahai bên và nhiều khi là lối thoát cho những đàm phán bằng thư tín hoặc điện thoại đãkéo dài quá lâu mà không có kết quả

Hình thức này thường được sử dụng khi có nhiều điều kiện phải giải thích cặn kẽ

để thuyết phục nhau hoặc về những hợp đồng lớn, phức tạp

1.1.2.3.2 Ký kết hợp đồng xuất khẩu

Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng xuấtkhẩu Hợp đồng xuất khẩu thường được thành lập dưới hình thức văn bản Ở nước ta,hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các đơn vị xuất khẩu Đây là hìnhthức tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của cả hai bên Ngoài ra nó còn tạo thuận lợi chothống kê, theo dõi, kiểm tra việc ký kết và thực hiện hợp đồng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

Khi ký kết hợp đồng, các bên cần chú ý một số quan điểm sau:

 Cần có sự thoả thuận thống nhất với nhau tất cả mọi điều khoản cần thiết trướckhi ký kết

 Mọi điều kiện cần rõ ràng tránh tình trạng mập mờ, có thể suy luận ra nhiều cách

 Mọi điều khoản của hợp đồng phải đúng với luật lệ của hai quốc gia và thông

lệ quốc tế

 Ngôn ngữ của hợp đồng là ngôn ngữ hai bên cùng chọn và thông hiểu

Một hợp đồng xuất khẩu thường gồm những phần sau:

 Số hợp đồng

 Ngày và nơi ký hợp đồng

 Tên và địa chỉ của các bên ký kết

Các điều khoản của hợp đồng như:

 Tên hàng, quy cách phẩm chất, số lượng, bao bì, ký mã hiệu

 Giá cả, đơn giá, tổng giá

 Thời hạn và địa điểm giao hàng, điều kiện giao nhận

 Điều kiện thanh toán

Điều kiện khiếu nại, trọng tài

 Điều kiện bất khả kháng

 Chữ ký của hai bên

Với những hợp đồng phức tạp nhiều mặt hàng thì có thêm các phục lục là những

bộ phận không thể tách rời cuả hợp đồng

1.1.2.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu

Sơ đồ 1.2: Các bước tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu

Xin giấy phép Kiểm tra chất

lượng

Giao hàng

Mua bảo hiểm

Làm thủ tục hảiquan

Thủ tụcthanh toán

Giải quyếttranh chấp

Kiểm trahàng hóa

Thủ tụcChuẩn bị

hàng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

Tuỳ thuộc vào từng hoạt đồng xuất khẩu mà cán bộ xuất khẩu phải thực hiện cácnghiệp vụ khác nhau, trình tự các nghiệp vụ cũng không cố định.

1.1.3 Khái niệm của thị trường xuất khẩu và vai trò phân tích thị trường xuất khẩu

1.1.3.1 Khái niệm thị trường xuất khẩu

Thị trường xuất khẩu (hay còn gọi là thị trường thế giới) là tập hợp những khách hàngtiềm năng của một công ty hay một doanh nghiệp ở nước ngoài (khác nước xuất khẩu)

1.1.3.2 Vai trò của phân tích thị trường xuất khẩu

Trong tình hình cạnh tranh hiện nay, nghiên cứu và phân tích đúng đắn tình hìnhthị trường là một yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Đó là một quá trìnhthu thập tài liệu và các thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời về thị trường, so sánh vàphân tích các thông tin đó để rút ra kết luận về xu hướng biến động của thị trường tạo

cơ sở để xây dựng các chiến lược phù hợp Các doanh nghiệp thông qua phân tích thịtrường để tìm cách giải quyết các vấn đề:

 Phải sản xuất loại hàng gì?

 Số lượng bao nhiêu?

 Mẫu mã, kiểu cách, chất lượng như thế nào ?

 Xác định nước nào là thị trường có triển vọng nhất cho việc xuất khẩu hànghóa của doanh nghiệp hoặc đáp ứng nhu cầu nhập khẩu như thế nào và khả năng mua

là bao nhiêu ?

 Xác định mức cạnh tranh trên thị trường hiện tại và tương lai, điểm mạnh,điểm yếu của đối thủ cạnh tranh ?

 Cần áp dụng những phương thức mua bán nào cho phù hợp với thị trường ?

 Tiến hành rút ra sự vận động của thị trường, dự báo dung lượng của thị trường,mức biến động của giá cả, trên cơ sở đó có thể đề ra các chiến lược phù hợp

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu

Bất kỳ một hoạt động thương mại nào cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của môitrường kinh doanh Môi trường kinh doanh có thể tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạtđộng xuất khẩu của doanh nghiệp song cũng có thể tạo ra những khó khăn, kìm hãm

sự phát triển của hoạt động này

Đối với hoạt động xuất khẩu - một trong những hoạt động quan trọng của thươngmại thì ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến hoạt động này càng trở nên mạnhTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

mẽ bởi trong thương mại quốc tế các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh rất phongphú và phức tạp Ta có thể phân chia các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh tácđộng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thành các nhóm sau:

1.1.4.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

 Nhân tố chính trị – luật pháp

Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu được tiến hành thông qua các chủ thể ở haihay nhiều môi trường chính trị - pháp luật khác nhau, thông lệ về thị trường cũng khácnhau Tất cả các đơn vị tham gia vào thương mại quốc tế đều phải tuân thủ luật thươngmại trong nước và quốc tế Tuân thủ các chính sách, quy định của nhà nước về thươngmại trong nước và quốc tế :

- Các quy định về khuyến khích, hạn chế hay cấm xuất khẩu một số mặt hàng

- Các quy định về thuế quan xuất khẩu

- Các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi tham gia vào hoạtđộng xuất khẩu

- Phải tuân thủ pháp luật của nhà nước đề ra, các hoạt động kinh doanh khôngđược đi trái với đường lối phát triển của đất nước

 Các nhân tố kinh tế – xã hội.

Sự tăng trưởng của kinh tế của đất nước Sản xuất trong nước phát triển sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho việc sản xuất hàng xuất khẩu, làm tăng khả năng cạnh tranhcủa hàng xuất khẩu về mẫu mã, chất lượng, chủng loại trên thị trường thế giới Nềnkinh tế của một quốc gia càng phát triển thì sức cạnh tranh về hàng xuất khẩu của nước

đó trên thị trường thế giới sẽ không ngừng được cải thiện

Sự phát triển của hoạt động thương mại trong nước cũng góp phần hạn chế hay kíchthích xuất khẩu, bởi nó quyết định sự chu chuyển hàng hoá trong nội địa và thế giới

Sự biến động của nền kinh tế thế giới sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường hàng hoátrong nước và thế giới, do vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu

Hệ thống tài chính, ngân hàng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuấtkhẩu Hoạt động xuất khẩu liên quan mật thiết với vấn đề thanh toán quốc tế, thôngqua hệ thống ngân hàng giữa các quốc gia Hệ thống ngân hàng càng phát triển thì việcthanh toán diễn ra càng thuận lợi, nhanh chóng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cácđơn vị tham gia kinh doanh xuất khẩu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

Trong thanh toán quốc tế thường sử dụng đồng tiền của các nước khác nhau, dovây tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu Nếu tỷ giá hối đoáilớn hơn tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu thì doanh nghiệp có thể thực hiện hoạt động xuấtkhẩu Ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái mà nhỏ hơn tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu thì doanhnghiệp không nên xuất khẩu Để biết được tỷ giá hối đoái, doanh nghiệp phải hiểuđược cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái hiện hành của nhà nước và theo dõi biến độngcủa nó từng ngày.

Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu.Hoạt động xuất khẩu không thể tách rời hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin liênlạc, vận tải, từ khâu nghiên cứu thị trường đến khâu thực hiện hợp đồng, vận chuyểnhàng hoá và thanh toán Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợicho việc xuất khẩu và góp phần hạ thấp chi phí cho đơn vị kinh doanh xuất khẩu

Ngoài ra, sự hoà nhập và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, sự thamgia vào các tổ chức thương mại như: AFTA, APEC, WTO sẽ có ảnh hưởng rất lớnđến hoạt động xuất khẩu

1.1.4.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Đây là nhân tố thuộc về doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm soát và điềuchỉnh nó theo hướng tích cực nhằm phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của mình Có thể

kể đến các nhân tố sau:

 Cơ chế tổ chức quản lý công ty

Nếu cơ chế tổ chức bộ máy hợp lý sẽ giúp cho các nhà quản lý sử dụng tốt hơnnguồn lực của công ty, sẽ nâng cao được hiệu quả kinh doanh của công ty Còn nếu bộmáy cồng kềnh, sẽ lãng phí các nguồn lực của công ty và hạn chế hiệu quả kinh doanhcủa công ty

+ Ban lãnh đạo doanh nghiệp: là bộ phận đầu não của doanh nghiệp là nơi xâydựng những chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp đề ra mục tiêu đồng thời giámsát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra Trình độ quản lý kinh doanh của banlãnh đạo có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Một chiếnlược doanh nghiệp đúng đắn phù hợp với tình hình thực tế của thị trường và của doanhnghiệp và chỉ đạo điều hành giỏi của các cán bộ doanh nghiệp sẽ là cơ sở để doanhnghiệp thực hiện có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

+ Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Cơ cấu tổ chức đúng đắn sẽ phát huyđược trí tuệ của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp phát huy tinh thần đoàn kết

và sức mạnh tập thể, đồng thời vẫn đảm bảo cho việc ra quyết định sản xuất kinhdoanh được nhanh chóng và chính xác Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo điều kiện thuậnlợi trong việc phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh đối phó được với những biếnđổi của môi trường kinh doanh và nắm bắt kịp thời các cơ hội một cách nhanh nhất,hiệu quả nhất

+ Đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh xuất khẩu: Đóng vai trò quyết định đến

sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thương trường

Hoạt động xuất khẩu chỉ có thể tiến hành khi có sự nghiên cứu tỷ mỹ về thịtrường hàng hoá, dịch vụ, về các đối tác các đối thủ cạnh tranh, về phương thức giaodịch, đàm phán và ký kết hợp đồng Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải có đội ngũcán bộ kinh doanh am hiểu thị trường quốc tế có khả năng phân tích và dự báo những

xu hướng vận động của thị trường, khả năng giao dịch đàm phán đồng thời thông thạocác thủ tục xuất nhập khẩu, các công việc tiến hành cũng trở nên rất cần thiết

 Khả năng tài chính

Khả năng tài chính là một trong những nhân tố quyết định sức mạnh của doanhnghiệp trong thời đại ngày nay Nếu có tiềm lực tài chính mạnh, doanh nghiệp sẽ cóthể đầu tư đổi mới công nghệ, thu hút lao động có chất lượng cao, mở rộng quy môhoạt động

Năng lực tài chính của doanh nghiệp: thể hiện ở vốn kinh doanh của doanhnghiệp, lượng tiền mặt, ngoại tệ, cơ cấu vốn Những nhân tố này doanh nghiệp có thểtác động để tạo thế cân bằng và phát triển Doanh nghiệp cũng phải có một cơ cấu vốnhợp lý nhằm phục vụ tốt cho hoạt động xuất khẩu Nếu như cơ cấu vốn không hợp lývốn quá nhiều mà không có lao động hoặc ngược lại lao động nhiều mà không có vốnthì doanh nghiệp sẽ không phát triển được hoặc phát triển mất cân đối Vốn là mộtnhân tố quan trọng trong hàm sản xuất và nó quyết định tốc độ tăng sản lượng

 Vị trí địa lý

Nếu được bố trí ở gần nơi cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuấtkinh doanh hoặc vùng gần nhà ga cảng biển, doanh nghiệp sẽ giảm được chi phíTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

vận chuyển - đây là cơ sở để doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năngcạnh tranh trên thị trường Đặc biệt, với ưu thế về khoảng cách địa lý nhà cung ứngyếu tố đầu vào, doanh nghiệp có thể thường xuyên xuống cơ sở sản xuất tạo lậpmối quan hệ nhằm xây dựng chân hàng vững chắc phục vụ hoạt động xuất khẩu.Như vậy, để hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả doanh nghiệp cần lựa chọn vị thế tối

ưu phù hợp với khả năng và điều kiện của mình

 Uy tín của doanh nghiệp.

Uy tín của doanh nghiệp chính là tình cảm, là sự tin tưởng mà khách hàngdành cho doanh nghiệp Khi doanh nghiệp đã có uy tín cao, đối với khách hàng nhiềukhi họ mua hàng dựa trên uy tín của doanh nghiệp chứ không hoàn toàn dựa trên chấtlượng hàng của doanh nghiệp Vì vây, uy tín cũng quyết định đến vị thế của doanhnghiệp trên thị trường

Như vậy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu theo chiều hướng khácnhau, tốc độ và thời gian khác nhau, tạo nên một môi trường xuất khẩu phức tạp đốivới doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt, những thay đổi này

để có những phản ứng kịp thời, tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra khi tiến hành hoạt độngxuất khẩu của doanh nghiệp

1.1.5 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu trong hoạt động phân tích kinh tế,đây là phương pháp dùng để xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa vào việc sosánh với một chỉ tiêu cơ sở hay còn gọi là chỉ tiêu gốc

Nguyên tắc so sánh

 Chỉ tiêu so sánh:

- Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh

- Tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua

- Chỉ tiêu của doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành

Ngày đăng: 19/10/2016, 17:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Các bước giao dịch của hoạt động thương mại quốc tế - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Sơ đồ 1.1 Các bước giao dịch của hoạt động thương mại quốc tế (Trang 33)
Sơ đồ 1.2: Các bước tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Sơ đồ 1.2 Các bước tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu (Trang 35)
2.1.4. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
2.1.4. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế (Trang 48)
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế (Trang 51)
Bảng 2.1: Tình hình lao động của Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn năm 2012 - 2014 - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Bảng 2.1 Tình hình lao động của Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn năm 2012 - 2014 (Trang 53)
Bảng 2.2: Tình hình nguồn vốn của công ty giai đoạn năm 2012 - 2014 - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Bảng 2.2 Tình hình nguồn vốn của công ty giai đoạn năm 2012 - 2014 (Trang 55)
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động hoạt động kinh doanh  của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế (2011 – 2014) - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế (2011 – 2014) (Trang 58)
Bảng 2.4:  Tình hình tổng doanh thu của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2014 - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Bảng 2.4 Tình hình tổng doanh thu của công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011-2014 (Trang 61)
Bảng 2.6: Giá trị xuất khẩu theo cơ cấu mặt hàng của công ty Cổ phần chế - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Bảng 2.6 Giá trị xuất khẩu theo cơ cấu mặt hàng của công ty Cổ phần chế (Trang 73)
Bảng 2.7: Giá trị xuất khẩu theo từng mặt hàng của công ty tại các - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Bảng 2.7 Giá trị xuất khẩu theo từng mặt hàng của công ty tại các (Trang 75)
Bảng 2.8: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty Cổ phần chế biến gỗ - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Bảng 2.8 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty Cổ phần chế biến gỗ (Trang 77)
Bảng 2.9 : Kim ngạch xuất khẩu theo hình thức trực tiếp tại của công ty vào thị - Phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của công ty cổ phần chế biến gỗ thừa thiên huế
Bảng 2.9 Kim ngạch xuất khẩu theo hình thức trực tiếp tại của công ty vào thị (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w