1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai du thi tim hieu 750 nam thien truong

11 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 26,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng đồng bằng sông Hồng trở thành trọng điểm kinh tế đồng bằng Bắc Bộ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 109 về xây dựng Thành phố Nam Định trở thành trung tâm kinh tế, vă[r]

Trang 1

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU 750 NĂM THIÊN TRƯỜNG – NAM ĐỊNH

Họ và tên: Vũ Ngọc Ánh

Sinh ngày : 06 Tháng 03 Năm 1976

Giới tính : Nam

Nghề nghiệp : Giáo viên Tiểu học

Đơn vị công tác: Trường tiểu học Lê Lợi

Số điện thoại : 03503987093

TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ

“750 NĂM THIÊN TRƯỜNG - NAM ĐỊNH”

Câu 1: Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào? Thời gian tồn tại của nhà Trần,

kể tên các vua đời Trần?

1.1 Hoàn cảnh ra đời của triều Trần:

- Bối cảnh chính trị xã hội cuối thời Lý: Kể từ thời Vua Lý Huệ Tông xã hội rối loạn, nhân dân thiếu lòng tin với triều đình Lý Huệ Tông là người yếu đuối, không quan tâm đến việc triều chính

- Sự lớn mạnh của họ Trần, từng bước nắm giữ các vị trí, trọng trách trong triều đình nhà Lý: Trong triều đình nhà Lý có một số chức quan do người dòng họ Trần nắm giữ, khi nhà Lý có những rối loạn thì uy thế của họ Trần ngày càng tăng lên nhất là thời vua Lý Huệ Tông Khi nhà Lý suy yếu người đứng đầu họ Trần lúc đó là Trần Cảnh nhưng người có công chính cho sự ra đời của nhà Trần

là Trần Thủ Độ

- Vai trò của Trần Thủ Độ và sự chuyển giao quyền lực giữa triều Lý sang triều Trần: Là người có

cơ mưu, quyết đoán Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh và cắt tóc đi tu Liền sau đó Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng(7 tuổi) kết duyên cùng con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh (8 tuổi) Một năm sau vào tháng 12 âm lịch năm 1225 Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị

Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) còn nhỏ nên mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là nhiếp chính Trần Thừa

Đây là triều đại có võ công hiển hách trong lịch sử phong kiến Việt Nam với ba lần đánh bại các cuộc xâm lược của người Mông Cổ Dưới triều Trần, lực lượng quân đội được chú trọng phát triển

đủ sức đánh dẹp các cuộc nội loạn và đương đầu với quân đội các nước lân bang, triều Trần cũng đã sản sinh nhiều nhân vật xuất chúng, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự

1.2 Thời gian tồn tại của nhà Trần :

- Triều Trần tồn tại từ năm 1225 – 1400

- Có 13 đời

- Tên vị vua, niên hiệu, năm lên ngôi các vua nhà Trần cụ thể như sau:

Miếu hiệu Niên hiệu Tên vua Trị vì

Thái Tông Kiến Trung(1226- 1232

Thiên Ứng Chính Bình( 1232 – 1251) Nguyên Phong(1251-1258)

Trần Cảnh 1226-1258

Thánh Tông Thiệu Long(1258- 1272)

Bảo Phù(1273 -1278)

Trần Hoàng 1258-1278

Nhân Tông Thiệu Bảo(1278-1285)

Trùng Hưng(1285 – 1293)

Trần Khâm 1278 - 1293

Trang 2

Anh Tông Hưng Long Trần Thuyên 1293- 1314

Minh Tông Đại Khánh(1314 – 1323)

Khai Thái(1324 – 1329)

Trần Mạnh 1314 -1329

Hiến Tông Khai Hựu Trần Vượng 1329 - 1341

Dụ Tông Thiệu Phong(1341 – 1357)

Đại Trị (1358 – 1369)

Trần Hạo 1341 – 1369

Hôn Đức Công Đại Định

Nghệ Tông Thiệu Khánh Trần Phủ 1370 – 1372

Duệ Tông Long Khánh Trần Kính 1373 - 1377

Phế Đế Xương Phù Trần Hiện 1377 – 1388

Thuận Tông Quang Thái Trần Ngung 1388 – 1398

Thiếu Đế Kiến Tân Trần An 1398 - 1400

Câu 2: Sự ra đời của địa danh phủ Thiên Trường? Vai trò, vị thế của “Hành cung Thiên

Trường” trong quốc gia Đại Việt thế kỷ XIII-XIV

2.1 Sự ra đời của danh phủ Thiên Trường:

Khi nhà Trần thay thế nhà Lý cai quản đất nước, trung tâm quyền lực quốc gia, nơi tập trung cao nhất các cơ quan đầu não của đất nước vẫn là Thăng Long Nhà Trần xác định chế độ Thượng hoàng Các vua Trần khi đã nhường ngôi cho con, vẫn nắm quyền điều hành đất nước, hướng dẫn, chỉ đạo vua nối nghiệp quản lý đất nước trên mọi phương diện Ngô Sỹ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Gia pháp nhà Trần… con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hoàng, cùng trông coi chính sự Thực ra chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi thảng thốt mà thôi, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng định đoạt cả… Vua nối ngôi không khác gì Hoàng Thái tử" Thời gian đầu, Tức Mặc đơn thuần chỉ là quê cha, đất Tổ, chỉ có hành cung và Tiên miếu

để vua về làm lễ hằng năm Mười bốn năm sau (năm 1239), vua Trần Thái Tông, lúc đó đã 22 tuổi

"… nghĩ đến Tức Mặc là nơi làng cũ của mình, nên hạ lệnh cho Phùng Tá Chu làm Nhập nội Thái phó, dựng hành cung ở đây để thường thời đến chơi" Thiên Trường bắt đầu được đầu tư xây dựng theo quy mô của bậc đế vương

” Theo quy định của nhà Trần, người được cử làm An Phủ sứ phủ Thiên Trường phải là những viên quan đã từng kinh qua An Phủ sứ cấp lộ, sau đó mới được khảo duyệt xem có đủ tài đức mới được

bổ nhiệm Nguyễn Trãi chép trong “Dư địa chí”: Phủ Thiên Trường có 4 huyện: Giao Thuỷ (có 79

xã, 33 trang), Nam Chân (có 109 xã, 6 thôn), Mỹ Lộc (có 51 xã) và Thượng Nguyên (có 78 xã) Như vậy, phủ Thiên Trường khá rộng và hành cung Tức Mặc - Thiên Trường là thủ phủ Nhà vua cho xây dựng cung Trùng Quang, làm nơi dành riêng cho các Thượng hoàng về ở sau khi nhường ngôi cho con Bên cạnh cung Trùng Quang lại cho dựng cung Trùng Hoa làm nơi dành riêng cho nhà vua ngự mỗi khi về thăm, yết kiến Thượng hoàng Chùa Phổ Minh được xây dựng từ thời nhà Lý, được trùng

tu lại cho tương xứng với quần thể kiến trúc mới, có một thời từng là trung tâm Phật giáo ở nước ta Chùa xây theo kiểu nội công ngoại quốc Tháp Phổ Minh được xây dựng vào đầu thế kỷ XII cao 14 tầng, tầng trệt bằng đá xanh, hình một cỗ kiệu, 13 tầng trên xây bằng gạch đỏ, được nung bằng cỏ, rắn chắc và bóng giống như sành sứ, rêu không bám được, chịu mưa nắng Tháp Phổ Minh là nơi đặt một phần xá lỵ của Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông Hành cung Thiên Trường từ đó xuất hiện những công trình kiến trúc có quy mô vương giả: Ở nội cung, có hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa;

Trang 3

ngoại cung có các cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, xung quanh xây dựng các phủ đệ, dành cho các vương phi, quan lại, sắc dịch thuộc bộ máy giúp việc Thượng hoàng

2.2 Vai trò , vị thế của danh phủ Thiên Trường:

Năm 1010, sau một năm lên ngôi, Vua Lý Thái Tổ quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La, đổi tên thành Thăng Long, chính thức đặt nền móng cho kinh đô nước Việt

và Thủ đô Hà Nội ngày nay Khác với nhà Lý, nhà Trần, sau 37 năm hoàn thành sự nghiệp tạo lập vương triều, đến năm 1262 mới nâng cấp phủ riêng ở quê hương - nơi dấy nghiệp Tức Mặc - Thiên Trường thành hành cung Thiên Trường để “Từ đó về sau, các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này

Do đó, đặt sắc dịch hai cung để hầu hạ, lại đặt quan lưu phủ để trông coi” (Đại Việt sử ký toàn thư) Hành cung Thiên Trường được xây dựng và hoạt động như một kinh đô thứ hai, có tầm quan trọng

cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội trong mối quan hệ với kinh thành Thăng Long Với tầm nhìn chiến lược của các Thượng hoàng nhà Trần, Thiên Trường được xây dựng trở thành một trung tâm chính trị, quyền lực thứ hai, là căn cứ, hậu phương chiến lược bảo vệ kinh thành Thăng Long Ngoài ra còn có một căn cứ an toàn, làm hậu thuẫn cho hành cung Thiên Trường được chọn xây dựng chính là vùng rừng núi Vũ Lâm, thuộc phủ Trường Yên (Hoa Lư - Ninh Bình) Hệ thống căn cứ liên hoàn dựa vào nhau giữa hai hành cung Thiên Trường và Vũ Lâm đều có đường thủy nối liền với sông Đáy khi cần thiết có thể thoát ra biển dễ dàng, làm thế ỷ dốc, làm hậu phương cho Thăng Long khi có biến Thực tế, Thiên Trường và Vũ Lâm đã trở thành hậu cứ quan trọng cho hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) Thiên Trường và vùng Nam đồng bằng Bắc Bộ xưa là vựa lúa của đất nước Đất đai phì nhiêu, thực phẩm nông sản phong phú, xóm làng trù mật, dân cư đông đúc, bảo đảm cung cấp lương thảo cho hành cung Thiên Trường, cung cấp sức người sức của cho đất nước khi chiến tranh xảy ra Thời Trần cũng xác lập chế

độ điền trang thái ấp Những điền trang thái ấp do các vương hầu quý tộc cai quản, đều là những tướng lĩnh xuất chúng trong các cuộc kháng chiến Nơi đây vừa là cơ sở sản xuất kinh tế đảm bảo hậu cần cho chiến trường, vừa là những cứ điểm chiến đấu đầy uy lực cả phòng thủ lẫn tấn công Thiên Trường là vùng đất xung yếu, điểm then chốt trong chiến lược bảo vệ đất nước thời Trần, là đất trú chân của triều đình, quân đội và một bộ phận nhân dân khi rút lui chiến lược khỏi kinh thành Thăng Long

Phủ Thiên Trường nằm ở ngã ba sông Vỵ Hoàng, Ninh Giang Cận kề Thiên Trường; về giao thông đường bộ thì nằm cạnh đường Thiên lý (đường cái quan từ phủ Thiên Trường lên Thăng Long); về đường thủy từ đây có thể theo đường sông Ninh Giang vào sông Châu Giang ra sông Hồng lên kinh đô Thăng Long, lại có thể theo sông Vỵ Hoàng, sông Đáy vào sông Vân đến Trường Yên, theo sông Vĩnh vào cung Trùng Quang, nơi Thượng hoàng ngự Thiên Trường - Thăng Long là hai trung tâm quyền lực cùng quản lý và điều hành đất nước Chúng ta đều biết nhà Trần thiết lập thể chế chính trị “hai vua”, sau khi nhường ngôi về nghỉ ngơi nhưng chỉ trên danh nghĩa, các Thượng hoàng vẫn tham gia điều hành đất nước: “Gia pháp nhà Trần thì khác… con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hoàng, cùng trông coi chính sự … mọi việc đều do Thượng hoàng định đoạt cả Vua nối ngôi không khác gì Hoàng Thái tử” Thiên Trường còn là nơi đào tạo quan lại cho triều đình Để trở thành người đứng đầu kinh thành phải qua ba bước thử thách trong thực tiễn cả về năng lực và tư cách: đứng đầu một lộ địa phương bình thường, tiếp đó đứng đầu phủ Thiên Trường, rồi về làm Thẩm hình viện (cơ quan triều đình trung ương) Tất cả các vị trí này đều phải hoàn thành xuất sắc thì mới được bổ nhiệm người đứng đầu kinh thành Thăng Long Việc học hành, thi cử ở đất Thiên Trường vì thế cũng đặc biệt phát triển Năm 1281 nhà Trần lập nhà học

ở phủ Thiên Trường “định rõ 7 năm 1 khóa, đặt ra Tam khôi, điều lệ mỗi ngày một nghiêm ngặt, ân điển mỗi ngày một long trọng, công danh do đó mà ra, nhân tài đầy rẫy, so với nhà Lý trước thịnh hơn nhiều” (Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú) Nhà Trần đã mở 10 khoa thi Thái học sinh để chọn nhân tài Truyền thống đất học của Thiên Trường chỉ đứng sau đất Đế đô Thăng Long Hành cung Thiên Trường là sự khởi đầu cho sự đi lên vững vàng của một vùng đất trù phú giàu tiềm năng cận sông, giáp biển Sự xuất hiện của hành cung Thiên Trường cùng với những chính sách của vương triều Trần về khẩn hoang, lấn biển, xây dựng điền trang, thái ấp đã có tác động kích thích kinh tế nông nghiệp, ngành nghề thủ công nghiệp địa phương phát triển Bên cạnh đó, sự tập trung một số lượng lớn thợ thủ công tài hoa, cùng với thuận lợi về giao thông thủy bộ kích thích các hoạt

Trang 4

động giao thương buôn bán trao đổi hàng hóa phát triển tạo tiền đề hình thành và phát triển đô thị Nam Định sau này Sự ra đời của hành cung Thiên Trường không chỉ làm thay đổi diện mạo của một vùng quê thanh bình ven sông Vĩnh mà còn đặt nền tảng cho sự ra đời của đô thị Vỵ Hoàng thế kỷ XVIII-XIX và đô thị Nam Định thời cận hiện đại Các nhà nghiên cứu lịch sử ngày nay cũng khẳng định rằng việc xây dựng hành cung Thiên Trường với quy mô, vị thế về chính trị, lịch sử, kinh tế, văn hóa còn thể hiện tầm nhìn chiến lược hướng biển của nhà Trần

Câu 3: Những hiểu biết của bạn về ba lần quân dân Đại Việt chống quân xâm lược Nguyên – Mông thời Trần? Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử?

3.1 Về chiến thắng Mông - Nguyên

Lịch sử thế giới ghi nhận, vào thế kỷ 13 quân Nguyên Mông được coi là đội quân vô địch, tung vó ngựa từ đông sang tây, đến đâu nơi đó đều bị giày xéo và khuất phục Ấy vậy mà đội quân

ấy đã bị chặn lại ở đất nước Đại Việt nhỏ bé, không chỉ một mà tới ba lần

Cuộc kháng chiến lần 1: (1258)Nguyên Mông dự định đánh chiếm Đại Việt và từ Đại Việt

đánh lên Nam Tống chiếm được Đại Việt còn có ý nghĩa lớn sau này cho đế quốc Mông Cổ lập bàn đạp cho các cuộc viễn chinh xuống Đông Nam Á,do đó Đại Việt là mục tiêu chiến lược và đó cũng

là sự cố gắng rất lớn của chúng

Nguyên Mông dứng đầu là Ngột Lương Hợp Thai quyết định chia quân làm hai đạo tiến theo tả ngạn

và hữu ngạn sông Thao (nhiệm vụ tham dò, dẫn đường)

ngày 17/1/1258 chúng đến tới Bình Lệ Nguyên Trận chiến diến ra vua Trần trực tiếp chiến đấu Địa hình Bình Lệ Nguyên khá thuận lợi cho kị binh của Mông Cổ phát huy sở trường của chúng Trận địa của ta bị lấn dần, quân của vua Trần rút lui an toàn nhờ vào sự giúp sức của quân và dân Âm mưu cướp thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần hoàn toàn thất bại Ngột Lương Hợp Thai tức dận đổ lên đầu tướng tiên phong, Trếch Trếch Đu hoảng sợ uống thuốc tử tử

Cố thủ không được, triều đình quyết định rút lui khỏi kinh đô để bảo toàn lực lượng và thực hiện kế

dã thanh

Thăng long yên tĩnh trống không Quân Mông Cổ tiến vào kinh đô vắng lặng, gặp khó khăn về hậu cần, chúng đánh ra vùng xung quanh kinh đô để hòng cướp bóc lương thực Nhưng ở đây cũng bị nhân dân các hương ấp chống cự quyết liệt tiêu biểu là dân Cổ Sở (Yên sở, Hoài Đức, Hà Tây) đã tự

tổ chức lực lượng vũ trang đào hào bao quanh làng, dựng luỹ chiến đấu Khi giặc đến, kị binh không vượt qua được hào, lại bị cung nỏ bắn ra lực lượng quân Mông Cổ đã thất bại đầu tiên trước những cuộc chiến đấu từ xóm làng Chỉ mấy ngày đến Thăng Long quân Mông Cổ hoàn toàn mất hết nhuệ khí chiến đấu : Ngột Lương Hợp Thai và bọn tướng lĩnh đều hốt hoảng cực độ Nắm vững thời cơ, triều đình nhà Trần quyết định phản công giải phóng Thăng Long nhanh chóng giành thắng lợi Kinh thành sạch bóng quân thù

Cuộc kháng chiến lần 2:(1285) lần này Hốt Tất Liệt lại huy động 50 vạn quân chỉ huy là

Thoát Hoan (con của Hốt Tất Liệt)

Để chuẩn bị kháng chiến, nhà Trần mở Hội Nghị Bình Than tập trung các vương hầu võ tướng để bàn kế đánh giặc

Sau hội nghị Bình Than, các tướng lĩnh được phân chia đem quân trấn giữ những nơi hiểm yếu, quan trọng Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn thống lĩnh quân đội cả nước Trần Quang Khải được cử giữ chức Thượng tướng thái sư

Trong khi quân dân cả nước đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Trần Quốc Tuấn ra Hịch tướng sĩ nêu nghĩa lớn cứu nước, cứu mình Toàn văn bài hịch là lời kêu gọi thiết tha, tràn đầy tinh thần yêu nước và chí căm thù cướp nước như ngọn lửa bốc cao

Quân dân cả nước thích vào cánh tay của mình 2 chữ “Sát thát” 1/1285, thượng hoàng thánh Tông mời các bậc phụ lão có uy tín trong nước về Kinh đô Thăng Long để hỏi kế đánh giặc trong bữa tiệc

ở Điện Diên Hồng, các vị đã đồng thanh hô lớn “Đánh!” Khắp nơi nhân dân ta thực hiện mệnh lênh của triều đình “ Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh Nếu không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”

Giữa năm 1284, Thoát Hoan khẩn trương điều quân vào Đại Việt bọn Mông – Nguyên muốn diệt

Trang 5

Đại Việt bằng 3 gọng kìm đánh vào biên giới phía bắc và phía nam.

Ngày 2/2/1258, quân giặc chia làm 6 mũi đánh vào Nội Bàng (Bắc Giang) Trần Quốc Tuấn chỉ huy đại quân đánh chặn giặc Trước thế mạnh của giăc, quân ta bị tổn thất, Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về Vạn Kiếp Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vã ra gặp Trần Quốc Tuấn và vờ hỏi Thống soái “thế giặc như thế, ta phải hàng thôi” Trần Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời “Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng”

11/2/1285, địch tấn công phòng tuyến Bình Than, quân ta chống trả quyết liệt, vua Trần dẫn quân về tăng viện cho Trần Quốc Tuấn Quân ta rút khỏi Vạn Kiếp Vua trần và Trần Quốc Tuấn về Thăng Long

Trước sức mạnh của giặc Trần Nhật Duật (đóng quân tại Thu Vật (yên bái)) rút quân về Bạch Hạc sau đó kéo về hạ lưu sông Hồng

Thượng hoàng Thái Tông và vua Nhân Tông về Thiên Trường (Nam Định) Thoát Hoan vừa chiếm đựoc Thăng Long vội vàng đuổi quân theo

Nắm vững tình hình địch, Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đem quân ngược sông Thái Bình đánh chiếm lại Vạn Kiếp không mấy khó khăn Thoát Hoan bị cô lập

13/3/1285, Trần Kiện lại dẫn đường cho giặc tấn công quân Trần Quang Khải, cuộc chiến ác liệt, thế trận lại thuộc về địch, Quang Khải cho rút quân

giữa tháng 3/1285, cuộc chiến vẫn diễn ra gay go phức tạp quân Trần về Thăng Long Thoát Hoan lại thúc quân xuống Thiên Trường

5/1258, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật cùng nhiều tướng sĩ khác đem quân ra bắc chiến lược phản công bắt đầu

Mục tiêu trước mắt của ta là đánh tan quân giặc ở Khoái Châu (Hưng Yên) để chia cắt quân Thoát Hoan và Toa Đô, đẩy quân Thoát Hoan vào thế cô lập bị động vua Trần cho rằng “quân giặc đi xa nhiều năm, lương thảo chuyên chở hàng vạn dặm, thế tất phải mọi lấy nhàn chống mệt, trước hãy làm chúng nhụt chí, thì ắt đánh thắng được”

Cuối tháng 5, quân Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật nhanh chóng tiêu diệt địch ở Tây Kết và Hàm Tử

Tiếp đó, Trần Quang Khải và các tướng khác đánh vào Chương Dương nhanh chóng thắng lợi Tàn quân địch rút về Thăng Long.Quân ta bao vây Thăng Long, địch ra sức cố thủ

Trước tình cảnh hiểm nghèo chúng liều chết phá vây vượt sông Hồng chạy sang Gia Lâm Kinh thành được hoàn toàn khôi phục.sức tàn, thế yếu, Thoát Hoan rút quân theo hưỡng Vạn Kiếp Trần Quốc Tuấn đánh chặn, quân Thoát Hoan phải chạy sang phía sông Như Nguyệt lại gặp quân Trần Quốc Toản đánh tổn thất nặng nề Thoát Hoan chạy sang Vạn Kiếp lại bị sa vào bẫy phục kích của Trần Quốc Tuấn hoảng sợ Thoát Hoan mở đưòng máu chạy về biên giới Lạng Sơn lại bị quân của Quốc công tiết chế đánh chặn ở cửa ải, Thoát Hoan hoảng sợ chui vào ống đồng cho quân lính khiêng chạy

Các trận Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp đã tiêu diệt và quét sạch 50 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nước ta

Cuộc kháng chiến lần 3:(1288) Hai lần xâm lược, hai lần thất bại thảm hại, vua Nguyên Hốt

Tất Liệt mất mặt, tức tối muốn tổ chức ngay cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ ba hòng trả thù, đồng thời để gấp rút đánh thông con đường bành trướng xuống ĐNA Hốt Tất Liệt bãi bỏ kế hoạch đánh Nhật Bản để tập trung lực lượng cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần này

Toàn bộ quân viễn chinh lần này do Thoát Hoan chỉ huy gồm 30 vạn quân cả bộ binh lẫn thuỷ binh, mang theo lương thực đầy đủ Chúng tiến vào nước ta chia thành 3 đạo:

- Đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn tiến vào

- Đạo quân do Ái Lỗ chỉ huy từ Vân Nam theo sông Hồng tiến xuống

- Đạo quân thuỷ do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy với hơn 600 chiến thuyền từ Quảng Đông vào vịnh

Hạ Long theo sông Bạch Đằng tiến vào hội quân ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương)

Khác với lần trước, lần này chúng chú ý đến thuỷ binh

Trần Quốc Tuấn lại được cử làm tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Ông đề ra kế hoạch : lúc đầu thế giặc mạnh, quân ta rút về vùng ven biển để bảo toàn lực lượng Nhân dân trên đường tiến quân của địch và trong vùng chiếm đóng có nhiệm vụ cất giấu lương thực, kiên quyết triệt nguồn lương thực của địch, đồng thời cùng với dân binh đẩy mạnh hoạt động đánh địch làm tiêu hao sinh lực của

Trang 6

chúng, ăn không ngon, ngủ không yên, đẩy chúng vào thế bị động.

Được tin giặc sắp tràn vào biên giới, vua Trần Nhân Tông hỏi Trần Quốc Tuấn “Giặc tới, liệu tình hình thế nào?”, Trần Quốc Tuấn trả lời “Năm nay đánh giặc nhàn”

Lần này, Trần Quốc Tuấn chú trọng đến chiến trường biển đông bắc - đường tiến quân lương của địch Trần Khánh Dư chịu trách nhiệm về biên thuỳ vên biển và Trần Toàn có nhiệm vụ ngăn chặn thuỷ quân giặc

Trận Ngọc Sơn, do tương quan lực lượng của Ô Mã Nhi mạnh hơn nên Trần Toàn có nhiệm vụ tiêu diệt đội thuyền đi sau của chúng đã thu được thắng lợi Nhưng vì lực lượng giặc mạnh nên chúng vẫn vượt qua vùng biển Hạ Long và An Bang (Quảng Ninh) và gặp quân của Trần Khánh Dư, trận chiến xảy ra ác liệt quân của Trần Khánh Dư không sao cản được đạo quân của giặc, chúng ngược sông Bạch Đằng kéo vào Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan

Trận Vân Đồn - Cửa Lục, dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, quân ta tiêu diệt sạch đoàn thuyền lương của địch tạo điều kiện cho quân dân ta nhanh chóng chuyển lên chiến lược phản công

Ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan cố xây dựng thành căn cứ quân sự Y để lại một số quân ở đây, còn lại tiếp tục tiến về Thăng Long Quân dân ta tạm thời rút khỏi Kinh thành

Hạu cần bao giờ cũng là một vấn đề then chốt của bất cứ một quân đội nào Quân Nguyên trông chờ vào thuyền lương của Trần Văn Hổ, giờ này mấy chục vạn quân Nguyên ở Thăng Long lâm vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng Thoát Hoan sai quân đi tìm đoàn thuyền lương nhưng đều bị ta đánh bại sau khi biết được tin báo thuyền lương nằm trong tay ta, Thoát Hoan hoang mang lo sợ Đầu tháng 3, Thoát Hoan buộc phải quyết định bỏ Thăng Long về Vạn Kiếp tổ chức phòng thủ, sau

đó quyết định chia đạo quân làm hai theo đường thuỷ bộ rút về nước

Biết trước ý đồ và đường hành quân của địch, Trần Quốc Tuấn chuẩn bị một cuộc phản công chu đáo Sông Bạch Đằng được chọn làm điểm quyết chiến tiêu diệt đạo quân Ô Mã Nhi Để bảo đảm cho thế trận bao vây địch thật hoàn hảo, ngoài việc dựa vào địa thế thiên nhiên hiểm yếu và lợi dụng Gềnh Cốc như một chướng ngại tự nhiên, Trần Quốc Tuấn còn xây dựng ở các cửa sông những trận địa cọc vững vàng, quy mô lớn chỉ trong vòng không quá 20 ngày

Nhờ sự chu bị chu đáo, quân dân ta lần lượt đánh bại quân giặc trên đường rút lui trận quyết chiến đúng như dự định xảy ra trên sông Bạch Đằng Sau chiến thắng Bạch Đằng, ngày 18 tháng 4, hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đem bọn tù binh Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ và các tên thiên hộ, vạn hộ về phủ Long Hưng (Thái Bình) làm lễ mừng thắng trận trước lăng mộ vua Thái Tông Trần Nhân Tông đọc :

“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá; Giang sơn mãi mãi vững âu vàng”.

Đất nước giải phóng, Thăng Long hát khúc khải hoàn

3.2 Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử:

*) Nguyên nhân thắng lợi:

- Cuộc kháng chiến của quân dân Đại Việt là cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa nên được sự hưởng ứng của mọi giai tầng trong xã hội

- Nhà Trần đã phát huy được tinh thần yêu nước, đoàn kết kháng chiến của “bách dân, trăm họ”,

- Có tướng tài và nghệ thuật quân sự mưu lược, sáng tạo

*) Bài học lịch sử:

- Chiến thắng hiến hách đó có được là nhờ tinh thần đoàn kết thống nhất chặt chẽ trong vương triều, dòng họ và toàn dân cùng với ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ bờ cõi của nhân dân

- Với chiến lược lấy dân làm gốc, dựa vào dân để tiến hành kháng chiến

Câu 4: Những đóng góp nổi bật của quân, dân Nam Định trong kháng chiến chống Thực dân

Pháp và Đế quốc Mỹ; thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ, quân, dân Nam Định?

Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của thực dân Pháp là đánh nhanh, thắng nhanh, Đảng bộ

và nhân dân Nam Định đã coi việc quan trọng và cấp bách hàng đầu là dồn toàn lực vào việc xây

Trang 7

dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trước sự tiến công thâm độc của những kẻ thù có tiềm lực quân sự lớn mạnh, tàn ác và nguy hiểm

Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng là:

Xây dựng làng chiến đấu, củng cố hậu phương, chống địch lấn chiếm (1947 tới 10-1949)Từng bước phát triển lực lượng, chống địch mở rộng chiếm đóng, giải phóng quê hương (10-1949 – 7-1954) Khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1954 – 1965)

Cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, hoàn thành cải cách ruộng đất và phục hồi kinh tế (1954-1957)

Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp tư bản tư doanh (1958-1960)

Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở địa phương (1961-1965)

Góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đẩy mạnh sản xuất, chi viện cho tiền tuyến lớn (1965-1975)

Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, quân và dân Nam Đ ịnh đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đoàn kết thống nhất ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, sản xuất và chiến đấu giỏi góp phần bảo vệ vững chắc quê hương và miền Bắc xã hội chủ nghĩa Ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng Trong niềm vui chung của cả nước, quân dân Nam Định rất phấn khởi tự hào vì đã tích cực góp phần vào thắng lợi chung của cả dân tộc

Những thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ, quân, dân Nam Định

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện của Việt Nam nói chung và Nam Định nói riêng, đặc biệt là đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; nắm vững quy luật khách quan, lấy dân làm gốc… Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương, chính sách, sản xuất trong nước ngày càng phát triển, lưu thông ngày càng thông suốt, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, xã hội

ngày càng lành mạnh, qua đó, chế độ XHCN ngày càng được củng cố…

Hơn 20 năm qua, kể từ khi Nam Định bước vào thực hiện mô hình KTTT định hướng XHCN, nền kinh tế Nam Định đã đạt được nhiều kết quả và thành tựu đáng kể, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước

Về tốc độ tăng trưởng, trong những năm khởi đầu công cuộc đổi mới (1986-1991) tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng tương đối chậm Nhưng khi quá trình đổi mới diễn ra rộng khắp và đi vào thực chất thì tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt mức cao và ổn định kéo dài, mặc dù có lúc bị giảm sút do dự báo chủ quan và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Thành tựu đổi mới trong nước kết hợp với thực hiện chính sách mở cửa, tích vực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế Nam Định và mang lại cho Nam Định một vị thế quốc tế mới Từ một thành bị phong tỏa, cấm vận; từ một nền kinh tế kém phát triển và “đóng cửa”, sau hơn 20 năm đổi mới, Nam Định đã vươn mạnh Đến nay Nam Định đã có quan hệ mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với hầu hết các tỉnh và thành phố trong cả nước

Phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũng được cải thiện rõ rệt

Đánh giá về thành công của quá trình đổi mới, Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Nam Định Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận và công cuộc đổi mới, về xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Nam Định đã hình thành trên những nét cơ bản”

Trang 8

Sau năm 1986, những chủ trương đổi mới kinh tế toàn diện của Đảng đã làm biến đổi căn bản diện mạo kinh tế Nam Định

Đặc trưng căn bản nhất và nhân tố cốt lõi tạo nên những thành tựu trong phát triển kinh tế kể từ thời đổi mới đến năm 2000 ở Nam Định là sự phục hưng của kinh tế hộ gia đình Sự phục hưng đó khởi đầu từ ngành nông nghiệp Với hàng loạt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ bắt đầu hồi phục từ những năm cuối thập kỉ 1980 và phát triển từ thập kỉ 1990

Về tổ chức sản xuất, từ sự phát triển của kinh tế hộ, dẫn đến những nhu cầu hợp tác kinh tế Nhiều

mô hình hợp tác kinh tế trong mọi ngành kinh tế đã được nhóm lên từ yêu cầu phát triển kinh tế của các hộ Sự ra đời của hàng ngàn trang trại ở Nam Định trong thời gian gần đây là kết quả, đồng thời cũng là xu hướng phát triển của kinh tế hộ

Trong các ngành kinh tế khác, chủ yếu trong tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, các đơn vị sản xuất

từ các hộ cá thể, tư nhân chiếm khoảng 95% tổng số các đơn vị sản xuất của ngành Sự phục hồi của kinh tế hộ trong ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã kéo theo sự phục hồi của các làng thủ công truyền thống ở địa phương

Song song với thị trường mở, nền kinh tế nhiều thành phần và đa ngành ở Nam Định ra đời Từ đổi mới, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh đến nay, ngày càng có thêm các ngành, nghề và thành phần kinh tế tham gia vào nền kinh tế chung của tỉnh Đến năm 2000, Nam Định có các thành phần kinh tế của quốc doanh trung ương, quốc doanh địa phương, tư nhân, cá thể, tập thể, hỗn hợp Các thành phần

đó có vai trò kinh tế khác nhau, nhưng đều là chủ thể của nền kinh tế mới

Từ năm 1998, một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã bắt đầu sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh

Vùng kinh tế biển của Nam Định được xác định từ năm 1993, nhưng trên thực tế mới thực sự hình thành từ năm 1997 Hiện nay, kinh tế biển của Nam Định đang trở thành kinh tế mũi nhọn Phát triển kinh tế biển vừa là yêu cầu tất yếu của phát triển kinh tế Nam Định và vừa là yêu cầu bảo vệ an ninh, chủ quyền của Tổ quốc

Diện mạo khái quát của kinh tế Nam Định hiện nay là có 1 trung tâm trọng điểm kinh tế là khu vực thành phố và 2 vùng gồm kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển Trong các vùng kinh tế lớn đó, đã hình thành và phát triển nhiều tiểu vùng kinh tế: đó là các cụm công nghiệp nông thôn, các làng thủ công nghiệp truyền thống, vùng đặc sản lúa, vùng xuất khẩu gạo, vùng chăn nuôi

Địa bàn chủ yếu của các điểm công nghiệp, xây dựng tập trung phân bố chủ yếu ở các thị trấn, thị tứ

hoặc làng nghề thủ công truyền thống Các điểm tiểu vùng này thường nằm cạnh trục giao thông chính của tỉnh, huyện và nó kết nối trực tiếp với vùng kinh tế trọng điểm của thành phố tạo nên hệ thống công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương khá hoàn chỉnh Có thể nói hệ thống này kết hợp với mạng lưới thương nghiệp mới đã tạo nên các trung tâm kinh tế của các huyện, xã và liên huyện - xã Vùng trọng điểm công nghiệp của toàn tỉnh có các đơn vị sau:

Ngành cơ khí, luyện kim, đúc: Có 6 tiểu vùng tập trung ở các địa phương thuộc xã Cộng Hoà (Vụ Bản), thị trấn Lâm (Ý Yên), Gôi (Vụ Bản), 3 cơ sở khác thuộc xã Nam Giang, Nghĩa An và Nam Thanh (Nam Trực) và ở Xuân Tiến (Xuân Trường)

Ngành vật liệu xây dựng: Có 6 đơn vị , tập trung ở huyện Nam Trực 3 đơn vị (2 cơ sở ở xã Nghĩa

An, 1 ở xã Nam Toàn); huyện Xuân Trường có 2 cơ sở thuộc xã Xuân Thành và Xuân Hồng; huyện Nghĩa Hưng có 1 cơ sở ở Nghĩa Đồng

Chế biến sản xuất thực phẩm và đồ uống: Ngành chế biến sản xuất lương thực và đồ uống có số lượng nhiều nhất, với 12 đơn vị, trong đó có 2 tiểu vùng thụôc địa phận thành phố, 5 tiểu vùng thuộc các xã ven biển Các khu chế biến thực phẩm và đồ uống tập trung ở vùng nông thôn tập trung ở các huyện phía nam Riêng huyện Xuân Trường có 4 đơn vị (thuộc các xã Xuân Kiên, Xuân Hồng, Xuân Hùng, Xuân Vinh); huyện Hải Hậu có 1 tiểu khu thuộc xã Hải Hưng)

Trang 9

Tiểu vùng dệt, may ươm tơ: có 5 đơn vị, trong đó có 2 đơn vị thuộc khu vực thành phố Các cơ sở trung tâm ươm tơ ở vùng nông thôn Nam Định thuộc các xã Phương Định, Liêm Hải (Trực Ninh), Thành Lợi (Vụ Bản)

Tiểu vùng thủ công mĩ nghệ: toàn tỉnh có 3 tiểu vùng, trong đó 1 vùng thuộc thành phố, 2 vùng ở nông thôn tập trung tại huyện Ý Yên (tại xã Yên Tiến và xã Yên Định)

Câu 5: Thành phố Nam Định được Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Đề án tổng thể

phát triển thành phố Nam Định trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng Nam đồng bằng sông Hồng năm nào? tiềm năng và điều kiện để Thành phố Nam Định phát triển?

Gần 750 năm ra đời hành cung Thiên Trường đã đặt dấu mốc vị thế quan trọng về mọi mặt của Thiên Trường - Nam Định với Thăng Long - Hà Nội Nhà Trần đã để lại cho con cháu muôn đời một di sản

vô giá Trong giai đoạn lịch sử hiện đại, Nam Định đã và đang khẳng định tiếp nối “tầm nhìn” đó trong phát triển kinh tế - xã hội Vị trí, mối quan hệ giữa Nam Định và các tỉnh, thành phố trong vùng với Thủ đô Hà Nội trong sự phát triển chung của đất nước tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết 54-NQ/TW ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm

ANQP vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” Xây dựng đồng bằng sông Hồng trở thành trọng điểm kinh tế đồng bằng Bắc Bộ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 109 về xây dựng Thành phố Nam Định trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng Nam đồng bằng sông Hồng; ngày 24 tháng 01 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 05/2011/QĐ-TTg “Phê duyệt quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” (trong đó có tỉnh Nam Định) với các mục tiêu và quan điểm phát triển giao thông vận tải với bước đột phá mạnh mẽ tạo tiền đề đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội vùng, đáp ứng yêu cầu là vùng đi đầu trong công cuộc CNH-HĐH, thu hút đầu

tư nước ngoài và hội nhập quốc tế, củng cố an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội Phát triển giao thông vận tải trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế của vùng là vị trí trung tâm và cửa ngõ chiến lược về đường biển và đường hàng không; đảm bảo sự liên kết giữa các phương thức vận tải đường

bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, hàng không và cảng biển; sự liên kết giữa Thủ đô Hà Nội với vai trò là đầu mối giao thông với các tỉnh, thành phố trong vùng Theo như Quy hoạch chung xây dựng

thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đến năm 2025 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt,

thành phố Nam Định sẽ trở thành đô thị loại I và là đô thị trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng

Hướng tới kỷ niệm 750 năm ra đời hành cung Thiên Trường, tỉnh Nam Định đang triển khai các giải pháp, quyết tâm xây dựng Thành phố Nam Định trở thành đô thị loại I, làm nền tảng cho vai trò vị thế trung tâm vùng Đó là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ, nhân dân Nam Định

và Thành phố Nam Định quyết tâm phát huy truyền thống, tiếp nối mạch nguồn anh hùng, hào khí Đông A quật cường mà nhà Trần đã đặt nền móng./

Câu 6: Cảm nghĩ của bạn về truyền thống lịch sử - văn hoá của Nam Định và việc phát huy các

giá trị đó để góp phần xây dựng tỉnh Nam Định giầu đẹp, văn minh?

Nam Định mảnh đất thân thương đã để lại những dấu ấn lịch sử không thể nào quên Nơi đây

là mảnh đất quê hương của các triều đại vua Trần…Và trong thời đại Hồ Chí minh; Đảng bộ và nhân dân Nam Định đã đoàn kết bên nhau chung lưng đấu cật quyết tâm xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp và đã đạt được được nhiều kết quả trên tất cá các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh và công tác xây dựng Đảng Cơ cấu nền kinh tế được chuyển dịch đúng hướng, tốc

độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm trên dưới 10%, tình hình văn hóa- xã hội, an ninh, quốc phòng được ổn định và giữ vững Đời sống của người dân đã được nâng lên một bước, bộ mặt nông nghiệp nông thôn không ngừng được đổi mới Mỗi người dân Nam Định không chỉ có quyền tự hào với những trang lịch sử hào hùng, tự hào với những thành tựu của Tỉnh nhà trong 750 năm qua mà còn phải có trách nhiệm gìn giữ và phát huy truyền thống cách mạng quê hương để đóng góp sức

Trang 10

mình vào công cuộc xây dựng huyện nhà ngày một giàu đẹp, văn minh hơn.Để làm được điều đó, mỗi người cần nâng cao tinh thần đấu tranh cách mạng, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu của các thế lực thù địch Muốn vậy, chúng ta cần xây dựng mối đoàn kết để tạo

nên sức mạnh xây dựng quê hương như Bác Hồ kính yêu đã dạy: “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.

Thành công, thành công, đại thành công” Bên cạnh đó, mỗi người đều phải biết yêu quý, biết trân

trọng, biết gìn giữ những giá trị lịch sử văn hóa của quê hương Đặc biệt, mỗi người cần phải chủ động, tích cực lao động sáng tạo Mỗi người phải biết cách ứng dụng linh hoạt những khoa học kĩ thuật tiên tiến vào trong lao động sản xuất, bắt kịp, hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước để làm giàu cho chính mình và cho cả quê hương.Bản thân tôi là giáo viên Tiểu học, tôi xác định trách nhiệm vẻ vang nhưng không kém nặng nề của mình là phải dạy dỗ, giáo dục toàn diện những mầm non, chủ nhân tương lai của quê hương, đất nước Đó là việc thiết thực nhất để tôi góp phần giữ gìn

và phát huy truyền thống cách mạng nhằm góp phần xây dựng quê hương Nam Định ngày càng giàu, đẹp Vì vậy, tôi đã luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức và kỉ luật, trau dồi đạo đức

Cách mạng, thực hiện tốt cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bên cạnh đó, tôi luôn đấu tranh để chống lại những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực, sai trái; làm tốt nhiệm vụ mà phòng, trường phân công, đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả công tác Tôi thiết nghĩ người giáo viên cần luôn tích cực học tập, trau đồi chuyên môn nghiệp vụ, thực

hiện tốt cuộc vận động “ Mỗi giáo viên là một tấm gương tự học và sáng tạo” Trong thời đại bùng

nổ công nghệ thông tin, khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão, muốn làm tốt nhiệm vụ “ trồng người”, giáo viên phải luôn luôn năng động và sáng tạo, biết nắm bắt và cập nhật những tinh hoa văn hóa mới mẻ vào trong từng bài dạy của mình để truyền thụ cho học sinh Có như vậy chúng ta mới

có thể đào tạo các em trở thành những con người tiên tiến của xã hội Trong những năm học gần đây, giáo dục Nam Định đã đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Nhưng để nâng cao hiệu quả của công tác này huyện, Tỉnh, ngành cần có sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Nhất là cần ưu tiên những trường ở vùng nông thôn.Trong thời điểm hiện nay, khi ngành giáo dục kiên quyết nói không với bệnh thành tích, đâu đó vẫn còn hiện tượng giáo dục chạy theo bệnh hình thức, tôi thiết nghĩ mình phải lao động hết mình, giảng dạy và công tác tốt để chứng minh với mọi người rằng: Chất lượng giáo dục của trường chúng tôi là thực chất, chất lượng đó vẫn luôn được duy trì và ngày một nâng cao Tôi nghĩ rằng mình cần cố gắng hết mình để được cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp giáo dục của quê hương Song song với việc chăm lo dạy dỗ, truyền đạt hết những kiến thức bổ ích đúng như yêu cầu của chương trình, mỗi một giáo viên cần xác định: Giáo dục cần bồi dưỡng các em học sinh trở thành con người mới, đẹp và trong sáng về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, có nhân cách cao đẹp, có bản lĩnh ngang tầm với sự nghiệp đổi mới, với xu thế phát triển của thời đại để xứng đáng với truyền thống của quê hương, xứng đáng trọng trách là những chủ nhân tương lai của quê hương Vì vậy, trong quá trình dạy học, tôi đã quan tâm giáo dục đạo đức cho các em Tôi giáo dục các em biết yêu thương bạn bè, yêu trường, yêu lớp, yêu quê hương của mình Bằng những hoạt động cụ thể, chúng tôi nhen lên trong tâm hồn các em những tình cảm tốt đẹp đối với quê hương Tôi đã dạy và sẽ dạy cho các thế hệ học trò thân yêu của mình hiểu rằng: Nam Định

là mảnh đất tuy nhỏ bé nhưng rất đỗi hào hùng Con người Nam Định vốn chân chất, mộc mạc, giàu lòng nhân ái, yêu quê hương, yêu nước, yêu lao động; cần cù, sáng tạo trong lao động và anh dũng, kiên cường trong đấu tranh Chúng ta có quyền tự hào về điều đó nhưng Nam Định vẫn còn nghèo, đời sống của nhân dân ta vẫn còn khó khăn, chật vật, vì vậy các em cần có trách nhiệm học tập, rèn luyện thật tốt để mai này xây dựng, làm giàu quê hương Tôi luôn tâm niệm cần phải coi trọng việc giáo dục học sinh biết trân trọng giá trị cuộc sống hôm nay, giúp các em hiểu để có cuộc sống này cha ông mình phải đổ biết bao mồ hôi, nước mắt và xương máu, phải giúp các em hiểu một cách sâu sắc về những ngày chiến đấu đầy đau thương mà anh dũng của quê hương mình Tôi nghĩ, các trường học cần chú trọng hơn vấn đề này Riêng với trường tôi, nhân các ngày lễ lớn, trường tổ chức cho các em đến viếng nghĩa trang ,thăm gia đình chính sách neo đơn, thăm khu di tích lịch sử của địa phương Tất cả những hoạt động đó đều nhằm bồi dưỡng cho tâm hồn các em những tình cảm tốt đẹp đó là lòng tự hào về truyền thống quê hương, ý thức trân trọng lịch sử, lòng biết ơn với những người đã ngã xuống cho cuộc sống độc lập hôm nay Từ đó, các em có thái độ học tập, rèn luyện tốt, thể hiện rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tôi khó nói hết những suy nghĩ, tình cảm của mình trong việc góp phần xây dựng quê hương Nhưng

Ngày đăng: 26/05/2021, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w