Đây là triều đại có võ công hiển hách trong lịch sử phong kiến Việt Nam với ba lần đánh bại các cuộc xâm lược của người Mông Cổ cũng như triều Nguyên do những viên tướng dày dặn kin[r]
Trang 1Họ và tên: Phạm Hữu Chỉnh
Đơn vị công tác: Trường THCS Thọ Nghiệp – Xuân Trường Nam Định
CUỘC THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ “ 750 NĂM THIÊN
TRƯỜNG NAM ĐỊNH”
Câu 1: Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào? Thời gian tồn tại của Nhà Trần; kể tên các đời vua Trần?
1.1 Hoàn cảnh ra đời của Triều Trần:
Nhà Lý suy tàn từ thời vua Lý Cao Tông (1175-1210), tuy rằng đã có những dấuhiệu từ thời Lý Anh Tông Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét vua Cao Tông chơi bời
vô độ, chính sự hình pháp không rõ ràng, giặc cướp nổi như ong, đói kém liền năm,
cơ nghiệp nhà Lý từ đấy suy
Năm 1179, Cao Tông xuống chiếu cấm không được đem mắm muối và đồ sắt lênbán đổi ở đầu nguồn, điều này đồng nghĩa với việc bế quan tỏa cảng, làm cho nềnkinh tế không phát triển Mùa hạ, tháng 4 năm 1181 mất mùa, dân chết đói gần mộtnửa hay năm 1199 mùa thu, tháng 7, nước to, lúa mạ ngập hết, đói to, đã thế nhưngnhà Hậu Lý không thấy có đưa ra phương sách nào để cứu giúp dân chúng mà vuacòn ngự đi khắp núi sông, phàm xe vua đến đâu mà có thần linh đều cho phong hiệu
và lập miếu để thờ (năm 1189) hay đến phủ Thanh Hóa bắt voi, chế nhạc ChiêmThành để nghe chơi hoặc năm 1203 còn cho xây dựng rất nhiều cung điện làm haotốn của cải Tăng phó Nguyễn Thường nói: "Ta nghe bài tựa Kinh Thi nói rằng: Âmthanh của nước loạn nghe như ai oán giận hờn Nay dân loạn nước nguy, chúa thượngthì rong chơi vô độ, triều đình rối loạn, lòng dân trái lìa, đó là triệu bại vong"
Điều này đã dẫn đến sự nổi dậy của dân chúng ở nhiều địa phương như tháng 10năm 1184, các sách Tư Mông (tỉnh Hòa Bình ngày nay?), tháng 7 năm 1192 người ởgiáp Cổ Hoằng (tỉnh Thanh Hóa ngày nay), tháng 7 năm 1198, người hương Cao Xá(tỉnh Nghệ An ngày nay), tháng 9 năm 1203, người ở Đại Hoàng giang (tỉnh NinhBình ngày nay) hay năm 1207, người Man ở núi Tản Viên châu Quốc Oai (tỉnh HàTây ngày nay) nổi lên cướp bóc, không thể ngăn được
Tất cả những yếu tố trên đây đã làm cho nhà Hậu Lý suy sụp Năm 1209, vua CaoTông nghe theo lời gian thần Phạm Du giết oan tướng Phạm Bỉnh Di Bộ tướng củaBỉnh Di là Quách Bốc đang trấn thủ Hoan châu mang quân ra đánh Thăng Long báothù cho chủ Vua Cao Tông và thái tử Sảm bỏ chạy lạc mỗi người một nơi QuáchBốc lập con nhỏ của vua là Thậm lên ngôi
Thái tử Sảm chạy đến nương nhờ gia tộc họ Trần ở duyên hải, nhờ sức họ Trầnmang quân về đánh dẹp Quách Bốc Tuy loạn được dẹp nhưng từ đó quyền lực chiphối chính trường của họ Trần bắt đầu được hình thành, bắt đầu từ Trần Tự Khánh vàsau đó là vai trò lớn của Trần Thủ Độ Năm 1210, vua Cao Tông chết, thái tử Sảm lênthay, tức là Lý Huệ Tông Triều chính hoàn toàn trong tay họ Trần Kết cục, cuốinăm 1225, con gái thượng hoàng Huệ Tông (bị ép truyền ngôi đầu năm) là Lý ChiêuHoàng đã bị ép nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, thượng hoàng Lý Huệ Tông
Trang 2sau đó còn bị Trần Thủ Độ ép tự tử vào năm 1226 Nhà Hậu Lý chấm dứt, nhà Trần
thay thế từ đó
Năm 1226, một hoàng tử nhà Hậu Lý là Lý Long Tường (con vua Anh Tông) đitheo đường biển chạy sang nước Cao Ly, được vua nước này thu nhận và trở thànhHoa Sơn tướng quân nước Cao Ly Sau này, Lý Long Tường trở thành ông tổ củamột dòng họ Lý ngày nay tại Hàn Quốc
Nhà Hậu Lý chấm dứt,kéo dài 216 năm với 9 đời vua
Trần Thủ Độ (1194-1264), là thái sư đầu triều nhà Trần, người có công sáng lập và
là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần
40 năm, từ 1226 đến 1264 Trần Thủ Độ sinh tại làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh
Sau đó ông đưa con Trần Thừa là Trần Cảnh (sau này là Trần Thái Tông), mới 8tuổi, vào hầu Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng vànhường ngôi để chuyển ngai vàng sang họ Trần vào cuối năm 1225 Nhà Trần thaynhà Lý bởi tay Trần Thủ Độ Thượng hoàng Huệ Tông bị ép đi tu, truất làm sư HuệQuang
Nhà Trần thành lập, ông được phong là Thống quốc thái sư, lo toan mọi việc chotriều đình nhà Trần
Để củng cố quyền lực nhà Trần, ông đánh dẹp các sứ quân Nguyễn Nộn, Đoàn
Thượng bên ngoài, sắp xếp quan lạitrong triều Năm 1232, nhân lúc tôngthất nhà Lý về quê ngoại ở làng HoaLâm (nay là xã Mai Lâm, huyện GiaLâm, Hà Nội) làm lễ cúng tổ tiên,ông đã làm bẫy sập chôn sống nhiều
tôn thất nhà Lý, bắt những ngườisống sót đổi sang họ Nguyễn và một
số họ khác để trừ tuyệt hậu họa
Để ngăn ngừa sự nhen nhóm nổilên của các lực lượng chống đối, TrầnThủ Độ đặt ra quy định khoanh vùng các làng ở nông thôn, tạo ra sự ngăn cách từnglàng Các nhà nghiên cứu cho rằng đây chính là nguyên nhân khiến nhiều đời sau cáclàng mạc Việt Nam chỉ phát triển khép kín trong lũy tre làng, không giao lưu, mởmang được với bên ngoài
Hình 1: Hiệu kỳ nhà Trần
Trang 3Vua Thái Tông và hoàng hậu Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu Hoàng) lấy nhau đã lâuchưa có con Năm 1236, Trần Thủ Độ liền ép Thái Tông lấy chị dâu là công chúaThuận Thiên - vợ Trần Liễu, chính là chị ruột của Chiêu Thánh vì Thuận Thiên đã cómang sẵn với Trần Liễu được 3 tháng Việc đó khiến Trần Liễu thù hận cất quân nổiloạn và Trần Thái Tông toan bỏ đi tu Nhưng trước sức ép cứng rắn của Trần Thủ Độ,Thái Tông quay trở lại ngôi vua, còn Trần Liễu sau khi thất bại cũng phải hàng phục
và được phong làm An Sinh vương ở Kinh Môn (Hải Dương)
Tuy nhiên, người con của Trần Liễu mà Trần Thủ Độ sắp đặt để làm con TrầnCảnh là Trần Quốc Khang sinh ra năm 1236 cũng không được làm thái tử dù là contrưởng Năm 1240, Thái Tông sinh được Trần Hoảng, lập làm thái tử và sau trở thànhvua Trần Thánh Tông
1.2 Thời gian tồn tại của Nhà Trần
Nhà Trần hoặc Trần triều là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khivua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý vàchấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 đểnhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly – tổng cộng thời gian tồntại của Nhà Trần là 175 năm.Bị dãn cách bởi nhà Hồ (1400-1407) với 2 đời vua (HồQuý Ly và Hồ Hán Thương) Sau khi nhà Hồ bị quân Minh diệt, con cháu nhà Trầntiếp tục đứng lên kháng chiến chống Minh, với 2 đời vua nữa là Giản Định Đế (1407-1409) và Trùng Quang Đế (1409-1413), nhưng đều bị thất bại.( Sử gọi đây là nhà
Hậu Trần.)
Đây là triều đại có võ công hiển hách trong lịch sử phong kiến Việt Nam với ba lầnđánh bại các cuộc xâm lược của người Mông Cổ cũng như triều Nguyên do nhữngviên tướng dày dặn kinh nghiệm chiến trường chỉ huy, cùng với nhiều cuộc chiếntranh chinh phạt các quốc gia láng giềng như Ai Lao, Chiêm Thành Dưới triều Trần,lực lượng quân đội được chú trọng phát triển đủ sức
đánh dẹp các cuộc nội loạn và đương đầu với quân đội
các nước lân bang, triều Trần cũng đã sản sinh nhiều
nhân vật xuất chúng, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự
1.3 Các đời vua nhà Trần:
(1226-1232)Thiên Ứng Chính Bình(1232-1251)
Nguyên Phong(1251-1258)
Trần Cảnh 1218-1277 1226-1258
Hình 2: Tháp Phổ Minh cao 14 tầng được coi là tượng trưng cho 14 đời vua Trần
Trang 4Thánh Tông Thiệu Long
(1258-1272)Bảo Phù(1273-1278)
Trần Hoảng 1240-1291 1258-1278
(1278-1285)Trùng Hưng(1285-1293)
Trần Khâm 1258-1308 1278-1293
(1314-1323)Khai Thái(1324-1329)
Trần Mạnh 1300-1357 1314-1329
(1341-1357)Đại Trị(1358-1369)
THỜI HẬU TRẦN
Trang 5Giản Định Đế Hưng Khánh Trần Ngỗi … -1409 1407-1409
Trùng QuangĐế
Khoáng
.… -1414 1409-1413
Nhà Trần, tính từ năm 1226 đến 1400, chính thức trải qua 12 đời vua (từ Trần
Thái Tông đến Trần Thiếu Đế) Tiếp đến là nhà Hồ (1400-1407) với 2 đời vua (Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương) Sau khi nhà Hồ bị quân Minh diệt, con cháu nhà Trần
tiếp tục đứng lên kháng chiến chống Minh, với 2 đời vua nữa là Giản Định Đế (1407-1409) và Trùng Quang Đế (1409-1413), nhưng đều bị thất bại Sử gọi đây là nhà Hậu Trần.
Như vậy, nhà Trần kể cả Hậu Trần - gồm tất cả 14 đời vua, trong đó có hơn
Xinđược cụthể hơn
về cácnhân vậtlịch sửthời Trầnnhư sau:
♦ Trần Thái
Hình 3: Trần Miếu Tự Điển – ấn thiêng đền Trần-NĐ.
Hình 4: Đức thánh Trần (tranh dân gian
Hàng Trống)
Trang 6Trần Cảnh sinh năm Mậu Dần (1218) cùng tuổi với Lý Chiêu Hoàng.Nhờ Trần Thủ Ðộ thu xếp Lý Chiêu Hoàng đã lấy Trần Cảnh và nhường ngôi choTrần Cảnh (1225), lên làm vua, lấy niên hiệu là Trần Thái Tông Chiêu Thánh Hoànghậu lấy Thái Tông đã được 12 năm, tức là đã 19 tuổi mà vẫn chưa có con, trong khitriều Trần cần kíp phải có Hoàng tử Bởi vậy Trần Thủ Ðộ bắt vua Trần Thái Tông
bỏ Chiêu Thánh giáng xuống làm công chúa, rồi đem người chị của Chiêu Thánh làThuận Thiên vợ của Trần Liễu đã có thai vào làm Hoàng hậu, Trần Liễu tức giận đemquân làm loạn.Vua Trần Thái Tông cũng đang đêm bỏ trốn lên chùa Phù Vân, núiYên Tử (Quảng Ninh) tỏ ý phản đối Trần Thủ Ðộ đem quần thần tới đón về TrầnThái Tông từ chối, nói rằng: Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quannên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc Nói mãi không chuyển Thủ Ðộngoảnh lại nói với các quan: Hoàng thượng ở đâu là triều đình ở đấy Nói đoạn truyềnlệnh xây dựng cung điện ở chùa Phù Vân Vị quốc sư ở chùa vào van lạy Trần TháiTông về triều Trần Thái Tông bất đắc dĩ phải theo xa giá về kinh.Ðược ít lâu, Trần Liễu biết không địch nổi, đang đêm giả làm người đánh cá lẻn lênthuyền ngự xin hàng Hai anh em ôm nhau mà khóc Thủ Ðộ hay tin, tuốt gươm xôngđến toan giết Trần Liễu Trần Thái Tông lấy thân che cho anh, xin Thủ Ðộ tha choTrần Liễu
Vua Thái Tông tha cho Trần Liễu, cắt cho đất An Sinh làm thái ấp và phong cholàm An Sinh vương
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông đầu năm Ðinh Tỵ (1257), Thái Tôngbiết dựa vào Trần Thủ Ðộ, Trần Quốc Tuấn (Tức Hưng Ðạo Vương, con của TrầnLiễu) để lãnh đạo nhân dân Ðại Việt quyết chống giặc Bản thân Trần Thái Tôngcũng tự làm tướng đi đốc chiến, xông pha tên đạn
Tháng 12 năm Ðinh Tỵ (21/1/1258) vua Thái Tông cùng Thái tử Hoảng đã chỉ huyquân Trần phá tan quân Nguyên ở Ðông Bộ Ðầu, giải phóng Thăng Long
Trần Thái Tông đã trở thành ông vua anh hùng cứu nước Nhưng Thái Tông được
sử sách lưu truyền còn bởi ông là một nhà Thiên học, một triết gia có những tư tưởngsâu sắc, một cốt cách độc đáo, là tác giả Khoá hư lục, một cuốn sách xưa nhất hiệncòn giữ được trong kho thư tịch cổ nước ta.Trong văn bản Khoá du lục, có bài “TựThiền Tông chỉ nam” của Trần Thái Tông viết Ông kể lại sự việc năm 1236 đangđêm bỏ cung điện vào núi và lý do trở về
Có lẽ ít thấy trong lịch sử Phật giáo nước nào lại nêu vấn đề “quốc gia xã tắc” lêntrên hết, trước hết như thế Thái độ đối với “quốc gia xã tắc” là thước đo giá trị củamỗi người, bất kể họ ở cương vị nào Nghe theo quốc gia xã tắc, Trần Thái Tông đãtrở về triều để 22 năm sau đã lãnh đạo nhân dân Ðại Việt phá tan quân Nguyên TrầnThái Tông là người có tính cách đặc biệt Lúc làm vua thì thân làm tướng đi đánhgiặc “xông vào mũi tên hòn đạn”, làm vua xem thường vinh hoa phú quý, có thể từ
bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc Ông là gương mặt văn hoá đẹp và lạ đến khácthường trong lịch sử Việt Nam
Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258), Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng,một cách tập sự cho thái tử làm quen việc trị nước Triều đình tôn Thái Tông lên làmThái Thượng Hoàng cùng trông coi việc nước
Thái Tông trị vì được 33 năm, làm Thái Thượng hoàng 19 năm thì mất, thọ 60tuổi
♦ Trần Thánh Tông (1258-1278):
Trang 7Niên hiệu: Thiên Long (1258-1272); Bảo Phù (1273-1278).
Vua Thái Tông có 6 người con: Tĩnh Quốc Ðại vương Trần Quốc Khang, Thái tửHoảng, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật vàcác công chúa Thiều Dương, Thuỵ Bảo
Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258), Thái tử Hoảng sinh năm 1240 lên nối ngôi lấyhiệu là Thánh Tông
Thánh Tông là vị vua nhân từ, trung hậu Ðối nội vua dốc lòng xây dựng đất nướcthái bình thịnh trị Vua quan tâm đến việc giáo hoá dân, khuyến khích việc học hành,
mở những khoa thi chọn người tài và trọng dụng họ Do vậy, dưới triều vua ThánhTông không chỉ có các ông hoàng hay chữ mà còn có những trạng nguyên tài giỏinhư Mạc Ðĩnh Chi Bộ Ðại Việt Sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của nước ta, được Lê VănHưu hoàn thành vào năm Nhâm Thân (1272)
Vua còn quan tâm đến dân nghèo bằng việc ra lệnh cho các vương hầu, phò mãchiêu tập những người nghèo đói lưu lạc để khai khẩn ruộng hoang, lập trang hộ.Trang điền có từ đấy Vì vậy, 21 năm làm vua đất nước không có giặc giã Nơi nơidân chúng yên ổn làm ăn
Về đối ngoại, lúc này nhà Nguyên đã thôn tính xong nước Tống rộng lớn nhưngchưa đủ sức đánh Ðại Việt Khi vua Thái Tông nhường ngôi cho Thánh Tông, vuaMông Cổ sai sứ sang phong vương cho Thánh Tông Nhà Nguyên không còn bắt ÐạiViệt thay đổi sắc phục và rập theo thể chế nhà nước chúng, nhưng lại bắt vua ta cứ 3năm phải một lần cống nạp nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy tướng số và những nghệnhân giỏi mỗi loại ba người cùng các sản vật: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu vật
là khác Vua Nguyên còn đòi đặt quan Chưởng ấp để đi lại, giám sát các châu quậnÐại Việt, thật ra để nắm tình hình mọi mặt, toan đặt cương thường trực cho nước lánggiềng
Vua Trần Thánh Tông thừa biết giã tâm xâm lược của nhà Nguyên, nên tuy bề ngoài thần phục, nhưng vẫn khẩn trương tuyển mộ binh lương, luyện quân sĩ sẵn sàngđối phó Năm Bính Dần (1266), vua Nguyên cho sang giục cống nạp Vua ThánhTông sai sứ sang xin miễn việc cống người và bãi bỏ việc đặt quan giám trị VuaNguyên bằng lòng bỏ việc cống người nhưng lại bắt tuân thủ 6 điều khác: Vua phảithân vào chầu khẩu, phải chịu việc binh dịch, phải nộp thuế má và cứ giữ lệ đặt quangiám trị
Vua Ðại Việt lần nữa thoái thác không chịu Năm Tân Mùi (1271), vua Mông CổHốt Tất Liệt nhân đổi quốc huyện là Ðại Nguyên đòi vua Thánh Tông Vua ThánhTông cáo bệnh không đi Chúng cho sứ sang tìm cột đồng trụ của Mã Viện trồngngày trước, vua Thánh Tông trả lời rằng: Cột ấy lâu ngày đã mất
Nhìn chung, vua Trần Thánh Tông thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻonhưng rất kiên quyết, nhằm bảo vệ danh dự của Tổ quốc, ngăn chặn từ xa mọi sựdòm ngó, tạo cơ xâm lược của nhà Nguyên
Năm Ðinh Sửu (1277), Thái Thượng hoàng Trần Thái Tông mất ở phủ ThiênTrường (Tức Mạc) Năm sau, vua Thánh Tông nhường ngôi cho con là Thái Khâmrồi về ở phủ Thiên Trường làm Thái thượng hoàng
Vua Trần Thánh Tông trị vì được 21 năm, làm Thái Thượng Hoàng được 3 năm,thọ 51 tuổi
Trang 8vị ngôi vua, lấy tên là Nhân Tông.
Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ngợi ca là vị anhhùng cứu nước Thời gian Trần Nhân Tông trị vì, nước Ðại Việt đã trải qua nhữngthử thách ghê gớm
Ngay sau khi Trần Nhân Tông lên ngôi, nhà Nguyên liền sai Lệ bộ Thượng thưsang sứ Ðại Việt Sài Thung đến kinh thành, lên mặt kiêu ngạo, cưỡi ngựa đi thẳngvào cửa Dương Minh, rồi cho người đưa thư trách vua Trần Nhân Tông tự lập ngôivua và đòi phải sang chầu thiên triều
Vua sai đại thần ra tiếp, Thung không thèm đáp lễ, vua mời yến, hắn không thèmđến Năm Nhâm Ngọ (1282) vua Nguyên lại cho sứ sang dụ: Nếu vua nước Namkhông sang chầu được thì phải đưa vàng, ngọc sang thay, và phải nộp hiền sĩ, thầy
âm dương bói toán, thợ khéo tay, mỗi hạng 2 người Trần Nhân Tông đành cho chú
họ là Trần Di Ái và bọn Lê Tuân, Lê Mục sang thay mình Vua Nguyên bèn lập Trần
Di Ái làm An Nam Quốc vương, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượngthư lệnh, và sai Sài Thung dẫn 1000 quân đưa bọn ấy về nước
Hay tin, Trần Nhân Tông sai tướng đem quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần.Sài Thung bị tên bắn mù một mắt, trốn chạy về nước, còn lũ Trần Di Ái bị bắt, phảitội đi làm lính Thấy không thể thu phục được vua Trần, Nhà Nguyên liên tiếp phátđộng 2 cuộc chiến tranh xâm lược vào các năm 1285, 1287 toan làm cỏ nước Nam.Trong 2 lần kháng chiến này Trần Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ kết chặt lòngdân, lãnh đạo nhân dân Ðại Việt vượt qua bao khó khăn đưa cuộc kháng chiến đếnthắng lợi huy hoàng
Sau 14 năm làm vua, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi làm Tháithượng hoàng và đi tu, trở thành thuỷ tổ phái Thiền Trúc Lâm, Yên Tử, một pháiThiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Nhân Tông thật sự làmột triết gia lớn của Phật thể hiện được đủ trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam Tư tưởng triếthọc của Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu và táo bạo
Anh hùng cứu nước, triết nhân, thi sĩ là phẩm chất kết hợp hài hoà trong con ngườiNhân Tông Về phương diện thi sĩ Nhân Tông có tâm hồn thanh cao, phóng khoáng,một cái nhìn tinh tế, tao nhã
Trần Nhân Tông qua đời năm Mậu Thân 1308 tại am Ngoạ Vân, núi Yên Tử(Ðông Triều, Quảng Ninh)
♦ Hưng Ðạo Ðại Vương - Trần Quốc Tuấn:
Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một danh nhân kiệt xuất của dân tộc đồng thời làdanh quân sự cổ kim của thế giới Ngay từ nhỏ, Trần Liễu đã kén những thầy giỏi dạycho Quốc Tuấn, ký thác vào con hội đủ tài văn võ, mong trả mối thù sâu nặng năm
Trang 9nào Lớn lên Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất chúng, đọc rộng các sách cả vănlẫn võ.
Trong đời mình, Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, 3 lần nạn nước Nhưngông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùng cứu nước Ông luôn đặt lợi nướclên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, tạo cho thế nước
ở đỉnh cao ngàn trượng đủ sức đè bẹp quân thù
Trong lần quân Nguyên sang xâm lược lần thứ 2, thấy rõ nếu ngành trưởng, ngànhthứ xung khắc, giữa ông và Trần Quang Khải không chung sức chung lòng thì kẻ cólợi chỉ có thể là quân giặc Bởi vậy Quốc Tuấn đã chủ động giao hảo hoà hiếu vớiTrần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảothắng quân Nguyên hùng mạnh
Ba lần chống giặc các vua Trần đều giao cho ông quyền thiết chế (Tổng tư lệnhquân đội), vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính vì vậy tướng sĩ hết lòngthương yêu ông Ðạo quân cha con ấy trở thành đội quân bách chiến bách thắng TrầnQuốc Tuấn là bậc tướng trụ cột triều đình Ông đã soạn hai bộ binh thư Binh thư yếulược và vạn kiếp tống bí truyền thư để răn dậy các tướng cầm quân đánh giặc Khigiặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết hịch “Hịch tướng sĩ”, truyềnlệnh cho các tướng, dạy họ bảo họ lẽ thắng bại, tiến lui Hịch tướng sĩ rất hùng hồn,thống thiết, khẳng định văn chương của một bậc “Ðại bút”
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức Là tướng nhân, ông thương dânthương quân, chỉ cho họ con đường sáng Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điềulợi Là tướng trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu, là tướng dũng ông xông pha nơi nguyhiểm để đánh giặc, tạo lên những trận Bạch Ðằng oanh liệt nghìn đời Là tướng tín,ông bày tỏ trước quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông sẽ gặp hoạ, cho nên, cả balần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọng trách điều sát binh mã và đều lậpđược công lớn
Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tý (1300 ) “Bình Bắc đại nguyên soái”Hưng Ðạo Vương qua đời Theo lời ông dặn, thi hài ông được hoả táng thu vào bìnhđồng và chọn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, đấtsan phẳng trồng cây như cũ Vua gia phong cho chức Hưng Ðạo đại vương Triềuđình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông lúc sinh thời
♦ Thượng tướng, Thái sư - Trần Quang Khải:
Trần Quang Khải (1244-1294), là con trai vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) Dướitriều vua Trần Thánh Tông (anh ruột Quang Khải), Trần Quang Khải được phongtước Chiêu Minh Ðại Vương Năm Giáp Tuất (1274), Ông được giao chức Tướngquốc thái uý
Năm Nhâm Ngọ (1282), dưới triều vua Nhân Tông, Trần Quang Khải được cửlàm Thượng thái sư, nắm toàn quyền nội chính, trong cuộc kháng chiến chống quânNguyên lần thứ hai và thứ ba, Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai, sau TrầnQuốc Tuấn và có nhiều công lớn Chính Trần Quang Khải đã chỉ huy quân Trần đánhtan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, những trận then chốt nhằm khôiphục kinh thành vào cuối tháng 5 năm Ất Dậu (1285)
Bên cạnh năng lực quân sự, Trần Quang Khải còn là một nhà thơ có vị trí khôngnhỏ trong văn học sử Việt Nam Ông là tác giả “Lạc Ðạo” đã thất truyền và theo lờibình của Phan Huy Chú, thơ ông “thanh thoát, nhàn nhã, sâu xa, lý thú”
Trang 10Trần Quang Khải, một cuộc đời lớn, vừa làm chủ tướng, vừa làm tướng, vừa đánhgiặc vừa làm thơ.
♦ Chiêu Văn Vương – Trần Nhật Duật:
Trần Nhật Duật (1253-1330), con trai thứ tư của Trần Thái Tông, người có cônglớn trong việc chỉ huy quân Trần đánh thắng giặc Nguyên, từng được phong Thái uýquốc công với Chiêu Văn đại vương, từ bé đã nổi tiếng là ông hoàng hiếu học và
“sớm lộ thiên tri”, ham thích hiểu biết về các tiếng nói và các giống người Có thểnói, tuổi trẻ của Trần Nhật Duật là những năm tháng miệt mài rèn luyện để thành tài
Vì vậy, Nhật Duật nổi tiếng hiểu nhiều biết rộng Uy tín của vị vương còn vang dội
cả nước ngoài do hiểu biết sâu rộng về các nước láng giềng Học biết tiếng Tống,tiếng Chiêm Thành, Nhật Duật chẳng những chỉ sử dụng thành thạo những ngôn ngữ
ấy mà còn am hiểu nhiều mặt của các nước đó kể cả phong tục, tập quán của họ Ðốivới các dân tộc trong nước, Nhật Duật không chỉ hiểu tiếng mà còn hiểu cả về người
♦ Trần Anh Tông (1293-1314):
Niên hiệu: Hưng Long
Vua Nhân Tông có ba người con: Anh Tông Thuyên, Huệ võ vương Quốc Chẩn vàcông chúa Huyền Trân Năm Quý Tỵ (1293), Nhân Tông truyền ngôi cho con cả làThái tử Thuyên Thái tử Trần Thuyên sinh năm Bính Tý (1276) lên làm vua lấy hiệu
là Anh Tông Năm Giáp Dần (1314) Anh Tông nhường ngôi cho thái tử Mạnh rồi vềlàm Thái thượng hoàng ở phủ Thiên Trường đến năm Canh Thân (1320) thì mất AnhTông trị vì 21 năm thọ 54 tuổi
sẽ lập Thái tử Một phái do Văn Hiến hầu Trần Khắc Chung xin lập Hoàng tử Vượng
là con một quý phi làm Thái tử Việc chưa ngã ngũ thì Văn Hiến Hầu cho tên TrầnNhạc là đầy tớ của Trần Quốc Chẩn 100 lạng vàng, xui nó vu cáo Quốc Chẩn mưulàm phản Vua Minh Tông liền bắt Quốc Chẩn giam ở chùa Tư Phúc Nhân đó TrầnKhắc Chung xin vua trừ Quốc Chẩn đi, lấy cớ : “bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó” MinhTông nghe theo, không cho Quốc Chẩn ăn uống gì cả Biết cha mình khát, Hoàng hậu
Trang 11Lê Thánh phải lấy áo nhúng nước mặc vào rồi vắt ra cho uống, cuối cùng Quốc Chẩn
bị chết Sau có người vợ lẽ của Trần Nhạc ghen với vợ cả tố cáo sự thật Nỗi oanđược giải nhưng một trung thần đã chết Minh Tông làm vua đến năm Kỷ Tỵ (1329)thì nhường ngôi cho Thái tử Vượng, về làm Thái thượng hoàng
♦ Trần Hiển Tông (1329-1341):
Niên hiệu: Khai Hưu
Thái tử Vượng sinh năm Kỷ Mùi (1319), mới 10 tuổi lên nối ngôi, hiệu là HiểnTông Hiển Tông trị vì nhưng việc điều khiển triều chính, kể cả việc dẹp loạn NgưuHống ở Ðà Giang, đánh quân Ai Lao xâm phạm bờ cõi đều do Thượng hoàng MinhTông đảm nhận
Hiển Tông làm vua đến năm Tân Tị (1341) thì mất, ở ngôi được 13 năm, thọ 23tuổi
Hiển Tông mất, Thượng hoàng lập người con tên là Hạo, sinh năm Bính Ngọ(1336) lên làm vua, hiệu là Dụ Tông Những năm đầu mọi việc quyền bính đều doThượng hoàng Minh Tông điều khiển Bởi thế, dù có mất mùa dân đói nhưng việcchính trị còn có nền nếp Từ năm 1358 trở đi, Thượng hoàng mất, các cựu thần nhưTrương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng không còn, triều đình bắt đầu rối loạn.Bọn gian thần kéo bè, kết đảng lũng đoạn triều chính Chu Văn An dâng “thất trảmsớ”, xin chém 7 gian thần nhưng vua không nghe, ông liền bỏ quan về dạy học Đãthế vua Dụ Tông ham chơi bời, rượu chè, xây cung điện để đánh bạc, mở tiệc bắt cácquan thi nhau uống rượu, ai uống 100 thăng thì thưởng cho 2 trật… khiến cho triềuđình thối nát, loạn lạc nổi lên như ong Nhân dân cực khổ trăm bề
Bên ngoài nhà Minh mới đánh bại nhà Nguyên còn bận sửa sang việc nước chưadòm ngó đến Ðại Việt Trái lại, Chiêm Thành thấy nhà Trần suy yếu, có ý coithường, muốn đòi lại đất Thuận Hoá Vua Chiêm là Chế Bồng Nga mấy lần đemquân đánh phá thành Thăng Long khiến triều Trần nhiều phen khốn đốn
Năm Kỷ Dậu (1469) vua Dụ Tông mất thì bão táp đã nổi lên ở cung đình Nguyên
do Dụ Tông không có con Triều đình lập Cung Ðịnh vương là anh Dụ Tông lên làmvua nhưng bà Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc vương
là Dương Nhật Lễ lên ngôi Nguyên mẹ Nhật Lễ là một đào hát, lấy một kép hát bội
là Dương Khương có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc vương sinh raNhật Lễ Nay lên làm vua Nhật Lễ muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần rồi giết
bà Hoàng thái hậu cùng Cung Ðịnh vương Cung Tĩnh vương vốn nhu nhược thấy thế
bỏ trốn lên mạn Ðà Giang
Trang 12Trước tình hình nội chính rối ren, các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắtgiết Nhật Lễ rồi rước Cung Tĩnh Vương về làm vua, tức vua Trần Nghệ Tông.
♦ Dương Nhật Lễ
Tuy là con của vua Trần Dụ Tông nhưng được cho là không phải sử sách, Nhật Lễkhông phải là con Dụ Tông mà mẹ Lễ vốn là cô đào, vợ của kép hát Dương Khương,
đã mang thai Lễ trước khi làm vợ Dụ Tông
Năm 1369, Trần Dụ Tông mất, Nhật Lễ lên thay
Nhật Lễ ở ngôi bỏ bễ chính sự, ham tửu sắc, hằng ngày chỉ rong chơi, thích các tròhát xướng, muốn đổi lại họ là Dương Sau Lễ lại giết Hiến Từ Tuyên Thánh Tháihoàng thái hậu vì bà đã hối hận việc lập Nhật Lễ Người tôn thất và các quan đều thấtvọng Tháng 10 năm 1370, các tôn thất nhà Trần hợp mưu lật đổ và bắt giết Nhật Lễ
♦ Trần Nghệ Tông (1370-1372):
Niên hiệu: Thiệu Khánh
Cung Tĩnh Vương sinh năm Ất Sửu (1324), do các tôn thất nhà Trần phò giúp, lênngôi năm Canh Tuất (1370) Nghệ Tông lên vua chưa được bao lâu đã phải lao đaochạy giặc Nguyên do, khi Nhật Lễ bị giết, mẹ Nhật Lễ chạy vào Chiêm Thành cầucứu vua Chế Bồng Nga đem quân đánh Ðại Việt Quân Chiêm vượt bể vào cửa Ðại
An tiến đánh Thăng Long Quân Trần không chống nổi, phải bỏ kinh thành VuaNghệ Tông chạy sang Ðông Ngàn (Ðình Bảng, Bắc Ninh) lánh nạn Quân ChiêmThành vào thành đốt sạch cung điện bắt đàn bà con gái, lấy hết vàng bạc châu báu rồirút quân về Vua nhu nhược, bất lực không điều khiển nổi triều chính phải trao cho
Hồ Quý Ly nhiều quyền hành Hồ Quý Ly có hai người cô lấy vua Minh Tông Mộtngười là Minh Từ hoàng hậu sinh ra vua Nghệ Tông, một người là Ðôn từ hoàng hậusinh ra vua Duệ Tông Vì vậy, Nghệ Tông tin dùng phong Hồ Quý Ly làm khu MậtÐại Sứ tại gia tước Trung Truyên Hầu
Năm Nhâm Tý (1372), Nghệ Tông truyên Ngôi cho em là Kính rồi về phủ ThiênTrường làm Thái Thượng Hoàng
♦ Trần Duệ Tông (1372-1377):
Niên Hiệu: Long Khánh
Trần Kính sinh năm Ðinh Mùi (1337), lên ngôi lấy hiệu là Duệ Tông, lập em họ
Hồ Quý Ly là Lê Thị làm Hoàng hậu Duệ Tông quyết đoán hơn nhưng không thểlàm được gì vì quyền bính vẫn do Thái thượng hoàng nắm giữ Năm Giáp Dần(1374), vua cho mở khoa thi tiến sĩ thay cho thi Thái học sinh, lấy được 50 người bancho mũ áo vinh quy
Việc nổi cộm nhất dưới thời Duệ Tông là chiến tranh với Chiêm Thành Năm BínhThìn (1376), quân Chiêm sang đánh Hoá Châu (Nghệ An) Thấy Chiêm Thành luônxâm phạm bờ cõi Ðại Việt, vua Duệ Tông quyết thân chinh đem quân đi trừng phạt.Vua sai quân dân Thanh Hoá, Nghệ An vận tải 5 vạn thạnh lương vào Hoá Châu rồirước Thượng hoàng dự lễ duyệt binh Có lẽ vì sợ, Chế Bồng Nga sai người sang cống
15 mâm vàng Nhưng quan trấn thủ Hoá Châu là Ðỗ Tử Bình ỉm đi rồi dâng sớ nói
Trang 13dối rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn, vô lễ, xin vua cử binh đi đánh Ðược tin ấy, vuaDuệ Tông sai Quý Ly dốc lương vận lương thực đến cửa biển Di Luân (Quảng Bình)rồi tự dừng quân 1 tháng để luyện tập sĩ tốt Ðến tháng giêng năm Ðinh Tỵ (1377)tiến quân vào cửa Thị Nại (Quy Nhơn) đánh lấy đồn Thạch Kiêu và động Kỳ Mangrồi tiến vào Ðồ Bàn, Kinh đô vua Chiêm Chế Bồng Nga lập đồn giữ ở ngoài thành,cho người trá hàng nói Chế Bồng Nga đã bỏ thành chạy trốn xin tiến binh ngay DuệTông tưởng thật truyền lệnh tiến binh vào thành Ðại tướng Ðại Việt là Ðỗ Lễ canmãi vua không nghe Khi quân Việt đến chân thành Ðồ Bàn, quân Chiêm từ bốn phía
đổ ra đánh Quan quân thua to Vua Duệ Tông chết trong đám loạn quân Bọn Ðỗ TửBình lĩnh hậu quân, hèn nhát không đem quân lên cứu, Hồ Quý Ly cũng bỏ chạy Thế
mà về kinh Hồ Quý Ly không hề bị trách cứ, Ðỗ Tử Bình chỉ bị giáng xuống làm lính
mà thôi
♦ Trần Phế Ðế (1377-1388):
Niên hiệu: Xương Phù
Thượng hoàng Nghệ Tông được tin vua Duệ Tông chết trận bèn lập con Duệ Tông
là Hiền, sinh năm Tân Sửu (1361), lên nối ngôi, Hiệu là Phế Ðế Nhưng mọi quyềnbính vẫn do Thượng hoàng nắm giữ Nước Ðại Việt những năm này bị Chiêm Thànhquấy nhiễu, cướp bóc dữ dội Ngay sau khi giết được vua Duệ Tông, Chế Bồng Ngahuy động quân Chiêm tiến đánh và cướp bóc Thăng Long
Năm Mậu Ngọ (1378), quân Chiêm lại sang đánh Nghệ An, rồi theo sông ÐạiHoàng cướp bóc Thăng Long lần nữa Năm Canh Thân (1380) rồi năm Nhâm Tuất(1382) quân Chiêm lại xâm phạm bờ cõi Ðại Việt Nhưng hai lần này chúng bị đánhbại Tháng 6 năm Quý Hợi (1383), vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga lại đem quântiến đánh Ðại Việt Thượng hoàng Nghệ Tông sai tướng Mật Ôn gia giữ ở châu Tam
Kỳ (Quốc Oai) Nhưng Mật Ôn thua trận bị bắt sống Thượng hoàng sợ hãi saiNguyễn Ða Phương ở lại giữ kinh thành còn mình và vua Phế Ðế chạy sang ÐôngNgàn Có người thấy vậy níu thuyền lại xin Thượng hoàng cứ ở lại kinh sư mà chốnggiặc Nhưng Thượng hoàng không nghe Lần nữa quân Chiêm lại tàn phá ThăngLong Vậy mà khi giặc rút về Thượng hoàng và vua không lo việc phòng bị mà chỉ lomang của cải đi chôn giấu Và để cứu kho tàng trống rỗng vì chiến tranh, nhà vua đãtăng sưu thuế, hơn thế nữa, nhà vua bắt mỗi suất đinh mỗi năm phải đóng 3 quan tiềnthuế, (Thuế thanh sinh ra từ đây) khiến cho muôn dân ngày càng cực khổ
Trong khi ấy, ở phương Bắc, nhà Minh bắt đầu dòm ngó Ðại Việt Năm Giáp Tý(1384), Minh Thái Tổ sai sứ sang Ðại Việt đòi cấp 5 ngàn thạch lương cho quânMinh ở Vân Nam, cùng nhiều cống phẩm quý giá khác
Trước tình hình quốc chính rã rời, nhiều tôn thất nhà Trần chỉ lo cho cá nhân mình,xin về trí sĩ Thượng hoàng nghe lời Quý Ly xuống chiếu trách nhà vua Phế Ðế trẻcon, lại có ý làm hại kẻ công thần, làm nguy xã tắc nên giáng xuống làm Minh Ðứcđại vương và lập Chiêu Ðịnh Vương là con Nghệ Tông lên nối ngôi
Thấy Thượng hoàng mê muội, một số tướng toan đem quân vào điện cứu vua Phế
Ðế Nhưng vua viết hai chữ “Giải Giáp”, ý không muốn trái lệnh thượng hoàng Sau
đó vua Phế Ðế bị thắt cổ chết, các tướng đồng mưu giết Quý Ly đều bị sát hại
♦ Trần Thuận Tông(1388-1398):
Trang 14Niên Hiệu: Quang Thái.
Nghệ Tông thượng hoàng nghe Quý Ly, giết Phế Ðế rồi lập con út của mình làChiêu Ðinh vương sinh năm Ðinh Tỵ (1377) lên làm vua, tức là vua Thuận Tông
Hồ Quý Ly gả con gái Khâm Thánh cho Thuận Tông rồi chuyên quyền gài taychân thân tín nắm giữ những chức vụ then chốt trong triều đình và trong quân đội.Thực trạng đó khiến cho lòng dân hoang mang bất phúc, nên loạn lạc nổi lên ở nhiềunơi Kiệt liệt hơn cả là cuộc nổi dậy của nhà sư Phạm Sư Ôn ở Quốc Oai (Sơn Tây)
Về sau Sư Ôn bị một bộ tướng của triều đình là Hoàng Phùng Thế đánh, bắt được.Năm Kỷ Tỵ (1389) Chế Bồng Nga lại đem quân tiến đánh Ðại Việt Vua sai HồQuý Ly đem quân cự chiến Nhưng Hồ Quý Ly thua trận phải rút chạy Cuối năm ấyChế Bồng Nga lại tiến vào sông Hoàng Giang để đánh chiếm Thăng Long Thượnghoàng sai đô tướng Trần Khát Chân đem chiến binh đi chặn giặc
Tháng giêng năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga đi thị sát trận địa của TrầnKhát Chân Bấy giờ có hàng binh Chiêm Thành cho Khát Chân hay dấu hiệu đặc biệtcủa Chiêm Thành, đặc biệt của chiến thuyền chở Chế Bồng Nga trong số cả trămthuyền đang tiến vào trận địa Khát Chân ra lệnh mọi loại vũ khí bắn vào thuyền ấy.Chế Bồng Nga trúng tên chết Quan quân được thế đổ ra đánh, quân Chiêm đại bại.Khát Chân lấy đầu Chế Bồng Nga đem dâng triều đình Tướng Chiêm Thành là LaKhải đem 5 tàn quân về nước chiếm lấy ngôi vua Chiêm Hai người con Chế BồngNga chạy sang hàng Ðại Việt, được vua Trần trọng dụng
Trừ xong giặc Chiêm Thành, Hồ Quý Ly càng thao túng triều đình Những ngườikhông ăn cánh với mình, trừ con cái Trần Nguyên Ðán, Quý Ly đều xui Thượnghoàng giết đi Nhiều hoàng tử, thân vương đều bị sát hại
Tháng Chạp năm Giáp Tuất (1394) Thượng hoàng Nghệ Tông mất Trị vì được 3năm, làm Thái thượng hoàng 27 năm, thọ 74 tuổi Người đương thời cho Nghệ Tông
là ông vua “Chí khí đã không có, trí tuệ cũng kém, để cho gian thần lừa đảo, giết hại
cả con cháu họ hàng, xa bỏ những trung thần nghĩa sĩ, cứ tin dùng một Quý Ly chođược quyền thế đến nỗi làm xiêu đổ cả cơ nghiệp nhà Trần”
Nghệ Tông mất rồi, Quý Ly lên làm Phụ chính thái sư dịch sách để dạy vua, thâutóm trọn binh quyền trong triều ngoài lộ Ðể dễ đường thoán đoạt, Quý Ly quyết địnhdời đô vào Thanh Hoá, xây Tây Ðô (Xã Yên Tôn, Vĩnh Lộc) Năm 1397, Quý Ly bắtvua Thuận Tông phải dời kinh về Tây Ðô Tháng Ba năm sau, Quý Ly ép vua nhườngngôi để đi tu Thuận Tông buộc phải nhường ngôi cho con rồi đi tu ở cung Bảo Thanhtại núi Ðại Lại (Thanh Hoá)
♦ Trần Thiếu Ðế(1398-1400):
Niên hiệu: Kiến Tân
Hồ Quý Ly bắt vua Thuận Tông nhường ngôi cho Thái tử Án lúc đó mới có 3 tuổilên kế nghiệp tức là vua Thiếu Ðế Hồ Quý Ly tự xưng là Khâm Ðức Hưng Liệt đạivương rồi sai người giết Thuận Tông, con rể mình
Triều Trần lúc đó có Thái bảo Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng quân Trần KhátChân lập hội tề mưu trừ Quý Ly Việc bại lộ Hồ Quý Ly cho giết tất cả 370 người.Sau đấy, Hồ Quý Ly lại xưng là Quốc Tế Thượng Hoàng ở cung Nhâm Ngọ ra vàodùng nghi lễ Thiên tử Ðến tháng hai năm Canh Thìn (1400) Hồ Quý Ly bỏ Thiếu Ðếrồi tự xưng làm vua, lật đổ nhà Trần lập nên nhà Hồ
Trang 15♦ Trần Ngỗi (1407 – 1409):
Trần Ngỗi là con vua Trần Nghệ Tông; khi Hồ Quý Ly cướp ngôi, và nhà Minhxâm lược Ông chiểu tập binh sĩ, xưng là Giản Định Đế, tiến hành khánh chiến nhưngthất bại Ông bị phế bỏ, lập làm Thái Thượng Hoàng và bị giếtGiản Định Đế làm vua được hơn 1 năm (1407 – 1409), làm thái thượng hoàng được 4tháng thì bị giết, không rõ bao nhiêu tuổi
♦Trần Quý Khoáng (1409-1413)
Trần Quý Khoáng: là cháu nội vua Trần Nghệ Tông Năm 1409, do quân tướngcủa Giản Định Đế bất mãn về cách điều hành, đối xử của vua nên lập ông làm vua làTrùng Quang Đế tiếp tục kháng chiến Tuy nhiên, ông không giết mà vẫn tôn GiảnĐịnh đế làm Thái thượng Hoàng
Đầu năm 1414, ông thất bại, bị quân Minh bắt giải về Trung Quốc Giữa đường,Trùng Quang Đế nhảy xuống nước tự vẫn
Câu 2: Sự ra đời của địa
danh phủ Thiên Trường?
Vai trò, vị thế của “Hành
cung Thiên Trường” trong
quốc gia Đại Việt thế kỷ
XIII-XIV?
2.1 Sự ra đời của phủ
Thiên Trường:
Năm 1262, Trần Thánh Tông đổi hương Tức Mạc (quê gốc của nhà Trần) thành phủ
Thiên Trường, sau đó phủ được nâng thành lộ Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nhà
Lê gọi là thừa tuyên Thiên Trường Năm 1469 dưới thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, Thiên Trường được đổi làm thừa tuyên Sơn Nam Năm 1741, Thiên Trường là một phủ lộ thuộc Sơn Nam Hạ, bao gồm 4 huyện Nam Chân(Nam Trực), Giao Thủy, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên Năm 1831, là một phủ thuộc tỉnh Nam Định Ngày nay là các huyện Giao Thuỷ, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Mỹ
Lộc đều thuộc tỉnh Nam Định
2.2 Vai trò, vị thế của hành cung Thiên Trường:
Nghiên cứu di sản văn hoá Trần ở Việt Nam, các nhà khoa học ngành xã hộinhân văn khẳng định không nơi đâu lại phong phú và đậm dấu ấn như vùng đất ThiênTrường
"Giải mã" từ lòng đất
Trang 16Nghiên cứu di sản văn hoá Trần ở
Việt Nam, các nhà khoa học ngành xã
hội nhân văn khẳng định không nơi
đâu lại phong phú và đậm dấu ấn như
vùng đất Thiên Trường Khác với kinh
đô Thăng Long, trải qua biến cố lịch
sử, dấu vết kinh đô khó xác định thì
trái lại, các nhà khoa học đã phát hiện
khối lượng di vật phong phú đa dạng
tại các địa danh vùng đất Tức Mặc Từ
những năm 60, 70 của thế kỷ 20, trong khi canh tác, người dân địa phương đã pháthiện nhiều di vật thời Trần dưới lòng đất như: giếng cổ được tạo bởi 152 chiếc baonung ở phía sau chùa Phổ Minh, những sản phẩm gốm hoa nâu, ngói, đầu rồng, sành
sứ Các nhà khoa học, đã "khoanh vùng" sự chú ý vào các di chỉ, di tích thời Trầntiêu biểu tập trung tại 4 xã phía bắc thành phố Nam Định là Lộc Vượng, Lộc Hạ, MỹTrung, Mỹ Phúc Qua các
đợt khai quật đã tìm thấy 6 mảnh gốm có chữ "Thiên Trường Phủ chế" cho phép suyđoán có thể quanh Phủ Thiên Trường chính là nơi "xuất phát điểm" của gốm hoa nâu;đồng thời là nơi sản xuất các sản phẩm gốm cao cấp cùng với Thăng Long - Hà Nội,Tam Thọ, Thanh Hoá
Đặc biệt, từ tháng 6 đến tháng 12-2006, Sở Văn hoá - Thông tin đã phối hợp vớiViện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành thám sát khai quật khu vực các di tích HậuBồi, Vạn Khoảnh, Đệ Tam Tây, Lựu Phố và khu vực cánh đồng giữa chùa Phổ Minh
và đền Trần với tổng diện tích là 2100m2 Kếtquả, đã phát hiện hàng vạn di vật có niên đại
và tầng văn hoá kéo dài từ thế kỷ 13 - 19 như:gạch lát nền hình vuông có chữ "Vĩnh NinhTường", các loại ngói mũi lá, ngói mũi senkép, mũi sen đơn, ngói cong; dấu tích các bờ
đá kè, nền sân, nền gạch, xuất lộ dấu tích kiếntrúc mới như dải "hoa chanh", các ô vuông bátgiác dạng "Bồn hoa", các móng trụ bướcđầu nhận diện về kiến trúc cung Trùng Hoa cổcủa các vua Trần Với hiện trạng nói trên, các
di tích vừa được phát hiện có ý nghĩa khoahọc rất lớn Đó là "khám phá" về một mặtbằng kiến trúc hiếm có niên đại chuẩn củathời Trần (thế kỷ 13-14) Các dấu tích kiếntrúc ở đây có sự tương đồng với kiến trúcTrần ở Thăng Long, bởi vậy thông qua việcnghiên cứu các di tích này sẽ góp phần xácđịnh niên đại cho nhiều di tích Trần ở ThăngLong - Hà Nội như Đại La, Lý, Lê thuộc khu vực Cấm Thành Theo GS.TS Lưu TrầnTiêu, Chủ tịch Hội đồng bảo vệ di sản: Những di tích, di vật được phát hiện qua đợt
Hình 5: Rồng thời Trần.
Hình 6:Ấm gốm men ngà triều Trần, thế kỷ XIII-XIV.
Trang 17khai quật có quy mô lớn nhất từ trướcđến nay, là cơ sở khoa học khẳng địnhHành cung Thiên Trường là kinh đôthứ 2 của nhà Trần sau Thăng Long
Nghiên cứu tổng thể chùa Tháp, giớinghiên cứu đã tìm thấy nhiều dấu ấnmang tính đặc trưng của văn hoá Trần.Đặc biệt là hệ thống chân tảng chạmcánh sen (có kích thước 60cm x 60cm,thậm chí có viên tới 75cm x 75cm)được xếp đặt theo đồ án kiến trúc kiểuchữ công (I) Có thể coi đây là đồ ánkiến trúc mặt bằng theo kiểu chữ công(I) sớm nhất của các ngôi chùa ViệtNam vẫn còn được định vị và các thế
kỷ sau tiếp tục bảo lưu và phát triểnthành "Nội công ngoại quốc" Trước chùa là cây tháp Phổ Minh, cây tháp cổ đượcxây dựng qua 7 thế kỷ, có thể nói còn khá hoàn chỉnh (những cây tháp chùa trước đó
bị quân Minh phá huỷ thế kỷ XV) Các nhà xây dựng, kiến trúc đã kiểm định, qua
700 năm cây tháp chỉ nghiêng chưa tới
1 độ, với một kết cấu nền móng thápbền vững Nền móng xây tháp được thừa kế kỹ thuật xây tháp thời Lý, nhưngđược xử lý hết sức kỹ thuật ở vùng đồng chiêm
trũng: Nghệ nhân xưa dùng chỉ sỏi, đất sét đầm
chặt ở một độ sâu 25cm, với bình diện 8m x 8m
để xây toà tháp lên trên Tầng đế tháp được xây
theo kiểu khám thờ với các chi tiết chạm khắc
sóng nước, mây trời, hoa chanh, hoa cúc, cỏ
linh chi đó là những biểu dạng của tư
tưởng Phật giáo Trúc Lâm Và, cũng ở
ngôi chùa này, thượng điện được thờ bộ
ba Trúc Lâm tam tổ (Trần Nhân Tông,
Pháp Loa, Huyền Quang) cùng đồng thời
với bộ ba Đức Phật tổ: Phật Thích ca,
Átlan, Ca diếp Tượng Trần Nhân Tông
niết bàn được biểu đạt hình tượng một vị
Phật tổ, một đấng quân vương đã làm
trọn nhiệm vụ với non sông đất nước
(lãnh đạo quân dân Đại Việt chiến thắng
giặc Nguyên - Mông) đồng thời là người
tiếp thu đạo Phật một cách sáng tạo, và
đề xuất ra một tông phái Phật giáo phù
hợp với điều kiện địa lý, nhân văn của
Đại Việt thế kỷ XIII mang tinh thần tự
lập, tự cường, giàu lòng nhân ái và tính
Hình 8: Đầu Rồng thời Trần Hình 9: Quai rồng trên chuông Vân Bản thời Trần.
Hình 7: Bộ bát đĩa thời Trần.
Hình 10: ấm gốm
Hình 11: Gốm men hoa nâu thời Trần.
Trang 18nhập thế sâu sắc Chính những tư tưởngcủa thiền phái Trúc Lâm phù hợp với đặcđiểm địa - văn hoá Việt Nam, nên nó cósức sống lâu bền qua suốt 7 thế kỷ nay.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ Hợi,
Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 8 (1239).Mùa xuân tháng giêng, lại cho Phùng TáChu chức Nhập nội Thái phó Sai vềhương Tức Mặc xây dựng nhà cửa, cungđiện”(1)
Công trình nhà cửa, cung điện mà Phùng Tá Chu đã dành trọn phần cuối cuộc đời
để xây dựng không chỉ đơn thuần là nơi vua và hoàng tộc nghỉ chân mỗi khi qua lại
quê hương mà lịch sử đã chứng minh nó
là căn cứ chiến lược về nhiều mặt, nhất là khi có chiến tranh xảy ra Căn cứ đó gồm
có hai cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa là nơi ban định triều nghi ở trung tâm, baoquanh là bốn hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ Các cung này đều án ngữcác con sông Hoàng Giang, Vĩnh Giang, Nhị Hà, Vị Hoàng như một vành đai bảo vệphía ngoài cho hai cung điện Không chỉ có vậy, một loạt điền trang thái ấp của thânvương quý tộc Trần được đóng ở những vị trí xung yếu, sẵn sàng tiếp ứng khu vựchai cung điện khi cần
Thời nhà Trần, mối đoàn kết trong nội tộc đặc biệt được coi trọng Vua Trần ThánhTông từng nói: “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tông, người giữ cơ nghiệp của tổ tôngphải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ Tuy bên ngoài có một người ở ngôitôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là anh em ruộtthịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui Các khanh nên truyền những lời này cho concháu để chúng đừng bao giờ quên, thì lúc đó là phúc muôn năm của tông miếu xãtắc”(2) Chính vì vậy mà thời Trần, ngoài quân đội thường trực đặt dưới quyền caiquản trực tiếp của triều đình, các vương hầu quý tộc đều có lực lượng vũ trang riêng
cả Lúc thường thì đấy là lực lượng bảo vệ phủ đệ, phát triển sản xuất, tích trữ lươngthực, dự trữ sức người nhưng khi có chiến tranh, số thân binh có thể tăng lên và trởthành một bộ phận quan trọng trong toàn bộ lực lượng vũ trang tham gia cuộc khángchiến Trong ba lần kháng chiến chống
quân Nguyên Mông, các đội quân này
đều lập được những chiến công xuất
sắc Sử gia Ngô Sĩ Liên cho biết thêm:
“Theo quy chế nhà Trần, các vương
hầu ở phủ đệ của mình, khi chầu hầu
thì đến kinh đô, xong việc thì lại về
phủ đệ Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp,
Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở
Chí Linh đều thế cả… Vả lại, như năm
Đinh Tỵ đời Nguyên Phong (1257),
giặc Nguyên sang cướp, các vương
hầu cũng đem gia đồng và hương binh
thổ hào làm quân cần vương”(3) Điều
dễ dàng nhận thấy là các thái ấp của
các thân vương quý tộc đều được bố trí phía nam Thăng Long, trong đó thái ấp trên
Hình 12: Đền Bảo Lộc.
Hình 13:Đền Thiên Trường.
Trang 19trục đường nước Thăng Long - Thiên Trường là đậm đặc nhất Điều này thể hiện nhàTrần rất chú trọng bảo vệ con đường Bắc - Nam nối hai trung tâm chính trị lớn nhấtnước bấy giờ: Thăng Long - Thiên Trường Ngoài ra, quanh khu vực Thiên Trường,
sở hữu hệ thống điền trang thái ấp đều là những người trong tôn thất mà không cóngười ngoại tộc như: thái ấp A Sào, Bảo Lộc thuộc quyền sở hữu của hai cha conTrần Liễu, Trần Hưng Đạo; thái ấp Lựu Phố, Lộc Quý thuộc quyền của Trần Thủ Độ;thái ấp Cao Đài, Hậu Bồi thuộc Trần Quang Khải… Điều đó không chỉ làm tăngthêm tính cộng đồng trách nhiệm, tạo nên sức mạnh đoàn kết nội tộc mà còn biếnThiên Trường trở thành một lãnh địa tuyệt đối an toàn, tin cậy mỗi khi nước nhà cóbiến
Đầu năm 1258, đại quân Mông Cổ vượt qua biên giới, tấn công vào nước ta.Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất này, hành cung Tức Mặc trở thành một hậu cứlợi hại của quân đội nhà Trần Để giúp cho quan quân triều đình yên tâm đánh giặc,Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung là phu nhân Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ đãđưa thái tử cùng vợ con của quan tướng, hoàng thân quốc thích về lánh nạn ở TứcMặc Không chỉ chăm lo việc chăm sóc hoàng tộc, Linh Từ quốc mẫu còn đi thu thậptất cả những vũ khí còn cất giấu trong các thuyền lánh nạn để gửi ra cho quân đội nhàTrần trực tiếp chiến đấu
Sau khi chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất, nhà Trần lại càng chú ý đếnviệc xây dựng nơi đây trở thành một quân doanh để phòng bị Quân doanh đó đóngdọc theo các con sông nhỏ nối ra sông Hồng Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai(1285), quân triều đình quyết định rút lui từ
Thăng Long về vùng Thiên Trường, Trường
Yên Từ Thăng Long, Thoát Hoan huy động
đại quân đánh xuống Thiên Trường Quân Toa
Đô ở Thanh Hóa cũng được lệnh tiến công ra
Trường Yên Quân thù tập trung binh lực, tạo
thành hai gọng kìm hòng tiêu diệt quân ta
Nhưng Trần Quốc Tuấn đã có cuộc hành quân
đầy mưu trí để đánh lạc hướng kẻ thù, thoát
khỏi thế bao vây Từ Thiên Trường, một bộ
phận quân ta rút về các lộ Đông - Bắc (Hải
Phòng - Quảng Ninh) để dụ quân địch đuổi
theo rồi chờ khi đạo quân Toa Đô vượt ra
Thanh Hóa tiến vào Trường Yên thì quay vào
chiếm Thanh Hóa làm hậu cứ Toa Đô vừa vất
vả tiến ra Trường Yên lại được lệnh đánh vào
Thanh Hóa Đến đây, âm mưu của địch bao vây
tiêu diệt quân chủ lực và bộ máy đầu não kháng
chiến của ta bị thất bại hoàn toàn Rõ ràng bộ
máy đầu não kháng chiến của quân Trần đóng
tại Thiên Trường, quân đội chủ lực cũng đóng
tại đây Chỉ tiếc rằng đến nay vị trí cụ thể của
quân doanh đó vẫn chưa thể xác định
Bên cạnh việc bố trí các phòng tuyến, giao thông thuận lợi, nhà Trần còn tạo lậphai kho lương quan trọng đảm bảo gìn giữ cung cấp đủ lương thực cho quân lính khicần Kho lương A Sào (Thái Bình) không chỉ tọa lạc tại một vùng có đất đai phì
Hình 14: cọc gỗ lim trong trận chiến
sông Bạch Đằng.
Trang 20nhiêu mà còn là nơi tiếp giáp của hai con sông quan trọng là sông Luộc và sông Hóa.
Từ đây có thể ngược sông Luộc lên cửa Hải Thị gặp sông Hồng từ kinh đô ThăngLong chảy qua phủ Thiên Trường rồi ra cửa biển Giao Hải Vùng A Sào ở vào vị tríxung yếu như vậy nên được nhà Trần hết sức quan tâm Trong cuộc kháng chiếnchống quân Nguyên Mông lần thứ 3 (1288), kho lương A Sào đã đóng một vai tròquan trọng đối với chiến trường phía bắc như Lạng Giang, Chương Dương, Tây Kết,Bạch Đằng Ngoài ra kho lương thứ hai là Trần Thương (Hà Nam) nằm bên sôngHồng cũng đóng một vai trò quan trọng đối với con đường Thăng Long - ThiênTrường Trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258), lần thứ 2 (1285), hoàngthân, tôn thất nhà Trần đều đã từng rút lui từ Thăng Long theo đường sông Hồng vàosông Đại Hoàng rồi về căn cứ địa Thiên Trường Trong những lần rút lui, tiến côngnày hàng loạt trận đánh trên sông Thiên Mạc (Lý Nhân, Hà Nam) cùng các trận khácnhư trận đánh đồn A Lỗ, trận Đại Mang…đều có sự phục vụ, cung cấp lương thựckịp thời của kho lương Trần Thương Mặc dù sử sách không đề cập tới sự đóng gópcủa kho lương này, nhưng tên gọi Trần Thương nghĩa là kho lương nhà Trần cùngdấu ấn vật chất xung quanh khu vực ngôi đền Trần Thương hiện nay đã làm sáng tỏtruyền thuyết dân gian là đúng, khẳng định vai trò của một kho lương chiến lược Ởđây trong quá trình canh tác, xây dựng, nhân dân đã bắt gặp nhiều nồi đồng, mảnhgốm sứ của bát đĩa với màu men, phong cách trang trí của nghệ thuật gốm sứ Trần.Điều đặc biệt hơn nữa, trong quá trình tôn tạo, đào móng ngôi đền Trần Thương,người ta đã tìm thấy nhiều vỏ thóc xen lẫn các bát đĩa, lại càng khẳng định dấu ấn củamột kho lương (4)
Với lực lượng bảo vệ hành cung Thiên Trường, ngoài binh lính trong các điềntrang thái ấp bao quanh thì những binh sĩ quê ở phủ Thiên Trường là lực lượng chínhbảo vệ hành cung cùng các phủ đệ của vương hầu quý tộc đóng trên địa bàn Cũngchính vì vậy mà những người dân ở vùng quê hương nhà Trần không được đi thi văn
vì sợ khí lực kém đi Năm 1281, nhà Trần lập nhà học ở phủ Thiên Trường nhưng lạicấm người hương Thiên Thuộc không được vào học Quy định này đã được duy trìkhá nghiêm ngặt Năm Quý Hợi (1323) vua Trần Minh Tông ngự đến nhà Thái học,
có người tên là Mặc trong quân Thiên Thuộc ở Hoàng Giang đã dự thi và trúng khoathi Thái học sinh, vua xuống chiếu bắt trở lại quân ngũ, làm quân tại quân ThiênĐinh Người này sau thi đánh gậy lại đỗ bậc cao (5)
Theo ngọc phả chùa Cả thuộc thôn Đệ Nhất, một trong những hành cung thờiTrần, viết về sự kiện hai anh em Phạm Ngộ, Phạm Mại đã chỉ huy cánh quân phía
đông lập ba đồn binh phòng thủ cung Trùng Quang (6) Bia đá Thiên Trường phủ Đệ Nhị bia ký tại chùa thôn Đệ Nhị, xã Mỹ Trung còn cho biết khu vực này là nơi đội
quân Thiên Thuộc, Tứ Thủ trấn giữ, sẵn sàng bỏ mình vì nước Truyền thuyết vàngọc phả đình Tây thôn Đệ Tam cũng cho biết trong ba cuộc kháng chiến chống quânNguyên Mông, ngôi chùa Đệ Tam là một trong những trạm chăm sóc những binh línhnhà Trần bị thương trong chiến đấu Xa hơn chút nữa, dưới sự chỉ huy của các vịtướng Trần Phạm, Bùi Khiết, Bùi Tuyết và Trương Long, nhân dân xã Xối Đông (nay
là xã Trung Đông, huyện Trực Ninh) cùng với binh lính lập nên ba đồn binh (đồnThượng, đồn Trung, đồn Hạ) phối hợp với gia binh thái ấp Vân Đồn (Nghĩa An, NamTrực) của Trần Khánh Dư tổ chức nhiều trận đánh lớn, góp phần quan trọng cùngquân dân Đại Việt chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ hai (7), bảo vệmặt biển phía nam của Thiên Trường Chính vì cách thức bố trí về lương thực, quân
sĩ, thái ấp như vậy mà trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, mặc dù
Trang 21kinh thành Thăng Long đều bị giặc chiếm đóng, song trong cả ba lần đó Tức Mặccùng với Trường Yên, Ninh Bình và kinh thành Thăng Long đã tạo thành thế chânvạc, ỷ dốc, góp phần làm nên những chiến thắng oanh liệt Tây Kết, Chương Dương,Hàm Tử…Năm Giáp Thân (1344), triều Trần có sự thay đổi một số chức quan trongtriều thì đồng thời cũng đặt ra chức Thái phủ và Thiếu phủ ở Thiên Trường.
Như vậy, về mặt tổ chức hành chính, nhà Trần đã đặt Thiên Trường là một phủ rấttrọng yếu Điều khác với triều Lý là nhà Trần không chỉ coi Thiên Trường là quêhương, là nơi có miếu mạo dòng họ nhà vua mà còn là nơi làm việc và nghỉ ngơi củaThái thượng hoàng nhà Trần, duy trì nhất quán sự bàn giao thế hệ cầm quyền bằngchế độ Thái thượng hoàng Nhà sử học Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Gia pháp nhà Trần,con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh từ, xưng là Thượng hoàngcùng trông coi chính sự Thực ra chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi mất màthôi, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng quyết định cả Vua nối ngôi không khác gìHoàng thái tử”(8)
Ở Thăng Long thì Thượng hoàng ở cung Thánh từ, nếu về Thiên Trường thì Thượnghoàng ngự ở cung Trùng Quang Phan Huy Chú viết: “Các vua Trần sau khi nhườngngôi cho con đều về ở Thiên Trường”(9) Mặc dù đã lui về Thiên Trường nhưngThượng hoàng vẫn quan tâm đến chính sự và vẫn có quyền hành, kể cả quyền phếtruất vua nọ, lập vua kia Thượng hoàng ở Thiên Trường, vua và các quan phải đếnchầu theo định kỳ Cũng có khi Thượng hoàng đột xuất lên kinh đô để kiểm tra côngviệc chính sự của vua.Từ những tư liệu trích dẫn, có thể khẳng định thời Trần, vùngđất Tức Mặc đóng một vai trò quan trọng Vùng đất này không chỉ là đất phát tích,quê hương và đất thang mộc nhà Trần, là nơi các Thái thượng hoàng nghỉ ngơi màcòn là được các vua Trần xây dựng thành một căn cứ địa quan trọng, vững chắc, antoàn cho hoàng tộc Qua đó có thể thấy nhà Trần đã tạo lập được mối liên hệ phù hợp,mang tính chiến lược giữa hai vùng đất Thăng Long - Thiên Trường, trong đó ThăngLong là kinh đô của đất nước nhưng Thiên Trường mới là đầu não chính trị của ĐạiViệt bấy giờ
Về phương diện chính trị: có thể coi Hành cung Thiên Trường như một kinh đô
thứ hai của Đại Việt vào thế kỉ XIII, XIV( hoặc gọi khiêm nhường hơn: cách gọi củamột nhà khoa học Nhật Bản tại hội thảo về
Nhà Trần ở Quảng Ninh mới đây:phó đô;
hoặc thứ đô như cách gọi của Phạm Sư
Mạnh).Hành cung Thiên Trường được vương
triều Trần xây dựng để các Thượng Hoàng
nhà Trần lui về sinh sống nhưng cũng là nơi
các vua Trần về chầu Nói cách khác Hành
cung Thiên Trường là trung tâm quyền lực
thứ hai của Đại Việtvào thế kỉ XIII-XIV.Ở
một số phương diện nào đó, trung tâm quyền
lực nayfconf thực chất hơn trung tâm quyền
lực thứ nhất là kinh đô Thăng Long và gắn
kết chặt chẽ với Thăng Long.Mặt khác , tại Hành cung Thiên Trường, các quan củanhà Trần còn được rèn luyện, trau dồi trước khi về Thăng Long làm nhiệm vụ củamình
Về mặt quân sự: Hành cung Thiên Trường- phủ Thiên Trường là hậu cứ, hậuphương quan trọng của nhà Trầng.Án ngữ đường ra biển Đông, đường vào phía
Hình 15: Đền Trần Nam Định.
Trang 22Nam.Hành cung Thiên Trường quả là một vị trí đắc địa Lịch sử cuộc kháng chiếnchống quân xâm lược Nguyên Mông đã chứng minh điều ấy.
Về phương diện xã hội : Hành cung Thiên Trường là bước khởi đầu cho quá trình
đô thị hóa của tỉnh Nam Định Phần đô có phần đậm hơn phần thị, phải chăng thuở
ấy, một đô thị xây dựng giữa làng quê, nên phần thị chưa phát triển mạnh
Từ Hành cung Thiên Trườngđến Vỵ Hoàng, Thành Nam rồi thành phố NamĐịnh là quá trình đô thị hóa của tỉnh Nam Địnhqua các thời kì lịch sử
Về phương diện giáo dục: Vương triều Trần đã lập ra nhà học ở phủ Thiên Trườngvào năm 1281 Chế độ thi cử tuyển chọn nhân tài của nhà Trần đã xác định 7 nămmột lần, và đặt ra học vị Tam Khôi Tại đây các vua Trần đã mở các khoa thi Tháihọc sinh.Vì thế Hành cung hiên Trường còn giữ vai trò một trung tâm giáo dục.Chính vì thế Thiên Trường Nam Địnhlà một trung tâm văn hóa ở vùng đồng bằngsông Hồng Nơi đây đã hội tụ nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quí giá gắnvới vương triều Trần và các vương triều sau này
Câu 3: Những hiểu biết của bạn về ba lần quân dân Đại Việt chống quân xâm lược Nguyên – Mông thời Trần? Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử?
3.1 Những hiểu biết về ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của
quân dân Đại Việt:
*Lần thứ nhất:
Mông Cổ tấn công Đại Việt vào tháng 1 năm 1258 Từ Đại Lý (nay làVânNam, Trung Quốc) Uriyangqadai dẫn quân Mông Cổ và Đại Lý dọc theo sôngHồng vào Đại Việt Đích thân Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông dẫn quân lênnghênh địch tại Bình Lệ Nguyên (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) Quân Mông Cổ dễdàng đánh tan quân Đại Việt, nhưng đã không thành công trong việc bắt các vuaTrần Trận tiếp theo diễn ra tại Phù Lỗ (bên sông Cà Lồ) Quân
Đại Việt lại bị đánh bại Triều đình nhà Trần phải sơ tán khỏi kinh đô Quân Nguyên
dù chiếm đượcThăng Long, nhưng gặp phải khó khăn về lương thực
Trang 23Chỉ 10 ngày sau khi rút khỏi Thăng
Long, hai vua Trần lại dẫn quân
phản công, đánh thắng quân Mông
Cổ trong trận Đông Bộ Đầu (nay là
quận Ba Đình, Hà Nội) Quân Mông
Cổ lập tức bỏ thành Thăng Long rút
lui về nước, cũng bằng con đường
dọc theo sông Hồng Trên đường rút
lui, quân Mông Cổ đã bị lực lượng
các dân tộc thiểu số miền núi Tây
Bắc do Hà Bổng chỉ huy tập kích
Toàn bộ cuộc chiến lần thứ nhất chỉ
diễn ra trong vòng khoảng nửa
tháng, với chỉ khoảng 3-4 trận đánh
lớn Sau thất bại tại Đại Việt, quân
Mông Cổ phải tìm đường khác để
tấn công Tống từ phía Nam
* Lần thứ 2:
27 năm sau, Hoàng đế nhà Nguyên
là Hốt Tất Liệt ra lệnh chinh phạt
Đại Việt Cuộc chiến lần này kéo
dài khoảng 4 tháng từ cuối tháng Chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng Tư năm ẤtDậu (cuối tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 1285 dương lịch) Lần này, quân Nguyênchuẩn bị chiến tranh tốt hơn, huy động lực lượng lớn hơn Ngoài lục quân từ phía Bắctiến xuống, còn có thủy quân từ mặt trận Chiêm Thành ở phía Nam chuyểnsang.Cũng tương tự như lần thứ nhất, quân Nguyên mau chóng giành thắng lợi QuânĐại Việt liên tục bị đánh bại ở các mặt trận Lạng Sơn, Sơn Động, Vạn Kiếp, Thu Vật(Yên Bình), sông Đuống Từ phía Bắc, chỉ khoảng 20 ngày sau khi vượt qua biêngiới, quân Nguyên đã chiếm được thành Thăng Long Triều đình nhà Trần rút lui theosông Hồng về Thiên
(Ninh Bình), chịu sự truy kích ráo riết của quân Nguyên Mọi nỗ lực phản kích củacác vua Trần dọc theo sông Hồng đều bị quân Nguyên đánh bại Từ phíaNam, Sogetu dẫn quân từ Chiêm Thành lên dễ dàng đánh tan quân Đại Việt tạivùng Nghệ An-Thanh Hóa Bị ép cả trước lẫn sau, các vua Trần phải rút ra biển lênvùng Quảng Ninh, đợi đến khi cánh quân Nguyên phía Nam đi qua Thanh Hóa mớilui về Thanh Hóa
Cũng giống như lần trước, quân Nguyên lại gặp khó khăn về lương thực Trong khi
đó, quân Đại Việt đã nhanh chóng chấn chỉnh đội ngũ Khoảng gần 2 tháng sau khirút về Thanh Hóa, Đại Việt phản công Dọc theo sông Hồng, quân Đại Việt lần lượtgiành thắng lợi tại cửa Hàm Tử (nay ở Khoái Châu, Hưng Yên), bến Chương Dương(nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội), giải phóng Thăng Long
Cánh quân phía Bắc của quân Nguyên trên đường rút chạy đã bị tập kích tại sôngCầu, tại Vạn Kiếp, Vĩnh Bình Cánh quân rút về Vân Nam bị tập kích tại Phù Ninh
Hình 16: Bản đồ Cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ
nhất của quân Nguyên - Mông
Hình 17 : Bản đồ mô tả cuộc kháng chiến lần thứ 2 chống
quân Nguyên - Mông
Trang 24Cánh quân phía Nam bịtiêu diệt hoàn toàn tại TâyKết (Khoái Châu).
* Lần thứ 3:
Ngay sau khi bại trận vềnước năm 1285, quânNguyên chỉnh đốn quânngũ, bổ sung lực lượng,đóng tàu chiến, huy độnglương thực để trở lại đánhĐại Việt lần thứ ba Cuộcchiến lần này kéo dàikhoảng gần 4 tháng, từ cuốitháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288 Quân Nguyên chia làm 3 cánh vàoĐại Việt từ Vân Nam, từ Quảng Tây và từ Quảng Đông (theo đường biển) vào ĐạiViệt
Giống như 2 lần trước, quân Nguyên mau chóng đánh tan quân Đại Việt cả trên bộlẫn trên biển, nhưng lại chịu một tổn thất quan trọng, đó là lương thực chuyên chởbằng tàu biển bị mất hết vì bị các đơn vị của Trần Khánh Dư tấn công ở Vân Đồn, vìbão biển, vì đi lạc Quân Nguyên tập trung ở Vạn Kiếp và đánh rộng ra xung quanh,chiếm được Thăng Long, nhưng lại bị đói giống như hai lần trước
Khác với 2 lần trước, lần nay quân Đại Việt không huy động lực lượng lớn chặn đánhquân Nguyên từ đầu, mà chỉ đánh có tính kìm chân Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượngĐại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng, từ đó tổ chức các cuộc tấn công vào căn cứVạn Kiếp và đánh thủy quân Nguyên
Vì đói và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên bỏ Thăng Long rút về VạnKiếp, rồi chủ động rút lui dù quân Đại Việt chưa phản công lớn Cánh thủy quân củaNguyên đã bị tiêu diệt hoàn toàn tại sông Bạch Đằng khi định rút ra biển Các cánhlục quân Nguyên khi đi qua Bắc Giang và Lạng Sơn đã bị quân Đại Việt tấn công dữdội
Chấm dứt chiến tranh
Sau thất bại lần thứ ba năm 1288 ở Đại Việt, Nguyên Thế Tổ - Hốt Tất Liệt vẫn chưamuốn đình chiến Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưngchưa gặp thời cơ thuận tiện Có năm sắp tiến quân thì chánh tướng chết nên hoãnbinh, năm sau định đánh thì phó tướng lại chết nên lại đình chỉ việc tiến quân Tớinăm 1294 lại định điều binh lần nữa thì chính Hốt Tất Liệt băng hà Cháu nội làNguyên Thành Tông lên ngôi không muốn gây chiến với Đại Việt nữa Việc chiến
tranh với nhà Nguyên từ đó mới chấm dứt.
Về số quân Nguyên
Sử sách Việt Nam và Trung Quốc nêu số quân Nguyên không thống nhất Lần đầu,
Nguyên sử chỉ nêu vài ngàn quân; sau này các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng sốquân Nguyên năm 1257 khoảng 3 vạn Nhà sử học Ba Tư là Said ud Zin cho biết
Hình 18: Bản đồ mô tả cuộc kháng chiến lần thứ 3
chống quân Nguyên – Mông.
Trang 25quân Mông đến Vân Nam có 3 vạn nhưng trước khi đến Ngạc châu gặp Hốt Tất Liệt thì số quân chỉ còn lại 5000 người.
Lần thứ hai, Đại Việt Sử ký Toàn thư chép quân Nguyên có 50 vạn và khi rút về chỉ
còn 5 vạn Nguyên Sử chép rằng chỉ có 30 vạn nếu tính luôn cả dân phu là nhữngngười không tham gia chiến đấu Con số 30 vạn được các nhà nghiên cứu Việt Namcho rằng phù hợp Tuy nhiên, về số trở về nước, chắc chắn nhiều hơn 5 vạn, vì từtháng 6 âm lịch năm 1285, Thoát Hoan rút chạy về, tới tháng 8 đã được lệnh chuẩn bịsang lần nữa Như vậy số quân còn lại cũng tương đối nhiều, gần với số cần thiếtmang đi viễn chinh lần nữa Theo 1 số tác giả thì quân Đại Việt lần này có 30 vạnngười
Lần thứ 3, Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi số quân là 50 vạn, trong khi Khâm định Việt
sử Thông giám Cương mục lại cho rằng như vậy quá nhiều, chỉ có khoảng hơn 9 vạn
là số quân bổ sung Các nhà nghiên cứu cũng của Việt Nam xác định rằng quânNguyên lần này cũng có khoảng 30 vạn như lần thứ hai, còn quân Trần có tổng sốkhoảng 20 vạn
3.2.1 Nguyên nhân thắng lợi
Nguyên nhân cơ bản nhất cho nhữngthành công của nhà Trần là chính sáchđoàn kết nội bộ của những người lãnhđạo Dù trong hoàng tộc nhà Trần cónhững người phản bội theo nhà Nguyênnhưng nước Đại Việt không bị mất, nhờ
sự ủng hộ của đông đảo dân chúng
Còn một nguyên nhân nữa phải kể tớitrong thành công của nhà Trần là đội ngũtướng lĩnh xuất sắc, nòng cốt lại chính làcác tướng trong hoàng tộc nhà Trần Dùxuất thân quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước - vàbảo vệ quyền lợi dòng tộc - số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ Thậthiếm dòng họ cai trị nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần,đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, TrầnNhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam Đó là chưa kể tới TrầnThủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản
Theo các nhà nghiên cứu, chiến thắng của nhà Trần có được nhờ vào sự sáng suốt củacác tướng lĩnh trong chiến thuật, đứng đầu là Trần Hưng Đạo Trong khi tác chiến,các tướng lĩnh nhà Trần chủ động tránh lực lượng hùng hậu người Mông mà đánhvào các đạo quân người Hán bị cưỡng bức theo quân Mông sang Đại Việt Tâm lýcủa những người mất nước và phải chịu sự quản thúc của người Mông khiến các đạoquân này nhanh chóng tan rã, sức kháng cự thấp Một cánh quân tan rã có tác độngtâm lý lớn tới các đạo quân còn lại trên toàn mặt trận
Mông-Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới Những nơi người Mông bạitrận lúc đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Nam Dương đều có biển cả ngăncách và quân Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân, lại gặp bão to (Thầnphong) nên mới bị thua trận Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục
Hình 19: Tượng đài Trần Hưng Đạo- Nam Định
Trang 26Đông Á, chung đường biên giới cả ngàn dặm với người Mông mà người Mông vẫnkhông đánh chiếm được Một đế quốc đã nằm trùm cả đại lục Á - Âu mà không lấynổi một dải đất bé nhỏ ở phía nam Tổng cộng 3 đợt xuất quân, Mông-Nguyên huyđộng hơn 60 vạn lượt quân, trong khi dân số Đại Việt khi ấy chưa đầy 4 triệu Có sosánh tương quan lực lượng với kẻ địch và vị trí địa lý với những quốc gia làm đượcđiều tương tự mới thấy được sự vĩ đại của chiến công 3 lần đánh đuổi Mông-Nguyêncủa nhà Trần.
Theo giáo sư Đào Duy Anh thì có 3 nhược điểm khiến quân Mông Nguyên thất bại ởĐại Việt:
1 Người Mông Cổ đi đánh xa, chỉ mong cướp bóc nuôi quân, nếu không được thì
dễ bị khốn vì thiếu lương
2 Quân Mông Nguyên là người phương bắc, không hợp thuỷ thổ
3 Đại đa số quân lính là người Trung Hoa bị chinh phục, tinh thần chiến đấukhông có, gặp khó khăn là chán nản
Chiến công của nhà Trần nhìn chung được nhiều thế hệ nhân dân ca ngợi qua cácthần tích, vè và những lời truyền tụng trong dân gian Sang thế kỷ 20, Trần TrọngKim và Phan Kế Bính cũng ca tụng nhiều về chiến thắng đó
Sách Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ ca ngợi chiến công đánh quân Nguyên, nhưngchê trách việc dâng công chúa An Tư cho Thoát Hoan là hạ sách
Riêng Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn, Tự Đức khôngkhen ngợi, cho rằng nhà Trần gặp may vì các tướng Nguyên sang Đại Việt đều khônggiỏi Tuy nhiên rõ ràng những tướng Nguyên như Ngột Lương Hợp Thai, Toa Đô, Ô
Mã Nhi hay Lý Hằng đều là những tướng lính dày dạn trận mạc, từng tham giadiệt Nam Tống và Đại Lý Đặc biệt là Ngột Lương Hợp Thai, được xếp vào hàngcông thần thứ 3 của nhà Nguyên, từng tham gia đánh nước Kim của người Nữ Chân;tấn công Đức và Ba Lan dưới cờ của Bạt Đô, tấn công Vương quốc Bagdad cùng HúcLiệt Ngột, và diệt nước Đại Lý chỉ trong vài tuần Trần Xuân Sinh trong Thuyết Trần phản bác quan điểm này và cho rằng những lời bình luận đó là "ngớ ngẩn".
3.2.2 Bài học lịch sử
- Đập tan tham vọng và ý chí xâm lược Đại Việt của đế chế Mông – Nguyên, bảo vệđộc lập, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của dân tộc
- Thể hiện sức mạnh của dân tộc, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược
- Góp phần xây dựng truyền thống dân tộc, xây dựng học thuyết quân sự, xây dựngkhối đoàn kết toàn dân để lại nhiều bài học kinh nghiệm…
- Nâng cao lòng tự hào, tự cường của dân tộc, củng cố niềm tin cho nhân dân.
- Kế hoạch bành trướng xuống phương Nam và Đông Nam Á bị phá tan
Trang 27Câu 4: Những đóng góp nổi bật của quân, dân Nam Định trong kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ; thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ, quân, dân Nam Định?
bộ và nhân dân Nam Định cũng phải đối phó với nhiều khó khăn phức tạp Thù tronggiặc ngoài đe dọa, tình hình đất nước ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc
Về kinh tế, mọi ngành sản
xuất đều sút kém, đình đốn
Sản xuất nông nghiệp suy
giảm, ruộng đất hoang hóa
nhiều Hàng hóa khan hiếm,
nạn đầu cơ tích trữ phát
triển Về tài chính, ngân quỹ,
kho bạc nói chung không
còn gì Giữa lúc đó, các thế
lực đế quốc núp dưới danh
nghĩa quân Đồng minh để
tước vũ khí quân đội Nhật
cũng tràn vào từ hai đầu đất
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách
cần phải làm ngay Ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến
Hình 20: : Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm
thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945