Quán triệt sâu sắc đường lối quân sự quốc phòng cuả Đảng, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, tăng cường tác chiến phòng thủ bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ biên giới, giữ vững ổn [r]
Trang 1Bài dự thitìm hiểu 70 năm truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu
BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH
BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN
BÀI DỰ THI ’'TÌM HIỂU 70 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU II'' (19/10/1946 – 19/10/2016) Họ và tên:
Cấp bậc:
Chức vụ:
Đơn vị:
Trang 2Câu hỏi 1: Quân khu 2 được thành lập ngày, tháng, năm nào, đã bao lần thay đổi tên gọi, hiện nay Quân khu 2 gồm những tỉnh nào?
Trả lời:
- Ngày 16/10/1993 Bộ tư lệnh Quân khu đã tiến hành tổ chức hội thảo khoa học để xác định ngày truyền thống của LLVT Quân khu 2 dựa trên căn cứ chủ yếu sau:
- Ngày 19/10/1946 Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng đã họp, quyết định nhiều biện pháp quan trọng, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến Trung ương quyết định giải thể
Xứ ủy và Ủy ban hành chính Bắc Bộ, cả nước chia thành 12 chiến khu, các tỉnh Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái vẫn thuộc chiến khu 2
- Ngày 24/12/1993 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cho ý kiến nên lấy ngày 19/10/1946 là ngày truyền thống LLVT Quân khu 2 vì: Chiến khu 10 lúc bấy giờ đã có
Bộ Tư Lệnh riêng và đã bao gồm phần lớn địa bàn Quân khu 2 ngày nay
- Dựa vào các căn cứ trên, theo đề nghị của Bộ Tư Lệnh Quân khu 2, ngày 08/9/1995 Bộ Quốc Phòng ra Quyết định số 794/QĐ-BQP công nhận ngày 19/10/1946 là ngày truyền thống của LLVT Quân khu 2
+ Tên gọi của Quân khu 2 qua các thời kỳ
- Chiến khu 10
- Liên khu 10
- Liên khu Việt Bắc
- Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Bắc
- Quân khu Tây Bắc
+ Quân khu 2 gồm 09 tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ, Vĩnh Phúc,
Hà Giang, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang
Câu hỏi 2: Tại sao nói Quân khu 2 là địa bàn chiến lược quan trọng về quốc phòng – an ninh; hãy nêu vị trí địa lý, diện tích, dân số, các dân tộc trên địa bàn Quân
Trang 3Trả lời:
Do vị trí địa lí quân sự quan trọng: Có đường biên giới dài, nằm trong vùng tiếp giáp giữa ba nước Việt Nam – Lào – Trung Quốc; đồng thời tiếp giáp với Quân khu 1, Quân khu 3, đặc biệt là Bộ Tư Lệnh thủ đô hình thành thế bố trí chiến lược liên hoàn
Là địa bàn có tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Là một trong những cái nôi của nền văn minh Sông Hồng Trong buổi đầu dựng nước là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước; nhân dân các dân tộc Tây Bắc giàu lòng yêu nước, có truyền thống cách mạng, kiên cường, cần cù, sáng tạo và có nền văn hóa phong phú đặc sắc
Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc Quân khu 2 vừa là tiền tuyến vừa
là hậu phương vững chắc; vừa làm tròn nhiệm vụ dân tộc, vừa làm tròn nghĩa vụ quốc tế
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, địa bàn Quân khu 2 là một trong những điểm chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tring chiễn lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ
Quân khu 2 nằm ở phía Bắc và Tây Bắc Bắc bộ, địa bàn Quân khu 2 bao gồm 9
tỉnh: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Yên Bái , Bao gồm 75 huyện, 04 thị xã, 09 thành phố; 1.504 xã, phường, thị trấn;
có diện tích rộng 64.598,17 km2, có gần 7 triệu dân Có đường biên giới chung với các nước Lào và Trung Quốc dài 1.402 km, với 14 cửa khẩu (trong đó 02 cửa khẩu quốc tế;
06 của khẩu quốc gia; 06 cửa khẩu phụ)
Địa hình Quân khu 2 chủ yếu là rừng núi, xen kẽ là đồi núi thấp và thung lũng nên rất hiểm trở và hết sức phức tạp Trên địa bàn Quân khu có 34 dân tộc anh em cùng sinh sống
Câu hỏi 3:Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và làm nhiệm vụ quốc tế, nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh của quân và dân Quân khu 2 đã đi vào lịch sử, đồng chí hãy cho biết thời gian và diễn biến chính của 05 chiến dịch, trận đánh tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp?
Trả lời:
Trang 4Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và làm nhiệm vụ quốc tế, nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh của quân và dân Quân khu 2 đã đi vào lịch sử với các chiến dịch:
* Trong kháng chiến chống Pháp gồm 20 chiến dịch tiêu biểu:
1 Chiến dịch Việt Bắc (Sông Lô 1, Thu - Đông 1947)
2 Chiến dịch Nghĩa Lộ từ ngày 18 đến 25/3/1948
3 Chiến dịch Yên Bình Xã 1 từ ngày 01 đến 15/6/1948
4 Chiến dịch Yên Bình Xã 2 tháng 10/1948
5 Chiến dịch Sông Đà từ tháng 01/1949 đến 02/1949
6 Chiến dịch Lao- Hà từ ngày 01/03 đến 20/4/1949
7 Chiến dịch Sông Lô 2 từ ngày 05/5 đến 30/5/1949
8 Chiến dịch Sông Thao từ ngày 19/5 đến 18/7/1949
9 Chiến dịch chống càn Ca - Ni -Gu (Vĩnh Yên - Phúc Yên) từ tháng 7/1949 đến tháng 10/1949
10 Chiến dịch Sông Mã tháng 11/1949
11 Chiến dịch Lê Lợi từ ngày 02/11/1949 đến tháng 01/1950
12 Chiến dịch Lê Hồng Phong I từ ngày 08/02 đến 10/03/1950
13 Chiến dịch Lê Hồng Phong II từ ngày 13/09 đến 12/11/1950
14 Chiến dịch Trần Hưng Đạo từ ngày 25/12/1950 đến 17/01/1951
15 Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (đường số 18) từ ngày 20/03 đến 07/04/1951
16 Chiến dịch Lý Thường Kiệt tháng 10/1951
17 Chiến dịch Hòa Bình tháng 11/1951
18.Chiến dịch Tây Bắc từ 14/10 đến 10/12/1952
19 Chiến dịch Lai Châu từ ngày 10 đến 20/ 12/1953
20 Chiến dịch Điện Biên Phủ từ 13/03 đến 07/05/1954
Trang 5* Trong thực hiện ngiệm vụ Quốc tế giúp cách mạng Lào, LLVT quân khu 2 đã cùng bạn tiến hành 09 chiến dịch lớn:
1 Chiến dịch Thượng Lào (1953)
2 Chiến dịch Nậm Hu (1954)
3 Chiến dịch Nậm Thà (1962)
4 Chiến dịch GIải phóng Cánh Đồng Chum (1964)
5 Chiến dịch Nậm Bạc (1968)
6 Chiến dịch Mường Sùi (1969)
7 Chiến dịch Toàn Thắng (1969, 1970)
8 Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sùi (19671, 1972)
9 Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1972)
* Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược mùa xuân năm 1975:
1 Chiến dịch Huế - Đà Nẵng
2 Chiến dịch Tây Nguyên
3 Chiến dịch Hồ Chí Minh
Trong đó có các chiến dịch tiêu biểu đi vào lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát triển lớn mạnh của Quân khu trong thời kháng chiến chống Pháp với 5 chiến dịch lớn:
1 Chiến thắng Sông Lô (chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947)
Trong toàn chiến dịch quân và dân khu 10 đã chiến đấu hơn 60 trận, tiêu diệt trên 1.600 tên địch, bắn chìm và bắn cháy 15 tàu, bắn rơi 1 máy bay ( số địch bị tiêu diệt gần bằng ½ tổng số thiệt hại của địch trong toàn bộ chiến dịch Việt Bắc) Ta phá hủy và thu được nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng
Quân và dân Khu 10 đã bẻ gãy " Gọng kìm Sông Lô" xủa địch, góp phần đánh bại cuộc tiến công lên Việt Bắc của giặc Pháp, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, tạo thế
và lực để cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn mới
Trang 62 Chiến thắng của Tự vệ Thành Tuyên Quang (chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947)
Đó là chiến công của tự vệ thành Tuyên Quang, đã đã phục kích đánh địch diệt hơn 100 tên khi chúng đang hành quân từ Tuyên Quang lên Chiêm Hóa ngày 22/10/1947 tại km số 7( đường Tuyên Quang Hà Giang)
Sau khi nắm được kế hoạch hành quân của địch, đêm 21/10/1947 tự vệ thành Tuyên Quang đã sử dụng 4 quả bom loại 100kg ( thu được của địch) bố trí trận địa phục kích Khoảng 10 giờ sáng ngày 22/10/1947 đội hình địch gồm 500 tên thuộc Tiểu đoàn
Lơ – giot lọt vào trận địa Ta kịp thời điểm hỏa, những tiếng nổ long trời, dậy đất rơi đúng vào đội hình địch, xác địch nằm ngổn ngang 72 tên chết tại chỗ, 30 tên khác bị thương, số sống sót hết sức kinh hoàng vội rút về thị xã, bị ta truy kích đến km số 5 diệt thêm 30 tên nữa thu nhiều vũ khí, đạn dược
Sau trận này, chính kẻ địch phải thừa nhận " Tiếng nổ hỏa ngục" ở km số 7 đã bẻ gãy và làm thất bại hoàn toàn cuộc hành quân của chúng
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá đây là một trong 10 chiến thắng lớn của toàn chiến dịch Việt Bắc
3 Chiến dịch Biên Giới 1950
Hướng chính của chiến dịch là Cao – Bắc – Lạng có Trung đoàn 174 tham gia Hướng nghi binh là Lào Cai, gồm Trung đoàn 165; Trung đoàn 148; một tiể đoàn của Hà Tuyên; 2 đại đội của Lào Cai; 1 đại đội của Yên Bái Tổng số binh lực lên tới 21 đại đội
Kết quả:Trên hướng chính ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 10 tiểu đoàn địch ( trên
8000 tên) thu 3.000 tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh; trên hướng nghi binh, quân và dân Quân khu 2 đã hoàn thành nhiệm vụ, diệt và làm tan dã 2 tiểu đoàn địch ( diệt 244 tên, có 1/3 là Âu Phi), thu nhiều vũ khí có cả pháo lớn, bức rút 63 vị trí, giải phóng hầu hết tỉnh Lào Cai, huyện Hoàng Su Phì/ Hà Giang và một phần tỉnh Yên Bái
Chiến dịch Biên Giới giải phóng khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập ( Lạng Sơn) , nối liền biên giới Tây Bắc và Đông Bắc thành một dài, mở thông giao lưu quốc tế, làm thay đổi cục diện chiến tranh: ta bước sang giai đoạn chiến lược phản công
và tiến công, buộc Pháp chuyển dần sang chiến lược phòng ngự
Trang 74 Chiến dịch Tây Bắc 1952
- Sau gần 2 tháng ( 14/10 – 10/12) anh dũng chiến đấu, quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, diệt 1.005 tên, bắt sống 5.024 tên; tiêu diệt 4 tiểu đoàn và 28 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ; phá hủy và thu toàn bộ
vũ khí, đồ dùng quân sự, các kho lương thực thực phẩm Vùng mới giải phóng rộng 28.500 km2 với 25 vạn dân Cả 4 cánh đồng lớn Mường Thanh/ Điện Biên, Mường Lò/ Nghĩa Lộ; Mường Tấc/ Phù Yên, Mường Than/ Than Uyên đã thuộc về ta
- Tây Băc trở thành căn cứ địa nối liền với Việt Bắc, là " một bảo đảm lâu dài cho cuộc kháng chiến của chúng ta và sẽ có ảnh hưởng tới cách mạng Lào, mặc dù tình hình sau này phát triển như thế nào" Chiến thắng Tây Bắc đã đua cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiến lên một bước mới trên con đường tiếp tục giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược, đồng thời đã đập tan cái gọi là " sự thái tự trị" trong âm mưu chia rẽ dân tộc " dùng người việt đánh người Việt" của thực dân pháp
Đây cũng là thắng lợi của tinh thần phục vụ hết lòng hết sức của tiền tuyến của quân dân khu vực Tây Bắc: Gần 20 vạn dân công, với 7 triệu ngày công, 11750 tấn gạo,
164 tấn muối, 235 tấn thịt, 44 tấn thực phẩm, 83 tấn vũ khí, quân trang, quân dụng đã được huy động phục vụ chiến dịch
5 Chiến dịch Điện Biên Phủ
Với tinh thần" Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" nhân dân các dân tộc Tây Bắc mặc dù bị mất mùa, sâu chiến dịch Tây Bắc còn gặp nhiều khó khăn những vẫn tích cực tham gia đóng góp sức người sức của cho thắng lợi của chiến dịch, vượt cả số lượng, chất lượng, thời gian trung ương giao: gạo 7310 tấn( vượt chỉ tiêu 347 tấn, bằng hơn ¼ số gạo của toàn chiến dịch), thịt 389 tấn ( vượt 79 tấn) huy động 27657 dân công Riêng tỉnh Lai Châu đã huy động được 16973 dân công, 2666 tấn gạo, 226 tấn thịt, 210 tấn rau xanh, 348 ngựa thồ, 58 thuyền mảng, 24070 cây gỗ các loại làm đường cho xe pháo Châu Điện Biên, nơi tuyến lửa ác liệt đồng bào sống vô cùng khó khăn cũng đóng góp được 555 tấn gạo, 36 tấn thịt, 105 tấn rau xanh Mường Tè phi hoạt động ráo riết, nhân dân cùng bộ đội vừa tiễu phi vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu cũng đóng góp được 76 tấn gạo, 43 ngựa thồ, 14 thuyền mảng, 2700 ngày công, nhân dân Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc nô nức đi dân công hỏa tuyến tham gia mở đường, chuyển lương thực đạn dược Chiến sĩ Ma Văn Thắng quê ở Phú Thọ lập kỉ lục về thồ hàng bằng xe đạp đạt
Trang 8325 kg Nhân dân Tây Bắc còn chăm sóc bộ đội từ cái kim sợi chỉ, cỗ vũ thăm hỏi các chiến sĩ hết sức chu đáo Chỉ riêng tỉnh Phú Thọ có trên 2 vạn là thư, 1000 bộ quần áo,
175 áo trấn thủ, 92 chăn màn, 425 bánh thuốc lào, 157 kg đường, 114 kg chè khô, 2316 viên thuốc kí ninh và thuốc cảm Chiến dịch Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào của các dân tộc Tây Bắc Chiến thắng ĐIện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta
Sư đoàn 316 ( trung đoàn 174, trung đoàn 98) đã trực tiếp tham gia chiến dịch với những trận đánh xuất săc trên đồi A1, A3, C1, C2 và sân bay Mường Thanh đặc biệt trên đồi A1 – cao điểm phòng ngự then chốt trên hướng Đông của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cuộc chiến đấu giữa ta và địch ở đây diễn ra giằng co hết sức gay go, ác liệt khối bọc phá 1000kg do bộ đội ta đào hầm và đặt trong lòng hầm A1 được phát nổ là hiệu lệnh xung phong toàn mặt trận, tổng công kích vào sở chỉ huy của thực dân Pháp, bắt sống tướng Đờ- Cát – Sơ- Ri
Trong chiến cuộc Đông – Xuân 1953 – 1954 và trong chiến dịch Điện Biên Phủ,
sư đoàn 316 đã đánh 17 trận, tiêu diệt 3300 tên địch, bắt sống và gọi hàng 6500 tên thu
và phá hủy 3200 súng các loại, bắn rơi và bắn cháy 11 máy bay, 3 xe tăng cùng nhiều phương tiện chiến tranh của chiến dịch Các Trung đoàn 174, Trung đoàn 98 vinh dự được nhận cờ của chủ tịch Hồ Chí Minh, 7 đồng chí được tuyên dương anh hùng LLVT; Quân công hạng nhất, 4 huân chương quân công hạng ba
Câu hỏi 4: Những nét truyền thống tiêu biểu và bài học kinh nghiệm được rút ra qua 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của LLVT Quân khu 2 là gì?
Trả lời:
1 Những nét truyền thống tiểu biểu
Ngày 19/10/1946 theo quyết định của Trung ương; Chiến khu 10 được thành lập gồm các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Yên và huyện
Ma Đà (Hòa Bình) Ngày 08/9/1995 Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 794/QĐ-QP công nhận ngày 19/10/1946 là ngày truyền thống của LLVT Quân khu 2
Nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, Quân khu 2 là một địa bàn chiến lược quan
Trang 9tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc Bao gồm 75 huyện, 04 thị xã, 09 thành phố; 1.504 xã, phường, thị trấn; có diện tích rộng 64.598,17 km2, có gần 7 triệu dân với 34 dân tộc anh em cùng chung sống,
có đường biên giới giáp Trung Quốc và Lào dài 1.402 km
Sinh ra và lớn lên trong phong trào cách mạng của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, sự chăm lo giúp đỡ của tổ chức Đảng và Chính quyền địa phương, sự thương yêu đùm bọc của nhân dân các dân tộc Tây Bắc LLVT Quân khu đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ vượt qua nhiều thử thách
hy sinh, mưu trí sáng tạo lập nên nhiều chiến công to lớn; LLVT Quân khu ngày càng trưởng thành vững mạnh, đã viết nên truyền thống "Trung thành, tự lực, đoàn kết, anh dũng, chiến thắng" Góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và truyền thống oanh liệt của nhân dân các dân tộc Tây Bắc
70 năm qua, trên chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, trải qua các thời kỳ cách mạng, nhiều khó khăn, gian khổ, ác liệt, song dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, trong chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế cũng như xây dựng phát triển kinh tế LLVT Quân khu luôn thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân Chủ động, tự lực, tự cường, mưu trí sáng tạo, đoàn kết gắn bó, chiến đấu ngoan cường, tham gia nhiều chiến dịch trên các chiến trường, có nhiều trận đánh tiêu biểu từ Nam chí Bắc;
từ chiến dịch Thu - Đông năm 1947 với chiến thắng Sông Lô, tới các chiến dịch Sông Đà (tháng 01/1948), Nghĩa Lộ (tháng 3/1948), Yên Bình (tháng 10/1948), Sông Thao (tháng 6/1949), Lê Hồng Phong 1 và Lê Hồng Phong 2 (năm 1950), Trần Hưng Đạo (năm 1951),
Lý Thường Kiệt (tháng 10/1951), chiến dịch giải phóng Tây Bắc (năm 1952), tới chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch
sử Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, LLVT Quân khu đã cùng với nhân dân các đơn vị bạn chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt địch, bảo vệ vững chắc biên giới thiêng liêng của Tổ quốc Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, LLVT Quân khu thường xuyên nâng cao sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, lấy xây dựng
về chính trị làm cơ sở, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong LLVT Quân khu; chủ động phòng chống có hiệu quả chiến lược "Diễn
Trang 10biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị trên địa bàn, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao
Có được những chiến công và thành tích đó trước hết có sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, sự lãnh đạo thường xuyên trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân uy Trung ương, Bộ Quốc phòng
Những chiến công đó, có đóng góp rất to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Tây Bắc, đã hết lòng cưu mang đùm bọc, yêu thương, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, góp phần chiến thắng mọi kẻ thù, xây dựng quê hương Tây Bắc giàu đẹp
Những chiến công đó là sự kết tinh ý chí quyết chiến, quyết thắng, tự học, anh dũng của LLVT ba thứ quân trong Quân khu; đã không ngừng rèn luyện phấn đấu xây dựng bản lĩnh chính trị, trình độ huấn luyện, SSCĐ và chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao
Truyền thống vẻ vang của LLVT Quân khu là những di sản tinh thần quý báu được xây dựng bằng công sức, xương máu của những anh hùng, liệt sỹ và các thế hệ cán
bộ, chiến sĩ trong LLVT Quân khu và đóng góp to lớn của nhân dân các dân tộc Tây Bắc Những truyền thống, chiến công đó đã và đang trở thành nguồn sức mạnh tinh thần cổ vũ động viên mọi cán bộ, chiến sĩ trong LLVT Quân khu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao cho trong giai đoạn cách mạng mới
2 Những bài học kinh nghiệm
Một là: Đảng bộ Quân khu luôn quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân,
Quốc phòng toàn dân của Đảng, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Quân khu, đề
ra chủ trương giải pháp đúng đắn phù hợp nhằm xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận Quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, đủ sức làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch
Hai là: Thường xuyên chăm lo củng cố, tăng cường đoàn kết các dân tộc, đoàn kết
quân dân, đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, hệ thống chính trị và LLVT trong cơ chế phối hợp hành động thống nhất, kết hợp chặt chẽ kháng chiến với kiến quốc, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN