1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Bai thi tim hieu 750 nam Thien Truong Nam Dinh

20 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 35,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Coi trọng đầu tư phát triển các ngành nghề có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế... - Kết hợp giữa đầu tư đổ[r]

Trang 1

Bài dự thi: TÌM HIỂU LỊCH SỬ “ 750 NĂM THIÊN TRƯỜNG NAM ĐỊNH”

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Mạnh

Đơn vị công tác: Trường THCS Xuân Thủy

Chức vụ: Phó Hiệu trưởng

Câu 1: Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào? Thời gian tồn tại của Nhà Trần;

kể tên các đời vua Trần?

1.1 Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh nào?

Nhà Lý suy tàn từ thời vua Lý Cao Tông (1175-1210) Năm 1179, Cao Tông xuống chiếu cấm không được đem mắm muối và đồ sắt lên bán đổi ở đầu nguồn, điều này đồng nghĩa với việc bế quan tỏa cảng, làm cho nền kinh tế không phát triển Mùa hạ, tháng 4 năm 1181 mất mùa, dân chết đói gần một nửa hay năm 1199 mùa thu, tháng 7, nước to, lúa mạ ngập mất mùa, đã thế nhưng nhà Hậu Lý không thấy có đưa ra phương sách nào để cứu giúp dân chúng

mà vua còn ngự đi khắp núi sông, phàm xe vua đến đâu mà có thần linh đều cho phong hiệu

và lập miếu để thờ (năm 1189) hay đến phủ Thanh Hóa bắt voi, chế nhạc Chiêm Thành để nghe chơi hoặc năm 1203 còn cho xây dựng rất nhiều cung điện làm hao tốn của cải Điều này đã dẫn đến sự nổi dậy của dân chúng ở nhiều địa phương không thể ngăn được

Tất cả những yếu tố trên đây đã làm cho nhà Hậu Lý suy sụp Năm 1209, vua Cao Tông nghe theo lời gian thần Phạm Du giết oan tướng Phạm Bỉnh Di Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc đang trấn thủ Hoan châu mang quân ra đánh Thăng Long báo thù Vua Cao Tông và thái

tử Sảm bỏ chạy lạc mỗi người một nơi Quách Bốc lập con nhỏ của vua là Thậm lên ngôi Thái tử Sảm chạy đến nương nhờ gia tộc họ Trần ở duyên hải, nhờ sức họ Trần mang quân về đánh dẹp Quách Bốc Tuy loạn được dẹp nhưng từ đó quyền lực chi phối chính trường của họ Trần bắt đầu được hình thành, bắt đầu từ Trần Tự Khánh và sau đó là vai trò lớn của Trần Thủ Độ Năm 1210, vua Cao Tông chết, thái tử Sảm lên thay, tức là Lý Huệ Tông Triều chính hoàn toàn trong tay họ Trần Kết cục, cuối năm 1225, con gái thượng hoàng Huệ Tông (bị ép truyền ngôi đầu năm) là Lý Chiêu Hoàng đã bị ép nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, thượng hoàng Lý Huệ Tông sau đó còn bị Trần Thủ Độ ép tự tử vào năm 1226 Nhà Hậu Lý chấm dứt, nhà Trần thay thế từ đó

1.3 Kể tên các đời vua nhà Trần

Thái Tông

Kiến Trung(1226-1232) Thiên Ứng Chính Bình (1232-1251)

Nguyên Phong (1251-1258)

Trần Cảnh 1218-1277 1226-1258

Trang 2

Thánh Tông Thiệu Long (1258-1272)Bảo Phù (1273-1278) Trần Hoảng 1240-1291 1258-1278

Nhân Tông Thiệu Bảo (1278-1285)Trùng Hưng (1285-1293) Trần Khâm 1258-1308 1278-1293

Minh Tông Đại Khánh (1314-1323)Khai Thái (1324-1329) Trần Mạnh 1300-1357 1314-1329

Dụ Tông Thiệu Phong (1341-1357)Đại Trị (1358-1369) Trần Hạo 1336-1369 1341-1369

Câu 2: Sự ra đời của địa danh phủ Thiên Trường? Vai trò, vị thế của “Hành cung Thiên Trường” trong quốc gia Đại Việt thế kỷ XIII-XIV?

2.1 Sự ra đời của phủ Thiên Trường:

Năm 1262, Trần Thánh Tông đổi hương Tức Mạc (quê gốc của nhà Trần) thành phủ Thiên

Trường, sau đó phủ được nâng thành lộ Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nhà Lê gọi là thừa

Trang 3

tuyên Thiên Trường Năm 1469 dưới thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, Thiên Trường được đổi làm thừa tuyên Sơn Nam Năm 1741, Thiên Trường là một phủ lộ thuộc Sơn Nam Hạ, bao gồm 4 huyện Nam Chân(Nam Trực), Giao Thủy, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên Năm 1831, là một phủ thuộc tỉnh Nam Định Ngày nay là các huyện Giao Thuỷ, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Mỹ Lộc đều thuộc tỉnh Nam Định.

2.2 Vai trò, vị thế của hành cung Thiên Trường:

Hành cung Thiên Trường được xây dựng từ năm 1239 Công trình nhà cửa, cung điện Hành cung Thiên Trường không chỉ đơn thuần là nơi vua và hoàng tộc nghỉ chân mỗi khi qua lại quê hương mà lịch sử đã chứng minh nó là căn cứ chiến lược về nhiều mặt, nhất là khi có chiến tranh xảy ra Căn cứ đó gồm có hai cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa là nơi ban định triều nghi ở trung tâm, bao quanh là bốn hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ Các cung này đều án ngữ các con sông Hoàng Giang, Vĩnh Giang, Nhị Hà, Vị Hoàng như một vành đai bảo vệ phía ngoài cho hai cung điện Không chỉ có vậy, một loạt điền trang thái ấp của thân vương quý tộc Trần được đóng ở những vị trí xung yếu, sẵn sàng tiếp ứng khu vực hai cung điện khi cần

Đầu năm 1258, đại quân Mông Cổ vượt qua biên giới, tấn công vào nước ta Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất này, hành cung Tức Mặc trở thành một hậu cứ lợi hại của quân đội nhà Trần Để giúp cho quan quân triều đình yên tâm đánh giặc, Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung là phu nhân Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ đã đưa thái tử cùng vợ con của quan tướng, hoàng thân quốc thích về lánh nạn ở Tức Mặc Không chỉ chăm lo việc chăm sóc hoàng tộc, Linh Từ quốc mẫu còn đi thu thập tất cả những vũ khí còn cất giấu trong các thuyền lánh nạn để gửi ra cho quân đội nhà Trần trực tiếp chiến đấu

Bên cạnh việc bố trí các phòng tuyến, giao thông thuận lợi, nhà Trần còn tạo lập hai kho lương quan trọng đảm bảo gìn giữ cung cấp đủ lương thực cho quân lính khi cần

Năm Giáp Thân (1344), triều Trần có sự thay đổi một số chức quan trong triều thì đồng thời cũng đặt ra chức Thái phủ và Thiếu phủ ở Thiên Trường Như vậy, về mặt tổ chức hành chính, nhà Trần đã đặt Thiên Trường là một phủ rất trọng yếu Điều khác với triều Lý là nhà Trần không chỉ coi Thiên Trường là quê hương, là nơi có miếu mạo dòng họ nhà vua mà còn

là nơi làm việc và nghỉ ngơi của Thái thượng hoàng nhà Trần, duy trì nhất quán sự bàn giao thế hệ cầm quyền bằng chế độ Thái thượng hoàng

Ở Thăng Long thì Thượng hoàng ở cung Thánh từ, nếu về Thiên Trường thì Thượng hoàng ngự ở cung Trùng Quang

Từ những tư liệu trích dẫn, có thể khẳng định thời Trần, vùng đất Tức Mặc đóng một vai trò quan trọng Vùng đất này không chỉ là đất phát tích, quê hương và đất thang mộc nhà Trần, là nơi các Thái thượng hoàng nghỉ ngơi mà còn là được các vua Trần xây dựng thành một căn

cứ địa quan trọng, vững chắc, an toàn cho hoàng tộc Qua đó có thể thấy nhà Trần đã tạo lập được mối liên hệ phù hợp, mang tính chiến lược giữa hai vùng đất Thăng Long - Thiên Trường, trong đó Thăng Long là kinh đô của đất nước nhưng Thiên Trường mới là đầu não chính trị của Đại Việt bấy giờ

Câu 3: Những hiểu biết của bạn về ba lần quân dân Đại Việt chống quân xâm lược Nguyên – Mông thời Trần? Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử?

3.1 Những hiểu biết về ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của quân dân

Đại Việt:

*Lần thứ nhất:

Trang 4

Mông Cổ tấn công Đại Việt vào tháng 1 năm 1258 Từ Đại Lý (nay làVân Nam, Trung Quốc) Uriyangqadai dẫn quân Mông Cổ và Đại Lý dọc theo sông Hồng vào Đại Việt Đích thân Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông dẫn quân lên nghênh địch tại Bình Lệ Nguyên (nay

là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) Quân Mông Cổ dễ dàng đánh tan quân Đại Việt, nhưng đã không thành công trong việc bắt các vua Trần Trận tiếp theo diễn ra tại Phù Lỗ (bên sông Cà Lồ) Quân Đại Việt lại bị đánh bại Triều đình nhà Trần phải sơ tán khỏi kinh đô Quân Nguyên dù chiếm đượcThăng Long, nhưng gặp phải khó khăn về lương thực

Chỉ 10 ngày sau khi rút khỏi Thăng Long, hai vua Trần lại dẫn quân phản công, đánh thắng quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu (nay là quận Ba Đình, Hà Nội) Quân Mông Cổ lập tức bỏ thành Thăng Long rút lui về nước, cũng bằng con đường dọc theo sông Hồng Trên đường rút lui, quân Mông Cổ đã bị lực lượng các dân tộc thiểu số miền núi Tây Bắc do Hà Bổng chỉ huy tập kích

Toàn bộ cuộc chiến lần thứ nhất chỉ diễn ra trong vòng khoảng nửa tháng, với chỉ khoảng 3-4 trận đánh lớn Sau thất bại tại Đại Việt, quân Mông Cổ phải tìm đường khác để tấn công Tống từ phía Nam

* Lần thứ 2:

27 năm sau, Hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh chinh phạt Đại Việt Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng 4 tháng từ cuối tháng Chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng Tư năm Ất Dậu (cuối tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 1285 dương lịch) Lần này, quân Nguyên chuẩn bị chiến tranh tốt hơn, huy động lực lượng lớn hơn Ngoài lục quân từ phía Bắc tiến xuống, còn

có thủy quân từ mặt trận Chiêm Thành ở phía Nam chuyển sang

Cũng tương tự như lần thứ nhất, quân Nguyên mau chóng giành thắng lợi Quân Đại Việt liên tục bị đánh bại ở các mặt trận Lạng Sơn, Sơn Động, Vạn Kiếp, Thu Vật (Yên Bình), sông Đuống Từ phía Bắc, chỉ khoảng 20 ngày sau khi vượt qua biên giới, quân Nguyên đã chiếm được thành Thăng Long Triều đình nhà Trần rút lui theo sông Hồng về Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình), chịu sự truy kích ráo riết của quân Nguyên Mọi nỗ lực phản kích của các vua Trần dọc theo sông Hồng đều bị quân Nguyên đánh bại Từ phía Nam, Sogetu dẫn quân từ Chiêm Thành lên dễ dàng đánh tan quân Đại Việt tại vùng Nghệ An-Thanh Hóa Bị ép cả trước lẫn sau, các vua Trần phải rút ra biển lên vùng Quảng Ninh, đợi đến khi cánh quân Nguyên phía Nam đi qua Thanh Hóa mới lui về Thanh Hóa

Cũng giống như lần trước, quân Nguyên lại gặp khó khăn về lương thực Trong khi đó, quân Đại Việt đã nhanh chóng chấn chỉnh đội ngũ Khoảng gần 2 tháng sau khi rút về Thanh Hóa, Đại Việt phản công Dọc theo sông Hồng, quân Đại Việt lần lượt giành thắng lợi tại cửa Hàm

Tử (nay ở Khoái Châu, Hưng Yên), bến Chương Dương (nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội), giải phóng Thăng Long

Cánh quân phía Bắc của quân Nguyên trên đường rút chạy đã bị tập kích tại sông Cầu, tại Vạn Kiếp, Vĩnh Bình Cánh quân rút về Vân Nam bị tập kích tại Phù Ninh Cánh quân phía Nam bị tiêu diệt hoàn toàn tại Tây Kết (Khoái Châu)

* Lần thứ 3:

Ngay sau khi bại trận về nước năm 1285, quân Nguyên chỉnh đốn quân ngũ, bổ sung lực lượng, đóng tàu chiến, huy động lương thực để trở lại đánh Đại Việt lần thứ ba Cuộc chiến

Trang 5

lần này kéo dài khoảng gần 4 tháng, từ cuối tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288 Quân Nguyên chia làm 3 cánh vào Đại Việt từ Vân Nam, từ Quảng Tây và từ Quảng Đông (theo đường biển) vào Đại Việt

Giống như 2 lần trước, quân Nguyên mau chóng đánh tan quân Đại Việt cả trên bộ lẫn trên biển, nhưng lại chịu một tổn thất quan trọng, đó là lương thực chuyên chở bằng tàu biển bị mất hết vì bị các đơn vị của Trần Khánh Dư tấn công ở Vân Đồn, vì bão biển, vì đi lạc Quân Nguyên tập trung ở Vạn Kiếp và đánh rộng ra xung quanh, chiếm được Thăng Long, nhưng lại bị đói giống như hai lần trước

Khác với 2 lần trước, lần nay quân Đại Việt không huy động lực lượng lớn chặn đánh quân Nguyên từ đầu, mà chỉ đánh có tính kìm chân Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượng Đại Việt rút

về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng, từ đó tổ chức các cuộc tấn công vào căn cứ Vạn Kiếp và đánh thủy quân Nguyên

Vì đói và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp, rồi chủ động rút lui dù quân Đại Việt chưa phản công lớn Cánh thủy quân của Nguyên đã bị tiêu diệt hoàn toàn tại sông Bạch Đằng khi định rút ra biển Các cánh lục quân Nguyên khi đi qua Bắc Giang và Lạng Sơn đã bị quân Đại Việt tấn công dữ dội

Nguyên nhân thắng lợi

Nguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của nhà Trần là chính sách đoàn kết nội bộ

của những người lãnh đạo Dù trong hoàng tộc nhà Trần có những người phản bội theo nhà Nguyên nhưng nước Đại Việt không bị mất, nhờ sự ủng hộ của đông đảo dân chúng

Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnh xuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần Dù xuất thân quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước và bảo vệ quyền lợi dòng tộc

-số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ Thật hiếm dòng họ cai trị nào có nhiều nhân

tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản

Chiến công của nhà Trần nhìn chung được nhiều thế hệ nhân dân ca ngợi qua các thần tích,

vè và những lời truyền tụng trong dân gian

Câu 4: Những đóng góp nổi bật của quân, dân Nam Định trong kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ; thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ, quân, dân Nam Định?

4.1 KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-4954)

Đấu tranh giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng cách mạng (9-1945 đến 12-1946).

Với cuộc Cách mạng Tháng Tám, chính quyền mới đã được thiết lập, nhân dân ta đã được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến Nhưng nằm trong tình hình

Trang 6

chung của cả nước, sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, Đảng bộ và nhân dân Nam Định cũng phải đối phó với nhiều khó khăn phức tạp Thù trong giặc ngoài đe dọa, tình hình đất nước ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc

Về kinh tế, mọi ngành sản xuất đều sút kém, đình đốn Sản xuất nông nghiệp suy giảm, ruộng đất hoang hóa nhiều Hàng hóa khan hiếm, nạn đầu cơ tích trữ phát triển Về tài chính, ngân quỹ, kho bạc nói chung không còn gì Giữa lúc đó, các thế lực đế quốc núp dưới danh nghĩa quân Đồng minh để tước vũ khí quân đội Nhật cũng tràn vào từ hai đầu đất nước Thực chất

là chúng muốn lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ

Thuận lợi cơ bản nhất đối với chính quyền cách mạng non trẻ là được sự ủng hộ mạnh mẽ của quần chúng Trong mọi hoàn cảnh, các tầng lớp nhân dân Nam Định nói riêng và cả nước nói chung luôn vững tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh, sẵn sàng đem tính mạng và của cải để bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ chế độ mới

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải làm

ngay Ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, khẳng định

“Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được hoàn toàn độc lập”

Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh là dồn toàn lực vào việc xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trước sự tiến công thâm độc của những kẻ thù có tiềm lực quân sự lớn mạnh, tàn ác và nguy hiểm

Nhờ sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân, cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Hội đồng nhân dân các cấp diễn ra một cách tốt đẹp Ngày 6-1-1946, gần 100% số cử tri đã đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội, trong số 36 vạn cử tri có tới 33 vạn cử tri bỏ phiếu tín nhiệm cho những người Mặt trận Việt Minh giới thiệu Ngày 20-1-1946, cử tri Nam Định nô nức đi bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân cấp xã vào ngày 18-3-1946

Ngày 10-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nam Định, Chiều ngày 10-1-1946, Chủ tịch

đã nói chuyện với thân mật với đại biểu các tâng lớp nhân dân, đại biểu các tôn giáo và cán

bộ các ngành, các giới trong tỉnh Bảy giờ sáng ngày 11-1-1946, trước hơn một vạn cán bộ,

bộ đội và nhân dân Bác ân cần nhắc nhở mọi người phải đoàn kết, thương yêu nhau, chăm lo, mọi mặt công tác, ủng hộ Chính phủ Đây là lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nam Định Những lời chỉ bảo ân cần của Người đã để lại ấn tượng sâu sắc và cổ vũ Đảng bộ, nhân dân Nam Định đoàn kết, phấn đấu, khắc phục những khó khăn trở ngại, tiếp tục đi lên trong giai đoạn mới của cách mạng

Với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh, những khó khăn bước đầu đã dần được khắc phục, đời sống nhân dân ổn định, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, giữ vững; quân và dân Nam Định có điều kiện bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, chống thực dân Pháp xâm lược

Trang 7

Chiến đấu giam chân địch trong thành phố, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Cũng trong tháng 12-1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị toàn dân kháng chiến, vạch ra những nét lớn về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài

và tự lực cánh sinh

24h ngày 19-12-1946, cả thành phố Nam Định rền vang tiếng súng mở đầu cuộc kháng chiến chống xâm lược Cuộc chiến đấu của ta nhằm kiềm chế, tiêu hao sinh lực địch trong thành phố diễn ra dài ngày và mỗi lúc một ác liệt hơn Ta và địch đánh lấn, giành nhau từng căn nhà, góc phố từng nhà máy, xí nghiệp Trong cuộc chiến đấu không cân sức ấy đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh, quyết tâm giết giặc lập công Điển hình là Đoàn Bạch Hạc - Chính trị viên trung đội (thuộc Tiểu đoàn 69), Triệu Hàn - Chính trị viên trung đội (thuộc Tiểu đoàn 69), Phạm Sơn - công nhân vận chuyển, tự vệ Nhà máy sợi mới tình nguyện vào bộ đội thuộc Tiểu đoàn 75, nữ chiến sĩ cứu thương Nguyễn Thị Ca Trong trận cuối cùng địch đánh giải vây thành phố (10-3-1947) có bốn anh em ruột cùng chiến hào đã anh dũng hi sinh khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng là Tạ Quang Khải, Tạ Hồng Quang, Tạ Quang Thuấn, Tạ Quang Đức

Ngày 6-1-1947, quân dân Nam Định đánh thắng cuộc hành quân chi viện quy mô lớn của địch, chiến thắng to lớn này đã được Hồ Chủ Tịch thay mặt Quốc hội và Chính phủ điện khen

ngợi và quyết định tặng Trung đoàn 34 danh hiệu Trung đoàn tất thắng Hội nghị quân sự

toàn quốc (họp từ ngày 12 đến ngày 16 – 1 -1947) đã khen ngợi chiến công của nhân dân Nam Định và nêu gương anh dũng chống thuỷ, lục, không quân địch

Sau 86 ngày đêm liên tục chiến đấu, quân dân Nam Định đã kìm chế, giam chân một lực lượng lớn quân viễn chinh Pháp, giết và làm bị thương 400 tên, trong đó có nhiều sĩ quan và lính Âu - Phi, bắt sống sáu tên, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng Cùng với Hà Nội, và một số thành phố, thị xã khác ở Bắc Bộ, cuộc chiến đấu của quân dân Nam Định đã làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, góp phần cùng cả nước có thêm thời gian củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài Qua chiến đấu ác liệt, lực lượng kháng chiến tại Nam Định vẫn được bảo toàn và ngày càng trưởng thành

Xây dựng làng chiến đấu, củng cố hậu phương, chống địch lấn chiếm (1947 tới 10-1949)

Sau khi chiếm được mấy thành phố trống rỗng, thực dân Pháp tiếp tục xua quân sang Đông Dương Mục tiêu của chúng trong thời gian này là chiếm lấy những đường giao thông chính, lập vành đai bảo vệ thành phố, thị xã, trên cơ sở đó đánh nống ra tiêu diệt lực lượng kháng chiến và nhanh chóng kết thúc chiến tranh

Ở Nam Định, thực hiện âm mưu mở rộng chiếm đóng theo chiến thuật vết dầu loang, địch đã

mở nhiều cuộc càn quét xung quanh thành phố để khủng bố nhân dân, phá cơ sở, gây tâm lý cầu an; dụ dỗ, thúc ép dân hồi cư và đẩy lực lượng ta ra ngoài Từ tháng 4 đến tháng 6-1947, chúng đã đóng thêm một số vị trí ngoài thành phố như Đò Quan, Vạn Diệp (Nam Phong,

Trang 8

Nam Trực), Đệ Nhất (Mỹ Trung), Bảo Long (Mỹ Hà), Lê Xá (Mỹ Thịnh) thuộc huyện Mỹ Lộc và Xuân Mai (Bình Lục, Hà Nam) Cũng trong thời gian này, địch còn tổ chức một số trận đánh ra vùng tự do để khủng bố tinh thần nhân dân, cướp bóc lương thực, thực phẩm và

để vây quét lực lượng của ta, nhưng đều bị đánh trả đích đáng như các trận chợ Dần (Vụ Bản) ngày 31-3-1947, trận Lê Xá (Mỹ Thịnh, Mỹ Lộc), Núi Ngăm (huyện Vụ Bản) ngày 2-5-1947, trận Đại Đê (Vụ Bản) ngày 1-6-1947, trận Quang Sán (Mỹ Lộc) tháng 7-1947…

Vừa cơ động chiến đấu, các đơn vị bộ đội vừa đưa một bộ phận lực lượng về các địa phương

hỗ trợ, phát triển chiến tranh du kích Năm 1947, bộ đội chủ lực đánh 75 trận, bộ đội địa phương đánh 24 trận, dân quân, du kích đánh 40 trận.Tiêu biểu cho thành tích chiến đấu là đội du kích Mai Mỹ (Thành Mỹ) đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh biểu dương

Nhân dân các vùng bị địch uy hiếp tổ chức triệt phá cầu, đường, đắp ụ ngăn cơ giới của địch thực hiện khẩu hiệu vườn không, nhà trống khi địch tới Việc rào làng kháng chiến chống địch càn quét cũng được tiến hành ở nhiều địa phương Đến tháng 10-1949, toàn tỉnh đã xây dựng được 90 làng chiến đấu Đến tháng 9-1949, du kích toàn tỉnh có hơn 45.000 người; cuối năm 1949, đã có 20 trung đội du kích Phong trào tòng quân giết giặc cứu nước sôi nổi khắp các địa phương Năm 1949, có gần 9.000 người ghi tên tòng quân, bộ đội địa phương đến tháng 3-1948 từ một Đại đội Đề Thám đã xây dựng thêm tiểu đoàn Duyên Hải

Từ phong trào thi đua ái quốc, Đảng bộ đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc, tự cấp Trong khói lửa chiến tranh, phong trào bình dân học vụ tiếp tục phát triển mạnh Năm 1948, tỉnh đã thành lập các ban y tế xã, tám trạm cứu thương, 30 nhà hộ sinh, duy trì tốt hoạt động khám chữa bệnh cho nhân dân và bộ đội

Những kết quả trên đã làm cho đời sống kinh tế văn hoá, xã hội của nhân dân trong tỉnh được cải thiện từng bước trong quá trình kháng chiến kiến quốc, động viên mọi người hăng hái sản xuất và phục vụ chiến đấu

Từng bước phát triển lực lượng, chống địch mở rộng chiếm đóng, giải phóng quê hương (10-1949 – 7-1954).

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cùng với những thắng lợi của quân, dân Lào, Camphuchia trên chiến trường Đông Dương năm 1949 đã đẩy quân Pháp vào thế sa lầy, đế quốc Mỹ lợi dụng can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương

Ngày 18-10-1949, quân Pháp cho 6 tàu chiến, 2 canô chở hai tiểu đoàn theo sông Hồng đổ quân lên Hạc Châu, Liêu Đông (Xuân Trường) đánh chiếm Hành Thiện, Bùi Chu (nơi có toà giám mục) Chúng cấu kết với bọn cầm đầu phản động đội lốt đạo Thiên Chúa để bọn này tiếp tay đắc lực cho chúng Từ tháng 10-1949 đến đầu năm 1952, nhân dân sáu huyện phía nam Nam Định bước vào thời kỳ “Hai năm, bốn tháng” đầy đau thương và uất hận

Cuối tháng 4-1951, theo chủ trương của Đảng, Bộ Tổng tư lệnh mở Hội nghị tổng kết chiến dịch Hoàng Hoa Thám và quyết định mở chiến dịch Quang Trung (tức chiến dịch Hà – Nam – Ninh) nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá một mảng nguỵ quân nguỵ

Trang 9

quyền, tạo điều kiện cho việc phục hồi cơ sở, phát triển chiến tranh du kích và bảo vệ tài sản, tính mạng, mùa màng của nhân dân Tại hướng Nam Định, vừa đánh địch, vừa rút kinh nghiệm, khắc phục những khó khăn, yếu kém, Thường vụ Tỉnh uỷ Nam Định xác định quyết tâm xốc mạnh phong trào, bắt kịp thời cơ, đặt lên hàng đầu là công tác khuếch trương thắng lợi sâu rộng trong quần chúng cùng với việc phá rã ngụy quyền của địch Bằng sự kiên trì, vượt mọi gian khổ, hy sinh, quân dân ta đã từng bước chiến đấu giành giật với địch từng vùng đất, làm thất bại âm mưu chia rẽ lương - giáo của kẻ thù, giành lại thế chủ động

Ngày 23-2-1952, địch bỏ Hoà Bình rút chạy Cùng với thất bại ở Hoà Bình, việc bình định của địch trong năm 1951 bị phá vỡ Từ giữa năm 1952, ngoài việc thường xuyên tổ chức càn quét cỡ đại đội, tiểu đoàn, địch còn tổ chức nhiều cuộc hành quân quy mô lớn, dài ngày với cường độ vô cùng ác liệt trên địa bàn Nam Định

Mặc dù lực lượng không cân sức, quân và dân trong tỉnh vẫn kiên cường chiến đấu để bảo vệ khu du kích làm cho địch tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, như trận tập kích Trại huấn luyện Vạn Bảo ở thành phố Nam Định ngày 28-4-1953, diệt gọn một tiểu đoàn, bắt 500 tên địch Trận tập kích địch ở Đỗ Xá (Nam Trực) tháng 7-1953 tiêu diệt 160 tên trong đó có tên thiếu tướng Ginlơ chỉ huy cuộc càn

Như vậy trước cuộc chiến đông - xuân 1953 - 1954, quân dân Nam Định đã tạo được thế và lực mới cho cuộc kháng chiến đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất Theo thống kê chưa đầy đủ, thời gian này quân dân Nam Định đã đánh địch gần 1.600 trận, tiêu diệt 9.000 tên địch, phá huỷ 76 xe cơ giới, bắn cháy 2 máy bay, 8 tàu chiến, thu gần 1.000 súng và nhiều quân trang, quân dụng khác

Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, đêm ngày 25-5-1954, tại Nam Định, bộ đội chủ lực đã phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt hoàn toàn vị trí Thức Khoá (Giao Thuỷ) bắt 650 tên, thu toàn

bộ vũ khí, quân trang, quân dụng Ngày 4-6-1954, quân ta tiếp tục tiến công vị trí Đông Biên (Hải Hậu) Sau 12 giờ chiến đấu, ta đã giành thắng lợi, tiêu diệt một số tên, bắt sống 500 tên Trong vòng nửa đầu năm 1954, bộ đội địa phương và dân quân, du kích Nam Định đã đánh trên 1.600 trận (du kích đánh 800 trận), diệt và làm bị thương trên 3.000 tên, thu hàng trăm súng các loại, phá huỷ gần 100 xe cơ giới

Trong khi Hội nghị Giơnevơ chưa kết thúc, thì trung tuần tháng 6-1954 địch đã rục rịch rút khỏi Nam Định Và đến 9 giờ ngày 1-7-1954, thực dân Pháp đã rút toàn bộ các vị trí còn lại ở Ngô Đồng, Hành Thiện, Bùi Chu, Lạc Quần, Cổ Lễ và cuối cùng là thành phố Nam Định

Cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền còn non trẻ và kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc nói chung và nhân dân Nam Định nói riêng đã giành thắng lợi vẻ vang Với nhũng thành công đã đạt được, những kinh nghiệm và cả thử thách tôi luyện trong chiến tranh cách mạng, Đảng bộ và quân, dân Nam Định càng thêm vững tin cùng cả nước bước vào một thời kỳ mới của lịch sử dân tộc

4.2 Cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, hoàn thành cải cách ruộng đất và phục hồi kinh tế (1954-1957)

Trang 10

Ngày 21-7-1954, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương Miền Bắc

hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Sau nhiều năm bị địch chiếm đóng, đến ngày

1-7-1954, địa bàn Nam Định hoàn toàn sạch bóng quân thù Chiến tranh kết thúc, nhưng để lại cho nhân dân Nam Định những hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội

Để ổn định giá cả, phục vụ đời sống nhân dân, chính quyền cách mạng ở Nam Định đã thực hiện các biện pháp kinh tế tích cực như bãi bỏ các loại thuế, đảm phụ quốc phòng, an ninh… Tại thành phố Nam Định, ngày 3-7-1954, Uỷ ban quân quản được thành lập, đã công bố 8 chính sách và 10 điều kỷ luật đối với vùng mới giải phóng

Nhờ những biện pháp kiên quyết, kịp thời, cuộc đấu tranh chống dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di

cư vào Nam đã đạt được kết quả khá tốt: các trại tập trung di cư lập ra trái phép đã bị giải tán

Từ tháng 8-1954 đến tháng 5-1955, ta đã tuyên truyền, vận động hàng trăm gia đình và hơn 3.000 người tự nguyện rút đơn, trả giấy thông hành, yên tâm ở lại quê hương

Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp tư bản tư doanh (1958-1960)

Ngày 13-8-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh về dự hội nghị sản xuất nông nghiệp của tỉnh được

tổ chức tại xã Yên Tiến huyện Ý Yên, là nơi thí điểm đầu tiên xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Nam Định Người chỉ thị cho cán bộ và nhân dân địa phương phải quyết tâm thực hiện vụ mùa thắng lợi, tránh chủ quan, tích cực chăm bón, phòng trừ sâu bệnh cho lúa

Ngày 15-9-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại về kiểm tra tình hình chống hạn ở Nam Định Người căn dặn cán bộ, nhân dân trong tỉnh phải quyết tâm chống hạn Mọi người phải đoàn kết, giúp đỡ nhau chiến thắng thiên tai, đẩy mạnh sản xuất, ngày càng làm ra nhiều của cải, vật chất, đem lại hạnh phúc cho mọi nhà, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội

Đối với công nghiệp và thủ công nghiệp, sau ba năm khôi phục kinh tế (1955-1957), công nghiệp quốc doanh mới được phục hồi và phát triển Từ cuối năm 1958, Nam Định triển khai cuộc vận động cải tiến quản lý xí nghiệp

Đến cuối năm 1960, Nam Định hoàn thành kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội Thắng lợi đó đã đem lại những chuyển biến to lớn trong đời sống kinh tế, chính trị của nhân dân trong tỉnh

Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở địa phương (1961-1965)

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Từ ngày 15 đến 21-5-1963, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ V được tiến hành, ngày 21-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, chỉ đạo đại hội và Người đã đến thăm Nhà máy Liên hợp dệt Nam Định, thăm bệnh viện tỉnh, gặp gỡ, nói chuyện với hơn năm vạn nhân dân, cán bộ dự mít tinh chào mừng thành công của Đại hội

Ngày đăng: 09/06/2021, 14:51

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w