Tỉnh Đăk Lăk nằm trên cao nguyên phía Tây miền Trung của Việt Nam. Trải dài từ vĩ độ 11044’ đến 13032, trải dài từ 107023’ đến 109006’ kinh độ Đông, với diện tích gần 13.125 km2. Phía Bắc giáp Gia Lai, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đăk Nông, phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên, phía Tây giáp với tỉnh Modol Kiri (Campuchia). Lịch sử của vùng đất gắn liền với cuộc mở nước về phương Nam của vua Lê Thánh Tông (1471), quân Đại Việt tiến lên Tây Nguyên. Nhà vua đặt Tây Nguyên thành nước Nam Bàn, một phiên thuộc Đại...
Trang 1TRƯỜNG THPT BUÔN MA THUỘT
TỔ : ĐỊA LÍ
GIÁO VIÊN: BÙI VĂN TIẾN
Câu 1: Tỉnh Đăk Lăk được thành lập từ năm nào? Tỉnh Đăk Lăk hiện nay có bao nhiêu huyện, thị, thành phố và tên gọi các huyện, thị, thành phố?
Tỉnh Đăk Lăk nằm trên cao nguyên phía Tây miền Trung của Việt Nam Trải dài từ vĩ độ
11044’ đến 13032, trải dài từ 107023’ đến 109006’ kinh độ Đông, với diện tích gần 13.125 km2 Phía Bắc giáp Gia Lai, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đăk Nông, phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên, phía Tây giáp với tỉnh Modol Kiri (Campuchia)
Lịch sử của vùng đất gắn liền với cuộc mở nước về phương Nam của vua Lê Thánh Tông (1471), quân Đại Việt tiến lên Tây Nguyên Nhà vua đặt Tây Nguyên thành nước Nam Bàn, một phiên thuộc Đại Việt Năm 1540, vua Lê phong vương cho Thuỷ Xá (Vua nước) và Hoả Xá (Vua Lửa )
cử Bùi Tá Hán, trấn thủ Quảng Nam, kết hợp nhà chức trách địa phương, tổ chức di dân, lập ấp, xây dựng dinh điền, chỉnh đốn việc giao thương giữa người Thượng với người Kinh Có thể nói rằng từ thế kỷ XV trở về trước Tây Nguyên - Đăk Lăk chưa có một hệ thống hành chính hoàn chỉnh, về cơ bản vẫn là vùng đất được vận hành theo luật tục của các buôn làng độc lập Từ thế kỷ
XV, vùng đất này thuộc sự cai quản của Đại Việt
Vào ngày 22-11-1899, thực dân Pháp lập đại lí hành chính ở Bản Đôn Đến cuối thế kỷ XIX, Đăk Lăk thuộc địa phận đại lý hành chính Kon Tum và bị thực dân Pháp nhập vào Lào Đến 22/11/1904 theo nghị quyết của toàn quyền Đông Dương, Đăk Lăk được thành lập và tách khỏi Lào đặt dưới quyền cai trị của khâm sứ Trung Kỳ Như vậy với nghị định này Đăk Lăk đã trở thành 1 trong 20 tỉnh thuộc quyền kiểm soát của Khâm sứ Trung Kì Đến 9/2/1913 Đăk Lăk trở thành một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum Ngày 2/7/1923 tỉnh Đăk Lăk mới được thành lập lại Lúc mới thành lập, Đăk Lăk chưa chia huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng (buôn) Người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'dhur có 120 làng, người Mnông có 117 làng, người Xiêm có 1 làng
Trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương năm 1931, Đăk Lăk được chia làm 5 quận: Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đăk Song, Lăk và M'Đrắk, dưới có 440 làng Ngày 15/4/1950 Bảo Đại ban hành Dụ số 6 đặt cao nguyên Trung Phần, trong đó có Đăk Lăk làm “hoàng triều cương thổ” có quy chế cai trị riêng Sau năm 1975, Đăk Lăk có những thay đổi về hành chính: tháng 2-1976, Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra nghị định giải thể khu và hợp nhất các tỉnh ở miền Nam, trong đó có Đăk Lăk và tỉnh Quảng Đức
Ngày 26-11-2003, Nghị quyết số 22/2003 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tách Đăk Lăk thành 2 tỉnh: Đăk Lăk và Đắk Nông
Hiện Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện (với 184 xã, phường
và thị trấn), dân số tỉnh theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 là 1.728.380 người:
1 Thành phố Buôn Ma Thuột
2 Thị xã Buôn Hồ (thành lập ngày 23 tháng 12 năm 2008, tách từ huyện Krông Buk)
3 Huyện Krông Buk (có từ năm 1976, trước kia là quận Buôn Hồ)
4 Huyện Krông Pak (có từ năm 1976, trước kia là quận Phước An)
5 Huyện Lắk (có từ năm 1976, trước kia là quận Lạc Thiện)
6 Huyện Ea Súp (thành lập ngày 30 tháng 8 năm 1977, tách từ huyện Krông Buk)
7 Huyện M'Drăk (thành lập ngày 30 tháng 8 năm 1977, tách từ huyện Krông Pak)
8 Huyện Krông Ana (thành lập ngày 19 tháng 9 năm 1981, tách từ huyện Krông Pak và thị xã Buôn Ma Thuột)
9 Huyện Krông Bông (thành lập ngày 19 tháng 9 năm 1981, tách từ huyện Krông Pak)
10.Huyện Ea H'leo (thành lập ngày 3 tháng 4 năm 1980, tách từ huyện Krông Buk)
11.Huyện Cư M'gar (thành lập ngày 23 tháng 1 năm 1984, tách từ huyện Ea Súp)
12.Huyện Krông Năng (thành lập ngày 9 tháng 11 năm 1987, tách ra từ huyện Krông Búk)
13.Huyện Buôn Đôn (thành lập ngày 7 tháng 10 năm 1995, tách từ huyện Ea Súp)
14.Huyện Ea Kar (thành lập ngày 13 tháng 9 năm 1986, tách từ huyện Krông Pak và huyện M'Drăk)
Trang 215.Huyện Cư Kuin (thành lập ngày 27 tháng 08 năm 2007, tách từ huyện Krông Ana).
Câu 2: Vì sao Bộ Chính trị lại chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Tây Nguyên? Nêu tóm tắt diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Buôn Ma Thuột (l0/3/1975)?
Buôn Ma Thuột là thành phố cao nguyên của tỉnh Đăk Lăk, đồng thời là thủ phủ kinh tế -chính trị của vùng Tây Nguyên trù phú Thành phố đang sống trong những ngày tháng hoà bình, phát triển đầy hứa hẹn Nhưng không ai có thể quên được cách đây gần 35 năm về trước, tháng 3 -1975, chính trên thành phố anh hùng này đã diễn ra “Trận Buôn Ma Thuột lịch sử” Một trận đánh then chốt, mở đầu cho chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, là đòn điểm huyệt, tạo đột biến cho cuộc Tổng tiến công đại thắng mùa xuân năm 1975
Bước sang năm 1974, trước sự suy yếu trầm trọng của địch, nhận định những điều kiện thuận lợi cho ta để kết thúc chiến tranh đang đến gần, tháng 10-1974, Bộ Chính trị - Trung ương Đảng đã họp và đề ra nhiệm vụ chiến lược mới: giải phóng hoàn toàn miền Nam trong vòng hai năm
1975-1976 Hội nghị khẳng định: “Mỹ đã rút khỏi miền Nam thì khó có khả năng đưa quân trở lại miền Nam, và dù chúng có can thiệp đi chăng nữa cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn” Tiếp đó Hội nghị Bộ Chính trị họp mở rộng (từ 18 -12 -1974 đến 8 - 1 -1975) rà
soát lại tình hình, nhất là sau chiến thắng Phước Long (6 - 1 - 1975), Bộ Chính trị hạ quyết
tâm“Tổng công kích, tổng khởi nghĩa tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam Việt Nam” và
“nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975 Bộ Chính trị chọn Tây Nguyên - một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng,“ Là hướng chiến lược tấn công chủ yếu trong cuộc tiến công rộng lớn năm 1975”.
Chấp hành nghị quyết của Trung ương tháng 10 -1974, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu V và Đảng
ủy Mặt trận Tây Nguyên gấp rút triển khai kế hoạch mùa khô năm 1975 nhằm yêu cầu: “Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản“bình định” của địch, giải phóng đại bộ phận nông thôn, giải phóng một số địa bàn quan trọng, quyết tâm giành thắng lợi lớn, chuẩn bị phương án, kế hoạch khi có thời cơ, chống tư tưởng chần chừ rụt rè”.
Buôn Ma Thuột là thị xã lớn của tỉnh Đăk Lăk và là thị xã lớn nhất của Tây Nguyên với trên
7 vạn người, một trung tâm chính trị ở vùng dân tộc, diện tích khoảng 25.000km2 (17.000 đồng bào dân tộc) Bên cạnh đó, đây còn là một vị trí có tầm quan trọng nhiều mặt ở Tây Nguyên, Đông Nam
Bộ Buôn Ma Thuột lại tương đối cô lập, xa cách các trung tâm quân sự lớn, hạn chế sự chi viện lớn của địch Do vị trí như vậy, nên một trận đánh lớn vào Buôn Ma Thuột sẽ gây rung động mạnh về chiến lược, tạo sức chấn động lớn và nhanh, và ảnh hưởng đến toàn cục Chính xuất phát từ những nhận định đó, Trung ương chọn Buôn Ma Thuột làm điểm mở đầu và chủ yếu trong chiến dịch Tây Nguyên
Do ý nghĩa quan trọng của chiến dịch, đặc biệt là trận mở màn Buôn Ma Thuột, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên (tháng 2 -1975), đồng chí Văn Tiến Dũng được cử vào chỉ đạo và theo dõi tình hình Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Đại tá Đặng
Vũ Hiệp làm Chính ủy
- Chủ trương của Tỉnh ủy Đăk Lăk
Đầu năm 1975, ở thị xã Buôn Ma Thuột, có 2 trung đoàn quân ngụy (E45 và E53), Liên đoàn biệt động 21, 2 thiết đoàn, 2 pháo đội, các lực lượng cơ quan, các binh chủng xung quanh Sư bộ 23
và 1 liên đoàn bảo an 3 tiểu đoàn Trong nội thị Buôn Ma Thuột, địch có nhiều khu vực trọng yếu (hậu cứ 23, Tiểu khu Đăk Lăk, khu hành chính tỉnh, sân bay thị xã, sân bay Hòa Bình, kho thiết giáp, kho Mai Hắc Đế…) Xung quanh thị xã, địch có một hệ thống cứ điểm để bảo vệ từ xa Bộ máy tề ngụy từ thị xã đến phường xóm hoàn chỉnh, kìm kẹp dân chặt chẽ
Đối với Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk, nhận rõ trách nhiệm, tầm quan trọng do Trung ương giao phó, toàn tỉnh khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến đấu có tính chiến lược này Phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí Huỳnh Văn Cần - Bí thư tỉnh ủy họp bàn kế hoạch tấn công và nổi dậy trong toàn tỉnh Đăk Lăk
Để phối hợp với đòn tiến công quân sự, Tỉnh ủy Đăk Lăk ra kế hoạch cụ thể về chuẩn bị chiến trường, tổ chức nhiều đội công tác chính trị đi cùng bộ đội phát động quần chúng nổi dậy; đồng thời có kế hoạch phân công cụ thể cho các huyện chuẩn bị sẵn sàng truyền đơn, lời kêu gọi, thông báo, kêu gọi binh sĩ ngụy ra hàng, trấn áp bọn ác ôn, chuẩn bị thành lập Uỷ ban cách mạng ở vùng giải phóng Hàng trăm cơ sở các loại, ở vùng ven có 3 lõm căn cứ ở các đồn điền phía đông, ở
Trang 3Buôn Ea Na phía nam và Đạt Lý 2 phía bắc thị xã có phong trào cách mạng khá mạnh, có trên 400
cơ sở chính trị các loại và gần 150 du kích mật quần chúng ở các lõm căn cứ có tinh thần cách mạng rất cao, sẵn sàng phục vụ công tác, bảo vệ che giấu cán bộ cách mạng
Đó là những yếu tố - những bàn đạp vô cùng thuận lợi, quan trọng cho lực lượng ta làm chỗ dựa để hoạt động vào thị xã
Chiến dịch mở màn-trận đánh Buôn Ma Thuột: giải phóng Buôn Ma Thuột và toàn tỉnh Đăk Lăk.
Sáng ngày 5-3-1975, Trung đoàn 25 cắt đường 21 Ngày 8-3 Trung đoàn 48 đánh chiếm Thuận Mẫn và căn cứ Cẩm Ga cắt đường 14 diệt 1D bảo an, bắt 120 tên địch, thu 200 súng Ngày
9-3 Sư đoàn 10 đánh quận lỵ Đức Lập, căn cứ Núi Lửa, cứ điểm 22 Nhưng chiến sự kéo dài đến ngày 10-3 mới chiếm lại được quận lỵ và các cứ điểm Đăk Song, Đăk Sắc, diệt 1 tiểu đoàn của E53, 1 tiểu đoàn bảo an, bắt 100 tên địch, thu 14 pháo, 20 xe tăng thiết giáp
Sau đòn nghi binh ở PleiKu và Kon Tum, chiến dịch mở màn bằng cuộc tiến công chiến lược của quân chủ lực vào Buôn Ma Thuột Đúng 2giờ 03 phút sáng ngày 10-3 từ các hướng quân ta đã
nổ súng tấn công thị xã Buôn Ma Thuột (ngã Sáu) Đặc công đánh mạnh ở các nơi trọng điểm như sân bay thị xã, kho Mai Hắc Đế, bộ binh đánh sân bay Hòa Bình… Đây thực sự là cuộc đọ sức quyết liệt, sống còn giữa ta và địch trong thị xã Trong ngày này, ta đã hạ nhiều mục tiêu trong thị xã,
nhưng vẫn chưa chiếm được Sư bộ 23 và mục tiêu phía đông tiểu khu Cho dù tuớng Phú ra lệnh “tử thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá” nhưng điều đó đã bị vô hiệu hóa, bởi 10 giờ ngày 11-3, ta đã làm
chủ các mục tiêu, chiếm lĩnh Sư bộ 23 - mục tiêu cuối cùng trong thị xã Buôn Ma Thuột
Phối hợp với tấn công quân sự, những cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân được đẩy mạnh hơn bao giờ hết, nhanh chóng phá rã toàn bộ lực lượng kìm kẹp của địch ở cơ sở, xóa sạch tung tích địch, thiết lập chính quyền tự quản của nhân dân, tiền thân của Hội đồng Nhân dân và
Uỷ ban Nhân dân cách mạng các cấp
Tại thị xã Buôn Ma Thuột: Ngay trong đêm 11-3-1975, khi chủ lực vừa tiêu diệt các mục tiêu chủ yếu, đoàn cán bộ chính trị gồm 83 người, do đồng chí Tô Tấn Tài (Ama H’Oanh), Bí thư Thị ủy Buôn Ma Thuột dẫn đầu, tiến vào thị xã, tỏa xuống các đường phố, các khu dân cư, phát động quần chúng nổi dậy xóa sạch quân ngụy, phối hợp tiễu trừ bọn tàn binh địch, truy quét gián điệp và tàn quân trốn tại các khu gia cư, thu gom vũ khí, tổ chức giữ gìn trật tự an ninh, kêu gọi những người chạy lánh trở về, kêu gọi tề ngụy ra trình diện…
Ở các vùng ven thị, tranh thủ sự thắng lợi quân sự, các đội công tác kịp thời bám vào các khu đồn, ấp chiến lược cùng cơ sở tại chỗ, đưa quần chúng nổi dậy tấn công chính trị, binh vận, giải tán
tề, tước vũ khí của nghĩa quân dân vệ, phòng vệ dân sự, xóa bỏ mọi tổ chức và tàn quân địch, phá banh các khu đồn, bung dân và đưa họ về làng cũ, ổn định cuộc sống Sau 5 ngày liên tục tiến công
và nổi dậy, trên 70.000 dân thị xã Buôn Ma Thuột được hoàn toàn giải phóng
Ngày 18 - 3 - 1975, Uỷ ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột, do Đại tá Y Bốc Êban - Phó
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban Cách mạng lâm thời tỉnh Đăk Lăk, làm Chủ tịch, ra mắt trước 300 đại biểu nhân dân trước đình Lạc Giao Nhân dân hân hoan, phấn khởi với những thắng lợi to lớn mà cách mạng đã giành được
Ở địa bàn nông thôn: Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công quân sự, tiêu diệt, bức rút các lực lượng địch ở các chi khu, quận lỵ, những cứ điểm lẻ Ở các huyện, cùng với lực lượng du kích, cơ sở tại chỗ, quần chúng đã nổi dậy quét sạch bọn ngoan cố, giải tán tề ngụy, xóa tàn tích địch Cùng phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, lực lượng địa phương tỉnh Kon Tum, Gia Lai cùng quần chúng nổi dậy phá hàng loạt khu ấp dồn dân, ấp chiến lược, giải phóng thị xã Kon Tum (16 - 3 - 1975), thị xã PleiKu (17 - 3 - 1975) Ngày 28 -3-1975, toàn tỉnh Đăk Lăk hoàn toàn được giải phóng, chính quyền cách mạng về tay nhân dân
Chiến thắng Buôn Ma Thuột là “đòn điểm huyệt” đã làm cho quân ngụy không thể nào
gượng dậy nổi Sau chiến dịch Tây Nguyên, là chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử Những điều kiện thuận lợi đã được mở ra sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, “cái chìa khóa của mọi sự nằm ở Buôn Ma Thuột” quả thật không sai.
Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã đi vào lịch sử là một trong những chiến thắng oanh liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta trong cả nước, mở màn thắng lợi cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam
Chiến thắng Buôn Ma Thuột trước hết là nhờ sự chỉ đạo sáng suốt tài tình của Bộ Chính trị, của Quân uỷ Trung ương đã có quyết tâm cao, chọn đúng thời cơ lịch sử, chọn đúng điểm quyết chiến chiến lược và tập trung cao độ binh hoả lực để giành thắng lợi Chiến thắng Buôn Ma Thuột là
Trang 4chiến công chung của quân và dân trong cả nước mà trực tiếp là các lực lượng chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên đã nghi binh giỏi, tạo thế bí mật bất ngờ cho trận đánh từ xa, hợp đồng binh chủng chặt chẽ, tấn công địch liên tục bằng nhiều trận then chốt: đánh địch ở trọng điểm, đánh diệt địch phản kích, truy diệt địch chạy
Chỉ trong thời gian chưa đầy 1 tháng đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ sinh lực địch và phương tiện chiến tranh trên một chiến trường rộng lớn toàn Tây Nguyên
Góp phần vào chiến thắng vẻ vang ấy, quân dân Đăk Lăk dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
đã đoàn kết một lòng đứng lên tiến công và nổi dậy Đặc biệt sự đóng góp sức người, sức của, của đồng bào các dân tộc trong tỉnh là chất kết dính sức mạnh đấu tranh Đó là truyền thống đoàn kết Kinh - Thượng đã được vun xới từ trong lịch sử xa xưa
Với chiến thắng này, vùng đất và con người Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk đã đi vào lịch sử dân tộc như những trang sử oanh liệt Đó là niềm tự hào vô hạn của những thế hệ hôm nay với sự hy sinh của bao thế hệ cha ông đi trước Đó là một tài sản, một vốn quí cần được gìn giữ và phát huy
Câu 3: Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Đăk Lăk, các kì đại hội Đảng, các đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ qua các thời kì.
Đảng Cộng sản VN ra đời (3-2-1930) là một bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt hoàn toàn vấn đề khủng hoảng lãnh đạo của cách mạng VN Sự ra đời của ĐCSVN có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tiến trình phát triển thắng lợi của của phong trào giải phóng dân tộc ở Đăk Lăk nói riêng, Tây Nguyên nói chung
- Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt chú ý đến công tác lãnh đạo, tổ chức và vận động cách mạng trong khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, coi “ lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn Giải phóng đồng bào các dân tộc là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương, là một bộ phận của cách mạng thế giới”
- Qua trình phát triển cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Đắk Lắk từ năm 1930 trở đi là quá trình đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk đi theo tiếng gọi của Đảng và cũng là quá trình Đảng dần dần xâm nhập vào phong trào ở đây để nắm quần chúng và lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi
Ngay từ lúc thực dân Pháp xây dựng những đồn điền đầu tiên, ở Đắk Lắk đã có những hình thức đấu tranh khá sôi nổi và mạnh mẽ Những cuộc đấu tranh đó từ những hình thức bất hợp tác đến những cuộc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm v.v đã thể hiện một quá trình phong trào đi từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn Tiêu biểu là phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền Mai Dô (1927), của công nhân đồn điền MêWal, C.H.P.I, Rô Si (1933), đấu tranh của công nhân làm cấu đường 14 ở KrôngBúk (1935) và cuộc đấu tranh của công nhân dồn điền Ca Đa (1940) Phong trào đấu tranh của công nhân và sự trưởng thành của đội ngũ công nhân ở Đăk Lăk đã tạo ra tiền đề khách quan hết sức thuận lợi cho sự phát triển cách mạng ở Đắk Lắk
Bên cạnh đó, ở Nhà đày Buôn Ma Thuột, một tổ chức trung kiên được hình thành ngay trong nhà
tù để lãnh đạo cách mạng Các chiến sĩ cộng sản ở đây đã đấu tranh không mệt mỏi, đòi cải thiện tù nhân, chống tra tấn khủng bố, đòi tự do, báo chí, hội họp nhiều cuộc đấu tranh trong tù đã làm cho thực dân Pháp hoảng sợ
Trong những năm 1930 đến 1940, nhiều cuộc tổ chức vượt ngục của các chiến sĩ đã thành công Trên cơ sở đó, vào cuối năm 1940 do tình hình đòi hỏi, một số chiến sĩ cộng sản ( khoảng 10 đồng chí trong các tổ chức bí mật nhà tù) tự thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ( Chi bộ lúc đó thành lập có 10 đồng chí) Đến lúc ra tù ( 4-1945) đã có trên 150 đồng chí Ban Chấp hành có các đồng chí: Trần Hữu Dục (Bí thư), Ngô Tuân (Ba Đốc), Vịnh (Nguyễn Chí Thanh), Trần Tống, Nguyễn Hữu Khiếu Với các kí hiệu tên gọi khác nhau, chi bộ được tổ chức hoạt động và phát triển đội ngũ đảng viên của mình theo Chính cương, Điều lệ Đnảg và tự xác định phải thực hiện cho được các nhiệm vụ sau:
- Làm hạt nhân tổ chức và lãnh đạo toàn thể tù nhân đấu tranh để bảo vệ quyền lợi, bảo vệ và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho tù nhân
- Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, chuẩn bị cho hoạt đô ngj cho từng người sau khi ra tù
- Tìm cách liên lạc để tổ chức vận động cách mạng ở thị xã Buôn Ma Thuột mà trước hết là hai đối tượng là: quần chúng lao động và binh lính địch
Trang 5- Tổ chức các cuộc vượt ngục, vọt tàu lửa để đưa cán bộ về cho Đảng Bồi dưỡng lí luận cách mạng và chỉ thị, nghị quyết của Đảng cho những người sắp hết hạn tù để trở ra hoạt động cách mạng
Với việc chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Nhà đày Buôn Ma Thuột ra đời không những đã thống nhất được sự lãnh đạo của Đảng trong tù mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc vận động cách mạng ở Đắk Lắk phát triển thêm một bước mới, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Đắk Lắk
CÁC KÌ ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK
Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ra đời ở Đắk Lắk (năm 1940), đến nay Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đã trải qua 14 kì đại hội
- Tháng 8-1969, dưới sự chỉ đạo của Liên Khu uỷ V, tỉnh Đắk Lắk (lúc này gồm 4 huyện
M’Đrắk, đông Cheo Reo, tây Cheo Reo và Buôn Hồ) triệu tập Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất
tại vùng núi Chư Djũ: Về dự đại hội có 50 đại biểu được bầu ra từ các huyện và các cơ quan
tỉnh Đại hội đã kiểm điểm tình hình của tỉnh từ sau Hiệp định Giơnevơ đến năm 1960, đề ra phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 15 Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 15 đồng chí, đồng chí Nguyễn Hồng Ưng được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
Từ giữa năm 1961, các đồng chí Nguyễn Hồng Ưng và Nguyễn Liên được điều động về Khu uỷ VI, đồng chí Nguyễn Tuấn ( Ama Đăng), Phó Bí thư Tỉnh uỷ là Bí thư Tháng 6-1962, đồng chí Nguyễn Tuấn về Khu VI, đồng chí Nguyễn Viên ( Bình) Trưởng ban Quân sự tỉnh làm Quyền Bí thư Cuối năm 1962, Khu uỷ VI điều động đồng chí Nguyên Liên làm Bí thư tỉnh uỷ
- Tháng 8- 1963, Đại hội lần thứ II của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (B3):, họp tại Ea Drăh vùng
căn cứ đồng Chư Djũ Đại hội kiểm kiểm tình hình chỉ đạo của thời kì địch chuyển sang chiến tranh đặc biệt và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, tập trung vào nhiệm
vụ trung tâm là phát động quần chúng phá kềm, phá ấp giành lại nông thôn
Đại hội cũng đặc biệt nhấn mạnh đến công tác xây dựng Đảng, tăng cường sự đoàn kết trong Đảng bộ, khắc phục tư tưởng ngại gian khổ, cố thủ rụt rè, tập trung cho công tác tiến công ra phía trước Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá II, đồng chí Nguyễn Liên ( Bốn Đạo) được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Tháng 7 -1966, Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ III: được triệu tập tại vùng căn cứ
phía nam của tỉnh ( Ea Play xã Dak Tuôr) để kiểm điểm tình hình và sự chỉ đạo của tỉnh, đề ra nhiệm vụ trong giai đoạn chống chiến tranh cục bộ Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá III, đồng chí Nguyễn Liên ( Bốn Đạo) được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Tháng 4 -1969, Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ IV: họp tại buôn M Năng Dơng vùng
căn cứ phía nam của tỉnh, để kiểm điểm tình hình và sự chỉ đạo của tỉnh trong giai đoạn chống chiến tranh cục bộ, đề ra nhiệm vụ chống bình định nông thôn, chống “ Việt Nam hoá chiến tranh” và tăng cường công tác xây dựng Đảng Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá IV, đồng chí Nguyễn Liên ( Bốn Đạo) được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Sau đó, Thường vụ Khu uỷ V quyết định đưa đồng chí Võ Trung Thành ( Năm Vinh) Khu uỷ viên Khu V về làm Bí thư thay đồng chí Nguyễn Liên về Khu V nhận công tác mới
- Tháng 10 -1971, Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ V: họp tại buôn Ngô, vùng căn cứ
phía nam của tỉnh ĐH kiểm điểm tình hình và sự chỉ đạo của tỉnh sau Tết Mậu Thân và bàn phương hướng chống “Việt Nam hoá chiến tranh”, chống bình định và lấn chiếm, chuẩn bị cho đợt hoạt động năm 1972 Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá V gồm 31 đồng chí, đồng chí Huỳnh Văn Cần được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Tháng 9-1973 Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ VI: họp tại buôn Ea MDlan vùng căn
cứ phía bắc tỉnh Đại hội xác định nhiệm vụ chống lấn chiếm bình định và giữ vững vùng giải phóng, chuẩn bị mọi điều kiện cho cách mạng trong tỉnh, xây dựng hành lang an toàn, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá
VI gồm 27 đồng chí, đồng chí Huỳnh Văn Cần tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ VII: được họp vòng 1 từ ngày 12-11-1976 đến
20-11-1976, vòng 2 từ ngày 13-6-1977 đến ngày 19-6-1977, tại thị xã Buôn Ma Thuột, số lượng đại biểu được triệu tập là 252 đồng chí (25 đồng chí dự khuyết) Đại hội kiểm điểm tình hình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá- xã hội, an ninh- quốc phòng của tỉnh sau 2 năm
Trang 6đầu mới giải phóng, đề ra nhiệm vụ mới “ quyết tâm thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 1976-1980” Xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ, quân dân các dân tộc trong tỉnh tập trung cao độ vào mặt trận sản xuất nông nghiệp
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá VII gồm 39 đồng chí, đồng chí Trần Kiên được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ VIII: tiến hành từ ngày 07 đến ngày 10-11-1979, tại
thị xã Buôn Ma Thuột, số lượng đại biểu được triệu tập 351 đồng chí đến từ 16 tổ chức đảng
bộ trực thuộc Đại hội kiểm điểm tình hình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn
hoá-xã hội, an ninh- quốc phòng của tỉnh trong nhiệm kì VII và đề ra chủ trương, phương hướng, biện pháp kinh tế -xã hội trong thời kì mới (1980-1981) Đại hội xác định các nhiệm vụ: tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông – lâm – công nghiệp phát triển toàn diện, cùng nhiệm vụ sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu là trọng tâm
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá VIII gồm 43 đồng chí, đồng chí Y Ngông Niê Kđăm được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ IX: được tiến hành trong 2 vòng, vòng 2 từ ngày
5-3-1983 đến ngày 9-3-5-3-1983 tại thị xã BMT, số lượng đại biểu được triệu tập là 372 đồng chí chính thức đại diện cho 9.000 đảng viên thuộc 20 đảng bộ trực thuộc trong tỉnh
Đại hội đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh khoá VIII đã tạo ra cơ sở vật chất, kĩ thuật ban đầu cho nền kinh tế - xã hội của tỉnh Đại hội đề ra phương hưóng, nhiệm vụ chung cho Đảng bộ trong 3 năm (1983-1985) là ra sức phát triển phong trào quần chúng sâu rộng, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động Tăng cường tình đoàn kết dân tộc Đề ra các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, tiếp tục xác định vững chắc cơ cấu kinh tế công - nông – lâm nghiệp, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, đẩy mạnh sự nghiệp văn hoá- giáo dục- y tế đi vào chất lượng
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá IX gồm 45 đồng chí (4 dự khuyết) đồng chí Y Ngông Niê Kđăm được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ X: họp tại thị xã Buôn Ma Thuột từ ngày 9-10 đến
ngày 14-10-1986 Về dự đại hội có 400 đồng chí đại biểu chính thức đến từ 24 đảng bộ trực thuộc, đại diện cho hơn 10.000 đảng viên trong toàn tỉnh Đại hội đã kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm tới từ 1986-1990 là “ nắm vững đường lối và quan điểm cơ bản của Đảng, ra sức phấn đấu đến mức cao nhất với tinh thần tự lực tự cường và ý chí quyết tâm cao, phát huy triệt để sức mạnh tổng hợp của từng đại phương, cơ sở của toàn tỉnh, hướng mạnh về phía trước, tạo ra một sự thay đổi lớn trên mọi lĩnh vực ”
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá X gồm 45 đồng chí (10 dự khuyết) đồng chí Huỳnh Văn Cần được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XI: Tiến hành trong 2 vòng, vòng 2 khai mạc vào
ngày 08-1-1992 đến ngày 11-1-1992 tại thị xã Buôn Ma Thuột, số lượng đại biểu 292, thay mặt cho hơn 16.509 đảng viên trong toàn tỉnh Đại hội nhấn mạnh: Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc theo định hướng XHCN Ổn định
và phát triển kinh tế của tỉnh theo cơ cấu: nông – lâm –công nghiệp chế biến và dịch vụ Đổi mới quản lí và điều hành kinh tế của nhà nước trên cơ sở xác định được chức năng, quyền hạn được qui định Tiếp tục chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá XI gồm 47 đồng chí, đồng chí Huỳnh Văn Cần được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ Đến Hội nghị giữa nhiệm kì đồng chí Huỳnh Văn Cần nhận nhiệm vụ khác, đồng chí Ama Pui được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XII:
Triệu tập từ ngày 07-5-1996 đến ngày 10-5-1996 tại thành phố BMT, về dự đại hội có 349 đồng chí đại diện cho hơn 17.000 đảng viên của 23 đảng bộ trực thuộc trong tỉnh Đại hội đã kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm tới
từ 1996-2000 Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc theo định hướng XHCN Ổn định và phát triển kinh tế của tỉnh theo cơ cấu: nông – lâm –công nghiệp chế biến và dịch vụ Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần
Trang 7Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khoá XII gồm 49 đồng chí, đồng chí Mai Văn Năm được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ Tháng 9 -1999, đồng chí Mai Văn Năm về Uỷ ban kiểm tra Trung ương, đồng chí Nguyễn An Vinh được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XIII:
Diễn ra từ ngày 31-1-2001 đến ngày 02-2-2001 tại thành phố Buôn Ma Thuột, có 397 đại biểu tham dự thay mặt cho hơn 27.930 đảng viên của 24 đảng bộ trực thuộc tỉnh Với không khí đoàn kết, dân chủ, đổi mới, Đại hội bầu ra 47 đồng chí trong Ban chấp hành khoá XIII (2001-2005), đồng chí
Y Luyện Niê Kdăm được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
Trên cơ sở kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII, đaịi hội nhấn mạnh trong những năm tới bảo đảm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và ổn định trên cơ sở phát huy nội lực, khơi dậy tiềm năng to lớn của địa phương, kết hợp với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, tăng cường hợp tác đầu tư mở rộng thị trường nước ngoài Tiếp tục phát triển mạnh nông sản xuất khẩu đi đôi vớichuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển mạnh các nghành công nghiệp, dịch vụ, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp chế biến- nông – lâm sản Kết hợp tăng trưởng kinh tế với môi trường, thực hiện tốt các vấn đề xã hội Phấn đấu đến năm
2010 đưa tỉnh ta trở thành một tỉnh có kinh tế phát triển đạt trên mức trung bình của cả nước; có nền văn hoá tiên tiến, giữ được bản sắc dân tộc, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đến ngày 31-12-2003, tỉnh Đắk Lắk được tách thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông theo Nghị quyết 22 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ định Ban Chấp hành lâm thời gồm 46 đồng chí, đồng chí Y Luyện Niê Kđăm tiếp tục làm Bí thư Tỉnh uỷ
- Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XIV:
Tiến hành từ ngày 12-12-2005 đến ngày 14-12-2005 tại
thành phố Buôn Ma Thuột Có 299 đại biểu về dự, thay
mặt cho hơn 32.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ Trên cơ
sở kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết của Đại hội
khoá XIII, Đại hội nhấn mạnh: “ Nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức, mạnh
đoàn kết các dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục
đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển
kinh tế nhanh và bền vững” Đại hội bầu ra 48 đồng chí
trong Ban Chấp hành khoá XIV (2005-2010), đồng chí Niê
Thuật được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
CÁC ĐỒNG CHÍ BÍ THƯ TỈNH UỶ ĐẮK LẮK QUA CÁC THỜI KÌ
1 Đồng chí Phan Kiệm: sinh năm 1920 tại Thiệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Sau cách mạng tháng Tám thành công, với trách nhiệm là người phụ trách Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk, đồng chí chăm lo củng cố giữ vững chính quyền cách mạng còn non trẻ, chuẩn bịi cho ngày Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội khóa I nước Vịêt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Đắk Lắk
Đầu năm 1946, đồng chí được phân công về Khu V công tác, phụ trách mặt trận Bình Định, An Khê Tháng 6 – 1947, Trung ương điều động vào chiến trường Nam Bộ Năm 1954, đồng chí được phân công ở lại Sài Gòn- Gia Định Năm 1960, đồng chí tham gia vào Thành uỷ Sài Gòn – Gia Định Năm 1976 nghỉ công tác Đồng chí mất năm 1996
2 Đồng chí Nguyễn Khắc Tính: Bí danh “ Nguyễn Sách”, sinh năm 1920 tại Sơn Tiến, huyện
Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Đồng chí tham gia trong ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Đắk Lắk tại thị xã Buôn Ma Thuột Cuối năm 1946, Ban cán sự Đảng Đắk Lắk được thành lập, đồng chí làm Bí thư cho đến năm 1942 Năm 1962, đồng chí là Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Đức Năm 1970, làm Bí thư Khu X ( Phước Long, Quảng Đức, Bình Long cũ) Năm 1975, đồng chí làm Phó trưởng ban kinh
tế mới Trung ương cục miền Nam Năm 1977, đồng chí chuyển công tác về Bộ nông nghiệp, năm
1980 đồng chí nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh
3 Đồng chí Lê Vụ: ( tức Thái Căn), sinh ngày 14-3-1923 tại thôn Long An, huyện Triệu Phong,
tỉnh Quảng Trị Tháng 11- 1940, đồng chí bị địch bắt vào nhà lao Buôn Ma Thuột Tháng 5-1945, sau khi ra tù đồng chí hoạt động và giữ những chức vụ quan trọng: Phó chủ nhiệm Việt Minh, Uỷ Viên Ban thường vụ Tỉnh Quảng Trị, Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên Tháng 10-1949 đến tháng 4-1952, đồng chí làm Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Tháng 5-1952, là uỷ viên dự khuyết của Khu uỷ
Trang 8V, làm Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên Từ tháng 7-1961 đến tháng 2-1967, làm Khu uỷ viên Liên khu V, chánh văn phòng Trung ương cục miền Nam Tháng 3-1967 là uỷ viên Ban thống nhất Trung ương Tháng 8-1975, công tác tại Ban dân tộc Trung ương đến tháng 5-1987 nghỉ hưu và đồng chí mất ngày 18-10 -1990 tại Hà Nội
4 Đồng chí Trương Quang Giao: sinh năm 1910 tại Mĩ Khê ( Tịnh Khê, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi).
Từ tháng 2 -1939 đến tháng 1-1944 bị địch bắt và đày vào nhà lao Buôn Ma Thuột, sau đó chuyển đồng chí về Ba Tơ ( Quảng Ngãi) Cuối tháng 12-1944, đồng chí vượt ngục thành công và tiếp tục hoạt động, làm Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi Năm 1950 làm Bí thư cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk Năm 1955, đồng chí tập kết ra Bắc tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng: Phó Ban tổ chức Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Uỷ ban thống nhất của Chính phủ Năm 1977 nghỉ hưu tại Đà Nẵng và đồng chí mất năm 1983
5 Đồng chí Lê Văn Nhiễu: sinh tháng 1-1920 tại xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Tháng 9-1940 bị địch bắt và đày vào nhà lao Buôn Ma Thuột Sau cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được điều về làm cán bộ tuyên huấn Liên khu V, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn 125 Từ năm 1952-1954, là Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Đắk Lắk kiêm Chính uỷ Trung đoàn 84 Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đồng chí tiếp tục dẫn đoàn cán bộ Đắk Lắk tập kết ra Bắc, tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội, đồng chí mất tháng 5-1976
6 Đồng chí Trương Quang Tuân: sinh năm 1923 tại thôn Trà Bình, xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh,
tỉnh Quảng Ngãi Tháng 5-1947, đồng chí làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ngãi Cuối năm 1949 đến năm
1951, làm thư kí riêng cho đồng chí Phạm Văn Đồng Từ năm 1955-1957, là Uỷ viên Liên Khu uỷ
V, Bí thư cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk, Bí thư Ban cán sự Liên tỉnh IV Năm 1959, trên đường đi công tác đồng chí đã hi sinh tại Trà My, tỉnh Quảng Nam
7 Đồng chí Nguyễn Hồng Ưng: bí danh “ Vũ Anh Ba”, sinh ngày 14-4-1922 tại Tịnh Hà, Sơn
Tịnh, Quảng Ngãi Sau Hiệp định Giơnevơ, đồng chí được Khu uỷ V phân công ở lại làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai Giữa năm 1959 được phân công về làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Tháng 8-1956, trong Đại hội Đảng bộ tỉnh lần II, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Sau năm 1975, đồng chí làm Trưởng ban kinh tế mới- định canh, định cư tỉnh Lâm Đồng Năm 1978, đồng chí nghỉ hưu, năm 1996 đồng chí mất
8 Đồng chí Nguyễn Tuấn: ( A ma Đăng), sinh ngày 10-10-1924 tại thôn Long Tường, Phụng
Tường, Tuy Hoà, Tổng Hoà Tường, tỉnh Phú Yên Tháng 8-1960 đồng chí giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Tháng 12-1960, đồng chí được chỉ định làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk thay cho đồng chí Nguyễn Hồng Ưng
9 Đồng chí Võ Trung Thành: ( Năm Vinh), sinh ngày 14-10-1924 tại thôn Thuỷ Thạch, Phổ
Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Năm 1953 đồng chí được điều động lên Tây Nguyên làm Phó Bí thư Liên tỉnh Gia Lai-Kon Tum Sau đó làm Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai Tháng 6-1963, làm Bí thư B3 gồm 4 huyện M’Đrăk, đông Cheo Reo, tây Cheo Reo và Buôn Hồ Sau khi thống nhất B3 và B4 thành tỉnh Đắk Lắk, đồng chí được điều về nhận công tác mới Tháng 5-1969, đồng chí được điều động làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk thay cho đồng chí Nguyễn Liên Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí mất ngày 12-7-1982 tại Hà Nội
10 Đồng chí Nguyễn Xuân Nguyên: ( tên khai sinh là Nguyễn Liên), bí danh (Mười Nguyên),
sinh ngày 20-12-1922 tại Tịnh Thọ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi Sau Hiệp định Giơnevơ, đồng chí được phân công lên Tây Nguyên, giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum, Uỷ viên Liên khu III ( Tây Nguyên) Từ năm 1961-1963 là Uỷ viên Khu uỷ VI Tháng 3-1963, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Tháng 7-1966, được bầu lại Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, tháng 4-1969 tiếp tục giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Năm 1973, giữ chức vụ Trưởng ban miền núi Khu V, năm 1974,
Uỷ viên Thường vụ Khu uỷ V, phụ trách tuyên huấn và Ban miền núi Khu V Tháng 5-1975, đồng chí được phân công làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Năm 1987, nghỉ hưu , đồng chí là đại biểu Quốc hội khoá V, VI
11 Đồng chí Trần Kiên: tên khai sinh Nguyễn Tài (Quế) và “ Sơn”, sinh ngày 15-5-1920 tại xã
Nghĩa Kì, Tư Nghĩa,Quảng Ngãi Từ năm 1954-1960 là Bí thưc Tỉnh uỷ Kon Tum, Tỉnh uỷ viên Liên khu IV ( Tây Nguyên) Cuối 1964 đến hết 1965, Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai-Kon Tum Tháng
12-1976, taị đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Từ 1977-1978 về làm Bí thư Tỉnh uỷ Đăk Lăk Từ năm 1979-1980 là Bộ trưởng Bộ lâm nghiệp Từ tháng 12-1980 là Bí thư Tỉnh uỷ Nghĩa Bình Tại Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc của
Trang 9Đảng được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, là Bí thư Trung ương và là Trưởng ban kiểm tra Trung ương, là đại biểu Quốc hội khoá VI, đồng chí mất ngày 26-5-2004 tại Quảng Ngãi
12: Đồng chí Huỳnh Văn Cần: tên khai sinh là Huỳnh Văn Mẫn, bí danh là “ Quyết”, sinh ngày
19-9-1927, tại xã Phổ Ninh, Đức Phổ, Quảng Ngãi Tháng 10-1971, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Tháng 12-1973, tại Đại hội đại biểu Khu V lần III, đồng chí giữ chức vụ là Uỷ viên dự khuyết Khu uỷ V và tiếp tục làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Tháng 10-1986, đồng chí tiếp tục được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk trong kì đại hội lần thứ
X Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tháng 1-1992, đồng chí tiếp tục giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, là Uỷ viên Trung ương Đảng khoá VII Tháng 10-1997 đồng chí nghỉ hưu
13: Đồng chí Y Ngông Niê Kdăm: tên thường gọi là Y Ngông, bí danh là “ Nguyễn Aí Việt”, sinh
ngày 13-8-1922 tại buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pôk, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk Năm 1941, theo học trường Y khoa Đông Dương tại Sài Gòn Sau khi tốt nghịêp, đồng chí công tác tại Đắk Lắk, tham gia các đoàn thể cứu quốc: Hội Thanh niên cứu quốc, Hội truyền bá Quốc ngữ của tỉnh Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí tham gia Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời của tỉnh Đắk Lắk, uỷ viên tuyên truyền của tỉnh Ngày 6-1-1946, trong kì bầu cử Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đồng chí cùng với Y Wang Mlô Duôn Du là 2 đại biểu Quốc hội đầu tiên của tỉnh Đắk Lắk Tại kì họp thứ nhất của Quốc hội (3-1946), đồng chí được bầu vào Uỷ ban Thường trực Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Năm 1976, đồng chí được bầu làm uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV Năm 1977, đồng chí giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Giáo dục và là Uỷ viên Hội đồng Nhà nước Năm 1978, đồng chí làm Phó Chủ tịch, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3-1982) của Đảng đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Từ năm 1988, đồng chí làm chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khoá VIII, IX, đồng chí là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá IX
14 Đồng chí AMa Pui: Tên khai sinh Yliă Mjâo, sinh ngày 26-6-1932, tại buôn A Drơng, xã Chư
Pơng, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk Tháng 4-1975, đồng chí giữ chức vụ là Tỉnh uỷ viên, được phân công làm Phó Bí thư Thị uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Mặt trận thị xã Buôn Ma Thuột Tháng 6-1991, tại Đại hội đaị biểu toàn quốc lẫn thứ VII, đồng chí được bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Năm 1992, tại Đại hội lần thứ XI Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, Chủ tịch UBND tỉnh Năm 1977 đồng chí nghỉ hưu
15 Đồng chí Mai Văn Năm: sinh ngày 3-5-1948 tại Hoà Hải, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng Tháng
12-1990 đồng chí được điều động về thị xã Buôn Ma Thuột và được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh bầu làm Bí thư Thị uỷ Từ đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (1991), đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Tháng 5-1996, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh
uỷ Đắk Lắk và tại Đại hội toàn quốc của Đảng đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, được bầu vào Uỷ ban kiểm tra Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Tháng
3-2002, đồng chí được Bộ Chính trị điều động về làm Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên
16: Đồng chí Nguyễn An Vinh: sinh ngày 06-7-1940 tại xa Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh
Nghệ An Từ tháng 12-1979 đến tháng 12-1994, là Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, sau đó là Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Đến tháng 5 -1996, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ Đắk Lắk Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Đắk Lắk khoá XII ( tháng 10-1999), đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Đắk Lắk Đồng chí liên tục là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk từ khoá I đến khoá V, đại biểu Quốc hội khoá X
17 Đồng chí Y Luyện Niê Kdăm: tên thường gọi là Ama Hoa, sinh ngày 9-10 -1943 tại buôn Tay,
xã Krông Jing, huyện M’Đrăk, tỉnh Đắk Lắk Năm 1981, đồng chí là Phó Bí thư huyện uỷ, Chủ tịch UBND huyện Krông Ana Từ năm 1983-1985 là Bí thư huyện uỷ Krông Ana Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XI, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk Đầu năm 1995, đồng chí là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, tháng 11-1999 là Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk, Chủ tịch UBND tỉnh Tháng 2-2001, tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII, đồng chí giữ chức vụ Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk Đồng chí là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh từ khoá I đến khoá VI, đại biểu Quốc hội khoá X Tại kì họp thứ nhất Quốc hội khoá X, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc Quốc hội
Trang 1018: Đồng chí Niê Thuật: Sinh ngày 08-5-1956 tại xã Cư Drăm, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thức XIV( tháng 12-2005), đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh
uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4-2006) Tại kì họp thứ nhất Quốc hội khoá XII đồng chí được bầu là Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội
Câu 4: Vai trò của Chi bộ Đảng Cộng sản ở Nhà đày Buôn Ma Thuột trong thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Đắk Lắk?
Ngay từ năm 1900, khi chuyển tỉnh lỵ từ Buôn Đôn về Buôn Ma Thuột, thực dân Pháp cũng đồng thời xây dựng một trại giam ở bên cạnh thị xã giam giữ những người chống lại sự xâm lược và “bình định” của chúng Dần dần về sau chúng tiếp nhận tù chính trị từ nơi khác đến và biến nơi đây thành một nơi giam cầm, đầy ải các chiến
sĩ cách mạng bị bắt trong các phong trào cách mạng ở trong nước Sau cao trào 1930-1931 và Xô Viết-Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp bắt đày lên Buôn Ma Thuột trên 30 chiến sĩ cộng sản Đến năm 1936, chúng bỏ nhà lao Lao Bảo và chuyển số tù nhân còn sống lên Buôn Ma Thuột, từ đây Buôn Ma Thuột trở thành một nhà tù lớn của Pháp ở Đông Dương
Nhà tù Buôn Ma Thuột được tổ chức khá quy mô và kiên cố Toàn bộ nhà tù là một vùng đất hình vuông, mỗi chiều trên 100m, chung quanh có tường cao bao bọc Chúng chia nhiều nhà lao để nhốt riêng từng loại tù, một dãy xà lim dài có thể nhốt hàng chục người Ngoài ra, chúng còn một hệ thống canh gác ở vòng ngoài Thực dân Pháp đã thi hành một chế độ nhà tù hết sức khắc nghiệt và tàn bạo Tất cả tù nhân phải đóng số tù ở lưng Lao dịch nặng
nề cùng với những điều kiện khắc nghiệt, khổ sai làm cho
bệnh tật, ốm đau hoành hành Bởi vậy, nhà tù Buôn Ma Thuột
là cả một sự tố cáo đanh thép về sự đối xử dã man tàn bạo
nhất của thực dân đế quốc đối với những người yêu nước
Thực chất chế độ nhà tù là tìm mọi cách giết dần giết mòn và
đi đến thủ tiêu hoàn toàn những người chiến sĩ cộng sản bị
giam giữ
Trước sự giam cầm, đàn áp của thực dân, các tù nhân trong
nhà tù Buôn Ma Thuột đã liên tiếp đứng dậy đấu tranh, coi đó
là trường học chiến đấu của mình
Cuối năm 1940, do tình hình mới, một số chiến sĩ cộng sản ( khoảng 10 đồng chí trong các tổ chức
bí mật) đã tự thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Với các kí hiệu tên gọi khác nhau, chi bộ được tổ chức và phát triển đội ngũ đảng viên của mình theo đúng chính cương điều lệ của Đảng và tự xác định phải thực hiện cho được những nhiệm vụ sau:
- Làm hạt nhân tổ chức và lãnh đạo toàn thể tù nhân đấu tranh để bảo vệ quyền lợi , bảo vệ cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho tù nhân
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, chuẩn bị cho hoạt động cách mạng của từng người sau khi ra tù
- Tìm cách liên lạc để tổ chức vận động cách mạng ở thị xã Buôn Ma Thuột mà trước hết là hai đối tượng quần chúng: lao động và binh lính của địch
- Tổ chức các cuộc vượt ngục, vọt tàu lửa để đưa cán bộ về cho Đảng bồi dưỡng lí luận cách mạng và chỉ thị nghị quyết của Đảng cho những ngừơi sắp hết hạn tù để trở ra hoạt động cách mạng
Như vậy, việc chi bộ Đảng ra đời không những đã thống nhất được sự lãnh đạo của Đảng trong
tù mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc vận động cách mạng ở Đăk Lăk phát triển thêm một bước mới
Từ năm 1942 trở đi, các chiến sĩ cách mạng ở nhà tù Buôn Ma Thuột đã được học tập nghị quyết ban đầu của này của Trung ương Đảng và cả chương trình hành động của Việt Minh Những tài liệu bí mật các đồng chí hết hạn tù hoặc vượt ngục mang về đã trở thành những tài sản quí giá Chính nhờ những hoạt động đó mà nhà tù Buôn Ma Thuột đã có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc cách mạng Tháng Tám sau này ở Đăk Lăk Cũng từ đây, các chiến sĩ cách mạng trong tù rất quan tâm đến xây dựng những cơ sở cách mạng trong tù