Xây dựng đồng bằng sông Hồng trở thành trọng điểm kinh tế đồng bằng Bắc Bộ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 109 về xây dựng Thành phố Nam Định trở thành trung tâm kinh tế, v[r]
Trang 1BÀI DỰ THI TÌM HIỂU 750 NĂM THIÊN TRƯỜNG – NAM ĐỊNH TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ
“750 NĂM THIÊN TRƯỜNG - NAM ĐỊNH”
Câu 1: Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào? Thời gian tồn tại của nhà Trần, kể tên các vua đời Trần?
1.1 Hoàn cảnh ra đời của triều Trần:
- Bối cảnh chính trị xã hội cuối thời Lý: Kể từ thời Vua Lý Huệ Tông xã hội rối loạn, nhân dân thiếu lòng tin với triều đình Lý Huệ Tông là người yếu đuối, không quan tâm đến việc triều chính
- Sự lớn mạnh của họ Trần, từng bước nắm giữ các vị trí, trọng trách trong triều đình nhà Lý: Trong triều đình nhà Lý có một số chức quan do người dòng họ Trần nắm giữ, khi nhà
Lý có những rối loạn thì uy thế của họ Trần ngày càng tăng lên nhất là thời vua Lý Huệ Tông Khi nhà Lý suy yếu người đứng đầu họ Trần lúc đó là Trần Cảnh nhưng người có công chính cho sự ra đời của nhà Trần là Trần Thủ Độ
- Vai trò của Trần Thủ Độ và sự chuyển giao quyền lực giữa triều Lý sang triều Trần: Là người có cơ mưu, quyết đoán Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh và cắt tóc đi tu Liền sau đó Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng(7 tuổi) kết duyên cùng con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh (8 tuổi) Một năm sau vào tháng 12 âm lịch năm 1225 Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị
Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) còn nhỏ nên mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là nhiếp chính Trần Thừa
Đây là triều đại có võ công hiển hách trong lịch sử phong kiến Việt Nam với ba lần đánh bại các cuộc xâm lược của người Mông Cổ Dưới triều Trần, lực lượng quân đội được chú trọng phát triển đủ sức đánh dẹp các cuộc nội loạn và đương đầu với quân đội các nước lân bang, triều Trần cũng đã sản sinh nhiều nhân vật xuất chúng, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự
1.2 Thời gian tồn tại của nhà Trần :
- Triều Trần tồn tại từ năm 1225 – 1400
- Có 13 đời
- Tên vị vua, niên hiệu, năm lên ngôi các vua nhà Trần cụ thể như sau:
Trang 2Miếu hiệu Niên hiệu Tên vua Trị vì
Thái Tông Kiến Trung(1226- 1232
Thiên Ứng Chính Bình( 1232 – 1251) Nguyên Phong(1251-1258)
Trần Cảnh 1226-1258
Thánh Tông Thiệu Long(1258- 1272)
Bảo Phù(1273 -1278)
Trần Hoàng 1258-1278
Nhân Tông Thiệu Bảo(1278-1285)
Trùng Hưng(1285 – 1293)
Trần Khâm 1278 - 1293
Anh Tông Hưng Long Trần Thuyên 1293- 1314 Minh Tông Đại Khánh(1314 – 1323)
Khai Thái(1324 – 1329)
Trần Mạnh 1314 -1329
Hiến Tông Khai Hựu Trần Vượng 1329 - 1341
Dụ Tông Thiệu Phong(1341 – 1357)
Đại Trị (1358 – 1369)
Trần Hạo 1341 – 1369
Hôn Đức Công Đại Định
Nghệ Tông Thiệu Khánh Trần Phủ 1370 – 1372 Duệ Tông Long Khánh Trần Kính 1373 - 1377 Phế Đế Xương Phù Trần Hiện 1377 – 1388 Thuận Tông Quang Thái Trần Ngung 1388 – 1398 Thiếu Đế Kiến Tân Trần An 1398 - 1400
Câu 2: Sự ra đời của địa danh phủ Thiên Trường? Vai trò, vị thế của “Hành cung Thiên Trường” trong quốc gia Đại Việt thế kỷ XIII-XIV
2.1 Sự ra đời của danh phủ Thiên Trường:
Khi nhà Trần thay thế nhà Lý cai quản đất nước, trung tâm quyền lực quốc gia, nơi tập trung cao nhất các cơ quan đầu não của đất nước vẫn là Thăng Long Nhà Trần xác định chế độ Thượng hoàng Các vua Trần khi đã nhường ngôi cho con, vẫn nắm quyền điều hành đất nước, hướng dẫn, chỉ đạo vua nối nghiệp quản lý đất nước trên mọi phương diện
Trang 3Ngô Sỹ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Gia pháp nhà Trần… con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hoàng, cùng trông coi chính sự Thực ra chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi thảng thốt mà thôi, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng định đoạt cả… Vua nối ngôi không khác gì Hoàng Thái tử" Thời gian đầu, Tức Mặc đơn thuần chỉ là quê cha, đất Tổ, chỉ có hành cung và Tiên miếu để vua về làm lễ hằng năm Mười bốn năm sau (năm 1239), vua Trần Thái Tông, lúc đó đã 22 tuổi "… nghĩ đến Tức Mặc là nơi làng cũ của mình, nên hạ lệnh cho Phùng Tá Chu làm Nhập nội Thái phó, dựng hành cung ở đây để thường thời đến chơi" Thiên Trường bắt đầu được đầu tư xây dựng theo quy mô của bậc đế vương
” Theo quy định của nhà Trần, người được cử làm An Phủ sứ phủ Thiên Trường phải là những viên quan đã từng kinh qua An Phủ sứ cấp lộ, sau đó mới được khảo duyệt xem có
đủ tài đức mới được bổ nhiệm Nguyễn Trãi chép trong “Dư địa chí”: Phủ Thiên Trường có
4 huyện: Giao Thuỷ (có 79 xã, 33 trang), Nam Chân (có 109 xã, 6 thôn), Mỹ Lộc (có 51 xã)
và Thượng Nguyên (có 78 xã) Như vậy, phủ Thiên Trường khá rộng và hành cung Tức Mặc - Thiên Trường là thủ phủ Nhà vua cho xây dựng cung Trùng Quang, làm nơi dành riêng cho các Thượng hoàng về ở sau khi nhường ngôi cho con Bên cạnh cung Trùng Quang lại cho dựng cung Trùng Hoa làm nơi dành riêng cho nhà vua ngự mỗi khi về thăm, yết kiến Thượng hoàng Chùa Phổ Minh được xây dựng từ thời nhà Lý, được trùng tu lại cho tương xứng với quần thể kiến trúc mới, có một thời từng là trung tâm Phật giáo ở nước
ta Chùa xây theo kiểu nội công ngoại quốc Tháp Phổ Minh được xây dựng vào đầu thế kỷ XII cao 14 tầng, tầng trệt bằng đá xanh, hình một cỗ kiệu, 13 tầng trên xây bằng gạch đỏ, được nung bằng cỏ, rắn chắc và bóng giống như sành sứ, rêu không bám được, chịu mưa nắng Tháp Phổ Minh là nơi đặt một phần xá lỵ của Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông Hành cung Thiên Trường từ đó xuất hiện những công trình kiến trúc có quy mô vương giả:
Ở nội cung, có hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa; ngoại cung có các cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, xung quanh xây dựng các phủ đệ, dành cho các vương phi, quan lại, sắc dịch thuộc bộ máy giúp việc Thượng hoàng
2.2 Vai trò , vị thế của danh phủ Thiên Trường:
Năm 1010, sau một năm lên ngôi, Vua Lý Thái Tổ quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La, đổi tên thành Thăng Long, chính thức đặt nền móng cho kinh
đô nước Việt và Thủ đô Hà Nội ngày nay Khác với nhà Lý, nhà Trần, sau 37 năm hoàn thành sự nghiệp tạo lập vương triều, đến năm 1262 mới nâng cấp phủ riêng ở quê hương -nơi dấy nghiệp Tức Mặc - Thiên Trường thành hành cung Thiên Trường để “Từ đó về sau, các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này Do đó, đặt sắc dịch hai cung để hầu hạ, lại đặt quan lưu phủ để trông coi” (Đại Việt sử ký toàn thư) Hành cung Thiên Trường được xây
Trang 4dựng và hoạt động như một kinh đô thứ hai, có tầm quan trọng cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội trong mối quan hệ với kinh thành Thăng Long Với tầm nhìn chiến lược của các Thượng hoàng nhà Trần, Thiên Trường được xây dựng trở thành một trung tâm chính trị, quyền lực thứ hai, là căn cứ, hậu phương chiến lược bảo vệ kinh thành Thăng Long Ngoài ra còn có một căn cứ an toàn, làm hậu thuẫn cho hành cung Thiên Trường được chọn xây dựng chính là vùng rừng núi Vũ Lâm, thuộc phủ Trường Yên (Hoa Lư -Ninh Bình) Hệ thống căn cứ liên hoàn dựa vào nhau giữa hai hành cung Thiên Trường và
Vũ Lâm đều có đường thủy nối liền với sông Đáy khi cần thiết có thể thoát ra biển dễ dàng, làm thế ỷ dốc, làm hậu phương cho Thăng Long khi có biến Thực tế, Thiên Trường và Vũ Lâm đã trở thành hậu cứ quan trọng cho hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) Thiên Trường và vùng Nam đồng bằng Bắc Bộ xưa là vựa lúa của đất nước Đất đai phì nhiêu, thực phẩm nông sản phong phú, xóm làng trù mật, dân cư đông đúc, bảo đảm cung cấp lương thảo cho hành cung Thiên Trường, cung cấp sức người sức của cho đất nước khi chiến tranh xảy ra Thời Trần cũng xác lập chế độ điền trang thái ấp Những điền trang thái ấp do các vương hầu quý tộc cai quản, đều là những tướng lĩnh xuất chúng trong các cuộc kháng chiến Nơi đây vừa là cơ sở sản xuất kinh tế đảm bảo hậu cần cho chiến trường, vừa là những cứ điểm chiến đấu đầy uy lực cả phòng thủ lẫn tấn công Thiên Trường là vùng đất xung yếu, điểm then chốt trong chiến lược bảo
vệ đất nước thời Trần, là đất trú chân của triều đình, quân đội và một bộ phận nhân dân khi rút lui chiến lược khỏi kinh thành Thăng Long
Phủ Thiên Trường nằm ở ngã ba sông Vỵ Hoàng, Ninh Giang Cận kề Thiên Trường;
về giao thông đường bộ thì nằm cạnh đường Thiên lý (đường cái quan từ phủ Thiên Trường lên Thăng Long); về đường thủy từ đây có thể theo đường sông Ninh Giang vào sông Châu Giang ra sông Hồng lên kinh đô Thăng Long, lại có thể theo sông Vỵ Hoàng, sông Đáy vào sông Vân đến Trường Yên, theo sông Vĩnh vào cung Trùng Quang, nơi Thượng hoàng ngự Thiên Trường - Thăng Long là hai trung tâm quyền lực cùng quản lý và điều hành đất nước Chúng ta đều biết nhà Trần thiết lập thể chế chính trị “hai vua”, sau khi nhường ngôi
về nghỉ ngơi nhưng chỉ trên danh nghĩa, các Thượng hoàng vẫn tham gia điều hành đất nước: “Gia pháp nhà Trần thì khác… con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hoàng, cùng trông coi chính sự … mọi việc đều do Thượng hoàng định đoạt cả Vua nối ngôi không khác gì Hoàng Thái tử” Thiên Trường còn là nơi đào tạo quan lại cho triều đình Để trở thành người đứng đầu kinh thành phải qua ba bước thử thách trong thực tiễn cả về năng lực và tư cách: đứng đầu một lộ địa phương bình thường, tiếp đó đứng đầu phủ Thiên Trường, rồi về làm Thẩm hình viện (cơ quan triều đình trung ương) Tất cả các vị trí này đều phải hoàn thành xuất sắc thì mới được bổ nhiệm
Trang 5người đứng đầu kinh thành Thăng Long Việc học hành, thi cử ở đất Thiên Trường vì thế cũng đặc biệt phát triển Năm 1281 nhà Trần lập nhà học ở phủ Thiên Trường “định rõ 7 năm 1 khóa, đặt ra Tam khôi, điều lệ mỗi ngày một nghiêm ngặt, ân điển mỗi ngày một long trọng, công danh do đó mà ra, nhân tài đầy rẫy, so với nhà Lý trước thịnh hơn nhiều” (Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú) Nhà Trần đã mở 10 khoa thi Thái học sinh để chọn nhân tài Truyền thống đất học của Thiên Trường chỉ đứng sau đất Đế đô Thăng Long Hành cung Thiên Trường là sự khởi đầu cho sự đi lên vững vàng của một vùng đất trù phú giàu tiềm năng cận sông, giáp biển Sự xuất hiện của hành cung Thiên Trường cùng với những chính sách của vương triều Trần về khẩn hoang, lấn biển, xây dựng điền trang, thái ấp đã có tác động kích thích kinh tế nông nghiệp, ngành nghề thủ công nghiệp địa phương phát triển Bên cạnh đó, sự tập trung một số lượng lớn thợ thủ công tài hoa, cùng với thuận lợi về giao thông thủy bộ kích thích các hoạt động giao thương buôn bán trao đổi hàng hóa phát triển tạo tiền đề hình thành và phát triển đô thị Nam Định sau này Sự ra đời của hành cung Thiên Trường không chỉ làm thay đổi diện mạo của một vùng quê thanh bình ven sông Vĩnh mà còn đặt nền tảng cho sự ra đời của đô thị Vỵ Hoàng thế
kỷ XVIII-XIX và đô thị Nam Định thời cận hiện đại Các nhà nghiên cứu lịch sử ngày nay cũng khẳng định rằng việc xây dựng hành cung Thiên Trường với quy mô, vị thế về chính trị, lịch sử, kinh tế, văn hóa còn thể hiện tầm nhìn chiến lược hướng biển của nhà Trần
Câu 3: Những hiểu biết của bạn về ba lần quân dân Đại Việt chống quân xâm lược Nguyên – Mông thời Trần? Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử?
3.1 Về chiến thắng Mông - Nguyên
Lịch sử thế giới ghi nhận, vào thế kỷ 13 quân Nguyên Mông được coi là đội quân vô địch, tung vó ngựa từ đông sang tây, đến đâu nơi đó đều bị giày xéo và khuất phục Ấy vậy
mà đội quân ấy đã bị chặn lại ở đất nước Đại Việt nhỏ bé, không chỉ một mà tới ba lần
Cuộc kháng chiến lần 1: (1258)Nguyên Mông dự định đánh chiếm Đại Việt và từ
Đại Việt đánh lên Nam Tống chiếm được Đại Việt còn có ý nghĩa lớn sau này cho đế quốc Mông Cổ lập bàn đạp cho các cuộc viễn chinh xuống Đông Nam Á,do đó Đại Việt là mục tiêu chiến lược và đó cũng là sự cố gắng rất lớn của chúng
Nguyên Mông dứng đầu là Ngột Lương Hợp Thai quyết định chia quân làm hai đạo tiến theo tả ngạn và hữu ngạn sông Thao (nhiệm vụ tham dò, dẫn đường)
ngày 17/1/1258 chúng đến tới Bình Lệ Nguyên Trận chiến diến ra vua Trần trực tiếp chiến đấu Địa hình Bình Lệ Nguyên khá thuận lợi cho kị binh của Mông Cổ phát huy sở trường của chúng Trận địa của ta bị lấn dần, quân của vua Trần rút lui an toàn nhờ vào sự giúp sức của quân và dân Âm mưu cướp thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần hoàn toàn
Trang 6thất bại Ngột Lương Hợp Thai tức dận đổ lên đầu tướng tiên phong, Trếch Trếch Đu hoảng
sợ uống thuốc tử tử
Cố thủ không được, triều đình quyết định rút lui khỏi kinh đô để bảo toàn lực lượng và thực hiện kế dã thanh
Thăng long yên tĩnh trống không Quân Mông Cổ tiến vào kinh đô vắng lặng, gặp khó khăn
về hậu cần, chúng đánh ra vùng xung quanh kinh đô để hòng cướp bóc lương thực Nhưng
ở đây cũng bị nhân dân các hương ấp chống cự quyết liệt tiêu biểu là dân Cổ Sở (Yên sở, Hoài Đức, Hà Tây) đã tự tổ chức lực lượng vũ trang đào hào bao quanh làng, dựng luỹ chiến đấu Khi giặc đến, kị binh không vượt qua được hào, lại bị cung nỏ bắn ra lực lượng quân Mông Cổ đã thất bại đầu tiên trước những cuộc chiến đấu từ xóm làng Chỉ mấy ngày đến Thăng Long quân Mông Cổ hoàn toàn mất hết nhuệ khí chiến đấu : Ngột Lương Hợp Thai và bọn tướng lĩnh đều hốt hoảng cực độ Nắm vững thời cơ, triều đình nhà Trần quyết định phản công giải phóng Thăng Long nhanh chóng giành thắng lợi Kinh thành sạch bóng quân thù
Cuộc kháng chiến lần 2:(1285) lần này Hốt Tất Liệt lại huy động 50 vạn quân chỉ
huy là Thoát Hoan (con của Hốt Tất Liệt)
Để chuẩn bị kháng chiến, nhà Trần mở Hội Nghị Bình Than tập trung các vương hầu võ tướng để bàn kế đánh giặc
Sau hội nghị Bình Than, các tướng lĩnh được phân chia đem quân trấn giữ những nơi hiểm yếu, quan trọng Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn thống lĩnh quân đội cả nước Trần Quang Khải được cử giữ chức Thượng tướng thái sư
Trong khi quân dân cả nước đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Trần Quốc Tuấn ra Hịch tướng sĩ nêu nghĩa lớn cứu nước, cứu mình Toàn văn bài hịch là lời kêu gọi thiết tha, tràn đầy tinh thần yêu nước và chí căm thù cướp nước như ngọn lửa bốc cao Quân dân cả nước thích vào cánh tay của mình 2 chữ “Sát thát” 1/1285, thượng hoàng thánh Tông mời các bậc phụ lão có uy tín trong nước về Kinh đô Thăng Long để hỏi kế đánh giặc trong bữa tiệc ở Điện Diên Hồng, các vị đã đồng thanh hô lớn “Đánh!” Khắp nơi nhân dân ta thực hiện mệnh lênh của triều đình “ Tất cả các quận huyện trong nước, nếu
có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh Nếu không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”
Giữa năm 1284, Thoát Hoan khẩn trương điều quân vào Đại Việt bọn Mông – Nguyên muốn diệt Đại Việt bằng 3 gọng kìm đánh vào biên giới phía bắc và phía nam
Ngày 2/2/1258, quân giặc chia làm 6 mũi đánh vào Nội Bàng (Bắc Giang) Trần Quốc Tuấn chỉ huy đại quân đánh chặn giặc Trước thế mạnh của giăc, quân ta bị tổn thất, Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về Vạn Kiếp Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vã ra
Trang 7gặp Trần Quốc Tuấn và vờ hỏi Thống soái “thế giặc như thế, ta phải hàng thôi” Trần Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời “Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng”
11/2/1285, địch tấn công phòng tuyến Bình Than, quân ta chống trả quyết liệt, vua Trần dẫn quân về tăng viện cho Trần Quốc Tuấn Quân ta rút khỏi Vạn Kiếp Vua trần và Trần Quốc Tuấn về Thăng Long
Trước sức mạnh của giặc Trần Nhật Duật (đóng quân tại Thu Vật (yên bái)) rút quân về Bạch Hạc sau đó kéo về hạ lưu sông Hồng
Thượng hoàng Thái Tông và vua Nhân Tông về Thiên Trường (Nam Định) Thoát Hoan vừa chiếm đựoc Thăng Long vội vàng đuổi quân theo
Nắm vững tình hình địch, Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đem quân ngược sông Thái Bình đánh chiếm lại Vạn Kiếp không mấy khó khăn Thoát Hoan bị cô lập
13/3/1285, Trần Kiện lại dẫn đường cho giặc tấn công quân Trần Quang Khải, cuộc chiến
ác liệt, thế trận lại thuộc về địch, Quang Khải cho rút quân
giữa tháng 3/1285, cuộc chiến vẫn diễn ra gay go phức tạp quân Trần về Thăng Long Thoát Hoan lại thúc quân xuống Thiên Trường
5/1258, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật cùng nhiều tướng sĩ khác đem quân ra bắc chiến lược phản công bắt đầu
Mục tiêu trước mắt của ta là đánh tan quân giặc ở Khoái Châu (Hưng Yên) để chia cắt quân Thoát Hoan và Toa Đô, đẩy quân Thoát Hoan vào thế cô lập bị động vua Trần cho rằng
“quân giặc đi xa nhiều năm, lương thảo chuyên chở hàng vạn dặm, thế tất phải mọi lấy nhàn chống mệt, trước hãy làm chúng nhụt chí, thì ắt đánh thắng được”
Cuối tháng 5, quân Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật nhanh chóng tiêu diệt địch ở Tây Kết và Hàm Tử
Tiếp đó, Trần Quang Khải và các tướng khác đánh vào Chương Dương nhanh chóng thắng lợi Tàn quân địch rút về Thăng Long.Quân ta bao vây Thăng Long, địch ra sức cố thủ Trước tình cảnh hiểm nghèo chúng liều chết phá vây vượt sông Hồng chạy sang Gia Lâm Kinh thành được hoàn toàn khôi phục.sức tàn, thế yếu, Thoát Hoan rút quân theo hưỡng Vạn Kiếp Trần Quốc Tuấn đánh chặn, quân Thoát Hoan phải chạy sang phía sông Như Nguyệt lại gặp quân Trần Quốc Toản đánh tổn thất nặng nề Thoát Hoan chạy sang Vạn Kiếp lại bị sa vào bẫy phục kích của Trần Quốc Tuấn hoảng sợ Thoát Hoan mở đưòng máu chạy về biên giới Lạng Sơn lại bị quân của Quốc công tiết chế đánh chặn ở cửa ải, Thoát Hoan hoảng sợ chui vào ống đồng cho quân lính khiêng chạy
Các trận Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp đã tiêu diệt và quét sạch 50 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nước ta
Trang 8Cuộc kháng chiến lần 3:(1288) Hai lần xâm lược, hai lần thất bại thảm hại, vua
Nguyên Hốt Tất Liệt mất mặt, tức tối muốn tổ chức ngay cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ
ba hòng trả thù, đồng thời để gấp rút đánh thông con đường bành trướng xuống ĐNA Hốt Tất Liệt bãi bỏ kế hoạch đánh Nhật Bản để tập trung lực lượng cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần này
Toàn bộ quân viễn chinh lần này do Thoát Hoan chỉ huy gồm 30 vạn quân cả bộ binh lẫn thuỷ binh, mang theo lương thực đầy đủ Chúng tiến vào nước ta chia thành 3 đạo:
- Đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn tiến vào
- Đạo quân do Ái Lỗ chỉ huy từ Vân Nam theo sông Hồng tiến xuống
- Đạo quân thuỷ do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy với hơn 600 chiến thuyền từ Quảng Đông vào vịnh Hạ Long theo sông Bạch Đằng tiến vào hội quân ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương)
Khác với lần trước, lần này chúng chú ý đến thuỷ binh
Trần Quốc Tuấn lại được cử làm tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Ông đề ra kế hoạch : lúc đầu thế giặc mạnh, quân ta rút về vùng ven biển để bảo toàn lực lượng Nhân dân trên đường tiến quân của địch và trong vùng chiếm đóng có nhiệm vụ cất giấu lương thực, kiên quyết triệt nguồn lương thực của địch, đồng thời cùng với dân binh đẩy mạnh hoạt động đánh địch làm tiêu hao sinh lực của chúng, ăn không ngon, ngủ không yên, đẩy chúng vào thế bị động
Được tin giặc sắp tràn vào biên giới, vua Trần Nhân Tông hỏi Trần Quốc Tuấn “Giặc tới, liệu tình hình thế nào?”, Trần Quốc Tuấn trả lời “Năm nay đánh giặc nhàn”
Lần này, Trần Quốc Tuấn chú trọng đến chiến trường biển đông bắc - đường tiến quân lương của địch Trần Khánh Dư chịu trách nhiệm về biên thuỳ vên biển và Trần Toàn có nhiệm vụ ngăn chặn thuỷ quân giặc
Trận Ngọc Sơn, do tương quan lực lượng của Ô Mã Nhi mạnh hơn nên Trần Toàn có nhiệm
vụ tiêu diệt đội thuyền đi sau của chúng đã thu được thắng lợi Nhưng vì lực lượng giặc mạnh nên chúng vẫn vượt qua vùng biển Hạ Long và An Bang (Quảng Ninh) và gặp quân của Trần Khánh Dư, trận chiến xảy ra ác liệt quân của Trần Khánh Dư không sao cản được đạo quân của giặc, chúng ngược sông Bạch Đằng kéo vào Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan
Trận Vân Đồn - Cửa Lục, dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, quân ta tiêu diệt sạch đoàn thuyền lương của địch tạo điều kiện cho quân dân ta nhanh chóng chuyển lên chiến lược phản công
Ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan cố xây dựng thành căn cứ quân sự Y để lại một số quân ở đây, còn lại tiếp tục tiến về Thăng Long Quân dân ta tạm thời rút khỏi Kinh thành
Hạu cần bao giờ cũng là một vấn đề then chốt của bất cứ một quân đội nào Quân Nguyên
Trang 9trông chờ vào thuyền lương của Trần Văn Hổ, giờ này mấy chục vạn quân Nguyên ở Thăng Long lâm vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng Thoát Hoan sai quân đi tìm đoàn thuyền lương nhưng đều bị ta đánh bại sau khi biết được tin báo thuyền lương nằm trong tay ta, Thoát Hoan hoang mang lo sợ Đầu tháng 3, Thoát Hoan buộc phải quyết định bỏ Thăng Long về Vạn Kiếp tổ chức phòng thủ, sau đó quyết định chia đạo quân làm hai theo đường thuỷ bộ rút về nước
Biết trước ý đồ và đường hành quân của địch, Trần Quốc Tuấn chuẩn bị một cuộc phản công chu đáo Sông Bạch Đằng được chọn làm điểm quyết chiến tiêu diệt đạo quân Ô Mã Nhi Để bảo đảm cho thế trận bao vây địch thật hoàn hảo, ngoài việc dựa vào địa thế thiên nhiên hiểm yếu và lợi dụng Gềnh Cốc như một chướng ngại tự nhiên, Trần Quốc Tuấn còn xây dựng ở các cửa sông những trận địa cọc vững vàng, quy mô lớn chỉ trong vòng không quá 20 ngày
Nhờ sự chu bị chu đáo, quân dân ta lần lượt đánh bại quân giặc trên đường rút lui trận quyết chiến đúng như dự định xảy ra trên sông Bạch Đằng Sau chiến thắng Bạch Đằng, ngày 18 tháng 4, hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đem bọn tù binh Ô Mã Nhi, Tích Lệ
Cơ và các tên thiên hộ, vạn hộ về phủ Long Hưng (Thái Bình) làm lễ mừng thắng trận trước lăng mộ vua Thái Tông Trần Nhân Tông đọc :
“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá; Giang sơn mãi mãi vững âu vàng”.
Đất nước giải phóng, Thăng Long hát khúc khải hoàn
3.2 Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử:
*) Nguyên nhân thắng lợi:
- Cuộc kháng chiến của quân dân Đại Việt là cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa nên được sự hưởng ứng của mọi giai tầng trong xã hội
- Nhà Trần đã phát huy được tinh thần yêu nước, đoàn kết kháng chiến của “bách dân, trăm họ”,
- Có tướng tài và nghệ thuật quân sự mưu lược, sáng tạo
*) Bài học lịch sử:
- Chiến thắng hiến hách đó có được là nhờ tinh thần đoàn kết thống nhất chặt chẽ trong vương triều, dòng họ và toàn dân cùng với ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ bờ cõi của nhân dân
- Với chiến lược lấy dân làm gốc, dựa vào dân để tiến hành kháng chiến
Trang 10Câu 4: Những đóng góp nổi bật của quân, dân Nam Định trong kháng chiến chống
Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ; thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ, quân, dân Nam Định?
Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của thực dân Pháp là đánh nhanh, thắng nhanh, Đảng bộ và nhân dân Nam Định đã coi việc quan trọng và cấp bách hàng đầu là dồn toàn lực vào việc xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trước sự tiến công thâm độc của những kẻ thù có tiềm lực quân sự lớn mạnh, tàn ác và nguy hiểm
Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng là:
Xây dựng làng chiến đấu, củng cố hậu phương, chống địch lấn chiếm (1947 tới
10-1949)Từng bước phát triển lực lượng, chống địch mở rộng chiếm đóng, giải phóng quê hương (10-1949 – 7-1954)
Khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1954 – 1965)
Cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, hoàn thành cải cách ruộng đất và phục hồi kinh
tế (1954-1957)
Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp tư bản tư doanh (1958-1960)
Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở địa phương (1961-1965)
Góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đẩy mạnh sản xuất, chi viện cho tiền tuyến lớn (1965-1975)
Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, quân và dân Nam Đ ịnh đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đoàn kết thống nhất
ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, sản xuất và chiến đấu giỏi góp phần bảo vệ vững chắc quê hương và miền Bắc xã hội chủ nghĩa Ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng Trong niềm vui chung của cả nước, quân dân Nam Định rất phấn khởi tự hào vì đã tích cực góp phần vào thắng lợi chung của cả dân tộc
Những thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ, quân, dân Nam Định
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện của Việt Nam nói chung và Nam Định nói riêng, đặc biệt là đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; nắm vững quy luật khách quan, lấy dân làm gốc… Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương, chính sách, sản xuất trong nước ngày càng phát triển, lưu thông ngày càng thông suốt, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân