Xây dựng thành phố Nam Định trở thành Trung tâm huấn luyện, đào tạo vận động viên tài năng trẻ và tổ chức thi đấu của Vùng. Có đầy đủ điều kiện tổ chức các cuộc thi đấu thể dục, thể th[r]
Trang 1THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ “ 750 NĂM THIÊN TRƯỜNG NAM ĐỊNH”
Câu 1: Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào? Thời gian tồn tại của Nhà Trần;
kể tên các đời vua Trần?
1.1 Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh nào?
Nhà Lý suy tàn từ thời vua Lý Cao Tông (1175-1210), tuy rằng đã có những dấu hiệu từthời Lý Anh Tông Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét vua Cao Tông chơi bời vô độ, chính sựhình pháp không rõ ràng, giặc cướp nổi như ong, đói kém liền năm, cơ nghiệp nhà Lý từ đấysuy
Năm 1179, Cao Tông xuống chiếu cấm không được đem mắm muối và đồ sắt lên bán đổi ởđầu nguồn, điều này đồng nghĩa với việc bế quan tỏa cảng, làm cho nền kinh tế không pháttriển Mùa hạ, tháng 4 năm 1181 mất mùa, dân chết đói gần một nửa hay năm 1199 mùa thu,tháng 7, nước to, lúa mạ ngập hết, đói to, đã thế nhưng nhà Hậu Lý không thấy có đưa raphương sách nào để cứu giúp dân chúng mà vua còn ngự đi khắp núi sông, phàm xe vua đếnđâu mà có thần linh đều cho phong hiệu và lập miếu để thờ (năm 1189) hay đến phủ ThanhHóa bắt voi, chế nhạc Chiêm Thành để nghe chơi hoặc năm 1203 còn cho xây dựng rất nhiềucung điện làm hao tốn của cải Tăng phó Nguyễn Thường nói: "Ta nghe bài tựa Kinh Thi nóirằng: Âm thanh của nước loạn nghe như ai oán giận hờn Nay dân loạn nước nguy, chúathượng thì rong chơi vô độ, triều đình rối loạn, lòng dân trái lìa, đó là triệu bại vong"
Điều này đã dẫn đến sự nổi dậy của dân chúng ở nhiều địa phương như tháng 10 năm 1184,các sách Tư Mông (tỉnh Hòa Bình ngày nay?), tháng 7 năm 1192 người ở giáp Cổ Hoằng(tỉnh Thanh Hóa ngày nay), tháng 7 năm 1198, người hương Cao Xá (tỉnh Nghệ An ngàynay), tháng 9 năm 1203, người ở Đại Hoàng giang (tỉnh Ninh Bình ngày nay) hay năm 1207,người Man ở núi Tản Viên châu Quốc Oai (tỉnh Hà Tây ngày nay) nổi lên cướp bóc, khôngthể ngăn được
Tất cả những yếu tố trên đây đã làm cho nhà Hậu Lý suy sụp Năm 1209, vua Cao Tông nghetheo lời gian thần Phạm Du giết oan tướng Phạm Bỉnh Di Bộ tướng của Bỉnh Di là QuáchBốc đang trấn thủ Hoan châu mang quân ra đánh Thăng Long báo thù cho chủ Vua CaoTông và thái tử Sảm bỏ chạy lạc mỗi người một nơi Quách Bốc lập con nhỏ của vua là Thậmlên ngôi
Thái tử Sảm chạy đến nương nhờ gia tộc họ Trần ở duyên hải, nhờ sức họ Trần mang quân vềđánh dẹp Quách Bốc Tuy loạn được dẹp nhưng từ đó quyền lực chi phối chính trường của họTrần bắt đầu được hình thành, bắt đầu từ Trần Tự Khánh và sau đó là vai trò lớn của TrầnThủ Độ Năm 1210, vua Cao Tông chết, thái tử Sảm lên thay, tức là Lý Huệ Tông Triềuchính hoàn toàn trong tay họ Trần Kết cục, cuối năm 1225, con gái thượng hoàng Huệ Tông(bị ép truyền ngôi đầu năm) là Lý Chiêu Hoàng đã bị ép nhường ngôi cho chồng là TrầnCảnh, thượng hoàng Lý Huệ Tông sau đó còn bị Trần Thủ Độ ép tự tử vào năm 1226 NhàHậu Lý chấm dứt, nhà Trần thay thế từ đó
Năm 1226, một hoàng tử nhà Hậu Lý là Lý Long Tường (con vua Anh Tông) đi theo đườngbiển chạy sang nước Cao Ly, được vua nước này thu nhận và trở thành Hoa Sơn tướng quân
Trang 2nước Cao Ly Sau này, Lý Long Tường trở thành ông tổ của một dòng họ Lý ngày naytại Hàn Quốc
Nhà Hậu Lý chấm dứt,kéo dài 216 năm với 9 đời vua
Trần Thủ Độ (1194-1264), là thái sư đầu triều nhà Trần, người có công sáng lập và là ngườithực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm, từ 1226đến 1264 Trần Thủ Độ sinh tại làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Sau khi Trần Tự Khánh chết (1223), Trần Thủ Độ thực sự là người thay thế nắm quyền trongtriều Đối với nhà Lý, ông tỏ ra còn cứng rắn hơn Trần Tự Khánh
Năm 1224, ông được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ Vua Huệ Tông và vợ, tức chị họ ông,
là Trần Thị Dung có 2 con gái, người em tên là Phật Kim, được phong là công chúa ChiêuThánh Ông ép Huệ Tông bỏ ngôi lên làm thái thượng hoàng để nhường ngôi cho Phật Kim,tức là Lý Chiêu Hoàng, khi đó mới lên 7 tuổi
Sau đó ông đưa con Trần Thừa là Trần Cảnh (sau này là Trần Thái Tông), mới 8 tuổi, vàohầu Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi đểchuyển ngai vàng sang họ Trần vào cuối năm 1225 Nhà Trần thay nhà Lý bởi tay Trần Thủ
Độ Thượng hoàng Huệ Tông bị ép đi tu, truất làm sư Huệ Quang
Nhà Trần thành lập, ông được phong là Thống quốc thái sư, lo toan mọi việc cho triều đìnhnhà Trần
Để củng cố quyền lực nhà Trần, ông đánh dẹp các sứ quân Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng bênngoài, sắp xếp quan lại trong triều Năm 1232, nhân lúc tông thất nhà Lý về quê ngoại ở làngHoa Lâm (nay là xã Mai Lâm, huyện Gia Lâm, Hà Nội) làm lễ cúng tổ tiên, ông đã làm bẫysập chôn sống nhiều tôn thất nhà Lý, bắt những người sống sót đổi sang họ Nguyễn và một số
họ khác để trừ tuyệt hậu họa
Để ngăn ngừa sự nhen nhóm nổi lên của các lực lượng chống đối, Trần Thủ Độ đặt ra quyđịnh khoanh vùng các làng ở nông thôn, tạo ra sự ngăn cách từng làng Các nhà nghiên cứucho rằng đây chính là nguyên nhân khiến nhiều đời sau các làng mạc Việt Nam chỉ phát triểnkhép kín trong lũy tre làng, không giao lưu, mở mang được với bên ngoài
Vua Thái Tông và hoàng hậu Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu Hoàng) lấy nhau đã lâu chưa cócon Năm 1236, Trần Thủ Độ liền ép Thái Tông lấy chị dâu là công chúa Thuận Thiên - vợTrần Liễu, chính là chị ruột của Chiêu Thánh vì Thuận Thiên đã có mang sẵn với Trần Liễuđược 3 tháng Việc đó khiến Trần Liễu thù hận cất quân nổi loạn và Trần Thái Tông toan bỏ
đi tu Nhưng trước sức ép cứng rắn của Trần Thủ Độ, Thái Tông quay trở lại ngôi vua, cònTrần Liễu sau khi thất bại cũng phải hàng phục và được phong làm An Sinh vương ở KinhMôn (Hải Dương)
Trang 3Tuy nhiên, người con của Trần Liễu mà Trần Thủ Độ sắp đặt để làm con Trần Cảnh là TrầnQuốc Khang sinh ra năm 1236 cũng không được làm thái tử dù là con trưởng Năm 1240,Thái Tông sinh được Trần Hoảng, lập làm thái tử và sau trở thành vua Trần Thánh Tông.
1.2 Thời gian tồn tại của Nhà Trần
Nhà Trần hoặc Trần triều là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly – tổng cộng thời gian tồn tại của Nhà Trần là 175 năm Đây là triều đại có võ công hiển hách trong lịch sử phong kiến Việt Nam với ba lần đánh bại các cuộc xâm lược của người Mông Cổ cũng như triều Nguyên do những viên
tướng dày dặn kinh nghiệm chiến trường chỉ huy, cùng với nhiều cuộc chiến tranh chinh phạtcác quốc gia láng giềng như Ai Lao, Chiêm Thành Dưới triều Trần, lực lượng quân đội đượcchú trọng phát triển đủ sức đánh dẹp các cuộc nội loạn và đương đầu với quân đội các nướclân bang, triều Trần cũng đã sản sinh nhiều nhân vật xuất chúng, đặc biệt là trong lĩnh vựcquân sự
1.3 Kể tên các đời vua nhà Trần
Miếu hiệu Niên hiệu Tên Sinh- Mất Trị vì Thụy hiệu Lăng
1278-Duệ Hiếu Hoàng Đế Đức Lăng
Trang 4Trần Mạnh 1300-1357 1314-1329 Văn Triết Hoàng Đế Mục Lăng
Hiến Tông Khai Hựu Trần Vượng1319-1341 1329-1341 ? Xương An Lăng
1321-1372
1370-Anh Triết Hoàng Đế
Nguyên Lăng
Duệ Tông Long Khánh Trần Kính 1337-1377 1373-1377 ? Hy Lăng
Phế Đế Xương Phù Trần Hiện 1361-1388 1377-1388 phế làm Linh Đức Vương An Bài Sơn
Thuận
Tông Quang Thái Trần Ngung
1399
1378-1398
1388-ép nhường ngôi và
ép chết
Yên Sinh LăngThiếu Đế Kiến Tân Trần An 1396-? 1398- bị Hồ Quý Ly cướp ?
Trang 5ngôiphế làm Bảo Ninh Đại Vương
Câu 2: Sự ra đời của địa danh phủ Thiên Trường? Vai trò, vị thế của “Hành cung ThiênTrường” trong quốc gia Đại Việt thế kỷ XIII-XIV?
2.1 Sự ra đời của phủ Thiên Trường:
Năm 1262, Trần Thánh Tông đổi hương Tức Mạc (quê gốc của nhà Trần) thành phủ Thiên Trường, sau đó phủ được nâng thành lộ Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nhà Lê gọi là thừa tuyên Thiên Trường Năm 1469 dưới thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, Thiên Trường được đổi làm thừa tuyên Sơn Nam Năm 1741, Thiên Trường là một phủ lộ thuộc Sơn Nam Hạ, bao gồm 4 huyện Nam Chân(Nam Trực), Giao Thủy, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên Năm 1831, là một phủ thuộc tỉnh Nam Định Ngày nay là các huyện Giao Thuỷ, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Mỹ Lộc đều thuộc tỉnh Nam Định.
2.2 Vai trò, vị thế của hành cung Thiên Trường:
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ Hợi, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 8 (1239) Mùa
xuân tháng giêng, lại cho Phùng Tá Chu chức Nhập nội Thái phó Sai về hương Tức Mặc xâydựng nhà cửa, cung điện”(1)
Công trình nhà cửa, cung điện mà Phùng Tá Chu đã dành trọn phần cuối cuộc đời để xâydựng không chỉ đơn thuần là nơi vua và hoàng tộc nghỉ chân mỗi khi qua lại quê hương màlịch sử đã chứng minh nó là căn cứ chiến lược về nhiều mặt, nhất là khi có chiến tranh xảy ra.Căn cứ đó gồm có hai cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa là nơi ban định triều nghi ở trungtâm, bao quanh là bốn hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ Các cung này đều ánngữ các con sông Hoàng Giang, Vĩnh Giang, Nhị Hà, Vị Hoàng như một vành đai bảo vệphía ngoài cho hai cung điện Không chỉ có vậy, một loạt điền trang thái ấp của thân vươngquý tộc Trần được đóng ở những vị trí xung yếu, sẵn sàng tiếp ứng khu vực hai cung điện khicần
Thời nhà Trần, mối đoàn kết trong nội tộc đặc biệt được coi trọng Vua Trần ThánhTông từng nói: “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tông, người giữ cơ nghiệp của tổ tông phảicùng hưởng phú quý với anh em trong họ Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cảthiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là anh em ruột thịt, lo thì cùng lo, vuithì cùng vui Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên,thì lúc đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc”(2) Chính vì vậy mà thời Trần, ngoài quânđội thường trực đặt dưới quyền cai quản trực tiếp của triều đình, các vương hầu quý tộc đều
có lực lượng vũ trang riêng cả Lúc thường thì đấy là lực lượng bảo vệ phủ đệ, phát triển sảnxuất, tích trữ lương thực, dự trữ sức người nhưng khi có chiến tranh, số thân binh có thể tănglên và trở thành một bộ phận quan trọng trong toàn bộ lực lượng vũ trang tham gia cuộckháng chiến Trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, các đội quân này đều lậpđược những chiến công xuất sắc Sử gia Ngô Sĩ Liên cho biết thêm: “Theo quy chế nhà Trần,
Trang 6các vương hầu ở phủ đệ của mình, khi chầu hầu thì đến kinh đô, xong việc thì lại về phủ đệ.Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả… Vảlại, như năm Đinh Tỵ đời Nguyên Phong (1257), giặc Nguyên sang cướp, các vương hầucũng đem gia đồng và hương binh thổ hào làm quân cần vương”(3) Điều dễ dàng nhận thấy
là các thái ấp của các thân vương quý tộc đều được bố trí phía nam Thăng Long, trong đó thái
ấp trên trục đường nước Thăng Long - Thiên Trường là đậm đặc nhất Điều này thể hiện nhàTrần rất chú trọng bảo vệ con đường Bắc - Nam nối hai trung tâm chính trị lớn nhất nước bấygiờ: Thăng Long - Thiên Trường Ngoài ra, quanh khu vực Thiên Trường, sở hữu hệ thốngđiền trang thái ấp đều là những người trong tôn thất mà không có người ngoại tộc như: thái
ấp A Sào, Bảo Lộc thuộc quyền sở hữu của hai cha con Trần Liễu, Trần Hưng Đạo; thái ấpLựu Phố, Lộc Quý thuộc quyền của Trần Thủ Độ; thái ấp Cao Đài, Hậu Bồi thuộc TrầnQuang Khải… Điều đó không chỉ làm tăng thêm tính cộng đồng trách nhiệm, tạo nên sứcmạnh đoàn kết nội tộc mà còn biến Thiên Trường trở thành một lãnh địa tuyệt đối an toàn, tincậy mỗi khi nước nhà có biến
Đầu năm 1258, đại quân Mông Cổ vượt qua biên giới, tấn công vào nước ta Trong cuộckháng chiến lần thứ nhất này, hành cung Tức Mặc trở thành một hậu cứ lợi hại của quân độinhà Trần Để giúp cho quan quân triều đình yên tâm đánh giặc, Linh Từ quốc mẫu Trần ThịDung là phu nhân Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ đã đưa thái tử cùng vợ con của quantướng, hoàng thân quốc thích về lánh nạn ở Tức Mặc Không chỉ chăm lo việc chăm sóchoàng tộc, Linh Từ quốc mẫu còn đi thu thập tất cả những vũ khí còn cất giấu trong cácthuyền lánh nạn để gửi ra cho quân đội nhà Trần trực tiếp chiến đấu
Sau khi chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất, nhà Trần lại càng chú ý đến việcxây dựng nơi đây trở thành một quân doanh để phòng bị Quân doanh đó đóng dọc theo cáccon sông nhỏ nối ra sông Hồng Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), quân triều đìnhquyết định rút lui từ Thăng Long về vùng Thiên Trường, Trường Yên Từ Thăng Long, ThoátHoan huy động đại quân đánh xuống Thiên Trường Quân Toa Đô ở Thanh Hóa cũng đượclệnh tiến công ra Trường Yên Quân thù tập trung binh lực, tạo thành hai gọng kìm hòng tiêudiệt quân ta Nhưng Trần Quốc Tuấn đã có cuộc hành quân đầy mưu trí để đánh lạc hướng kẻthù, thoát khỏi thế bao vây Từ Thiên Trường, một bộ phận quân ta rút về các lộ Đông - Bắc(Hải Phòng - Quảng Ninh) để dụ quân địch đuổi theo rồi chờ khi đạo quân Toa Đô vượt raThanh Hóa tiến vào Trường Yên thì quay vào chiếm Thanh Hóa làm hậu cứ Toa Đô vừa vất
vả tiến ra Trường Yên lại được lệnh đánh vào Thanh Hóa Đến đây, âm mưu của địch baovây tiêu diệt quân chủ lực và bộ máy đầu não kháng chiến của ta bị thất bại hoàn toàn Rõràng bộ máy đầu não kháng chiến của quân Trần đóng tại Thiên Trường, quân đội chủ lựccũng đóng tại đây Chỉ tiếc rằng đến nay vị trí cụ thể của quân doanh đó vẫn chưa thể xácđịnh
Bên cạnh việc bố trí các phòng tuyến, giao thông thuận lợi, nhà Trần còn tạo lập hai kholương quan trọng đảm bảo gìn giữ cung cấp đủ lương thực cho quân lính khi cần Kho lương
A Sào (Thái Bình) không chỉ tọa lạc tại một vùng có đất đai phì nhiêu mà còn là nơi tiếp giápcủa hai con sông quan trọng là sông Luộc và sông Hóa Từ đây có thể ngược sông Luộc lêncửa Hải Thị gặp sông Hồng từ kinh đô Thăng Long chảy qua phủ Thiên Trường rồi ra cửa
Trang 7biển Giao Hải Vùng A Sào ở vào vị trí xung yếu như vậy nên được nhà Trần hết sức quantâm Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3 (1288), kho lương A Sào
đã đóng một vai trò quan trọng đối với chiến trường phía bắc như Lạng Giang, ChươngDương, Tây Kết, Bạch Đằng Ngoài ra kho lương thứ hai là Trần Thương (Hà Nam) nằm bênsông Hồng cũng đóng một vai trò quan trọng đối với con đường Thăng Long - Thiên Trường.Trong hai cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258), lần thứ 2 (1285), hoàng thân, tôn thất nhàTrần đều đã từng rút lui từ Thăng Long theo đường sông Hồng vào sông Đại Hoàng rồi vềcăn cứ địa Thiên Trường Trong những lần rút lui, tiến công này hàng loạt trận đánh trên sôngThiên Mạc (Lý Nhân, Hà Nam) cùng các trận khác như trận đánh đồn A Lỗ, trận Đại Mang…đều có sự phục vụ, cung cấp lương thực kịp thời của kho lương Trần Thương Mặc dù sử sáchkhông đề cập tới sự đóng góp của kho lương này, nhưng tên gọi Trần Thương nghĩa là kholương nhà Trần cùng dấu ấn vật chất xung quanh khu vực ngôi đền Trần Thương hiện nay đãlàm sáng tỏ truyền thuyết dân gian là đúng, khẳng định vai trò của một kho lương chiến lược
Ở đây trong quá trình canh tác, xây dựng, nhân dân đã bắt gặp nhiều nồi đồng, mảnh gốm sứcủa bát đĩa với màu men, phong cách trang trí của nghệ thuật gốm sứ Trần Điều đặc biệt hơnnữa, trong quá trình tôn tạo, đào móng ngôi đền Trần Thương, người ta đã tìm thấy nhiều vỏthóc xen lẫn các bát đĩa, lại càng khẳng định dấu ấn của một kho lương (4)
Đối với lực lượng bảo vệ hành cung Thiên Trường, ngoài binh lính trong các điền trangthái ấp bao quanh thì những binh sĩ quê ở phủ Thiên Trường là lực lượng chính bảo vệ hànhcung cùng các phủ đệ của vương hầu quý tộc đóng trên địa bàn Cũng chính vì vậy mà nhữngngười dân ở vùng quê hương nhà Trần không được đi thi văn vì sợ khí lực kém đi Năm
1281, nhà Trần lập nhà học ở phủ Thiên Trường nhưng lại cấm người hương Thiên Thuộckhông được vào học Quy định này đã được duy trì khá nghiêm ngặt Năm Quý Hợi (1323)vua Trần Minh Tông ngự đến nhà Thái học, có người tên là Mặc trong quân Thiên Thuộc ởHoàng Giang đã dự thi và trúng khoa thi Thái học sinh, vua xuống chiếu bắt trở lại quân ngũ,làm quân tại quân Thiên Đinh Người này sau thi đánh gậy lại đỗ bậc cao (5)
Ngọc phả chùa Cả thuộc thôn Đệ Nhất, một trong những hành cung thời Trần, viết về sựkiện hai anh em Phạm Ngộ, Phạm Mại đã chỉ huy cánh quân phía đông lập ba đồn binh
phòng thủ cung Trùng Quang (6) Bia đá Thiên Trường phủ Đệ Nhị bia ký tại chùa thôn Đệ
Nhị, xã Mỹ Trung còn cho biết khu vực này là nơi đội quân Thiên Thuộc, Tứ Thủ trấn giữ,sẵn sàng bỏ mình vì nước Truyền thuyết và ngọc phả đình Tây thôn Đệ Tam cũng cho biếttrong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, ngôi chùa Đệ Tam là một trong nhữngtrạm chăm sóc những binh lính nhà Trần bị thương trong chiến đấu Xa hơn chút nữa, dưới sựchỉ huy của các vị tướng Trần Phạm, Bùi Khiết, Bùi Tuyết và Trương Long, nhân dân xã XốiĐông (nay là xã Trung Đông, huyện Trực Ninh) cùng với binh lính lập nên ba đồn binh (đồnThượng, đồn Trung, đồn Hạ) phối hợp với gia binh thái ấp Vân Đồn (Nghĩa An, Nam Trực)của Trần Khánh Dư tổ chức nhiều trận đánh lớn, góp phần quan trọng cùng quân dân ĐạiViệt chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ hai (7), bảo vệ mặt biển phía namcủa Thiên Trường Chính vì cách thức bố trí về lương thực, quân sĩ, thái ấp như vậy mà trong
ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, mặc dù kinh thành Thăng Long đều bị giặcchiếm đóng, song trong cả ba lần đó Tức Mặc cùng với Trường Yên, Ninh Bình và kinh
Trang 8thành Thăng Long đã tạo thành thế chân vạc, ỷ dốc, góp phần làm nên những chiến thắngoanh liệt Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử…
Năm Giáp Thân (1344), triều Trần có sự thay đổi một số chức quan trong triều thì đồngthời cũng đặt ra chức Thái phủ và Thiếu phủ ở Thiên Trường Như vậy, về mặt tổ chức hànhchính, nhà Trần đã đặt Thiên Trường là một phủ rất trọng yếu Điều khác với triều Lý là nhàTrần không chỉ coi Thiên Trường là quê hương, là nơi có miếu mạo dòng họ nhà vua mà còn
là nơi làm việc và nghỉ ngơi của Thái thượng hoàng nhà Trần, duy trì nhất quán sự bàn giaothế hệ cầm quyền bằng chế độ Thái thượng hoàng Nhà sử học Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Giapháp nhà Trần, con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh từ, xưng là Thượnghoàng cùng trông coi chính sự Thực ra chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi mất màthôi, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng quyết định cả Vua nối ngôi không khác gì Hoàngthái tử”(8)
Ở Thăng Long thì Thượng hoàng ở cung Thánh từ, nếu về Thiên Trường thì Thượnghoàng ngự ở cung Trùng Quang Phan Huy Chú viết: “Các vua Trần sau khi nhường ngôi chocon đều về ở Thiên Trường”(9) Mặc dù đã lui về Thiên Trường nhưng Thượng hoàng vẫnquan tâm đến chính sự và vẫn có quyền hành, kể cả quyền phế truất vua nọ, lập vua kia.Thượng hoàng ở Thiên Trường, vua và các quan phải đến chầu theo định kỳ Cũng có khiThượng hoàng đột xuất lên kinh đô để kiểm tra công việc chính sự của vua
Từ những tư liệu trích dẫn, có thể khẳng định thời Trần, vùng đất Tức Mặc đóng một vaitrò quan trọng Vùng đất này không chỉ là đất phát tích, quê hương và đất thang mộc nhàTrần, là nơi các Thái thượng hoàng nghỉ ngơi mà còn là được các vua Trần xây dựng thànhmột căn cứ địa quan trọng, vững chắc, an toàn cho hoàng tộc Qua đó có thể thấy nhà Trần đãtạo lập được mối liên hệ phù hợp, mang tính chiến lược giữa hai vùng đất Thăng Long -Thiên Trường, trong đó Thăng Long là kinh đô của đất nước nhưng Thiên Trường mới là đầunão chính trị của Đại Việt bấy giờ
Câu 3: Những hiểu biết của bạn về ba lần quân dân Đại Việt chống quân xâm lược Nguyên –
Mông thời Trần? Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử?
3.1 Những hiểu biết về ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của quân dân
Đại Việt:
*Lần thứ nhất:
Mông Cổ tấn công Đại Việt vào tháng 1 năm 1258 Từ Đại Lý (nay làVân Nam, TrungQuốc) Uriyangqadai dẫn quân Mông Cổ và Đại Lý dọc theo sông Hồng vào Đại Việt Đíchthân Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông dẫn quân lên nghênh địch tại Bình Lệ Nguyên (nay
là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) Quân Mông Cổ dễ dàng đánh tan quân Đại Việt, nhưng đã khôngthành công trong việc bắt các vua Trần Trận tiếp theo diễn ra tại Phù Lỗ (bên sông Cà Lồ).Quân Đại Việt lại bị đánh bại Triều đình nhà Trần phải sơ tán khỏi kinh đô Quân Nguyên dùchiếm đượcThăng Long, nhưng gặp phải khó khăn về lương thực
Chỉ 10 ngày sau khi rút khỏi Thăng Long, hai vua Trần lại dẫn quân phản công, đánh thắngquân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu (nay là quận Ba Đình, Hà Nội) Quân Mông Cổ lập
Trang 9tức bỏ thành Thăng Long rút lui về nước, cũng bằng con đường dọc theo sông Hồng Trênđường rút lui, quân Mông Cổ đã bị lực lượng các dân tộc thiểu số miền núi Tây Bắc do HàBổng chỉ huy tập kích.
Toàn bộ cuộc chiến lần thứ nhất chỉ diễn ra trong vòng khoảng nửa tháng, với chỉ khoảng 3-4trận đánh lớn Sau thất bại tại Đại Việt, quân Mông Cổ phải tìm đường khác để tấn côngTống từ phía Nam
* Lần thứ 2 :
27 năm sau, Hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh chinh phạt Đại Việt Cuộc chiếnlần này kéo dài khoảng 4 tháng từ cuối tháng Chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng Tư năm ẤtDậu (cuối tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 1285 dương lịch) Lần này, quân Nguyên chuẩn bịchiến tranh tốt hơn, huy động lực lượng lớn hơn Ngoài lục quân từ phía Bắc tiến xuống, còn
có thủy quân từ mặt trận Chiêm Thành ở phía Nam chuyển sang
Cũng tương tự như lần thứ nhất, quân Nguyên mau chóng giành thắng lợi Quân Đại Việt liêntục bị đánh bại ở các mặt trận Lạng Sơn, Sơn Động, Vạn Kiếp, Thu Vật (Yên Bình), sôngĐuống Từ phía Bắc, chỉ khoảng 20 ngày sau khi vượt qua biên giới, quân Nguyên đã chiếmđược thành Thăng Long Triều đình nhà Trần rút lui theo sông Hồng về Thiên Trường (NamĐịnh) và Trường Yên (Ninh Bình), chịu sự truy kích ráo riết của quân Nguyên Mọi nỗ lựcphản kích của các vua Trần dọc theo sông Hồng đều bị quân Nguyên đánh bại Từ phíaNam, Sogetu dẫn quân từ Chiêm Thành lên dễ dàng đánh tan quân Đại Việt tại vùng NghệAn-Thanh Hóa Bị ép cả trước lẫn sau, các vua Trần phải rút ra biển lên vùng Quảng Ninh,đợi đến khi cánh quân Nguyên phía Nam đi qua Thanh Hóa mới lui về Thanh Hóa
Cũng giống như lần trước, quân Nguyên lại gặp khó khăn về lương thực Trong khi đó, quânĐại Việt đã nhanh chóng chấn chỉnh đội ngũ Khoảng gần 2 tháng sau khi rút về Thanh Hóa,Đại Việt phản công Dọc theo sông Hồng, quân Đại Việt lần lượt giành thắng lợi tại cửa Hàm
Tử (nay ở Khoái Châu, Hưng Yên), bến Chương Dương (nay ở Thượng Phúc, thuộc ThườngTín, Hà Nội), giải phóng Thăng Long
Cánh quân phía Bắc của quân Nguyên trên đường rút chạy đã bị tập kích tại sông Cầu, tạiVạn Kiếp, Vĩnh Bình Cánh quân rút về Vân Nam bị tập kích tại Phù Ninh Cánh quân phíaNam bị tiêu diệt hoàn toàn tại Tây Kết (Khoái Châu)
* Lần thứ 3:
Ngay sau khi bại trận về nước năm 1285, quân Nguyên chỉnh đốn quân ngũ, bổ sung lựclượng, đóng tàu chiến, huy động lương thực để trở lại đánh Đại Việt lần thứ ba Cuộc chiếnlần này kéo dài khoảng gần 4 tháng, từ cuối tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288.Quân Nguyên chia làm 3 cánh vào Đại Việt từ Vân Nam, từ Quảng Tây và từ Quảng Đông(theo đường biển) vào Đại Việt
Giống như 2 lần trước, quân Nguyên mau chóng đánh tan quân Đại Việt cả trên bộ lẫn trênbiển, nhưng lại chịu một tổn thất quan trọng, đó là lương thực chuyên chở bằng tàu biển bịmất hết vì bị các đơn vị của Trần Khánh Dư tấn công ở Vân Đồn, vì bão biển, vì đi lạc QuânNguyên tập trung ở Vạn Kiếp và đánh rộng ra xung quanh, chiếm được Thăng Long, nhưnglại bị đói giống như hai lần trước
Trang 10Khác với 2 lần trước, lần nay quân Đại Việt không huy động lực lượng lớn chặn đánh quânNguyên từ đầu, mà chỉ đánh có tính kìm chân Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượng Đại Việt rút
về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng, từ đó tổ chức các cuộc tấn công vào căn cứ Vạn Kiếp và đánhthủy quân Nguyên
Vì đói và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp,rồi chủ động rút lui dù quân Đại Việt chưa phản công lớn Cánh thủy quân của Nguyên đã bịtiêu diệt hoàn toàn tại sông Bạch Đằng khi định rút ra biển Các cánh lục quân Nguyên khi điqua Bắc Giang và Lạng Sơn đã bị quân Đại Việt tấn công dữ dội
chiến với Đại Việt nữa Việc chiến tranh với nhà Nguyên từ đó mới chấm dứt.
Về số quân Nguyên
Sử sách Việt Nam và Trung Quốc nêu số quân Nguyên không thống nhất Lần đầu, Nguyên
sử chỉ nêu vài ngàn quân; sau này các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng số quân Nguyênnăm 1257 khoảng 3 vạn Nhà sử học Ba Tư là Said ud Zin cho biết quân Mông đến Vân Nam
có 3 vạn nhưng trước khi đến Ngạc châu gặp Hốt Tất Liệt thì số quân chỉ còn lại 5000
người
Lần thứ hai, Đại Việt Sử ký Toàn thư chép quân Nguyên có 50 vạn và khi rút về chỉ còn 5
vạn Nguyên Sử chép rằng chỉ có 30 vạn nếu tính luôn cả dân phu là những người khôngtham gia chiến đấu Con số 30 vạn được các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng phù hợp Tuynhiên, về số trở về nước, chắc chắn nhiều hơn 5 vạn, vì từ tháng 6 âm lịch năm 1285, ThoátHoan rút chạy về, tới tháng 8 đã được lệnh chuẩn bị sang lần nữa Như vậy số quân còn lạicũng tương đối nhiều, gần với số cần thiết mang đi viễn chinh lần nữa[4] Theo 1 số tác giả thìquân Đại Việt lần này có 30 vạn người
Lần thứ 3, Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi số quân là 50 vạn, trong khi Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục lại cho rằng như vậy quá nhiều, chỉ có khoảng hơn 9 vạn là số
quân bổ sung Các nhà nghiên cứu cũng của Việt Nam xác định rằng quân Nguyên lần nàycũng có khoảng 30 vạn như lần thứ hai, còn quân Trần có tổng số khoảng 20 vạn
Nguyên nhân thắng lợi
Nguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của nhà Trần là chính sách đoàn kết nội bộ
của những người lãnh đạo Dù trong hoàng tộc nhà Trần có những người phản bội theo nhàNguyên nhưng nước Đại Việt không bị mất, nhờ sự ủng hộ của đông đảo dân chúng
Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnhxuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần Dù xuất thân quyền quýnhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước - và bảo vệ quyền lợi dòng tộc -
Trang 11số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ Thật hiếm dòng họ cai trị nào có nhiều nhân
tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản
Theo các nhà nghiên cứu, chiến thắng của nhà Trần có được nhờ vào sự sáng suốt của cáctướng lĩnh trong chiến thuật, đứng đầu là Trần Hưng Đạo Trong khi tác chiến, các tướng lĩnhnhà Trần chủ động tránh lực lượng hùng hậu người Mông mà đánh vào các đạo quân ngườiHán bị cưỡng bức theo quân Mông sang Đại Việt Tâm lý của những người mất nước và phảichịu sự quản thúc của người Mông khiến các đạo quân này nhanh chóng tan rã, sức kháng cựthấp Một cánh quân tan rã có tác động tâm lý lớn tới các đạo quân còn lại trên toàn mặt trận.Mông-Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới Những nơi người Mông bại trận lúc
đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Nam Dương đều có biển cả ngăn cách và quân Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân, lại gặp bão to (Thần phong) nên mới bị thua trận Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục Đông Á, chung đường biên
giới cả ngàn dặm với người Mông mà người Mông vẫn không đánh chiếm được Một đế quốc
đã nằm trùm cả đại lục Á - Âu mà không lấy nổi một dải đất bé nhỏ ở phía nam Tổng cộng 3đợt xuất quân, Mông-Nguyên huy động hơn 60 vạn lượt quân, trong khi dân số Đại Việt khi
ấy chưa đầy 4 triệu Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ địch và vị trí địa lý với nhữngquốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ đại của chiến công 3 lần đánh đuổiMông-Nguyên của nhà Trần
Theo giáo sư Đào Duy Anh thì có 3 nhược điểm khiến quân Mông Nguyên thất bại ở Đại
Việt:
1 Người Mông Cổ đi đánh xa, chỉ mong cướp bóc nuôi quân, nếu không được thì dễ bị
khốn vì thiếu lương
2 Quân Mông Nguyên là người phương bắc, không hợp thuỷ thổ
3 Đại đa số quân lính là người Trung Hoa bị chinh phục, tinh thần chiến đấu không có,gặp khó khăn là chán nản
Chiến công của nhà Trần nhìn chung được nhiều thế hệ nhân dân ca ngợi qua các thần tích,
vè và những lời truyền tụng trong dân gian Sang thế kỷ 20, Trần Trọng Kim và Phan Kế
Đặc biệt là Ngột Lương Hợp Thai, được xếp vào hàng công thần thứ 3 của nhà Nguyên, từng
tham gia đánh nước Kim của người Nữ Chân; tấn công Đức và Ba Lan dưới cờ của Bạt Đô, tấn công Vương quốc Bagdad cùng Húc Liệt Ngột, và diệt nước Đại Lý chỉ trong vài tuần.
Trang 12Trần Xuân Sinh trong Thuyết Trần phản bác quan điểm này và cho rằng những lời bình luận
đó là "ngớ ngẩn".
Câu 4: Những đóng góp nổi bật của quân, dân Nam Định trong kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ; thành tựu trong đổi mới và hội nhập của Đảng bộ, quân, dân Nam Định?
Về kinh tế, mọi ngành sản xuất đều sút kém, đình đốn Sản xuất nông nghiệp suy giảm, ruộngđất hoang hóa nhiều Hàng hóa khan hiếm, nạn đầu cơ tích trữ phát triển Về tài chính, ngânquỹ, kho bạc nói chung không còn gì Giữa lúc đó, các thế lực đế quốc núp dưới danh nghĩaquân Đồng minh để tước vũ khí quân đội Nhật cũng tràn vào từ hai đầu đất nước Thực chất
là chúng muốn lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ
Về phía chủ quan, Đảng bộ Nam Định còn thiếu kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo chínhquyền Các tổ chức quần chúng, lực lượng vũ trang địa phương, tổ chức đảng ở cơ sở nhất là
ở xã còn ít, trang bị nghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của phong trào cáchmạng trong giai đoạn mới
Thuận lợi cơ bản nhất đối với chính quyền cách mạng non trẻ là được sự ủng hộ mạnh mẽ củaquần chúng Trong mọi hoàn cảnh, các tầng lớp nhân dân Nam Định nói riêng và cả nước nóichung luôn vững tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh, sẵn sàng đem tính mạng và củacải để bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ chế độ mới
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệutập phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải làm
ngay Ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, khẳng định
“Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng Cuộc cáchmạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được hoàn toàn độc lập”
Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh là dồntoàn lực vào việc xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trước sự tiến công thâm độc củanhững kẻ thù có tiềm lực quân sự lớn mạnh, tàn ác và nguy hiểm
Trang 13Nhờ sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân, cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Hội đồng nhân dâncác cấp diễn ra một cách tốt đẹp Ngày 6-1-1946, gần 100% số cử tri đã đi bỏ phiếu bầu cửQuốc hội, trong số 36 vạn cử tri có tới 33 vạn cử tri bỏ phiếu tín nhiệm cho những người Mặttrận Việt Minh giới thiệu Ngày 20-1-1946, cử tri Nam Định nô nức đi bầu cử Hội đồng nhândân cấp tỉnh và tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân cấp xã vào ngày 18-3-1946.
Ngày 10-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nam Định, Chiều ngày 10-1-1946, Chủ tịch
đã nói chuyện với thân mật với đại biểu các tâng lớp nhân dân, đại biểu các tôn giáo và cán
bộ các ngành, các giới trong tỉnh Bảy giờ sáng ngày 11-1-1946, trước hơn một vạn cán bộ,
bộ đội và nhân dân Bác ân cần nhắc nhở mọi người phải đoàn kết, thương yêu nhau, chăm lo,mọi mặt công tác, ủng hộ Chính phủ Đây là lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm NamĐịnh Những lời chỉ bảo ân cần của Người đã để lại ấn tượng sâu sắc và cổ vũ Đảng bộ, nhândân Nam Định đoàn kết, phấn đấu, khắc phục những khó khăn trở ngại, tiếp tục đi lên tronggiai đoạn mới của cách mạng
Với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh, những khó khăn bước đầu đãdần được khắc phục, đời sống nhân dân ổn định, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được củng cố,giữ vững; quân và dân Nam Định có điều kiện bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, chốngthực dân Pháp xâm lược
Chiến đấu giam chân địch trong thành phố, chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Cũng trong tháng 12-1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị toàn dân kháng chiến, vạch ra những nét lớn về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài
và tự lực cánh sinh
24h ngày 19-12-1946, cả thành phố Nam Định rền vang tiếng súng mở đầu cuộc kháng chiếnchống xâm lược Cuộc chiến đấu của ta nhằm kiềm chế, tiêu hao sinh lực địch trong thànhphố diễn ra dài ngày và mỗi lúc một ác liệt hơn Ta và địch đánh lấn, giành nhau từng cănnhà, góc phố từng nhà máy, xí nghiệp Trong cuộc chiến đấu không cân sức ấy đã xuất hiệnnhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh, quyết tâm giết giặc lập công Điểnhình là Đoàn Bạch Hạc - Chính trị viên trung đội (thuộc Tiểu đoàn 69), Triệu Hàn - Chính trịviên trung đội (thuộc Tiểu đoàn 69), Phạm Sơn - công nhân vận chuyển, tự vệ Nhà máy sợimới tình nguyện vào bộ đội thuộc Tiểu đoàn 75, nữ chiến sĩ cứu thương Nguyễn Thị Ca Trong trận cuối cùng địch đánh giải vây thành phố (10-3-1947) có bốn anh em ruột cùngchiến hào đã anh dũng hi sinh khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng là Tạ Quang Khải, TạHồng Quang, Tạ Quang Thuấn, Tạ Quang Đức
Ngày 6-1-1947, quân dân Nam Định đánh thắng cuộc hành quân chi viện quy mô lớn củađịch, chiến thắng to lớn này đã được Hồ Chủ Tịch thay mặt Quốc hội và Chính phủ điện khen
ngợi và quyết định tặng Trung đoàn 34 danh hiệu Trung đoàn tất thắng Hội nghị quân sự
toàn quốc (họp từ ngày 12 đến ngày 16 – 1 -1947) đã khen ngợi chiến công của nhân dânNam Định và nêu gương anh dũng chống thuỷ, lục, không quân địch
Trang 14Sau 86 ngày đêm liên tục chiến đấu, quân dân Nam Định đã kìm chế, giam chân một lựclượng lớn quân viễn chinh Pháp, giết và làm bị thương 400 tên, trong đó có nhiều sĩ quan vàlính Âu - Phi, bắt sống sáu tên, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng Cùng với Hà Nội, vàmột số thành phố, thị xã khác ở Bắc Bộ, cuộc chiến đấu của quân dân Nam Định đã làm thấtbại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, góp phần cùng cả nước có thêmthời gian củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài Qua chiếnđấu ác liệt, lực lượng kháng chiến tại Nam Định vẫn được bảo toàn và ngày càng trưởngthành.
Xây dựng làng chiến đấu, củng cố hậu phương, chống địch lấn chiếm (1947 tới 10-1949)
Sau khi chiếm được mấy thành phố trống rỗng, thực dân Pháp tiếp tục xua quân sang ĐôngDương Mục tiêu của chúng trong thời gian này là chiếm lấy những đường giao thông chính,lập vành đai bảo vệ thành phố, thị xã, trên cơ sở đó đánh nống ra tiêu diệt lực lượng khángchiến và nhanh chóng kết thúc chiến tranh
Ở Nam Định, thực hiện âm mưu mở rộng chiếm đóng theo chiến thuật vết dầu loang, địch đã
mở nhiều cuộc càn quét xung quanh thành phố để khủng bố nhân dân, phá cơ sở, gây tâm lýcầu an; dụ dỗ, thúc ép dân hồi cư và đẩy lực lượng ta ra ngoài Từ tháng 4 đến tháng 6-1947,chúng đã đóng thêm một số vị trí ngoài thành phố như Đò Quan, Vạn Diệp (Nam Phong,Nam Trực), Đệ Nhất (Mỹ Trung), Bảo Long (Mỹ Hà), Lê Xá (Mỹ Thịnh) thuộc huyện MỹLộc và Xuân Mai (Bình Lục, Hà Nam) Cũng trong thời gian này, địch còn tổ chức một sốtrận đánh ra vùng tự do để khủng bố tinh thần nhân dân, cướp bóc lương thực, thực phẩm và
để vây quét lực lượng của ta, nhưng đều bị đánh trả đích đáng như các trận chợ Dần (Vụ Bản)ngày 31-3-1947, trận Lê Xá (Mỹ Thịnh, Mỹ Lộc), Núi Ngăm (huyện Vụ Bản) ngày 2-5-1947,trận Đại Đê (Vụ Bản) ngày 1-6-1947, trận Quang Sán (Mỹ Lộc) tháng 7-1947…
Vừa cơ động chiến đấu, các đơn vị bộ đội vừa đưa một bộ phận lực lượng về các địa phương
hỗ trợ, phát triển chiến tranh du kích Năm 1947, bộ đội chủ lực đánh 75 trận, bộ đội địaphương đánh 24 trận, dân quân, du kích đánh 40 trận.Tiêu biểu cho thành tích chiến đấu làđội du kích Mai Mỹ (Thành Mỹ) đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh biểu dương
Nhân dân các vùng bị địch uy hiếp tổ chức triệt phá cầu, đường, đắp ụ ngăn cơ giới của địchthực hiện khẩu hiệu vườn không, nhà trống khi địch tới Việc rào làng kháng chiến chốngđịch càn quét cũng được tiến hành ở nhiều địa phương Đến tháng 10-1949, toàn tỉnh đã xâydựng được 90 làng chiến đấu Đến tháng 9-1949, du kích toàn tỉnh có hơn 45.000 người; cuốinăm 1949, đã có 20 trung đội du kích Phong trào tòng quân giết giặc cứu nước sôi nổi khắpcác địa phương Năm 1949, có gần 9.000 người ghi tên tòng quân, bộ đội địa phương đếntháng 3-1948 từ một Đại đội Đề Thám đã xây dựng thêm tiểu đoàn Duyên Hải
Từ phong trào thi đua ái quốc, Đảng bộ đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hiệnkinh tế tự túc, tự cấp Hai vụ lúa chiêm – mùa năm 1948 đều khá tốt, tổng sản lượng 227.000tấn thóc (năm 1947 là 222.000 tấn) Sản lượng muối tăng tương đối nhanh, đáp ứng yêu cầulớn của kháng chiến Công nghiệp và thủ công nghiệp cũng được đẩy mạnh như các nghề kéo