ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HỒNG HOA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG S
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA
QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-000
-NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA
QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN THẾ NGHĨA
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam ñoan ñây là kết quả công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Thế Nghĩa Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng ñược công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Hoa
Trang 4
Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN 8
1.1 BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI CỦA
VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI VIỆC HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN 8
1.1.1 Bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX ñầu thế kỷ XX với việc hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân 8
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX ñầu thế
kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng
nhân dân 15
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN 28
1.2.1 Truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam 28
1.2.2 Tinh hoa văn hoá nhân loại với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về vai trò của quần chúng nhân dân 36
1.2.3 Quan ñiểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân
dân trong lịch sử 44
Kết luận chương 1 56
Trang 55
Chương 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA
QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 58
2.1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM 58
2.1.1 Khái niệm “nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh 58
2.1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng Việt Nam 65
2.1.3 Vấn ñề phát huy vai trò của quần chúng nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh 80
2.2 Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA
QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 90
2.2.1 Sự nghiệp ñổi mới với việc phát huy vai trò của quần chúng nhân dân 90
2.2.2 Một số bài học rút ra từ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng Việt Nam 104
Kết luận chương 2 113
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 6
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ñã cho thấy, hiếm có dân tộc nào trên thế giới phải trải qua nhiều cuộc kháng chiến trường kỳ ñể bảo vệ ñộc lập, chủ quyền như Việt Nam Từ những phong trào ñấu tranh của quần chúng nhân dân trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, ñến ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông của nhà Trần, cuộc ñấu tranh chống quân Minh xâm lược thời nhà
Lê, rồi phong trào Tây Sơn ñánh bại quân Thanh và hơn 80 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược… ñã thể hiện rõ ñiều ñó Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân ta lại tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp và sau ñó,
20 năm chống ñế quốc Mỹ và tay sai Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, ñất nước hoàn toàn ñộc lập, thống nhất, dân tộc ta bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ cả nước quá ñộ ñi lên chủ nghĩa xã hội
Trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc, có nhiều lực lượng tham gia, song nhân tố quyết ñịnh vẫn là quần chúng nhân dân Quần chúng nhân dân không chỉ là lực lượng sản xuất ra những giá trị vật chất
và văn hoá tinh thần của xã hội, mà còn là ñộng lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính của lịch sử Chính vì hiểu rõ vai trò này của quần chúng nhân dân nên suốt cuộc ñời hoạt ñộng và lãnh ñạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn chú ý ñến việc phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Người ñã chỉ rõ “kách mệnh là sự nghiệp chung của toàn dân chúng”; “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo…”[61, tr.250] Nhận
Trang 77
thức sâu sắc quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân, từ khi ra ñời cho ñến nay,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác ñịnh “lấy dân làm gốc”, mọi ñường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta ñều xuất phát từ nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân
Ngày nay, sự nghiệp ñổi mới ñất nước diễn ra trong bối cảnh quốc
tế và trong nước có những biến ñộng to lớn và sâu sắc Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện ñại, sự thâm nhập mạnh mẽ của kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hoá… ñặt ra những thời cơ
và thách thức cho tất cả các quốc gia Cùng với nó là những diễn biến phức tạp, khó lường của cuộc ñấu tranh giai cấp, ñấu tranh dân tộc, của tình hình chính trị, quân sự trên thế giới; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù ñịch ñối với cách mạng nước ta… ñã tạo nên những thách thức lớn ñối với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ ñổi mới Để giữ vững sự ổn ñịnh xã hội, ñảm bảo an ninh quốc phòng, ñẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện ñại hoá ñất nước, nhất thiết Đảng và Nhà nước phải tin tưởng vào dân, dựa vào dân, phát huy vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân Do ñó, việc tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân ñối với cách mạng Việt Nam
hiện nay là thật sự cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Chính vì vậy,
tác giả chọn vấn ñề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng
nhân dân và ý nghĩa của nó trong sự nghiệp ñổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm ñề tài Luận văn Thạc sĩ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ñề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, Người ñã dành trọn cả ñời mình phấn ñấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân dân Tư tưởng
Trang 88
Hồ Chí Minh là di sản tinh thần ñặc sắc, phong phú của toàn Đảng, toàn dân
ta, ñược thể hiện sâu sắc trong ñường lối chính sách của Đảng và gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam
Nhận thức sâu sắc giá trị khoa học và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh, những năm qua, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục ñã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu phong phú và ña dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau Đã có nhiều công trình nghiên cứu gần với ñề tài, có thể tiếp cận ở 2 phương diện sau:
Một là, những công trình nghiên cứu toàn diện, khái quát về nội dung và
giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, trong ñó có ñề cập ñến tư tưởng Hồ Chí Minh
về vai trò của quần chúng nhân dân, như “Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi
lạc” của Giáo sư Song Thành, Nxb Lý luận chính trị, 2005 Công trình này
gồm có 3 phần, phần thứ nhất tác giả ñã trình bày một cách khái quát những cống hiến sáng tạo về tư tưởng – lý luận của Hồ Chí Minh ñối với cách mạng Việt Nam và ý nghĩa của nó ñối với thời ñại hiện nay, nhằm làm rõ vị thế của
Hồ Chí Minh với tư cách là nhà tư tưởng lỗi lạc của cách mạng Việt Nam; phần thứ hai tác giả phân tích những nội dung cơ bản trong hệ thống tư tưởng
Hồ Chí Minh; phần thứ ba tác giả bàn về nội dung, biện pháp ñưa tư tưởng
Hồ Chí Minh vào cuộc sống
Công trình “Hồ Chí Minh – Nhà cách mạng sáng tạo” do GS.TS Mạch
Quang Thắng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Ở công trình này, tập thể các tác giả ñã nêu bật những cống hiến lý luận của Hồ Chí Minh vào kho tàng kinh ñiển của chủ nghĩa Mác – Lênin, làm căn cứ ñể khẳng ñịnh
Hồ Chí Minh thật sự là nhà cách mạng luôn ñổi mới và sáng tạo
Công trình “Hồ Chí Minh với sự nghiệp ñộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội” do PGS.TS Vũ Đình Hòe và PGS.TS Bùi Đình Phong (ñồng chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, 2010 Cuốn sách ñã tổng kết bước ñầu về những
Trang 99
cống hiến to lớn, quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam Trên cơ sở đĩ các tác giả khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cơng cuộc giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay;…
Hai là, những cơng trình nghiên cứu trực tiếp nội dung tư tưởng Hồ Chí
Minh về vai trị của quần chúng nhân dân, bước đầu rút ra những ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam Tiêu biểu như cơng trình
“Chiến lược đại đồn kết Hồ Chí Minh” do PGS TS Phùng Hữu Phú chủ
biên, Nxb Chính trị quốc gia, 1995 Cuốn sách tập trung làm sáng tỏ chiến lược đại đồn kết do Hồ Chí Minh khởi xướng nhằm tập hợp, phát huy sức mạnh của tồn dân tộc và của quốc tế vì mục tiêu độc lập, tự do và chủ nghĩa
xã hội Từ đĩ các tác giả rút ra ý nghĩa về lý luận và thực tiễn gĩp phần hồn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Tác phẩm “Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí
Minh” của tác giả Đàm Văn Thọ và Vũ Hùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997 Trong tác phẩm này, các tác giả đã nêu lên những khái niệm về dân, những quan điểm, thái độ khác nhau về dân trong lịch sử ở phương Đơng, phương Tây và ở Việt Nam Tác phẩm cũng đề cập đến quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trị của quần chúng nhân dân, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và dân
Tác phẩm “Tồn dân đồn kết chống Mỹ, cứu nước dưới ngọn cờ tư
tưởng Hồ Chí Minh (1954 – 1975)” của tác giả Hồng Trang, do Nxb Chính
trị quốc gia xuất bản năm 2005 Ở tác phẩm này, tác giả tập trung làm rõ tư tưởng đại đồn kết Hồ Chí Minh, chứng minh sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo của Đảng ta về tư tưởng đại đồn kết Hồ Chí Minh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhằm thực hiện thành cơng cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 1010
Ngoài ra còn có một số bài báo ñăng trên các tạp chí Triết học, Lịch sử
Đảng, Lý luận chính trị… Chẳng hạn, Nguyễn Mạnh Tường với “Nhân dân
trong quan niệm của Hồ Chí Minh”, Tạp chí lịch sử Đảng, số 1, 1997 Trong
bài viết này, tác giả ñã nêu lên quan niệm của Hồ Chí Minh về nhân dân, khẳng ñịnh sức mạnh to lớn của nhân dân ñối với sự nghiệp cách mạng; Với
bài “Tìm hiểu tư tưởng dân là gốc của Hồ Chí Minh” ở Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10, 2001 tác giả Trần Hải ñã bước ñầu khái quát ñược tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung lấy dân làm gốc Hay “Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy
dân làm gốc” của Phạm Bá Lượng, Tạp chí Triết học, số 2 (165), 2005 Trần
Nam Chuân với bài viết “Mấy vấn ñề về vận ñộng quần chúng theo tư tưởng
Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lý luận chính trị, 11- 2003 “Khái niệm nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả Mai Trung Hậu, Tạp chí Lý luận
chính trị, số 10, 2009 “Nghiên cứu về khái niệm dân trong tư tưởng Hồ Chí
Minh” của Phan Xuân Sơn, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4, 2007… Hầu hết
các bài viết này bước ñầu ñã nêu ñược quan niệm của Hồ Chí Minh về nhân dân, khẳng ñịnh sự cần thiết phải “lấy dân làm gốc” và công tác vận ñộng quần chúng nhân dân hiện nay
Nhìn chung, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân ít nhiều ñã ñược các tác giả nghiên cứu và công
bố Tuy nhiên, cho ñến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân và ñánh giá ý nghĩa của tư tưởng ñó trong sự nghiệp ñổi mới ở Việt Nam hiện nay
3 Mục ñích, nhiệm vụ và giới hạn của luận văn
- Mục ñích: Luận văn làm rõ những ñiều kiện, tiền ñề hình thành và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng
Trang 1111
nhân dân, từ ñó rút ra một số bài học kinh nghiệm ñể phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp ñổi mới ở Việt Nam hiện nay
- Để ñạt ñược mục ñích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
+ Làm rõ những ñiều kiện, tiền ñề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân
+ Phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân
+ Đánh giá, rút ra một số bài học kinh nghiệm từ tư tưởng Hồ Chí Minh ñể phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong giai ñoạn hiện nay ở Việt Nam
- Giới hạn nghiên cứu của ñề tài: Đề tài không nghiên cứu về nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung mà tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân và ý nghĩa của tư tưởng ñó trong sự nghiệp ñổi mới ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện ñược mục ñích và nhiệm vụ ñã nêu của ñề tài, tác giả lấy thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử ñể nghiên cứu, trình bày luận văn của mình Đồng thời, tác giả còn sử dụng kết hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu như: logic
và lịch sử, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, khái quát hoá… Luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan với ñề tài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
Luận văn góp phần làm rõ ñiều kiện, tiền ñề hình thành, nội dung, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân ñối với
sự nghiệp cách mạng Việt Nam Trên cơ sở ñó góp phần khẳng ñịnh rõ thêm vai trò ñặc biệt quan trọng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Trang 1212
Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt ñộng của Đảng trong sự nghiệp ñấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, phát triển ñất nước ta hiện nay
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu
và giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường Đại học và Cao ñẳng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở ñầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn bao gồm 2 chương 4 tiết
Trang 1313
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
HỘI CỦA VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
1.1.1 Bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX ñầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về vai trò của quần chúng nhân dân nói riêng là sự kết tinh tinh hoa văn hóa nhân loại và thực tiễn thời ñại Người ñã sống Đây là thời kỳ thế giới xảy ra nhiều biến ñộng to lớn trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, v.v
Từ những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ñã phát triển mạnh mẽ và trở thành thống trị ở các nước Anh, Pháp và một số nước khác của châu Âu Đến những năm cuối thế kỷ XIX, ñầu thế kỷ
XX chủ nghĩa tư bản phương Tây bước sang một giai ñoạn mới, chuyển từ giai ñoạn tự do cạnh tranh sang giai ñoạn ñộc quyền và chủ nghĩa ñế quốc Chủ nghĩa ñế quốc là một hiện tượng quốc tế, một hệ thống thế giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc ñịa, vừa vào hùa với nhau ñể nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng kìm kẹp thuộc ñịa của chúng
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa ñã làm biến ñổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất với quy mô ngày càng lớn Vì vậy, nó ñã ñặt ra những yêu cầu bức xúc về nguồn nguyên liệu, nhân
Trang 1414
công và thị trường tiêu thụ hàng hóa Để giải quyết những vấn ñề này, các nước tư bản ñế quốc, trong nước thì tăng cường bóc lột nhân dân lao ñộng, bên ngoài thì ñẩy mạnh quá trình xâm lược và áp bức nhân dân các nước thuộc ñịa, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, nơi cung
cấp nguyên vật liệu, khai thác sức lao ñộng và xuất khẩu tư bản
Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa ñế quốc làm cho ñời sống nhân dân lao ñộng ở các nước thuộc ñịa trở nên cùng cực Nhân dân các nước thuộc ñịa
bị tước hết mọi giá trị văn hoá tinh thần, quyền lợi kinh tế và ñịa vị xã hội Đối với bọn thực dân, “tính mạng của người thuộc ñịa, da vàng hay da ñen cũng không ñáng một xu”[80, tr.30] Cùng với mâu thuẫn trong xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản), chủ nghĩa ñế quốc làm phát sinh thêm một
mâu thuẫn mới – mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc ñịa với chủ nghĩa ñế quốc
thực dân Vì vậy, cuộc ñấu tranh giải phóng dân tộc sang thế kỷ XX không
còn là hành ñộng riêng rẽ của nước này chống lại sự xâm lược và thống trị của nước khác như trước kia, mà ñã trở thành cuộc ñấu tranh chung của các dân tộc thuộc ñịa chống chủ nghĩa ñế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc ñấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế Yêu cầu giải phóng các dân tộc thuộc ñịa không chỉ là yêu cầu riêng của các dân tộc thuộc ñịa mà còn là yêu cầu chung của các dân tộc trên thế giới
Những mâu thuẫn của chủ nghĩa ñế quốc ñã dẫn tới chiến tranh thế giới lần thứ nhất và nó là một trong những nguyên nhân bùng nổ cuộc cách mạng Tháng Mười Nga
Do sự phát triển không ñều của chủ nghĩa tư bản, một số nước tư bản
hiếu chiến muốn chia lại thuộc ñịa ñã gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần
thứ nhất (1914 - 1918) Đây thực chất là cuộc chiến tranh giành giật thuộc
ñịa và phân chia lại thị trường thế giới giữa các nước ñế quốc, một cuộc chiến tranh phi nghĩa, phản ñộng Cuộc chiến tranh này là sự kế tục chính sách cướp
Trang 1515
bóc, nô dịch bằng thủ ñoạn bạo lực ñối với nhân dân các nước khác Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc dù thắng lợi có thuộc về phe nào ñi nữa thì bản chất của chủ nghĩa ñế quốc vẫn không thay ñổi; cuộc chiến tranh hao người, tốn của ấy ñã khơi sâu, làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư
bản chủ nghĩa – mâu thuẫn giữa tư bản và tư bản, làm cho chủ nghĩa tư bản
thế giới suy yếu, tạo ñiều kiện cho cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga giành ñược thắng lợi
Dưới sự lãnh ñạo của ñảng Bônsêvích do Lênin ñứng ñầu, cuộc cách
mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và giành ñược thắng lợi (7-11-1917) Nhà
nước Xô Viết dựa trên nền tảng liên minh công nông ra ñời Cách mạng Tháng Mười Nga thành công ñã phá vỡ một khâu quan trọng của hệ thống tư bản chủ nghĩa, thành lập Nhà nước ñầu tiên thật sự thuộc về nhân dân lao ñộng, qua ñó ñã ñánh thức và cổ vũ những người bị áp bức, bị bóc lột trên thế giới, khơi dậy tinh thần ñấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi sự áp bức bóc lột, bất công Cách mạng Tháng Mười Nga thành công ñã luận chứng cho khả năng thắng lợi của phong trào cách mạng thế giới những năm cuối thế kỷ XIX ñầu thế kỷ XX là chỉ có phong trào cách mạng nào giải quyết ñược những mâu thuẫn lớn của thời ñại ở nước mình thì phong trào ñó mới ñi ñến thắng lợi
Trong cuốn Đường cách mệnh Hồ Chí Minh ñã phân tích sâu sắc về
lịch sử cách mệnh Nga năm 1917 và khẳng ñịnh “Trong thế giới bây giờ chỉ
có Cách mệnh Nga là ñã thành công, và thành công ñến nơi, nghĩa là dân chúng ñược hưởng cái hạnh phúc tự do, bình ñẳng thật, không phải tự do và bình ñẳng giả dối như ñế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam Cách mệnh Nga ñã ñuổi ñược vua, tư bản, ñịa chủ rồi, lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc ñịa làm cách mệnh ñể ñập ñổ tất cả
ñế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”[20, tr.39] Cách mạng Tháng
Trang 1616
Mười ñã mở ñầu thời ñại giải phóng các dân tộc phương Đông “Cách mạng Tháng Mười ñã chặt ñứt xiềng xích của chủ nghĩa ñế quốc, phá tan cơ sở của
nó và giáng cho nó một ñòn chí mạng Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét
ñã ñánh thức nhân dân Châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay Cách mạng Tháng Mười ñã mở ra trước mắt họ thời ñại cách mạng chống ñế quốc, thời ñại giải phóng dân tộc”[60, tr.562]
Trong cuốn sách Góp phần nhỏ bé về lịch sử cách mạng cận ñại Việt
Nam, khi ñề cập ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười Nga ñối với Việt
Nam, tác giả viết: “Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi như một quả trái phá kinh thiên ñộng ñịa phá tan màu ñen tối bao phủ khắp bầu trời của thế giới tư bản chủ nghĩa, ánh sáng bình minh của sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin ñã từ Liên Xô - xứ sở của Cách mạng Tháng Mười - tỏa tới các dân tộc trên thế giới, rọi sáng cho nhân dân và giai cấp công nhân các nước thấy
rõ con ñường chân chính ñi tới tự giải phóng mình…
… Từ khi biết tới cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, Nhà nước Xô Viết của giai cấp vô sản và nhân dân lao ñộng Nga thành lập, thì các nhà chí
sĩ ñến toàn thể nhân dân Việt Nam mới tỉnh ngộ và hướng về nước Nga, bắt ñầu dần dần có sự chuyển biến về tư tưởng, về ñường lối và phương pháp ñấu tranh cách mạng Nhất là giai cấp công nhân và nhân dân lao ñộng vô cùng phấn khởi và tin tưởng ở lực lượng của mình hơn bao giờ hết khi thấy lần ñầu tiên những người bị áp bức bóc lột lật ñổ bọn thống trị áp bức, xây dựng lên chính quyền nhà nước chân chính của mình và mưu quyền lợi thực sự cho mình” [83, tr.87-88]
Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi mở ra thời ñại mới - thời ñại quá
ñộ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới Đồng thời nhà nước Xô viết ra ñời ñã làm nảy sinh thêm một mâu thuẫn cơ bản mang
tính thời ñại: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản Cách
Trang 1717
mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (3 – 1919) đã tạo tiền đề, điều kiện cơ bản thúc đẩy phong trào giải phĩng dân tộc ở các nước thuộc địa phát triển mạnh mẽ từng bước giành được thắng lợi
Trước sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là tác động của cuộc cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của Nhà nước Xơ viết, vào những năm 20, phong trào cộng sản và cơng nhân quốc tế bị phân hố sâu
sắc về đường lối cách mạng, Quốc tế II bị phân liệt và Quốc tế III - Quốc tế
Cộng sản được thành lập (3-1919)
Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đánh dấu một giai đoạn mới của phong trào cộng sản và cơng nhân quốc tế “Lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc tế Cộng sản đã chỉ rõ sự đồn kết tất yếu, liên minh chiến đấu giữa giai cấp vơ sản và các dân tộc thuộc địa đang rên xiết dưới ách thống trị thực dân” [33, tr.49)Quốc tế Cộng sản ra đời là sự kiện cĩ ý nghĩa rất quan trọng đối với phong trào cách mạng thế giới Hồ Chí Minh đã đánh giá cao về sự ra đời của Quốc tế III và nhấn mạnh vai trị của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam: “Xem trong cách tổ chức Đệ tam quốc tế, cĩ đặt ra một bộ riêng, chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mệnh bên Á – Đơng
Xem khẩu hiệu Đệ tam quốc tế, chẳng những rằng “vơ sản giai cấp” mà lại thêm câu “…và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại”
Xem quy tắc Đệ tam quốc tế trong 21 điều, điều thứ 8 nĩi rằng: “Các đảng cộng sản, nhất là Đảng cộng sản Pháp… phải hết sức giúp dân thuộc địa làm cách mệnh”…
Xem cách mệnh Nga giúp cho cách mệnh Tàu, Thổ Nhĩ Kỳ, Pécsia, Mơng Cổ
Lại xem kế hoạch về vấn đề thuộc địa là tự tay ơng Lênin làm ra
Trang 18vô sản, phong trào công nhân quốc tế và phong trào ñấu tranh của các dân tộc thuộc ñịa theo khuynh hướng cách mạng vô sản ñã có bộ tham mưu chiến ñấu của mình ñể thống nhất hành ñộng chống chủ nghĩa ñế quốc, thực dân
Trong khi các nước phương Tây có sự phát triển mạnh mẽ, một số nước trở thành ñế quốc thì hầu hết các nước phương Đông vẫn còn là những quốc gia phong kiến bảo thủ, trì trệ, lạc hậu Do vậy, khi bị chủ nghĩa ñế quốc xâm lược thì phần lớn chính quyền phong kiến ở các quốc gia này ñều bất lực trong vấn ñề bảo vệ ñộc lập dân tộc và trở thành thuộc ñịa của các nước ñế quốc
Cuối thế kỷ XIX, tình hình kinh tế - chính trị Trung Quốc lâm vào suy thoái Triều ñình Mãn Thanh bảo thủ không còn ñảm ñương ñược vai trò lịch
sử của mình nên ñã liên tiếp thất bại trước những cuộc chiến tranh của các nước ñế quốc và dần dần rơi vào cảnh bị các nước thực dân ñế quốc xâu xé Đầu thế kỷ XX, lịch sử Trung Quốc có sự chuyến biến quan trọng ñó là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, do Tôn Trung Sơn lãnh ñạo, lật ñổ nền quân chủ chuyên chế Mãn Thanh và sau ñó thành lập nền cộng hòa của Trung Hoa dân quốc, thực hiện cương lĩnh chính trị theo học thuyết Tam dân: Dân tộc ñộc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc
Cùng với Cách mạng Tân Hợi 1911 của Tôn Trung Sơn, phong trào Duy Tân của hai nhà tư tưởng tiến bộ Trung Quốc lúc bấy giờ là Khang Hữu
Vi và Lương Khải Siêu cũng ảnh hưởng sâu sắc ñến các nhà nho tiến bộ của
Trang 1919
Việt Nam Từ đĩ thúc đẩy phong trào cách mạng theo khuynh dân chủ tư sản
ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Nhật Bản là một trong số những nước hiếm hoi ở châu Á khơng bị các nước đế quốc xâm lược và trở thành thuộc địa, thậm chí nước Nhật sau này đã phát triển và trở thành một đế quốc hùng mạnh đi xâm lược, áp bức các dân tộc khác Đĩ là vì năm 1868 khi Thiên hồng Minh trị lên ngơi, đã nhanh chĩng thi hành chính sách mở cửa, canh tân đất nước, đồng thời cử phái đồn tham quan, học hỏi, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, thể chế chính trị, hiến pháp của các nước châu Âu và châu Mỹ để áp dụng vào quá trình phát triển đất nước Từ đĩ đã tạo ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, đưa Nhật Bản từ một nước phong kiến trở thành nước tư bản chủ nghĩa đầu tiên ở phương Đơng Sau đĩ Nhật Bản đã thi hành chính sách thực dân đế quốc, bành trướng xâm lược các nước khác Từ năm 1879 đến 1894, Nhật Bản liên tiếp gây chiến tranh với các nước Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan Đặc biệt trong cuộc chiến tranh với nước Nga 1904 – 1905, Nhật Bản đã giành thắng lợi Chiến thắng đĩ đã gây tiếng vang và tác động lớn đến phong trào giải phĩng dân tộc ở các nước châu Á Từ đĩ cĩ rất nhiều nhân sĩ, chính khách châu Á đến Nhật Bản để mong học hỏi kinh nghiệm và nhờ Nhật giúp
đỡ phong trào giải phĩng dân tộc ở nước mình
Ở Đơng Nam Á, ngay từ đầu thế kỷ XV các nước đế quốc đã bắt đầu xâm lược các nước ở khu vực này Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thì hầu hết các nước Đơng Nam Á đã trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc và bị bĩc lột hết sức nặng nề Đồng thời, đã xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh chống xâm lược, giải phĩng đất nước ở các quốc gia này, nhưng hầu hết khơng cĩ một thắng lợi đáng kể nào Duy chỉ cĩ nước Xiêm (Thái Lan) đã nhận thức được cục diện chính trị thế giới và đã xây dựng được chương trình hành động
để bảo vệ được chủ quyền, tuy vậy cũng khơng thốt khỏi sự lệ thuộc và bị
Trang 2020
khống chế bởi sức mạnh kinh tế - chính trị của các nước ñế quốc
Đầu thế kỷ thứ XX, do ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng mới, phong trào ñấu tranh ở các nước Đông Nam Á chuyển sang khuynh hướng dân chủ
tư sản
Tóm lại, tình hình thế giới và ñặc ñiểm thời ñại trên ñây ñã tác ñộng mạnh và có ảnh hưởng rất quan trọng ñến cách mạng Việt Nam và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX ñầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân
Đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây, nhất là ñế quốc Pháp ñã nhòm ngó hòng xâm lược nước ta, mở ñầu bằng việc khai thông buôn bán và truyền giáo Năm 1858, thực dân Pháp dùng vũ lực xâm chiếm nước ta, ñúng vào lúc chế ñộ phong kiến Việt Nam ñã suy ñồi Ngay sau khi ñã cơ bản kết thúc giai ñoạn vũ trang xâm lược, thực dân Pháp thi hành chính sách khai thác thuộc ñịa, ñộc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, biến Việt Nam vốn
là nước phong kiến thành nước thuộc ñịa nửa phong kiến, dẫn ñến những biến ñổi to lớn trong ñời sống kinh tế - xã hội
Về chính trị, “thực dân Pháp ñã tước bỏ quyền lực ñối nội và ñối ngoại
của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; lợi dụng triệt ñể bộ máy cai trị cũ của chế ñộ phong kiến phục vụ cho việc áp bức nhân dân Việt Nam”[70, tr.103-104] Thực dân Pháp chia Việt Nam ra thành 3 xứ: Nam kỳ, Trung kỳ
và Bắc kỳ Đứng ñầu Nam kỳ là Thống ñốc, Trung kỳ là Khâm sứ, Bắc kỳ là Thống sứ Đối với chính quyền cấp tỉnh thì ñứng ñầu các tỉnh ở Nam kỳ là chủ tỉnh, ñứng ñầu các tỉnh ở Bắc kỳ và Trung kỳ là Công sứ Về mặt hình
Trang 2121
thức, triều đình nhà Nguyễn trị vì ở Trung kỳ, nhưng thực chất quyền hành lại nằm trong tay khâm sứ người Pháp
Trên thực tế, từ việc phân chia Việt Nam ra làm ba kỳ, thực hiện ở mỗi
kỳ một chế độ cai trị riêng, đến việc thi hành những thủ đoạn nhằm chia rẽ dân tộc và tơn giáo…, thực dân Pháp đã thực hiện triệt để chính sách “chia để trị” nhằm phá hoại khối đồn kết của dân tộc Việt Nam Kết hợp với chính sách nham hiểm này, người Pháp chủ trương duy trì và tăng cường hợp tác với giai cấp địa chủ phong kiến, biến giai cấp này thành tay sai đắc lực trong việc vơ vét, bĩc lột về kinh tế, áp bức về chính trị đối với nhân dân Việt Nam phục vụ cho bộ máy thực dân Việt Nam từ một xã hội phong kiến độc lập trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến
Về kinh tế, đặc trưng của chính sách khai thác thuộc địa mà người Pháp
thực hiện trên lĩnh vực kinh tế là duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với việc du nhập hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền và bĩc lột địa tơ; đầu
tư vốn khai thác tài nguyên ở Hịn Gai, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng…; xây dựng một số cơ sở cơng nghiệp (điện, nước); xây dựng hệ thống đường bộ, đường thuỷ, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa, thu lợi nhuận cho chính quốc Độc chiếm nguồn thuế, độc quyền sản xuất và độc quyền ngoại thương Tình cảnh của người dân Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp được Nguyễn Ái Quốc phản ánh như sau: “Một bên là những người bản xứ bị dìm trong cảnh dốt nát và suy yếu bởi một hệ thống tinh khơn nhằm nhồi sọ, đần độn hố, khơng lấp liếm hết được dưới một dạng giáo dục bịp bợm: họ phải đổ mồ hơi sơi nước mắt trong những lao tác nặng nhọc nhất và bạc bẽo nhất để kiếm sống một cách chật vật… một bên là những người Pháp và người nước ngồi: họ đều đi lại tự do, tự dành cho mình tất cả các tài nguyên của đất nước, chiếm đoạt tồn bộ xuất nhập khẩu và tất
Trang 2222
cả các ngành nghề béo bở nhất, bóc lột trâng tráo trong cảnh dốt nát và nghèo
khốn của nhân dân”[53, tr.8] Chính sách khai thác thuộc ñịa của thực dân
Pháp dẫn ñến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị què quặt, lạc hậu và lệ thuộc vào tư bản Pháp
Về văn hoá – giáo dục, người Pháp thực hiện chính sách văn hoá giáo
dục mang tính thực dân, dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu và ñầu ñộc nhân dân ta bằng thuốc phiện, rượu cồn, tuyên truyền tâm lý tự ti, vong bản…, huỷ hoại các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc ñã phản ánh thực tế trên như sau: “Về tâm lý, ở phía kia là thái ñộ hiềm nghi và khinh miệt; còn ở phía này lại là tâm trạng bực dọc và thất vọng Các ấn phẩm sách báo thực dân ñều ñầy rẫy những ñòn ñả kích hung bạo ñánh vào nhân dân bị chinh phục,… Người ta ñọc thấy trong loại ấn phẩm vừa nêu những phán quyết như thế này chẳng hạn: Đối với cái giống nòi annamít ấy chỉ có một cách tốt ñể cai trị nó – ñó là ách thống trị bằng sức mạnh…”[53, tr.7] Rõ ràng, mưu ñồ “ngu dân dễ trị” và ñầu ñộc văn hoá là một biện pháp, một thủ ñoạn cai trị hiệu quả của chủ nghĩa thực dân Mục ñích của chủ nghĩa thực dân là duy trì vĩnh viễn sự thống trị của ñế quốc lên các dân tộc thuộc ñịa Chính vì vậy, ở nước ta ngoài sự chuyển biến ñôi chút về văn hoá ở thành thị thì hầu như ở nông thôn, văn hoá làng xã vẫn tồn tại dưới những chính sách bần cùng hoá và ngu dân hoá
Dưới tác ñộng của chính sách cai trị về chính trị, kinh tế, văn hoá và giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hoá xã hội giai cấp sâu sắc Bên cạnh các giai cấp cũ (ñịa chủ và nông dân), ñã ra ñời những giai cấp và tầng lớp xã hội mới (giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tiểu tư sản)
Giai cấp ñịa chủ Việt Nam, từ khi thực dân pháp xâm lược Việt Nam,
giai cấp ñịa chủ trở thành cơ sở xã hội cho chế ñộ thuộc ñịa Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, với chính sách khai thác thuộc ñịa lần thứ hai của thực dân
Trang 2323
Pháp, các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam có những bước phát triển mới Trong ñó, trên lĩnh vực nông nghiệp, sự tập trung ruộng ñất vào tay giai cấp ñịa chủ nhiều hơn trước chiến tranh Nói chung, lực lượng ñịa chủ chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn nhưng ñã nắm trong tay 50% diện tích ñất canh tác Mặt khác, trong cơ cấu chính quyền các hương thôn, giai cấp ñịa chủ chiếm ña số Sự cấu kết giữa giai cấp ñịa chủ phong kiến với thực dân Pháp gia tăng trong quá trình tổ chức cai trị của người Pháp ñối với nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, xét về mặt tư tưởng và tinh thần yêu nước có thể chia giai cấp này thành hai hạng: Hạng thứ nhất có quyền lợi và ñịa vị do phục vụ ñắc lực cho thực dân Pháp mà ngày càng ñược củng cố Vì thế lực lượng này rất trung thành và cam chịu làm tay sai cho thực dân Pháp, áp bức bóc lột nhân dân, phản bội lại quyền lợi của dân tộc; hạng thứ hai, tuy cũng là ñịa chủ phong kiến nhưng bị thực dân Pháp chèn ép về kinh tế, hơn nữa, họ sinh ra trong một dân tộc có truyền thống yêu nước, không cam chịu nỗi nhục mất nước, ñã ñứng về phía quyền lợi của dân tộc, tham gia chống chủ nghĩa thực dân và bọn tay sai phản ñộng
Giai cấp nông dân, ñây là giai cấp ñông ñảo nhất trong xã hội Việt
Nam, (chiếm khoảng 90% dân số) phải chịu hai tầng áp bức bóc lột của thực dân và phong kiến Họ bị bần cùng hoá, bị tước ñoạt ruộng ñất, bị mất nhà cửa, lâm vào cảnh ñói rét, buộc phải tha phương cầu thực, ñi làm phu mỏ, phu ñồn ñiền Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai cấp nông dân bị phân hoá thành 3 tầng lớp là trung nông, bần nông và cố nông Đời sống cực khổ của người nông dân Việt Nam trong trại tập trung thời thuộc Pháp ñược tác
giả Ăngñơrê Viôlít mô tả trong cuốn IndoChine SOS (Đông dương cấp cứu)
như sau: “Trong một miếng ñất rộng, rào kín bốn bề, có 3000, 4000 người mặc vải nâu rách rưới, họ chen chúc chật ních ñến nỗi nhìn chung thì thấy như là một ñống gì rung rinh, có những cánh tay giơ lên gầy như que sậy,
Trang 2424
khúc khuỷu khơ queo Trong mỗi người, bệnh gì cũng cĩ: mặt phù ra hay là khơng cịn chút thịt, răng rụng, mắt mờ hay lem nhem, đầy ghẻ chốc Đàn ơng chăng? Đàn bà chăng? Hai mươi tuổi hay sáu mươi tuổi? Khơng phân biệt được trai gái già trẻ nữa, chỉ thấy một cái tình cảnh khốn khổ tột bậc…”[88, tr 67-68]
Tình cảnh khốn khổ bần cùng của giai cấp nơng dân Việt Nam đã làm tăng thêm lịng căm thù đế quốc Pháp và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, giành lại ruộng đất và quyền sống tự do, hạnh phúc của người dân Vì vậy, nếu được lơi kéo vào phong trào cách mạng và được tổ chức tốt họ sẽ phát huy được vai trị quan trọng của mình trong cơng cuộc đấu tranh giải phĩng dân tộc, giải phĩng giai cấp
Giai cấp cơng nhân Việt Nam, ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần
thứ nhất của thực dân Pháp trước chiến tranh thế giới thứ nhất Nguồn gốc của giai cấp cơng nhân Việt Nam, đa số trực tiếp xuất thân từ giai cấp nơng dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam Ngồi ra, cịn cĩ một bộ phận thợ thủ cơng, một số thợ chuyên mơn ở các trường kỹ nghệ thực hành… Với nguốn gốc như vậy, giai cấp cơng nhân Việt Nam cĩ quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nơng dân Đặc điểm này làm cho cơng nhân Việt Nam cĩ những điều kiện thuận lợi để hình thành khối liên minh tự nhiên với nơng dân trong cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến Mặc dù mới ra đời và với số lượng ít, nhưng cơng nhân Việt Nam đã sớm sống tập trung ở các thành thị và trong các khu cơng nghiệp, vì vậy thuận lợi cho sự đồn kết thống nhất trong đấu tranh cách mạng Nhận định về giai cấp cơng nhân Việt Nam ở thời kỳ này, đồng chí Lê Duẩn viết:
“Giai cấp vơ sản Việt Nam tuy non trẻ và nhỏ bé, song là một giai cấp rất kiên quyết cách mạng Nĩ ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam, và vừa
Trang 2525
lớn lên nó ñã sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp bắc trung nam Nó lại vừa mới xuất thân từ trong nông dân lao ñộng bị bần cùng hoá, cho nên những mối quan hệ khăng khít của nó với nông dân ñã tạo ñiều kiện thuận lợi ñể thiết lập khối liên minh công nông vững chắc Hơn nữa, giai cấp vô sản Việt Nam bước lên vũ ñài chính trị sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ ñại ñã giành ñược thắng lợi vang dội khắp năm châu, và giữa lúc
ở Trung Quốc láng giềng, sau sự phản bội của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản Trung Quốc ñã tiến lên nắm lấy ngọn cờ dân tộc và dân chủ Bối cảnh lịch sử
ñó càng nâng cao uy thế chính trị của giai cấp vô sản Việt Nam Những ñặc ñiểm nói trên ñã làm cho giai cấp vô sản Việt Nam có một sức mạnh và một
uy thế tinh thần rất to lớn giúp cho nó giành ñược ñịa vị ưu thắng và quyền lãnh ñạo cách mạng Việt Nam từ sau thất bại của cuộc bạo ñộng Yên Bái”[12, tr.21-22]
Giai cấp tư sản Việt Nam, là giai cấp mới, ra ñời trong quá trình thực
dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc ñịa Nguồn gốc giai cấp tư sản Việt Nam chủ yếu là các nhà buôn và một phần từ các ñịa chủ chuyên làm thầu khoán hoặc ñại lý cho Pháp, chỉ có một số rất ít xuất thân từ lớp người tiểu chủ ñi lên Ngay từ khi ra ñời, giai cấp tư sản Việt Nam ñã bị tư sản Pháp và
tư sản người Hoa cạnh tranh, chèn ép, do ñó thế lực kinh tế và ñịa vị chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé và yếu ớt Mặt khác, giai cấp tư sản Việt Nam ra ñời vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản thế giới ñã trở thành chủ nghĩa ñế quốc Bối cảnh lịch sử ñó làm cho giai cấp tư sản Việt Nam vốn ñã nhỏ bé và yếu ớt càng thêm nhiều hạn chế
Trong quá trình phát triển có thể chia giai cấp tư sản Việt Nam thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản là những nhà tư sản lớn, họ làm trung gian giữa tư bản nước ngoài và thị trường trong nước,
Trang 2626
gắn chặt lợi ích của mình với lợi ích của thực dân Pháp, thực chất là làm tay sai cho các thế lực ñế quốc bóc lột nhân dân Việt Nam Tư sản mại bản vừa cấu kết chặt chẽ với tư bản nước ngoài vừa cấu kết chặt chẽ với giai cấp ñịa chủ phong kiến phản ñộng trong nước ñể bóc lột nhân dân lao ñộng, duy trì ñịa vị và lợi ích của mình Vì vậy, tư sản mại bản cũng là ñối tượng của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Tư sản dân tộc là một bộ phận ñông ñảo trong giai cấp tư sản, gồm những tư sản vừa và nhỏ, hoạt ñộng trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Do chính sách ñộc quyền của thực dân Pháp, họ cũng bị chèn ép và không ñủ sức ñương ñầu với
sự cạnh tranh của ñế quốc Trong mối quan hệ với ñế quốc Pháp, tư sản dân tộc cũng là những người mất nước, có mâu thuẫn về quyền lợi với thực dân phong kiến, nên họ cũng có tinh thần chống thực dân, phong kiến
Tầng lớp tiểu tư sản ở Việt Nam lúc này bao gồm học sinh, trí thức,
những người tiểu thương, thợ thủ công, viên chức và những người làm nghề
tự do… Trong ñó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng của ñội ngũ tiểu tư sản Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh và thường xuyên bị thất nghiệp bởi sự áp bức, bóc lột của ñế quốc và dễ bị phá sản trở thành những người vô sản Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù ñế quốc, thực dân, lại chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào, vì vậy, ñây là lực lượng có tinh thần cách mạng dân tộc, dân chủ
Tóm lại, xâm lược Việt Nam thực dân Pháp ñã chà ñạp thô bạo nền ñộc lập dân tộc, tước ñoạt quyền lợi sống còn của ñại bộ phận nhân dân Các giai cấp, tầng lớp (cũ và mới) trong xã hội ñều mang thân phận người dân mất nước, và ở những mức ñộ khác nhau, ñều bị phụ thuộc, bị chèn ép, bị áp bức bóc lột bởi thực dân Pháp Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản ñã có trước ñó là mâu thuẫn giữa nhân dân mà chủ yếu là nông dân với
ñịa chủ, phong kiến, ñã nảy sinh mâu thuẫn cơ bản mới, ñó là mâu thuẫn giữa
Trang 2727
một bên là toàn thể dân tộc Việt Nam và bên kia là thực dân Pháp xâm lược cùng bè lũ tay sai bán nước Giải quyết những mâu thuẫn cơ bản trên là yêu
cầu cấp bách và là nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Trong bối cảnh trên, phát huy truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc, quần chúng nhân dân cùng với các sỹ phu yêu nước ñã ñứng lên ñấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, ñúng như Hồ Chí Minh ñã nhận ñịnh “… ñại bác của bọn ñế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam Trong gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau ñứng dậy”[61, tr.314] Các cuộc nổi dậy chống Pháp thu hút ñông ñảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sỹ phu khắp ba miền ñất nước, kể cả một số vua quan trong triều ñình phong kiến ñã liên tiếp
nổ ra Các phong trào Cần vương, nghĩa quân Yên Thế chưa dứt thì ñã nối tiếp bằng các phong trào cải cách, Duy Tân, Đông Du, Việt Nam quốc dân Đảng và bao nhiêu cuộc ñấu tranh khác nữa Nhưng tất cả ñều bị thực dân Pháp thẳng tay ñàn áp và cuối cùng ñã thất bại
Phong trào Cần Vương (1885 – 1896) là phong trào ñấu tranh vũ trang
do Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi khởi xướng, ñã tổ chức tiến công vào ñồn Mang Cá, toà Khâm sứ Trung kỳ nhưng bị thất bại Tôn Thất Thuyết ñưa vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị Ngọn cờ Cần Vương ñã bước ñầu tập hợp ñược sức mạnh của quần chúng nhân dân, ñã ñốt lên ngọn lửa của lòng căm thù, ý chí quật cường của cả dân tộc ñang sục sôi chống Pháp kéo dài cho ñến thế kỷ XX…bằng hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn mạnh làm cho kẻ thù phải khiếp sợ Tất cả các cuộc khởi nghĩa ñều vận dụng kinh nghiệm lý luận của chủ nghĩa yêu nước truyền thống, nhưng cuối cùng vì sức yếu thế cô phong trào ñi vào chỗ hoà hoãn rồi thất bại Như vậy, con ñường Cần Vương, con ñường ñánh Pháp ñể khôi phục chế ñộ phong kiến ñã tỏ ra quá lỗi thời,
Trang 28Trong những năm diễn ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các phong trào ñấu tranh vũ trang chống Pháp ở Việt Nam tiếp tục diễn ra như: cuộc khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân ở miền trung năm 1916; cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên năm 1917; phong trào Hội kín ở Nam kỳ; các cuộc khởi nghĩa của ñồng bào dân tộc thiểu số (người Thái ở Tây bắc năm 1914; ñồng bào Mông ở Lai Châu năm 1918; người Hán, Nùng, Giao ở Tây Bắc năm 1918…)
Thất bại của các cuộc khởi nghĩa nêu trên chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và phong trào nông dân trong việc giải quyết nhiệm vụ dân tộc, dân chủ ở Việt Nam lúc này “Rõ ràng là ñối với kẻ thù mới tư bản chủ nghĩa phương Tây, không thể dùng vũ khí cũ ñã ñược ông cha dùng một cách ñắc lực ñể ñối ñầu với kẻ thù phong kiến xưa kia nữa”[24, tr.371-372] Bởi vì khác với kẻ thù xâm lược truyền thống từ phương Bắc với âm mưu chiếm ñất
ñể mở rộng biên cương, còn thực dân Pháp từ trời Tây ñến Việt Nam, ngoài mưu ñồ thôn chiếm ñất ñai, chúng còn có dã tâm khai thác nguồn lợi thuộc ñịa theo phương thức tư bản chủ nghĩa Trước ñây, các cuộc xâm lược và chống xâm lược cùng một loại hình văn hoá; nhưng ñến giai ñoạn lịch sử này, cuộc ñấu tranh diễn ra giữa hai nền văn hoá khác nhau không chỉ về sắc thái dân tộc mà còn khác nhau về cả trình ñộ thời ñại Đó là cuộc ñối ñầu giữa văn hoá của thời ñại phong kiến phương Đông với nền kinh tế lạc hậu với văn hoá của chủ nghĩa tư bản phương Tây với một nền kinh tế ñại công nghiệp – hình
Trang 2929
thức của nĩ là thực dân và chiến tranh thuộc địa Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự thất bại của các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Đầu thế kỷ XX, cùng với những biến chuyển của tình hình trong nước
và thế giới, đặc biệt là thành tựu của Nhật Bản trong cuộc duy tân đất nước, chủ trương canh tân Trung Quốc của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu như một làn giĩ mới thổi vào Việt Nam Các tầng lớp yêu nước Việt Nam, bộ phận ưu tú của quần chúng nhân dân, đã thay đổi khẩu hiệu khơi phục ngơi vua bằng khẩu hiệu cứu nước giải phĩng dân tộc, cách tân đời sống xã hội theo hướng dân chủ Phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX khơng những hướng đến mục tiêu trực tiếp là giải phĩng dân tộc, mà cịn đặt ra vấn
đề cải tạo thể chế chính trị Phong trào yêu nước của quần chúng nhân dân bùng lên sơi nổi và cĩ chiều hướng mới Các sĩ phu yêu nước đã bộc lộ nhiều khuynh hướng, chính kiến, phương pháp cách mạng khác nhau, nhưng tất cả đều tập trung vào một mục tiêu thống nhất và lâu dài là chống Pháp giành độc lập cho dân tộc Điển hình nhất là các phong trào đấu tranh do Phan Bội Châu
và Phan Chu Trinh khởi xướng
Phan Bội Châu đặt vấn đề đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, khơi phục chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để xây dựng, phát triển đất nước Biện pháp là đấu tranh bằng vũ lực - bạo động Phan Bội Châu cũng đã nêu lên một tư tưởng đặc sắc, rằng “Vận mệnh nước ta, do dân ta nắm giữ”… Bao nhiêu “việc chính trị đều do cơng chúng quyết định” [7, tr.264] Như thế là Phan Bội Châu đã nhận thấy vai trị của quần chúng nhân dân trong lịch sử, chỉ rõ mọi người thấy được sức mạnh của chính mình và sức mạnh của khối đồn kết, nhất trí trong sự nghiệp cứu nước đầy khĩ khăn, thử thách Phan Bội Châu viết: “Thời trời khơng bằng lợi đất, lợi đất khơng bằng sự hịa hợp của mọi người Nước ta ngày nay chỉ cĩ thể trơng cậy vào sự
Trang 30- nơng là gốc cách mạng; tổ chức đảng của ơng chưa cĩ chỗ đứng vững chắc trong một giai cấp nhất định; tuy ơng luơn đề cao lợi ích của dân tộc nhưng lúc bấy giờ trong điều kiện ở nước ta cĩ hơn 90% dân số là nơng dân thì điều cốt tử phải thực hiện khẩu hiệu “người cày cĩ ruộng”, nhưng ơng lại chưa thấy được vấn đề ruộng đất với vấn đề nơng dân Hạn chế trên là những nguyên nhân khiến cho cương lĩnh của Việt Nam Quang phục hội khơng thể
đi đến thắng lợi Về cuối đời, Phan Bội Châu đã kịp nhận ra sức mạnh của cơng - nơng, nhưng ơng đã ở vào thế sức tàn lực kiệt Lúc ấy trách nhiệm lịch
sử giương cao ngọn cờ cứu nước đã chuyển sang những chiến sĩ theo lập trường cách mạng vơ sản mà Hồ Chí Minh đã đào tạo, bồi dưỡng
Như vậy, con đường cứu nước của Phan Bội Châu đã khơng thành cơng Mặc dù cụ đã nhìn thấy “muốn cứu nước phải cĩ lực lượng, phải xây dựng sự đồng tâm hiệp lực của đồng bào cả nước Cụ ra sức thức tỉnh mọi người để xây dựng khối đồn kết dân tộc và cũng thấy rõ năm, mười nghìn tên thực dân khơng thể nào đương đầu lâu dài với cả một dân tộc đồng tâm nhất trí Nhưng cụ khơng thể nào xốc cả một dân tộc đứng dậy được… Phan Bội Châu cũng đã thấy được tầm quan trọng của sự viện trợ quốc tế, nhưng
Trang 3131
nếu có thoát khỏi quan niệm ñồng văn ñồng chủng hoặc ñồng bệnh tương liên
thì cụ cũng chưa thể nhìn thấy ñâu là lực lượng có thể tranh thủ ñược Cụ mong lợi dụng sự mâu thuẫn giữa bọn ñế quốc, nhưng chính cụ và tổ chức yêu nước của cụ ñã bị sự cấu kết giữa chúng làm cho khốn quẫn”[91, tr.127-128] Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu trải qua nhiều bước thăng trầm, ñi từ lập trường quân chủ lập hiến của Duy Tân hội ñến con ñường dân chủ tư sản nhưng cuối ñều thất bại và ñi vào bế tắc Với tấm lòng yêu nước sâu sắc, với ý chí quyết tâm ñánh ñuổi giặc Pháp xâm lược khôi phục nền ñộc lập cho dân tộc, Phan Bội Châu ñã trở thành một tấm gương yêu nước trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Phan Chu Trinh - ñại biểu cho xu hướng cải cách - coi duy tân - cải cách là giải pháp ñể tiến tới khôi phục ñộc lập Con ñường cải lương mà Phan
Chu Trinh chủ trương bắt ñầu từ chỗ khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh
mà ông cho rằng ñó là những “hạ cấp chướng ngại”, ñể rồi, “ỷ Pháp cầu tiến
bộ” chỉ hoàn toàn là ảo tưởng Phan Chu Trinh ñã phần nào thấy ñược vai trò
làm nên lịch sử của quần chúng nhân dân Phan Chu Trinh ñã ñưa ra bản “thất ñiều trần” nổi tiếng, gồm bảy ñiều kết tội vua Khải Định, và nêu cao tư tưởng
“trọng dân”, ñề xướng tư tưởng dân chủ, quy kết trách nhiệm ñối với người cầm quyền
Hạn chế cơ bản của Phan Chu Trinh là ở chỗ không nhận rõ mâu thuẫn
cơ bản của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược; trong khi tập trung công kích bọn quan lại sâu mọt hại dân, ông có phần tỏ ra nương nhẹ việc công kích nguyên lý quân chủ và sự hiện hữu của
nó là triều ñình Huế; ông còn tỏ thái ñộ công kích những ai chủ trương dùng phương pháp bạo ñộng cách mạng Vì vậy, ñường lối và phương pháp của Phan Chu Trinh ñã không bắt rễ ñược vào cuộc sống, không ñược nhân dân chấp nhận, mặc dù ông là một chí sĩ yêu nước có uy tín và danh vọng lớn
Trang 3232
Một dân tộc có truyền thống kiên cường, bất khuất như dân tộc Việt Nam sao
có thể cam chịu dựa vào kẻ thù, mong ñợi ở chúng ban bố cho những cải cách? Như vậy, ý thức hệ tư sản cuối mùa ñã không giúp ñược các nhà chí sĩ cách mạng của nước ta khắc phục những hạn chế, sai lầm trong ñường lối và phương pháp cách mạng Do mơ hồ về giai cấp, họ không nhìn rõ kẻ thù chính, mà cũng không nhìn thấy ñược ai là lực lượng nòng cốt và ai là bạn ñồng minh Họ chưa thấy ñược rằng muốn cứu nước trước hết phải dựa vào lực lượng cách mạng ở trong nước, và họ cũng chưa nhìn thấy ñược vai trò và khả năng cách mạng của công nhân và nông dân – hai giai cấp ñông ñảo trong
xã hội, chịu hậu quả nặng nề nhất dưới chế ñộ cai trị tàn bạo của thực dân Pháp Sau thất bại của hai cụ Phan, thể nghiệm cuối cùng của phong trào cách mạng theo ý thức hệ tư sản ở nước ta do Việt Nam Quốc dân Đảng thực hiện cũng nhanh chóng bị thất bại sau khởi nghĩa Yên Bái
Như vậy, trong những năm cuối thế kỷ XIX, ñầu thế kỷ XX, lịch sử dân tộc ñã chứng kiến lòng yêu nước mạnh mẽ của quần chúng nhân dân Việt Nam trong một bối cảnh hết sức khắc nghiệt Ở ñây, vai trò của quần chúng nhân dân là yếu tố quyết ñịnh mọi cuộc chiến ñấu chống kẻ thù xâm lược Nhưng, ñúng như nhận xét của Trần Văn Giàu thì “không có tổ chức yêu nước nào ra sức tổ chức quần chúng nhân dân cả, khi hành ñộng cách mạng thì lẻ loi cô ñộc, thất bại thấy trước Khi thất bại thì không có chỗ lùi, không
có nhân dân làm núi rừng che chở và nuôi dưỡng”[25, tr.206-207] Tuy các cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng tấm gương yêu nước của các tầng lớp nhân dân ñã là nguồn ñộng viên, cổ vũ lớn lao cho các phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản Thế kỷ XX thật sự chứng kiến vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc ñấu tranh giành ñộc lập và xây dựng cuộc sống ngày càng “ñàng hoàng hơn to ñẹp hơn” Vai trò ấy ñược thể hiện ñậm nét, sâu sắc trong tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh
Trang 3333
Hồ Chí Minh khâm phục gương cứu nước nhiệt huyết của các bậc tiền bối, nhưng bằng sự mẫn cảm chính trị ñặc biệt, Người quyết ñịnh không ñi theo cách của họ, mà chọn cho mình một con ñường ñi riêng Một ñịnh hướng ban ñầu ñúng chính là cơ sở cho những bước ñi ñúng trên con ñường mà Người ñã lựa chọn Sinh thời, trong một lần nói chuyện với nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông về việc ñi ra nước ngoài tìm ñường cứu nước, Người bộc bạch:
“Nhân dân Việt Nam trong ñó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ Tôi thấy phải ñi ra nước ngoài xem cho rõ Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp ñồng bào tôi” [29, tr.41] Nhờ tầm trí tuệ mẫn tiệp, khả năng nhìn xa thấy rộng như vậy, Hồ Chí Minh ñã tìm ra con ñường ñúng cho bản thân và cũng là con ñường ñúng cho toàn thể dân tộc Đó là con ñường cách mạng vô sản dựa chủ yếu vào sức mạnh của quần chúng nhân dân Việt Nam, ñồng thời tích cực tranh thủ sự ủng
hộ, giúp ñỡ của bạn bè quốc tế, ñể ñánh ñuổi ngoại xâm, rồi ñi tới xây dựng một xã hội mới mang lại hạnh phúc, ấm no thực sự cho mọi người dân, một
xã hội không còn áp bức, bất công, thực hiện giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, ñộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
1.2.1 Truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam
Việt Nam là dân tộc có nền văn hoá lâu ñời, ñược hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử, có bản sắc riêng, trở thành nguồn nuôi dưỡng tinh thần cho dân tộc, nguồn sống mãnh liệt giúp cho dân tộc chiến thắng âm mưu ñồng hoá của mọi kẻ thù xâm lược Và cũng chính những
Trang 3434
truyền thống ñó ñã hun ñúc nên tâm hồn, trí tuệ và khí phách của Hồ Chí Minh,
là hành trang theo Người trong suốt hành trình tìm ñường cứu dân, cứu nước
Tiêu biểu cho truyền thống ấy là chủ nghĩa yêu nước, là ý chí ñấu tranh kiên cường bất khuất trong dựng nước và giữ nước Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ ñỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam, ñó cũng chính là tài sản có giá trị nhất trong hành trang ra ñi tìm ñường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam gắn liền với cuộc ñấu tranh dựng nước
và giữ nước của nhân dân ta Bởi vậy ở mỗi người dân Việt Nam, gắn mình với vận mệnh của Tổ quốc, của dân tộc thì chủ nghĩa yêu nước ấy lại nhân sức mạnh của bản thân, biến thành một sức mạnh thúc ñẩy mình vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, thử thách, gian nan Nguyễn Ái Quốc ñược hun ñúc bởi chủ nghĩa yêu nước ấy, ñã có thể vượt lên mọi khó khăn, vươn lên hoàn thành
sứ mệnh mà lịch sử ñã giao phó
Chủ nghĩa yêu nước giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của ñạo lý và ñứng ñầu trong bậc thang giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam Chính lòng yêu nước ñã tạo cho nhân dân ta ý chí quật cường, không quản ngại hy sinh gian khổ bảo vệ nền ñộc lập cho nước nhà, tạo nên sức mạnh to lớn ñể chiến thắng mọi kẻ thù hung bạo Đúng như Hồ Chí Minh ñã tổng kết: “Dân
ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa ñến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn Nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[58, tr.171] Chủ nghĩa yêu nước ñã trở thành ñộng lực nội sinh của dân tộc Việt Nam Nhưng bất cứ tiềm năng tinh thần nào dù to lớn bao nhiêu muốn biến thành sức mạnh vật chất ñều cần phải biết thường xuyên khơi dậy, phát huy Hồ Chí Minh ñã nhận thấy ñiều này và Người ñã phát huy tối ưu lòng yêu nước của người dân Việt Nam Với Người, yêu nước gắn liền với thương dân, yêu nước mở rộng
Trang 35no, Tổ quốc ta mới ngày càng giàu mạnh
Dân tộc ta là một dân tộc cĩ truyền thống đồn kết, tinh thần cố kết
cộng đồng, tương thân, tương ái Việt Nam là một nước nơng nghiệp, một nền kinh tế nơng nghiệp lúa nước phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên: nắng, mưa, bão, lũ lụt… Địa hình Việt Nam vốn chằng chịt sơng ngịi, những con sơng vừa bồi đắp phù sa màu mỡ vừa gây ra những trận lũ lụt dữ dội Đã
“lụt thì lút cả làng” và khơng chỉ một làng mà là chuyện của cả miền, cả nước
Do đĩ, để bảo vệ cuộc sống và sản xuất, từ rất sớm người Việt cổ đã tự nguyện liên kết lại với nhau trong cơng cuộc chinh phục thiên nhiên, đắp đê phịng chống lụt Hệ thống đê điều ở đồng bằng Bắc bộ là những cơng trình được hình thành nhờ sức lao động của hàng triệu, hàng triệu nơng dân qua hàng mấy chục thế kỷ Cùng với sự cố kết trong đấu tranh chống ngoại xâm,
sự cố kết trong đấu tranh chống thiên tai, lũ lụt được coi là những yếu tố dẫn đến sự hình thành sớm quốc gia, dân tộc ở Việt Nam Từ trong cuộc đấu tranh trường kỳ đĩ, mọi người Việt Nam đều nặng tình, nặng nghĩa với quê hương,
đã sớm nảy sinh và định hình ý thức cộng đồng, ý thức tập thể và cao hơn là ý thức dân tộc Ý thức này ngấm vào máu thịt của con người Việt Nam và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành truyền thống đồn kết, nhân nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước Yêu nước - đồn kết - nhân nghĩa, với các thế hệ người Việt Nam đã trở thành một tình cảm tự nhiên
“người trong một nước phải thương nhau cùng”; đã trở thành một triết lý về
sự đồn kết trong cuộc sống “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hịn núi cao” và cũng đã trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị “Chở
Trang 3636
thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, làm cho vận mệnh của mỗi cá nhân gắn chặt vào vận mệnh của cộng đồng, dân tộc Đĩ là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống đồn kết của dân tộc
Từ truyền thống nêu trên, cĩ thể khẳng định rằng, nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau cĩ tình, cĩ nghĩa Tình nghĩa truyền thống ấy, trong điều kiện mới, được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển thành “tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình năm châu, bốn biển một nhà” Chính vì thế, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh: hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là sống với nhau cĩ tình cĩ nghĩa Truyền thống đĩ đã gĩp phần xây dựng nên tư tưởng của Hồ Chí Minh
về vai trị của quần chúng nhân dân, nhất là tư tưởng về đại đồn kết, lấy dân làm gốc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Việt Nam cũng là một dân tộc cĩ truyền thống lấy nhân nghĩa làm
gốc, trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối
với gia đình, làng nước, Tổ quốc, coi đĩ là những chuẩn mực cao nhất của nhân cách con người Như Nguyễn Trãi đã nĩi: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc; nên cơng to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, do đĩ mà ơng chủ trương: “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược; cĩ nhân, cĩ trí, cĩ anh hùng”[85, tr.440] Theo cách nhìn truyền thống của văn hố Việt Nam, giá trị con người được thể hiện ở nhân nghĩa, đạo đức của bậc “ưu quốc, ái dân”, biết chăm lo, vun đắp cho vận mệnh chung của đất nước, của cộng đồng Văn hố đĩ dạy cho người dân khơng được quên cội nguồn, đất Tổ của mình: Dù
ai đi ngược về xuơi; Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba Hướng về cội nguồn, người Việt cĩ truyền thống tơn thờ tổ tiên, biết ơn người đã khuất, coi
Trang 3737
trọng mồ mả cha ông, gắn bó với quê cha ñất tổ, lên án tội rước voi giày mả
tổ Cũng có thể gọi ñó là nền văn hoá tình nghĩa, luôn luôn chăm lo “ñền ơn,
ñáp nghĩa”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
Đó là nền văn hoá trọng dân, ñề cao dân, lấy dân làm gốc Dân gian
Việt Nam xưa ñã có câu: “Quan nhất thời, dân vạn ñại” ñã thể hiện tính triết
lý sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch sử Thực tế lịch sử dân tộc ñã chứng minh, việc gì dù có khó khăn ñến ñâu nhưng nếu có sự tham gia của quần chúng nhân dân thì cũng ñều vượt qua, nếu không ñược nhân dân ủng hộ thì sẽ thất bại Đó cũng chính là lúc thịnh, lúc suy của các triều ñại phong kiến Việt Nam Cùng một triều ñại nhưng không phải khi nào cũng cường thịnh
mà có lúc bị suy sụp, nhất là khi triều ñình thối nát, không coi trọng vai trò quần chúng nhân dân
Chúng ta có thể kể ñến một nền chính sự trọng dân, thân dân thời Lý -
Trần Nhận rõ vai trò của quần chúng nhân dân nên các vua Lý - Trần luôn quan tâm ñến ñời sống và nguyện vọng của nhân dân và xem ñó là việc hàng ñầu của ñạo trị nước Như khẳng ñịnh của Lý Thường Kiệt, trời sinh ra dân chúng, vua hiền tất hoà mục Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân Dưới ảnh hưởng của tinh thần “từ bi hỷ xả” và tư tưởng không phân chia ñẳng cấp của Phật giáo, tư tưởng “dân vi bản”, “dân vi quý” của Nho giáo buổi ñầu, nên trong chính sự, các vua Lý - Trần ñã thể hiện ñược tinh thần coi trọng dân, ñề cao dân, lấy dân làm gốc Mỗi khi quyết ñịnh những việc lớn, có tầm quốc gia, vua thường tham khảo ý kiến của dân, như Lý Thái Tổ với việc dời ñô năm 1010, Trần Thánh Tông với Hội nghị Diên Hồng năm 1825 ñể hỏi ý kiến các bô lão, tức hỏi ý kiến của dân chứ không phải hỏi ý kiến những người ñứng ñầu các ñiền trang, thái ấp vốn là người của hoàng tộc Trong “Chiếu dời ñô” Lý Công Uẩn khẳng ñịnh, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay ñổi; cho nên vận nước lâu dài phong tục phồn thịnh Các
Trang 3838
vua Lý cũng hết sức coi trọng quyền tố cáo, khiếu nại của dân Ngay khi vừa lên ngôi, Lý Thái Tổ ñã xuống chiếu: “Từ nay, ai có việc oan ức, cho ñến triều tâu, vua thân xét quyết”[13, tr.239] Trong các năm 1029, 1033, 1052 các vua lần lượt cho ñúc chuông lớn ñặt tại ñiện Long Trì (sân rồng) ñể ai có chuyện oan ức ñánh chuông lên, vua sẽ ñích thân minh xét Năm 1076, Lý Nhân Tông ban chiếu cầu “những lời nói thẳng”, muốn nghe lời tấu bày trung thực ñể hiểu thấu nguyện vọng, ước muốn của muôn dân Các vua Trần luôn trân trọng ý nguyện của dân và chăm sóc ñời sống cho dân, nhằm làm cho muôn dân ñược ấm no, cho non nước ñược thái bình, thịnh trị Vua Trần Minh Tông ñã nói: “Trẫm là cha mẹ dân, nếu sinh dân mắc vào cảnh lầm than thì phải cứu gấp, chả lẽ ñi so ño khó dễ lợi hại hay sao?” [14, tr.124] Cũng từ quan ñiểm ấy, các vua Trần thường có thái ñộ bình dân và thân dân
Nhưng tiêu biểu nhất vẫn là quan niệm của Trần Quốc Tuấn cho rằng, nhân dân chính là cơ sở ñể tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước, cho nên muốn thắng lợi trong chiến tranh thì phải “khoan thư sức dân”, phải tranh thủ ñược sự ñồng lòng của nhân dân trong cả nước Trần Quốc Tuấn ñã chỉ rõ nguyên nhân chiến thắng trước bọn giặc phương Bắc và cái gốc, kế sách lâu bền của việc giữ gìn bờ cõi, biên cương: “Vì vua tôi ñồng tâm, anh em hòa mục, cả nước nhà góp sức, giặc phải bị bắt ( ) Vả lại, khoan thư sức dân ñể làm kế sâu rễ bền gốc, ñó là thượng sách giữ nước vậy” [14, tr.83-84] Chính
vì nhận thức ñược vai trò của quần chúng nhân dân mà quan quân nhà Trần ñã cùng với nhân dân ba lần ñánh tan quân xâm lược Nguyên Mông, làm nên chiến thắng vĩ ñại cho dân tộc
Như vậy, trên phương diện tư tưởng thời Lý - Trần, nhân dân ñã ñược nhìn nhận như một lực lượng xã hội hùng mạnh cần phải quan tâm ñến khi tiến hành những cuộc chiến tranh giữ nước và duy trì trật tự xã hội Tư tưởng của các vua quan Lý - Trần còn ñược Nguyễn Trãi tiếp tục phát triển ở mức
Trang 3939
ñộ cao hơn và mới mẻ hơn Nếu Trần Quốc Tuấn thấy ñược vai trò của dân trong sự nghiệp ñấu tranh bảo vệ ñất nước thì Nguyễn Trãi không chỉ nhìn thấy sức mạnh của dân trong chiến tranh giữ nước mà còn thấy ñược sức mạnh vô song quyết ñịnh sự tồn vong của một hệ thống chính trị, của một nhà nước Ông cho rằng, thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như nước, do ñó trong tư tưởng nhân nghĩa của ông sáng ngời chân lý vì dân “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Nguyễn Trãi ñã nhận thấy cứu nước và dựng nước là công việc của nhiều người và của trăm họ, trong sự nghiệp ñó nếu mọi người ñồng tình thì sẽ có sức mạnh Vì vậy, phải xem dân là gốc của nước Dân là số ñông, là cơ sở của xã hội, là lực lượng có vai trò quyết ñịnh sự yên nguy của một triều ñại Quần chúng nhân dân có khả năng ủng hộ hay phế truất một nền thống trị của một triều ñại, một ông vua Ông chỉ ra rằng: Nhà Trần do dân chán ghét mà bị lật ñổ, nhà Hồ do dân oán giận mà mất, giặc Minh do dân căm hờn mà bị bại, còn phong trào Lam Sơn ñược dân tin mà thành công Nguyễn Trãi cũng ñã nâng quan ñiểm “khoan thư sức dân” thịnh hành dưới triều Trần trước ñây, lên thành quan ñiểm trọng thị ñối với giai cấp cần lao: “ăn lộc ñền ơn kẻ cấy cày”[85, tr.445] “Kẻ cấy cày” chính là nhân dân lao ñộng, là nông dân chiếm tuyệt ñại ña số dân cư trong một nước nông nghiệp Theo ông “những quy mô lộng lẫy ñều là do sức lao khổ của nhân dân”, nhân dân là những người biết quý trọng nhân nghĩa “mến người có nhân
là dân”; sức mạnh của nhân dân là vô ñịch “chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”[85, tr.203] Ông chỉ rõ trách nhiệm của người cầm quyền: “phàm người
có chức vụ coi quan trị dân, ñều phải theo phép công bằng,… ñổi bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng, coi công việc của quốc gia là công việc của mình; lấy ñiều lo của sinh dân làm ñiều lo thiết kỷ”[85, tr.199] Tổng kết từ thực tế lịch sử, Nguyễn Trãi ñã khẳng ñịnh: dân là gốc của nước, giữ nước trước hết là giữ dân, muốn giữ nước phải an dân, phải giữ ñược lòng dân
Trang 4040
Triều ñại Tây Sơn tuy ngắn ngủi (14 năm), thế nhưng khối lượng công việc mà vua Quang Trung - Nguyễn Huệ làm ñược cho dân cho nước lại vô cùng lớn lao, “là một bài ca tuyệt ñẹp của người anh hùng áo vải” ñã chiến ñấu kiên cường cho quyền lợi của nhân dân và dân tộc Trên thực tế, khi tiến hành các cuộc tiến công vào Nam ra Bắc, nghĩa quân Tây Sơn ñều giữ nghiêm quân pháp, không mảy may xâm phạm của cải của nhân dân Chính vì thế “những chuyện tốt lành và thanh thế hùng mạnh của ñại quân Tây Sơn ñược bí mật lan truyền trong nhân dân làm cho ai nấy ñều nức lòng phấn khởi
và tin tưởng”[72, tr.163], nhiều nơi nhân dân quý trọng nghĩa quân Tây Sơn
và gọi là “bố” Sau khi ñuổi quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi ñất nước, Quang Trung ñã xây dựng ñất nước dựa trên sức lực của nhân dân Thời Quang Trung, chế ñộ thuế khóa ñược giảm, kinh tế ñược phục hồi, phát triển, dân lưu tán, những người du thủ, du thực ñược kiểm soát chặt chẽ bắt về quê quán sản xuất góp phần quan trọng ngăn chặn nạn trộm cướp và những tệ nạn khác Tuy tồn tại trong thời gian ngắn lại phải lo nhiều công việc trọng ñại, nhất là phải ñối phó với hoạt ñộng của chúa Nguyễn ñược tư bản phương Tây giúp sức nên nhiều lĩnh vực thành công của xã hội chỉ ñạt ñược kết quả bước ñầu Song với tư tưởng “trọng dân” của nhà Tây Sơn ñã tạo nên những kết quả nhất ñịnh trong chấn hưng ñất nước Có thể nói, triều ñại Tây Sơn dưới sự lãnh ñạo của Quang Trung cũng ñã tạo nên một dấu ấn không thể phai mờ trong những trang sử vàng về vai trò của quần chúng nhân dân
Tóm lại, trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các triều ñại phong kiến ñã thấy ñược sức mạnh của nhân dân, nhưng việc nhìn nhận, ñánh giá một cách ñúng ñắn vai trò của quần chúng nhân dân ñều chưa ñược giải quyết, mặc dù trong di sản tư tưởng truyền thống có những giá trị cao, ñến nay vẫn còn toả sáng Qua sự kiểm nghiệm của thực tiễn các tư tưởng, học thuyết mà các thế
hệ ấy ñã tiếp thu và vận dụng ñều không ñáp ứng ñược nhu cầu lịch sử của