1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về phát triển con người với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ tại thành phố hồ chí minh

161 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng hồ chí minh về phát triển con người với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ tại thành phố hồ chí minh
Tác giả Phạm Anh Tú
Người hướng dẫn TS. Cao Xuân Long
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI (18)
    • 1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI (18)
      • 1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội của thế giới nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ (18)
      • 1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX (24)
    • 1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI (29)
      • 1.2.1 Truyền thống văn hóa Việt Nam với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí (29)
      • 1.2.2 Tư tưởng phương Đông, phương Tây với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người (34)
      • 1.2.3 Chủ nghĩa Mác - Lê-nin với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người (47)
    • 1.3 TIỀN ĐỀ CHỦ QUAN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI (52)
  • CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN (66)
    • 2.1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI (66)
      • 2.1.1 Quan niệm về phát triển con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh (67)
      • 2.1.2 Điều kiện tiên quyết đế phát triển con người (80)
      • 2.1.3 Mục tiêu phát triển con người (86)
      • 2.1.4 Phương pháp phát triển con người (88)
    • 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRẺ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ (108)
      • 2.2.1 Cán bộ trẻ và yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trẻ phục vụ quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh (108)
      • 2.2.2 Những kết quả đạt được trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua (115)
      • 2.2.3 Nhận xét, đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua (126)
    • 2.3 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VỚI VIỆC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ TRẺ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ (134)
      • 2.3.1 Cần khẳng định đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ là nội dung quan trọng, nền tảng mà Thành phố Hồ Chí Minh cần phải quán triệt thực hiện (134)
      • 2.3.2 Phương hướng nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh (137)
      • 2.3.3 Một số giải pháp khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển (143)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (155)

Nội dung

cán bộ kế thừa có phẩm chất, năng lực, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ, tin học… theo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao củ

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội của thế giới nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

Vào nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của nhân loại

Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là các phát minh khoa học từ thế kỷ XVIII như học thuyết Niu-tơn, thuyết tiến hóa của Đác-uyn và hàng loạt các phát minh khác về ngành hóa học, điện, điện thoại, vô tuyến truyền thanh… đã thúc đẩy sức sản xuất xã hội phát triển vượt bậc, góp phần làm tăng nhanh chóng sản lượng của các ngành công nghiệp, làm cho chủ nghĩa tư bản phát triển một cách mạnh mẽ, như C.Mác đã viết: “Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông…, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng xã hội…” [45, tr.603] Chính những phát triển vượt bậc đó đã dẫn đến những biến đổi to lớn trong xã hội tư bản, thể hiện qua nhiều mặt: kinh tế, chính trị, xã hội…, tác động mạnh mẽ đến tình hình thế giới nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng

Từ những năm 1860 - 1870, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh phát triển dần lên giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa đế quốc và trở thành một hệ thống thế giới Các nước đế quốc chuyển từ mở rộng thị trường buôn bán sang việc mở rộng xâm chiếm thuộc địa, tranh giành, xâu xé, nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng kìm kẹp thuộc địa của chúng Phần lớn các nước nhược tiểu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc vào chúng Nhân dân ở các nước thuộc địa bị chúng tước hết những giá trị văn hóa tinh thần, quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội… Mạng sống của người dân thuộc địa “không đáng một đồng trinh” [48, tr.59], đúng như Hồ Chí Minh nhận xét: “Các tập đoàn thống trị ở các nước đế quốc lớn đang bóp nghẹt những quyền tự do căn bản nhất của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, trong lúc đó thì, ở nhà tù và nơi tra khảo, chúng lại nêu khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” Trong điều kiện của chế độ tư bản và thực dân áp bức, khẩu hiệu đó vang lên thật là mỉa mai” [54, tr.566],

“…nạn đói và dịch bệnh thường xảy ra, tàn phá các thuộc địa… Tại những miền châu Phi thuộc Ý, Tây Ban Nha cũng có một chế độ cướp bóc, làm phá sản, giết chóc và tàn phá một cách khủng khiếp như vậy Ở Công-gô thuộc Bỉ, năm 1891 số dân là 25 triệu, thế mà đến năm 1911 chỉ còn 8,5 triệu… Công-gô thuộc Pháp năm

1894 có 20.000 dân, thế mà đến 1911 chỉ còn có 9.700 người” [47, tr.288]

Cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản và mâu thuẫn giữa các nước tư bản, đế quốc với nhau, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh một mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc thực dân Mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt, trở thành mâu thuẫn hết sức sâu sắc của thời đại Vì vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã không còn là hành động riêng rẽ của mỗi nước chống lại sự xâm lược và thống trị của chủ nghĩa đế quốc, mà trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa gắn với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế chống giai cấp tư sản ở chính quốc

Chủ nghĩa Mác ra đời năm 1848 với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã phát hiện ra quy luật tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; trở thành hệ tư tưởng chính thống của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ngày một mạnh mẽ, dù bị đàn áp khốc liệt sau khi Công xã Paris bị đàn áp đẫm máu năm 1871 Phong trào công nhân và cộng sản quốc tế nhanh chóng được phục hồi Các chính đảng của giai cấp công nhân lần lượt ra đời, lãnh đạo phong trào đấu tranh và tiến tới thành lập Quốc tế II Tuy bọn cơ hội chủ nghĩa và bọn xét lại tìm cách thao túng, song phong trào công nhân quốc tế đã tiến tới đỉnh cao là cuộc bãi công của công nhân Chi-ca-gô ngày 01 tháng 5 năm

1886 và cuộc Cách mạng Nga năm 1905 - 1907 Chủ nghĩa Mác sau gần nửa thế kỷ đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản và các trào lưu phản bội dưới mọi hình thức, đã khẳng định vị trí của mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Cuối những năm 20 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng trong phong trào công nhân châu Âu diễn ra ngày càng sâu sắc, dẫn đến sự phân liệt trong nội bộ các đảng Xã hội dân chủ thuộc Quốc tế II Một số đảng bị phân hóa, phái tả trong các đảng tách ra, thành lập các đảng Cộng sản Trong điều kiện mới của lịch sử, chủ nghĩa Lê-nin ra đời, kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Tháng 3 năm 1919, Lê-nin thành lập Quốc tế III - Quốc tế Cộng sản, đưa phong trào cộng sản thoát khỏi chủ nghĩa cải lương, theo đuổi các chính quyền tư sản của các đảng xã hội Tác phẩm Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lê-nin và các văn kiện Đại hội II Quốc tế

Cộng sản đánh dấu sự khẳng định về mặt lý luận việc thực hiện mối quan hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

Nét nổi bật trong phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là bên cạnh sự đoàn kết quốc tế giữa công nhân các nước tư bản, đã có thêm sự đoàn kết giữa công nhân ở chính quốc với nhân dân các nước thuộc địa và giữa nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc với nhau Từ đó, phong trào đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi đã dẫn đến một cao trào mới của cách mạng thế giới với đỉnh cao là thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô-viết cách mạng, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người với sự xuất hiện của chế độ xã hội chủ nghĩa Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc từ đây gắn liền với con đường của cách mạng vô sản, gắn liền với cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản

Trong khi các nước tư bản phương Tây nhanh chóng phát triển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì các nước phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam… là những quốc gia phong kiến hình thành lâu đời, vốn có nền văn hóa phát triển sớm, vẫn chìm sâu dưới sức nặng của quan hệ sản xuất phong kiến chuyên chế, bảo thủ Do đó, lực lượng sản xuất chậm phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu; đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân lao động cực khổ và bế tắc; mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến thống trị với nhân dân lao động, mà tuyệt đại đa số là nông dân, ngày càng sâu sắc Trước sự suy yếu không thể vực dậy về mọi mặt của đời sống xã hội, các nước phương Đông đều lần lượt bị đế quốc xâm lược, trở thành những nước thuộc địa và phụ thuộc Nhiều phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước phương Đông đã diễn ra dưới sự lãnh đạo của hệ tư tưởng phong kiến, tư sản, tiểu tư sản nhưng đều lần lượt thất bại

Bước sang đầu thế kỷ XX, nhiều sự kiện lớn trên thế giới, đặc biệt là thành công của phong trào duy tân tại Nhật Bản và thắng lợi của cách mạng Tân Hợi năm 1911 tại Trung Quốc đã có những ảnh hưởng to lớn đến tình hình thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Nhật Bản vốn là một nước phong kiến “bế quan tỏa cảng”, dưới thời Thiên hoàng Minh Trị với những chính sách duy tân mang tính đột phá, đã thực hiện cuộc cải cách lớn như: dời kinh đô và tập trung quyền lực về tay Thiên hoàng; mọi lãnh địa được trao trả cho Thiên hoàng và các lãnh chúa, các võ sĩ sa-mu-rai trở thành thường dân; giáo dục không ngừng phát triển với chính sách mời các nhà khoa học về giảng dạy và cử hàng ngàn sinh viên ra nước ngoài học tập, tiếp thu các tri thức mới và trở về làm nòng cốt trong việc xây dựng đất nước: “Trong thời gian rất ngắn: ba chục năm Các sĩ phu đều hăng hái học tập phương Tây, dịch sách Âu, Mỹ, nghiên cứu chính thể kỹ nghệ Chính phủ đón thầy Âu dạy học cho dân: kỹ sư Anh dạy cách cất đường xe lửa và đóng tàu, người Pháp dạy về luật và binh bị, giáo sư Đức dạy về y học và hóa học, nhà chuyên môn Hoa Kỳ tổ chức giáo dục, các nghị sĩ Ý thì dạy âm nhạc và điêu khắc” [41, tr.143] Nhật Bản hiểu rằng chỉ có mạnh dạn mở cửa thông thương với phương Tây, mới giúp họ tiếp thu được những thành tựu văn hóa, văn minh để hiện đại hóa đất nước Nhờ đó, từ một đất nước suy yếu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Nhật Bản đã nhanh chóng vươn lên, phát triển vượt bậc về mọi mặt trên con đường tư bản chủ nghĩa, như Hồ Chí Minh đã nhận định: “… trong khoảng một nửa thế kỷ, nước Nhật đã biết tạo lập được một chế độ đưa nó vào hạng những cường quốc đứng đầu thế giới…” [47, tr.6] Và Nhật trở thành một cường quốc tư bản hiện đại hùng mạnh về kinh tế, khoa học kỹ thuật và quân sự; là tấm gương về sự nhạy bén trước những diễn biến mới của thời đại, về sự tiếp thu những thành tựu tiên tiến của phương Tây để đổi mới, xây dựng đất nước

Trong khi Nhật Bản đã có những biến đổi lớn lao như vậy thì Trung Quốc vốn đã từng tỏ rõ sức mạnh của một nước lớn trong khu vực, lại đang suy yếu dần trong sự bảo thủ, trì trệ của chế độ phong kiến, bị chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm nhập, chèn ép, đã dần rơi vào tình trạng nửa thuộc địa, đứng trước nguy cơ mất nước ngày càng lộ rõ Trước tình hình đó, nhiều chí sĩ yêu nước Trung Quốc đã lấy Nhật Bản làm tấm gương, hy vọng cũng có thể thực hiện được việc vực dậy đất nước đang ngày một suy yếu bằng cách nhanh chóng tiếp thu những thành tựu kinh tế, kỹ thuật và văn hóa của phương Tây Trong khoảng thời gian

TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

1.2.1 Truyền thống văn hóa Việt Nam với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người

Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý

Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước với ý chí đấu tranh bất khuất để dựng nước và giữ nước đã hình thành ngay từ buổi bình minh của lịch sử Đây cũng chính là tài sản có giá trị nhất trong hành trang của người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 Đó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Người từng nhấn mạnh: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu mà mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [53, tr.38]

Chủ nghĩa yêu nước là dòng tư tưởng lớn nhất, xuyên suốt tư duy và hành động của dân tộc ta, có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống dân tộc Truyền thống ấy biểu hiện sáng ngời và xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc từ những ngày đầu dựng nước; đó là tinh thần tự tôn, tự cường, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng

Qua chưa đầy một ngàn năm, dân tộc ta đã tiến hành trên mười cuộc chiến tranh yêu nước khắp toàn quốc cùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ khác nhau:

“…tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn Lý Bôn

(năm 544), với một nhúm nghĩa sĩ, đã nổi dậy và bẻ gãy ách đô hộ của Hán tộc Ngô Quyền (năm 938) đã phá tan đạo quân nước ngoài kéo vào đánh chiếm đất đai Tổ quốc ta”; “Dân ta sống trong hạnh phúc và thịnh vượng dưới triều nhà Đinh Năm 980, Lê Đại Hành đã dũng cảm không chịu khuất phục trước yêu sách của láng giềng hùng mạnh hơn mình gấp bội, ông đã đánh thắng địch, giết chết tướng địch Do đó đã giải thoát được đồng bào khỏi nạn nô dịch”; “Quân Mông

Cổ đi đến đâu phá sạch đấy, đã bị nhà Trần vẻ vang của chúng ta đánh bại (năm

1225) Lê Lợi đã hùng dũng đứng ra lãnh đạo cuộc cách mạng nước Nam, đập tan chế độ tàn bạo và hạch sách mà những kẻ tự xưng là bảo hộ ta bắt ta chịu”

[47, tr.79] Nét nổi bật của những trang sử hào hùng ấy là trong cuộc đấu tranh trường kỳ sinh tử với biết bao kẻ thù tàn bạo, nhân dân ta từ mọi miền đất nước, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, lớn - nhỏ, đều kiên quyết một lòng đấu tranh, sẵn sàng xả thân cho mục đích cao đẹp: vì độc lập, tự do của đất nước, thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ

Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao sức mạnh truyền thống yêu nước, xem đó là một nhân tố trọng yếu có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của công cuộc chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam Trong đó, các anh hùng dân tộc và các nhân vật lịch sử luôn được Người trân trọng nêu lên để nhân dân noi gương:

“Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [52, tr.171-172] Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với Đội Cảm tử quân rằng: “Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau” [51, tr.35] Người cũng đánh giá rất cao thái độ kiên quyết, bền bỉ đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược ngay từ đầu của các tầng lớp nhân dân: “Mặc dầu bọn vua chúa ươn hèn, mặc dầu địch đang chiếm ưu thế và mặc dầu chế độ quân chủ đã làm cho dân chúng quen lạnh nhạt, bàng quan, dân chúng cũng không thể chịu ách ngoại bang mà không bền bỉ chống lại Lúc mới thấy các tàu chiến lớn và súng ống tinh xảo thì ngạc nhiên, nhưng khi cảm giác đầu tiên ấy đã qua thì những người yêu nước An Nam liền tổ chức đấu tranh” [47, tr.412], “…người Pháp chinh phục Việt Nam đã ngót

60 năm Nhưng người Việt Nam trước sau vẫn không cam chịu làm dân mất nước Nhiều phen họ đã dùng giáo mác, gậy gộc chống lại tàu bay, đại bác của người Pháp Tuy lần nào cũng thất bại, họ vẫn người trước ngã xuống, người sau tiến lên, phấn đấu không ngừng Tinh thần dũng cảm đó thể hiện rất rõ trong biết bao nhiêu sự việc xúc động lòng người” [49, tr.214]

Hồ Chí Minh không chỉ tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mà luôn phát huy lòng yêu quê hương, đất nước nồng nàn bằng những hành động cụ thể trong cuộc sống thực tiễn: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy được đưa ra trưng bày Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến” [53, tr.38-

39] Và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã làm phong phú thêm nội dung của chủ nghĩa yêu nước Yêu nước với Người gắn liền với yêu nhân dân Khái niệm “dân - nước” đã được Hồ Chí Minh phát triển lên một tầm cao mới: “Nước lấy dân làm gốc” [51, tr.409]; “Dân ta phải giữ nước ta Dân là con nước, nước là của chung” [50, tr.486]

Người từng nói lòng yêu nhân dân và nhân loại của Người không bao giờ thay đổi Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đã cống hiến cho dân, cho nước, cho nhân loại cần lao Mọi suy nghĩ, việc làm của Hồ Chí Minh đều vì dân, vì nước, không ham địa vị, quyền hành, danh lợi Người luôn có một ham muốn: “ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [50, tr.161] Người đã phát triển những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước là yêu nước trên cơ sở quan điểm giai cấp, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, những người cùng khổ trên khắp thế giới Theo Người, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới ngày một ấm no thêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm

Cùng với truyền thống yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống nhân ái, đoàn kết là những nét hết sức đặc sắc trong các giá trị truyền thống Việt Nam; hình thành cùng lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, đòi hỏi mỗi người phải có ý thức đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau giữa những con người cùng chung một cội nguồn, cùng chung lưng đấu cật, đồng cam cộng khổ vượt qua mọi khó khăn Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh việc giữ gìn và phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc trong đối nhân xử thế: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa…” [58, tr.554] Và Người đã kế thừa truyền thống nhân ái ấy và nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà; lòng yêu thương con người phát triển thành tình yêu thương dành cho giai cấp cần lao, cho toàn thể nhân dân lao động Nếu như tư tưởng đại nhân ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng vì tự do, hạnh phúc của con người, tin vào lý trí và phẩm giá của con người, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển tự do và toàn diện thì tư tưởng đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là cứu nước, là độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là đỉnh cao của đại nghĩa truyền thống, kết hợp với đại nghĩa cách mạng Bên cạnh những giá trị truyền thống về chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, đoàn kết, Hồ Chí Minh còn kế thừa tư tưởng giáo dục đạo lý làm người của ông cha ta trong lịch sử - đó là giáo dục con người sống có lý tưởng, bản lĩnh, có ý chí vươn lên để tự hoàn thiện mình về mọi mặt, đem hết tài đức của mình xây dựng một xã hội “thái bình, thịnh trị”; “vua sáng, tôi hiền”; là yêu nước, thương dân, sống nhân nghĩa, thủy chung; là đề cao đạo đức, tình đoàn kết trong quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người Triết lý và nội dung giáo dục, đào tạo, phát triển con người của cha ông ta đã góp phần quan trọng tạo ra những thế hệ người Việt Nam kiên cường, bất khuất, cần cù, thông minh, sáng tạo, “trai thời trung hiếu làm đầu; gái thời tiết hạnh làm câu răn mình”; cũng như không ít những người “hiền tài” - nguyên khí của quốc gia, những vị anh hùng dân tộc

“văn võ song toàn” với những đóng góp hết sức to lớn cho sự trường tồn và phát triển không ngừng của dân tộc Việt Nam, làm rạng danh dân tộc, vẻ vang giống nòi, đó là những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung

TIỀN ĐỀ CHỦ QUAN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

Một nhân tố hết sức quan trọng có ý nghĩa quyết định để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, đó là trí tuệ, năng lực, tinh thần và nghị lực của bản thân Người Có thể nói, Hồ Chí Minh là một con người có phẩm chất, tài năng đặc biệt; thể hiện ở khả năng nhạy bén tiếp nhận những tri thức, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại; ở năng lực xử lý, chuyển hóa được những tinh hoa đó một cách nhuần nhuyễn để biến hóa thành những phẩm chất, tư tưởng, trí tuệ của riêng Người mà không giáo điều, sao chép, rập khuôn; ở khả năng vận dụng sáng tạo những tinh hoa văn hóa của nhân loại phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam

Sinh ra vào cuối thế kỷ XIX khi cả dân tộc đang chìm đắm trong đêm trường nô lệ, ngay từ thời thơ ấu, Hồ Chí Minh đã đau xót chứng kiến cuộc sống cơ cực, lầm than dưới ách áp bức, bóc lột ngày càng nặng nề, bị tước đoạt hết quyền làm người của đồng bào mình ngay trên mảnh đất quê hương Nghệ Tĩnh giàu truyền thống cách mạng, tận mắt nhìn thấy tội ác của bọn thực dân Pháp và thái độ ươn hèn, bạc nhược của bọn quan lại Nam triều Nhưng cũng trong hoàn cảnh này, ngay trên quê hương của Người đã nổ ra nhiều phong trào yêu nước, phong trào cách mạng chống xâm lược, chống phong kiến như: khởi nghĩa Hương Khê, cuộc nổi dậy của binh lính Đô Lương, công nhân Bến Thủy, khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh… Tinh thần bất diệt của các phong trào kháng Pháp vẫn mãi đọng lại với thời gian và ngọn lửa đấu tranh trong lòng những người con yêu nước vẫn luôn âm ỉ và sẵn sàng bùng cháy bất cứ lúc nào

May mắn được sống trong sự đùm bọc, yêu thương của một gia đình nhà Nho thanh bạch, gần gũi với nhân dân, giàu truyền thống cách mạng, Hồ Chí Minh được hưởng sự giáo dục đúng đắn, những chỉ bảo tận tình của cha mẹ và các thầy học là những nhà Nho đức hạnh, giỏi giang và giàu lòng yêu nước mà gia đình tin tưởng, gửi gắm Người thừa hưởng ở cha - cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, không chỉ là chữ nghĩa, tinh thần hiếu học, sự độc lập, sáng tạo trong suy nghĩ, mà còn là đạo lý làm người và lòng yêu nước thương dân Thuở thiếu thời, Người có nhiều dịp được đứng hầu trà trong các cuộc đàm đạo, luận bàn về thế sự giữa cha với những người bạn thân cùng chí hướng như: Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Lê Văn Huân…; được nghe những thơ văn yêu nước thể hiện truyền thống văn hóa của dân tộc; tất cả đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn luôn rộng mở, sẵn sàng đón nhận những điều hay, mới lạ của người thanh niên thông minh, nhạy bén với thời cuộc Đất Nam Đàn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có bốn vị học giỏi nổi tiếng, được nhân dân phong là “tứ hổ”: uyên bác bất như San, tài ba bất như Quý, cường ký bất như Lương, thông minh bất như Sắc (không ai hiểu biết rộng như San - Phan Bội Châu, không ai tài giỏi như Vương Thúc Quý, không ai nhớ giỏi như Trần Văn Lương, không ai thông minh như Nguyễn Sinh Sắc), và Hồ Chí Minh lúc nhỏ là “học trò ruột” của ba trong bốn nhân tài ấy Được cử nhân Vương Thúc Quý - con trai của lãnh tụ Cần Vương chống Pháp Vương Thúc Mậu trực tiếp dìu dắt và dạy dỗ, Hồ Chí Minh không chỉ được học chữ, trau dồi tri thức, mà người thầy đáng kính ấy còn truyền dạy cho Người những điều hay lẽ phải, những bài học về nhân nghĩa, đạo lý thánh hiền và khơi dậy lòng yêu nước trong tâm hồn Người từ những ngày thơ bé Và Hồ Chí Minh ngay từ thuở nhỏ đã tỏ rõ là một học trò đầy thông minh: “Khi học lớp nhứt trường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, trò Cung là một trong mười học sinh giỏi nhất lớp, được chọn để thi vượt cấp Bấy giờ chúng tôi học thầy Lê Nguyên Lương kiêm hiệu trưởng dạy Pháp văn và cụ Hoàng Thông dạy Hán văn, thầy Chonquet bên Quốc Học sang dạy địa dư Trò Cung học các môn đều khá, Hán văn thì không ai bì kịp, nhiều bài luận được thầy giáo khen trước lớp” [29, tr.11], “Trò Cung thích nhất là chơi trò vật tay Trò Cung giỏi Hán văn, Pháp văn Có một lần, bạn Cung làm bài luận tiếng Pháp bằng thơ Trong giờ trả bài, giáo viên Queignec cầm bài của bạn Cung giơ lên, vừa cười vừa nói: Cung đã làm bài luận bằng thơ, ấy là một học sinh thông minh đặc biệt thật!… Bạn Cung đã tỏ ra là một học sinh tuấn tú, rất lễ phép đối với thầy, hòa nhã đối với bạn” [29, tr.11] Nếu như trước kia, cha của Người nổi tiếng ham học từ nhỏ và thi cử đỗ đạt, thì đến lượt Hồ Chí Minh về sau, tinh thần ham học được truyền lại từ đời cha lại càng được nhân lên gấp nhiều lần, bởi có một điều tối quan trọng là động cơ học tập “vì nước vì dân” luôn thôi thúc Người trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng

Từ những năm tháng niên thiếu học tại các trường Pháp - Việt do thực dân Pháp mở ra ở nước ta, Hồ Chí Minh đã sớm tiếp cận với các khẩu hiệu tuyên truyền về “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” của cuộc Đại cách mạng Tư sản Pháp Song những điều mà Người tận mắt chứng kiến ngay trên chính mảnh đất quê hương mình lại hoàn toàn mâu thuẫn, trái ngược với những mỹ từ mang đầy lý tưởng cao đẹp: đằng sau chữ “Tự do” là những hành vi trói buộc, hành hạ và sỉ nhục con người; đằng sau chữ “Bình đẳng” là sự đối chọi giữa dư thừa và thiếu thốn, giữa đói rét và giàu sang; đằng sau chữ “Bác ái” là sự chém giết tàn bạo, mọi quyền cơ bản nhất của con người đều bị tước đoạt Chính Người sau này đã vạch rõ thực trạng ấy trên báo Nhân đạo: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn trang điểm cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng…” [47, tr.75] Với một tư duy độc lập, nhạy cảm với thời cuộc được đặt trên nền tảng của lòng yêu nước thương dân sâu sắc, dù vô cùng kính trọng và khâm phục những bậc sĩ phu yêu nước tiền bối, nhưng Hồ Chí Minh sớm nhận thấy những mặt hạn chế của họ trong tình hình mới: Phan Bội Châu muốn dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, Phan Châu Trinh muốn dựa vào Pháp để đánh đổ phong kiến Nam triều chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”, kể cả người anh hùng nông dân trên núi rừng Yên Thế là Hoàng Hoa Thám vẫn “còn nặng cốt cách phong kiến” Người nhận rõ xu thế mới của thời đại và hiểu rằng không thể chọn con đường cứu nước theo ý thức hệ phong kiến, tư sản như những bậc tiền bối, bởi lẽ: “Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức được và nó dẫn Người đi đúng hướng là: nguồn gốc những đau khổ và áp bức dân tộc là ở ngay tại “chính quốc”, ở nước đế quốc đang thống trị dân tộc mình”

[76, tr.14] Và từ những nhận thức đúng đắn ấy, Người đã chọn một hướng đi, một cách đi mới cách mạng và táo bạo để tìm con đường cứu nước: rời Tổ quốc sang phương Tây - điều chưa từng có trong lịch sử nước ta Cách mạng vì hướng đi này hoàn toàn đối lập với các bậc tiền bối như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… vốn theo con đường truyền thống sang phương Đông Táo bạo vì đây là sự dấn thân vào một thế giới còn rất xa lạ với nhân dân ta, một thế giới mà văn hóa, học thuật hoàn toàn khác với văn hóa, học thuật của Việt Nam, nếu không muốn nói là đối lập; nhưng đó cũng là nơi có tư tưởng tự do, dân chủ và có khoa học kỹ thuật hiện đại đang hấp dẫn Người

Càng hiểu thêm những thành quả của nền văn minh nhân loại, càng hâm mộ lá cờ tự do của Cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh càng thấy rõ mặt trái của chính quyền tư sản lúc đó và hết sức cảm thông với nỗi đau của nhân dân lao động và đồng tình với tinh thần phản kháng của họ Người bắt đầu “muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy” [47, tr.461] và quyết định tìm cách ra nước ngoài để xem người ta làm như thế nào để khỏi bị đô hộ, rồi trở về giúp đồng bào thoát khỏi cảnh nô lệ thực dân

Trên hành trình tìm đường cứu nước, hành trang Hồ Chí Minh mang theo là những truyền thống dân tộc cao đẹp với phẩm chất cần cù, sáng tạo trong lao động, kiên cường, bất khuất trong chiến đấu, và bao trùm lên tất cả là lòng nồng nàn yêu nước - nền tảng tinh thần vững chắc đã nâng bước Người vượt qua những chặng đường đầy chông gai, thử thách Để hoạt động cách mạng có hiệu quả, Hồ Chí Minh đã không ngừng học tập, tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao trình độ bằng con đường tự học, không chỉ qua sách vở mà còn từ trong thực tiễn cuộc sống muôn màu muôn vẻ, làm cho kho tàng kiến thức của bản thân ngày một phong phú, đa dạng hơn Nhu cầu đảm bảo đời sống hàng ngày của bản thân đã dẫn Người một cách tự nhiên đi vào thực tế, đến với cuộc sống của nhân dân các nước mà Người được tiếp xúc trên khắp các châu lục Đó cũng chính là trường học tốt nhất đã cung cấp cho Hồ Chí Minh những kiến thức giá trị, và từ thực tiễn sinh động ấy đã giúp

Hồ Chí Minh hiểu rằng: ở đâu người dân lao động cũng nghèo khổ, cũng bị áp bức và có một mong muốn chung là cùng nhau đoàn kết để đấu tranh thoát khỏi mọi ách áp bức Đó cũng là cơ sở để hình thành ở Người tư tưởng về quyền con người, phát triển con người và quyền bình đẳng thực sự giữa các dân tộc

Trong hành trình dài bôn ba khắp năm châu bốn biển, khảo sát ở các nước tư bản lớn như Pháp, Mỹ, Anh và các thuộc địa của họ, Người đã có dịp tìm hiểu nhiều sách báo, tài liệu, tiếp xúc với các nhà chính trị - xã hội có tiếng và xem xét thực tế cuộc sống của người dân để tìm ra những tinh hoa tốt đẹp cần tiếp thu và những hạn chế cần khắc phục Và Người đã dừng chân tại rất nhiều bến cảng trên suốt hành trình ấy, từ cảng Xing-ga-po, cảng Cô-lôm-bô của Xri-lan-ca đến các bến cảng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, An-giê-ri, Công-gô, Tuy-ni-di, Ghi-nê, Xê- nê-gan… Chính ở các nước thuộc địa, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lúc bấy giờ đã tận mắt chứng kiến cuộc sống vô cùng cơ cực, khốn khổ của nhân dân lao động, nhất là các thuộc địa của Pháp, Anh ở châu Phi; còn bọn thực dân thì ở đâu cũng gian ác như nhau cả Hồ Chí Minh đã từng nhận xét:

“Khi người ta có màu da trắng thì nghiễm nhiên người ta là một nhà khai hóa Mà khi người ta đã là một nhà khai hóa thì người ta có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất” [49, tr.56-57]

Trong tác phẩm Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tác giả Trần Dân Tiên đã kể: “Đến Đa-ca, bể nổi sóng dữ Tàu không thể vào bờ cũng không thể thả ca-nô xuống vì sóng rất to Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc tàu Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước Người này đến người kia, họ bị sóng biển cuốn đi Cảnh tượng ấy làm cho anh Ba hết sức cảm động, anh khóc Ngạc nhiên tôi hỏi tại sao? Anh

Ba buồn rầu trả lời: Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt Song những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo Ở đâu chúng nó cũng thế Ở ta tôi cũng thấy chuyện xảy ra ở Phan Rang Bọn chúng cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu” [75, tr.24-25]

Thời gian dừng chân ở Mỹ vào năm 1912 - 1913, Người nhận ra rằng ở đất nước giàu mạnh này, không chỉ có những tòa nhà chọc trời, những chiếc xe bóng loáng nối đuôi nhau trên các con đường rộng lớn, những hộp đêm chớp tắt ánh đèn đầy hào nhoáng và xa hoa…, mà nước Mỹ còn có khu Hác-lem (Harlem) của những người lao động da đen tự do thất nghiệp và đói rét Giữa “nền văn minh Mỹ” là việc hành hình kiểu Lin-sơ (Lynch) - lối hành hình của bọn phân biệt chủng tộc Mỹ áp dụng với người da đen, thường là bằng cách treo cổ và những hành động đầy tội ác khác đan xen nhau trong quá trình đàn áp chủng tộc và đàn áp giai cấp Vậy ra nước Mỹ giàu sang và lộng lẫy, nhưng nước Mỹ cũng đầy rẫy sự bất công của tệ phân biệt chủng tộc Và khi đến chiêm ngưỡng tượng Nữ thần

Tự Do - biểu tượng của nước Mỹ, trong lúc mọi người chỉ nhìn thấy và trầm trồ ngợi khen vẻ đẹp kiến trúc - nghệ thuật của bức tượng, thì Hồ Chí Minh nhận ra ở phía dưới bức tượng còn biết bao số phận cơ cực, bất bình đẳng trong lòng một quốc gia hùng mạnh Những hình ảnh đó đã để lại trong lòng người thanh niên bao ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc: “Ánh sáng trên đầu Thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng Thần Tự Do thì người da đen và số phận người phụ nữ đang bị chà đạp Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ người phụ nữ mới bình đẳng với nam giới?” [60, tr.16] Và rồi Người tìm đến bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, trong đó đề cập đến “quyền bình đẳng”, “quyền sống”, “quyền tự do”, “quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người Hồ Chí Minh khâm phục ý chí đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khâm phục những tư tưởng vĩ đại của Oa-sinh-tơn, Lyn- côn; nhưng Người cũng đồng thời phát hiện ra những nghịch lý, rằng đằng sau những lời lẽ hoa mỹ về “tự do, bình đẳng, bác ái” là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người lao động, là nạn phân biệt, kỳ thị chủng tộc và đời sống vô cùng cơ cực của người da đen Đi nhiều nơi, làm nhiều nghề ở khắp các nước Anh, Pháp, Mỹ, bằng chính sự cực nhọc trong lao động, sự kham khổ trong sinh hoạt của mình, Hồ Chí Minh đã cảm thông sâu sắc tình cảnh sống cơ cực, tối tăm, tủi nhục của những lớp người bị áp bức, bóc lột, của nhân dân ở các thuộc địa, cũng như của công nhân nơi chính quốc Ở đâu người cũng thấy sự cách biệt giữa người giàu và người nghèo, ở đâu cũng có rất nhiều con người cực khổ không chỉ riêng Việt Nam Những điều tai nghe mắt thấy đã giúp Hồ Chí Minh nhận ra một thực tế: không chỉ nhân dân Việt Nam, mà nhân dân lao động trên toàn thế giới đều sống trong đau khổ, đói rét và cuộc cách mạng cần phải được nổ ra để quần chúng lao khổ và bị áp bức đứng lên tự giải phóng cho mình

Cuối năm 1917, Người trở lại Pháp giữa những ngày ác liệt nhất của cuộc chiến tranh đế quốc sắp kết thúc, rồi hăng hái hòa mình vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Pháp đang ngày một dâng cao dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga Và thông qua những đại biểu của những người cùng khổ nhất của nước Pháp, Người đã bắt gặp chân lý cứu nước là chủ nghĩa Mác - Lênin Giữa tháng 7 năm 1920, lần đầu tiên được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin, Người đã vui mừng đến phát khóc và reo to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” [56, tr.127] Từ tác phẩm phản ánh tập trung nhất tư tưởng về giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lê-nin ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được định hướng: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc…” [51, tr.644] Rồi chỉ năm tháng sau, nỗi vui mừng vì phát hiện quan trọng đó đã được thể hiện tại Đại hội Tua (Tours) bằng hành động dứt khoát đứng về phía tán thành việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp, đứng về phía Quốc tế III Và từ đó, bằng những hoạt động phong phú, khoa học và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã hăng hái tiến hành một cuộc đấu tranh kiên trì bất chấp mọi gian khổ trên phạm vi quốc tế cũng như trong nước Toàn bộ những tư tưởng về phát triển con người của Hồ Chí Minh tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện trên nền tảng tư tưởng về con người và phát triển con người của chủ nghĩa Mác - Lênin và bối cảnh thực tế của đất nước Sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và trở thành người Cộng sản Việt Nam đầu tiên, Hồ Chí Minh đã hoàn thành Bản án chế độ thực dân Pháp được viết bằng tiếng Pháp và xuất bản lần đầu tiên tại Pa-ri (Paris) năm 1925 Đây được xem là bản cáo trạng hùng hồn và mạnh mẽ, tố cáo tội ác tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương cũng như ở tất cả các nước thuộc địa trên thế giới, từ việc dùng xương máu người bản xứ để phục vụ cho cuộc chiến tranh đế quốc đến mọi thủ đoạn thống trị, đàn áp nhân dân thuộc địa: vơ vét, tham nhũng, cướp bóc, nô dịch, đầu độc nhân dân bản xứ bằng thuốc phiện và rượu, thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị… Công lý được đề cao trong cách mạng tư sản chỉ là sự lừa dối, khi tại thuộc địa đầy rẫy tình trạng bất bình đẳng và bất công Chính bọn thực dân Pháp đã xuyên tạc nền văn minh và bôi nhọ danh dự nước Pháp: “Để truyền bá văn minh Pháp, bảo vệ danh dự lá quốc kỳ Pháp ở các thuộc địa xa xôi, người ta dùng những đội quân gồm toàn những tên lưu manh, những bọn lười biếng, những tên lọt lưới pháp luật, những tên giết người, nói tóm lại, gồm các tinh hoa của những cặn bã, lượm lặt ở tất cả các nước châu Âu” [47, tr.349] Việc phê phán tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp trong tác phẩm được trình bày một cách có hệ thống thành những đặc điểm lớn, những nét điển hình, thành “chính sách” (chính sách ngu dân), thành “chủ nghĩa” (chủ nghĩa giáo hội)…; trong đó, giá trị thực tiễn cụ thể và giá trị lý luận phổ biến đã kết hợp chặt chẽ với nhau, trên cơ sở đó đề cập và lý giải một cách khoa học những vấn đề cơ bản mà lịch sử nhân loại đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết Những lời kết án đanh thép qua ngòi bút sắc sảo của Hồ Chí Minh đã khiến thực dân Pháp vô cùng hoảng sợ tác phẩm sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến làn sóng cách mạng đang dâng lên khắp Việt Nam và nhiều thuộc địa khác Chúng tìm mọi cách tịch thu, cấm lưu hành, mong dập tắt ảnh hưởng cũng như sự tồn tại của tác phẩm Đồng thời với việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, Bản án chế độ thực dân Pháp chứa đựng một giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện qua sự đồng cảm của

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Văn Thủy (2010), Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Văn Thủy
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
2. Phạm Ngọc Anh (Chủ biên - 2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. Tuấn Anh, Thanh Thảo (Biên soạn - 2010), Luật cán bộ, công chức - chế độ mới về đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm, cán bộ công chức 2010, Nxb. Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật cán bộ, công chức - chế độ mới về đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm, cán bộ công chức 2010
Nhà XB: Nxb. Lao Động
4. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường chúng ta đi, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường chúng ta đi
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
5. Tần Xuân Bảo (2012), Đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý: kinh nghiệm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý: kinh nghiệm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Tần Xuân Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
6. Nguyễn Hữu Công (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Tác giả: Nguyễn Hữu Công
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
7. Nguyễn Văn Chỉnh (2000), Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Chỉnh
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2000
8. Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức trong thời kỳ mới (2010), Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức trong thời kỳ mới
Tác giả: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức trong thời kỳ mới
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 2010
9. Nguyễn Trọng Chuẩn (Chủ biên - 1991), Về sự phát triển của xã hội ta hiện nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự phát triển của xã hội ta hiện nay
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
10. Lương Minh Cừ - Nguyễn Trung Dũng (2014), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người
Tác giả: Lương Minh Cừ - Nguyễn Trung Dũng
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
11. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2014), Nxb. Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2014
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, T.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng, Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
17. Đỗ Minh Cương (2009), Quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
18. Phạm Như Cương (1998), Vấn đề xây dựng con người mới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng con người mới
Tác giả: Phạm Như Cương
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1998
19. Thành Duy (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. Thành Duy (2010), Một số vấn đề cơ bản về triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2010
21. Nguyễn Đức Đạt (2005), Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Đức Đạt
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w