1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về bình đẳng giới với việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho sinh viên ở thành phố hồ chí minh hiện nay

192 33 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng hồ chí minh về bình đẳng giới với việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho sinh viên ở thành phố hồ chí minh hiện nay
Tác giả Lê Hữu Sơn
Người hướng dẫn TS. Hà Trọng Thà
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 3,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Hồ Chí Minh, cách mạng chỉ thực sự thành công khi dân tộc được giải phóng, giai cấp được giải phóng và con người được giải phóng, trong đó phải giải phóng phụ nữ và đem lại sự bì

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



LÊ HỮU SƠN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

VỚI VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC

VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO SINH VIÊN

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



LÊ HỮU SƠN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

VỚI VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC

VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO SINH VIÊN

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ về đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới với việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho sinh viên

ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” do tôi độc lập nghiên cứu và hoàn thiện dưới sự hướng dẫn của TS Hà Trọng Thà

Tất cả những số liệu và nhận định trong luận văn hoàn toàn do tôi trực tiếp thu thập, phân tích và kết luận

Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Hữu Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 10

1.1 NGUỒN GỐC VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 10

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 10

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 20

1.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 43

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng gới trên lĩnh vực kinh tế 44

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới trên lĩnh vực chính trị 51

1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới trên lĩnh vực xã hội 61

1.2.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng 70

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 81

2.1 KHÁI QUÁT VỀ SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 81

2.1.1 Khái niệm sinh viên và những đặc điểm chung của sinh viên 81

2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh 83

2.2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 91

Trang 5

2.2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 91

2.2.2 Nhận thức của sinh viên về các khái niệm cơ bản 95

2.2.3 Thực trạng nhận thức của sinh viên với vấn đề bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh 97

2.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO SINH VIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 108

2.3.1 Đối với sinh viên 109

2.3.2 Đối với gia đình 112

2.3.3 Đối với nhà trường 115

2.3.4 Đối với Đảng, chính quyền và các đoàn thể xã hội 117

KẾT LUẬN 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHỤ LỤC 131

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2: Phiếu khảo sát 131

Bảng 2.1: Hệ số Cronbach‟s Alpha - Kiểm tra độ tin cậy của thang đo (từ câu C9 - C48) 135

Bảng 2.2: Số lượng và tỉ lệ sinh viên các trường 137

Bảng 2.3: Tỉ lệ giới tính trong mẫu nghiên cứu 137

Bảng 2.4: Về cơ cấu sinh viên theo hệ đào tạo 137

Bảng 2.5: Cơ cấu sinh viên theo năm học 137

Bảng 2.6: Về học lực của sinh viên 137

Bảng 2.7: Về nơi sinh sống của sinh viên 138

Bảng 2.8: Hiểu biết của sinh viên về khái niệm “giới tính” 138

Bảng 2.9: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa giới tính và nhận thức của sinh viên về khái niệm “giới tính” 138

Bảng 2.10: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa bậc đào tạo và nhận thức của sinh viên về khái niệm “giới tính” 139

Bảng 2.11: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa Trường và nhận thức của sinh viên về khái niệm “giới tính” 139

Bảng 2.12: Hiểu biết của sinh viên về khái niệm “giới” 140

Bảng 2.13: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa Trường và nhận thức của sinh viên về khái niệm “giới” 140

Bảng 2.14: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa sinh viên các năm và nhận thức của sinh viên về khái niệm “giới” 141

Bảng 2.15: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa giới tính và nhận thức của sinh viên về khái niệm “giới” 142

Bảng 2.16: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa bậc đào tạo và nhận thức của sinh viên về khái niệm “giới” 142

Trang 7

Bảng 2.17: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa học lực và nhận thức

của sinh viên về khái niệm “giới” 143

Bảng 2.18: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa học lực và nhận thức

của sinh viên về khái niệm “giới” 144

Bảng 2.19: Hiểu biết biết của sinh viên về khái niệm “bình đẳng giới” 144 Bảng 2.20: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa nhận thức khái niệm

giới tính và nhận thức của sinh viên về khái niệm “bình đẳng giới” 145

Bảng 2.21: Phép thử Chi-Square về mối quan hệ giữa nhận thức khái niệm

giới và nhận thức của sinh viên về khái niệm “bình đẳng giới” 146

Bảng 2.22: Nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới trên lĩnh vực kinh tế

theo tư tưởng Hồ Chí Minh 147

Bảng 2.23: Nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới trên lĩnh vực chính

trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh 147

Bảng 2.24: Nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới trên lĩnh vực

xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh 148

Bảng 2.25: Nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới trên lĩnh vực văn

hóa tư tưởng theo tư tưởng Hồ Chí Minh 149

Bảng 2.26: Đánh giá của sinh viên các trường với các nội dung bình đẳng

giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh 150

Bảng 2.27: Đánh giá của sinh viên các năm với các nội dung bình đẳng

giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh 155

Bảng 2.28: Đánh giá của sinh viên theo giới tính với các nội dung bình

đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh 161

Bảng 2.29: Đánh giá của sinh viên theo bậc đào tạo với các nội dung bình

đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh 165

Bảng 2.30: Đánh giá của sinh viên theo học lực với các nội dung bình đẳng

giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh 169

Trang 8

Bảng 2.31: Đánh giá của sinh viên theo hộ khẩu với các nội dung bình

đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh 173

Bảng 2.32: Đánh giá của sinh viên về vai trò của bình đẳng giới đối với sự

tiến bộ của xã hội 181

Bảng 2.33: Quan điểm của sinh viên về nhiệm vụ thực hiện bình đẳng

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Các yếu tố tác động đến việc hình thành kiến thức về bình

đẳng giới của sinh viên 183

Biểu đồ 2.2: Hiểu biết của sinh viên về Luật Bình đẳng giới 183

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã cống hiến và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng vì độc lập, tự do của dân tộc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mọi người Người luôn dành tất cả tình yêu bao la cho đồng bào, đồng chí… Trong đó,

Hồ Chí Minh dành tình cảm lớn lao cho nữ giới, những người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội do chế độ phong kiến, sự thống trị của tư tưởng Nho gia và sự áp bức, bóc lột của giặc ngoại xâm Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người hiểu rõ rằng: Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ là người bị áp bức, chịu đau khổ và thiệt thòi nhiều nhất Người phụ nữ không được coi trọng, họ chỉ là thứ yếu: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, “Thân anh như cái hoa sen; thân em như cái bèo hèn trong ao”…

Có thể thấy, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ con người và cũng trở lại về với con người Đối với Hồ Chí Minh, cách mạng chỉ thực sự thành công khi dân tộc được giải phóng, giai cấp được giải phóng và con người được giải phóng, trong đó phải giải phóng phụ nữ và đem lại sự bình đẳng cho nữ giới Theo Hồ Chí Minh, vai trò của người phụ

nữ rất quan trọng, dù họ là người nông dân hay họ là nhà trí thức, họ là nhà khoa học, hay kỹ sư…, đều bình đẳng như nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống; dù công việc nặng hay nhẹ, người phụ nữ đều là chiến sĩ trên mọi mặt trận Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ

nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [50, tr.432] Do vậy, Người nói: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội Nếu không giải phóng

Trang 11

phụ nữ là không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ

nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [53, tr.531]

Người nhận thấy, chức năng đặc biệt của người phụ nữ là tái sản xuất sức lao động cho xã hội, thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ, có vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy và giáo dục con cái và có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của gia đình và sự tồn vong, phát triển của xã hội Trong cách mạng giải phóng dân tộc, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng, vừa tham gia tiền tuyến vừa là hậu phương vững chắc Do đó, Người đề ra nhiệm vụ cho Đảng và Nhà nước ta phải chăm lo giải phóng phụ

nữ, phải thực hiện nam nữ bình quyền, như vậy mới có thể phát huy dân chủ, phát huy hết sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc

Ngày nay, với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là

sự ra đời Luật Bình đẳng giới năm 2006 đã tạo cơ hội rất lớn để thực hiện nam nữ bình quyền, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng và văn minh Cùng với xu thế hội nhập thế giới, người phụ nữ càng có điều kiện thể hiện tốt vai trò cụ thể của mình trong gia đình và ngoài xã hội Tuy vậy, do ảnh hưởng hệ

tư tưởng phong kiến tồn tại hàng ngàn năm và sự chi phối của Nho giáo trong đời sống nhân dân nước ta nên trong nhận thức và hành động của nhiều người vẫn còn tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “nữ sinh ngoại tộc”… Do vậy, để phát triển xã hội thì việc thực hiện bình đẳng giới là yêu cầu tất yếu Nhưng đây không phải là vấn đơn giản, thực hiện một sớm một chiều là có thể thực hiện được mà là việc thay đổi nhận thức, tư tưởng đòi hỏi phải có thời gian, sự kiên trì và chiến lược thực hiện hiệu quả Đồng thời đây cũng là công việc của toàn Đảng và toàn dân ta, nhất

là đối với tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên - những người có học thức, có trình độ Đây là lực lượng quan trọng, đi đầu trong việc thực hiện bình đẳng giới và lan tỏa đến các thành phần xã hội khác để xây dựng một xã hội tiến bộ

Trang 12

hơn, văn minh hơn Bình đẳng giới bắt đầu từ nhận thức, nhận thức đúng mới

có thái độ đúng và hành động đúng Tuy nhiên, việc nhận thức về bình đẳng giới trong sinh viên hiện nay còn hạn chế hoặc chưa biết, hoặc chưa quan tâm đúng mức, hoặc nhận thức chưa đầy đủ, hoặc cho rằng bất bình đẳng giới là điều đương nhiên… Chính vì thế, nhằm có đánh giá về nhận thức của sinh viên đối với vấn đề này, từ đó đưa ra các biện pháp để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, thay đổi thái độ và hành vi đối với vấn đề bình đẳng giới của

sinh viên, tác giả thực hiện đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng

giới với việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm luận văn thạc sĩ

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề bình đẳng giới từ lâu đã được nhiều nhà tư tưởng và các tác giả quan tâm nghiên cứu và được đề cập rất sớm trong nhiều tác phẩm dưới góc độ xem xét là bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ Có thể phân chia các công trình thành các nhóm như sau:

Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về vai trò người phụ nữ và bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ nói chung

Tác giả Dương Thoa với tác phẩm “Ba cuộc cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ” (1976), do nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội ấn hành Tác

phẩm đề cập đến: Một là, vai trò của ba cuộc cách mạng (cách mạng về

quan hệ sản xuất; cách mạng khoa học kỹ thuật; cách mạng văn hóa và tư tưởng, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt) đối với vấn đề

giải phóng phụ nữ ở nước ta Hai là, vai trò của phụ nữ Việt Nam trong ba cuộc cách mạng ấy và vấn đề xây dựng người phụ nữ xã hội chủ nghĩa Ba

là, thực hiện thành công ba cuộc cách mạng là con đường duy nhất để giải

phóng hoàn toàn phụ nữ, đem lại sự bình đẳng toàn diện cho người phụ nữ với nam giới và sánh ngang với phụ nữ các nước tiên tiến

Trang 13

Tác phẩm “Vấn đề giải phóng phụ nữ” (1976), do nhà xuất bản Sự thật,

Hà Nội ấn hành Tác phẩm đề cập đến: Một là, vai trò và vị trí của người phụ

nữ trong xã hội Hai là, sự nghiệp giải phóng phụ nữ gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Ba là, con đường giải phóng triệt để

phụ nữ là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Công trình nghiên cứu “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” (1973) của Giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết Công trình đã làm nổi bật vai trò phụ nữ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, từ buổi đầu dựng nước đến năm 1968

Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về vai trò của phụ nữ trong gia đình như: “Phụ nữ giới và phát triển” (1996) của tác giả Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng; “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam” (1998) của giáo sư Lê Thi Hai công trình trên đều phản ánh những thay đổi về vai trò của phụ nữ trong gia đình và bước đầu đã có một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong công cuộc đổi mới

Nhìn chung, nhóm công trình nghiên cứu về vai trò người phụ nữ và bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ nói chung đã đưa ra hệ thống lý luận chung về vai trò, vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội Đồng thời chỉ

ra con đường để giải phóng phụ nữ trên cấp độ vĩ mô và bước đầu đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ

Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ, về bình đẳng giới

Tác giả Dương Thoa với tác phẩm “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam” (1982), do nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành Tác phẩm đề cập chủ yếu đến quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng phụ nữ là con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Bên cạnh đó, tác phẩm còn

Trang 14

bàn đến đường lối vận động phụ nữ; đạo đức của người phụ nữ mới trong xã

hội xã hội chủ nghĩa

Tác phẩm “Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ” (2010) của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung, do nhà xuất bản Dân Trí

ấn hành Tác phẩm đề cập đến các quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn

đề: Một là, cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ Hai

là, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ nữ Ba là, tăng cường bình đẳng giới

và nâng cao vị thế năng lực cho phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh Bốn là,

những tác phẩm của Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng phụ nữ

Tác phẩm “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ” (1990),

do Trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ thuộc Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Phụ nữ thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xuất bản nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh Công trình này gồm nhiều bài nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập

đến các vấn đề: Một là, hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ trong hoạt động sản xuất và lao động trong gia đình Hai là, mục tiêu của cách mạng là giành quyền bình đẳng cho phụ nữ Ba là, vai trò của người phụ nữ trong gia đình Bốn là, vấn đề bình đẳng giới là vấn

đề tự thân của người phụ nữ

Tác giả Trần Đương với tác phẩm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ” (2005), do nhà xuất bản Thông Tấn ấn hành Toàn bộ tác phẩm là những bài nói, bài viết thể hiện tấm lòng kính yêu, lòng biết ơn sâu sắc của phụ nữ nước ta và quốc tế đối với Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, tác phẩm còn

có biên niên sự kiện gắn với sự nghiệp giải phóng phụ nữ của Hồ Chí Minh Tác phẩm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự tiến bộ của phụ nữ” (2008) của tác giả Phạm Hoàng Điệp, do nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin ấn hành Tác

phẩm đã đề cập đến những nhận định của Hồ Chí Minh về các vấn đề: Một là,

Trang 15

vị trí và những đóng góp của phụ nữ trong lịch sử dân tộc Hai là, sự quan tâm

của Hồ Chí Minh đến việc xác lập, bảo đảm cho quyền bình đẳng và tiến bộ

của phụ nữ Ba là, sự cảm thông sâu sắc của Hồ Chí Minh với những khổ đau của phụ nữ trong xã hội cũ Bốn là, chỉ rõ sự nghiệp giải phóng phụ nữ là mục

tiêu, yêu cầu của cách mạng Việt Nam

Tác phẩm “Bác Hồ với sự tiến bộ của phụ nữ” (2008) của nhiều tác giả,

do nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành Tác phẩm bàn về các vấn đề: Một là, các phong trào bình quyền cho phụ nữ Việt Nam Hai là, phụ nữ Việt Nam điều kiện xã hội Ba là, quyền phụ nữ Việt Nam

Các công trình này đã nghiên cứu quan điểm của Hồ Chính Minh về vai trò của người phụ nữ trong lịch sử dân tộc, sự quan tâm của Người đến việc xác lập quyền bình đẳng của phụ nữ và quan điểm về giải phóng phụ nữ Hồ Chí Minh chỉ rõ mục tiêu của cách mạng là giải phóng phụ nữ, đem lại quyền bình đẳng cho phụ nữ và chỉ rõ phụ nữ là người có nhiệm vụ chính trong cuộc đấu tranh đem lại quyền bình đẳng cho chính mình

Thứ 3, nhóm công trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới, về giải phóng phụ nữ

Luận văn thạc sĩ “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ” (2010) của tác giả Lê Ngọc Dũng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã chỉ ra những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, điều kiện để thực hiện giải phóng phụ nữ, thực trạng và giải pháp để phát huy sức mạnh của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

Luận văn thạc sĩ “Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ trong thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến 2013)” (2014) của tác giả Mai Quốc Dũng, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã đề cập đến những nội

Trang 16

dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải phóng phụ nữ, thành tựu, hạn chế

và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải phóng phụ nữ

Nhóm công trình này đã chỉ ra những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, căn cứ vào những số liệu từ các báo cáo để phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế và đưa ra giải pháp nhằm phát huy sức mạnh của người phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, song song với việc nâng cao hiệu quả công tác giải phóng phụ nữ ở nước ta hiện nay

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở trên chỉ nghiên cứu về lý luận,

sử dụng số liệu từ các nguồn sẵn có và đưa ra các biện pháp mang tính tổng quát, vĩ mô về vấn đề giải phóng phụ nữ, bình đẳng giới Các công trình chưa

hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới Tuy vậy, các công trình nghiên cứu kể trên là những tư liệu, tiền đề để tác giả nghiên cứu sâu hơn nội dung về bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh Khi xem xét các công trình nghiên cứu ở trên, chưa có công trình nào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới dưới góc độ triết học và cũng chưa có công trình nào thực hiện điều tra xã hội học để lấy số liệu thực tế và đưa ra giải pháp cụ thể cho một đối tượng cụ thể nhằm giúp đối tượng đó nâng cao nhận thức về bình đẳng giới Do vậy, tác giả đã thực hiện luận văn này với nhiệm vụ hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới và khảo sát thực trạng nhận thức của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh về bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao nhận thức trong sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh về bình đẳng giới, nhằm lan tỏa nhận thức về vấn đề bình đẳng giới đến các đối tượng khác trong xã hội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trang 17

Dưới góc độ triết học, luận văn làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới và đánh giá nhận thức của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay về bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới đối với sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích đề ra, tác giả luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, khái lược bối cảnh lịch sử - xã hội và nguồn gốc hình thành

tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Thứ hai, phân tích một cách có hệ thống những nội dung cơ bản trong

tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Thứ ba, đánh giá nhận thức của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh

về bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ tư, đề ra các biện pháp để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới

cho sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc trên nhiều lĩnh vực Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ tập trung làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới, từ đó làm rõ tư tưởng nhận thức của sinh viên về vấn đề này và đề ra các biện pháp

để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Đề tài có đối tượng khảo sát là sinh viên ở một số trường đại học, cao đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Hoa Sen, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Về các phương pháp cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp như: phương pháp logic và lịch sử; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích và tổng hợp và phương pháp điều tra xã hội học…

6 Ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và

tư tưởng của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới, về giải phóng phụ nữ nói riêng, khẳng định giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới Đồng thời, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn góp phần xây dựng cơ sở

lý luận vững chắc cho việc thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Với kết quả nghiên cứu tình hình nhận thức của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay về bình đẳng giới, luận văn góp phần cung cấp

cơ sở thực tiễn, giải pháp cho việc giáo dục, nâng cao nhận thức cho sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và sinh viên cả nước nói chung về bình đẳng giới góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Bên cạnh đó, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy về gia đình, về giới trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các trường đào tạo cán bộ nữ ở nước ta

7 Kết cấu cơ bản của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 2 chương, 5 tiết

Trang 19

Chương 1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG

Trong hoàn cảnh đó, phong trào đấu tranh của công nhân nói chung và phong trào đấu tranh của phụ nữ nói riêng đã diễn ra quyết liệt với quy mô rộng lớn Vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có sự xuất hiện của nhiều tổ chức phụ nữ Sớm nhất là Hội đồng Quốc tế của Phụ nữ, thành lập năm 1888

Trang 20

với mục đích tập hợp tất cả các tổ chức Phụ nữ ở các nước để đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, quyền tham gia vào đời sống chính trị - xã hội Lúc đầu các

tổ chức này chỉ có ở Tây Âu và Bắc Mỹ, dần dần lan ra các vùng khác Ở Châu Á, phụ nữ Ấn Độ đứng lên chống bọn thống trị Anh Phụ nữ Trung Quốc tham gia cách mạng năm 1912 Phụ nữ Triều Tiên chiến đấu cho độc lập của tổ quốc Phụ nữ Nhật Bản đòi chính phủ họ xóa bỏ đạo luật cấm phụ

nữ tham gia sinh hoạt chính trị… Từ đó, đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí, tư tưởng của giai cấp công nhân

để lãnh đạo cuộc đấu tranh tới thắng lợi cuối cùng Chủ nghĩa Mác ra đời

vào giữa thế kỷ XIX đánh dấu bằng “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” (1848)

đáp ứng yêu cầu đó Chủ nghĩa Mác là lời tuyên bố với giai cấp tư sản và nhân dân toàn thế giới về mục tiêu, sứ mạng, tính chất, nhiệm vụ của giai cấp

vô sản là đấu tranh chống lại áp bức bất công, lật đổ giai cấp tư sản, giải phóng con người đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, trong đó có phụ nữ

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi đã cổ vũ mạnh

mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời của nhiều Đảng cộng sản của

các nước trên thế giới Trong bài viết Lênin và các dân tộc Phương Đông,

Hồ Chí Minh đã viết: “Lênin không những chỉ giải phóng nam giới và nữ giới trên đất nước Tiên sinh, mà còn chỉ đường cho tất cả những người nghèo khổ trên thế giới Và bất chấp bọn bạch vệ tấn công ở bên trong, bọn

tư bản bao vây bên ngoài, ý chí kiên cường của Lênin đã cứu đồng bào của Tiên sinh ra khỏi cảnh đau khổ và lầm than, và đã nêu cao ngọn cờ của Quốc

tế cho tất cả những người bị áp bức” [45, tr.297] Hồ Chí Minh đánh giá về Cách mạng Tháng Mười Nga: “Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cơ sở của quyền tự do chân chính và quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài

Trang 21

người Chính nhờ cuộc cách mạng này mà sự giải phóng phụ nữ sẽ có giá trị

và có những ý nghĩa đầy đủ, trọn vẹn” [46, tr.6]

Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế 3) được thành lập Với khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại”, Quốc tế Cộng sản đã mang lại sức mạnh lớn lao - sức mạnh của đoàn kết cho

sự nghiệp cách mạng vô sản và giải phóng dân tộc trên thế giới Quốc tế Cộng sản cũng đã hậu thuẫn vững chắc cho cách mạng Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác nhằm không chỉ thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc,

tự do cho nhân dân, tiến bộ xã hội mà còn nhằm thực hiện “nam nữ bình quyền” [45, tr.1]

Thứ hai, tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Tháng 6 năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Patơnốt, từ đó Pháp thiết lập sự thống trị ở toàn Việt Nam, biến nước ta thành nước thuộc địa nửa phong kiến Khi đặt chân đến nước ta, thực dân Pháp áp đặt sự thống trị và tiến hành khai thác thuộc địa để làm giàu cho chính quốc, cụ thể:

Về chính trị - xã hội, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp

ở Đông Dương Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù , đàn áp, khủng bố mọi sự chống đối, thủ tiêu mọi quyền dân chủ; dùng chính sách

“chia để trị”, chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau Với chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, thực dân Pháp duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp địa chủ làm công cụ tay sai để áp bức về chính trị và bóc lột kinh tế Nhân dân ta mất nước, trở thành nô lệ, bị áp bức, bóc lột, cuộc sống vô cùng khổ cực Riêng đối với người phụ nữ, họ không chỉ chịu khổ cực về thể chất mà còn mang những nỗi ô nhục, những đau khổ

Trang 22

về tinh thần, Hồ Chí Minh đã tố cáo trong Bản án chế độ thực dân Pháp:

“Người ta thường nói: “Chế độ thực dân là ăn cướp” Chúng tôi xin nói thêm: là hiếp dâm và giết người” [46, tr.115]

Về kinh tế, thực dân Pháp tăng cường bóc lột, khai thác, vơ vét tại các thuộc địa, đáng chú ý chúng đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương: lần thứ nhất (1897 - 1914); lần thứ hai (1919 - 1929), trong đó lấy Việt Nam là trọng điểm Tư bản Pháp đầu tư nhiều nhất vào nông nghiệp (lập các đồn điền cao su, cà phê, chè ) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng ) để thu lợi nhuận nhiều và nhanh Tư bản Pháp xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi Kết quả là nền kinh tế nước ta có

sự phát triển mức độ nào đó theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng là nền kinh

tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp Đời sống nhân dân dưới sự bóc lột của thực dân phong kiến đã cơ cực lại càng cơ cực hơn, đặc biệt đời sống của người phụ nữ đã bần cùng nay lại càng bần cùng hơn

Về văn hóa, để dễ dàng cho việc cai trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch văn hóa; xóa bỏ hệ thống giáo dục phong kiến, thay bằng chế

độ giáo dục thực dân hạn chế Pháp mở nhà tù, trại giam nhiều hơn trường học; khuyến khích các hoạt động mê tín, các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, hạn chế xuất bản sách báo, bưng bít thông tin, gây tâm lý tự ti dân tộc Trong lần nói chuyện với nhà báo Ôxíp Manđenxtam, Hồ Chí Minh nói: “Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm” [45, tr.476] Kết quả là hơn 90% nhân dân ta bị mù chữ, bị bưng bít mọi thông tin tiến bộ từ bên ngoài, trong đó nữ giới chiếm tỉ lệ lớn Người phụ nữ trước đây đã bị chế độ

Trang 23

phong kiến dồn ép đến đáy của xã hội thì nay cộng với chính sách “ngu dân” của chế độ thực dân thì họ lại là đối tượng chịu nhiều ảnh hưởng nhất

Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có sự phân hóa

về giai cấp Bên cạnh các giai cấp “truyền thống” như giai cấp địa chủ, nông dân còn có sự xuất hiện các giai cấp mới đó là giai cấp tư sản, giai cấp công nhân và tầng lớp tiểu tư sản Hầu hết trong các giai cấp, có không ít phụ nữ mang trong mình tinh thần dân tộc, dân chủ, có thể tham gia cách mạng

Xã hội Việt Nam thời kỳ này nổi lên hai mâu thuẫn hàng đầu: Thứ nhất

là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp Thứ hai là, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, đa số là nông dân với địa chủ phong kiến Người phụ nữ Việt Nam không nằm ngoài những mâu thuẫn đó

Cuộc sống nhân dân Việt Nam dưới chế độ thực dân nửa phong kiến

được Hồ Chí Minh trình bày chi tiết trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân

Pháp Đối với người phụ nữ, Nguyễn Ái Quốc đã dành nguyên một chương

(Chương XI) để mô tả về “Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ” Người

đã nêu sự thật về việc xâm phạm thô bạo các quyền cơ bản của con người, về những áp bức, bóc lột, bất công, tủi nhục mà người phụ nữ Việt Nam phải gánh chịu Người nhận định: “Dưới chế độ thực dân phong kiến, nhân dân ta

bị áp bức và bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức và bóc lột nặng nề hơn” [55, tr.256] “Trong xã hội và gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng một chút quyền lợi gì” [45, tr.448]

Trước cảnh nước mất nhà tan, quyền sống của nhân dân bị bóp nghẹt, nhân phẩm bị chà đạp, các phong trào yêu nước diễn ra mạnh mẽ, tiêu biểu với phong trào Cần Vương (1885 - 1896) do vua Hàm Nghi phát động với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa vũ trang Trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896) do Phan Đình Phùng lãnh đạo; cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1885 - 1886) do Phạm Bành và Đinh Công Tráng tổ chức;

Trang 24

cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 - 1892) do Nguyễn Thiện Thuật đứng đầu Kéo dài và quyết liệt nhất là phong trào nông dân Yên Thế (1884 - 1913) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Ngoài ra còn có phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu, cải cách dân chủ của Phan Châu Trinh… Trong những phong trào

ấy luôn có đông đảo phụ nữ tham gia Tuy nhiên, các phong trào yêu nước

đó đều bị thất bại theo những cách khác nhau Con đường cứu nước lâm vào tình thế khó khăn, bế tắc Nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh trên đều là chưa có một đường lối đúng đắn, chưa xác định được mục tiêu, nhiệm

vụ, chưa tìm được lực lượng tiên tiến đủ sức tập hợp các lực lượng cách mạng và sự yếu thế của các giai cấp cách mạng Việt Nam khi phải đối chọi với hai kẻ thù cùng lúc là thực dân và phong kiến Trước tình hình rối ren,

mờ mịt của đất nước, nhiệm vụ đặt ra cho mỗi người dân Việt Nam là phải làm sao tìm ra được con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng con người nói chung và người phụ nữ nói riêng khỏi ách đô hộ của đế quốc

và tay sai của chúng

Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh xuất hiện như vị cứu tinh của dân tộc Sinh ra tại quê hương Nam Đàn, Nghệ An - nơi có truyền thống yêu nước và cách mạng, với tư chất thông minh cùng với ý chí học tập không ngừng, Hồ Chí Minh đã xác định nhiệm vụ lịch sử của dân tộc Dù rất khâm phục tình yêu nước của các bậc tiền bối là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… nhưng Hồ Chí Minh không đồng tình với con đường cứu nước của

họ mà với đôi bàn tay trắng Người đã tự đi tìm con đường cứu nước đúng đắn của riêng mình Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với tên gọi là Anh Ba đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước Trong quá trình bôn

ba khắp năm châu bốn biển, Nguyễn Ái Quốc bắt gặp bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” Từ đây, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cách mạng dân tộc đúng đắn, phù hợp với tình

Trang 25

hình thực tiễn cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới Được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng, phụ nữ Việt Nam chung tay góp sức cùng dân tộc đứng lên thực hiện cuộc trường chinh cách mạng đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Từ thực tế đó, Hồ Chí Minh đã thấy được vai trò

to lớn của phụ nữ đối với cách mạng Việt Nam

Thứ ba, truyền thống gia đình của Hồ Chí Minh

Trong tiến trình vận động và phát triển của mỗi quốc gia, gia đình luôn

có một vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hóa và tiếp thêm sức mạnh cho mỗi con người Gia đình là nơi tiếp nhận,

kế thừa và chuyển giao những giá trị truyền thống của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, thương yêu nhau trong cộng đồng, sự say mê trong lao động, sáng tạo, ý chí kiên trì nhẫn nại vượt qua mọi khó khăn, thử thách; lòng chung thủy, hiếu nghĩa đã được truyền dạy trong gia đình và cộng đồng từ thời tổ tiên ông bà cho tới đời cháu con trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Với đặc trưng của nền văn minh lúa nước nên xã hội Việt Nam được tạo ra chủ yếu bởi ba yếu tố có

quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau: nhà, làng, nước Bản chất của kết cấu xã

hội này là sự hình thành tư tưởng cộng đồng, yêu thương, đoàn kết, đùm bọc, hòa hợp với nhau; là sự gắn kết giữa cá nhân và tập thể, giữa cái riêng và cái chung để chống chọi với thiên tai và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc Chính điều này đã thâm nhập vào Nguyễn Sinh Cung - Hồ Chí Minh, trở thành một trong những hành trang để Người mang theo mình lúc ra đi tìm chân lý cách mạng cũng như gắn liền với toàn

bộ sự nghiệp hoạt động của Người khi ở trong nước cũng như ở nước ngoài

Trang 26

Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, trong một gia đình nhà Nho giàu lòng yêu nước, mọi người trong gia đình sống hòa thuận, êm ấm, kính trên, nhường dưới, luôn quan tâm và thương yêu lẫn nhau Gia đình chính là chiếc nôi đầu tiên nuôi dưỡng và phát triển những tư chất, cốt cách của Hồ Chí Minh Trong đó thân mẫu Hoàng Thị Loan, người chị gái Nguyễn Thị Thanh và người bà, người dì đã có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của Hồ Chí Minh, đặc biệt là những tư tưởng của Người về phụ nữ, và giải phóng phụ nữ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ có sự ảnh hưởng rất lớn từ người mẹ nhân từ và hiền hậu là bà Hoàng Thị Loan Bà sinh năm 1868 trong một gia đình Nho học Cả hai gia đình nội, ngoại của bà Hoàng Thị Loan đều giàu lòng thương người, trọng nghĩa khí, có cách nhìn tân tiến trong cuộc sống, vượt ra ngoài sự ràng buộc lễ giáo phong kiến đương thời Bà lớn lên ở Nam Đàn - một vùng quê giàu truyền thống yêu nước, và nổi tiếng với các thuần phong mỹ tục với nền văn hóa truyền thống lâu đời Đặc biệt, đây là quê hương của những làn điệu dân ca ví dặm trữ trình, của hát phường vải nên bà

đã sớm có vốn sống, vốn văn học dân gian phong phú Bà kết hôn với ông Nguyễn Sinh Sắc, một người mồ côi cả cha lẫn mẹ Bà đã chấp nhận cuộc sống vất vả, khó khăn về vật chất để chồng được hun đúc tài năng Bà đã sinh hạ được 4 người con và có một cuộc sống tình cảm vô cùng đẹp đẽ với chồng con Nhờ có Bà động viên, khuyến khích, ông Nguyễn Sinh Sắc yên tâm dùi mài kinh sử và không phụ công Bà, ông đã đỗ đạt thành danh Do hoàn cảnh gia đình quá chật vật, khó khăn và nhất là với tấm lòng cao đẹp của người mẹ không muốn con mình quá thiếu thốn, với quyết tâm của người

vợ không muốn chồng mình phải ngừng học tập vì miếng cơm, manh áo, bà

đã lao động cật lực Bằng lao động, bằng cả tấm lòng yêu chồng, thương con,

Bà đã hy sinh tất cả vì chồng con và chính Bà đã vun đắp nên cuộc đời và sự

Trang 27

nghiệp đẹp đẽ của họ Nhưng cũng vì lao động quá sức, đời sống ngặt nghèo, thiếu thốn nên Bà đã lâm bệnh nặng và qua đời ở tuổi 33 để lại niềm thương tiếc vô hạn cho gia đình, người thân, bà con lối xóm

Bà Hoàng Thị Loan đã có tác động tích cực đến các con bằng tính tình giản dị, khiêm tốn, đức hy sinh, chung thủy, yêu đời, yêu nước Bà đã giáo dục con ngay từ thuở trong nôi qua những lời ru bằng làn điệu dân ca xứ Nghệ, bằng từ ngữ, ca dao, câu ví như: “Làm người đói sạch, rách thơm Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền” hay: “Mấy lâu buôn bán nuôi ai

Mà áo em rách, mà vai em mòn; Mấy lâu buôn bán nuôi con Áo rách mặc

áo, vai mòn mặc vai”… Không chỉ hy sinh vì chồng con, người phụ nữ trong

ca dao, tục ngữ, trong câu ví dặm cũng mong muốn có quyền bình đẳng và

họ sẵn sàng đứng lên đấu tranh để dành lấy quyền mà chế độ phong kiến đã cướp: “Đói cơm thì em ăn rau Tội gì làm mọn nằm sau lưng chồng”, “Đói

cơm thì ăn rau khoai Tội gì làm mọn cho ai dày bừa” Có những người phụ

nữ mạnh mẽ, không cam chịu thân phận, tự xưng danh họ để thể hiện bản lĩnh của mình: “Gái này là gái Đô Lương Gái buôn nải tấm, gái lường vải

con Gái này là gái chả non Gái lường chợ Điếm, gái buôn chợ Dừa” Thông

qua lời ca, tiếng hát, câu ví, Bà đã truyền thụ cho con những hiểu biết ban đầu về cuộc sống, về con người, nhất là quyền bình đẳng đối phụ nữ Đồng thời, Bà dạy con biết yêu lao động, biết làm những việc phù hợp với sức lực

và lứa tuổi một cách say mê, chịu khó, sáng tạo Bà đã tập cho con những việc tốt và thực tế đã trở thành nếp sống quen thuộc hàng ngày của cậu bé Nguyễn Sinh Cung

Bà Hoàng Thị Loan đã ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh bằng nền văn hóa dân gian truyền thống, mang đậm bản sắc địa phương, phản ánh trung thực những khát vọng, ý nguyện và phẩm chất của tầng lớp lao động bình dân Bà nêu gương sáng cho các con học tập về nhân cách đạo đức Ở đâu Bà cũng

Trang 28

thể hiện một lối sống trong sáng, có tình, có nghĩa, được mọi người yêu mến

và kính trọng Bằng tấm lòng và sự mẫn cảm của người mẹ, Bà đã vun trồng, uốn nắn, dạy dỗ các con bài học đầu tiên về cách sống, về đạo lý ở đời và làm người Vì vậy, những người con của bà, trong đó có Hồ Chí Minh từ thuở thơ ấu đã biết nói lời hay làm việc tốt, biết kính trên nhường dưới, sống chan hòa với bạn bè, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết yêu thương mọi người, thôi thúc hành động để đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người nói chung và người phụ nữ nói riêng

Nguyễn Thị Thanh là người chị cả, sinh năm 1884, tên thật là Nguyễn Thị Bạch Liên, có hiệu khác là Bạch Liên nữ sĩ Bà hoạt động tích cực chống Pháp dưới ngọn cờ yêu nước của chí sĩ Phan Bội Châu Bà là người giàu tình thương người, giàu lòng yêu nước và rất gan dạ, dũng cảm Năm 1918, bà Nguyễn Thị Thanh phối hợp với Nguyễn Kiên tổ chức lấy trộm súng trong doanh trại lính khố xanh đóng tại thành phố Vinh Bà bị bắt và bị tra tấn dã man Mọi ngón đòn tra tấn, đánh đập, bà chỉ nhận về mình, không khai bất

kỳ chi tiết nào liên quan đến đồng chí mình Năm 1918, Nguyễn Thị Thanh

bị đày vào giam tại nhà lao Quảng Ngãi Án sát tỉnh Quảng Ngãi lúc đó

là Phạm Bá Phổ có người vợ bị bệnh đau ở vú không cho con bú được dù đã được cố gắng cứu chữa Thương người phụ nữ bị bệnh, bà Nguyễn Thị Thanh đã cứu giúp, ít ngày sau bệnh khỏi, dòng sữa con bú được phục hồi Chính điều này đã làm Phạm Bá Phổ rất nể trọng bà Những năm kháng chiến chống Pháp, bà tham gia Hội mẹ chiến sĩ ở quê, bốc thuốc nam chữa bệnh cứu người cho đến lúc đi xa Chính những hoạt động cách mạng tích cực và tấm lòng yêu nước, thương người của bà Nguyễn Thị Thanh đã thôi thúc Hồ Chí Minh suy nghĩ và hành động Người luôn đau đáu suy nghĩ mình phải làm sao để trước hết giúp người mẹ, người chị của mình đỡ vất vã,

đỡ phải chịu hi sinh mất mát, sau nữa là giúp đồng bào ta

Trang 29

Bên cạnh người mẹ, người chị những người có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới việc nuôi dưỡng, hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh thì bà ngoại, người dì của Người bằng tấm gương và lời ru, điều dạy đã hun đúc nên con người Hồ Chí Minh

Những hình ảnh, tấm gương, cuộc sống của người bà, người mẹ, người chị và những người phụ nữ thân thuộc đã ảnh hưởng rất lớn đến tính cách, con người Hồ Chí Minh Trong xã hội lúc bấy giờ, những thành quả lao động, hoạt động tích cực của người phụ nữ nói chung và những người phụ

nữ thân thuộc với Người nói riêng đều không được xã hội coi trọng và bị giặc Pháp cướp hết Nhưng họ vẫn sống cuộc sống chan hòa, đạo lý, vẫn miệt mài đấu tranh vì lẽ phải cho chính bản thân mình và cho bao người khác Hồ Chí Minh đã thấy được ý chí đấu tranh, tự cường của người phụ nữ

từ những người thân yêu của mình Điều đó đã giúp Người thêm khẳng định vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội và sức chiến đấu của họ với công cuộc giải phóng đất nước và cải tạo xã hội Đó là một trong những yếu tố góp phần hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới và con đường để thực hiện bình đẳng giới đem tới tiến bộ cho xã hội

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Thứ nhất, truyền thống tư tưởng và văn hóa Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Những giá trí đó góp phần hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Một là, chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước

Trang 30

Dân tộc ta trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc lên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Tinh thần yêu nước ấy đã trở thành đạo

lý, lẽ sống cho mỗi người dân Việt Nam Khi Tổ quốc lâm nguy thì tinh thần

ấy đã cố kết toàn dân tạo nên sức mạnh to lớn đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra chân lý: “Dân ta

có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” [50, tr.171] Trong những năm tháng ác liệt của lịch sử, mỗi khi đất nước bị xâm lăng, chính lòng yêu nước, tinh thần bất khuất ấy trở thành ý chí kiên cường, dũng cảm, thôi thúc mỗi người hành động Tục ngữ Việt Nam có câu “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Lịch sử dân tộc đã có những tấm gương yêu nước lẫm liệt của cha ông từ buổi đầu dựng nước, chống lại sự xâm lược liên tục, tàn bạo của bọn phong kiến phương Bắc, như Phù Đổng, An Dương Vương, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Không chỉ có đàn ông mà đàn bà, phụ nữ cũng góp sức vào quá trình dựng nước và giữ nước tiêu biểu là “Bà Trưng, Bà Triệu ra tay khôi phục giang san” [47, tr.216] Hai bà đã làm rạng danh phụ nữ Việt Nam:

“Phấn son tô điểm sơn hà Làm cho tỏ mặt đàn bà Việt Nam” Các Bà đã không khuất phục trước giặc phương Bắc, đứng lên chống xâm lăng bảo vệ

bờ cõi nước Nam Nối tiếp những thế hệ sau đó là tên tuổi những người phụ

nữ gắn liền với chiều dài lịch sử dân tộc như Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan, Công chúa Ngọc Hân… Ở mỗi thời kỳ trong lịch sử đấu tranh của dân tộc luôn thấy hình dáng người phụ nữ

Tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước đó là truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, nhân dân ta Chính điều đó

Trang 31

đã làm nên sức mạnh, làm nên lịch sử hào hùng của một dân tộc đất không rộng người không đông nhưng vẫn chiến đấu ngoan cường vì độc lập, tự do

của Tổ quốc, để đất nước sánh vai cùng với các quốc gia khác Trong Bình

Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã dõng dạc tuyên bố: Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần;

bao đời xây nền độc lập; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng

cứ một phương

Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam mang tính cố kết cộng đồng ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho Nguyễn Ái Quốc vượt lên mọi khó khăn, thử thách tìm được con đường giải phóng dân tộc Trong lần trả lời nhà văn Mỹ Anna Luyxơtơrông vào tháng 5 năm 1965, Người nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai

sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi” [38, tr.25-26] Người còn nói: Sau khi xem xét nước Pháp và các nước khác, tôi sẽ về để giúp đồng bào mình Với hành trang là lòng yêu nước và đôi bàn tay lao động nhưng với quyết tâm và nghị lực phi thường, Hồ Chí Minh đã vượt qua tất cả Từ anh phụ bếp Văn Ba trên tàu Pháp, đến anh quét tuyết trên đường phố Luân Đôn, từ Á sang Âu, từ Mỹ sang Phi, từ nhà lao này đến nhà tù khác, trải nghiệm, học tập và hoạt động cách mạng khổ cực vẫn không làm Người chùn bước Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, ý chí bất khuất của dân tộc Việt Nam đã trở thành động lực, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành động trong suốt cuộc đời của Hồ Chí Minh, là cơ sở đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là kim chỉ nam của mọi hành động để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc Người nói: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [54, tr.128] Khi Nguyễn Ái Quốc tìm được con

Trang 32

đường cứu nước đúng đắn thì chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lại được nâng lên một tầm cao mới: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đem lại tự do, bình đẳng cho nhân dân, trong đó có phụ nữ

Hai là, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết tương thân tương ái

Tinh thần nhân nghĩa, sống hòa thuận, đoàn kết, yêu thương đồng bào, đồng loại “thương người như thể thương thân”, nhất là đối với những người gặp khó khăn, hoạn nạn là nét đẹp truyền thống trong văn hóa Việt Nam Tinh thần ấy thể hiện ở tình anh em ruột thịt đoàn kết cùng nhau vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong truyền thuyết mẹ Âu Cơ giữa những con người cùng chung cội nguồn Từ tình yêu thương của gia đình được mở rộng ra tình yêu xóm làng rồi rộng hơn là cả nước “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Lòng yêu thương nhau, tinh thần tương thân tương ái, “Lá lành đùm lá rách”, „„Chị ngã em nâng”, “Bầu ơi! Thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, tính cộng đồng, sự đồng cam, cộng khổ, chia

sẻ “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” đã giúp nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách từ thiên tai đến địch họa Bên cạnh tinh thần nhân ái đó, lịch sử dân tộc Việt Nam cũng luôn lấy nhân nghĩa làm trọng Trong các cuộc trường chinh của lịch sử, tinh thần nhân nghĩa cũng luôn được đề cao không chỉ đối với nhân dân trong nước

mà còn đối với kẻ thù hung bạo nhất Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn đã “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo” và “Dân chúng bốn phương tụ họp Hòa rượu cùng uống, binh sĩ một dạ”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất sâu sắc truyền thống tốt đẹp này của dân tộc Việt Nam, Người nói: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có

Trang 33

tình có nghĩa như thế Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa” [56, tr.563] và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” [54, tr.349] Trong tinh thần ấy, người phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ

từ ruột thịt, họ hàng đến xóm giềng, làng nước Do vậy, để có thể đoàn kết, yêu thương lẫn nhau thì trước hết con người phải bình đẳng với nhau, người nam và người nữ có vai trò, vị trí ngang nhau Chính vì thế trong sự nghiệp cách mạng của mình, Người luôn khẳng định, bình đẳng nam nữ là mục tiêu,

là lẽ sống của mình, với tâm niệm: không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng

Ba là, truyền thống cần cù lao động, anh dũng, sáng tạo trong quá trình dựng nước và giữ nước

Cần cù, siêng năng, sáng tạo là một trong những giá trị đạo đức nổi bật, phẩm chất đáng quý của người Á Đông nói chung và của người Việt Nam nói riêng Đối với mỗi người Việt Nam, cần cù, siêng năng, sáng tạo trong lao động là điều cần thiết bởi lẽ “Có làm thì mới có ăn” Nước ta là một nước nông nghiệp, trong điều kiện công cụ lao động thô sơ, thiên nhiên khắc nghiệt, hơn nữa các cuộc chiến tranh xâm lược và sự thống trị của các thế lực bên ngoài đã phá hoại nền kinh tế, làm cho nền kinh tế và đời sống của nhân dân bị kéo lùi hàng thế kỷ so với sự phát triển bình thường thì nếu không cần

cù, sáng tạo thì khó có thể tồn tại được Trong nền kinh tế nông nghiệp, từ chăn nuôi cho đến trồng trọt, người phụ nữ vừa là người lao động chính đóng góp vào nền sản xuất vật chất, vừa đóng vai trò quan trọng trong tái sản xuất sức lao động phục vụ cho sản xuất và chiến đấu lâu dài Cần cù vừa là điều kiện để đảm bảo nhu cầu sống của con người, vừa thể hiện ý thức trách nhiệm của người Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Hình

Trang 34

ảnh “cày đồng đang buổi ban trưa”, “ăn cơm bằng đèn, đi cấy sáng trăng”,

“tát nước đêm trăng” hay “tay cày tay súng” đã trở nên quá đỗi quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam, và hình ảnh “thân cò” là một trong những hình ảnh biểu trưng cho đức tính cần cụ, chịu thương, chịu khó của người phụ nữ Nhà thơ Tú Xương đã ví hình ảnh người phụ nữ như sau: “lặn lội thân cò nơi quãng vắng, eo sèo mặt nước buổi đò đông” Đó không chỉ là những hình ảnh đẹp, mà còn thể hiện đức tính cần cù, yêu lao động của nhân dân ta nói chung và người phụ nữ nói riêng

Cần cù lao động đã ăn sâu vào tiềm thức của con người Việt Nam từ bao đời nay, nó luôn gắn liền với việc chống lại thói lười biếng, “siêng ăn nhác làm” Cha ông ta ý thức được rằng lao động cần cù là nguồn gốc của mọi của cải và hạnh phúc và luôn phê phán những kẻ lười biếng “ăn rồi lại ngủ”, “Giàu đâu những kẻ ngủ trưa Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày”

Họ hiểu rằng ăn không ngồi rồi là nguồn gốc của những hành vi bất lương Phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động của người Việt Nam luôn gắn với sự dành dụm, tiết kiệm và trở thành đức tính cần có như một lẽ tự nhiên “Tích tiểu thành đại”, “Năng nhặt chặt bị”, trong đó người phụ nữ có vai trò như “tay hòm chìa khóa” ở mỗi gia đình Như vậy, đầu tiên, đức tính cần cù, sáng tạo và tiết kiệm trong lao động chính là yếu tố quan trọng giúp con người có thể đảm bảo được việc duy trì cuộc sống cá nhân và xa hơn đó là đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội

Kết quả của truyền thống đó, những giá trị, những thành quả có được từ tinh thần này không thuộc về người phụ nữ trong xã hội thực dân phong kiến đương thời nên đòi hỏi phải bình đẳng, đem giá trị, đem lẽ phải đến với người phụ nữ Vì lẽ đó, Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ giải phóng phụ nữ, thực hiện “nam nữ bình quyền” là nhiệm vụ hàng đầu để giải phóng xã hội, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân

Trang 35

Thứ hai, văn hóa nhân loại đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Hồ Chí Minh - người hội tụ của nhiều nền văn hóa, cả văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây Người đã tiếp thu, kế thừa và phát triển những giá trị văn hóa của dân tộc học phương Đông và những tư tưởng tiến bộ của văn hóa phương Tây nói chung và tư tưởng bình đẳng giới nói riêng để làm nên nét riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Một là, những giá trị văn hóa phương Đông đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Hồ Chí Minh đã từng nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam … thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo…” [45, tr.476] Sinh ra trong một gia đình nhà Nho, được giáo dục bởi tư tưởng của Nho gia, Người đã nhận thấy và phê phán những yếu tố duy tâm, lạc hậu như tính gia trưởng, trọng nam khinh nữ… trong Nho giáo, nhưng Nho giáo cũng

có nhiều yếu tố tích cực, nên có ảnh hưởng khá lâu dài trong lịch sử Đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, lý tưởng về một xã hội bình trị, triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính góp phần đề cao văn hóa, lễ giáo, đề cao tinh thần hiếu học Hồ Chí Minh đã tiếp thu mặt tích cực và vận dụng một cách sáng tạo cho bản thân mình, đồng thời khuyến khích, động viên mỗi người tự thân tu dưỡng, rèn luyện phát triển bản thân Đối với người phụ nữ cũng cần phải tích cực học tập, tự mình vươn lên để đấu tranh cho quyền lợi của mình, trong đó có quyền bình đẳng Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của đạo Khổng cũng được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển, “Dễ mười lần không dân cũng chịu Khó trăm lần dân liệu cũng xong” [56, tr.215], đó là nguồn động viên sức mạnh toàn dân - sức mạnh của cả đàn ông và đàn bà để vượt qua mọi khó khăn, thử thách

Trang 36

Hồ Chí Minh đã dùng những từ ngữ, những mệnh đề của Khổng Tử vốn rất thân thuộc với truyền thống văn hóa Việt Nam để thức tỉnh dân tộc, truyền cho nhân dân ý thức tự cường để đứng lên làm chủ đất nước Nguyễn

Ái Quốc đã giới thiệu thuyết Đại đồng như sau: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước C.N) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều Bình đẳng sẽ xóa bỏ nghèo nàn ” [45, tr.35], Người muốn gắn với cuộc đấu tranh vì sự công bằng và bình đẳng trong xã hội thuộc địa Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở cán bộ về tư tưởng Khổng Tử: Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng, không sợ đói chỉ sợ lòng dân không yên Có thể nói tư tưởng của Nho gia là một trong những nét đầu tiên tạo nên phẩm chất Hồ Chí Minh về bình đẳng

Phật giáo là một trong những tôn giáo du nhập vào Việt Nam khá sớm Phật giáo với giáo lý Khổ, Không, Vô ngã được xem là một tôn giáo vô cùng đặc biệt so với các tôn giáo khác Nhưng chính giáo lý này lại có thể giải thích, giải quyết các sự vật, hiện tượng Vô ngã thì vô chấp và vô phân biệt, không chấp trước và không phân biệt có người có ta, của người của ta, tức là bình đẳng Trong ý nghĩa đó, bình đẳng chính là nguyên lý “Tất cả là một, một là tất cả” (Kinh Hoa Nghiêm) Trong ý nghĩa xã hội, mọi người đều như nhau, đều đáng được tôn trọng, được yêu thương, bất kể bạn thù, sang hèn, giai cấp, nam nữ… Khổ là thực trạng của cuộc đời Đạo Phật là đạo giải thoát Giải thoát là giải thoát cho mọi chúng sinh, không phân biệt chúng sinh nào, và dĩ nhiên không phân biệt nam nữ Đức Phật dạy rằng các dòng sông có tên khác nhau, nơi xuất phát khác nhau, lớn nhỏ khác nhau, nhưng khi chảy ra biển thì được gọi là biển lớn Những người đi theo Phật, tu tập giáo pháp của Ngài thì đều được gọi là Thích tử chứ không hề có sự phân biệt nào

Trang 37

Ngài dạy, “Nước biển chỉ có một vị mặn Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, giáo pháp của Như Lai chỉ có một vị là vị giải thoát” (Kinh Phật tự thuyết)

Những mặt tích cực của Phật giáo đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong

tư duy, hành động, cách ứng xử của con người Việt Nam Một trong những mặt tích cực của đạo Phật đó là đề cao tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt nam nữ và phân biệt đẳng cấp Trong thư gửi tăng ni và đồng bào tín đồ Phật giáo, Hồ Chí Minh đã nói “Đời sống của nhân dân ta dần dần càng được cải thiện, cũng giống như tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm” [52, tr.290] Trong kinh, đức Phật dạy: Ta là Phật đã thành, tất

cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, là chứng nhân cho một giá trị tôn trọng quyền bình đẳng tột cùng của Ngài trong việc cùng nhau tự tu tập giác ngộ và giải thoát Suy rộng ra trong tư tưởng Hồ Chí Minh đó là “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng” Trong quan điểm của Phật giáo luôn đề cao phẩm hạnh của người thiếu nữ, tôn sùng người mẹ của mình và đối với người vợ: Người chồng nên lấy năm điều mà yêu thương cấp dưỡng vợ như: Một là yêu thương vợ Hai là không khinh rẻ Ba là sắm các thứ chuỗi ngọc,

đồ trang điểm Bốn là ở trong nhà để vợ được tự do Năm là xem vợ như chính mình Người chồng lấy năm điều để thương yêu, cấp dưỡng vợ Phật giáo Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động, để lại dấu ấn sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngoài ra, Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu và thấu hiểu tư tưởng của các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử với học thuyết Đạo vô vi: người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên, rằng con người cần sống hòa hợp với thiên nhiên và tạo hóa, tuân theo quy luật của thiên nhiên Khi tuân theo quy luật tự nhiên có nghĩa là con người được bình đẳng với nhau từ khi sinh ra Mặc Tử với học thuyết

Trang 38

“Kiêm ái” (thương yêu lẫn nhau) Ông cho rằng, mọi người đều có quyền lợi như nhau đối với việc thờ cúng quỷ thần, bình đẳng trước quyền lợi về tín ngưỡng tôn giáo; đó là sự phản ánh nhu cầu đòi quyền bình đẳng xã hội của giai tầng mà ông đại biểu Quản tử - Quản Trọng cũng cho rằng phúc lợi của dân là nền tảng nước nhà Người dân no đủ sẽ dễ dàng tiếp thu sự chính trực và lễ nghĩa, theo đó mới dễ dàng cai quản Để xây dựng nhân lực cho quốc gia Quản Trọng chủ trương: Kế một năm, chi bằng trồng lúa Kế mười năm, chi bằng trồng cây Kế trọn đời, chi bằng trồng người Hồ Chí Minh cũng rất đề cao vấn đề mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân và đào tạo thế hệ tương lai, không phân biệt gái trai vì sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Người nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [53, tr.228] Khi đã trở thành người mácxít, Hồ Chí Minh vẫn tìm hiểu thêm về chủ nghĩa Tam dân: dân tộc, dân quyền, dân sinh của Tôn Trung Sơn, trong đó quyền bình đẳng con người luôn được đề cao

Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực về quyền con người, về quyền bình đẳng trong tư tưởng của Nho gia, Phật giáo, Lão giáo, Đạo giáo và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người, trong đó có bình đẳng cho người phụ nữ

Hai là, những giá trị văn hóa phương Tây đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Ngay từ khi còn học ở Trường tiểu học Đông Ba, Trường Quốc học Huế, Hồ Chí Minh đã làm quen với văn hóa Pháp Đặc biệt, Người rất ham

mê môn lịch sử và say sưa tìm hiểu cuộc Đại Cách mạng Pháp 1789 Lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái của những người

đi “khai sáng”, Hồ Chí Minh đã suy nghĩ và muốn tìm hiểu về chúng: “Khi

Trang 39

tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp Người Pháp đã nói thế Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy” [45, tr.476] Người còn nói: Sau khi xem xét nước Pháp và các nước khác, tôi sẽ

về để giúp đồng bào mình Khi xuất dương, Hồ Chí Minh đã đến nước Pháp

để tận mắt chứng kiến cuộc sống của người dân ở “mẫu quốc” có đúng như những gì thực dân Pháp rêu rao hay không Khi đến Pháp, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng như

Tinh thần pháp luật của Môngtétxkiơ, Khế ước xã hội của Rútxô Tư

tưởng nhân quyền, dân quyền, tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng của Người Trong thư gửi những người Pháp ở phương Đông, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng tôi không ghét không thù gì dân tộc Pháp Trái lại chúng tôi kính phục cái dân tộc lớn lao ấy đã là kẻ đầu tiên truyền bá lý tưởng rộng rãi về tự do, bình đẳng và bác ái, và đã cống hiến rất nhiều cho văn hóa, cho khoa học và cho văn minh” [48, tr.103]

Tư tưởng tự do, bình đẳng, nhân quyền của Mỹ cũng được Hồ Chí Minh tiếp cận “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy,

có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [48, tr.9] Ở đây tư tưởng bình đẳng được xác định với tất cả mọi người, không phân biệt giới tính, màu da, dân tộc hay vùng lãnh thổ và tư tưởng dân quyền không ai

có thể xâm phạm được Từ đó, Người khẳng định độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc và biến nó thành động lực hành động để giải phóng dân tộc, giải phóng con người Độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho đồng bào là lẽ sống, là mục đích

Trang 40

phấn đấu suốt đời của Người Người nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu” [81, tr.48-49]

Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo Hồ Chí Minh cũng thấy rằng: “Cách đây

2000 năm, Đức Chúa Jêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta Điều

đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được” [48, tr.600] Trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thương người, mà còn phải hành động như thế nào để giải thoát cảnh cực khổ của những người bất hạnh Khi tiếp thu triết lý thương người của mọi tôn giáo, Hồ Chí Minh đã tìm cách giải thoát những con người đang bị áp bức, bóc lột ra khỏi lầm than, cơ cực Khi đồng cảm với triết lý thương người của Đức Chúa Giêsu, Người không dừng lại ở triết

lý ấy trong suy nghĩ mà luôn hành động, luôn thực hiện cái triết lý ấy trong hoạt động thực tiễn Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy

Trong quá trình tiếp thu các dòng tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh đúc kết:

Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Marx có ưu điểm là phương pháp biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách thích hợp với điều kiện của nước ta… Khổng Tử, Giêsu, Karl Marx, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội Nếu hôm nay, họ còn sống

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
2. Bác Hồ với sự tiến bộ của phụ nữ (2008), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với sự tiến bộ của phụ nữ
Tác giả: Bác Hồ với sự tiến bộ của phụ nữ
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2008
3. Đặng Văn Bảy (2014), Nam nữ bình quyền, Nxb Hồng Đức và Ban Tu thư Đại học Hoa Sen, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam nữ bình quyền
Tác giả: Đặng Văn Bảy
Nhà XB: Nxb Hồng Đức và Ban Tu thư Đại học Hoa Sen
Năm: 2014
4. Thanh Bình, Vũ Lực, Nguyên Kim (1960), Nam nữ bình đẳng trong quan hệ vợ chồng, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam nữ bình đẳng trong quan hệ vợ chồng
Tác giả: Thanh Bình, Vũ Lực, Nguyên Kim
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1960
5. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.Lênin, J.Xtalin (1967), Về vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen, V.Lênin, J.Xtalin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1967
8. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. C.Mác và Ph.Ăngghen (1999), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
10. Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ (1977), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: Chủ nghĩa Mác và vấn đề giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1977
11. Nguyễn Thị Kim Dung (2010), Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ, Nxb Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2010
12. Lê Ngọc Dũng (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ
Tác giả: Lê Ngọc Dũng
Năm: 2010
14. Thành Duy (2010), Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong lòng dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong lòng dân tộc Việt Nam
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
15. Thành Duy (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Hà Nội, ngày 15/5/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
18. Phạm Hoàng Điệp (2008), Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự tiến bộ của phụ nữ, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự tiến bộ của phụ nữ
Tác giả: Phạm Hoàng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2008
19. Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng (2006), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới lý thuyết và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định kiến và phân biệt đối xử theo giới lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
20. Lê Quý Đức, Vũ Thy Huệ (2003), Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị
Tác giả: Lê Quý Đức, Vũ Thy Huệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
21. Trần Đương (2005), Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Nxb Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ
Tác giả: Trần Đương
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
Năm: 2005
41. Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam (2002), Báo cáo Tóm tắt tình hình giới. http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/library/democratic_governance/gender-briefing-kit.html Link
77. Tổng cục Thống kê Việt Nam. https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=722 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w