VŨ THỊ THU HUYỀN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Trang 1
VŨ THỊ THU HUYỀN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG CÔNG CUỘC
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 2
VŨ THỊ THU HUYỀN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG CÔNG CUỘC
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn là công trình do tôi độc lập nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Lương Minh Cừ Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
TP Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 5 năm 2013
Người cam đoan
VŨ THỊ THU HUYỀN
Trang 4Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI
QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN 1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân
1.1.1 Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX , với việc hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân
1.2 Tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng
với quần chúng nhân dân
1.2.1 Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với tư tưởng trọng dân , lấy dân làm
gốc trong truyền thống dân tộc
1.2.2 Tư tưởng về vai trò, sức mạnh của dân trong lịch sử tư tưởng phương
Đông, phương Tây
1.2.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân và cá nhân trong lịch sử và về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân lao động trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trang 5VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI QUẦN CHÚNG
NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ ĐỐI VỚI SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
2.1 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
Đảng với quần chúng nhân dân
2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân và vai trò
của Đảng trong cách mạng Việt Nam
2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa Đảng với
quần chúng nhân dân trong cách mạng Việt Nam
2.2 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
Đảng với quần chúng nhân dân đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Công cuộc đổi mới với việc phát huy mối quan hệ giữa Đảng với
quần chúng nhân dân
2.2.2 Ý nghĩa lịch sử từ tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm tăng cường mối quan hệ
giữa Đảng với quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, thế kỷ XX là một thế kỷ đầy giông bão với những biến động lịch sử to lớn, gắn liền với tên tuổi của một con người, mà cuộc đời và
sự nghiệp của con người ấy là một huyền thoại, đầy sức hấp dẫn, được nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, kính yêu, được lịch sử ghi nhận là một danh nhân văn hóa lỗi lạc – Hồ Chí Minh Có thể nói, trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ vĩ đại, một nhà tư tưởng lớn, một anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất Cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Không phải ngẫu nhiên, Hồ Chí Minh đã được nhân dân thế giới tôn vinh là một vĩ nhân trong số 100 vĩ nhân của thế giới, ở thế kỷ XX Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam" Tiến sĩ Át - mét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã có những đánh giá rất cao về Người: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong
số đó Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này” [18, tr 5]
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc, cho Đảng và nhân dân ta một di sản tư tưởng vô cùng to lớn và sâu
Trang 7sắc Tư tưởng của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và cách mạng Việt Nam Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân là một trong những
tư tưởng sâu sắc, vừa có giá trị về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa như những bài học kinh nghiệm, những chỉ dẫn quý báu trong hoạt động thực tiễn
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định việc liên hệ, gắn bó mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân là nguồn gốc chủ yếu để tạo nên sức mạnh, là một trong những điều kiện, nguyên nhân giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam Người đã từng dạy rằng: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên” [56, tr 293], cho nên
“Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng ta thắng lợi Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại” [56, tr 286] Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua cũng đã chứng minh điều đó Không có sức mạnh của “Ý Đảng, lòng dân” chúng ta không thể có được cách mạng tháng 8.1945 thành công, có đại thắng mùa xuân 1975 và, có ngày hôm nay chúng ta vững bước trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa Trong mỗi thắng lợi đó đều có sự chung tay, góp sức của Đảng với nhân dân Sự đồng lòng, nhất trí giữa Đảng với quần chúng nhân dân, chính
là cội nguồn của mọi chiến thắng của quân và dân ta trên các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục là minh chứng thực tiễn sinh động, càng gian nan, thử thách, nguồn sức mạnh nội sinh của Đảng càng được củng cố và tăng cường khi gắn kết mật thiết với nhân dân
Ngày nay trong công cuộc đổi mới, mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng đã được Đảng và nhân
Trang 8dân Việt Nam tiếp tục củng cố và phát huy trên hành trình hướng tới tương lai Gần 30 năm đổi mới, dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân Việt Nam đã làm nên một đất nước Việt Nam ngày càng có vị thế mạnh mẽ trên trường quốc tế Tuy nhiên, do tác động của nền kinh tế thị trường cùng với những diễn biến khó lường, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trên thế giới, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bên ngoài đối với cách mạng nước ta và đặc biệt là tình trạng suy thoái đạo đức, quan liêu mệnh lệnh, xa rời quần chúng, chuyên quyền độc đoán, ức hiếp nhân dân, tham ô, hối lộ, sống xa hoa, lãng phí, công thần, địa vị, bè phái, gia trưởng, hẹp hòi, đầu cơ trục lợi… của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã xa rời quần chúng, phản bội lại lợi ích của dân, của Đảng Tất cả điều đó là nguyên nhân làm giảm sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, làm giảm nhiệt tình cách mạng và khả năng to lớn của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta Mối quan hệ giữa Đảng và dân bao nhiêu năm chúng ta vun đắp trong cách mạng giờ đây đang bị phai nhạt dần
Trong điều kiện ấy, với tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu để hiểu biết, nắm vững và vận dụng đúng đắn tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân là vấn đề hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, thiết thực, hữu ích, vừa nhằm phát huy hơn nữa sức mạnh của Đảng với nhân dân, vừa góp phần làm giảm được những nguy cơ đối với
sự lãnh đạo của Đảng với nhân dân, dân tộc trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước hiện nay Đây cũng chính là lý do học viên chọn đề tài: “TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
Trang 92 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Hồ Chí Minh, là một trong những
đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước,
từ nhiều góc độ, phương diện, lĩnh vực khác nhau Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có nhiều công trình nghiên cứu, và đã được công
bố rộng rãi, chúng ta có thể tiếp cận ở một số phương diện sau đây:
Trước hết, đó là hệ thống các quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện qua các nghị quyết của Bộ chính trị, các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Trong các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng qua các thời kỳ, luôn coi việc xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân là vấn đề chiến lược, là nguồn sức mạnh, là nhân tố trọng yếu, đảm bảo cho sự thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Tư tưởng đó của Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện qua các kỳ đại hội: Đảng cộng sản Việt Nam
(2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong đó cần khẳng định rằng,
nghị quyết đại hội lần thứ 7 và nghị quyết các hội nghị Trung ương 2, 3, 4, 5 (khóa VIII) đã nổi bật lên những tư tưởng chủ đạo về việc cần phải thắt chặt, phát huy tốt mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân, đặt quyền lợi
Trang 10của đất nước, của toàn dân tộc, lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở để xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước Việt Nam
Thứ hai, đó là những công trình nghiên cứu khá toàn diện, khái quát và
có tính hệ thống về nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó
đề cập đến mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh,
tiêu biểu như tác phẩm “Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng lỗi lạc” của GS Song
Thành, Nxb Lý luận chính trị, 2005
Công trình “Hồ Chí Minh – nhà cách mạng sáng tạo” do GS.TS Mạch
Quang Thắng chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Ở công trình này, tập thể tác giả đã phân tích làm sáng tỏ những cống hiến về lý luận của Hồ Chí Minh vào kho tàng kinh điển của chủ nghĩa Mác – LêNin, làm căn cứ để khẳng định Hồ Chí Minh thực sự là nhà cách mạng có tư duy khoa học, luôn đổi mới và sáng tạo
Công trình “Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội” do PGS.TS Vũ Đình Hòe và PGS.TS Bùi Đình Phong (đồng chủ
biên), NXB Chính trị Quốc gia, 2010 Tác phẩm này, đã tổng kết bước đầu
về những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam, trên
cơ sở đó tác giả khẳng định lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta hiện nay
Thứ ba, đó là những công trình nghiên cứu trực tiếp nội dung tư tưởng
Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân Tiêu biểu
như công trình “Toàn dân đoàn kết chống Mỹ cứu nước dưới ngọn cờ tư
tưởng Hồ Chí Minh” (1954 -1975) của tác giả Hoàng Trang, NXB Chính trị
Quốc gia, 2005 Tác phẩm đã tập trung làm sáng tỏ tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, chứng minh sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo của Đảng về tư
Trang 11tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, mối quan hệ khăng khít giữa Đảng và dân trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gian khổ và vĩ đại của dân tộc ta
Tác phẩm “Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí
Minh” của tác giả Đàm Văn Thọ và Vũ Hùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997 Trong tác phẩm này, các tác giả đã nêu lên khái niệm về dân, những quan điểm, thái độ khác nhau về dân trong lịch sử ở phương Đông, phương Tây và ở Việt Nam Tác phẩm cũng đề cập đến nội dung chủ yếu của mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Công trình “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”
do GS.TS Nguyễn Phú Trọng; PGS.TS Nguyễn Huy Rứa; PGS.TS Trần Khắc Việt đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004 Tác phẩm này tập trung luận giải, làm rõ những vấn đề chung về Đảng, về tình hình đổi mới Đảng trong những năm vừa qua, và về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
Từ đó rút ra phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới của cách mạng Việt Nam hiện nay
Ngoài ra còn có nhiều các bài báo khoa học đăng trên tạp trí Triết học,
Lịch sử Đảng, Lý luận chính trị… như Nguyễn Mạnh Tường với bài “Nhân
dân trong quan niệm của Hồ Chí Minh”, tạp chí Lịch sử Đảng, số 1, năm
1997 Trong bài viết này, tác giả đã nêu rõ quan niệm của Hồ Chí Minh về nhân dân, khẳng định sức mạnh to lớn của nhân dân đối với sự nghiệp cách
mạng Bài báo “Khái niệm nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác
giả Mai Trung Hậu, tạp chí Lý luận chính trị, số 10, năm 2009; bài “Nghiên cứu về khái niệm dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, tạp chí Lý luận chính
trị, số 4, năm 2007 Tác giả Lê Doãn Tá với bài viết “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân”, tạp chí Lý luận
Trang 12chính trị, số 1, năm 2002 Trong bài viết này tác giả đã nêu lên quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng Đảng, khẳng định sự cần thiết giữ vững và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa Đảng và dân” Phan Văn Trinh, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3,
2008… Hầu hết các bài báo khoa học này ít nhiều, đã nêu được mối liên hệ chặt chẽ giữa dân với Đảng, thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong điều kiện cách mạng Việt Nam
Nhìn chung, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân là một vấn đề rộng, một đề tài mở, đã được nghiên cứu đề cập đến trên nhiều phương diện khác nhau Qua đó, trong quá trình tiếp cận, nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả dựa trên cơ sở kế thừa các công trình đã được công bố liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu, để đi vào phân tích, luận giải, làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân và
ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân là di sản lý luận quý báu đã, đang và sẽ thu hút nhiều nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu trên những bình diện khác nhau, làm rõ hơn nữa giá trị tư tưởng của một danh nhân văn hóa thế giới – Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là tập trung nghiên cứu, phân tích, làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa lịch sử to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này, đối với công cuộc đổi mới, phát triển đất nước ở Việt Nam hiện nay
Trang 13Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, trình bày, phân tích, làm rõ điều kiện lịch sử - xã hội và
những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
Đảng với quần chúng nhân dân trong cách mạng Việt Nam
Thứ hai, trình bày, phân tích, làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân trong cách
mạng Việt Nam
Thứ ba, phân tích, đánh giá và rút ra ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, về phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, luận văn còn sử dụng, kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, phương pháp
so sánh, đối chiếu, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp khái quát hóa… để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của luận văn
5 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn đã trình bày một cách hệ thống và cụ thể những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, luận văn góp phần khẳng định rõ thêm vai trò đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa
Trang 14Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam định hướng cho mọi hoạt động của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường Cao đẳng, Đại học hoặc cho tất cả những người quan tâm, nghiên cứu tới vấn
đề này
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương, bốn tiết, chín tiểu tiết, được trình bày trong 162 trang luận văn
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA ĐẢNG VỚI QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
C Mác đã nói rằng: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất,
họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình” [43, tr 156 ] Ở đó, các
“nhà tư tưởng thường chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh trong đó nhà tư tưởng sống Cảnh trí xung quanh khiến cho nhà tư tưởng có ý thức về cuộc sống theo một lối nào, và triết học của nhà tư tưởng, do đó, sẽ có những điểm nhấn mạnh hay không đề cập tới, làm thành những nét đặc biệt của một triết học” [35, tr 32] Rõ ràng, tư tưởng của các triết gia không nảy sinh từ mảnh đất trống không, càng không phải là sự phủ nhận sạch trơn những tư tưởng trong quá khứ, mà nó là kết quả từ chính sự phản ánh hiện thực xã hội và sự
kế thừa những tư tưởng của lịch sử và thời đại
Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng
của Người về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật ấy Nó ra đời không phải từ sự ngẫu hứng chủ quan của Hồ Chí Minh mà xuất phát từ hoàn cảnh xã hội đương thời Có thể nói, chính thực tiễn xã hội những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là đòi hỏi khách quan cũng là cơ sở thực tiễn dẫn đến sự ra đời và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân
Trang 161.1.1 Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX , với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân ra đời trong thời kỳ lịch sử đang diễn ra những biến đổi to lớn trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, v.v
Sự biến đổi ấy bắt đầu từ những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ và trở thành phương thức sản xuất thống trị ở các nước Anh, Pháp và một số nước khác của châu Âu, Bắc Mỹ Đến những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây bước sang một giai đoạn phát triển mới, chuyển từ giai đoạn tự
do cạnh tranh, sang giai đoạn độc quyền và chủ nghĩa đế quốc
Trong 30 năm cuối thế kỷ XIX, lịch sử sản xuất của xã hội có những bước chuyển biến quan trọng Sản lượng công nghiệp tăng nhanh, việc khai thác các nguồn năng lượng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nhiều ngành sản xuất mới xuất hiện như điện hóa học, điện luyện kim, hàn điện, xe điện,…đặc biệt công nghiệp hóa học mới
ra đời, phát triển rất nhanh, phục vụ cho nhiều ngành khác Cùng với công nghiệp, ngành giao thông vận tải cũng có những tiến bộ vượt bậc, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển mạnh mẽ
Những tiến bộ kỹ thuật mới đã thúc đẩy nền sản xuất phát triển nhanh chóng, đánh dấu một bước tiến cực kỳ quan trọng trong tiến trình lịch sử phát triển kinh tế – xã hội của nhân loại
Sự phát triển nhanh chóng của sản xuất công nghiệp đã làm thay đổi vai trò và tỉ trọng sản phẩm của mỗi nước trong nền kinh tế thế giới Tính chất phát triển không đồng đều bộc lộ rất rõ nét: nhịp độ công nghiệp nặng tiến triển rất nhanh so với công nghiệp nhẹ, nông nghiệp lại càng lạc hậu so với
Trang 17công nghiệp Do vậy, những cuộc khủng hoảng nông nghiệp diễn ra liên tiếp trong những năm 70 - 90 của thế kỷ XIX
Ở các các nước tư bản, nhịp độ phát triển công nghiệp giữa các nước cũng thể hiện sự chênh lệch rất rõ Do đó, vị trí của mỗi nước trong nền sản xuất thế giới thay đổi, dẫn đến nước Anh mất dần địa vị độc quyền về công nghiệp Những đế quốc “trẻ” như Mỹ và Đức vươn lên hàng thứ nhất và thứ hai Tốc độ phát triển của công nghiệp Nga, Nhật cũng tăng nhanh nhưng sản lượng còn ít và chưa toàn diện Tuy nhiên, sự thay đổi về tỉ lệ sản xuất chưa thể làm thay đổi ngay được vị trí trong thương nghiệp, Anh vẫn là nước đứng đầu, khẳng định vị trí số một của mình Sự không tương xứng giữa khả năng và địa vị của mỗi nước trong công nghiệp và thương nghiệp trở thành nguồn gốc của sự tranh chấp quốc tế về thị trường và thuộc địa Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất, với quy mô ngày càng lớn Trong tình hình ấy, những yêu cầu về nguồn nguyên liệu, nhân công và thị trường tiêu thụ hàng hóa được đặt lên hàng đầu
và ngày càng gay gắt Để giải quyết những vấn đề này, các nước tư bản đế quốc, trong nước thì bóc lột nhân dân lao động một cách tàn bạo, bên ngoài thì chúng không ngừng đẩy mạnh quá trình xâm lược, chúng tranh nhau chiếm đoạt những vùng đất đai còn “bỏ trống”, nghĩa là những nơi chưa
bị xâm lược, ở các nước thuộc địa chúng thẳng tay áp bức bóc lột dân bản địa, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, nơi cung cấp nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản Do đó, thuộc địa không chỉ là nơi vơ vét nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa mà còn
có ý nghĩa rất quan trọng cho việc xuất khẩu tư bản Lịch sử ba mươi năm cuối thế kỷ XIX gắn liền với những cuộc chiến tranh xâm lược do các nước
Trang 18đế quốc tiến hành ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh đã chứng minh cho luận điểm nêu trên
Dưới sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, đời sống nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc trở nên cùng cực Nhân dân các nước thuộc địa
và phụ thuộc bị chủ nghĩa thực dân tước hết mọi giá trị văn hóa tinh thần, mọi quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội, v.v… Đối với bọn thực dân mà nói thì “tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu” [75,
tr 30] Chính sách thực dân tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đối với các thuộc địa cùng với sự áp bức bóc lột nặng nề đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nước, càng thể hiện rõ bản chất phản động của chủ nghĩa
đế quốc Với chính sự áp bức tàn bạo đó, đã làm nảy sinh một mâu thuẫn mới
- mâu thuẫn gay gắt giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, bên cạnh mâu thuẫn vốn có trong xã hội tư bản, mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản
Do đó, chống chủ nghĩa đế quốc giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa, trở thành vấn đề cấp thiết mang tính thời đại Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bước sang thế kỷ XX, cũng không còn là hành động riêng rẽ của mỗi nước như trước kia nữa, mà nó trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế Độc lập, tự do cho các dân tộc thuộc địa trở thành khát vọng chung của các dân tộc trên thế giới
Do sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản, một số nước tư
bản hiếu chiến muốn chia lại thuộc địa đã gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) Đây thực chất là cuộc chiến tranh giành giật
thuộc địa và phân chia lại thị trường thế giới giữa các nước đế quốc, một cuộc chiến tranh thể hiện sự tham tàn của các nước đế quốc chà đạp lên xương máu, mồ hôi, nước mắt các dân tộc thuộc địa Cuộc chiến tranh phi nghĩa này đã làm hao người, tốn của gây ra bao hậu quả đau thương cho
Trang 19nhân dân các nước trên thế giới Nó đã làm tiêu hao 180 tỷ đô la chiến phí trực tiếp và 150 tỷ đô la chiến phí gián tiếp, nó làm cho 10 triệu người phải chết oan và 20 triệu người bị thương tật [2, tr 173] Đồng thời, nó cũng làm cho nền kinh tế của các nước giao chiến tại châu Âu trở nên tiêu điều, xuống dốc thảm hại, xã hội chao đảo [2, tr 162 - 177]
Trước chiến tranh, nước Anh là trung tâm tài chính toàn thế giới Địa vị tài chính của Anh chiếm ưu thế nhờ có được lực lượng công nghiệp hùng hậu của họ làm nền tảng Sự hoạt động kinh tế của Anh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế toàn cầu, có tác dụng làm ổn định kết cấu kinh tế toàn thế giới Đến khi chiến tranh kết thúc, thì vương quốc Anh đã rời khỏi chiếc ngai vàng bá chủ kinh tế thế giới Việc đầu tư ra nước ngoài của nước Anh
đã sút giảm 50% Chiến tranh đã làm cho kinh tế nước Anh trở nên kiệt quệ, Anh trở thành con nợ của Mỹ với số tiền lên tới 4 tỷ đô la, số tiền bị hao tổn quân phí lên đến 8 tỷ bảng Anh, số sĩ quan và binh sĩ của họ bị chết lên đến 947.000 người, số bị thương lên đến 2,12 triệu người, 70% thương thuyền của họ bị đánh đắm… [2, tr 162 - 177]
Pháp là nước chiến thắng trong chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng Pháp lại là chiến trường chủ yếu trong chiến tranh nên tổng số thiệt hại về vật chất do cuộc chiến tranh này gây ra là rất lớn: 1,3 triệu người chết, 3 triệu người bị thương và tổn thất gần 200 tỷ phơ – răng, thiếu nợ của Mỹ lên đến 16 tỷ phơ – răng, thiếu nợ của Anh lên đến 13 tỷ phơ – răng Năm 1919, sản lượng công nghiệp của Pháp chỉ bằng 57% trước chiến tranh, sản lượng nông nghiệp chỉ bằng 60% trước chiến tranh,… [2, tr 179]
Đức phải bồi thường chiến phí 132 tỷ mác Do số tiền bồi thường quá lớn nên đồng Mark của Đức bị sụt giá, nền tài chính bị sụp đổ Tất cả tiền tiết kiệm, tiền bảo hiểm của nhân dân Đức đều bị tan biến thành mây khói,… [2, tr 261]
Trang 20Nếu như trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) Anh, Pháp, Đức tỏ ra là những nước chịu nhiều thiệt hại thì Mỹ lại là kẻ thắng thế Mỹ giàu lên nhanh chóng trong chiến tranh, trở thành chủ nợ (các nước châu Âu nợ Mỹ lên tới 10 tỷ đô la) Mỹ đầu tư ra nước ngoài 6,4 tỷ đô la, có trữ lượng vàng chiếm 40% dự trữ vàng trên thế giới [2, tr 75]
Mặt khác, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) đã làm cho các nước tư bản suy yếu và mâu thuẫn giữa các nước đế quốc càng ngày càng căng thẳng hơn Đối kháng giai cấp sâu sắc đã dẫn tới cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp tư sản và vô sản Trong khi giai cấp tư sản tăng cường bóc lột và bần cùng hóa nhân dân lao động thì giai cấp vô sản tập trung và đông đảo về số lượng, trưởng thành về ý thức, vững mạnh về tổ chức, tiến hành đấu tranh giải phóng lao động, tự giải phóng mình Mâu thuẫn giữa các nước
đế quốc với nhau, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và nhân dân các nước thuộc địa không ngừng phát triển và ngày càng gay gắt Tình hình này cũng
đã tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh của các dân tộc ở các nước thuộc địa phát triển mạnh mẽ, hướng tới cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, để giải phóng những người lao động bị áp bức, bóc lột, để giành độc lập dân tộc Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức bóc lột phát triển ngày càng mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới, đã đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải có một lý luận cách mạng dẫn đường Và, đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng dẫn đến sự ra đời của học thuyết Mác như một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu của lịch sử
Sau công xã Pari 1871, Quốc tế I giải tán Phong trào công nhân bắt đầu thời kỳ mới tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh tương lai chống chủ nghĩa tư bản Mác và Ăngghen với uy tín lớn lao vẫn tiếp tục lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế Học thuyết Mác đã ra đời và giành được thắng lợi lớn trong phong trào công nhân Những hoạt động lý luận
Trang 21và thực tiễn của Mác và Ăngghen có một tầm quan trọng to lớn đối với lịch
sử Học thuyết Mác không ngừng được truyền bá, lan tỏa khắp thế giới dẫn đến kết quả là ở một số nước châu Âu và châu Mỹ đã thành lập đảng công nhân, đảng xã hội hay các nhóm có khuynh hướng tiến bộ cách mạng của giai cấp công nhân Sự ra đời của các chính đảng công nhân, tuy còn nhiều mặt hạn chế song nó đã chứng tỏ rằng phong trào công nhân các nước đã có
sự trưởng thành hơn So với thời kỳ trước Công xã, phong trào công nhân quốc tế đã phát triển rộng rãi hơn, hoạt động trên phạm vi lớn hơn ở nhiều nước Và, đây chính là cơ hội tốt tạo nên mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa Mác thâm nhập
Chủ nghĩa Mác xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX, đã nhanh chóng thâm nhập vào các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản và đã trở thành lý luận cách mạng dẫn đường cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trên toàn thế giới Chủ nghĩa Mác là một học thuyết khoa học, tiên tiến của thời đại, có sức thu hút to lớn với quần chúng nhân dân lao động và những nhà tư tưởng tiến bộ trên thế giới Bởi vì, học thuyết Mác đặt ra vấn đề giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa, đã nâng vị thế của những người vô sản, những người bị áp bức trở thành người chủ của
xã hội, đưa quần chúng nhân dân trở thành chủ thể sáng tạo lịch sử, đã tạo ra một xã hội mới tốt đẹp hơn, một xã hội mà tất cả mọi người được sống ấm
no, tự do, hạnh phúc Chủ nghĩa Mác đã cổ vũ tình đoàn kết của giai cấp vô sản trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ tư bản bằng khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” Chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng xóa
bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa; giải phóng giai cấp mình, giải phóng nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi áp bức bóc lột, nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa tươi đẹp Vì vậy, chủ nghĩa Mác đã trở
Trang 22thành lý luận cách mạng, là kim chỉ nam soi đường, chỉ lối cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhờ đó giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng độc lập trên vũ đài chính trị, chủ nghĩa cộng sản trở thành một thế lực chính trị trên khắp châu Âu
Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, trung tâm của phong trào cách mạng chuyển từ châu Âu sang nước Nga Vận dụng, kế thừa và phát triển
lý luận của chủ nghĩa Mác trong tình hình mới để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động, V I Lênin đã bổ sung vào lý luận của học thuyết Mác nhiều nội dung mới gắn với thực tiễn cách mạng, và lý luận ấy trở thành chủ nghĩa Mác – Lênin, dẫn đường cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới
Dựa trên lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga đã lãnh đạo cuộc cách mạng Tháng Mười vĩ đại, giành thắng lợi năm 1917 Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười đã xóa bỏ ách áp bức bóc lột cuả tư bản chủ nghiã và những tàn dư của chế độ chuyên chế Nga hoàng Thắng lợi ấy đã làm cho chủ nghĩa cộng sản từ lý luận trở thành thực tiễn sinh động, đã không chỉ giải phóng cho giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động, đưa họ tới địa vị của người làm chủ xã hội,
mà còn làm rung chuyển thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Cách mạng Tháng Mười Nga đồng thời còn mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh
và cổ vũ các dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng, chống lại ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, xóa
bỏ mọi hình thức nô lệ, vươn tới tự do, bình đẳng, thực hiện quyền tự quyết dân tộc
Trang 23Đánh giá về tầm vóc lịch sử thế giới, ý nghĩa quốc tế và thời đại của cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã viết: ''Như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối, cuộc cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người cách mạng Tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống
đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” [56, tr 558 – 562]
Sau khi giành được chính quyền, Lênin và Đảng Cộng sản Bônsêvích
đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga thiết lập chính quyền Xô Viết – bộ máy nhà nước kiểu mới của nhân dân lao động Chính quyền Xô Viết đã xây dựng nhiều chính sách hết sức tiến bộ như: xóa bỏ mọi phân biệt đẳng cấp, sắc tộc, tuyên bố quyền bình đẳng nam nữ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và thừa nhận quyền bình đẳng và chủ quyền giữa các dân tộc
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đặc biệt sau cuộc cách mạng Tháng Mười Nga thành công và sự ra đời của Nhà nước Xô Viết, Lênin và Đảng Cộng sản Bônsêvích đã tập hợp những lực lượng cách mạng chân chính để tiến hành thành lập một tổ chức quốc tế mới của giai cấp vô sản Tháng 03 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập tại Mátxcơva với sự tham gia của các nước cộng sản từ 30 nước trên khắp thế giới Quốc tế cộng sản xây dựng theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Quốc tế Cộng sản đã xác định đường lối cách mạng triệt để và khoa học của phong trào cách mạng là lật đổ chính quyền tư sản, giành chính quyền về tay giai cấp vô sản, thiết lập chính quyền vô sản với sự giúp đỡ của chính quyền nước Nga Xô Viết, xóa bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội cộng sản
Trang 24chủ nghĩa Quốc tế Cộng sản đã trở thành một tổ chức có vai trò to lớn trong việc tập hợp, tổ chức quần chúng bị áp bức trên thế giới thành một trận tuyến cách mạng rộng lớn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc
Sau khi thành lập, Quốc tế Cộng sản đã có nhiều hoạt động tích cực thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đặc biệt, Quốc tế Cộng sản rất quan tâm đến vấn đề dân tộc và thuộc địa Năm 1920, tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản, Lênin đã trình bày Luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa Những nội dung trong luận cương đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề của phong trào giải phóng dân tộc Từ đó, đã vạch ra con đường đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, cũng như chỉ ra sự phối hợp giữa phong trào công nhân quốc tế và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Và, đây cũng chính
là tác phẩm có ảnh hưởng quyết định nhất đến bước chuyển của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản - chủ nghĩa Mác – Lênin Đại hội đã tán thành đường lối chính trị của Lênin về những vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết anh em của các dân tộc phương Đông và giai cấp vô sản phương Tây
Tháng 12 năm 1922, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô) ra đời Đây chính là thắng lợi của chính sách dân tộc theo chủ nghĩa Lênin, thắng lợi của tình hữu nghị anh em giữa các quốc gia công nông đầu tiên trên thế giới Từ đây, loài người tiến bộ đã tìm thấy con đường đúng đắn giải quyết vấn đề dân tộc, thủ tiêu mọi bất bình đẳng và xây dựng một cộng đồng anh em giữa các dân tộc
Chính thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, sự ra đời của nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản III
là nguồn động viên và cổ vũ vô cùng to lớn đối với các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam đứng lên đấu tranh tự giải phóng mình Đối với Việt
Trang 25Nam, với sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam biết đến chủ nghĩa Mác – Lênin, biết đến cách mạng Tháng Mười Nga và hòa mình vào trong làn sóng đấu tranh chung của thế giới
Trong khi các nước phương Tây đã phát triển rất mạnh về kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật v.v một số nước trở thành đế quốc thì, hầu hết các nước phương Đông vẫn còn là các quốc gia phong kiến, bảo thủ, trì trệ và lạc hậu Do vậy, khi bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thì phần lớn chính quyền phong kiến ở các quốc gia này đều tỏ ra bất lực trong vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc và trở thành thuộc địa của các nước đế quốc
Cuối thế kỷ XIX, tình hình kinh tế chính trị Trung Quốc lâm vào suy thoái, triều đình Mãn Thanh bảo thủ không còn đảm đương được vai trò lịch sử của mình nên đã liên tiếp thất bại trước những cuộc chiến tranh của các nước đế quốc và dần dần rơi vào cảnh bị các nước thực dân, đế quốc xâu xé
Đầu thế kỷ XX, lịch sử Trung Quốc có sự chuyển biến quan trọng, đó là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, do nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn lãnh đạo đã lật đổ nền quân chủ chuyên chế Mãn Thanh và sau đó thành lập nền cộng hòa của Trung Hoa dân quốc, thực hiện cương lĩnh chính trị theo học thuyết Tam dân: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Cùng với cách mạng Tân Hợi năm 1911, phong trào Duy Tân của hai nhà tư tưởng tiến bộ Trung Quốc lúc bấy giờ là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu cũng ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà nho Việt Nam Từ đó thúc đẩy phong trào cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Nhật Bản phát triển trở thành một đế quốc hùng mạnh đi xâm lược
và áp bức các dân tộc khác Năm 1868, Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi đã
Trang 26nhanh chóng thi hành chính sách mở cửa, canh tân đất nước Đồng thời
cử phái đoàn tham quan, học hỏi, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, thể chế chính trị, hiến pháp của các nước châu Âu và châu Mỹ để áp dụng vào quá trình phát triển đất nước Từ đó đã tạo ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, đưa Nhật Bản từ một nước phong kiến trở thành một nước tư bản chủ nghĩa đầu tiên ở Phương Đông Sau đó, Nhật Bản cũng thi hành chính sách thực dân đế quốc, bành trướng xâm lược các nước khác
Từ năm 1879 đến 1894, Nhật Bản liên tiếp gây chiến tranh với các nước Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan Đặc biệt trong cuộc chiến tranh với Nga
1.1.2 Điều kiện kinh tế , chính trị, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân
Bối cảnh Việt Nam trong thời kỳ này, cũng giống như một số quốc gia phương Đông khác, bị sự xâm lược của các thế lực hùng mạnh phương Tây Được sự giúp đỡ của các thế lực nước ngoài, lợi dụng sự yếu kém của triều
Trang 27đình Tây Sơn sau khi Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh đã giành được thắng lợi và lên ngôi vua vào năm 1802, lập ra nhà Nguyễn
Kinh tế Việt Nam dưới triều Nguyễn thì kinh tế nông nghiệp vẫn là nền tảng Với sự thắng thế của giai cấp địa chủ, cường hào, ruộng tư ngày càng lấn ruộng công làng xã, khiến cho số dân mất đất phải đi lưu tán ngày càng đông và trở thành một hiện tượng xã hội trầm trọng Để khắc phục khó khăn này, nhà Nguyễn cũng đã thúc đẩy một số chính sách, trong
đó đẩy mạnh chính sách khẩn hoang Tuy nhiên, chính sách địa tô của nhà Nguyễn đã làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, ruộng công
bị bọn địa chủ cường hào đánh thuế rất nặng Nhờ đó, tổng thu về địa tô của nhà Nguyễn là rất lớn, cùng với thuế đinh đã tạo nên sức mạnh cho giai cấp thống trị Công thương nghiệp thời kỳ này tương đối phát triển Nhưng
về cơ bản, xu hướng độc quyền công thương của nhà nước vẫn chế ngự, đại thương không thể phát triển được
Nhìn chung, kinh tế Việt Nam dưới triều Nguyễn vẫn là nền kinh
tế nông nghiệp lạc hậu, bảo thủ, trì trệ Song song với đó, ngay từ khi thiết lập vương triều, Nguyễn Ánh đã quyết tâm xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền, chuyên chế mạnh, theo mô hình chính trị của nhà Thanh Thế nên, năm 1815, nhà Nguyễn ban hành luật Gia Long Thực chất bộ luật này đã gạt bỏ hết những điều tiến bộ của Luật Hồng Đức triều Lê mà chủ yếu sao chép luật Mãn Thanh ở Trung Quốc Các vua nhà Nguyễn có uy quyền tuyệt đối, thâu tóm tất cả quyền lập pháp, hành pháp Quan lại khắc nghiệt, lấy pháp luật làm gông cùm, lấy dân đen làm cá thịt Và, thể chế đó
đã tạo điều kiện cho bọn cường hào địa phương lộng hành, thỏa sức áp bức bóc lột nhân dân lao động
Nhìn chung, mọi chính sách của nhà Nguyễn đều tập trung vào việc củng cố quyền lực của vương triều Độc tôn Nho giáo, kìm chế công thương,
Trang 28bế quan tỏa cảng Và, thực tế đã không mang lại những kết quả như mong muốn của nhà Nguyễn Hơn thế nó còn làm mất đi khả năng vươn lên cùng thời đại của dân tộc, làm suy kiệt sức đề kháng của đất nước trước nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây Dưới triều nhà Nguyễn, sức mạnh to lớn của nhân dân không được phát huy, mà ngược lại, đời sống nhân dân càng lầm than, cực khổ, nghèo nàn, lạc hậu hơn bởi sự áp bức, bóc lột tàn bạo của bọn cường hào, địa chủ Thực tế đó làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nhân dân ngày càng gay gắt, những xung đột
xã hội đan cài vào nhau và ngày càng căng thẳng đã dẫn tới sự bùng nổ liên tục của phong trào nông dân khởi nghĩa, mà tiêu biểu là khởi nghĩa của Phan
Bá Vành Bên cạnh đó còn có những cuộc khởi nghĩa nông dân do các trí thức phong kiến danh tiếng lãnh đạo như Cao Bá Quát, Lê Duy Lương, Lê Văn Khôi Tuy nhiên, để bảo vệ chế độ, lợi ích của vương triều, nhà Nguyễn đã thẳng tay đàn áp, dìm các cuộc khởi nghĩa của nông dân trong bể máu
Ngoài ra, thời Nguyễn còn đứng trước những âm mưu về chính trị của các thế lực chống đối trong triều và các thế lực bên ngoài, cùng với sự can thiệp của thực dân Pháp Triều Nguyễn thực sự rơi vào khủng hoảng trầm trọng Đúng lúc đó thì thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Tiếng súng mở màn của thực dân Pháp tại Đà Nẵng năm 1858, là điểm khởi đầu cho một quá trình xâm lược lâu dài với mục đích bành trướng, xâm chiếm thị trường,
áp bức bóc lột dân tộc thuộc địa của Pháp tại Việt Nam
Trước hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, ngược lại với
sự kháng cự ngày một dữ dội của nhân dân khắp nơi, thì vua quan nhà Nguyễn hèn nhát đã nhanh chóng đầu hàng đế quốc Pháp, phản bội lại quyền lợi của nhân dân, phản bội tổ quốc Ngày 05 – 06 – 1862, triều đình
nhà Nguyễn đã ký Hiệp ước Nhâm Tuất, bản Hiệp ước gồm có 12 khoản,
trong đó hầu hết là có lợi cho thực dân Pháp, tạo điều kiện cho Pháp xâm
Trang 29lược nước ta Điều đặc biệt trong bản Hiệp ước này là triều đình thừa nhận việc cai quản 3 tỉnh miền Đông thuộc nước Pháp, bồi thường cho Pháp 20 vạn quan phí, mở 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên cho người Pháp thông thương, cho phép người Pháp và người Tây Ban Nha tự do truyền đạo Gia tô Và về phía Pháp sẽ “trả lại” Vĩnh Long cho triều đình khi nào triều đình buộc dân chúng thôi chống Pháp Với Hiệp ước này, đã chứng minh sự đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn trước thực dân Pháp, thể hiện
sự bạc nhược, yếu đuối Chính vì vậy, mà ngay giữa mùa mưa năm 1867, quân Pháp chỉ mất có 4 ngày để chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) mà không mất viên đạn nào Ngày 15 – 10 – 1867, triều đình lại ký thêm một bản Hiệp ước nữa, với những điều khoản nặng nề, tai hại cho vận mệnh của đất nước, đó là, nhượng 6 tỉnh Nam kỳ cho Pháp cùng với chủ quyền các đảo Côn Lôn và Phú Quốc Dù bản Hiệp ước này chưa chính thức vì thiếu sự ủy quyền của chính phủ Pháp, nhưng nó đã tạo điều kiện cho thực dân Pháp thực hiện âm mưu chiếm toàn bộ nước ta
Để chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp, phản ứng lại những quyết định tai hại của triều đình, nhân dân yêu nước một lòng đứng lên kháng cự Những cuộc đấu tranh khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi Ở Bắc Kỳ, Đốc học Nam Định là Phan Văn Nghị đã phất cờ mở đầu cho cuộc “Nam tiến” đầu tiên trong lịch sử cận đại nước ta Ở Gia Định, đầu năm 1859, là các cuộc khởi nghĩa của Trần Thiện Chính, Lê Huy đã giành được những thắng lợi bước đầu, khích lệ to lớn cho tinh thần đấu tranh của nhân dân cả nước Đặc biệt, từ năm 1860 đến năm 1862, ở Nam Kỳ đã nổi lên các trung tâm kháng chiến, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Trương Định Trương Định
là người anh hùng, trí dũng song toàn, đã thu hút được rất nhiều nhân tài khắp nơi tụ họp góp sức xây dựng căn cứ chống giặc Phong trào ái quốc bùng lên dữ dội, kiên quyết bất hợp tác với giặc, nổi bật lên là các nhà nho
Trang 30yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu Từ đây, các lãnh tụ khởi nghĩa ngày càng độc lập với những hoạt động quân sự của quân đội triều đình Từ năm 1867, sáu tỉnh Nam Kỳ mất vào tay giặc, nhân dân đã liên tiếp nổi lên đấu tranh, hình thành nên những vùng kháng chiến Cuộc kháng chiến ấy kiên quyết và bền bỉ như câu nói bất hủ của Nguyễn Trung Trực: “Bao giờ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam chống Tây” Chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp thúc đẩy nhanh âm mưu đánh chiếm Bắc Kỳ và Trung Kỳ Vua Tự Đức vẫn duy trì chính sách “bế quan tỏa cảng” Đất nước xuất hiện những nhà cải cách, canh tân như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện,… những nhà cải cách nhìn thấy
rõ sự phát triển trì trệ của đất nước Nguyễn Trường Tộ , với gần 60
bản điều trần đã đề cập đến hàng loạt các biện pháp cải cách đất nước từ
kinh tế, kỹ thuật đến quân sự, ngoại giao cho tới lối sinh hoạt…các văn bản nổi tiếng của ông là: Thiên hạ đại thế luận, Tế cấp luận, Giáo môn luận (1863), Khai hoang từ, Lục lợi từ (1866)…Trước những tư tưởng canh tân
đó, triều đình nhà Nguyễn bảo thủ cực đoan đã từ chối mọi đề nghị cải cách
Sự thất bại của những tư tưởng mới đã cho thấy rõ sự tồn tại, ảnh hưởng dai dẳng của cái cũ, cái lạc hậu, làm cho đất nước ngày càng khó khăn, yếu kém Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ cuộc đấu tranh về tư tưởng, tôn giáo,… nổ ra rất sôi động Kẻ thù ráo riết chuẩn bị chiến tranh
Năm 1873, thực dân Pháp đánh ra miền Bắc Các cuộc đấu tranh chống Pháp nổ ra liên tiếp và mạnh mẽ Hiệp ước Nhâm Tuất đã gây nên sự phản ứng dữ dội trong dân chúng cũng như các vị quan yêu nước Phong trào đấu
tranh của nhân dân đã có thực tiễn để đi tới một nhận thức mới mẻ: chống
Pháp phải đi đôi với chống triều đình đầu hàng Phong trào đấu tranh ngày
một phát triển lớn rộng, nhưng năm 1883, Tự Đức qua đời, triều đình rối loạn Ngày 22 – 08- 1883, vua Hiệp Hòa chấp nhận đầu hàng Ngày 25 – 08
Trang 31– 1883 Hiệp ước Hác măng được ký, Việt Nam từ đây hoàn toàn là thuộc địa của Pháp Chế độ phong kiến Việt Nam với ý nghĩa là một vương triều độc lập đã sụp đổ Tuy nhiên, phong trào yêu nước vẫn tiếp tục dâng lên mạnh mẽ mà nổi bật là phong trào Cần Vương Giai đoạn này, cả nước chưa bao giờ lại có nhiều cuộc khởi nghĩa như thế Dưới ngọn cờ Cần Vương, phong trào trải rộng khắp cả nước gắn với nhiều tên tuổi như Lê Trực, Trần Quang Dự, Nguyễn Thiện Thuật, Cao Thắng, Nguyễn Trạch, Phan Đình Phùng, Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX là phong trào dân tộc, phong trào yêu nước chống chủ nghĩa thực dân kết hợp với chống triều đình phong kiến đầu hàng đã diễn ra sôi nổi rộng khắp Nó làm đẹp thêm truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam Nó chứng minh sức mạnh của quần chúng nhân dân cũng như mối liên
hệ chặt chẽ giữa nhân dân với người lãnh đạo quần chúng
Khi công cuộc bình định hoàn thành, thực dân Pháp bắt tay vào việc khai thác, bóc lột kinh tế Với đặc điểm là một nước có diện tích đất đai tương đối rộng, có nhiều tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực dồi dào,
rẻ mạt,… nước ta mau chóng trở thành miếng mồi béo bở cho bọn xâm lược cướp bóc
Đặt bàn tay cai trị lên Việt Nam, thực dân Pháp đã xảo quyệt, một mặt chúng bóc lột tàn bạo, mặt khác chúng làm cho bộ mặt xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi, như một cách mị dân
Về kinh tế, Thực dân Pháp xâm lược nước ta không ngoài mục đích
phát triển kinh tế để thu lợi nhuận đến mức tối đa, bù đắp vào chỗ mất mát
vì bị sa lầy vào cuộc chiến tranh trước đây Chính sách của Pháp ở Việt Nam là khai thác nguyên liệu bằng cách bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, độc quyền kinh tế Chúng trắng trợn bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều
Trang 32Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu để lập đồn điền và bóc lột địa tô; đầu tư vốn khai thác tài nguyên ở Hòn Gai, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng…; xây dựng một số cơ sở công nghiệp (điện, nước), xây dựng hệ thống đường bộ, đường thủy, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa, thu lợi nhuận cho chính quốc Chúng giữ độc quyền về kinh
tế như: độc quyền kinh doanh một số ngành công nghiệp nặng, nắm phương tiện giao thông vận tải, khai thác những mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn, chiếm đất lập đồn điền kinh doanh cây công nghiệp, độc quyền xuất nhập khẩu,… Ngoài ra, chúng còn thiết lập hệ thống ngân hàng, độc quyền phát hành in giấy bạc và cho vay nặng lãi Ngân hàng Đông Dương là một tập đoàn tư bản tài chính có thế lực nhất làm chúa tể và chi phối mọi ngành kinh
tế ở Đông Dương Chúng không từ bỏ bất kỳ chính sách bóc lột nào kể cả những hình thức bóc lột kinh tế thời Trung cổ Đó là “chế độ thuế khóa nặng
nề và hết sức vô lý: thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế vỉa hè, thuế môn bài, thuế xe, thuế lưu trú, nộp thuế cho ngân sách Đông Dương, thuế nộp cho ngân sách xứ, cho tính phần trăm (%) nộp cho quan lại, kỳ hào trong thôn xã cùng hàng trăm thứ thuế khác Thuế má nặng oằn lưng và luôn luôn thay đổi
có lợi cho thực dân và phong kiến tay sai Hậu quả của chính sách độc quyền về kinh tế và chính sách thuế nặng nề làm cho đa số nông dân mất dần ruộng đất Dưới thời thuộc Pháp, ước tính 50% nông dân Việt Nam không có ruộng” [82, tr 168] Thêm vào đó, chúng bóc lột công nhân Việt Nam một cách vô cùng tàn nhẫn Đặc biệt, thực dân Pháp đã tiến hành các
kế hoạch khai thác thuộc địa (1897 – 1914) và tiếp đó là kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 – 1929) Những cuộc khai thác thuộc địa để thỏa mãn cơn khát thiếu hụt năng lượng và lòng tham vô đáy của thực dân Pháp, càng làm cho mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân ta với thực dân Pháp trở nên sâu sắc hơn Đồng thời cũng đã dẫn đến những biến đổi trong cơ cấu
Trang 33kinh tế, đó là quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm dân cư mới Trong xã hội, nhiều ngành kinh tế mới ra đời như ngành kinh tế công nghiệp, khai thác mỏ, giao thông vận tải, thương nghiệp Trong nông nghiệp đã xuất hiện kinh tế đồn điền kinh doanh theo lối tư bản Tuy nhiên, thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận một cách tối đa Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu
Như vậy, với toàn bộ chính sách bóc lột mang đậm màu sắc thực dân của Pháp, đã tất yếu dẫn đến kết quả một nền kinh tế Việt Nam què quặt, phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế của chính quốc, không thể phát triển toàn diện được, đất nước nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân bị bần cùng hóa, cực khổ, lầm than, Tình cảnh của người dân Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp được Nguyễn Ái Quốc phản ánh như sau: “Một bên là những người bản xứ bị dìm trong cảnh dốt nát và suy yếu bởi một hệ thống tinh khôn nhồi sọ, đần độn hóa, không lấp liếm hết được dưới một dạng giáo dục bịp bợm: họ phải đổ mồ hôi sôi nước mắt trong những thao tác nặng nhọc nhất và bạc bẽo nhất để kiếm sống một cách chật vật… một bên là những người Pháp và người nước ngoài: họ đều đi lại tự do, tự dành cho mình tất
cả các tài nguyên của đất nước, chiếm đoạt toàn bộ xuất nhập khẩu và tất cả các ngành nghề béo bở nhất, bóc lột trâng tráo trong cảnh dốt nát và nghèo khốn của nhân dân” [49, tr 8]
Cùng với sự bóc lột nặng nề về mặt kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách khắc nghiệt trên lĩnh vực chính trị, văn hóa
Trang 34Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế về chính trị
Chúng cai trị trực tiếp và thẳng tay đàn áp, không cho dân ta một chút quyền
tự do dân chủ nào Chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do của nhân dân đều bị cấm Dưới bàn tay xảo quyệt của thực dân Pháp, giai cấp phong kiến, địa chủ trong chế
độ xã hội cũ, chẳng những không bị thủ tiêu mà ngược lại, chúng đã khai thác, sử dụng, lợi dụng giai cấp đó như một công cụ đắc lực, một cơ sở xã hội vững chắc cho sự thống trị, bóc lột của chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam Thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị, chia rẽ ba nước Đông Dương, xóa tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ chính trị thế giới, lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp Ở Việt Nam, Pháp còn chia rẽ giữa ba kỳ với ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản sự đoàn kết của dân tộc
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược
Về văn hóa – giáo dục, người Pháp thực hiện chính sách văn hóa giáo
dục mang tính thực dân, đặc biệt chúng cổ xúy cho những tư tưởng vong bản, chống đối, ngăn cản những tư tưởng tiến bộ kể cả tư tưởng dân chủ tư sản Pháp Chúng dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu và đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn, thuốc phiện, chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học,… chúng đã làm cho con người Việt Nam không thể phát triển được một cách toàn diện, thậm chí bị suy thoái về đạo đức, làm suy nhược giống nòi
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp với những biến đổi to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục đã làm cho xã hội Việt Nam
Trang 35có sự phân hóa sâu sắc, cấu trúc xã hội cổ truyền dần bị phá vỡ Bên cạnh các giai cấp cũ (địa chủ và nông dân), đã ra đời những giai cấp và tầng lớp
xã hội mới (giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tiểu tư sản)
Giai cấp địa chủ phong kiến, đã từng có vai trò tích cực và tiến bộ
trong lịch sử dân tộc Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp thì giai cấp này có sự phân hóa: Một bộ phận can tâm bán nước, làm tay sai cho Pháp để duy trì quyền lợi của họ Một bộ phận khác nêu cao truyền thống và tinh thần dân tộc, khởi xướng và lãnh đạo các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp để giành độc lập và bảo vệ chế độ phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương Một số trở thành người lãnh đạo phong trào nông dân, phong trào quần chúng chống thực dân Pháp và chống lại triều đình phong kiến bán nước Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa
Giai cấp nông dân, là lực lượng to lớn trong dân cư (chiếm khoảng
90% dân số), đây là giai cấp bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất Họ chịu hai tầng áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và phong kiến Họ bị bần cùng hóa,
bị tước đoạt ruộng đất, bị mất nhà cửa, bị lâm vào cảnh đói rét, buộc phải tha phương cầu thực, đi làm phu mỏ, phu đồn điền Tình cảnh khốn khổ bần cùng của người nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc Pháp và phong kiến tay sai Chính vì vậy, họ hăng hái chống đế quốc và phong kiến, càng khát khao độc lập và ruộng đất, sẵn sàng tham gia vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
Giai cấp công nhân Việt Nam, ra đời và phát triển trong quá trình thực
dân Pháp thực hiện các cuộc khai thác thuộc địa Nguồn gốc của giai cấp công nhân Việt Nam, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, đó là những người nông dân bị bần cùng hóa - nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam Ngoài ra, còn có một bộ phận
Trang 36thợ thủ công, Với nguồn gốc xuất thân như vậy, giai cấp công nhân Việt Nam có quan hệ trực tiếp, gần gũi và chặt chẽ với giai cấp nông dân Đặc điểm này là cơ sở khách quan, thuận lợi cho công nhân và nông dân liên minh chặt chẽ trong quá trình đấu tranh cách mạng Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, đồng thời còn có những điểm riêng của mình như: phải chịu ba tầng lớp áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ); phần lớn vừa mới từ nông dân bị bần cùng hóa mà ra, nên có mối quan hệ gần gũi nhiều mặt với nông dân Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên nội
bộ thuần nhất, không bị phân tán về lực lượng và sức mạnh Mặc dù mới ra đời còn nhỏ bé về số lượng, trình độ văn hóa, kỹ thuật công nghệ còn thấp nhưng giai cấp công nhân Việt Nam thật sự đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, một giai cấp tập trung, có ý thức kỷ luật và năng lực cách mạng, có tinh thần quốc tế vô sản
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao,
có tinh thần cách mạng triệt để, lại mang bản chất quốc tế Họ là một động lực cách mạng mạnh mẽ và khi liên minh được với giai cấp nông dân và tiểu tư sản sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do Khi được tổ chức lại và hình thành được một đảng tiên phong cách mạng được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng triệt để là chủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp công nhân trở thành người lãnh đạo cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc
Giai cấp tư sản Việt Nam, hình thành trong quá trình khai thác thuộc
địa của thực dân Pháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp rõ rệt Ra đời trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh
Trang 37tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành hai bộ phận:
Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc,
bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc
Tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm
những tư sản loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp và cả tiểu thủ công nghiệp Họ muốn phát triển chủ nghĩa tư bản của dân tộc Việt Nam, nhưng do chính sách độc quyền và chèn
ép của tư bản Pháp nên không thể phát triển được Xét về mặt quan hệ với
đế quốc Pháp, tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước, có mâu thuẫn về quyền lợi với bọn đế quốc thực dân và phong kiến, nên họ có tinh thần chống đế quốc và phong kiến Giai cấp tư sản dân tộc là một lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
Giai cấp tiểu tư sản bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: tiểu thương,
tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do Giữa những bộ phận đó có sự khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng nhìn chung, địa vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại
bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẻ nên rất hăng hái cách mạng Đặc biệt là tầng lớp trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào quần chúng công nông đã thức tỉnh, họ bước vào trận chiến đấu giải phóng dân tộc ngày
Trang 38một đông đảo và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng, nhất là ở đô thị Giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc
Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và
cả Đông Dương nói chung là một chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa, giáo dục, chứ không phải đem đến cho nhân dân một sự "khai hoá văn minh" - một sự khai hoá và cải tạo thực sự theo kiểu phương Tây Bản chất của "sứ mạng khai hoá" đó chính là sự khai thác thuộc địa diễn ra dưới lưỡi lê, họng súng, máy chém, v.v Hồ Chí Minh từng nói về "nhà khai hoá" như sau: "Khi người ta đã là một nhà khai hoá thì người ta có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất”[50, tr 56] Và nếu dân bản xứ không chịu nhục được, phải vùng lên, thì các nhà khai hoá "điều quân đội, súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến, người ta ra lệnh giới nghiêm Người ta bắt bớ và bỏ tù hàng loạt Đấy! Công cuộc khai hoá nhân từ là như thế đấy!" [50, tr 56]
Và với sự "khai hoá văn minh" ấy nước Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều
bị đặt trong quỹ đạo chuyển động của xã hội đó
Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, Việt Nam muốn phát triển đi lên thì đồng thời phải giải quyết được những mâu thuẫn trên Phải đánh đổ chủ nghĩa đế
Trang 39quốc thực dân đang cai trị nước ta đi đôi với xóa bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến đang đè nặng lên đời sống của con người Đấu tranh giành độc lập dân tộc không thể tách rời đấu tranh giành dân chủ, tự do, đáp ứng yêu cầu của nông dân muốn làm chủ ruộng đất; của công nhân muốn làm chủ xí nghiệp, nhà máy, công trường; của tri thức muốn được phát triển văn hóa dân tộc, của toàn thể nhân dân muốn làm chủ đất nước
Trong bối cảnh trên, phát huy truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc, quần chúng nhân dân cùng với những người lãnh đạo của mình đã từ bùn đen đứng dậy chống thực dân Pháp xâm lược Chỉ trong gần một thế kỷ phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã không ngừng phát triển thu hút đông đảo quần chúng nhân dân, các sỹ phu yêu nước khắp ba miền và cả một số vua quan trong triều đình phong kiến
Từ phong trào Cần Vương, nghĩa quân Yên Thế đến những phong trào cải cách, Duy Tân, Đông Du, Việt Nam quốc dân Đảng và bao nhiêu cuộc đấu tranh khác nữa đã liên tiếp nổ ra, nhưng điều đáng tiếc rằng tất cả các phong trào yêu nước ấy đều bị thất bại, bị thực dân Pháp dìm trong bể máu
Phong trào Cần Vương kéo dài suốt 37 năm (từ năm 1885 đến năm 1896) dũng khí có thừa nhưng vẫn loay hoay trong hệ tư tưởng phong kiến
đã lỗi thời, không có khả năng tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân,
mà chủ yếu là nông dân, vì giai cấp phong kiến đã thối nát, phần lớn đã đầu hàng thực dân, làm tay sai cho đế quốc và đàn áp, bóc lột thậm tệ nông dân nên bị nhân dân oán ghét
Cuộc khởi nghĩa nông dân do cụ Hoàng Hoa Thám ở núi rừng Yên Thế kéo dài suốt 30 năm cũng thất bại do không có đường lối rõ ràng, không tập hợp được quần chúng đông đảo, đặc biệt không được nhân dân cả nước đồng lòng ủng hộ
Trang 40Thất bại của các cuộc khởi nghĩa trên chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và phong trào nông dân trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, dân chủ ở Việt Nam Sự thất bại này cũng chứng tỏ rằng “rõ ràng là đối với kẻ thù mới tư bản chủ nghĩa phương Tây, không thể dùng vũ khí cũ đã được ông cha dùng một cách đắc lực để đối đầu với kẻ thù phong kiến xưa kia nữa” [21, tr 371 – 372] Bởi vì khác với kẻ thù xâm lược truyền thống từ phương Bắc tới với âm mưu chiếm đoạt ruộng đất để mở rộng biên cương thì kẻ thù lần này của dân tộc lại đến từ trời Tây, chúng không chỉ có mưu
đồ xâm chiếm đất đai mà còn thực hiện âm mưu lớn của chúng là khai thác thuộc địa Kẻ thù lần này của dân tộc mạnh hơn, ghê gớm hơn và xa lạ hơn với dân tộc ta rất nhiều Sự chênh lệch ấy không chỉ thể hiện ở hai sắc thái văn hóa khác nhau mà còn thể hiện ở trình độ của hai nền kinh tế khác nhau, giữa một bên là nền văn hóa của thời đại phong kiến phương Đông với một nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn với một bên là nền văn hóa của chủ nghĩa tư bản phương Tây với một nền kinh tế đại công nghiệp tiên tiến Bởi vậy chỉ lấy giáo lê, lưỡi mác truyền thống của dân tộc để đọ với súng ống, đạn dược của kẻ thù thực dân, phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến thất bại
âu cũng là điều dễ hiểu
Từ thất bại của những phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến với những chuyển biến to lớn của thời cuộc ở đầu thế kỷ XX, đặc biệt là thành tựu của Nhật Bản trong cuộc duy tân đất nước, chủ trương canh tân Trung Quốc của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu như một luồng gió mới thổi vào Việt Nam, làm cho những trí thức Việt Nam bừng tỉnh, họ khao khát tìm đến học thuật tư tưởng mới, để mở mang đầu óc Dần dần họ đã phát hiện ra một kho tàng tư tưởng mới lạ ở chính xứ sở kẻ thống trị mình Trong bước chuyển biến của phong tráo cách mạng đầu thế kỷ XX, đã xuất
hiện những sĩ phu tư sản hóa, họ chính là những người đã châm ngòi và