Nguyễn Trường Tộ không chỉ là một nhà cải cách nổi tiếng, một người Công giáo yêu nước tha thiết, mà còn là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX.. Mặc dù bị hạn chế bởi thế
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - -
TRẦN ĐỨC KHÓA
NHỮNG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - -
TRẦN ĐỨC KHÓA
NHỮNG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN THỊ GIANG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Những tư tưởng cải cách của Nguyễn
Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” em
đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
Trước tiên cho phép em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Nguyễn Thị Giang - người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, quý thầy cô khoa Giáo dục Chính trị đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành đề tài nghiên cứu
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn đến các cô, các chú tại các cơ quan đã giúp
đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài liệu, khảo sát thực tế
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận
Em rất mong nhận được những ý kiến nhận xét của quý thầy, cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trần Đức Khóa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Triết học với đề tài “Những tư tưởng cải
cách của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân
tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trần Đức Khóa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 6
Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 6
1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 6
1.2 Cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ 12
1.3 Những tiền đề lý luận góp phần hình thành tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ 17
Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 21
2.1 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về kinh tế 21
2.2 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về chính trị - xã hội 27
2.3 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về văn hóa - giáo dục 31
2.4 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về quốc phòng an ninh - ngoại giao 33
Chương 3 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH 37
CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI 37
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 37
3.1 Thành tựu và hạn chế trong công cuộc đổi mới từ 1986 đến nay 37
3.2 Vận dụng tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay 46
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 6Không chỉ đến bây giờ, mà nhìn về quá khứ, vấn đề cải cách, đổi mới đất nước cũng đã từng được đặt ra vào một số thời kỳ, trên những phạm vi mức độ khác nhau, nhiều khi mới dừng lại ở từng mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa… nhưng cũng có khi đã khá toàn diện, có hệ thống, có những đề nghị cải cách nhằm
ổn định tình hình trong nước, tạo đà cho đất nước phát triển, nhưng cũng có những
đề nghị cải cách xuất phát từ nhu cầu của công cuộc chống ngoại xâm Tất cả những
tư tưởng cải cách, canh tân đất nước xuất hiện trong hoàn cảnh khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau và kết quả thành bại không giống nhau, nhưng đã khẳng định trong lịch sử Việt Nam đã từng tồn tại những xu hướng cải cách, canh tân đất nước mỗi khi yêu cầu khách quan của đất nước đặt ra
Nhìn lại lịch sử Việt Nam vào thời kỳ nửa sau thế kỷ XIX, từ khi vua Gia Long lên ngôi (1802) đến trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các vua triều Nguyễn đã thực hiện những chính sách sai lầm về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… làm cho nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng về mọi mặt Trong tình hình
đó, năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta Để có thể bảo vệ độc lập dân tộc đòi hỏi phải có đường lối đúng đắn vừa đánh thắng Pháp, vừa đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Tình hình đó đã tác động mạnh đến tầng lớp trí thức dẫn đến quá trình chuyển biến về tư tưởng theo những xu hướng khác nhau Trí thức Việt Nam lúc này không còn là một tầng lớp thuần nhất như ở thế kỷ trước, mà phân hóa thành phái chủ hòa, phái chủ chiến, phái thủ cựu, phái duy tân Trong đó
có một số trí thức trước những biến cố như sét nổ bên tai đã thật sự bừng tỉnh Họ
đã mạnh dạn bước qua nghi lễ phong kiến để lên tiếng đưa ra các ý kiến của mình
Trang 7nhằm thực hiện duy tân, cải cách đưa đất nước phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, kết hợp canh tân đất nước với bảo vệ độc lập dân tộc Trong các đề xướng canh tân đất nước ở nữa sau thế kỷ XIX, Nguyễn Trường Tộ được coi là người có
tư tưởng vượt trội bởi tính toàn diện và khả thi, bởi tầm ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài của các bản điều trần, đặc biệt là quan điểm về sự kết hợp giữa canh tân đất nước và bảo vệ Tổ quốc
Nguyễn Trường Tộ không chỉ là một nhà cải cách nổi tiếng, một người Công giáo yêu nước tha thiết, mà còn là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX Mặc dù bị hạn chế bởi thế giới quan duy tâm tôn giáo, nhưng Nguyễn Trường
Tộ đã có những tư tưởng triết học đặc sắc về nhân sinh, xã hội… Bên cạnh đó, Ông còn đưa ra không ít những kiến nghị trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, quốc phòng, ngoại giao…
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra cho chúng ta yêu cầu cần
kế thừa, phát huy và phát triển những kinh nghiệm của quá khứ để lại phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay Việc tìm hiểu quan điểm, tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ và giá trị của những tư tưởng đó không chỉ giúp chúng ta có đánh giá khách quan, chính xác về Nguyễn Trường Tộ, về trào lưu canh tân nửa sau thế kỷ XIX, mà còn giúp ích cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Những tư tưởng cải cách
của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp
Năm 1961, nhà xuất bản Giáo dục đã giới thiệu với bạn đọc tác phẩm: “Những
đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX” của Đặng Huy Vận và
Trang 8Chương Thâu Với công trình này các tác giả đã làm toát lên một phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học khi vận dụng xem xét các khía cạnh khác nhau trong
tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ Các tác giả không chỉ đánh giá về tầm vĩ mô, tính nhạy bén, vượt trước thời đại… của nhà tư tưởng canh tân này, mà còn đưa ra những kiến giải về sự ngây thơ trong nhận định bản chất của thực dân Pháp, sự bảo thủ về chính trị và một số điểm phi thực tế trong đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ Hai tác giả không né tránh mà nêu thẳng vấn đề, trong điều kiện lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX, nước nhà bị xâm lăng, đã xuất hiện hai xu hướng cứu nước: chống Pháp và duy tân, Nguyễn Trường Tộ theo xu hướng duy tân đất nước nhưng vẫn muốn trung quân, ông đã chủ trương hòa với Pháp, chỉ có điều chủ trương hòa của ông không hề có quyền lợi gắn với thực dân Pháp Tác phẩm đã cho tôi cái nhìn khá rõ nét về trí tuệ của Nguyễn Trường Tộ cũng như những giá trị và những điểm hạn chế trong tư tưởng cải cách đất nước của ông
Tiếp theo phải kể đến cuốn sách “Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo”
(2002), Nxb TP Hồ Chí Minh của tác giả Trương Bá Cần biên soạn Cuốn sách đã góp phần hình thành một “chân dung” Nguyễn Trường Tộ tương đối trọn vẹn Tác giả Trương Bá Cần đã tập hợp được tương đối đầy đủ những “ di thảo”, những “ tư liệu thành văn” của Nguyễn Trường Tộ Toàn tập “di thảo” này cũng chính là toàn
bộ cuộc đời và tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ được lưu giữ lại cho chúng ta và cho con cháu mai sau Cuốn sách đã cung cấp cho tôi sự hiểu biết về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ Bên cạnh đó, cuốn sách đã giúp tôi nghiên cứu, học tập về những tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ trên lĩnh vực kinh
tế, chính trị - xã hội, văn hóa - giáo dục, quốc phòng - an ninh và ngoại giao
Cuốn sách “Nguyễn Trường Tộ - Thời thế và tư duy cách tân” (2001), Nxb
Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh là công trình nghiên cứu của Hoàng Thanh Đạm, có thể giúp chúng ta giải đáp một số nhận thức về tầm cao trí tuệ, tinh thần yêu nước của nhà tư tưởng canh tân lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ cũng như một số điều bất cập và hạn chế lịch sử của ông Những cải cách của ông đã không được triều đình nhà Nguyễn chấp nhận Tác phẩm cũng đã chỉ ra sự nhận thức không đúng của nhà
Trang 9Nguyễn về những giá trị cải cách của Nguyễn Trường Tộ Đặc biệt, cuốn sách giúp tôi học tập về những giá trị trong những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ
về kinh tế, chính trị, văn hóa - giáo dục, quốc phòng ngoại giao Qua đó giúp tôi nghiên cứu và vận dụng những giá trị trong tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường
Tộ và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Và còn nhiều công trình khác viết về Nguyễn Trường Tộ như: “Nguyễn
Trường Tộ với triều đình Tự Đức” (2013), Nxb Trẻ của tác giả Nguyễn Đình Đầu;
“Nguyễn Trường Tộ - Nhà Cải Cách Lớn Của Việt Nam Thế Kỷ XIX” (2014), Nxb
Văn Hóa Thông Tin của tác giả Chương Thâu cũng đã trình bày cơ bản về con
người và những tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ Những tác phẩm này đã giúp tôi hiểu rõ hơn về cuộc đời cũng như những tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ
Những tác phẩm trên đây chủ yếu đề cập về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ gắn với công cuộc đổi mới ở Việt
Nam hiện nay Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Những tư tưởng cải cách của
Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua quá trình nghiên cứu, phân tích những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ, khóa luận đưa ra ý nghĩa của việc nghiên cứu những tư tưởng này đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ
Phân tích những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ ở Việt Nam
Chỉ ra ý nghĩa của việc nghiên cứu những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trang 104 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ
và công cuộc đổi mới ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trên các lĩnh vực: kinh tế; chính trị - ngoại giao; văn hóa - giáo dục; quốc phòng an ninh
Nghiên cứu công cuộc đổi ở Việt Nam mới từ năm 1986 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra trong đề tài, khi nghiên cứu, trình bày khóa luận tôi dựa trên cơ sở thế giới quan duy vật, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Chúng tôi vận dụng những nguyên lý của triết học Mác - Lênin như tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội… làm cơ sở cho những lập luận của mình Trong đó có sử dụng phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử tư tưởng dân tộc và đường lối của Đảng ta để luận giải những vấn đề đặt ra trong đề tài Phương pháp tiếp cận đề tài là cách tiếp cận lịch sử từ góc độ triết học Trong quá trình nghiên cứu, tùy từng vấn đề cụ thể, tôi sử dụng các phương pháp: lịch sử, logic, phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, so sánh đối chiếu…
6 Đóng góp khoa học của khóa luận
Khóa luận đã hệ thống hóa, khái quát hóa những tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ trên lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, giáo dục và quốc phòng ngoại giao Khóa luận đã chỉ ra sự vận dụng tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề lịch sử tư tưởng Việt Nam, vấn đề tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ và về công cuộc đổi mới ở Việt Nam
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài các phần: Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được chia làm 3 chương và 9 tiết
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
1.1.1 Về kinh tế
Trong nông nghiệp:
Diện tích canh tác đã tăng một cách đáng kể, tuy vậy vẫn không bù lại được số ruộng bị bỏ hoang do thiên tai, mất mùa, nhiều nông dân đã phải đi lưu tán Sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính độc canh, đại đa số bộ phận diện tích đất canh tác đều trồng lúa Do kỹ thuật lạc hậu nên năng suất không cao (khoảng 9 tạ/ha)
Đến cuối những năm cuối thế kỷ XIX, tư bản Pháp tăng cường cướp đoạt
ruộng đất của nông dân: “Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho
bọn địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền mà chúng gọi là đất vô chủ” [4;
tr.284] Tiếp đến năm 1897, triều đình Huế lại ký điều ước nhượng cho Pháp quyền khai khẩn đất hoang Ngày 1/5/1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất của vua Nguyễn Từ đây thực dân Pháp tha hồ tước đoạt ruộng đất
của nhân dân ta “Năm 1900, diện tích của các đồn điền người Âu là 322.000ha,
trong đó ở Nam Kỳ là 78.000 ha” [4; tr.287] Phương thức kinh doanh trong các đồn
điền của Pháp chủ yếu vẫn là phát canh thu tô, thực dân Pháp ít quan tâm đến kỹ thuật khiến cho đất đai ngày càng nghèo nàn, sức lao động trở nên kiệt quệ
Trong thủ công nghiệp:
Đến giữa thế kỷ XIX, thủ công nghiệp Việt Nam đã khá phát triển Một số nghề có xu hướng tách khỏi nông nghiệp hình thành ra các làng nghề hay phố nghề: Nghề gốm ở Bát Tràng, Thổ Hà; nghề dệt ở Vạn Phúc, La Khê (Hà Đông)…
Đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam thì thủ công nghiệp Việt Nam bắt đầu chịu sự tác động và chi phối của chiến tranh như nghề đóng tàu thuyền, làm vũ khí…Bên cạnh các xưởng thủ công do nhà nước quản lý, một số xưởng thủ công dân gian đã mọc lên ở nhiều nơi
Nhìn chung vào cuối thế kỷ XIX, nền sản xuất thủ công nghiệp nước ta bắt
Trang 12đầu có những thay đổi, hoặc do nhu cầu chiến tranh, hoặc do nhu cầu của công cuộc
đô hộ bóc lột của tư bản Pháp Các hoạt động thủ công vẫn còn gắn chặt với nông nghiệp, tồn tại với tư cách là nghề phụ gia đình
Trong công nghiệp: Trong khi kìm hãm nông nghiệp trong vòng lạc hậu, thực
dân Pháp đầu tư vào một số ngành kinh tế để khẳng định vị trí của tư bản Pháp ở Đông Dương Trước hết là đầu tư những ngành khai mỏ: thiếc, kẽm, sắt, thủy ngân…đặc biệt là than Trong lĩnh vực khai thác mỏ, mỏ than đặc biệt chú ý, tổng sản lượng khai thác than năm 1892 là 95.000 tấn, đến năm 1900 là 201.000 tấn Thực dân Pháp chú trọng xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp, vừa thỏa mãn nhu cầu thị trường Đông Dương và kiếm được nhiều lợi nhuận, vừa có khả năng cạnh tranh ở thị trường Viễn Đông Phương thức kinh doanh chủ yếu là tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa sức lao động thủ công kết hợp với cơ giới, kết hợp bóc lột tư bản với phong kiến, nhờ đó mà lợi nhuận thu được không ngừng tăng lên Một nền công nghiệp đã xuất hiện ở nước ta nhưng đó chỉ là một nền công nghiệp phiến diện, què quặt, không có công nghiệp nặng, thể hiện rõ tính chất thuộc địa
Trong thương nghiệp:
Trong lĩnh vực thương nghiệp, Việt Nam là thị trường độc chiếm của tư bản
Pháp: “Hàng hóa Pháp nhập vào Việt Nam chỉ phải đóng thuế 2,5% trong khi hàng
hóa các nước khác phải đóng thuế 5% giá trị” [4; tr.287] Ngoài ra thực dân Pháp
còn ra sức chèn ép thương nhân Việt Nam, dung dưỡng cho thương nhân Hoa Kiều làm đại lý cung ứng hàng xuất khẩu, buôn bán và tiêu thụ hàng hóa Pháp
Ngày 11/1/1892, Pháp ra một đạo luật mới, quy định hàng hóa Pháp hoàn toàn được miễn thuế còn hàng hóa nước khác phải đóng từ 25% đến 120% giá trị khi nhập khẩu vào Việt Nam Chính sách độc quyền thương mại của thực dân Pháp làm bần cùng hóa nhân dân lao động và bóp chết các ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam Toàn bộ chính sách đầu tư, khai thác bóc lột của thực dân Pháp ở Đông Dương
là một chính sách hẹp hòi, ích kỷ, thiển cận nhằm trói buộc nền kinh tế nước ta phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp Đây là chính sách cướp bóc của thực dân Pháp bằng
Trang 13phương pháp bóc lột tư bản chủ nghĩa kết hợp với hình thức bóc lột dã man thời trung cổ
Tình hình kinh tế suy đốn như vậy, cho nên nền tài chính của nhà nước cũng
bị khốn quẫn Ngay từ khi Tự Đức lên ngôi, Trương Quốc Dụng đã tâu: “Tài lực
của nhân dân không bằng 5,6 phần 10 năm trước”[6; tr.57] Năm 1860 Nguyễn Tri
Phương than: “Quân và dân của đã hết sức yếu”[6; tr.57] Dưới triều Nguyễn, thời
Gia Long, Minh Mạng, nhà nước còn đúc được tiền, nhưng đến thời Tự Đức nhà nước không đúc được tiền nữa nên tiền đồng, tiền kẽm rất ít, phải nhờ thương nhân Trung Hoa đúc một hạng tiền lấy niên hiệu Tự Đức vừa mỏng vừa xấu, gọi là tiền sếnh, nhân dân không ai chịu tiêu Đời sống của nhân dân lại càng điêu linh, cực khổ Trong lúc đó, nhà Nguyễn vẫn tăng cường bóc lột nhân dân để thỏa mãn cuộc sống xa hoa, phung phí của chúng và nộp chiến phí cho giặc Chúng tìm mọi cách
để bóc lột nhân dân và kiếm tiền như đánh thuế rượu, bỏ lệ cấm thuốc phiện để đánh thuế Bộ máy quan liêu đã thối nát lại càng trở nên đồi bại Chúng chỉ biết tham ô vơ vét và bóc lột nhân dân Cuộc sống của người dân đã khổ cực lại càng thêm cực khổ
1.1.2 Về chính trị - xã hội
Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp
nặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp,
từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc
Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án ; biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu
Để phục vụ cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng nhà nước thống nhất, chặt chẽ, đồng thời thực hiện thủ đoạn “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”
Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp kí sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương gồm các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia, đến ngày 19/4/1899, tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên Bang Đông
Trang 14Dương Đứng đầu Liên bang Đông Dương là viên toàn quyền người Pháp, đại diện cho chính phủ Pháp trực tiếp cai trị Đông Dương về mọi mặt Dưới hội đồng tối cao Đông Dương, có các cơ quan Trung ương về quân sự, dân sự, pháp lý, thanh tra, cảnh sát, tài chính…đặc trách các công việc giúp toàn quyền điều hành bộ máy thống trị và khai thác bóc lột Việc củng cố chính quyền Liên bang gắn với việc củng cố chính quyền các xứ Thủ đoạn “chia để trị” là một trong những nguyên tắc chỉ đạo hành động của chúng Nước Việt Nam chia làm ba xứ với ba chế độ khác nhau Nam kỳ là xứ thuộc địa gồm 20 tỉnh do thực dân trực tiếp cai trị về mọi mặt Trung Kỳ là xứ bảo hộ chia làm 14 tỉnh do một viên quan khâm xứ Pháp đứng đầu, triều đình Huế vẫn được duy trì với tên gọi “chính phủ Nam triều” Nhưng mọi quyền hành đều ở Tòa Khâm sứ do viên Khâm sứ Pháp đứng đầu Ngoài ra còn có hội đồng bảo hộ gồm một hay hai đại diện của phòng Thương mại hay Canh nông, hai đại diện của Viện Cơ mật Bắc Kỳ là xứ “nửa bảo hộ” do một viên thống sứ người Pháp đứng đầu Bên cạnh Phủ Thống sứ có Hội đồng bảo hộ và hai Phòng Thương mại và Canh nông ở hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng Bắc Kỳ có 26 tỉnh, 35 đại lí, 4 đạo quan binh và hai thành phố Hệ thống chính quyền ở Trung Kỳ
và Bắc Kỳ từ cấp tỉnh trở xuống về đại thể giống nhau Đứng đầu mỗi tỉnh là một viên Công sứ người Pháp Bên cạnh tòa Công sứ, hệ thống tổ chức quan lại cũ vẫn được duy trì Tất cả các quan “Nam triều” này chỉ đóng vai trò thừa hành những quyết định của Tòa Công sứ Pháp Mỗi tỉnh chia làm nhiều phủ, huyện bao gồm các tổng, xã, làng, đạo, châu đối với các tỉnh miền núi là các tổng, làng, bản Song song với việc tăng cường và củng cố bộ máy hành chính, thực dân Pháp còn tăng cường
bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án, nhà tù nhằm nhanh chóng hoàn thành triệt để công cuộc bình định, để “phòng thủ Đông Dương”, “ mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là các nước lân cận với Đông Dương” và phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột
Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát đó là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với chế độ riêng cho từng xứ cùng hệ thống tòa án, nhà tù dầy đặc khắp Việt Nam Từ huyện, phủ, châu trở lên đều có nhà tù và trại giam Ngoài ra thực dân Pháp còn
Trang 15thực hiện nhiều thủ đoạn chia rẽ dân tộc và tôn giáo Bộ máy chính quyền của thực dân Pháp được thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp với giai cấp phong kiến phản động do thực dân Pháp chi phối nhằm thực hiện chính sách khai thác, bóc lột vô cùng tàn bạo của chúng
Về xã hội, nhà Nguyễn dùng luật pháp hà khắc, quân đội, nho giáo phản động
làm công cụ kìm kẹp nhân dân về mọi mặt, cho nên mâu thuẫn xã hội vốn đã có mâu thuẫn nay càng trở nên gay gắt, quyết liệt hơn Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra và kéo dài Vì đời sống cơ cực, tô thuế, sưu dịch nặng nề và bởi các chính sách đối nội đối ngoại không phù hợp của triều Nguyễn nên các cuộc khởi nghĩa liên tục nổ ra, khó có thể dập tắt Để đối phó với phong trào nổi dậy của nhân dân, triều đình đã thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa một cách tàn bạo Khiến cho lòng dân than oán, chia lìa, khối đoàn kết dân tộc bị rạn nứt
1.1.3 Về văn hóa - giáo dục
Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc về văn hóa là một trong những biện pháp cai trị của bọn thực dân Mục đích của nền giáo dục thuộc địa là góp phần duy trì ách thống trị vĩnh viễn của bọn thực dân Pháp Vì vậy tùy theo yêu cầu về chính trị và kinh tế của từng thời kỳ, thực dân Pháp đề ra những chủ trương
cụ thể
Để thực hiện mục đích trên, thực dân Pháp lợi dụng nền giáo dục Nho học với chế độ khoa cử lỗi thời Các trường học chữ Pháp bắt đầu được mở, chữ Hán dần mất địa vị độc tôn Đặc biệt, năm 1896, Pháp cho thành lập trường Quốc học Huế đặt dưới quyền kiểm soát của Khâm sứ Trung Kỳ Trường thu nhận con em quan lại cao cấp người Việt Nam vào học nhằm đào tạo đội ngũ tay sai trung thành với chế
độ thuộc địa
Báo chí là một công cụ tuyên truyền đắc lực cho sự thống trị của thực dân Pháp Việc xuất bản sách, báo, tranh ảnh cũng được chú ý Sách được xuất bản thành 4 ngôn ngữ: Hán, Nôm, Pháp, Quốc Ngữ Hoạt động xuất bản đã đánh dấu một bước phát triển mới, chuyển từ xuất bản sách phần lớn là chữ Hán và chữ Nôm
sang phần lớn chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp: “Sự xuất hiện và phổ biến chữ Quốc ngữ
Trang 16đã trở thành cỗ xe nhẹ nhàng chở những luồng tư tưởng mới để sau đó trở thành vũ khí đấu tranh của dân tộc Việt Nam chống thực dân và phong kiến”[4; tr.289]
Tình hình sinh hoạt văn hóa có ít nhiều biến đổi và phát triển, chủ yếu ở các
đô thị Ở nông thôn văn hóa làng vẫn tồn tại trong chính sách “bần cùng hóa” và
“ngu dân hóa” Những thói hư tật xấu của xã hội được thực dân Pháp dung dưỡng Các tệ nạn xã hội vẫn còn tồn tại và ngày càng trầm trọng hơn: Cờ bạc, rượu chè…cùng với đó là những hủ tục ma chay, cưới xin, nạn bói toán, mê tín dị đoan ngày càng nặng nề Nhân dân bị thất học hơn 90%
1.1.4 Về quân sự quốc phòng
Là một quốc gia phong kiến được xếp vào hàng tương đối mạnh ở khu vực Đông Nam Á, Nhà Nguyễn đã chú ý tới việc xây dựng và phát triển lực lượng quân đội, bao gồm bộ binh, kị binh, tượng binh và pháo binh
Thời Thiệu Trị và Tự Đức việc binh vẫn được chú ý Song một khi lòng dân
đã li tán, xa rời, chống lại triều đình thì dùng có lực lượng đông nhưng chưa mạnh Triều Nguyễn tài chính suy kiệt, kỹ thuật lạc hậu, đến giữa thế kỉ XIX mà vẫn huấn luyện theo kiểu trận đồ bát quái, ngũ hành, long thao, hồ lược Vũ khí chủ yếu là gươm giáo, súng điểu thương, súng lớn đúc bằng đồng được bố trí ở thành quách độ chuẩn xác không cao, ít cơ động Binh lính thì bị ngược đãi, vũ trang kém, lương bổng, quân tư trang thiếu thốn Trong lúc binh lực suy tàn, tài chính kiệt quệ, lòng dân oán trách thì triều đình hết sức bảo thủ, không chịu duy tân cho nên không đủ khả năng đương đầu với thực dân Pháp Năm 1859, khi thực dân Pháp nổ súng tấn
công Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương đã nói: “quân và dân đã hết, sức đã yếu”
Cuối thế kỷ XIX nước ta lâm vào tính trạng khủng hoảng về mọi mặt: kinh tế ngày càng kiệt quệ, chính trị - quân sự bất ổn, xã hội phân hóa sâu sắc, văn hóa - giáo dục thấp kém Thêm vào đó là sự nhòm ngó, mở rộng xâm lược của tư bản Pháp Hoàn cảnh đó đặt ra yêu cầu đối với triều đình nhà Nguyễn: Một là, tiến hành cải cách mở cửa, trấn hưng đất nước, chuẩn bị mọi lực lượng, kế hoạch tác chiến, đường lối kháng chiến để tiến hành kháng chiến chống xâm lược Hai là, bắt tay với Pháp trở thành tay sai, thuộc địa của tư bản phương tây Trước yêu cầu đó, Nguyễn
Trang 17Trường Tộ cùng với một số sĩ phu yêu nước đã đề nghị triều đình Tự Đức canh tân đất nước Theo ông, đất nước đang trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về mọi mặt như vậy thì phải tiến hành cải cách trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, ngoại giao
1.2 Cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ
1.2.1 Nguyễn Trường Tộ khi chưa hình thành tư tưởng cải cách
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830, ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, trong một gia đình theo đạo Gia tô Thân sinh ra Nguyễn Trường Tộ là một thầy thuốc Bắc có tiếng và có những mối quan hệ mật thiết với nho sĩ trong vùng Ông thông minh, học giỏi, nên được truyền tụng là "Trạng Tộ" Nguyễn
Trường Tộ còn học thông tứ thư ngũ kinh của Nho giáo
Ngôi làng Bùi Chu phía Đông giáp với nhánh sông xuôi về thị xã Vinh, là nơi buôn bán sầm uất Phía Tây là những dãy núi chứa nhiều quặng sắt đang được khai thác Dân làng lấy quặng để nấu sắt hoàn toàn thủ công và theo lệ hằng năm phải nộp cho nhà nước 80 cân sắt nấu thành phẩm Một trục lộ chính (sau này trở thành quốc lộ) đi qua ngôi làng tạo nên sự khởi sắc, giao lưu giữa giới nho sĩ, dân chúng
tụ họp, buôn bán, trao đổi hàng hóa Hoàn cảnh xuất thân từ gia đình và quê hương
đã ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng Nguyễn Trường Tộ sau này
Thiếu thời, Nguyễn Trường Tộ được thân sinh truyền đạt những kiến thức căn bản Nho giáo Tiếc thay, khi Nguyễn Trường Tộ vừa mới lớn thì thân sinh qua đời Gia cảnh trở nên khó khăn Vì thiếu một chỗ tựa, chính thân mẫu đành gửi con sang thụ giáo ông Tú Kép vốn là nơi quen biết gia đình Nhận thấy Nguyễn Trường Tộ thông minh, có khả năng tiến xa hơn, nên cụ Tú Kép gửi cậu Tộ sang học với một ông Cống sinh giỏi hơn tên là Hựu ở xã Kim Khê Một lần nữa, thầy Hựu phải khâm phục cậu học trò bẩm tính thông minh lại đại tài đại chí này Thầy Hựu dẫn trò Tộ lên huyện - phủ để ra mắt và xin làm môn sinh dưới mái trường Địa Linh Tư chất và tài học của cậu học trò Tộ đã làm mọi người thán phục Lúc đó cậu đã bước sang tuổi thanh niên
Mọi người nghĩ rằng, sau khi thụ huấn với thầy Địa Linh xong, Nguyễn Trường Tộ sẽ lều chõng lỉnh kỉnh đến trường thi để toại chí bao năm đèn sách
Trang 18Nhưng không, Nguyễn Trường Tộ mang trong lòng một hoài bão khác Phải đến sau năm 1868 từ khi giã biệt thầy Địa Linh, nhìn bằng hữu đến trường thi, Nguyễn
Trường Tộ mới bộc lộ cái hoài bão đó: “Từ mười lăm năm nay, tôi đã biết rõ tất
phải có mối lo như ngày nay nên tôi đã ra sức tìm tòi học hỏi trí khôn của mọi người…”[2; tr.135] và: “Vậy học là gì? Học là học cái chưa biết để mà biết, biết để
mà làm Mà làm việc gì? Và làm ở đâu? Làm tức là làm công việc thực tế trong nước hiện nay và để lại việc hữu dụng đó cho đời sau nữa”[20; tr.102]
Tân nho sinh Nguyễn Trường Tộ mang hoài bão trở về nhà chờ đợi sẽ có ngày
ý nguyện mình thực hiện Tại đây, Nguyễn Trường Tộ được Giám mục Gauthier (tên Việt Nam Ngô Gia Hậu) mời vào dạy chữ Hán cho Chủng viện xã Đoài Nhận thấy Nguyễn Trường Tộ trí khôn lanh lợi, lại có những tư chất cầu tiến, Giám mục Gauthier quyết định dạy tiếng Pháp và một số môn khoa học phổ thông cho Nguyễn Trường Tộ Đây là cơ hội để Nguyễn Trường Tộ tiếp xúc với kiến thức từ văn minh phương Tây ngoài kiến thức Nho giáo sở trường của mình Một thế giới nhận thức khác mở ra trong tư duy Nguyễn Trường Tộ khác hẳn cách nghĩ của Khổng học Giám mục Gauthier cảm phục cách làm việc, nghiên cứu của người học trò này Năm 1858, một số biến cố quan trọng xảy ra Liên quân Pháp và Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của trung tướng Rigault De Genouilly tấn công và chiếm cảng Tuorane (Đà Nẵng) Tự Đức và triều đình phản ứng lại bằng cách bách hại người công giáo rất khốc liệt Cường độ cuộc bách hại này cao hơn so với thời hai vua Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847) Họ cho rằng Thiên Chúa giáo
là nguy cơ phá vỡ truyền thống Khổng giáo của dân tộc và tiếp tay với thực dân Pháp để xâm lược Việt Nam Ngoài những hình thức truy bắt, tù đày, trảm quyết,
Tự Đức cùng triều đình còn áp dụng chính sách “Phân - Tháp” đối với người Công Giáo Sự kiện này càng kích động thêm giới nho sĩ Họ kích động nhân dân nổi dậy chống đối người có đạo Công Giáo Về phía mình, người Công Giáo bị dồn vào chân tường, nhiều người đã chấp nhận cái chết như biện pháp để giải quyết hai vấn
đề trọng yếu của đời họ: vừa trung thành với niềm tin vừa không mang tiếng là
“phản quốc” Trước tình hình nguy kịch toàn diện đó, sự tồn tại là điều thiết yếu
Trang 19nhất, chủng viện xã Đoài giải tán, Nguyễn Trường Tộ theo giám mục Gauthier sang Pháp để tránh cơn bách hại dữ dội này
1.2.2 Nguyễn Trường Tộ từ khi hình tư tưởng cải cách
Trong thời gian ở Pháp (1858 - 1861), Nguyễn Trường Tộ tận dụng tối đa những điều kiện khả dĩ để nâng cao việc học của mình, mong rằng sau này làm được cái gì đó cho dân tộc Với tầm nhìn xa, cộng thêm lòng yêu nước chân thành Nguyễn Trường Tộ không oán trách Tự Đức cũng như giới nho sĩ đồng liêu của mình trước cơn bách hại đang xảy ra ở quê nhà Trong lòng Nguyễn Trường Tộ vẫn mang một hoài bão về quê hương khi đặt đất nước mình trong vị thế đối sách với
các nước mình đã đi qua, nhất là nước Pháp: “Hồi chiếu dẫu không nương ánh
sáng, Hướng dương xin vẫn nếp hoa quỳ”[20; tr.29]
Chuyến đi này tạo cho Nguyễn Trường Tộ cơ hội tiếp xúc trực tiếp với thế giới Tây phương Một quá trình nghiên cứu thực tế kết hợp với những kiến thức đã diễn ra trong thời gian này tạo cho Nguyễn Trường Tộ có một cái nhìn mở rộng, thức thời Ông quyết định nghiên cứu tường tận để hiểu đâu là sức mạnh, tiến bộ của người phương Tây Về cách làm việc của Ông, lĩnh vực nào Ông cũng để ý đến, trên là thiên văn cao xa, dưới là địa lý sâu sắc, giữa là nhân sự phiền phức; cho đến luật lịch, binh thư, bách nghệ, cách trí, thuật số đều nghiên cứu đến nơi cả Không những Ông học trong sách vở, trên ghế giảng đường, trong thư viện, như sinh viên ngày nay, mà Ông còn tìm thực tế bằng cách vào các nhà máy, xưởng thợ nghiên cứu, quan sát, kiểm chứng giữa lý thuyết và thực tiễn, tìm ra cái kỹ xảo của người Châu Âu Ông còn mô tả cách tổ chức trong xưởng, sản phẩm được chế tạo, hình dạng, kích thước, giá cả, ứng dụng của sản phẩm trong thực tế Nguyễn Trường Tộ
tự đưa ra các phương châm cho cuộc đời, hành động của mình, sống bất trung với nước tức là bất trung với mình
Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ về nước với hoài bão lớn là đem sự học của mình để giúp canh tân đất nước, tự cường tránh được tai họa mất nước Lúc này Pháp đã chiếm Gia Định Sự có mặt của Nguyễn Trường Tộ làm người Pháp hy vọng Họ mời Ông giữ chức vụ phiên dịch trong dinh, nhưng Ông từ chối Triều
Trang 20đình Huế đi từ thất bại này đến thất bại khác khi đụng độ với lực lượng thực dân Pháp Tháng 2 năm 1861, đại đồn Kỳ Hòa, nơi kiên cố tập trung hỏa lực mạnh nhất
ở miền Nam của triều đình Huế thất thủ Thực trạng đó làm Nguyễn Trường Tộ suy nghĩ nhiều Giữa tình hình rối ren đó, triều đình Huế lại không thống nhất trong hành động, chia làm hai phe: bên chủ chiến và bên chủ hòa Tự Đức không đủ sáng suốt để quyết đoán Bên chủ hòa thắng thế với chủ trương: “bãi việc binh đao cho dân nghỉ ngơi, liệu thời nuôi sức” Triều đình đi đến giải pháp hòa, chủ trương này
đã đưa Nguyễn Trường Tộ đến quyết định nhận làm thông dịch cho Pháp, để mong đóng góp phần lợi thế cho nước nhà qua cuộc hòa đàm bất lợi này Đây là nỗi khổ tâm của Nguyễn Trường Tộ khi phải làm một công việc bất đắc chí đó Khi Phan Thanh Giản thay mặt Triều đình vào thương thuyết với thực dân Pháp ở Nam Kỳ, Nguyễn Trường Tộ tìm cách gặp vị đại thần này
Bài thơ của Ông gửi Phan Thanh Giản bộc lộ nỗi lòng một con người luôn muốn phục hưng đất nước:
“Dệt mướn thôn Tây há bởi nghèo,
Nhà riêng khuôn khổ đã quen theo
Xóm Đông cung gấm như cần hỏi, Cặn kẽ kim vàng vẽ lối theo”[20; tr.30]
Nhận thấy thực dân Pháp ngày càng thể hiện rõ ý đồ xâm lăng, Nguyễn Trường Tộ xin thôi chức thông dịch cho Pháp: Từ giai đoạn này Nguyễn Trường Tộ giành hết thời gian, năng lực vào việc soạn thảo những kế hoạch để làm cho dân giàu, nước mạnh Mục đích cầm bút của Ông là nhằm thiết kế nên những cách thức khả dĩ đưa nước nhà thoát khỏi ngoại xâm bằng nội lực, khôn khéo của chính nhân dân mình
Trong vòng mười năm (1861 - 1871) Nguyễn Trường Tộ liên tục gởi lên Tự Đức và viện cơ mật hơn 58 bản Điều trần Đó là kết quả bao năm trời bôn ba hải ngoại, miệt mài nghiên cứu học hỏi vì một ngày mai tươi sáng cho nước nhà
“Mấy chục năm nay tôi bôn tẩu trong thiên hạ, thu thập những tình thế biến
thiên xưa nay, đem những điều đã đọc trong sách nghiệm ra việc đời Dù trao
Trang 21đổi với ai một lời nói, một câu chuyện, thâm tâm tôi cũng có ý thu lấy sự hiểu biết của người làm của mình, cho nên không kể là phải uốn nắn để cầu học hỏi, cũng khổ tâm lắm” [2; tr.287]
Khoảng cuối năm 1864 cho đến đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ đã gửi liên tiếp một số văn bản gửi lên vua và triều đình Ông nói những người phương Tây nếu được đối đãi tử tế cũng sẽ đối đãi tử tế với mình, còn nếu không họ sẽ chiếm làm thuộc địa giống như các nước ở châu Phi, nhưng chưa kịp gửi lên triều đình thì
bị họ Phạm ngăn cản Còn ba văn bản gởi cho ông Thành, thì có thể là các bài:
"Góp ý về việc mua và đóng thuyền máy" (cuối 1864), "Góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy" (tháng 2 năm 1865) và "Khai hoang từ" (tháng 2, 1866)
Hy vọng đã đến, năm 1866, Tự Đức giao cho Nguyễn Trường Tộ đi tìm mỏ
than Sau đó, qua những điều trần “Kế hoạch làm cho dân giàu, nước mạnh” (Bản điều trần số 5), “Tám việc cần làm” (Bản điều trần số 27) rất thiết thực Tự Đức
phái Nguyễn Trường Tộ cùng giám mục Gauthier sang Pháp thuê thầy và mua sắm trang thiết bị để về mở trường kỹ thuật theo phương pháp Tây Âu Đầu năm 1868, phái đoàn Nguyễn Trường Tộ về nước Kế hoạch mở trường kỹ thuật sắp thành hình Nhưng do sự phản ứng dị nghị của giới nho sĩ và triều thần, đồng thời lại sợ ảnh hưởng của Công Giáo, sợ ảnh hưởng phương Tây, Tự Đức chùn bước Dự án
mở trường không thành
Đi Pháp về, trong thời gian từ cuối tháng 2 cho tới cuối tháng 4 năm 1868, Nguyễn Trường Tộ đã gởi cho Triều đình, ít nhất là chín văn bản Ngoài văn bản đầu tiên (sau khi về tới Huế), còn nói về việc mở trường và phát triển đất nước, hầu hết các văn bản khác đều xoay chung quanh vấn đề sứ bộ đi Pháp
Tháng 10 (âm lịch) năm Tự Đức thứ 23 (1870), Nguyễn Trường Tộ gửi thư lên Triều đình đề nghị lập lãnh sự ở Sài Gòn và sứ quán ở Pháp để nắm tình hình Đầu tháng 11 năm đó, Ông lại xin được vào Nam tổ chức đánh úp quân Pháp để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ, nhân lúc Pháp đang thua Phổ (Đức) và Cách mạng Pháp đang nổi dậy
Trang 22Năm 1871, Nguyễn Trường Tộ ngã bệnh nặng Dù vậy, Ông vẫn gắng cầm bút thảo tiếp những điều trần gửi lên vua Tự Đức Văn phong trong những bản điều trần như có máu và lửa từ tấm lòng yêu nước chân Bệnh mỗi lúc càng nặng thêm, Nguyễn Trường Tộ liệt giường Đến ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức thứ 24, tức ngày 23 tháng 11 năm 1871, Nguyễn Trường Tộ đột ngột từ trần Sau khi qua đời,
di hài của ông được an táng tại thôn Bùi Chu (nay ở xóm 1, làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An)
1.3 Những tiền đề lý luận góp phần hình thành tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ
Có thể nói, tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ được hình thành là kết quả của một sự hỗn dung các tư tưởng của Nho giáo và tư tưởng của nền văn hóa Tây phương
1.3.1 Ảnh hưởng từ truyền thống Nho học
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình công giáo yêu nước, thân sinh Nguyễn Quốc Thư là một thầy thuốc giỏi, lại có hiểu biết nên ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Trường Tộ đã được làm quen với bút nghiên, kinh sách của Thánh hiền Vốn thông minh, lại ham học hỏi, Nguyễn Trường Tộ từ nhỏ nổi tiếng có trí nhớ hơn người, học đến đâu nhớ đến đó, ít khi làm bài Thuở nhỏ, ông học vỡ lòng về Hán học trong gia đình với thân sinh Sau theo học với tú tài Giai ở làng Bùi Ngõa, cống Hữu ở Kim Khê và quan huyện Địa Linh về hưu ở Tân Lộc Vì thế mà Ông có một vốn liếng về Hán học rất lớn không thua các vị khoa bảng trong triều Nguyễn lúc bấy giờ Văn chương, cú pháp cũng như kiến thức về lịch sử và luật lệ Đông phương cũ, qua các bài viết của Nguyễn Trường Tộ gửi lên triều đình vua Tự Đức không ai chê vào chỗ nào được Tuy nhiên, Nguyễn Trường Tộ không đậu đạt gì, một phần có lẽ vì Ông là người Công giáo nên không được đi thi, một phần có lẽ vì ông không muốn đi theo con đường khoa cử
Như vậy, có thể thấy những vốn liếng kiến thức về Hán học và những hiểu biết về lịch sử cũng như luật lệ Đông phương là rất lớn, là cơ sở, những tiền đề lý luận đầu tiên có ảnh hưởng đến hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ sau này
Trang 231.3.2 Ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây
Khi tìm hiểu tiền đề hình thành, khi bàn đến tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ, ngoài những vấn đề đã xem xét ở trên, cần phải đặt Ông trong văn hóa phương Tây
Sau khi thôi học chữ Hán, Nguyễn Trường Tộ đã dạy học chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài và được giám mục người Pháp tên là Gauthier (Ngô Gia Hậu), dạy cho học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các khoa học thường thức của Tây phương
Trong một bài viết tháng 5 năm Tự Đức thứ 17 (tức khoảng tháng 6- 1864),
Nguyễn Trường Tộ nói: “Từ 15 năm nay, tôi đã biết rõ tất phải có mối lo như ngày
nay, nên tôi đã ra sức tìm tòi, học hỏi trí khôn của mọi người để thêm sự hiểu biết cho mình, chứ không phải chỉ mới một ngày”[2; tr.26] Như thế có nghĩa là, Nguyễn
Trường Tộ đã bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Tây phương từ những năm 1848 - 1849 (theo như bài viết tháng 6 - 1864) và có thể đã đi ra nước ngoài từ những năm 1848
- 1849 hay chỉ từ 1859 - 1861
Đào Duy Anh, một trong những người được tiếp xúc nhiều với các tài liệu đầu
tay về Nguyễn Trường Tộ, đã nói rằng: “Mặc dầu là người Công giáo từ lúc sinh
ra, tâm hồn tiên sinh đã bị lay động mạnh bởi tiếng bom nổ ở Đà Nẵng năm 1848
và, từ lúc đó, người thanh niên 20 tuổi ấy quyết từ bỏ lối học cổ truyền để di theo lối học thực dụng Tiên sinh đã được giám mục Gauthier, giáo phận Xã Đoài, dạy cho tiếng Pháp, cung cấp các bản dịch chữ Hán của các sách Tây phương và cho đi
du lịch ở Hồng Kông và Singgapore”[2; tr.32]
Nói tóm lại, ngoài vốn liếng về Hán học, Nguyễn Trường Tộ đã sớm tiếp xúc với văn hóa phương Tây, trước hết có thể là qua các giáo sĩ thừa sai người Pháp, chủ yếu là giám mục Gauthier Nguyễn Trường Tộ cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, nếu không qua các nước Tây Âu thì cũng qua các nước Đông Nam Á, nơi đây Ông
đã được đọc các sách báo của Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc
Theo ông Đào Duy Anh và những người đã tới tham khảo các tài liệu tại nhà của Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ đã
Trang 24tìm thấy rất nhiều quyển sách chữ Hán thuộc loại Tân thư Nhờ đó mà vào đầu năm
1861, Nguyễn Trường Tộ đã có được một số kiến thức khá rộng lớn về khoa học, kỹ thuật cũng như khoa học - xã hội Tây phương
Thông qua cuộc xâm lược của các cường quốc tư bản chủ nghĩa, và quá trình truyền bá đạo Kitô, tức là phải tìm hiểu vấn đề Kitô giáo và vấn đề văn hóa, văn minh phương Tây thế kỷ XIX ở Việt Nam, đã tác động ảnh hưởng đến Nguyễn Trường Tộ như thế nào Vấn đề Kitô giáo luôn là một yếu tố quan trọng của văn hóa phương Tây Đạo Kitô khi truyền vào Việt Nam thường gặp phải sự bài xích của dân chúng và triều đình theo đạo Phật, đạo Nho, nó đã trải qua những bước thăng trầm, và cũng nhiều lần bị vua chúa cấm đoán trừng trị Kitô giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trường Tộ, bởi Ông được sinh ra và hoạt động trong môi trường Kitô giáo Là một giáo dân trong địa phận Nam Đàng Ngoài (Giáo phận Vinh), Nguyễn Trường Tộ chứng kiến những đợt khủng bố giáo dân dưới triều vua Tự Đức, và bản thân Ông đã phải lánh nạn với giám mục Gauthier vào Đà Nẵng năm 1858 Từ khi còn nhỏ, Nguyễn Trường Tộ đã tiếp thu văn hóa Kitô giáo, là người có học thức, lại thường xuyên để tâm nghiên cứu mọi vấn đề, ông hiểu sâu kinh thánh Điều này thể hiện rõ qua các di thảo, các bản điều trần của Ông Khi lập luận Ông thường viện dẫn kinh thánh, nhưng được vận dụng giải quyết vấn đề một cách khéo léo, và người đọc không hề thấy ở ông sự cuồng tín như những người “tử vì đạo” hay những giáo dân mê lú, quan niệm của Ông là tôn giáo nào cũng lấy điều trung hiếu làm chính Những bản điều trần ông xin triều đình đừng kỳ thị, đối xử bất công với giáo dân, đọc lên thật thiết tha có lý Có thể thấy, Nguyễn Trường Tộ tiếp thu văn hóa Kitô giáo theo tinh thần yêu người như yêu mình, như những điều răn của Chúa, và cũng giống như nhân cách một nhà Nho chân chính, điều này ở thời đại của Ông là rất hiếm Mặc dù đạo Kitô thời đó bị triều đình truy bức, bản thân Ông bị nghi ngờ, bài xích nặng nề nhưng Ông không một lời oán trách, trước sau vẫn giữ tấm lòng trung quân ái quốc Có thể nói, văn hóa Kitô giáo có ảnh hưởng quan trọng đến sự xuất hiện tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ
Trang 25Vậy là, một trong những yếu tố quan trọng làm xuất hiện tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ nói riêng, tư tưởng canh tân ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX nói chung, là sự xuất hiện của đạo Kitô, một thứ đạo chưa từng có, làm cho người ta vừa ngỡ ngàng, lo sợ, vừa thích thú Song, cũng do quá trình truyền đạo có sử dụng kiến thức khoa học để giải thích những vấn đề vốn mê tín, đã kích thích một số người, trong đó có Nguyễn Trường Tộ, mở rộng tư duy đến phương Tây tư bản chủ nghĩa và khoa học kỹ thuật Do vậy, khi nghiên cứu tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ, qua các bản điều trần của Ông, chúng ta cần nắm bắt ba vấn đề: Một là khoa học kỹ thuật mới lạ; Hai là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là kinh tế tư bản pha trộn với kinh tế nông nghiệp lạc hậu; Ba là lối Tư duy mới theo kiểu phương Tây trong con người Nho giáo Từ đó, chúng ta thấy ông đã được tiếp xúc trực tiếp, hoặc gián tiếp với văn hóa, văn minh phương Tây ở nhiều góc độ khác nhau, như ngoại giao, dò tìm thêm ngoài triều đình Đây là một nhân tố khách quan, quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự xuất hiện tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ Mặc dù các yếu tố văn minh, văn hóa, phương Tây đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu, nhưng chỉ đến khi Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, tiến hành xây dựng cơ sở vật chất ở một số địa điểm, làm bàn đạp cho tiến trình xâm lược Việt Nam, thì các yếu tố văn hóa, văn minh đó mới có điều kiện tác động mạnh hơn tới xã hội Việt Nam Năm 1863, Pháp khánh thành Sở bưu điện Sài Gòn, năm 1864 trường học tiếng Pháp và đào tạo thông ngôn được thành lập, cũng trong năm đó Pháp còn phát hành cả báo tiếng Pháp và báo tiếng Việt…
Khi đọc những di thảo của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta thấy ông có những kiến thức về phương Tây mà thời ấy, ở Việt Nam ít ai biết đến Ông hiểu về lịch sử thế giới và lịch sử nước Pháp, hiểu về quá trình bành trướng của các nước lớn ở phương Tây Mặc dù các di thảo của Ông hoàn toàn viết bằng chữ Hán, không hề có dấu vết ngữ văn phương Tây, song những kiến thức mà Ông tích lũy được lại chứng
tỏ rằng, Ông đã tiếp thu chúng từ văn minh, văn hóa phương Tây Còn việc tiếp thu như thế nào, bằng cách nào thì cần được nghiên cứu, tìm hiểu thêm Có thể, các giáo
sĩ phương Tây đã truyền thụ cho ông những kiến thức khoa học, kỹ thuật và những tư tưởng không hề được giảng dạy trong nhà trường truyền thống của dân tộc
Trang 26Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 2.1 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về kinh tế
Nguyễn Trường Tộ là một người thiết tha nhất đến vấn đề trấn hưng kinh tế nước nhà để làm cho dân giàu nước mạnh Trong các bản điều trần, Ông đã chú ý đến nhiều vấn đề “làm cho dân giàu nước mạnh” Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị lên triều đình nhà Nguyễn rất nhiều chương trình phát triển kinh tế
2.1.1.Về nông nghiệp
Nguyễn Trường Tộ đã nêu lên tầm quan trọng của ngành kinh tế nông nghiệp
và thực trạng của nó lúc bấy giờ Theo Ông, nông nghiệp là gốc, phục vụ cho nhu cầu ăn, mặc và hàng trăm nhu cầu khác cho đời sống Thế nhưng dưới triều Tự Đức,
nông nghiệp nước ta giảm sút nghiêm trọng và chưa được quan tâm phát triển
Thứ nhất, Nguyễn Trường Tộ cho rằng cần có tri thức về ngành kinh tế này,
đôi khi nói đến cải cách học thuật, môn đầu tiên được đưa vào chương trình là khoa nông chính Khoa nông chính có nhiệm vụ thu thập kinh nghiệm của nông dân khắp nơi để soạn ra sách “nông chính toàn thư” cho nhân dân học tập Đây quả là một điều mới mẻ và tiến bộ của Ông, chứng tỏ Ông là một người rất coi trọng khoa học Ông muốn vận dụng khoa học, vận dụng tri thức vào sản xuất Mặt khác, Nguyễn Trường Tộ luôn chú trọng đến vấn đề phát triển nông nghiệp vì ông hiểu rõ nông nghiệp là thế mạnh cũng là nền tảng kinh tế cho nước ta từ bao đời nay
Thứ hai, theo Nguyễn Trường Tộ cần phải có một đội ngũ quan lại chuyên phụ
trách về vấn đề phát triển nông nghiệp, giám sát giúp đỡ nhân dân bảo vệ mùa màng, tránh sâu bệnh tăng năng suất, phát triển sản xuất Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị lập bộ canh nông như các nước phương Tây Bởi vì Ông cho rằng ngành trồng trọt chăn nuôi của nước ta đều phó mặc tự nhiên, không có quan viên giáo dục đốc suất, dân chúng cứ theo lề lối cũ mà làm không có gì mới mẻ cả thì làm sao có thể
hi vọng mỗi ngày một giàu thịnh để đóng góp thêm tài chính của nhà nước Nhất là trong nhân dân có nhiều tập tục mê tín dị đoan cản trở việc khai hoang phục hóa, việc tưới tiêu mà không có ai chủ xướng cải cách Quan nông chính không những
Trang 27phụ trách về nông nghiệp mà còn phải phụ trách về thủy nông Trong “Tế cấp bát
điều” và trong bài “Về Nông Chính”, Ông có nhiều ý kiến về lợi ích của việc trồng
cây gây rừng và việc bảo vệ muông thú
Nguyễn Trường Tộ đã nhận thấy rõ tình hình suy đốn của nông nghiệp nước ta còn lạc hậu, nhân dân chưa biết tận dụng thiên thời địa lợi sẵn có, cho nên muốn phát triển nông nghiệp cần phải khắc phục tình trạng lạc hậu đó
Thứ ba, để trấn hưng nông nghiệp, Nguyễn Trường Tộ đề cập đến vấn đề sửa
sang cương giới, bởi vì vấn đề này có liên quan đến việc mở rộng diện tích trồng trọt để tăng thu nhập hàng năm cho nhân dân và nhà nước Ông nói triều đình phải nắm được diện tích của đất nước, phải biết rừng núi, ruộng nương, sông rạch, thôn quê, thành thị, nơi hiểm yếu cũng như nơi danh lam thắng cảnh trong nước… Việc
đó rất quan trọng cũng như chủ nhà phải biết mình có bao nhiêu gia sản, ruộng vườn Nói tóm lại, theo Ông trị nước phải biết “kinh lí cương giới” để nắm vững tài nguyên trong nước, để có kế hoạch kinh doanh khai thác Ông nhấn mạnh rằng các nước phương Tây rất coi trọng vấn đề này vì có sửa sang cương giới thì mới củng
cố và phát triển mọi mặt trong nước Ngay khi Pháp đến Gia Định, họ đã lo tìm hiểu đất đai miền ấy và tiến hành khai hoang Nhưng ở nước ta việc này rất coi nhẹ cho nên việc sản xuất không có kế hoạch, vì vậy công quỹ nhà nước bị thiếu hụt, nhân dân thường sinh kiện cáo tranh giành ruộng đất Muốn có một nền chính trị tốt, trước hết phải lo tìm hiểu tài nguyên nước ta Trước hết nhà nước phải lo vẽ địa đồ toàn quốc ghi rõ vị trí, địa thế, diện tích, tài nguyên… Sau đó mỗi tỉnh, mỗi xã phải
vẽ địa đồ trong tỉnh, trong xã của mình Ông nhấn mạnh về việc vẽ địa đồ, ông cũng
am hiểu có thể phụ trách được và đó là việc cần thiết phải làm “nước ta xưa nay vẫn
xem thường việc này, hình như cho là chưa cần thiết, nhưng thực sự nó có ích cho
ta rất nhiều không thể kể hết” [2; tr.305]
Thứ tư, khi đã vẽ được địa đồ rồi thì phải trù tính việc khai hoang mở rộng
diện tích canh tác nông nghiệp Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh rằng đất đai nước ta phì nhiêu nhưng ruộng đất bỏ hoang còn nhiều như ven sông Cửu Long cần được khai thác Đối với những miền xa xôi không có nhân công khai phá thì Ông đề nghị chính sách dinh điền, di dân nghèo ở những làng đông dân và dùng tù nhân để khai
Trang 28hoang đất đai Những chính sách của Ông khác hẳn chủ trương của triều đình dùng chính sách cưỡng bức lao dịch đối với tù nhân trong các đồn điền nhà nước, họ đeo gông trong lúc làm việc, chịu đòn roi của lính tráng và không được hưởng gì Ông
đề nghị cho họ mang cả vợ con và khai thác được bao nhiêu thì họ sẽ được sở hữu hoàn toàn
Thứ năm, vấn đề mà Nguyễn Trường Tộ quan tâm nhất đó là thủy lợi, vì sản
xuất nông nghiệp thì luôn phải gắn với vấn đề này Vấn đề thủy lợi cũng được Ông hết sức quan tâm Ông nêu lên lợi ích của việc đào kênh không những giúp cho việc dẫn nước tưới khi hạn hán mà còn giúp cho giao thông được thuận lợi Ông nói đào kênh còn tránh được nạn lụt do nước nguồn gây ra Nước ta là một nước có mưa nhiều, đến mùa mưa thường gây lụt lớn, thiệt hại cho nhân dân Cho nên việc đào kênh còn liên quan đến việc bảo vệ đê điều, chống vỡ đê Ông phân tích rõ nguyên nhân vỡ đê ở nước ta là vì độ dốc sông rất cao, nhưng lòng sông lại hẹp cho nên vào mùa mưa không đê nào có thể chịu nổi Ông đã trình bày kế hoạch bảo vệ đê Ông
đề nghị phải đào nhiều kênh ở tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình để phân tán lượng nước, do đó hạn chế được sức nước chảy mạnh Sau
đó lại phải xem địa thế để đào thêm kênh nhỏ, và ở nước ta Ông cho rằng kênh không phải vét, mà do nước chảy, kênh mỗi ngày sẽ rộng và sâu thêm Ngoài ra còn phải xây dựng những đập giữ nước, tháo nước; đào những hồ chứa nước lớn để điều hòa và giữ nước tưới cho ruộng Theo Nguyễn Trường Tộ công trình thủy lợi là một công trình to lớn, nhà nước nên khuyến khích nhà giàu bỏ tiền cho vay và khen thưởng cho những người có sáng kiến trong việc đắp đê, chứa nước, đắp đê, đào giếng, chống úng,… Nhà nước cũng cần cử người ra ngoài học về thủy lợi để sau này về giúp cho việc làm thủy lợi
Có thể thấy rằng Nguyễn Trường Tộ đã có những tư tưởng rất tiến bộ trong việc khôi phục và phát triển làm nông nghiệp của nước ta lúc bấy giờ và cho đến nay nhiều tư tưởng của Ông vẫn được chúng ta áp dụng, thực hiện có hiệu quả
2.1.2 Về thương nghiệp
Nguyễn Trường Tộ chủ trương giao lưu hàng hóa bằng ngoại thương cũng như nội thương
Trang 29Về ngoại thương, thì Hòa ước ngày 5 - 6 - 1862 ký kết giữa triều đình vua Tự
Đức với Pháp và Tây Ban Nha thì thương lái và thương thuyền của công dân hai nước này được tự do ra vào buôn bán ở cửa Hàn, cửa Ba Lạt và cửa Quảng Yên Tuy nhiên có thể do triều đình nhà Nguyễn chưa muốn mở cửa cho người nước ngoài ra vào nhòm ngó nên đã không tổ chức ngoại thương Nguyễn Trường Tộ, trong nhiều văn bản gửi lên triều đình luôn luôn nhấn mạnh đến nhu cầu mở rộng cửa biển cho tàu bè các nước vào buôn bán Đó là một xu thế chung, một mình Việt Nam không thể cường lại được
Về nội thương, Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh việc bảo vệ hàng nội hóa theo
chế độ mậu dịch của các nước phương Tây, phàm là hàng ngoại quốc bất luận là hàng gì thì tùy theo giá đắt rẻ mà đánh thuế nặng nhẹ, nhưng đều phải đánh thuế gấp đôi hàng hóa trong nước Những hàng hóa nào không cần thiết cho sự sống thì đánh thuế thật nặng
Mối băn khoăn lớn nhất của Ông khi bàn về nội thương là đường giao thông vận chuyển hàng hóa Bởi vì nước ta là một nước có chiều dài, và lúc bấy giờ vận chuyển từ Bắc vào Nam chủ yếu bằng đường biển thì lại bị đe dọa bởi bão gió, cướp biển Đó là chưa nói đến khi xảy ra biến cố thì tàu địch có thể phong tỏa như Pháp
đã làm năm1862 Việc giao lưu hàng hóa từ Bắc vào Nam sẽ bị nghẽn tắc, ông đã thấy rõ điều đó
Xúc tiến việc đào kênh trong nội địa thay thế cho việc vận chuyển đường biển
để tránh nạn hải phỉ, cướp bóc và tai nạn bão táp Nguyễn Trường Tộ đề nghị nhà nước đào một con kênh từ Hải Dương vào kinh và Ông tự nguyện trong nom về kỹ thuật và đốc thúc tiến hành Ông nghĩ rằng bây giờ nên xem xét địa thế từ Hải Dương đến kinh đô để đào một con kênh lớn cho thuyền nhà nước hay thương nhân lớn nhỏ đều thông thương được, rồi lập trạm thu thuế và đóng thuyền vận tải theo kiểu phương Tây Như vậy không những nhà nước và các tỉnh đều được lợi dài mà dân gian buôn bán làm ăn, đi Nam về Bắc dầu ít vốn cũng làm được Thuyền bè đi lại càng đông thì thuế thu được càng nhiều, càng có lợi cho nước
Trang 30Để sớm khai thác được tài nguyên của đất nước, Nguyễn Trường Tộ đề nghị: Một là, phải điều tra cơ bản các nguồn lợi và bắt tay ngay vào khai thác Ông đã nêu
ra phương thức: một là, cho công ty nước ngoài khai thác rồi ta thu lợi một phần; hai là, ta với họ liên doanh; ba là, tự làm lấy
2.1.3 Về tài chính
Đối với Nguyễn Trường Tộ, thuế là nghĩa vụ của nhân dân đối với công việc chung của đất nước, nhưng thuế phải công bằng và hợp lý
Thứ nhất, Nguyễn Trường Tộ đề nghị chấn chỉnh thuế điền thổ, nhưng mục
đích không phải là tăng thuế mà là làm cho việc đóng góp của nhân dân được hợp lý
và tránh sự gian lận thuế Ông nói: “điều tôi xin đề nghị đây không phải xin tăng
thuế nhiều thêm mà xin cân bằng lại chỗ thừa chỗ thiếu”[1; tr 301]
Ông nhấn mạnh vào tình trạng không chính xác của sổ sách điền thổ lúc bấy giờ Tình hình ruộng đất luôn thay đổi, có nơi đất đã bị lở, hoặc bị sa bồi, thu hoạch kém trước, cũng có nơi ruộng đất được bồi thêm dư ra nhưng trong sổ điền vẫn chưa sửa, ruộng đất công tư lẫn lộn Do đó nạn lậu thuế ngày càng nghiêm trọng, số thu nhập của nhà nước ngày càng sút kém Nhưng triều đình vẫn không chú ý và vẫn để tình trạng ấy kéo dài Ông đề nghị nhà nước phải lựa chọn những quan lại thanh liêm, đáng tin cậy đi khắp trong nước đo đạc lại ruộng đất, vẽ địa đồ rồi phân hạng ruộng đất xấu tốt Trên cơ sở nắm được tình hình ấy, nhà nước mới xem xét lại thuế, nơi nào đất xấu thu hoạch ít thì giảm, nơi nào ruộng đất thật sự bỏ hoang thì miễn thuế, nơi nào ruộng đất tăng thì phải thêm thuế Và do đó nhà nước sẽ thu được đúng mức thuế có lợi rất lớn mà lại hợp công bằng, dân không so bì than oán
Thứ hai, Bên cạnh việc chỉnh lí điền thổ, Nguyễn Trường Tộ đề cập đến vấn
đề điều tra hộ khẩu, biên rõ số người để việc đóng thuế được công bằng và hợp lý hơn Ông đã nhấn mạnh vào nhiệm vụ của triều đình phải nắm vững sự tăng giảm của dân số, tình hình nghề nghiệp và sinh hoạt của họ Việc điều tra dân số sẽ giúp cho nhà nước điều chỉnh được thuế đinh và chấm dứt được mọi sự gian lận do bọn cường hào lũng loạn Ông đề nghị triều đình bắt tổng lý các xã phải biên số người trong xã đầy đủ và rõ ràng Họ phải thống kê trong xã có bao nhiêu nam, phụ nữ,
Trang 31người già, trẻ em, bao nhiêu người ở lâu, bao nhiêu người mới đến, bao nhiêu người
có nghề và làm nghề gì Hằng năm phải điều chỉnh một lần vì sẽ có những người đổi nghề, hoặc chết và mới sinh Để làm được tốt triều đình cần phải nói rõ mục đính của công việc này không phải là để tăng thuế mà để nắm vững tổng số dân và làm cho thuế được công bằng Những đề nghị trên đây của Ông đã phản ánh phần nào tình hình nước ta lúc bấy giờ Nạn kiêm tinh ruộng đất của bọn địa chủ rất nghiêm trọng, người nông dân bị mất ruộng đất, bị phá sản phải lưu vong Sự tranh chấp ruộng đất diễn ra hàng ngày giữa nông dân và địa chủ Bọn cường hào nhân cơ hội đó lại có cơ hội trốn thuế, lậu đinh của triều đình Cho nên dân nghèo bị tăng cường bóc lột mà thuế má của triều đình bị chúng bỏ túi nên thiếu hụt Nhưng do hạn chế giai cấp, nên Ông cho rằng gian lận thuế má là do bọn cường hào lũng loạn Nhưng cũng vì dân nữa và những biện pháp trên đây của Ông là để chấm dứt tình trạng đó
Thứ ba, để cho thuế má công bằng và hợp lý, Nguyễn Trường Tộ tuy chưa đề
cập đến vấn đề giảm thuế chi dân nghèo nhưng Ông đã đề nghị triều đình phải đánh thuế nặng nhà giàu Ông chỉ ra tệ xấu của nước ta, người giàu đóng thuế bao nhiêu thì người nghèo phải đóng thuế bấy nhiêu Đó là sự bất hợp lý Bọn nhà giàu cho vay nặng lãi, làm những việc bất nghĩa khiến dân ngày càng một nghèo Có nhiều ruộng màu mỡ, ít bị bỏ hoang mà lại mong cho mất mùa để được miễn giảm thuế khóa, cũng là nhà giàu Nhà giàu sở dĩ giàu được, một phần là do vơ vét của làng xóm và láng giềng, một phần do quốc gia bồi đắp cho họ Họ sở dĩ yên hưởng được
sự giàu sang là còn nhờ hành chính và an ninh của quốc gia Tô điểm nhà mình cho đẹp đẽ chi bằng bỏ ra chút ít để tô đắp thành trì của đất nước được vững chắc Thành có vững nhà mới vững chắc chưng dọn vũ khí trong nhà cho khéo, cho tinh không bằng bỏ ra chút ít để làm cho khí giới của nước nhà tinh nhuệ Kinh giới tinh nhuệ giữ được nước thì nhà mới còn Vì vậy các nước phương Tây lấy thuế nặng nhà giàu, thế mới hợp lẽ công bằng Đánh thuế nhà giàu theo ông còn hợp với tình cảm con người, đem chỗ thừa bù chỗ thiếu Ông còn chỉ ra tình trạng nước ta nhà giàu không những được đóng thuế ít mà còn lợi dụng lúc dân nghèo thiếu thuế mà
Trang 32bóp nặn Khi thiếu thuế, người nghèo phải vay tiền nhà giàu thì họ lấy lãi cắt cổ, thậm chí nhờ có tiền vay lãi mà họ còn được miễn tiền sưu dịch, nhờ có tiền mà họ đứng ra chứa bạc, lợi dụng kẻ thua bạc mà mua rẻ ruộng vườn
Thứ tư, Ngoài ra để bổ sung cho nền tài chính trong nước, đồng thời để bài trừ
tệ lậu trong xã hội, Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình đánh thuế nặng các sòng bạc, mặt hàng rượu, thuốc lá, thuốc phiện, chè, các mặt hàng xa xỉ Đây cũng là một biện pháp tiến bộ và có hiệu quả nhất định trong việc giữ gìn trật tự xã hội lúc bấy giờ, thậm chí cho tới ngày nay biện pháp này cũng được chúng ta áp dụng
Thứ năm, Nguyễn Trường Tộ còn đề nghị quản lý chặt các nguồn tài chính
trong nước như phải biết rõ số lượng hàng hóa xuất nhập, số lượng tàu bè qua lại, số lượng chợ búa, nhà trọ, giá cả hàng hóa Nhà nước cũng cần phải nắm sự chi dùng
và sản xuất trong nước để điều chỉnh giữa sản xuất và tiêu thụ, đồng thời cũng phải nắm vững gia sản của nhân dân, của người giàu, người nghèo Việc nắm vững được những vấn đề nêu trên sẽ giúp cho triều đình có thể quản lý tốt nền kinh tế, cũng như có những biện pháp kịp thời để điều hòa khi nền kinh tế khủng hoảng, và quản
lý chặt chẽ nguồn thu của quốc gia, tránh việc bị thất thoát, tham nhũng xảy ra Tuy nhiên đối với Ông, thuế cần được chấn chỉnh, nhưng đó chỉ là một nguồn thu có giới hạn nhất định mà thôi Điều cần thiết là phải tạo ra nhiều của cải chõ xã hội Như vậy, những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về kinh tế căn bản
đã góp phần đáp ứng yêu cầu lúc bấy giờ, Tư tưởng cải cách về kinh tế của Ông khá toàn diện, nếu được thực hiện thì cũng tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế nước ta Nhưng do điều kiện lịch sử và điều kiện giai cấp hạn chế, những tư tưởng của Ông vẫn không tránh khỏi một số thiếu sót Mặc dù vậy, qua những tư tưởng cải cách trên đây đã cho chúng ta thấy được khát vọng tha thiết muốn làm cho dân giàu nước mạnh
2.2 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về chính trị - xã hội
2.2.1 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về chính trị
Nguyễn Trường Tộ đã đi theo đường lối chủ hòa Nhưng chủ hòa của Ông dựa trên cơ sở phân tích xu hướng xâm chiếm thuộc địa của các nước tư bản phương
Trang 33Tây sang Đông, phân tích tương quan mất cân bằng lực lượng giữa quân xâm lược với triều đình Ông coi hòa là chiến lược nhất quán từ đầu đến cuối và trên thế chủ động hòa hoãn nhằm mục đích có hòa bình để canh tân, nâng cao nội lực của đất nước
Để quản lý đất nước, Nguyễn Trường Tộ đề nghị vẽ bản đồ biên giới cũng như điều tra dân số và làm thống kê về tất cả mọi mặt sinh hoạt của đất nước, vẽ bản đồ tất cả các xứ trong nước Về địa phận mỗi tỉnh, huyện, xã, thôn, phường, sách, động, trang phải đo đạc lại hết cho phu hợp bốn bên, xa gần, rộng hẹp, đồng thời
mô tả hình thế mật đất, như tôi đã nói ở trên, rồi ghi chủ rõ ràng vào bàn đồ cả nước, trong bản đồ phải có thuyết minh để thấy rõ các mối liên lạc Vẽ bản đồ phải thực hiện nhiều loại, có loại vẽ phân tích ra từng phần, có loại vẽ tổng hợp chung tất
cả các phần vào một (như lối vẽ của phương Tây), nhưng nói chung các bản đồ phải lấy độ số bằng dặm vuông để dễ suy toán
Đồng thời để xây dựng mô hình nhà nước hiệu quả trong quản lý đất nước, Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị triều đình nhiều cải cách hành chính như hợp tỉnh, huyện để tinh giảm biên chế, giản lược thủ tục giấy tờ… Đặc biệt Ông đề nghị triều đình phải tiến hành cải cách hệ thống quan chế lúc bấy giờ
Ông đề nghị sát nhập một số tỉnh, huyện để tinh giảm biên chế và tăng lương
cho các quan chức trong triều đình Ông nói: Hãy xem tình Quảng Đông và Quảng Tây
hợp lại có thể gấp đôi nước ta Một huyện cùa Trung Quốc có thể tương đương một tỉnh của ta Trên thế giới còn nhiều nước phân chia tỉnh huyện còn lớn hơn cả Trung Quốc nữa Trung Quốc có nhiều vị quan xin giảm bớt số viên chức, hợp tỉnh huyện lại, ý cho rằng nhiều quan thì Triều đình tốn nhiều lương bổng, dân gian bận rộn đón đưa, yêu sách Lại có nhiều viên chức hiếu sự ưa moi móc chuyện nọ chuyện kia để được tiếng siêng năng, khiến sinh nhiều tệ đoan không thế kể xiết Vì vậy ngày xưa người ta cỏ câu chuyện mười con dê chín người chăn, một con ngựa hai người giữ Phủ huyện Trung Quốc lớn thế còn đòi cắt giảm quan lại, huống hồ là ta… Vậy xin gấp rút xem xét địa thế, hợp hai ba tỉnh thành một tỉnh, hoặc ba bốn huyện thành một huyện, lấy số lương dư ra cấp thêm cho các quan hiện chức [2; tr.277-278]
Trang 34Nguyễn Trường Tộ đã nêu lên thực trạng hệ thống quan chế dưới triều Tự Đức Đó là hệ thống quan liêu nặng nề tới mức “10 con dê, 9 người chăn”, “một con ngựa, 9 người giữ” Hệ thống quan lại ấy vừa làm cho triều đình tốn lương bổng, vừa làm cho tình trạng quan dân mâu thuẫn, xa rời nhau, khiến trên dưới không thông, lòng dạ khác nhau Quan viên phần lớn bất tài, quan văn thì miệng ba hoa nhưng soạn thảo công văn thì phải nhờ thư lại; quan tòa thì lợi dụng dân trí thấp kém, chữ nghĩa rắc rối, thủ tục đơn kiện tụng rườm rà để vo tròn, bóp méo sự thật
và công lý Do đó, kính sợ quan là kính sợ quyền chức chứ không phải do nhân phẩm, tài năng của quan
Còn quần thần trong triều đình là một đám gia nhân chỉ biết làm trò hề cho yên lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài Ở các làng thì bọn cường hào, lý dịch bao chiếm đất công, ruộng công thành ruộng riêng làng mình dùng vào việc cúng tế, hát xướng, trốn thuế, lậu thuế, khai man sổ đinh để thu của nhân dân thì nhiều, nạp lên triều đình thì ít
Xuất phát từ những thực trạng trên, Nguyễn Trường Tộ đã nêu ra các biện pháp để cải cách hệ thống quan chế:
Một là, phải đổi mới học thuật, đào tạo quan lại theo lối mới
Hai là, phải trị nước bằng luật pháp, bất luận quan hay dân đều phải học luật nước Vì có luật nước mới giành được kỷ cương, uy quyền và chính lệnh của quốc gia, hạn chế được sự lạm dụng quyền hành Cai trị bằng pháp luật thì sẽ bảo đảm được công bằng
Ba là, hạn chế quyền hành của nhà vua Ông đề nghị vua không có quyền xét
Trang 352.2.2 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về xã hội
Theo Nguyễn Trường Tộ triều đình cần phải có chính sách giúp đỡ những người nghèo khổ trong xã hội và có nơi nuôi dưỡng những trẻ em mồ côi, vô gia cư
Vì dưới triều đình nhà Nguyễn, việc chăm lo cho những người bất hạnh trong xã hội như nuôi nấng trẻ mồ côi, giúp đỡ người tàn tật, già yếu neo đơn và nghèo đói chưa được quan tâm, nếu có thì cũng chưa có hiệu quả và thành hệ thống Ông nhận xét:
“Tôi thấy hiện nay Triều đình có xuất công quỹ lập viện tế bần để nuôi người nghèo khổ Nhưng do người thừa hành không làm hết nhiệm vụ, nên chỉ có danh nghĩa mà
thực tế những người nghèo khổ không được hưởn sự trợ giúp bao nhiêu.”[2; tr.321]
Để ổn định xã hội theo Nguyễn Trường Tộ cần phải:
Một là, phải có sự công bằng Công bằng là điều kiện đảm bảo sự bền vững,
ổn định cho an ninh xã hội
Hai là, cần có một hệ thống pháp luật chặt chẽ Tất cả các mối quan hệ, các vấn đề xã hội đều được xem xét trên pháp luật của quốc gia Phải làm cho mọi người hiểu biết luật pháp, tôn trọng luật pháp
Ba là, đối với tù nhân, ăn của nhà nước thì phải để chúng làm việc không nên
để chúng ở không Vì ăn ở không là gốc của mọi tội lỗi Bọn chúng phải được cải tạo bằng lao động
Bốn là, phải xuất công quỹ lập trại tế bần để nuôi người nghèo khổ, lập Viện Dục Anh để nuôi dạy trẻ mồ côi Khuyến khích việc nuôi trẻ mồ côi và giúp đỡ người nghèo khổ Nhà nước lập các trường dạy trẻ miễn phí, nhà trọ, nhà dưỡng lão, nới phục hồi nhân phẩm Nhà nước phải cấm không cho kẻ ăn xin, nếu ai vô cớ đi
ăn xin dọc đường đó rõ ràng là kẻ trá hình, bất cứ ở đâu hễ gặp là bắt ngay về tra xét
và đưa họ vào công dịch Làm được việc đó xã hội sẽ trở lên ổn định, lành mạnh và văn minh hơn
Như vậy, ta có thể thấy tấm lòng nhân đạo của một người làm cải cách, xuất phát từ tình yêu thương con người cộng với tầm nhìn sâu rộng của người có tài, Nguyễn Trường Tộ đã đề ra được những chính sách xã hội mang tính chất tiến bộ
và vô cùng nhân đạo Những vấn đề xã hội mà Ông nêu lên cho tới bây giờ vẫn còn mang tính thời sự
Trang 362.3 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về văn hóa - giáo dục
2.3.1 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về văn hóa
Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Trung Quốc, đặt biệt là quan niệm
“nội hạ ngoại di” trong nhận thức về các nền văn hóa khác, triều đình nhà Nguyễn
đã xây dựng một lòng tự tôn dân tộc mới có thái độ phủ nhận các nền văn hóa ngoài Trung Quốc Việc coi kẻ xâm lược phương Tây tới là “Tây di” có tính miệt thị là sai lầm Phê phán quan niệm văn hóa lạc hậu đó, Nguyễn Trường Tộ khẳng định chỉ có con đường học tập văn minh phương Tây mới có thể khắc phục được các mặt yếu kém của đất nước, dần dần tự trị, tự cường và chiến thắng những kẻ xâm lược có nền văn minh cao hơn
Một trong những biện pháp giữ được khối đại đoàn kết dân tộc để đối phó với
sự xâm lược của thực dân Pháp là phải để tự do tín ngưỡng, đoàn kết giáo lương, không phân biệt đối xử, không đàn áp giáo dân
Về sự đoàn kết lương giáo, Ông nói; “Giáo dân cũng là người trong nước, đều
là người cả, đều là dân của trời, sự ăn ở liên quan với nhau, vui buồn liên quan với nhau Lẽ nào bên này động mà bên kia yên được sao? Một nước ví như một thân thể, một chỗ bị đau thì toàn thân cũng không yên” [2; tr.235]
Để tự do tín ngưỡng, bãi bỏ sự phân biệt giáo dân, không đàn áp giáo dân cũng là một biện pháp để giữ gìn ổn định chính trị, xã hội, đặc biệt khi dân tộc Việt Nam đang phải đối phó với sự xâm lược của thực dân Pháp
Trong văn bản về “Cải cách phong tục” (Di thào số 47, ngày 29 - 4 -
1871), Nguyễn Trường Tộ đã lưu ý triều đình về những việc rất nhỏ nhưng là những việc quan trọng đối với một dân tộc muốn có nếp sống văn hóa mới Đó là việc vệ sinh chung quanh nhà quan cùng như nhà dân ở nơi đô thị, vệ sinh dọc đường sá, không đổ rác, không phóng uế bừa bãi Ông cũng chống lại luật lệ không cho dân đi xe, đi giày
2.3.2 Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về giáo dục
Từ sự phê phán nền học thuật, từ nhận thức mới về tính ưu việt của nền văn minh phương Tây, Nguyễn Trường Tộ đề nghị một đường lối giáo dục mới