Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Đỗ Lai Thúy thì lại nhìn nhận thấu đáo và toàn diện về hành trình ngôn ngữ thi ca Bùi Giáng: “Nếu trước đây Nguyễn Du mở ra thời kỳ trung đại cổ điển
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HUỲNH THỊ DIỄM DIỄM
DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG THƠ BÙI GIÁNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ MINH HIỀN
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
HUỲNH THỊ DIỄM DIỄM
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Bố cục luận văn 10
CHƯƠNG 1 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA BÙI GIÁNG 11
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM 11
1.2 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 13
1.2.1 Giai đoạn trước 1975 13
1.2.2 Giai đoạn sau 1975 18
1.3 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA BÙI GIÁNG 25
1.3.1 Bùi Giáng và hành trình sáng tạo 25
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Bùi Giáng 29
CHƯƠNG 2 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG THƠ BÙI GIÁNG NHÌN TỪ CÁI TÔI TRỮ TÌNH 35
2.1 CÁI TÔI HOÀI NIỆM CHIÊM BAO 35
2.1.1 Đi tìm “hồn nguyên tiêu và màu hoa trên ngàn” 35
2.1.2 Hoài vọng về tình yêu xa xôi 41
2.2 CÁI TÔI HOÀI NGHI BẢN THỂ 46
2.2.1 Cuộc đời là chuỗi nghi vấn 46
2.2.2 Sống như một sự lưu đày 50
2.3 CÁI TÔI TẠI THỂ BƠ VƠ 53
Trang 42.3.1 “Rong chơi một đời” 53
2.3.2 Niềm đau cô đơn 57
2.4 CÁI TÔI DẤN THÂN NỔI LOẠN 60
2.4.1 Sống bằng sự “điên rồ lẫy lừng” 60
2.4.2 Chết cũng là “sống đời ý nghĩa” 65
CHƯƠNG 3 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG THƠ BÙI GIÁNG NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỀU HIỆN 69
3.1 NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 69
3.1.1 Ngôn ngữ đậm chất đời thường 69
3.1.2 Ngôn ngữ đậm chất văn hóa, triết học 75
3.2 GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT 81
3.2.1 Giọng cợt nhả, bông đùa 81
3.2.2 Giọng điệu tâm tình 84
3.2.3 Giọng triết lí chiêm nghiệm 87
3.3 MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT 90
3.3.1 “Cố quận” - miền hoài niệm 90
3.3.2 “Mộng” - hư ảo kiếp nhân sinh 94
3.3.3 “Đười ươi” - tinh thể người Bùi Giáng 96
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ngay vừa khi ra đời, chủ nghĩa hiện sinh đã đem lại hiệu ứng sôi nổi
và sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là văn học nghệ thuật Lấy con người làm trung tâm, làm đối tượng và mục tiêu để hướng tới, chủ nghĩa hiện sinh luôn coi con người là một nhân vị, có thể tự do lựa chọn cách sống của mình, thái độ sống cho cuộc sống Nhờ đó mà con người mang một
bộ mặt riêng biệt, khác với mọi tính cách mang tính phổ quát Có thể nói, chưa có trào lưu triết học nào gần gũi với văn học như chủ nghĩa hiện sinh
Ở Việt Nam, chủ nghĩa hiện sinh đã mang đến một sức hút khó cưỡng đối với những người sáng tác văn học Tư tưởng về nhân vị, tự do, về cuộc sống bất an và âu lo, sự ê chề của kiếp người, sự hoài nghi thực tại, nỗi ám ảnh về sự đổ vỡ đã hiện diện trong những sáng tác nghệ thuật cùng những đau khổ, dằn vặt, lo âu trong cuộc kiếm tìm và lựa chọn tự do của con người
1.2 Bùi Giáng được coi là một “hiện tượng lạ” của văn học Việt Nam
hiện đại Với hành trình sáng tạo không mệt mỏi và sự nỗ lực vượt thoát chính mình, Bùi Giáng đã tạo nên một phong cách thơ riêng, độc đáo Là nhà thơ, Bùi Giáng được coi như “hiện thân của một đạo thơ”, một “thi sĩ sinh ra giữa
cỏ cây và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gây cấn” [30] Thế giới thơ Bùi Giáng
là cuộc hành trình khám phá không biết mệt mỏi của người nghệ sĩ nhận chân những giá trị đích thực trong hiện thực cuộc sống “không ngớt hoàn thành, tìm kiếm chỗ đứng, chờ đợi xác định” [2] để bước đến cái đích cuối cùng của thi ca là cõi sống
1.3 Bùi Giáng là nhà thơ có tầm tư tưởng lớn Ông đã tiếp thu một cách
trực tiếp và đồng thời các tư tưởng triết lý có nguồn gốc từ các nền văn hóa lớn bên ngoài, khi nó còn đang sống động và đang phát triển Từ chủ nghĩa hiện sinh, ông đến với hiện tượng học hiện sinh của K.Jaspers, J-P.Sartre, rồi
Trang 62
từ đó đến hiện tượng học hữu thể của M Heidegger, cuối cùng từ Heidegger quay về với Hoelderlin Bằng trải nghiệm của riêng mình, đi từ cảm nghiệm vong thân đến với tự do, Bùi Giáng đã tạo ra một thế giới thơ đa sắc màu, mang tư tưởng hiện đại pha hợp nhiều nguồn văn học, triết học khác nhau
Đó là nỗi trăn trở về thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, những trầm luân biến đổi, một cõi trùng sinh di động luân hồi Trong đó, dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh đã in đậm trong hành trình đời cũng như hành trình thơ của ông Nó làm nên một bản mệnh đời và bản mệnh thơ rất riêng Bùi Giáng
Chọn đề tài Dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng, chúng tôi muốn tìm
ra cảm quan riêng của nhà thơ khi khám phá thế giới, xã hội và con người; thấy được tầm tư tưởng, và tính nhân văn trong thơ ông Từ đó có một cái nhìn toàn diện về sự nghiệp thơ ca Bùi Giáng, đồng thời góp phần minh định cho những đóng góp của ông đối với thơ ca nói riêng và tiến trình vận động của văn học Việt Nam nói chung
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về thơ Bùi Giáng nói chung
Nghiên cứu về thơ Bùi Giáng, Trần Đình Thu đã không chỉ dừng lại nghiên cứu nội dung tư tưởng trong các tác phẩm Bùi Giáng mà còn đi sâu
vào ngôn ngữ thơ Bùi Giáng, vốn là thế mạnh và là một trong những dấu
hiệu khiến Bùi Giáng không thể lẫn vào ai: “Bản chất của văn chương Bùi Giáng là sự tổng hòa của những nghịch lý Trong cái cà rỡn có sự đau xót, trong bỡn cợt có nỗi ngậm ngùi, trong sự nghịch ngợm hồn nhiên trẻ thơ có
sự uyên bác, trong điên loạn cuồng si là một cõi mộng bát ngát đẫm tình…Cái nét riêng ấy không ai có được, không ai bắt chước được và không thể có người thứ hai” [56, tr.11]
Trang 73
Nguyễn Hưng Quốc thì nhận thấy: “Với tư cách là nhà thơ, Bùi Giáng là một hiện tượng lạ lùng, nếu không nói là lạ lùng nhất trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Con người, cuộc đời và sự nghiệp của ông chứa đựng những nghịch lý không dễ gì có thể giải thích được” [65] Ông gọi kiểu chơi chữ của Bùi Giáng là một thứ thi pháp Để rồi tác giả tinh ý nhận ra: ở các nhà thơ khác “tính chất độc đáo chỉ ở cấp độ bài hoặc cấp độ câu”, còn với Bùi Giáng, “tính chất độc đáo thể hiện ngay ở đơn vị từ” [43, tr.497] Thế mới có hiện tượng “phần lớn những từ, những chữ đã được Bùi Giáng sử dụng một lần đều trở thành của riêng của Bùi Giáng, một thứ tài sản của Bùi Giáng” [43, tr.497]
Trong bài Hiện tượng Bùi Giáng, Thụy Khuê có những nhận định khái
quát: “Bùi Giáng có những câu thơ rất cao, rất tĩnh, rất sâu, thanh thản, gợi đến hư vô trong một không gian lãng mạn trữ tình, ít thấy xuất hiện trong thơ Việt” [43, tr.580]
Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Đỗ Lai Thúy thì lại nhìn nhận thấu
đáo và toàn diện về hành trình ngôn ngữ thi ca Bùi Giáng: “Nếu trước đây
Nguyễn Du mở ra thời kỳ trung đại cổ điển trong văn học Việt Nam, nâng nó lên ngang tầm khu vực Đông Á, còn Tản Đà vào những thập niên đầu của thế
kỷ XX đã mở đầu cho thời hiện đại, đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo thế giới, tuy có sự lệch thời gian, thì Bùi Giáng ở những năm cuối cùng thế kỷ ấy
đã đi đầu trong việc mở ra một thời đại mới cho văn học Việt Nam, văn học hậu hiện đại…” [43, tr.418] Hơn thế nữa, ông đã nhận thấy: “ít nhất với trường hợp Bùi Giáng, sự phát triển của văn học Việt Nam so với thế giới không còn là sự phát triển tương ứng nữa mà là đồng thời, tức nhịp bước cùng thế giới Bởi thế, theo cái cách mà Heidegger gọi Holderlin, tôi cũng muốn vinh danh Bùi Giáng, cũng như Nguyễn Du và Tản Đà trước đây, những thi
Trang 84
nhân làm thay đổi hệ hình tư duy nghệ thuật của thời đại các ông, không phải
là “nhà thơ giữa các nhà thơ, mà là nhà thơ của các nhà thơ” [43, tr.438] Bùi Vĩnh Phúc cho rằng: “Thơ Bùi Giáng tràn đầy thiên nhiên hoa cỏ của một thế giới sơ đầu vẫn còn giữ mãi một hồn nguyên tiêu ẩn mật Thơ ông đựng đầy ẩn ngữ, mật ngữ, nhưng không trì nặng mà vẫn bay lượn phiêu diêu như những cánh châu chấu chuồn chuồn ở ngoài đồng nội” [43, tr.358] Phạm Mạnh Hiên cũng có nhận xét tương tự: “Thơ Bùi Giáng là một nguồn mật kỳ diệu của ngôn ngữ, ẩn chứa ma lực quyến rũ mà chỉ riêng một mình Bùi Giáng sở đắc và lạ lùng nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại” [43, tr.287]
Trong Bùi Giáng, nhà thơ của ngày tháng ngao du, Cung Tích Biền đã
chỉ ra: “Bùi Giáng giàu ngôn ngữ như cát bãi biển Mỗi chữ lại ẩn tàng nhiều mặt biểu hiện, đa dung mạo, đa nội lực Nó có khả năng biểu thị rộng lớn cái Tận - Cùng - Ý - Nghĩa, không phải Đã - Nói mà là Sẽ - Nói” [43, tr.190] Từ
đó, ông phát hiện: không thể dùng trí lực hạn hẹp của mình để cắt nghĩa cái
vô cùng mà cách đọc Bùi Giáng tốt nhất là “hãy thong dong trôi theo, tà tà thơ thẩn, rất mực vô tình như nhìn con tàu chiều không có bóng hình ai trên ấy
Ta sẽ bắt gặp một thần thái thanh tao hơn, một tổng thể bát ngát hơn, bởi vì
đó chính là Thơ” [43, tr.194]
Bùi Công Thuấn cũng đã có nhận xét: “Bùi Giáng có phong cách ngôn ngữ riêng, người ta có thể nói đến kiểu ngôn ngữ Bùi Giáng ; phong cách thơ Bùi Giáng trước hết thể hiện ở trò chơi ngôn ngữ thách đố người đọc như trò chơi ú tim, trò nghịch ngợm chữ nghĩa” [43, tr.341] Luật của trò chơi này dựa trên việc sử dụng với tần số cao từ Hán -Việt, đồng thời cung cấp cho nó những nghĩa mới lạ trên cơ sở sắp xếp các yếu tố ngôn từ không theo trật tự thông thường tạo nên những “mật ngữ”
Trang 95
Nguyễn Đăng Điệp nhìn nhận: “Tháo cởi mọi ranh giới để tạo nên những kết hợp, những thực thể mới: cổ tồn tại với kim, mộng hòa lẫn với thực, nghiêm túc đi liền đùa bỡn, đài các, sang trọng gắn liền với cách nói nôm na Những đối cực lệch pha ấy cứ hiện lên trong thơ Bùi Giáng thật tự nhiên Như thể chỉ cần một cái huơ tay của ông là tất cả đều yên vị” [7, tr.244]
Nguyễn Q Thắng trong Quảng Nam đất nước và nhân vật (I & II) đã
đánh giá: “Có thể nói Bùi Giáng là một thi quỷ, thi tiên có một không hai trên
thi đàn Việt Nam thời hiện đại” [51, tr.791]
Tác giả Lê Thị Minh Kim trong Luận văn thạc sĩ “Đặc điểm nghệ thuật
thơ Bùi Giáng” đã khám phá thế giới thơ Bùi Giáng từ đặc điểm thể loại,
ngôn ngữ, giọng điệu Theo tác giả, nhà thơ Bùi Giáng rất xứng đáng có một chỗ đứng vững chắc trong lòng người yêu thơ, “tên tuổi đó xứng đáng là một hiện tượng” [45]
Trong Luận văn thạc sĩ “Thế giới thơ Bùi Giáng qua Mưa Nguồn”, tác giả Lê Trọng Nguyên xem Mưa Nguồn là “tiêu điểm tư tưởng - thẩm mỹ của
Bùi Giáng, từ đó, qui chiếu toàn bộ thế giới thi ca của ông, tìm ra phong cách một thi tài trên thi đàn Việt Nam thời hiện đại” [47, tr.6]
2.2 Nghiên cứu về dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng
Thụy Khuê đã nhận định: “Thơ Bùi Giáng hiện sinh trong đoạn trường
và định mệnh”, vì thế: “Những dạ thưa, những tồn sinh, những phố thị, những
cố quận, đười ươi, đã trở thành những cốt cách, những địa chỉ rất Bùi Giáng”
[43, tr.577] “Thơ Bùi Giáng, ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạn, đã tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về
ý nghĩa cuộc đời, về lẽ tồn sinh, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn khuất một dục tình khép mở Xuân Hương” [43, tr.578] Theo tác giả, bản chất thơ
ca, thân phận con người và tư tưởng Bùi Giáng hiện lên rất rõ trong: “Bản chất đa mang nỗi hiện sinh hoang tưởng, như một “đạo khờ” gắn bó với
Trang 106
“đoạn trường tái tân thanh” (chữ của Bùi Giáng), tiếp nhận Nguyễn Du như một tri mệnh văn học Bùi Giáng tái dựng lục bát thời mới Thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân biến đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được? Đến bản thân ta, ta còn chẳng biết nữa là? [43, tr.579]
Thụy Khuê cũng nhận ra sự gặp gỡ của tính chất “bất khả tri” trong triết
lý Đông phương và triết học hiện sinh trong thơ Bùi Giáng: “Nếu trường phái hiện sinh vô thần (Sartre) bác bỏ tính chất định mệnh, thì ở Bùi Giáng định mệnh (Kiều) và hiện sinh giao hưởng với nhau thành một cấu trúc tư tưởng mới, tạo nên những vần thơ đậm dấu Đạm Tiên, hắt ra những hình ảnh siêu thực” [43, tr.579]
Tác giả Bùi Công Thuấn trong bài Bùi Giáng, ai người chia sẻ đã có
những nhận định về con người, thơ ca Bùi Giáng Theo ông, “thơ Bùi Giáng là thơ tư tưởng, thể tính của nó là tư tưởng nên phải hiểu bằng tư tưởng chứ không phải bằng câu chữ Đó là tư tưởng của kinh Kim Cang, kinh Hoa Nghiêm, tư tưởng Thiền, và một thế giới tư tưởng khác trong thơ Bùi Giáng là thế giới tư tưởng Nguyễn Du [43, tr.331] Từ đó, ông khẳng định giá trị thơ Bùi Giáng cũng là giá trị của chính tư tưởng đó Nhưng rồi tác giả lại nhìn thấy: “những hệ tư tưởng ấy chưa đủ để ông giải quyết những vấn đề cuả hiện hữu và cũng không giúp ông nói hết sự trải nghiệm hiện sinh của mình, bởi cuộc đời ông, thời đại ông và tư tưởng cuả ông khác rất xa với quá khứ Ông
tìm đến một cách thể hiện khác, đó là thái độ “điên” [43, tr.333]
Bùi Văn Nam Sơn sau khi phân tích mối quan hệ tay ba: Heidegger - Holderlin - Bùi Giáng, như một nỗ lực góp phần soi sáng quan niệm sống, sáng tác và suy tưởng của Bùi Giáng đã khẳng định: “Đó là một thi sĩ, một triết gia” [50]
Trang 11Trong “Bùi Giáng, con người hiện sinh”, Võ Công Liêm cho rằng: “Cái
hay của thơ Bùi Giáng là cái siêu lý của một con người hiện sinh Thơ, văn, họa của ông đã vượt khỏi biên cương ngôn ngữ và nghệ thuật, chữ nghĩa, màu sắc “bấn loạn” của một trí tuệ vượt thoát khỏi cõi phàm, một sáng tạo trong sáng tạo để dựng lên một âm ngữ mới cho văn chương Nói một cách khác, thơ, văn, họa của ông xuất thần, nhập thế vốn đã tự có trong con người của Bùi Giáng vì “chính ngôn ngữ sáng tạo ra tư tưởng” [61] Với Võ Công Liêm:
“Bùi Giáng là một văn nhân thời đại, một con người có nếp sống hiện sinh đúng nghĩa Hai chữ hiện sinh ở đây không dễ định nghĩa, gán ép một cách khơi khơi như thế mà phải sống và làm việc như Bùi Giáng mới xứng tên gọi của nó” [61]
Đỗ Lai Thúy đã không ngần ngại khi nhận xét: “Bùi Giáng tiếp thu chủ nghĩa hiện sinh của J-P.Sartre, A.Camus, K.Jaspers… một cách trực tiếp và đồng thời, khi nó còn đang sống động và đang phát triển Rồi từ triết học hiện sinh đi đến hiện tượng luận, sau đó hiện tượng luận hiện sinh của Heidegger
Trang 128
Bùi Giáng, chủ yếu, đi đến với triết học Heidegger bằng trải nghiệm riêng của
mình Từ cảm nghiệm vong thân đến với tự do, Bùi Giáng không hiểu triết
học như một thầy giáo, mà sống triết học như một bậc thầy Bởi thế, ông có
đầy đủ tư cách triết gia, để phê phán Sartre trong Heidegger Và Tư Tưởng
Hiện Đại, trao đổi thư từ học thuật với chính Heidegger và nhà thơ René Char
Quả thật, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có một nhà thơ Việt Nam sống cùng nhịp với các trào lưu tư tưởng lớn của thế giới đương đại [43, tr.432]
P.GS TS Hồ Thế Hà đã đi từ quan niệm văn chương đến tư duy nghệ thuật thơ Bùi Giáng để khẳng định: “Những nghịch lý trong sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng đã làm thành tổng hòa của sự hội tụ chứ không phải là sự phân hóa thi pháp thơ Nhưng cũng vì vậy mà trong cái bông đùa, cà rỡn có
sự thăng hoa của đau xót miên trường; trong cái hồn nhiên có sự uyên uẩn, nhức nhối của trí tuệ; trong điên loạn, cuồng say có sự mộng mơ và mê đắm
của cõi tình Tất cả những nghịch lý trên chính là tâm thức hiện sinh của Bùi
Giáng trên từng chặng hành trình sống và hành trình thơ Tìm hiểu bản mệnh thơ Bùi Giáng, theo tôi, phải tính đến sự cộng hưởng thi pháp rất riêng này của ông” [36, tr.21]
Nhìn chung, các tác giả đã có những đánh giá, nhận định tương đối thấu đáo về thế giới nghệ thuật thơ Bùi Giáng và có điểm qua những dấu ấn hiện sinh trong thơ ông Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách hệ thống và đầy đủ về Dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng
Vì thế, nếu đề tài này thực hiện thành công, nó sẽ góp thêm tiếng nói khẳng định về quan niệm mới của nhà thơ khi khám phá cuộc sống, con người; cũng như những nét đặc sắc của dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng Trên cơ sở
đó, nhận diện phong cách thơ Bùi Giáng, đánh giá những nỗ lực cách tân thơ
và vị trí của Bùi Giáng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại
Trang 139
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Những dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng trên một số phương diện của cái tôi trữ tình và những phương thức biểu hiện
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Những tập thơ của Bùi Giáng xuất bản và tái bản trong nước sau 1975:
- Đêm ngắm trăng, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1997
- Như sương, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1998
- Mưa nguồn, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005
- Rong rêu, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005
Các tập di cảo:
- Mười hai con mắt (Di cảo I), Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005
- Thơ vô tận vui (Di cảo II), Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006
- Tuyết băng vô tận xứ (Di cảo III), Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005
- Mùa màng tháng tư (Di cảo IV), Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006
- Thơ vịnh họa (Di cảo V), Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2007
- Rớt hột phiêu bồng (Di cảo thơ VI), Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2008
- Trúc mai, từ vô tận chúng em (Di cảo VIII), Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP Hồ Chí
Minh, 2009
- Ký ức (Di cảo IX), Nxb Văn hóa văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2010
- Bèo mây bờ bến (Di cảo X), Nxb Văn hóa văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2011
Bên cạnh đó, luận văn còn tham khảo thêm một số tập thơ của Bùi Giáng xuất bản trước năm 1975 và ở nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp hệ thống - cấu trúc:
Cấu trúc lại toàn bộ thơ Bùi Giáng theo một hệ thống, từ đó xem xét các
dấu ấn hiện sinh trong hệ thống thơ đã được cấu trúc
Trang 1410
4.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Chia thơ Bùi Giáng thành các vấn đề, xem xét, lí giải từng vấn đề; từ đó khái quát, tổng hợp, đánh giá về dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng
4.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu:
So sánh thơ Bùi Giáng với một số nhà thơ khác, đặc biệt là những nhà thơ cùng thời để nhận ra nét riêng biệt, dấu ấn đặc sắc của thơ Bùi Giáng Ngoài ra, trong qúa trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác
5 Đóng góp của luận văn
Đến với thế giới thơ Bùi Giáng, người viết không nhằm đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật hay tư duy nghệ thuật thơ Bùi Giáng mà chỉ góp phần tìm hiểu và nhận diện những dấu ấn hiện sinh trong thơ ông Từ đó, góp thêm tiếng nói khẳng định về những đóng góp và vị thế của nhà thơ trong tiến trình vận động và phát triển thơ Việt Nam hiện đại
Luận văn cũng nhằm đem đến một cái nhìn mới, cái nhìn tư tưởng, góp phần làm cho thế giới thơ Bùi Giáng đa chiều, đa diện hơn Từ đó thấy được sức lan tỏa, những ảnh hưởng và giá trị của thơ Bùi Giáng với một niềm hy vọng thơ ông mãi trường tồn
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Dấu ấn hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại và hành
trình sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng
Chương 2: Dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng nhìn từ cái tôi trữ tình Chương 3: Dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng nhìn từ phương thức
biểu hiện
Trang 1511
CHƯƠNG 1
DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA BÙI GIÁNG
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM
Chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu tư tưởng xuất hiện đầu tiên ở Đức vào cuối những năm 20 - 30 của thế kỉ XX với các đại diện tiêu biểu như: M Heidegger, K Jaspers Nó được J.P Sartre, A Camus, G Marcel, M Merleau Ponty…phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào ba thập kỉ 50 - 70 của thế kỉ XX Cũng như các hình thức khác của chủ nghĩa phi duy lý hiện đại, nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh chính là sự khủng hoảng, sự bại hoại tinh thần do
chủ nghĩa duy lý gây nên Theo Heidegger trong “Giải thích học hiện tượng
luận”: “Hiện sinh là sự tồn tại mà sự tồn tại mãi mãi chính là cái tôi nhưng
cái tôi đích thực bị tập thể nhân quần, xã hội bao vây, xâm chiếm cuối cùng
đã biến thành cái người ta” Trào lưu tư tưởng này là sự phản ứng, đối lập lại chủ nghĩa duy lý thống trị trong xã hội Tây phương hiện đại
Người mở đường chủ nghĩa hiện sinh Kierkegaard đã kế thừa những di sản tư tưởng cần thiết của triết học Đức để đặt nền móng cho học thuyết của mình Trong đó triết học đời sống của Nietzsche, hiện tượng học của Husserl được lấy làm tiền đề lý luận
Chủ nghĩa hiện sinh vô thần và chủ nghĩa hiện sinh hữu thần đều lấy nhân vị với tính chủ thể làm nền tảng, từ đó chống lại chủ nghĩa duy lý Tiếp tục tư tưởng của Nietzsche về siêu nhân, xu hướng hiện sinh vô thần cho rằng siêu việt là con người phải luôn luôn vượt lên, tiến lên Con người phải tự thắng, tự vượt mình, phải thăng hoa, phải luôn luôn là một dự phóng Phương châm sống của con người hiện sinh là “Con người phải hành động và chính nhờ hành động mà tự làm nên mình” [57, tr 918] Điều này đồng nghĩa với
Trang 1612
việc chủ nghĩa hiện sinh không dừng lại ở lý luận mà còn chú trọng vào hành động sống, coi đó như yếu tố quan trọng tạo nên một phong cách sống của cá nhân con người
Lộ trình của chủ nghĩa hiện sinh trải qua nhiều chặng đường, mang nhiều biến thể khác nhau, có lúc xung đột nhau nhưng vẫn hội tụ một vấn đề trung tâm - vấn đề nhân vị Gọi là vấn đề trung tâm bởi vì các vấn đề còn lại đều xuất phát từ đây, bổ sung và làm cho nó được cụ thể hoá hơn Các nhà triết học hiện sinh coi hiện sinh ở mỗi nhân vị là tính thứ nhất, có trước bản chất Con người được chủ nghĩa hiện sinh đề cập như một hiện sinh của một
tự do, vượt khỏi mọi khoa học, một sinh lực tinh thần thực sự sống bằng tự do của mình trong những tình trạng cụ thể của thế giới loài người
Khái niệm nhân vị của triết học hiện sinh đã đánh dấu một phong cách mới trong triết học, có nghĩa nó là sản phẩm mới trong lịch sử
Như vậy, triết học hiện sinh “là triết học nhân vị mà chủ thể tri thức là chính nhân vị con người Các phạm trù phát sinh từ hiện sinh của con người không là những định nghĩa trừu tượng phổ quát như triết học cổ truyền, triết học duy lý đã làm mà mô tả để con người lộ dần ra những trắc diện và những trắc diện đó tạo thành sắc thái của cuộc sống của mỗi người chúng ta” [5, tr.124]
Ra đời với tính cách là một trào lưu triết học, chủ nghĩa hiện sinh chú tâm tìm hiểu con người và những vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống con người, kêu gọi con người quay về với cá nhân mình Với quan niệm “hiện hữu có trước bản chất”, chủ nghĩa hiện sinh đã được mọi người, nhất là thanh niên, lớp người nhiều lo âu về thân phận mình, chào đón nồng nhiệt Là thứ triết học gắn liền với con người, với cuộc sống và cái chết của con người, chủ nghĩa hiện sinh đã ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến văn học nghệ thuật Các nhà hiện sinh thế kỉ XX không chỉ trình bày những quan điểm lý luận tư biện
Trang 1713
thuần túy bằng sách báo mà còn bằng các hình thức tác phẩm văn chương: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, nghiên cứu văn học Chính vì thế, khi trào lưu văn học hiện sinh xuất hiện ở châu Âu vào những năm trước và sau chiến tranh thế giới thứ II thì các nhà văn lớn đồng thời cũng là những triết gia hiện sinh như: G Marcel, J.P Sartre, A Camus, M.de Unamuno, W Golding, A Doeblin, Abe Kobo…
1.2 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.2.1 Giai đoạn trước 1975
Trong giai đoạn từ 1954 đến 1975, chủ nghĩa hiện sinh có ảnh hưởng rộng rãi ở miền Nam Việt Nam, hình thành nên một đội ngũ khá đông đảo những nhà nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh Trong các công trình nghiên cứu về triết học hiện sinh của mình, các tác giả trong nước đã đi sâu phân tích quan niệm của Kierkegaard, Nietzsche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre và
Heidegger Tiêu biểu là cuốn Triết học hiện sinh (Nxb Thời mới, Sài Gòn, 1967) của Trần Thái Đỉnh; các công trình của Lê Tôn Nghiêm: Heidegger
trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương (Nxb Lá Bối , Sài Gòn, 1970); Đâu
là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger (Nxb
Trình Bày, Sài Gòn, 1970); Những vấn đề triết học hiện đại (Nxb Ra khơi, Sài Gòn, 1971); những bài viết của Phạm Công Thiện (Hiện tượng học và hiện
tượng học Husserl), Ngô Trọng Anh (Vấn đề thực tại trong hiện tượng học Husserl) và Lê Tôn Nghiêm (Môi trường tiên nghiệm trong hiện tượng học Husserl về cuộc đời) Lê Thành Trị đã biên soạn chuyên khảo Hiện tượng luận
về hiện sinh (Sài Gòn, 1969; tái bản 1974) Đặc biệt, Nguyễn Văn Trung đã
quảng bá và vận dụng chủ nghĩa hiện sinh vào việc phân tích, đánh giá một số
hiện tượng văn nghệ trong những công trình Triết học tổng quát, Đưa vào
triết học, Lược khảo văn học, Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết… Ông được coi
Trang 1814
là “nhịp cầu chính dẫn chủ nghĩa hiện sinh đi vào xã hội miền Nam và toả ra đến tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên” [49]
Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh đã ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống
và văn học nghệ thuật lúc bấy giờ Chính bối cảnh lịch sử xã hội, văn hóa của
đô thị miền Nam Việt Nam 1954 - 1975 với những rối ren về chính trị và tâm trạng bất an của con người trong chiến tranh đã tạo điều kiện để nền văn học mang dấu ấn hiện sinh đậm nét, tồn tại và phát triển Hầu hết các phạm trù của triết học hiện sinh: vong thân, tha hoá, buồn nôn, phi lý, dấn thân, gia nhập, tha nhân, nổi loạn, cô đơn, hư vô đều được ứng dụng thành hệ quy chiếu để xem xét các tác phẩm văn học Nhiều công trình nghiên cứu về văn chương truyền thống từ "tọa độ hiện sinh" đã mang đến cho văn chương
những giá trị mới mẻ Trong đó phải kể đến "Đi tìm tâm thức ca dao trên
trục tọa độ không thời" (Trần Nhật Tân) [dt 62]; “Thời gian hiện sinh trong
Đoạn trường tân thanh [dt 62], Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ
lưu đày” (Lê Tuyên) [dt 62] ; “Tính chất bi đát trong thi ca Tản Đà” (Nguyễn
Thiên Thụ) [dt 62]; “Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do” (Nguyên
Sa)[dt 62]
Chủ nghĩa hiện sinh đã để lại những dấu ấn trong sáng tác văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 trên tất cả thể loại, nhưng sâu đậm nhất vẫn là tiểu thuyết và thơ ca, hai thể loại kết tinh thành tựu của văn học đô thị miền Nam giai đoạn này
Tiểu thuyết thời kì này “không chỉ phản ánh hiện thực” mà “suy ngẫm về hiện thực,” “áp sát hiện thực” Nó đi vào thân phận cá nhân với tư cách là nhân vị, sản phẩm của sự không nhất thiết, của ngẫu nhiên cho nên nó từ chối
đi vào điển hình, dù là tính cách hay hoàn cảnh điển hình mà chỉ bằng lòng dừng lại ở cái “bản chất cụ thể” [5, tr.163]
Trang 1915
Trong các tác phẩm như Bóng tối, Thềm địa ngục, Tiếng khóc vào đời,
Uyên buồn của Nguyên Vũ Cô Hippy lạc loài, Sống một ngày… của Nhã
Ca Bóng tối cuộc đời, Một mình, Mùa đông cô đơn, Nửa gối cô đơn của Nghiêm Lệ Quân Cát lầy, Mù khơi của Thanh Tâm Tuyền Sa mạc tuổi trẻ,
Ảo vọng tuổi trẻ của Duyên Anh Cho những mùa xuân pha, Tình yêu địa ngục, Dưới vực sâu này… của Nguyễn Thị Hoàng (…) đời sống luôn được
miêu tả như thảm kịch, hư vô và phi lý, thân phận con người được tô khắc mang một dấu ấn đặc biệt Đó là con người bé bỏng, kiếp người mong manh, chới với trong ngập tràn đau khổ, chia lìa; con người cô độc trong một thế giới phi lý đầy thù nghịch, xa lạ, đầy biến động cùng ám ảnh về cái chết Trong những tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Thị Hoàng cái chết, sự hư vô hiện diện thường trực Với Nguyễn Thị Hoàng, cuộc sống là một “thành lũy hư vô”, ở đó ngày lại ngày mọc lên những nấm
mồ mới, ngày Chúa nhật cũng chỉ là một bãi chiến trường và ở trong cái
“thành lũy hư vô” đó “không có ánh sáng rực rỡ của sửng sốt ngạc nhiên và nồng nàn của xôn xao rung cảm”, mọi cảm xúc bị lịm chìm, chỉ còn lại một người kéo lê cái thân xác trong cõi hồng trần mà thôi Với Lê Xuyên là sự chết chóc, sự khốn khổ của kiếp người Còn với Dương Nghiễm Mậu là thân phận con người, với những cảnh ngộ làm người trong một thế giới nhiều bất trắc, phi lý Sự phi lý, hư vô, cái chết còn được thể hiện trong các tác phẩm
của Nguyễn Mạnh Côn (Con yêu, con ghét), Thanh Tâm Tuyền (Cát lầy), Nguyễn Thị Hoàng (Thành luỹ hư vô), Duyên Anh (Sa mạc tuổi trẻ) Trong
các tiểu thuyết, ta thấy thấp thoáng bóng dáng Sagan với lối viết thản nhiên đến lạnh lùng với những mẫu nhân vật “sống nay không biết mai”, không bị ràng buộc bởi bất cứ sợi dây luân lý hay lễ giáo nào; với âm hưởng u buồn chán ngán đến rã rời Những tư tưởng về cuộc sống phi lý của Camus, về
Trang 20để đừng sống buồn nôn, đừng bị cuốn theo cái vũng "cát lầy" kinh khủng của cuộc đời Thế nhưng, họ lại rơi vào bi kịch của tuyệt vọng Tư tưởng hư vô, niềm cô đơn, cùng những đam mê trong khát vọng kiếm tìm thân phận con
người bàng bạc trên khắp các trang sách của Cát Lầy (Thanh Tâm Tuyền) với
những tiếng kêu điếng hồn, thì thầm hay thất thanh, của con người không ngớt hồ nghi, bàng hoàng trước tên mình
Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ ảnh hưởng lớn đến thể loại tiểu thuyết, thể loại thuận lợi nhất trong việc chuyển tải những vấn đề về thân phận con người qua những hình tượng nhân vật sinh động, mà còn tác động mạnh mẽ đến thơ ca, mang lại cho văn học đô thị miền Nam một diện mạo riêng, nhiều thành công và cũng có không ít hạn chế
Thơ ca đô thị miền Nam trĩu nặng nỗi buồn đau về sự mong manh, hư vô của kiếp người và cái chết, sự đổ vỡ của niềm tin và mơ ước Những tác giả tiêu biểu cho thơ ca mang khuynh hướng hiện sinh là Bùi Giáng, Du Tử Lê, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Đinh Hùng, Mai Thảo, Nhã Ca, Cung Trầm
Trang 2117
Tưởng, Nguyễn Đức Sơn Có thể tìm thấy trong thơ Du Tử Lê nỗi cô đơn của con người, và hành trình tìm về cái tôi bản thể để lấp đầy những khoảng trống vô nghĩa Đó là trạng thái hiện tồn của một con người luôn nhận biết được sự hiện hữu của mình với thế giới, với đám đông xung quanh: “Tay nghêu ngao níu cuộc đời/ Đôi chân mười ngón móng dài héo thân/ So vai
nhăn áo xô quần/ Mắt nâu tóc rậm môi câm tiếng cười”(Mình) Thơ Thanh Tâm Tuyền lại là “sự dấn thân - hệ quả của ẩn ức âu lo và mặc cảm ruồng bỏ” [39] Cùng đó nỗi đau cô đơn, luôn vang lên lời khẩn cầu tha thiết của kẻ đi
tìm lại bản thể và nhân vị của mình: “Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ”, “Tôi gào tên tôi thảm thiết” Đối với Thanh Tâm Tuyền, thơ “không còn là cứu cánh của đời sống, thơ chỉ còn là phương tiện để họ (tức người làm thơ) vào sâu trong ý thức gặp mình, gặp được đời sống và may ra gặp được hồn người” [64] Trong thơ Trần Dạ Từ, nỗi suy tư về kiếp người bọt bèo, cuộc đời vô
định hiện lên thật rõ: “Chiều đò ngang bến sông/ Câu hát buồn thơ dại/ Dong trôi về mấy hàng/ Đời chia về mấy phương/ Người dạt về mấy ngả” (Một bến
sông) Kiếp người bọt bèo, cuộc đời vô định, và chờ đợi mỗi chúng ta phía
trước là cái chết Sắc màu hiện sinh đẫm trong mỗi vần thơ:“Ở cuối con
đường này/ Là dĩ vãng khủng khiếp/ Quẹo về bên trái/ Những chuyến tàu tám
giờ /Tiếng còi trầm réo gọi/ Thôi tôi dừng lại đây/ Hai vỉa hè tăm tối” (Phạm
Ngũ Lão Sài Gòn) Với Nguyên Sa, thơ nói đến nỗi ám ảnh của cô đơn và hư
vô “như một ý thức hiện hữu” [62] Cao Thế Dung đã lý giải thơ Nguyên Sa
từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh Ông phát hiện bản chất tình yêu trong thơ Nguyên Sa là một “sự rạn vỡ” và tình yêu chỉ "như một tình cờ " Với cái nhìn của Cao Thế Dung, "Nguyên Sa luôn là một nhà thơ có khuôn dáng yêu đương thơ mộng Thơ ông đã thể hiện rõ tâm trạng thời đại của ông Thơ ông cũng không phải và không thể là hiện sinh kiểu Sartre Ông là nhà thơ của một dòng sông hiện sinh trong hiện hữu Nguyên Sa im lìm mà khuấy động,
Trang 2218
yêu đương trong sự rạn vỡ, dòng hiện sinh ấy mang theo tình yêu như một tình cờ": “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc/ Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường/ Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương/ Tôi thay mực cho vừa màu áo
tím" (Tuổi mười ba) Sự đau thương và hủy diệt cận kề tình yêu có phải là ly
rượu hồng thoáng say trong chốc lát để rồi chia ly biền biệt: “ Không có anh nhỡ ngày mai em chết/ Thượng Đế hỏi anh sao tóc em buồn/ Sao tay gầy, sao
đôi mắt héo hon/ Anh sẽ phải cúi đầu đi về địa ngục…” (Cần thiết) Thơ Bùi
Giáng lại đau đáu về “thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân biến đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được?" [43, tr.579]: “Em từ vô tận xa xăm/ Trùng lai chất vấn: từ trăm
năm nào?” (Em đi em về); “Hỏi tên? Rằng biển dâu xanh /Hỏi quê? Rằng
mộng ban đầu đã xa/ Gọi tên? rằng một hai ba/ Ðếm là diệu tưởng đo là nghi
tâm” (Tặng Mã Giám Sinh) Giữa cuộc sống thương đau ấy, tình yêu cũng
không đủ sức nâng con người khỏi những hoang mang Tình yêu không ngọt ngào mà cay đắng Người yêu không thấu hiểu, sẻ chia mà chỉ là "tha nhân"
xa lạ: “Em đến hôm nào như hoa bay/ Tình không độc dược mà đắng cay/
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt/ Mùi hương sát nhân từ ngón tay/ Em đến hôm nào như mây bay/ Gió mưa triền miên chìm nét mày/ Đường vào lòng nhau
toàn sạn đạo/ Bước chân tha hương từ dấu này” (Đường vào tình sử - Đinh
Hùng)
Có thể nói thơ ca đô thị miền Nam 1954 - 1975 nhiều chết chóc, đau thương, chia lìa, tăm tối, nước mắt và địa ngục Đó là “thơ của một thời dằn vặt, suy tư, đau khổ” [64] về sự cô đơn, về thân phận bé nhỏ của con người,
sự hư vô của cuộc sống và cái chết
1.2.2 Giai đoạn sau 1975
Sau chiến tranh, đặc biệt từ khi đổi mới 1986, đất nước có những biến chuyển quan trọng trên nhiều phương diện Tinh thần dân chủ được chú trọng
Trang 2319
hơn, tạo điều kiện cho các hoạt động giao lưu, tiếp xúc văn hóa phát triển Điều này tác động sâu sắc đến tâm thức con người và ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận động của văn học Nền kinh tế thị trường với tất cả những phức tạp, gai góc của nó khiến người ta không thể nhìn cuộc sống bằng nhãn quan
sử thi thuần khiết như những năm trong chiến tranh Những thước đo giá trị
cũ, những chuẩn mực cũ giờ đây khi cọ xát với đời sống xô bồ, nhộn nhạo của thời hiện đại mất đi tính tuyệt đối của nó Cuộc sống tồn tại nhiều nghịch lí, phi lí buộc con người phải nhận thức, đối mặt Thêm vào đó, trong bối cảnh của nền văn minh toàn cầu, con người không chỉ phải đối diện với những vấn
đề của riêng dân tộc mình mà còn đứng trước những vấn đề chung của cả nhân loại, cả thời đại Cái nhìn hoài nghi, cảm giác lo âu, bất an trước đời sống hiện tại là hiện tượng tâm lý có thật trong xã hội thời kì này
Tinh thần hiện sinh trong văn học, về cơ bản là sự kiếm tìm bản thể, hướng đến trả lời câu hỏi “Con người, anh là ai?” Tiền đề “hiện sinh có trước bản chất” của chủ nghĩa hiện sinh và các quan niệm về tính chủ thể, về tự do,
sự phi lí, về sự dấn thân, nổi loạn… tỏ ra phù hợp để lí giải và nhận diện con người thời kì này Bởi khi con người bị “máy hóa” và ngày càng trở nên “vô danh” trước đời sống, mọi giá trị trong đời sống biến thiên một cách khốc liệt, các chuẩn mực, chân lí chỉ còn là tương đối, con người rất cần tạo lập cho mình một bản lĩnh cá nhân để có thể đứng vững, tinh thần hiện sinh tiếp tục bén rễ và phát triển trong văn học thời kì này như một điều tất yếu
Triết học hiện sinh và văn học hiện sinh đã được giới thiệu ở Việt Nam (chủ yếu ở miền Nam) ngay từ giữa thế kỉ XX Tuy vậy, tinh thần hiện sinh, quan niệm hiện sinh chỉ thật sự bùng nổ trong văn học Việt Nam kể từ đầu thế
kỉ XXI với sự thể hiện khá đa dạng, phức tạp Thế giới Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là tứ truyện bao trùm về sự vô nghĩa trớ trêu của cuộc đời, sự bê tha nhếch nhác thảm hại của con người, sự bơ vơ lạc loài của cái đẹp, và cả
Trang 2420
bóng dáng của chủ nghĩa hư vô Ở đó con người luôn bất ổn, luôn luôn di động, đi tìm tự do, đi tìm cái đẹp, đi tìm bản thân Cuộc sống hiện đại hối hả khiến cho con người như những ốc đảo cô đơn, không thể hòa nhập Trong
các truyện ngắn như Con gái thủy thần, Tướng về hưu, Đời thế mà vui , tràn
ngập những ám ảnh, những day dứt mang tính hiện sinh về sự tồn tại của kiếp người với nỗi bơ vơ, sự băn khoăn về tương lai của con người và cả sự dấn thân trong hành trình tìm kiếm bản thể Sáng tác của Phạm Thị Hoài lại hướng đến những thế giới vô hồn, vắng bóng dấu vết của sự sống mang tính người, tình người, và đầy ngập những cuộc chia tay Nhân vật của Phạm Thị Hoài không ai quyết định được thay ai, nếu có lựa chọn thì cũng không hề lựa chọn, lựa chọn chỉ là một ngụy tạo bởi vì quyết định táo bạo nhất cũng chỉ nảy sinh từ ngẫu nhiên, từ xô đẩy của các dữ kiện
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám ảnh người đọc bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người vào cuộc đời, sự đổ vỡ của những trật tự xã hội và gia đình, sự ngắc ngoải ngưng đọng của đời sống, tình trạng bất an, sự đánh mất bản ngã, phương hướng, sự băng hoại đạo đức, sự bơ vơ của kiếp người…
(Thoạt kì thủy, Người đi vắng, Ngồi) Sáng tác của Nguyễn Việt Hà lại thể hiện một cái nhìn hoang mang về thời cuộc (Cơ hội của Chúa), đồng thời là ý
thức xâm nhập mạnh mẽ vào sự tha hoá của con người, sự hỗn loạn của xã hội
- cái được xem như là một tồn tại an nhiên (Khải huyền muộn) Văn chương
Tạ Duy Anh là nỗi khắc khoải truy tìm bản ngã, tìm một giá trị thật sự trên cái đời sống đổ nát, đầy thù hận, là sự loay hoay lí giải, hoá giải những nỗi đau
khổ đầy đoạ con người từ tiền kiếp (Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần
sám hối) Còn tiểu thuyết Hồ Anh Thái lại xem đời sống như những mảnh vỡ,
thể hiện tinh vi nỗi hoang mang của con người về con người và cái lộn xộn,
phi lí, nhố nhăng của thời buổi (Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một
đêm) Paris 11 tháng 8, T mất tích của Thuận là một diễn dịch mới về tình
Trang 2521
trạng bất an, vong bản, bị kết án “mất tích”, một nỗi niềm kinh hãi “rằng có ai
đó đang vẽ kiểu cho cuộc sống của mình” [dt.52]
Phải nói rằng, tinh thần hiện sinh trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI được thể hiện đậm đặc ở cảm thức hư vô, ở những thân xác hiện tồn bị quăng quật ngẫu nhiên vào đời sống và chỉ tồn tại nhờ vào những ý muốn tồn tại của chính nó Nổi loạn, dấn thân kiếm tìm tự do, chìm đắm trong nỗi cô đơn bản thể với những cái chết tượng trưng, những chấn thương tinh thần - thể xác… trở thành những phản ứng của con người trước một thực tại đơn điệu, trống rỗng, thiếu vắng những điểm tựa tinh thần Với tiểu thuyết hiện sinh, các nhà văn gặp gỡ nhau ở ý thức mô tả một kiểu nhân vật lạc lõng, cô đơn giữa một thế giới phẳng Con người khước từ, đánh mất sự hiện hữu để dấn thân vào hành trình truy tìm bản thể Nhân vật của Đoàn Minh Phượng lang thang trên những toa tàu vô định để trả lời câu hỏi “Tôi là ai? Tôi từ đâu
đến?”, “Tôi muốn biết mình là ai để ngày tôi chết tôi biết rằng ai đã chết” (Và
khi tro bụi) Với nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư, sống là hành vi lựa chọn và
dấn thân Lao mình vào những chuyến phượt, là một hành vi lựa chọn hiện tồn, đúng - sai cũng là một sự dấn thân, và cuối cùng là sự biến mất hoặc cái
chết vô tăm tích (Sông) Để trả lời câu hỏi “Những con người làm nên cuộc
sống và bộ mặt phố phường Họ là ai thế nhỉ???”, nhân vật của Đỗ Phấn lùi dần, lùi dần, chối bỏ lối sống khuôn mẫu, bầy đàn để lựa chọn sự vắng mặt,
và luôn ám ảnh về sự vắng mặt Con người “ngày một thêm vắng mặt ở ngay chính nơi mình sinh ra và lớn lên”; “Niềm vui giả tạo thì đầy rẫy nhưng hoàn
toàn thiếu vắng nỗi buồn…” (Vắng mặt)
Dấu ấn hiện sinh cũng đang là một dòng chảy trong thơ của các nhà thơ trẻ đương đại như: Ly Hoàng Ly, Vy Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyệt Phạm, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn, Đồng Chuông Tử, Trần Tuấn, Tuệ Nguyên, Khánh Phương, Đỗ Doãn Phương… Nỗi buồn, niềm cô
Trang 2622
đơn, sự khủng hoảng, thiếu vắng niềm tin không ngăn trở các nhà thơ trẻ tiếp tục một hành trình muôn thuở của văn chương: nghiền ngẫm nỗi niềm nhân tâm thế sự Từ góc nhìn mới, những khám phá đã trở nên đa dạng và sâu sắc hơn Giã từ đám đông, con người được đặt vào các trạng huống phức tạp mới của cuộc đời: trong đời sống hiện thực phồn tạp, trong đời sống bản năng
và trong đời sống tâm linh Cái ít có điều kiện để nói tới trước đây, nay được công nhiên mổ xẻ, khơi sâu Hiện thực tâm lí ngày càng được quan tâm nhiều hơn Trong thơ, các yếu tố vô thức, nhục thể, dục tính, sự trống vắng, vong thân trở thành tiêu điểm Mặc dù bị đứt đoạn nhưng cái hướng đi vừa hé mở
ấy vẫn có một mạch ngầm tiếp nối trong lịch sử thơ ca Sau thời kỳ đổi mới, những dấu hiệu này đã xuất hiện trở lại, công khai hơn, mạnh mẽ hơn Những tác giả này “dù ít hay nhiều họ đã tự tạo cho mình một lối đi riêng Tinh tế hay bộc trực Nhẹ nhàng hay mạnh mẽ Gai góc, dữ dội hoặc dịu êm Thách thức hoặc khiêm nhường Thách thức hoặc làm xiếc câu chữ Tất cả đã tạo cho thơ một dòng chảy liên tục không ngắt quãng” [55]
Có thể nói, thời kỳ đổi mới cũng tạo môi trường cho phép con người được giải phóng cái tôi cá nhân của mình Trong 30 năm chiến tranh, dưới áp lực của hoàn cảnh lịch sử, cái tôi ấy nhiều khi phải nén lại, co rút lại hay hòa tan trong cộng đồng, tập thể, trong ý thức nghĩa vụ Bối cảnh xã hội thời kì đổi mới tạo điều kiện để cái tôi cá nhân được con người nhận thức lại đúng với ý nghĩa, giá trị của nó Con người được quan tâm một cách toàn diện hơn, những nhu cầu thế sự, đời tư cũng như những phương diện thuộc về đời sống tâm linh, vô thức được chú ý nhiều hơn Nếu thơ là những ký thác cuộc đời thì những nhà thơ trẻ đương đại gửi gắm vào thiên chức thi sĩ của mình những cung bậc tình cảm mang dấu ấn hiện sinh một cách trực diện Họ được đón nhận nhiều luồng văn hóa Đông - Tây nên tác phẩm mang vẻ đẹp hiện đại, cách nói hiện đại, suy nghĩ hiện đại Nhiều nhà thơ trẻ hiện nay đã có ý thức
Trang 2723
đưa thơ đến tiềm thức, vô thức tâm linh, vận dụng những yếu tố hiện sinh, tượng trưng siêu thực tạo cho thơ khả năng biều hiện những cảm giác mơ hồ thuộc tầng sâu của tâm hồn con người Triển khai ý tưởng đến tận cùng, bản ngã được mở ra nhiều hướng, ngôn ngữ thơ phóng túng như ngựa hoang trên
“đại lộ tư duy” (Lê Văn Lân) Họ thực sự đã biến đổi những thói quen, thị hiếu thẩm mỹ truyền thống tạo ra diện mạo mới cho thơ Trong thơ trẻ chúng
ta thấy nhiều tìm tòi đi vào vùng sâu, vùng xa của vô thức, tiềm thức, có những liên tưởng độc đáo, vừa là hiện thực đời sống, vừa chứa đựng yếu tố tâm linh
Các tác giả thơ trẻ không bằng lòng với những cái đã an bài, thơ họ thể hiện bản ngã một cách mãnh liệt Khát vọng của cái tôi nhục cảm được thể hiện ráo riết và thôi thúc: “Cái lưỡi mềm của anh nơi gan bàn chân em/ Làm
thế giới hóa lỏng ” (Vi Thùy Linh) “Vào sau cửa buồng vần vũ mười lăm phút/ Ra đường đoan trang chớp mắt thướt tha ” (Phan Huyền Thư) Con
người trong thơ của những cây bút trẻ phá cách chịu sự chi phối rất mạnh của đời sống cá nhân, đề cao đời sống cá nhân, dám sống thật với chính mình và
có thể coi đây là tiếng nói mạnh mẽ về con người trong thơ ca Thơ họ mang hơi hướng của chủ nghĩa hiện sinh và những mảng màu trừu tượng của nghệ thuật sắp đặt Cái tôi được ý thức ngay từ chính tên gọi của mình: “Khi bị gọi nhầm tên/ Tôi không nói gì/ Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp/ Tôi bỏ đi / Tôi là tôi/ Một bản thể đầy mâu thuẫn / Tôi đã nhìn mình trong gương cả khi khóc khi cười/ Bất cứ lúc nào, trên sân khấu cuộc đời/ Tôi vẫn
là diễn viên tồi/ Bởi tôi không hóa thân để nhập vai người khác” (Tôi - Vi
Thùy Linh) Cái tên không còn là một kí hiệu ngôn ngữ nữa mà đã trở thành
một cái “Tôi” cá nhân cụ thể - một cái tôi “không hóa thân để nhập vai người khác” Cá tính và quyết liệt, Vi Thùy Linh muốn “Đập nát đơn điệu, khuôn khổ của cũ kỹ, nhàm chán và cam chịu/ Em tự làm mất đối xứng– bằng
Trang 2824
em”/…Em sẽ vắt mình đến giọt cuối cùng, làm nghiêng ngả mọi ổn định”
(Không thanh thản) Có lẽ những cây bút trẻ hôm nay không thể chịu đựng
được những gì quá quen thuộc kiểu: “Quanh quẩn mãi chỉ vài ba dáng điệu/ Tới hay lui cũng chừng đó mặt người” như Huy Cận, hay tâm trạng: “Tôi chán cả bạn bè/ Mấy năm nay họ không nói được một câu gì mới” của Lưu Quang Vũ Khát vọng khẳng định cái tôi trên con đường thơ Mới biểu hiện ở nhiều khía cạnh Đó có khi là nhu cầu thoát khỏi những đơn điệu thường hằng: “Thỉnh thoảng nhạt miệng/ Nếm chữ mình/ Ngâm muối/ Những con dế hát nhiều/ Có ngày đồng loạt/ Lột xác /Gội đầu mỗi tối/ Rửa trôi/ Tiếng
bước chân mình đơn điệu” (Tản mạn tuổi 19 - Trương Quế Chi) Đó là nỗi
đau xót trước thực trạng những bài thơ thương vay khóc mướn: “những vần thơ ảnh viện/ khóc buồn vui không màu/ cười những nụ cười giống nhau” của không ít những nhà thơ “vẽ chân dung chữ” hôm nay của Phan HuyềnThư Dấu ấn hiện sinh trong thơ trẻ còn thể hiện ở cách đặt tên bài thơ, tập
thơ: Linh, Viliin love, Rỗng Ngực, Hai miền hoa Thùy Linh, Sinh ngày 4 tháng
4, Đồng giao CHI18, Sinh năm 1980 Những cái tên để các nhà thơ hôm nay
khẳng định mạnh mẽ một điều “Thơ là tôi, tôi là thơ/ Như tiền định/ Như tiên
cảm” (Vi Thuỳ Linh)
Có thể nói, những thước đo giá trị cũ, những chuẩn mực cũ khi cọ xát với đời sống xô bồ, nhộn nhạo của thời hiện đại mất đi tính tuyệt đối của nó Ánh sáng của lý tưởng phai nhạt dần, cuộc sống không còn vẻ hào quang nữa
mà tồn tại bao sự nghịch lí, phi lí buộc con người phải nhận thức, đối mặt Thêm vào đó, trong bối cảnh của nền văn minh toàn cầu, con người không chỉ phải đối diện với những vấn đề của riêng dân tộc mình mà còn đứng trước những vấn đề chung của cả nhân loại, cả thời đại Những biến động trên thế giới đã ít nhiều in dấu ấn trong ý thức người Việt Nam Sự khủng hoảng niềm tin, nỗi cô đơn, cái nhìn hoài nghi, cảm giác lo âu, bất an trước đời sống hiện
Trang 291.3.1 Bùi Giáng và hành trình sáng tạo
Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại làng Vĩnh Trinh, xã Thanh Châu (nay lã xã Duy Châu) huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Cha Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, một người giàu có trong làng Mẹ là bà Huỳnh Thị Kiền, cháu nội cụ Hoàng Văn Bảng, em ruột phó bảng Hoàng Diệu
Bùi Giáng là tên thật, cũng là tên được sử dụng nhiều nhất trong các tác phẩm Ngoài ra, tác giả còn có những bút hiệu khác như: Vân Mồng, Bùi Bàng Giúi, Bùi Báng Giùi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Trung Niên thi sĩ, thi sĩ Đười ươi, Giáng Moroe, Bùi Brigitte, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ
Từ 1936, Bùi Giáng học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn, đến năm
1939, học trung học tại trường Thuận Hoá (Huế) với các giáo sư Cao Xuân Huy, Trần Đình Đàn, Đào Duy Anh… Đến năm 1940, Bùi Giáng bỏ học Năm 1945, ông trở về Quảng Nam, lập gia đình và chuyển lên sống ở làng đồi núi Trung Phước
Năm 1949, Bùi Giáng nhập ngũ, làm bộ đội công binh, tham gia kháng chiến ở Quảng Nam Đến năm 1950, ông thi đậu tú tài II văn chương do Liên khu V tổ chức, được cử ra Hà Tĩnh chuẩn bị học Đại học nhưng sau đó từ bỏ
ý định học hành, theo đường núi Trường Sơn trở về Quảng Nam Năm 1952, Bùi Giáng vào Sài Gòn Ông ghi danh học Đại học Văn Khoa Sài Gòn, một thời gian thì chán không đến trường, ở nhà tự học, nghiên cứu, dịch sách, dạy Pháp Văn và Việt Văn cho nhiều trường Tư thục và làm thơ đăng báo
Năm 1969, sau một tai nạn hỏa hoạn, thiêu rụi nhiều tài liệu sách, Pháp, Anh, Đức…và nhiều bản thảo, Bùi Giáng nổi cơn điên và được gia đình đưa
Trang 30Bùi Giáng được đánh giá là một “thi sĩ kỳ dị” trong nền văn học Việt Nam Ông kỳ dị trong lối sống, trong các tác phẩm, trải rộng từ tiểu luận, khảo cứu triết học, văn học, đến dịch tiểu thuyết, kịch và một cõi mênh mang
có tên “thơ Bùi Giáng” “Kẻ lãng du phiêu bồng” này đã coi cuộc đời là một
chuyến rong chơi bất tận Có khi ông như một bậc thi ca đạt đến tầm “nhà thơ của những nhà thơ”, một nhà hiền triết, và có khi lại như một người chếnh choáng trong cơn điên đời…
Bùi Giáng tiếp cận rất sớm với văn hóa, văn học của phương Tây, nắm bắt nhanh chóng hệ thống lý thuyết phương Tây về chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực, phân tâm học Freud, v.v… qua việc đọc và dịch các tác phẩm Bằng sự am hiểu sâu sắc văn hóa, văn học của dân tộc, với khả năng tự học siêu việt, ông đã để lại nhiều dấu ấn trong các dịch phẩm với lối chuyển dịch khoáng đạt, bay bổng Ông cũng viết khảo luận về triết học hiện sinh, đối thoại với Heidegger, Camus, Sartre,… về văn học nghệ thuật
Trang 3127
Bên cạnh các giảng luận về: Bà Huyện Thanh Quan, Lục Vân Tiên,
Chinh Phụ Ngâm, Quan Âm Thị Kính, Truyện Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Phan Bội Châu, Chu Mạnh Trinh, Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị… được xuất bản năm 1957 - 1959, Bùi Giáng đã để
lại một số lượng dồi dào và phong phú những bản chuyển ngữ đậm chất văn
chương Có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu xuất bản năm 1966: Cõi
người ta (Saint Exupéry), Trăng tỳ hải (Albert Camus), Khung cửa hẹp
(AndréGide), Hoa ngõ hạnh (W.Shakespeare)… Năm 1967: Bạo chúa
Caligula, Ngộ nhận ( Albert Camus)… Năm 1968: Mùa hè sa mạc
(AlbertCamus), Kẻ vô luân (André Gide) Năm 1969: Nhà sư vướng lụy (Đại
sư Tô Mạn Thù), Hamlet (W.Shakespeare), Hòa âm điền dã (AndréGide) Năm 1973: Hoàng Tử Bé (Saint - Exupéry), Mùi hương xuân sắc (Gérard
DeNerval) xuất bản năm 1974 (…)
Ngoài ra, Bùi Giáng thành công ở những công trình biên khảo và sáng
tác văn xuôi Có thể kể ra ở đây: Tư tưởng hiện đại 1,2 và 3 (1962), Martin
Heidegger và Tư tưởng hiện đại 1 và 2 (1963); Sao là không có triết học Heidegger (1963); Đi vào cõi thơ, Thi ca tư tưởng, Sa mạc phát tiết, Sương bình nguyên, Trăng châu thổ, Mùa xuân thi ca, Thúy Vân tam hợp đạo cô
(1969); Ngày tháng ngao du, Đường đi trong rừng, Lời cố quận, Lễ hội tháng
ba; Con đường ngã ba (1971)… Điểm đặc biệt là Bùi Giáng đã dịch các tác
phẩm văn chương với một tinh thần đồng điệu, chứ không dịch câu chữ Độc
giả đánh giá cao khi đọc “Thi ca tư tưởng” của ông, cho ông là người đầu tiên
mở ra một cuộc Hội thoại của Tại thể chúng ta giữa Tồn sinh và Lịch sử, là một trong số “vài kẻ đạt tới cái chỗ cùng tận của cái vực sâu không đáy” (Tuệ Sĩ)
Song, phần quan trọng và có giá trị nhất trong văn nghiệp của Bùi Giáng
chính là thơ Có thể kể: Mưa nguồn (1962), Lá hoa cồn (1963), Màu hoa trên
Trang 3228
ngàn (1963), Mười hai con mắt (1964), Sa mạc trường ca (1965), Ngàn Thu Rớt Hột (1967), Bài ca quần đảo (1969), Rong rêu (1972), Thơ vô tận vui
(1987), Mùa màng tháng tư (1987), Thơ Bùi Giáng (Montreal, 1994), Thơ Bùi
Giáng (California, 1994), Chớp Biển (1996), Đêm Ngắm Trăng(1997), Như Sương (1998) Và sau này là những tập di cảo của ông: Tuyết băng vô tận xứ
(Di cảo III) (2005), Thơ vịnh họa (Di cảo V)(2007), Rớt hột phiêu bồng (Di cảo thơ VI) (2008), Trúc mai, từ vô tận chúng em (Di cảo VIII)(2009), Ký ức (Di cảo IX)(2010), Bèo mây bờ bến (Di cảo X)(2011)
Hành trình sáng tạo của mỗi nghệ sĩ luôn gắn liền với hoàn cảnh và số phận của mỗi người Nó bao gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau và chính là số phận của người nghệ sĩ Không bị chi phối bởi chính trị, Bùi Giáng đã sống và sáng tác trong thế giới của riêng ông, khóc cười với cuộc đời, với mọi biến động của tha nhân Ở Bùi Giáng, quan niệm sáng tạo và hành trình sáng tạo luôn tác động, hỗ tương và làm thành thi pháp cá nhân của thi sĩ, có ổn định, lặp lại nhưng cũng có biến đổi, cách tân
Bùi Giáng bắt đầu sáng tác vào cuối năm 50 thế kỷ XX Ông đã để lại một khối lượng tác phẩm vô cùng đồ sộ, với rất nhiều thể loại, từ thơ, sách dịch đến phê bình, sáng tác… Suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật kéo dài hơn nửa thế kỷ, ông đã tạo ra một phạm vi ảnh hưởng rất lớn với văn học Việt Nam ở miền Nam trước 1975
Ngay từ năm 1962, Mưa nguồn đã báo hiệu sự xuất hiện của một nguồn
thơ ăm ắp trong trẻo đầy quyến rũ Tập thơ chứa đựng trong đó cả những bài thơ làm từ mười mấy năm trước, phảng phất tư tưởng hiện sinh với cảm hứng thiên nhiên, con người Năm 1963, Bùi Giáng liên tiếp cho ra đời các tập thơ:
Lá Hoa Cồn, Màu Hoa Trên Ngàn, Ngàn Thu Rớt Hột, Sa Mạc Trường Ca…
Từ năm 1962 đến 1969 là “thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường
Trang 3329
giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang…, ngôn ngữ và tư duy của Bùi Giáng bấy giờ hiển lộng tới không bến không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng ông cũng vậy” [43, tr.235 - 236] Ở giai đoạn này, dấu ấn hiện sinh đã hiện lên đậm nét hơn qua chiêm bao, hoài niệm, qua tại thể bơ vơ…
Từ 1970 đến 1998, thơ Bùi Giáng trở nên dân dã, bụi bặm, “giang hồ” hơn, song cũng chất chứa nhiều nỗi niềm người hơn trong những khoảnh khắc
“điên rực rỡ” Nếu ở giai đoạn đầu, cái “điên” chỉ xuất hiện như một điểm nhấn trong thơ ông, nhưng càng về sau, “cái điên” ấy càng trở nên điên đảo, quay quắt hơn nhưng cũng mộng mơ và vô cùng tỉnh táo: “Tôi nói điệu điên rồ/ Ấy là vui vậy”; “Tôi điên hết đứng lại ngồi/ Hết bâng quơ nhảy lại tồi tàn
mơ” (Lối mây Yên Tử lên đỉnh sương mù) và đôi khi pha chút hài hước lẫn tự
hào: “Điên cuồng mà tưởng nên thơ/ Cuồng điên mà tưởng làm thơ như thần”
(Tặng bạn điên), “Anh điên mà dzui - dzẻ thập thành/ Chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu” (Đi về làng xóm) “Điên” trong sự sáng suốt và rành mạch
như vậy, Bùi Giáng đã tạo ra trong thơ mình thứ tinh chất đặc biệt để tạo nên lộc thơ cho đời
Có thể nói, Bùi Giáng đã đi trọn hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình, một hành trình đau thương, bất hạnh nhưng cũng đầy vinh quang, hạnh phúc Đó là một hành trình sáng tạo dài, đa diện, đa chất Để rồi từ đó, nhìn từ góc độ nào, tài năng của Bùi Giáng vẫn cứ hiển hiện
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Bùi Giáng
Bùi Giáng được biết đến như một “ngôi tinh văn kì dị có bóng dáng lồng lộng nhất hậu bán thế kỉ XX” [43, tr.222] Là nhà thơ và là nhà tư tưởng uyên
bác, Bùi Giáng ý thức rất cao về sáng tạo nghệ thuật
Với Bùi Giáng, sáng tạo là hành trình “vượt thoát” tinh thần đồng thời cũng là sự “tận hiến” của người nghệ sĩ Trong quan điểm của Bùi Giáng,
Trang 3430
“Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn được Người ta có thể diễn tả một trận mưa bằng lời thơ, thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào hoặc một cơn gió thu, mà muốn thực hiện điều đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể phải làm một bài thơ khác” [14] Bùi Giáng không định nghĩa thơ bằng lối nói luận lý
mà bằng những chiêm nghiệm thực tế sáng tác, thi sĩ nhận ra thơ là “cõi phiêu bồng”, cũng chính là kết tinh của chiêm bao lãng đãng: “Thơ của tôi chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác Đi vào giữa trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian mang trên hai cánh mỏng bay đi Bay về Tử Trúc Lâm, bay về Sương Hy Lạp, ghé Clavaire viếng thăm một vong hồn bát ngát, rồi quay trở về đồng ruộng làm mục tử chăn trâu Làm mục tử không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng khoai sắn, thì tôi chạy về bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dong phương trượng Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao Trong chiêm bao, thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao” [14, tr.33]
Với Bùi Giáng, thơ là hàm ngôn, nhưng có lúc lại vô ngôn, nhưng là vô ngôn của sự bừng ngộ về tư tưởng nhân sinh: “Cái nói của tư tưởng chỉ đạt tới chỗ bình hoa thanh tịnh thuần thanh và tìm thấy lại tinh thể của mình là chính lúc nó không nói được điều gì, nó phải tồn tại trong vô ngôn, một sự vô năng như thế sẽ nhiếp dẫn tư tưởng tới tiền diện sự thế, sự vật từ như” [44, tr.36] Trong ông, thơ là cõi huyền nhiệm, kỳ bí đến bát ngát, mênh mông của tâm tưởng và tư tưởng mà chỉ có loài thi sĩ mới đạt đến và đem thông điệp cho người đời cùng ngẫm nghĩ
Trang 3531
Cũng như M Heidegger đã triết lý, Bùi Giáng quan niệm thơ là nghệ thuật tinh túy của ngôn từ chảy tràn ra từ những siêu thăng trong tâm hồn,
tiềm thức và vô thức Thơ là lời vượt thoát cốt trở về được với nguồn cội đời
sống tại - thể - người Đây có thể được coi là quan niệm thi ca cốt lõi, một thứ
triết - mỹ rất riêng Không những thế, Bùi Giáng còn khơi mở thể tính mới
cho thi ca Ông cho rằng: “Đi vào cõi thơ Thế nghĩa là? Có một cõi và một
cuộc đi, cuộc đi có nhiều thế thái Có thể theo lối chu du của ông Khổng Tử
Có thể đi theo lối ngồi yên không rục rịch suốt bao diên trường tuế nguyệt dưới một gốc cây bồ đề theo lối Như Lai Cũng có thể đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim trái chín Đi như vậy dù sao thì dù, cũng là trong ý hướng mở cõi
ra chơi Không ai buộc ai phải theo ý của riêng độc đoán của ai Đó là điều kiện cần và đủ, không buộc ai phải đi qua miên bạc bình sinh” [13, tr.482] Và Bùi Giáng đã đưa thơ ca hướng đến cái vô cùng của cuộc sống bằng cách khơi sâu vào những tầng bậc cảm thức trong vô thức, tiềm thức con người Từ đó, tiếng thơ ông đạt đến sự huyền nhiệm, vi diệu nhưng đồng thời còn có sự thanh thoát, phiêu bồng, mê say trong hình tượng thơ
Việc các nhà thơ vừa làm thơ vừa phát biểu những suy niệm của mình về thơ cũng là cách đối thoại với thơ Không phải ngẫu nhiên Paul Valéry tự nhận rằng: “Những câu thơ của tôi đối với tôi chẳng có ích lợi gì trực tiếp, trừ phi gợi ra cho tôi những suy tưởng về nhà thơ” [2] Bởi lẽ, những câu hỏi Thơ
là gì? Nhà thơ là ai? Hành trình sáng tạo thơ như thế nào? mãi mãi là những vấn đề thời sự luôn đặt ra với người làm thơ và những người yêu thơ Bùi Giáng cũng có những quan niệm riêng của mình về nhà thơ Với Bùi Giáng, quan niệm sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ thiết nghĩ vẫn là một vấn đề không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về thực tiễn Theo ông:
“Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ và chết đi giữa ly kỳ gay cấn”
[30] Người làm thơ trước hết là một con người đến với mảnh đất trần gian
Trang 3632
nhiều quyến rũ và gay cấn này để sống trọn, uống trọn những mật ngọt lẫn
đắng cay của cuộc đời và bằng một tinh thần vô ưu, vô cầu:“Tôi lớn lên giữa
linh hồn cỏ mọc” mà cháy hết mình - chết - với thiên chức làm thơ để làm
điều gì tốt đẹp cho đời Với Bùi Giáng, để làm một thi sĩ, con người phải nếm trải mọi thăng, trầm khốc liệt trong cuộc tại thế này Một sự nếm trải như
chính thi sĩ đã từng trải nghiệm: “Tôi sống trong cơn dại cơn điên Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống” [43,
562]
Có thể nói, ở Bùi Giáng, quan niệm về vai trò của nhà thơ có ý nghĩa đầy
đủ, tuyệt đối và cao đẹp Ông nói về thiên chức nhà thơ giản dị như bao bản mệnh tự nhiên đời sống vốn có: thi sĩ là người làm thơ “Con chim thì ta biết
nó bay/ Con cá thì ta biết nó lội/ Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ (Bắt chước
ông Khâu) Nhưng, chính trong sự giản dị của quan niệm đó, ông đã đặt yêu
cầu về sứ mệnh phụng hiến đầy cao cả, toàn vẹn trước cuộc đời đối với con
người mang hai tiếng: thi nhân Với ý nghĩa đó, ông đã nâng vị trí của nhà thơ
lên tầm cao nhất: “Con người sống trên mặt đất này, như một thi sĩ”
(Holderlin)
Không chỉ thế, trong hai tác phẩm lý luận “Thi ca tư tưởng” và “Đi vào
cõi thơ” quan niệm về sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng được thể hiện rất cụ
thể, được nêu lên một cách hệ thống, độc đáo, mới mẻ, hiện đại, có tính đột phá, sáng tạo Các quan điểm văn học, quan niệm về thi ca và thi nhân, về
cách tiếp nhận tác phẩm văn chương và về ngôn ngữ thơ của ông đã tạo ra được những gợi mở đáng chú ý, rất gần gũi với quan niệm của các nhà lý luận
văn học thế giới đương đại
Trong “Lời Cố Quận” và “Lễ Hội Tháng Ba”, Bùi Giáng đã dành để dịch
công trình đồ sộ của Heidegger giảng giải thơ Hölderlin, thi sĩ Đức mà hình ảnh dường như song sinh với Bùi Giáng Ý thức minh nhiên về thi ca và triết
Trang 3733
học của Bùi Giáng thể hiện đậm đặc nhất trong dịch phẩm này Ông đã viết:
“Giữa tiếng ồn ào, những bài thơ giống như một chiếc chuông treo ở ngoài trời và chỉ cần một chút tuyết rơi nhẹ nhẹ chạm vào, đủ khiến chiếc chuông lạc đi âm điệu ( ) Vì thế, thể theo ân tình của tiếng thơ mà lời giảng thơ phải gắng làm sao để tự khiến mình thành thừa thải ( ) Từ đó, bài thơ đứng lên trong cốt cách, thể lệ của riêng nó, lập thời mang lại ánh sáng cho những bài thơ khác” [66] Bùi Giáng cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tiêu ngữ hay đúng hơn là Lời nhiếp dẫn thứ ba trong năm tiêu ngữ của Heidegger: “Từ khi chúng
ta là một hội thoại là một trong những lời sâu thẳm nhất của Hölderlin Bản chất của ngôn ngữ không ở nơi từ vựng và ngữ pháp mà ở trong đối thoại Ngôn ngữ sống trong đối thoại Đối thoại là thể cách để con người hiện hữu là người Và, theo Hölderlin, chỉ có thể đối thoại, nhất là “hội thoại - suy tư”, khi chúng ta biết nghe nhau Nói chỉ trở thành đối thoại, khi nó có thể được nghe Nếu không, chỉ là những tràng âm thanh vô nghĩa” [66] Mở đầu Lời tựa tiếng Pháp cho tập Dialogue (1966) của một số trí thức miền Nam gửi cho các trí thức Tây phương, Bùi Giáng viết: “Một cuộc đối thoại bao giờ cũng phơi mở, dễ trở thành một cuộc độc thoại Mà một cuộc độc thoại lại có thể tràn trề sức sản sinh, nếu là cuộc độc thoại trong - mờ, qua đó xuyên một “ánh đêm” Bản chất của độc thoại là ở chỗ Hiện Tồn tự phân thân: hai vũ trụ soi mình trong một thế giới; một thế giới chia thành hai được ngăn cách bởi một
hố thẳm Và bản chất của hố thẳm là ở chỗ nó có thể vượt qua bằng một cuộc nhảy Và bản chất của cuộc nhảy lại là sự chấp nhận rủi ro Nói khác đi, chấp nhận rủi ro là bản chất của chính cuộc sống vậy Sống, tức là đánh liều Mà đằng nào đã “một liều ba bảy cũng liều”, thì cớ sao không chọn cuộc liều trong - mờ?” [66]
Cuộc đời thi sĩ là cuộc đời tận hiến cho thi ca Bùi Giáng đã minh chứng điều đó bằng chính cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của mình Ngoài tác phẩm để
Trang 3834
lại, cùng với việc làm giàu có đáng kể cho kho tàng tiếng Việt, ông còn tạo cho người đọc yêu thơ một ấn tượng vô cùng mạnh mẽ, rằng ông là một thi sĩ luôn bị lay động và bị cấu xé bởi ánh sáng và lửa tịch mịch, điêu linh về lẽ sinh tử không cùng, dấn mình một cách hiên ngang và khốc liệt vào cõi thơ
ca Ông tận hiến hết cả đời mình cho cái duy nhất là thơ ca ngay từ buổi sơ ngộ ban đầu đến những phút giây cuối cùng trước khi “ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại” Ông tận hiến và không đòi hỏi một sự bù đắp nào của thế gian Điều đó làm nên một tượng đài kỳ vĩ mang tên Bùi Giáng
Với quan niệm sáng tạo độc đáo của mình, Bùi Giáng đã đi trọn hành trình đau thương và hạnh phúc để phụng hiến cho đời, "dìu ba đào" về những chân trời khát vọng thi ca - không phải chỉ cho mình mà còn cho tha nhân cõi thế Nói như Văn hào Mỹ Henry Miller: “Từ chút ít sách vở tôi đã đọc, tôi nghiệm ra rằng, những người lặn lội sâu nhất trong cuộc đời, những người nhồi nặn cuộc đời, những người chính là cuộc đời đều ăn ít, ngủ ít, sở hữu ít hay không có gì cả Họ không có bất kỳ một ảo tưởng nào về bổn phận, hoặc nối dõi tông đường hay duy trì quốc gia Họ chỉ quan tâm tới chân lý và chân
lý mà thôi Họ chỉ chấp nhận một hình thức hoạt động là sáng tạo Không một người nào có thể chỉ huy công việc họ, bởi vì họ tự nguyện cho tất cả Họ cho không, bởi vì đó là cách duy nhất để cho” [dt 63] Bùi Giáng quả là một thi nhân đã tận hiến cho cuộc sống bằng tất cả tinh thần chân thiết nhất, bằng con đường nghệ thuật thi ca
Trang 3935
CHƯƠNG 2 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG THƠ BÙI GIÁNG
NHÌN TỪ CÁI TÔI TRỮ TÌNH
2.1 CÁI TÔI HOÀI NIỆM CHIÊM BAO
2.1.1 Đi tìm “hồn nguyên tiêu và màu hoa trên ngàn”
Bùi Giáng là nhà thơ sống cùng nhịp với các trào lưu tư tưởng lớn của thế giới đương đại, tiếp thu một cách trực tiếp và đồng thời các tư tưởng triết
lý có nguồn gốc từ các nền văn hóa lớn bên ngoài, khi nó còn đang sống động
và phát triển Vì thế, thơ Bùi Giáng là một thế giới đa sắc màu, mang tư tưởng hiện đại pha hợp nhiều nguồn, trong đó đậm nét hơn cả là tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh Thơ Bùi Giáng là những cảm nghiệm sâu sắc về cuộc sống,
về con người
Nếu tư tưởng tiên tiến của Nguyễn Du là ý thức cá nhân tập đoàn gắn với văn hóa đô thị phương Đông trung đại, Tản Đà là ý thức cá nhân cá thể gắn với đô thị hiện đại phương Tây thế kỷ XVIII, thì Bùi Giáng là ý thức cá nhân toàn vẹn gắn với những trào lưu tư tưởng và triết học hiện đại thế giới của thế
kỷ XX
Trong suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi của mình, Bùi Giáng dường như đã tiệm cận các nhà lý thuyết hiện sinh chủ nghĩa ở cái lõi nhân bản - trung tâm hứng thú trong triết học của họ: “Con người là một thực thể hiện sinh, nó tự biết mình là ai, đang ở đâu, cần và sẽ phải làm gì” [dt 38]
Tự nguyện yêu trần gian hết mực, Bùi Giáng đã chọn cách sống trải lòng giao hòa với thiên nhiên, cuộc sống mà ông cho là nó có liên quan với khởi nguyên, cõi tĩnh mật ban đầu Nó là cõi vô biên nhưng gần gũi với con người,
nó là ngôi nhà tâm hồn vĩnh cửu Bởi khi con người bất lực và buồn chán thì thiên nhiên là nguồn an ủi Ông dùng thơ để ghi lại cuộc đời mình, cùng
Trang 4036
chuồn chuồn, châu chấu lên "đồi sim trái chín" để reo vui Vùng đất Trung Phước khô cằn, “miền quê hẻo lánh, xung quanh có ruộng đồng sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt cả tuổi thơ” bỗng chốc hiện ra trong thơ ông thấm đẫm những cảm xúc nguyên sơ trinh bạch:
Anh lùa bò vào đồi sim trái chín Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa Anh thấy lòng mở rộng đón trời xa Chìm ngây ngất vào trong đôi mắt lá Anh lim dim cho chết lịm hồn mình
(Anh lùa bò vào đồi sim trái chín)
Thiên nhiên với con người vì thế luôn có sự giao hòa kỳ diệu giữa hiện tại, quá khứ và tương lai Đây có thể coi là một cái nhìn hiện sinh mới mẻ trong thơ Bùi Giáng
thương của người vợ trẻ, tâm hồn Bùi Giáng không tránh khỏi những chấn thương tinh thần nên Bùi Giáng luôn có cảm giác tha hương, lưu đày trên chính quê nhà Tâm trạng này của thi nhân tương hợp với tư tưởng của trào lưu hiện sinh trên thế giới và ở đô thị miền Nam bấy giờ, qua các tác phẩm của J-P.Sartre, A.Camus và các nhà văn hiện sinh khác Thơ Bùi Giáng, vì
thế, hiện rõ nỗi đớn đau điên loạn của cái tôi "ngậm ngùi dấn thân”:
Chúng tôi người ngợm vô thường Lúc mê man lúc chán chường thể thân
(Lời người điên)