1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương thức tu từ trong thơ bùi giáng

177 60 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt từ luận văn này, nhiều vấn đề tranh luận xoay quanh sự nghiệp thơ Bùi Giáng đã nảy sinh như việc sử dụng ngôn ngữ của Bùi Giáng là sự lặp lại chính mình hay tùy tiện hay còn ph

Trang 1

NGUYỄN ĐỨC CHÍNH

PHƯƠNG THỨC TU TỪ TRONG THƠ BÙI GIÁNG

Trang 2

Đầu tiên chúng tôi xin gửi đến quý Giáo sư, Tiến sĩ đã tận tâm giảng dạy lớp cao học khóa 2008 - 2011 lời tri ân chân thành

Chúng tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ khoa ngôn ngữ và văn học, phòng sau đại học, thư viện giúp đỡ thực hiện thủ tục bảo vệ luận văn

Đồng thời xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ từ phía các bạn học viên cao học khóa

2008 - 2011 và cô giáo chủ nhiệm Tiến sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh để người viết hoàn thành luận văn

Chúng tôi cũng nhận được sự động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi từ phía Ban giám hiệu, quý thầy cô đồng nghiệp của trường THPT chuyên Hùng Vương trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

Đặc biệt, chúng tôi xin kính gửi những lời tri ân sâu sắc nhất đến Phó giáo sư tiến

sĩ Lê Khắc Cường Trong thời gian qua, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn hết sức tận tình và chu đáo của thầy

Nhân đây, chúng tôi cũng xin cảm ơn gia đình cố thi sĩ Bùi Giáng, đặc biệt là chú Nguyễn Thanh Hoài - người đã cung cấp những tư liệu quý giá về nhà thơ

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2011 Tác giả

Nguyễn Đức Chính

Trang 3

Dẫn luận 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn của đề tài 8

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

3.2 Giới hạn của đề tài 8

4 Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu 9

4.1 Phương pháp nghiên cứu 9

4.2 Ngữ liệu nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Kết cấu của luận văn 10

Nội dung 12

Chương 1 12

NGÔN NGỮ THƠ VÀ VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG THỨC TU TỪ TRONG NGÔN NGỮ THƠ 12

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 12

1.1.1 Khái niệm 12

1.1.2 Chức năng 13

1.1.3 Đặc trưng 14

1.2 Ngôn ngữ thơ 15

1.2.1 Khái niệm thơ 15

1.2.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ 18

1.2.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 18

1.2.3.1 Tính hàm súc 19

1.2.3.2 Tính tương xứng 21

Trang 4

1.3.2 Phân loại 33

1.3.3 Vai trò của phương thức tu từ trong ngôn ngữ thơ 35

1.3.3.1 Phương thức tu từ làm nên các đặc trưng của ngôn ngữ thơ 36

1.3.3.2 Phương thức tu từ là chìa khóa giải mã ngôn ngữ thơ 37

1.3.3.3 Phương thức tu từ trở thành thước đo giá trị ngôn ngữ thơ 40

1.4 Tiểu kết 41

Chương 2 42

PHƯƠNG TIỆN TU TỪ TRONG THƠ BÙI GIÁNG 42

2.1 Phương tiện tu từ từ vựng trong thơ Bùi Giáng 42

2.1.1 Từ Hán Việt 42

2.1.1.1 Khái niệm 42

2.1.1.2 Tác dụng của từ Hán Việt trong thơ Bùi Giáng 43

2.1.2 Từ vựng khẩu ngữ 46

2.1.2.1 Khái niệm 46

2.1.2.2 Các lớp từ vựng khẩu ngữ trong thơ Bùi Giáng 47

2.1.2.3 Tác dụng của các lớp từ vựng khẩu ngữ trong thơ Bùi Giáng 50

2.1.3 Từ láy 56

2.1.3.1 Khái niệm 56

2.1.3.2 Các kiểu cấu tạo từ láy trong thơ Bùi Giáng 57

2.1.3.3 Tác dụng của từ láy trong thơ Bùi Giáng 60

2.2 Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa trong thơ Bùi Giáng 70

2.2.1 Dẫn ngữ 70

2.2.1.1 Khái niệm 70

2.2.1.2 Các hình thức dẫn ngữ trong thơ Bùi Giáng 71

Trang 5

2.2.2.2 Các kiểu tập Kiều trong thơ Bùi Giáng 81

2.2.2.3 Tác dụng của tập Kiều trong thơ Bùi Giáng 87

2.3 Phương tiện tu từ cú pháp trong thơ Bùi Giáng 92

2.3.1 Im lặng 92

2.3.1.1 Khái niệm 92

2.3.1.2 Các kiểu im lặng trong thơ Bùi Giáng 93

2.3.1.3 Tác dụng của im lặng trong thơ Bùi Giáng 94

2.3.2 Điệp ngữ 96

2.3.2.1 Khái niệm 96

2.3.2.2 Các kiểu điệp ngữ trong thơ Bùi Giáng 97

2.3.2.3 Tác dụng của điệp ngữ trong thơ Bùi Giáng 100

2.4 Tiểu kết 107

Chương 3 109

BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG THƠ BÙI GIÁNG 109

3.1 Các biện pháp tu từ ngữ âm - văn tự trong thơ Bùi Giáng 109

3.1.1 Điệp phụ âm đầu 109

3.1.1.1 Khái niệm 109

3.1.1.2 Các kiểu điệp phụ âm đầu trong thơ Bùi Giáng 110

3.1.1.3 Tác dụng điệp phụ âm đầu trong thơ Bùi Giáng 111

3.1.2 Gạch nối tu từ 115

3.1.2.1 Khái niệm 115

3.1.2.2 Tác dụng của gạch nối tu từ trong thơ Bùi Giáng 115

3.2 Biện pháp tu từ từ vựng trong thơ Bùi Giáng 119

3.2.1 Khái niệm tương phản 120

Trang 6

3.3.1 So sánh tu từ 124

3.3.1.1 Khái niệm 124

3.3.1.2 Các kiểu so sánh tu từ trong thơ Bùi Giáng 125

3.3.1.3 Tác dụng của so sánh tu từ trong thơ Bùi Giáng 126

3.3.2 Phản ngữ 136

3.3.2.1 Khái niệm 136

3.3.2.2 Các kiểu phản ngữ trong thơ Bùi Giáng 136

3.3.2.3 Tác dụng của phản ngữ trong thơ Bùi Giáng 139

3.3.3 Nói lái 143

3.3.3.1 Khái niệm 143

3.3.3.2 Tác dụng của nói lái trong thơ Bùi Giáng 144

3.4 Các biện pháp tu từ cú pháp trong thơ Bùi Giáng 144

3.4.1 Sóng đôi 145

3.4.1.1 Khái niệm 145

3.4.1.2 Các kiểu sóng đôi trong thơ Bùi Giáng 146

3.4.1.3 Tác dụng của sóng đôi trong thơ Bùi Giáng 147

3.4.2 Câu hỏi tu từ 152

3.4.2.1 Khái niệm 152

3.4.2.2 Tác dụng của câu hỏi tu từ trong thơ Bùi Giáng 153

3.5 Tiểu kết 157

Kết luận 159

Nguồn ngữ liệu 163

Tài liệu tham khảo 164

Trang 7

1 CHTT: Câu hỏi tu từ

2 KƯ: Ký ức

3 LHC: Lá hoa cồn

4 MHTN: Màu hoa trên ngàn

5 MHCM: Mười hai con mắt

15 TVTV: Thơ vô tận vui

16 YTC: Yếu tố chuẩn

17 YTCSSS: Yếu tố cơ sở so sánh

18 YTĐ/BSS: Yếu tố được/bị so sánh

19 YTQH: Yếu tố quan hệ

Trang 8

PHẦN DẪN LUẬN

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Để đạt hiệu quả giao tiếp cao, nói và viết đúng vẫn chưa đủ mà phải tiến tới

trình độ nói và viết hay Nhu cầu này đòi hỏi người sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện chủ yếu cần ý thức rằng bên cạnh những phương thức sử dụng ngôn ngữ thông thường còn có những phương thức tu từ đặc biệt Chúng góp phần quan trọng giúp giao tiếp đạt được mục đích với lối diễn đạt tốt nhất và là minh chứng khẳng định khả năng

kì diệu của ngôn ngữ khi thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người Vì vậy, phương thức tu từ đã xuất hiện trong hầu hết các phong cách chức năng, nhất là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.2 Bàn đến văn học không thể không nhắc tới vai trò của ngôn ngữ - chất liệu đầu

tiên, cơ bản cấu thành tác phẩm Đó là ngôn ngữ vừa có chức năng thông tin vừa giàu chức năng thẩm mĩ, do nhà văn lựa chọn, tổ chức và tinh luyện ngay từ ngôn ngữ đời thường Tham gia vào quá trình lao động công phu ấy, các phương thức tu từ được xem như công cụ hữu hiệu, không chỉ tạo ra vẻ đẹp hình thức mà còn chuyên chở một cách nghệ thuật những nội dung, ý nghĩa của tác phẩm Chúng trở thành yếu tố không thể thiếu làm nên sự tài hoa cũng như đặc điểm phong cách tác giả văn chương Và hơn bất

kì thể loại văn học nào khác, thơ luôn cho phép vận dụng mọi phương thức tu từ Nhà thơ khai thác tối đa giá trị của chúng để thơ có thể chuyển tải thế giới vô hạn của cuộc sống trong một dung lượng hữu hạn về ngôn ngữ Cho nên, từ trước đến nay các phương thức tu từ luôn là chiếc chìa khóa mở cánh cửa đi vào sáng tạo và cảm thụ ngôn ngữ thơ nói riêng, ngôn ngữ nghệ thuật nói chung

1.3 Bùi Giáng (1926 - 1998) xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như hiện tượng “kì

lạ” bậc nhất vào nửa cuối thế kỉ XX Bằng bút lực phi phàm “viết thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả” (Mai Thảo), thi sĩ tạo cho riêng mình một cõi thơ đầy u huyền, bí

ẩn Ở đấy, khả năng sử dụng ngôn ngữ quá đặc biệt đến mức độ “kì quái” vừa cho thấy

Trang 9

sự độc đáo, đặc sắc vừa gây ra không ít phức tạp, khó lí giải Do đó, người yêu thơ Bùi Giáng tuy rất nhiều nhưng không ai dám thừa nhận mình hiểu Bùi Giáng, giải mã được ngôn ngữ thơ Bùi Giáng Bùi Công Thuần còn nhận định:

Ngôn ngữ thơ Bùi Giáng là ngôn ngữ thơ tư tưởng nên đó là loại ngôn ngữ

“khép kín” cao độ Thơ tư tưởng phải hiểu bằng tư tưởng, không phải bằng câu chữ Hơn nữa nhiều bài thơ Bùi Giáng đã dùng diễn đạt “vô ngôn” của Thiền Tức là “Bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm” Người đọc có thể cảm được cái hay của đoạn thơ nhưng khó giải thích được bản chất thẩm mĩ của đoạn thơ là gì [36, tr.304]

Theo chúng tôi, không thể hiểu trọn vẹn thơ Bùi Giáng, đánh giá đúng đắn sự tài hoa của tác giả khi chưa đi sâu khai thác thế giới ngôn ngữ, các phương thức tu từ mà ông sử dụng Bởi lẽ nếu không có ngôn ngữ thì không thể có thơ Và ẩn sau những qui luật, nguyên tắc thống nhất do các phương thức tu từ mang lại sẽ là những đáp án cho cõi thơ còn nhiều câu hỏi ấy Tiếc rằng cho tới nay hiếm thấy một nghiên cứu thật sự hoàn chỉnh nào tìm hiểu thơ ông dưới góc nhìn và phương pháp của ngôn ngữ học

1.4 Vận dụng phương thức tu từ để tạo lập văn bản và phân tích văn bản là đòi hỏi

thường xuyên đối với học sinh trung học Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy việc giảng dạy các phương thức tu từ ở nhà trường phổ thông vẫn chưa được quan tâm đúng mức

và học sinh hiện nay khi nói năng hay viết văn ngày càng ít sử dụng các công cụ ngôn ngữ đặc sắc này Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu vắng lời nói hay, bài viết tốt mà thay vào đó là vô số cách diễn đạt lủng củng, vô hồn

Đề tài “Phương thức tu từ trong thơ Bùi Giáng” phản ánh nỗ lực của người viết

khi mạnh dạn bước trên con đường ngôn ngữ vốn còn bị bỏ ngỏ để tìm hiểu thơ Bùi Giáng Vấn đề quả thật không dễ dàng nhưng hi vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ mang đến những minh chứng khoa học về ngôn ngữ làm sáng tỏ tài hoa của một nghệ sĩ lớn, góp phần vào việc xác định đặc điểm phong cách thơ Bùi Giáng sau này Qua đây, chúng tôi mong muốn nhấn mạnh một lần nữa vai trò các phương thức tu từ trong ngôn

Trang 10

ngữ nghệ thuật cũng như lời nói hằng ngày, cố gắng góp thêm lời kêu gọi giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Trước và sau khi Bùi Giáng tạ thế, bạn bè thân thiết, giới mộ điệu thi ca đã

dành cho ông biết bao giấy mực Gõ một từ khóa “Bùi Giáng” lên trang tra cứu Google.com.vn, chúng ta có khoảng 552.000 kết quả Nhưng đấy chỉ là những bài viết

cá nhân in rải rác trên báo viết lẫn báo mạng, trong nước và ngoài nước

Từ năm 1973 đến nay, có 03 số báo chuyên đề về Bùi Giáng Đó là Tạp chí Văn, số đặc biệt, tháng 5, năm 1973 của Nguyễn Đình Vượng; Tạp chí thời Văn, số 19, tháng 5, năm 1997 của Nxb Đồng Nai; Đặc san Hợp Lưu, số 44, tháng 1, năm 1999 của nhiều

tác giả Các tập san trên tuy ra đời vào những thời điểm khác nhau nhưng đều tập hợp những bài báo viết về cuộc đời và sự nghiệp văn chương, đặc biệt là thơ Bùi Giáng

Ở đấy, các ý kiến phần lớn tập trung đánh giá khái quát về nội dung cũng như ngôn ngữ thơ ca của tác giả Ông được gọi là “thi sĩ kỳ dị” (Hoàng Ngọc Chiến), “kẻ hí lộng ngôn từ” (Hoàng Nghiêm Nhuận), “tề thiên ngôn ngữ” (Cung Tích Biền) Với thi sĩ

họ Bùi, làm thơ như chơi một trò chơi mà ngôn từ là những quả bóng trong tay để tung hứng, nô đùa Đúng như Vũ Đức Sao Biển trong “Bùi Giáng – Cuộc đùa vui ngôn ngữ” từng nhận xét “Không chỉ rong chơi nô đùa giữa đời mà ngay trong chính thơ ca của

mình, Bùi Giáng đã làm một cuộc rong chơi, nô đùa cùng ngôn ngữ” [16, tr.115] Cung Tích Biền cụ thể hơn khi khẳng định rằng “Đầu tiên Bùi Giáng chơi ngôn ngữ

thiên tài Ông xài chữ một cách hào phóng, phung phí Ông tự thân thoát khỏi ý nghĩa ngôn từ, ngữ cảnh nhào lộn, đu bay, không gốc rễ, như cảnh ráp nối người giữa không

trung cuộc nhảy dù biểu diễn” [17, tr.62]

Bên cạnh đó, nhiều tác giả cố gắng đi vào từng khía cạnh sử dụng ngôn từ của Bùi Giáng và bước đầu bàn về một số phương thức tu từ như nói lái, ẩn dụ, từ Hán – Việt

Cung Tích Biền tiên phong với nhận định: “Ông dùng Hán Nôm đến mức tuyệt hảo và

đảo lộn nói lái, trá hình, ngẩu hứng, ẩn dụ rất mực tài tình Đôi khi chữ dùng của ông

Trang 11

tuồng vô nghĩa nhưng là một mật ngữ, mật mã” [17, tr.62] Khiêm Lê Trung phát hiện

ngôn ngữ thơ Bùi Giáng đa nghĩa, nhiều loại đặc trưng mà từ Hán – Việt là một ví dụ

“Cảm xúc thơ ca của ông được biểu hiện bằng một ngôn ngữ đa tạp, nhiều từ Hán –

Việt với những ẩn ngữ mà hàm nghĩa có sức khái quát rộng lớn, trong một phong cách

ngữ nghĩa không đồng nhất: khi nghiêm túc, khi bỡn cợt” [17, tr.127] Hoàng Ngọc

Chiến chú tâm vào lối nói trào lộng, nói lái Tác giả chỉ ra sự độc đáo trong kết hợp ngôn từ khi Bùi Giáng nói lái với ví dụ cụ thể

Ông đưa vào ngôn ngữ của mình cái lối trào lộng của người dân xứ Quảng Nam, đặc biệt cách nói lái tinh quái của quê hương ông Người đọc thường gặp trong sách ông các từ như: tồn lưu, lưu tồn, tồn liên, liên tồn, tồn lí tí ngọ, tồn lập tập trung, tồn lập tập họp…Trong các cụm từ nói lái đó, ngay chỗ oái oăm nhất ông ưa đặt một chữ hợp nghĩa nhất (ngọ, trung, họp) Ông cũng ưa đùa rỡn như thế trong thơ mình [17, tr.135]

2.2 Về sách, hiện nay chỉ có 05 quyển về Bùi Giáng được xuất bản Đó là Tưởng

nhớ thi sĩ Bùi Giáng (1999) của nhiều tác giả, Bùi Giáng – Thi sĩ kì dị (2005) của Trần

Đình Thu, Bùi Giáng trong tôi (2005) của Hồ Công Khanh, Bùi Giáng trong cõi người

ta (2008) do Đoàn Tứ Huyến chủ biên và Bùi Giáng qua 99 Giai thoại (2009) do

Huyền Ly sưu tầm và biên soạn Trong đó, chúng tôi chú ý đến quyển Bùi Giáng trong

cõi người ta hơn cả Mặc dù, cũng chỉ dừng lại ở việc sưu tầm các bài viết có chọn lọc

trên nhiều nguồn khác nhau nhưng đây là công trình khá công phu với dung lượng lên đến 571 trang, trong đó phần chính gồm 400 trang với bài viết của gần 30 tác giả Người sưu tầm còn tuyển chọn một số bài viết giá trị trong nước và ngoài nước mà trước đây chưa được công bố Nỗ lực này đã góp phần quan trọng mang đến cái nhìn phong phú, toàn diện hơn về thi sĩ

Bùi Văn Sơn Nam, một nhà nghiên cứu văn hóa, một người thân thích trong gia tộc

họ Bùi đã gọi Bùi Giáng là sao Văn Khúc, thi quỉ, thi tiên, tiếp dẫn đạo sư trong ngôn

Trang 12

ngữ thơ Việt Nam Ông cho rằng ngôn ngữ thơ Bùi Giáng là ngôn ngữ đa nghĩa, đa tầng, đa chức năng

Nguồn thơ ấy u huyền, bí nhiệm như một mê cung chỉ tự giải mã với người đồng điệu Nó sâu xa, hùng hậu mà hồn nhiên, trong sạch và ngộ nghĩnh như những bài kệ khẩu chiếm của các thiền sư Nó cưỡng bức ngôn ngữ một cái

dữ dội, không thương tiếc để giúp cho ngôn ngữ tự bộc lộ năng lực sinh hóa không cùng, từ đó khơi mở ra một chân trời với thi ca nhân loại: một hồn thơ rất cổ kính đồng thời lại mang tâm thức hiện đại, đúng hơn, hậu hiện đại (post - moderne), nơi đó mọi ý, mọi lời đều đa tầng, đa nghĩa, đa chức năng, nhằm bộc lộ cho được một cái gì rất sơ nguyên, đơn giản, song đã trải qua biến dịch nên phong phú, điệp trùng [36, tr.168]

Bùi Công Thuần tiếp tục bàn về từ Hán – Việt như một kiểu ngôn ngữ đặc thù trong thơ Bùi Giáng với những nhận xét khá cụ thể: “Bùi Giáng có phong cách ngôn ngữ riêng, người ta có thể nói đến kiểu ngôn ngữ Bùi Giáng Ông sử dụng nhiều từ Hán Việt bên cạnh thuần Việt, đó là vốn từ Hán Việt của nhà Phật và của văn chương cổ điển, đồng thời tạo nên những từ lạ so với từ ngữ quen dùng” [36, tr.314] Tiếp theo, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận thấy việc sử dụng khéo léo hai kiểu từ vựng cơ bản trong thơ Bùi Giáng là bác học (từ Hán – Việt) và bình dân (khẩu ngữ)

Thơ Bùi Giáng có hai loại từ vựng: một tạm gọi là bác học và một loại tạm gọi là bình dân Bác học thì như thục nữ, thuyền quyên, cảo thơm, thượng thừa, miên trường, đoạn trường, băng tuyết… nghĩa là Hán – Việt lâu lắm không còn được sử dụng nữa Còn bình dân thì như đại ca, Huê Kỵ, liên tồn, lai rai, nhậu nhẹt, máu me, số dzách… nghĩa là những khẩu ngữ còn lắm bụi bặm ngoài đường ngoài phố Cả hai loại đều dễ khiến giới làm thơ chùn tay Dừng lại trên thì dễ có nguy cơ trở thành sáo, cổ Dừng lại dưới thì dễ có nguy cơ trở thành nhả nhớt, rẻ tiền Bùi Giáng hoàn toàn thoát khỏi hai nguy

Trang 13

cơ ấy Hơn nữa, ông còn trộn cả hai loại ngôn ngữ ấy lại với nhau một cách tài tình [36, tr.421]

Nhìn chung, tuy vẫn còn ít ỏi nhưng các ý kiến đáng quý trên đã phần nào cho thấy đặc điểm ngôn ngữ thơ khá độc đáo mà thi sĩ sử dụng Đó là những gợi mở, tạo nguồn cảm hứng, bước đầu đi vào thế giới nghệ thuật ngôn từ hấp dẫn của thơ Bùi Giáng

2.3 Các công trình nghiên cứu khoa học chọn đề tài về thơ Bùi Giáng cũng không

nhiều Chúng tôi tìm thấy 06 chuyên luận: 01 khóa luận cử nhân và 05 luận văn thạc sĩ Trong đó có 04 chuyên luận văn học, 01 chuyên luận lí luận văn học và 01 chuyên luận

ngôn ngữ học: “Bùi Giáng, một cuộc đời, một cõi thơ” của Đinh Vũ Thùy Trang (2000) tại Đại học Huế; “Đặc điểm nghệ thuật ngôn từ thơ Bùi Giáng” của Nguyễn Văn Quốc (2004) tại Đại học Văn Hiến; “Thơ Bùi Giáng” của Trương Thị Mỹ Phượng (2007) tại Đại học khoa học xã hội và nhân văn Tp.Hồ Chí Minh; “Hiện tượng thơ Bùi Giáng

trong văn học đô thị miền Nam” của Trần Thị Hòa (2008) tại Đại học Đà Lạt; “Đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi Giáng” của Lê Thị Minh Kim (2009) tại Đại học Sư phạm

Tp.Hồ Chí Minh; “Thơ Bùi Giáng dưới lăng kính phê bình cổ mẩu” của Trần Nữ

Phượng Nhi (2011) tại Đại học khoa học xã hội và nhân văn Tp.Hồ Chí Minh

Hai luận văn của Đinh Vũ Thùy Trang và Trần Nữ Phượng Nhi thuần túy được triển khai dưới góc nhìn văn học Các tác giả còn lại tùy theo khuynh hướng nghiên cứu khác nhau mà ít nhiều dành sự quan tâm đến đặc điểm ngôn ngữ thơ Bùi Giáng

Năm 2004, Nguyễn Văn Quốc tại Đại học Văn Hiến mạnh dạn chọn đề tài “Đặc

điểm nghệ thuật ngôn từ trong thơ Bùi Giáng” Đây là chuyên luận duy nhất nghiên

cứu thơ Bùi Giáng bằng phương pháp phân tích ngôn ngữ học Ngoài chương 1 là phần

dẫn nhập, tác giả tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong thơ Bùi Giáng xét về mặt

từ vựng ở chương 2 và xét về mặt văn bản ở chương 3 Chương 2 khảo sát đặc điểm dùng từ (từ đơn, từ láy, từ ghép), các loại cụm từ (cụm danh từ, cụm tính từ, cụm động từ); thành ngữ, tục ngữ; ảnh hưởng truyện Kiều Nỗ lực đáng ghi nhận của tác giả là

chỉ ra những nét riêng biệt của Bùi Giáng trong việc vận dụng từng loại từ vựng Ở

Trang 14

đây, chúng tôi chú ý đến phần tìm hiểu về lối chơi chữ (nói lái, từ láy, điệp âm…) và

hình thức khẩu ngữ Tiếc rằng do hạn chế về phương pháp nghiên cứu và còn nằm

trong giới hạn của một khóa luận nên việc phân tích, lí giải chưa được sâu sắc

Trong luận văn “Thơ Bùi Giáng”, Trương Thị Mỹ Phượng dành trọn chương 3 để nghiên cứu hình thức và phương tiện ngôn ngữ mà nhà thơ sử dụng Với tên gọi “Tìm

hiểu các phương tiện biểu đạt độc đáo trong cõi thơ Bùi Giáng”, chương này gồm hai

mục chính: nhận diện các thể loại thơ và ngôn ngữ thơ từ ngàn thu rớt hột Trên phương diện ngôn ngữ học, sự đóng góp của luận văn nằm ở mục 2 Các hình thức

ngôn ngữ truyện Kiều, hình thức ngôn ngữ của ca dao, hình thức khẩu ngữ, hình thức

sử dụng từ láy… được triển khai cụ thể, hệ thống và khá đặc sắc Tuy nhiên do chưa

tiếp cận vấn đề bằng phương pháp ngôn ngữ học nên kết quả chỉ dừng lại ở việc nhận diện hình thức bên ngoài mà chưa giải mã được bản chất bên trong của ngôn từ

Đứng trên góc nhìn thơ Bùi Giáng như một “hiện tượng”, Trần Thị Hòa cũng đã

khai thác hình thức nghệ thuật ở chương 3 của luận văn “Hiện tượng thơ Bùi Giáng

trong văn học đô thị miền Nam” Người viết trình bày các nội dung: Ngôn ngữ đa dạng, linh hoạt; Ngôn ngữ thơ riêng, mới, lạ; Lặp lại chính mình, sự tùy tiện trong sử dụng ngôn ngữ Đặc biệt từ luận văn này, nhiều vấn đề tranh luận xoay quanh sự

nghiệp thơ Bùi Giáng đã nảy sinh như việc sử dụng ngôn ngữ của Bùi Giáng là sự lặp lại chính mình hay tùy tiện hay còn phản ánh một sự thống nhất về biểu tượng nào đó trong ý thức thi nhân Rõ ràng không thể tìm được câu trả lời xác đáng nếu không có sự soi sáng của các phương pháp nghiên cứu khác như ngôn ngữ học

Sang năm 2009, tuy thuộc chuyên ngành lí luận văn học nhưng luận văn “Đặc điểm

nghệ thuật thơ Bùi Giáng” của Lê Thị Minh Kim tại Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh

vẫn tiếp tục góp phần làm sáng tỏ thế giới ngôn từ đầy bí ẩn này Chương 3 “Đặc điểm

thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu thơ Bùi Giáng” là thành công của người viết, nhất là

phần Ngôn ngữ thơ Bùi Giáng Trong phần này, tác giả đã phân chia và khảo sát các lớp ngôn từ nổi bật trong thơ Bùi Giáng gồm lớp thế tục, ngôn từ triết học, ngôn từ tôn

Trang 15

giáo, hình thức ngôn ngữ truyện Kiều, đồng thời là các biện pháp nghệ thuật nổi bật:

ẩn dụ, tượng trưng hóa, tạo “tân điển tích”, lạ hóa ngôn từ Trong cách thức tiến hành,

tác giả có chú ý tới sự lặp lại ngôn ngữ và biện pháp nghệ thuật tượng trương hóa

So với các bài báo nêu trên, việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Bùi Giáng trong các chuyên luận vừa trình bày đã có hướng đi rõ rệt, mang tính hệ thống và khoa học hơn Kết quả mang đến nhiều lợi ích, khơi mở một số đặc điểm quan trọng của thế giới ngôn

từ đầy bí ẩn trong thơ Bùi Giáng Tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về các phương thức tu từ mà nhà thơ sử dụng Như vậy, chúng tôi

khẳng định rằng đề tài “Phương thức tu từ trong thơ Bùi Giáng” là hoàn toàn mới mẻ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn của đề tài

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi xác định những nhiệm vụ như sau:

- Hệ thống lại các vấn đề lí thuyết liên quan đến ngôn ngữ thơ và phương thức tu từ như khái niệm, phân loại, đặc trưng… Trong đó, cố gắng làm rõ vai trò của phương thức tu từ đối với ngôn ngữ thơ

- Tiến hành khảo sát, thống kê, tìm ra qui luật và nguyên tắc ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng để tiến đến xây dựng một hệ thống phương thức tu từ chủ yếu được vận dụng

- Miêu tả cấu tạo của từng phương thức tu từ, phân tích màu sắc, hiệu quả tu từ của chúng, giúp hiểu rõ hơn nội dung tư tưởng mà ông muốn gửi gắm qua tác phẩm

- Từ đó bước đầu nhìn nhận và đánh giá thế giới ngôn ngữ thơ của tác giả, nhất là những nét độc đáo, riêng biệt “kì quái” làm nên đóng góp của tác giả vào nền thơ ca Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX

3.2 Giới hạn của đề tài

Đứng trước một vấn đề nghiên cứu phức tạp, người viết luôn phải đối mặt với nhiều

khó khăn, thử thách Do đó, mặc dù chúng tôi đã rất cố gắng nhưng luận văn này vẫn

có những giới hạn sau đây

Trang 16

Nhằm tránh sự dàn trải mà không sâu, chúng tôi không tìm hiểu tất cả phương thức

tu từ được nhà thơ sử dụng Dựa vào kết quả khảo sát và tiêu chí định lượng, định tính, những phương tiện và biện pháp tu từ nổi bật nhất sẽ được phân tích

Luận văn nghiên cứu trên nguồn ngữ liệu chủ yếu là thơ trữ tình vì thơ trữ tình mới thật sự tiêu biểu cho sự nghiệp thơ ca của tác giả

4 Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp thống kê

Đây là phương pháp cơ bản, giữ vai trò then chốt khi nghiên cứu một hệ thống các

phương thức tu từ Chúng tôi áp dụng thủ pháp thống kê ngôn ngữ học, tiến hành

nghiên cứu định lượng để định tính: tìm tần số xuất hiện, xác định tỉ lệ phần trăm của từng phương thức tu từ trong nguồn ngữ liệu hiện có

- Phương pháp miêu tả

Phương pháp chính này giúp chúng tôi phát hiện đặc điểm cấu tạo của từng phương thức tu từ Nó chỉ ra những khác biệt, độc đáo mang tính chất riêng của Bùi Giáng

- Phương pháp phân tích tu từ học

Đây là phương pháp trọng tâm Nó giúp chúng tôi xác định được màu sắc, hiệu quả

tu từ của các phương thức tu từ mà tác giả thường sử dụng

4.2 Ngữ liệu nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu chính của chúng tôi là thơ Bùi Giáng Theo nguyên tắc, để đảm bảo tính chính xác và khách quan cần phải khảo sát toàn bộ thi phẩm của ông Tuy nhiên, phần vì nhà thơ sáng tác ở khắp nơi, phần do một số tác phẩm Bùi Giáng bị cấm lưu hành trước đây hay nhiều bản thảo chưa được xuất bản nên cho đến nay vẫn chưa có được con số chính xác bao nhiêu tập thơ Qua tìm kiếm, người viết sưu tầm 12 tập thơ

sau: Mưa nguồn (MN) (1962); Lá hoa cồn (LHC), Màu hoa trên ngàn (MHTN), Ngàn

Trang 17

thu rớt hột (NTRH) (1963); Thơ vô tận vui (TVTV), Rong rêu (RR) (1995); Mười hai con mắt (MHCM) (1996); Mùa màng tháng tư (MMTT) (1997); Như sương (NS)

(1998); Rớt hột phiêu bồng (RHPB) (2008); Trúc mai (TM) (2009); Ký ức (KƯ)

(2010) Mặc dù biết rằng đây chưa phải là toàn bộ sự nghiệp thơ ca của tác giả nhưng với 12 đầu sách, 1610 bài thơ, 1593 trang sách, được sáng tác trải đều trong suốt cuộc đời của tác giả, chúng tôi tin rằng nguồn ngữ liệu trên đủ tin cậy để có cái nhìn khái quát toàn diện về thơ Bùi Giáng

Ngoài ra, chúng tôi còn tìm đến những nguồn tư liệu khác viết về Bùi Giáng và thơ Bùi Giáng như sách, báo, tạp chí, chuyên luận và internet

5 Đóng góp của luận văn

Về lí thuyết, luận văn góp phần xác định rõ vai trò quan trọng của các phương thức

tu từ trong ngôn ngữ thơ dựa trên ngữ liệu thơ Bùi Giáng Từ đó, khẳng định phương thức tu từ là một trong những yếu tố cơ bản làm nên đặc điểm phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn và nhấn mạnh hiệu quả của con đường tìm hiểu ngôn ngữ thơ nói riêng, văn học nói chung bằng cách giải mã các phương thức tu từ

Về thực tiễn, công trình nghiên cứu giúp khám phá ngôn ngữ thơ Bùi Giáng, một trong những thế giới thơ ca độc đáo bậc nhất của thi đàn Việt Nam vào thế kỉ XX Bên cạnh đó, luận văn góp thêm tiếng nói trong việc bảo vệ và giữ gìn sự giàu đẹp và trong sáng của tiếng Việt

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương

Chương 1: “Ngôn ngữ thơ và vai trò của phương thức tu từ trong ngôn ngữ

thơ”

Chương này trình bày khái quát các vấn đề chung về ngôn ngữ thơ và phương thức

tu từ Trong đó, chúng tôi cố gắng xác định rõ vai trò của phương thức tu từ đối với

ngôn ngữ thơ

Trang 18

Chương 2: Phương tiện tu từ trong thơ Bùi Giáng; chương 3: Biện pháp tu từ

trong thơ Bùi Giáng

Nhiệm vụ của chương 2 và chương 3 là thống kê, miêu tả và phân tích được hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện và biện pháp tu từ nổi bật trong thơ Bùi Giáng Ở từng mục, chúng tôi sẽ chỉ ra những điểm khác biệt, mang nét riêng của Bùi Giáng khi vận dụng các phương thức tu từ

Ngoài ra, do phần phụ lục của luận văn khá dày dặn nên chúng tôi trình bày trong một quyển riêng Đây là kết quả làm việc công phu, ghi chép một cách cụ thể và hệ thống dẫn chứng thơ Bùi Giáng có sử dụng các phương thức tu từ trên

Trang 19

CHƯƠNG 1 NGÔN NGỮ THƠ VÀ VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG THỨC TU TỪ TRONG NGÔN NGỮ THƠ

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người Nhưng ngoài giao tiếp thông thường, con người còn tham gia vào hoạt động giao tiếp nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật (NNNT) được sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp đặc biệt ấy

NNNT là “ngôn ngữ chuẩn mực đã được chuẩn hóa, phục vụ cho tất cả các lĩnh vực giao tiếp giữa người với người, và giữ vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển

tư duy, phát triển tâm lí, trí tuệ và toàn bộ các hoạt động tinh thần của con người; còn gọi là ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ tiêu chuẩn” [90, tr.172] Tuy nhiên, khái niệm này có nội hàm quá rộng, chưa phản ánh đúng bản chất của NNNT và dễ làm mờ ranh giới giữa nó với các hình thức tồn tại khác của ngôn ngữ

Theo chúng tôi, một khái niệm chính xác về NNNT cần có những cơ sở ngôn ngữ học Thứ nhất, NNNT là ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương - sản phẩm của hoạt động giao tiếp nghệ thuật ngôn từ Ở đó, nó giữ vai trò chất liệu, công cụ cơ bản sáng tạo văn bản nghệ thuật ngôn từ Đúng như M.Gorki từng khẳng định “ngôn ngữ là yếu

tố thứ nhất của văn học” Thứ hai, NNNT có chức năng thẩm mĩ Để thực hiện chức năng này, NNNT đã chọn ngôn ngữ hằng ngày làm chất liệu Nhưng khi đi vào tác phẩm, chất liệu ấy được tinh chọn, mang tính nghệ thuật và giàu giá trị thẩm mĩ

Với ý nghĩa như vậy, chúng tôi nhận thấy khái niệm NNNT của các tác giả trong sách giáo viên Ngữ văn 10 hiện hành là thỏa đáng hơn cả “Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu được sử dụng trong các tác phẩm văn chương Nó không chỉ có chức năng thông tin mà còn nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người bằng cách tổ

Trang 20

chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ

thuật - thẩm mĩ” [50, tr.91]

Dựa vào loại thể văn học, NNNT được chia làm ba loại: ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ sân khấu Tuy mỗi loại sở hữu đặc trưng riêng nhưng chúng cùng thống nhất với nhau ở những chức năng cơ bản

1.1.2 Chức năng

Xuất phát từ thành quả nghiên cứu chức năng của trường phái ngôn ngữ học Prague

và trường phái xã hội - ngôn ngữ học Xô Viết, các nhà nghiên cứu đều kết luận ngôn ngữ nghệ thuật có ba chức năng: chức năng thông báo, chức năng tác động, chức năng thẩm mĩ Trong đó, nổi bật nhất là chức năng thẩm mĩ

Cù Đình Tú có lí khi cho rằng “khái niệm chức năng thẩm mĩ có thể được cảm nhận qua hai mối quan hệ: quan hệ giữa ngôn ngữ nghệ thuật với hình tượng và quan hệ giữa ngôn ngữ nghệ thuật với độc giả” [83, tr.114] Mối quan hệ thứ nhất cho thấy đặc trưng

cơ bản của chức năng thẩm mĩ là “chức năng nghệ thuật - hình tượng” (1) Ngoài ý nghĩa được xác định qua câu chữ, NNNT còn có ý nghĩa bổ sung, ý nghĩa hàm ẩn bằng hình tượng Vì thế, tác phẩm văn chương đòi hỏi người tiếp nhận phải khám phá, liên tưởng để giải mã các hình tượng nghệ thuật ấy Thông tin mà NNNT truyền đến người đọc không theo con đường trực tiếp mà gián tiếp qua hình tượng Ở mối quan hệ thứ hai, NNNT còn khơi gợi cảm xúc, rung động thẩm mĩ ở người đọc qua cái hay, cái đẹp của âm thanh và hình ảnh Từ đó, họ biến đổi về nhận thức và tình cảm của mình Theo đó, chức năng thẩm mĩ đã bao hàm biểu hiện của chức năng thông báo và chức năng tác động Nói cách khác chức năng thông báo, chức năng tác động ở đây cần được hiểu là chức năng thông báo - thẩm mĩ, chức năng tác động - thẩm mĩ

Ba chức năng trên tồn tại đồng thời trong tác phẩm văn chương Chức năng thẩm

mĩ giữ vai trò quan trọng nhất, chi phối hai chức năng còn lại Để thực hiện chức năng thẩm mĩ, ngôn ngữ nghệ thuật cần có những đặc trưng chung

(1)

Thuật ngữ này được dùng trong sách “Phong cách học tiếng Việt”, Nxb.Giáo dục, tr.137

Trang 21

1.1.3 Đặc trưng

Cù Đình Tú cho rằng NNNT có 3 đặc trưng lớn :

- Ngôn ngữ văn chương có chức năng thẩm mĩ

- Ngôn ngữ văn chương sử dụng toàn bộ phương tiện ngôn ngữ của các phong cách

- Ngôn ngữ văn chương vừa tôn trọng chuẩn mực vừa đi chệch chuẩn mực, mang dấu ấn phong cách tác giả [83, tr.113]

Đinh Trọng Lạc khẳng định ngôn ngữ nghệ thuật có 4 đặc trưng: tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa và tính cụ thể hóa [42, tr.140]

Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Nguyễn Thị Bích Thủy khi nhìn nhận đặc trưng NNNT trong thế đối lập với đặc trưng của ngôn ngữ khoa học (2) theo bảng sau:

ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ KHOA HỌC

ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

- Tính khái quát, trừu tượng

ở ý nghĩa vốn có của từ ngữ trong ngôn ngữ chung mà là nội dung tư tưởng, tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ nảy sinh khi đặt nó vào mối quan hệ với những từ ngữ khác trong văn

(2)

Nguyễn Thị Bích Thủy, “Hiện tượng chuyển nghĩa trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu”, luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG-HCM, 2002

Trang 22

bản nghệ thuật Từ hình tượng ngôn từ, ta có được hình tượng nghệ thuật Tác giả gửi gắm vào đấy tư tưởng, tình cảm thầm kín của mình

Ví dụ:

Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non

(Ca dao)

Khi được đặt vào mối quan hệ với các từ ngữ “lặn lội, gánh gạo, nuôi chồng, khóc

nỉ non”, từ “con cò” không còn mang ý nghĩa chỉ một loài chim trong tự nhiên nữa mà

tượng trưng cho người phụ nữ Việt Nam cơ cực, vất vả, tần tảo trong cuộc sống mưu sinh và gánh vác chuyện gia đình Nó trở thành hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm

mĩ cao trong ca dao người Việt

Để sáng tạo những hình tượng nghệ thuật như vậy, người viết phải dày công lựa chọn từ ngữ, kết cấu câu và đặc biệt vận dụng, phối hợp linh hoạt các phương thức tu

từ như ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng, so sánh

Như vậy, tính hình tượng vừa là phương tiện vừa là mục đích của sự sáng tạo nghệ thuật Nó chứa đựng những yếu tố tạo cảm xúc và phản ánh sự sáng tạo của người viết Nói cách khác, trong tính hình tượng đã thể hiện tính truyền cảm và tính cá thể hóa Tóm lại, NNNT là một hình thức tồn tại đặc biệt của ngôn ngữ, được sử dụng chủ yếu trong tác phẩm văn chương, có chức năng chính là chức năng thẩm mĩ và đặc trưng tiêu biểu là tính hình tượng Trong các loại NNNT đã nêu, ngôn ngữ thơ chứng minh rõ nét nhất các chức năng và đặc trưng cơ bản trên

1.2 Ngôn ngữ thơ

1.2.1 Khái niệm thơ

Từ thời cổ đại, thơ ca đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả kiệt xuất như Aristote, Didero… Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một đáp án đầy đủ, thỏa đáng nhất trước câu hỏi “Thơ là gì?” Đứng trên bình diện ngôn ngữ học, vấn đề lại càng khó khăn hơn

Trang 23

Bản thân từ “thơ” trong các ngôn ngữ vốn hàm chứa nội dung Ý nghĩa đầu tiên của thuật ngữ thơ ca trong tiếng Hy Lạp cổ đại là “sự sáng tạo” Trong tiếng Hán, từ “shi” (thi) có nghĩa là “thơ ca, nghệ thuật ngôn từ” Khảo sát các từ điển ở nước ngoài và Việt Nam, chúng tôi nhận thấy trong nội hàm khái niệm “thơ” yếu tố văn học luôn được nhắc đến đầu tiên, sau đó mới là ngôn ngữ với tư cách chất liệu tạo thành tác phẩm Mức độ triển khai yếu tố thứ hai ở từng khái niệm cũng đậm nhạt khác nhau Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa thơ là “hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc” [61, tr.954] Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên) cũng cho rằng “thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh

và nhất là có nhịp điệu” [25, tr 309] Nguyễn Thái Hòa định nghĩa thuật ngữ “thơ” theo hai nghĩa Thứ nhất, “thơ là một thể loại lớn của Văn học xuất hiện từ rất sớm trước khi

có chữ viết” [32, tr.213] Thứ hai, “thơ có tính thẩm mĩ, tức khả năng gợi ra vẻ đẹp và gợi nguồn cảm hứng về cái đẹp” [32, tr.213] Cách định nghĩa của tác giả chưa cho thấy những đặc trưng cơ bản của thơ Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt đưa ra khái niệm “thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe” Tuy nhiên yếu tố ngôn ngữ được nhấn mạnh để tạo nên thơ chỉ là từ và tổ hợp từ Điều đó thể hiện không toàn diện các phương tiện ngôn ngữ làm nên chất liệu của thơ Từ điển Wikipedia tiếng Anh giải thích “thơ là một hình thức nghệ thuật văn học, trong đó ngôn ngữ được sử dụng làm cho nó mang tính thẩm mĩ và gợi nhiều liên tưởng để tạo nên ý nghĩa” Trang Answers.com hoàn toàn xem thơ là công việc của nhà thơ, tác phẩm thơ, một bộ phận văn học

Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, tùy theo phương pháp tiếp cận đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về thơ Nhà phê bình văn học Nga Biélinski nhấn mạnh

Trang 24

đến vai trò sáng tạo ngôn ngữ của người sáng tác mà định nghĩa “thơ là nghệ thuật, là tài nghệ, là sáng tạo có tính chất nghệ sĩ, nghĩa là thơ rốt cuộc phải được sáng tạo trong ngôn từ” [77, tr.45] Theo nhà thơ Pháp Paul Valéry, “thơ là một ngôn ngữ trong một ngôn ngữ” [77, tr.50] Với ông, thuật ngữ “thơ” đã được soi sáng dưới góc nhìn của ngôn ngữ học khi ông nhấn mạnh đến mã thứ hai đằng sau mã thứ nhất trong tín hiệu ngôn ngữ mà thơ sử dụng Tiếc rằng cách diễn đạt ấy còn quá chung chung Đứng trên quan điểm chức năng, R.Jakobson quan niệm “thơ là chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ” [77, tr.44] Còn Zhirmunski cho rằng “thơ là nghệ thuật của từ, lịch sử thơ ca là lịch sử của nghệ thuật ngôn từ” [77, tr 44]

Ở Việt Nam, Phan Ngọc định nghĩa “thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [57, tr.23] Hữu Đạt khẳng định thơ ca trước hết là văn bản

dù tồn tại ở dạng nào Đó là văn bản đặt trong hoàn cảnh giao tiếp nghệ thuật Văn bản thơ cần đảm bảo hai điều kiện Thứ nhất nó là một thể thống nhất hoàn chỉnh Thứ hai, tính hoàn chỉnh ấy được tạo nên bởi sự liên kết chặt chẽ giữa những chỉnh thể nhỏ hơn theo từng cấp độ ngôn ngữ như chỉnh thể lớn hơn câu (đoạn), chỉnh thể nhỏ hơn câu (ngữ, từ) Từ những luận điểm trên, ông kết luận “thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật” [10, tr.19]

Theo chúng tôi, một định nghĩa thơ theo hướng ngôn ngữ học cần đảm bảo hai yêu cầu Thứ nhất, nó phải mang tính khoa học cao, lột tả hết nội hàm của khái niệm và mang tính khu biệt đối với các khái niệm khác liên quan Thứ hai, khái niệm ấy phản ánh rõ đặc điểm các phương tiện ngôn ngữ và chức năng của chúng trong thơ

Vì thế, chúng tôi quan niệm “thơ là văn bản nghệ thuật ngôn từ có hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt hàm súc, giàu nhạc điệu nhằm phản ánh đời sống tâm tư tình

cảm con người dưới dạng các hình tượng nghệ thuật”

Trang 25

1.2.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ

Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa “ngôn ngữ thơ ca là các phương tiện ngôn ngữ được dùng trong thơ ca, mang đặc trưng riêng, thường có sắc thái biểu cảm, có hình ảnh” [90, tr.171]

Nguyễn Thái Hòa cho rằng “ngôn ngữ thơ là thuật ngữ của phong cách học và nghiên cứu văn học để chỉ ngôn ngữ dùng trong văn bản thơ và rộng hơn là ở các diễn ngôn thơ” [32, tr.151]

Từ đó, chúng tôi thống nhất “ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ dùng trong văn bản thơ, có cách tổ chức ngôn ngữ đặc biệt, thường hàm súc, giàu nhạc điệu để phản ánh đời sống tâm tư tình cảm con người dưới dạng những hình tượng nghệ thuật”

Là một dạng tồn tại của NNNT, ngôn ngữ thơ đảm nhận chức năng thẩm mĩ, thỏa mãn nhu cầu về cái hay, cái đẹp của con người Nhưng đến với thơ, con người không chỉ có mong muốn tái tạo hiện thực khách quan của thế giới vật chất mà còn nhằm thỏa mãn những khát khao tình cảm của thế giới tinh thần Vì thế, ngôn ngữ thơ trở thành ngôn ngữ hướng nội, ngôn ngữ bên trong của nội tâm Nó cần được tổ chức theo cấu trúc riêng, đặc thù để có thể chất chứa những cung bậc cảm xúc sâu kín Chức năng thẩm mĩ độc đáo đó đã làm cho các đơn vị ngôn ngữ trong thơ có những đặc trưng riêng, khác với đơn vị ngôn ngữ thuộc các phong cách chức năng khác

1.2.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ

Trước hết, ngôn ngữ thơ phải mang đặc trưng của NNNT nói chung Tuy nhiên với cách thức vận hành độc đáo, nó còn mang những đặc trưng riêng so với ngôn ngữ trong văn xuôi và kịch Nguyễn Thái Hòa cho rằng “sự láy đi láy lại một bộ phận lời nói (hệ hình nhịp, vần, dòng, khổ thơ) là đặc trưng của ngôn ngữ thơ, không tìm thấy ở các loại hình khác, khiến cho thơ có một diện mạo đặc thù” [32, tr.152] và “nét đặc thù của ngôn ngữ thơ, nói chung chính là cấu trúc ngôn ngữ thơ” [32, tr.153] Hữu Đạt chỉ ra 3 đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ là tính tương xứng, tính nhạc và phong cách tác giả [10] Đỗ Đức Hiểu cho rằng đặc trưng của ngôn ngữ thơ bao gồm: kết cấu trùng điệp,

Trang 26

kiến trúc đầy âm vang, chất nhạc tràn đầy [31, tr.112] Trong khái niệm về ngôn ngữ thơ mà chúng tôi đã nêu, tính chất hàm súc, giàu nhạc điệu và tính hình tượng cũng được nhắc đến Nhìn chung, các quan điểm trên đều thống nhất tính nhạc là đặc trưng

cơ bản Ngoài ra tùy theo từng góc độ, các tác giả đề xuất những đặc trưng khác như tính cấu trúc, tính tương xứng, tính hàm súc, tính hình tượng

Chúng tôi quan niệm rằng việc lựa chọn đặc trưng ngôn ngữ thơ cần đảm bảo ba yêu cầu Thứ nhất, đặc trưng ấy phải thể hiện đúng đặc điểm các phương tiện ngôn ngữ trong văn bản thơ Thứ hai, nó giúp khu biệt ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ thuộc loại hình khác như văn xuôi, kịch Thứ ba, nó mang tính phổ quát cho mọi ngôn ngữ thơ

trên thế giới Với lập luận trên, chúng tôi xác định ngôn ngữ thơ có ba đặc trưng tính

b Biểu hiện của tính hàm súc trong ngôn ngữ thơ

Tính hàm súc trong ngôn ngữ thơ có hai biểu hiện cơ bản: ngắn gọn về hình thức và

đa nghĩa về nội dung

Sự ngắn gọn về hình thức cho thấy sự hạn chế về số lượng từ ngữ trong văn bản thơ So với các loại NNNT khác, ngôn ngữ thơ có hình thức ngắn gọn hơn cả nên nó đảm bảo tốt nhất qui luật tiết kiệm của ngôn ngữ Chính đặc trưng này giúp thơ đáp ứng tâm lí tiếp nhận nhanh chóng và dễ nhớ của độc giả Đến với tác phẩm bằng thị giác, không ai cảm thấy thoải mái khi nhìn một câu thơ, bài thơ quá dài Tương tự tiếp nhận thơ bằng thính giác, sự ngắt nhịp trong câu thơ, khoảng dừng để chuyển sang câu

Trang 27

thơ khác trở thành dấu hiệu cho những khoảng cách thẩm mĩ Ngoài ra, sự hạn định này còn tùy thuộc vào thể loại thơ Chẳng hạn, thơ haiku ở Nhật Bản chỉ có 17 âm tiết Trọng tâm của tính hàm súc biểu hiện ở sự đa nghĩa về nội dung Trong giao tiếp hằng ngày, ngôn ngữ được đơn giản hóa để dễ tiếp nhận Nhưng ở NNNT, đặc biệt thơ, các phương tiện ngôn ngữ được “phức tạp hóa” để người đọc suy nghĩ, tự khám phá nội dung Do đó, tham gia vào cấu trúc thơ từ ngữ thường không còn giữ nguyên nghĩa đen, nghĩa gốc mà mang nghĩa mới, giàu hình ảnh và biểu cảm hơn Đó là ý nghĩa biểu trưng, được nhà thơ tạo ra qua việc khai thác khả năng nội tại của ngôn từ và qua những kết hợp bất ngờ Tynianov gọi sự giàu lên về nội dung của ngôn ngữ trong thơ là

“chuyển dịch ý nghĩa” [77, tr.50] Ông khẳng định “câu thơ – đó là ngôn từ bị biến dạng, đó chính là ngôn từ của con người đã vượt lên trên chính nó” [77, tr.64] Những

từ ngữ được làm giàu ý nghĩa này trở thành hình tượng ngôn từ góp phần xây dựng hình tượng nghệ thuật Ví dụ bài ca dao:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Nội dung thông tin thẩm mĩ không được biểu hiện trực tiếp qua từ ngữ thông

thường mà qua các hình tượng ngôn từ cụ thể “lá xanh, bông trắng, nhị vàng, bùn, hôi

tanh” Từ đó khái quát nên hình tượng sen mang nội dung thẩm mĩ đầy cảm xúc, phản

ánh phẩm chất thanh cao, đẹp đẽ của con người

Tính hàm súc đòi hỏi nhà thơ phải dày công lựa chọn từ ngữ để có thể diển đạt đúng và đủ nội dung mà mình mong muốn Đúng như Nguyễn Phan Cảnh từng nhận xét “Thơ phải được ý ở ngoài lời Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của người làm thơ Cho nên ý thừa hơn lời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn ý thì tuy công phu mà vẫn vụng Còn như ý hết mà lời cũng hết thì không đáng là người làm thơ vậy” [3, tr.60]

Trang 28

1.2.3.2 Tính tương xứng

a Khái niệm

Tính tương xứng phản ánh thuộc tính cân xứng của ngôn ngữ thơ, do sự sắp xếp các đơn vị ngôn ngữ trong văn bản thơ mang lại Nó phản ánh mối quan hệ của ngôn ngữ trên trục tuyến tính và trục liên tưởng Nhìn chung, mối quan hệ này không chỉ thuộc

về hình thức mà còn thuộc về nội dung

b Các loại tương xứng trong ngôn ngữ thơ

Trong thơ, sự tương xứng xảy ra ở tất cả các cấp bậc của ngôn ngữ (ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp) và tùy theo góc độ quan sát mà có được những kiểu tương xứng khác

nhau Trong công trình “Ngôn ngữ thơ Việt Nam”, Hữu Đạt đã giới thiệu và phân tích

khá kĩ lưỡng các loại tương xứng

Chúng tôi hệ thống lại sự phân loại ấy theo bảng sau:

TÍNH TƯƠNG XỨNG TRONG NGÔN NGỮ THƠ Tính tương xứng về âm thanh Tính tương xứng về ý nghĩa Tính tương

xứng trực tiếp, gián tiếp Trên hai câu

thơ

Trên một câu thơ Tính

tương xứng

về ý nghĩa

từ vựng

Tính tương xứng

về ý nghĩa

từ loại

Tính tương xứng

ở bậc

từ

Tính tương xứng

ở bậc cấu trúc

Tính tương xứng trực tiếp

Tính tương xứng gián tiếp

vế câu thơ

Tính tương xứng giữa các

bộ phận trong một

vế câu thơ

Bảng 1.2 : Các kiểu tương xứng trong ngôn ngữ thơ

Trang 29

Dựa vào mối quan hệ ngôn ngữ trên hai trục tuyến tính và liên tưởng, chúng tôi chia thành 3 loại tương xứng: tính tương xứng trên trục tuyến tính, tính tương xứng trên trục liên tưởng và tính tương xứng trên trục tuyến tính và trục liên tưởng Từ 3 loại tương xứng này, chúng tôi xác lập 3 mô hình sau:

(1) Mô hình 1: Tính tương xứng trên trục tuyến tính

(2) Mô hình 2: Tính tương xứng trên trục liên tưởng

(3) Mô hình 3: Tính tương xứng trên trục tuyến tính và trục liên tưởng

Xuất phát từ tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ, ta thấy mỗi loại đều có sự tương xứng về hình thức và ý nghĩa

Tính tương xứng về hình thức trong ngôn ngữ thơ bao gồm tính tương xứng về số lượng âm tiết và âm thanh Tương xứng về số lượng âm tiết là cơ sở cho mọi kiểu tương xứng Ở đó, số âm tiết trong hai vế của một câu thơ, hai bộ phận của một vế câu

và hai câu thơ sóng đôi đều phải bằng nhau Còn tính tương xứng về âm thanh là sự tương xứng giữa các đơn vị ngữ âm của ngôn ngữ như nguyên âm, phụ âm, thanh

(Hội Tây, Tú Xương)

Trang 30

điệu… Đối với ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Việt, tính tương xứng âm thanh tập trung vào thanh điệu Các thanh điệu trong tiếng Việt mang đối lập về bằng/trắc, âm vực cao/thấp, đường nét bằng phẳng/không bằng phẳng, gãy/không gãy Ở đó, đối lập bằng/trắc là cơ bản Nhưng sự đối lập này không chỉ diễn ra giữa thanh bằng (thanh ngang và thanh huyền) với thanh trắc (thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã và thanh nặng)

mà còn xảy ra giữa các thanh cùng nhóm như thanh ngang tương xứng với thanh huyền, thanh sắc tương xứng với thanh nặng hoặc thanh hỏi… Vì vậy, cấu trúc của bài thơ tiếng Việt rất chặt chẽ, cân đối và âm hưởng hài hòa, nhịp nhàng Hữu Đạt đã nhận xét rất chính xác: “Chính sự tương xứng ấy đã góp một phần không nhỏ vào việc thể hiện cái nghĩa biểu lộ và nghĩa xúc cảm được hình thành từ trường xúc cảm trên cơ sở của cái nghĩa logic…” [10, tr.135]

Tính tương xứng âm thanh không chỉ giúp cho hình thức đẹp mà còn làm phong phú nội dung của văn bản

Ví dụ:

Đây lạnh lẽo bốn tường vôi khắc khổ Đây sàn lim, mảnh ván ghép sầm u…

(Tâm tư trong tù, Tố Hữu)

Hai câu thơ được đặt vào thế đối lập bằng (B)/trắc (T) khá cân xứng (ngoại trừ âm tiết đầu tiên): BTTTBBTT/BBBBTTBB Câu thứ nhất chứa nhiều thanh trắc tạo tiết tấu trúc trắc, làm tăng lên sự khắc nghiệt của cảnh tù đày Còn câu thứ hai có nhiều thanh bằng nên gợi âm hưởng trầm lắng, thể hiện nỗi buồn của người thanh niên bị giam cầm khi trái tim yêu nước đang sục sôi, cuồng nhiệt Hai câu thơ hòa phối linh hoạt về thanh điệu, bộc lộ những nét cảm xúc tinh tế trong lòng nhà thơ

Tính tương xứng về ý nghĩa là sự tương xứng về mặt ngữ nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ Dựa vào loại ý nghĩa thuộc cấp độ ngôn ngữ từ vựng hay ngữ pháp, nó được chia thành 2 loại: tương xứng về ý nghĩa từ vựng và về ý nghĩa ngữ pháp

Trang 31

Tương xứng về ý nghĩa từ vựng là tương xứng về ý nghĩa sự vật của từ Có hai loại: tương xứng theo nét nghĩa đối lập nhau (trái nghĩa nhau) và tương xứng theo nét nghĩa

bổ sung nhau (đồng nghĩa, gần nghĩa) Vì thế, tính tương xứng không chỉ được hiểu bao gồm những cái tương phản, đối ứng mà còn gồm cả cái cân đối, bổ sung

Tương xứng về ý nghĩa ngữ pháp là tương xứng về ý nghĩa khái quát của từ Nó bao gồm các từ tương xứng với nhau cùng thuộc một nhóm từ loại

Ví dụ:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao

(Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Hai câu thơ có các cặp đối lập tương phản về ý nghĩa từ vựng và tương xứng về ý nghĩa ngữ pháp: ta/người (đại từ), dại/khôn (tính từ), tìm/đến (động từ), nơi/chốn (danh từ), vắng vẻ/lao xao (tính từ) Nhờ đó, nổi bật sự tương phản giữa tác giả (ta) - người dại khờ từ bỏ quan trường, tìm về thiên nhiên, thôn quê nghèo khó với những kẻ khác (người) - người khôn ngoan, dấn thân vào chốn lợi danh Nhưng, câu thơ lại mang sự tương phản trong nhận thức đầy bất ngờ: người dại hóa ra khôn, kẻ khôn hóa ra dại Như vậy, ngôn ngữ thơ có rất nhiều kiểu tương xứng theo từng tiêu chí và chúng có thể cùng xuất hiện trong một văn bản “Nhìn chung, nếu trong một bài thơ, một đoạn thơ, có sử dụng thành thục nhiều kiểu tương xứng phù hợp với ý nghĩa và cảm xúc thì thường đem đến cho bài thơ, đoạn thơ sự giàu có về âm thanh và ý nghĩa” [10, tr.148]

Để có được tính tương xứng, nhà thơ đã sử dụng nhiều biện pháp, phương tiện tu

từ Nổi bật nhất là phép đối, một thủ pháp truyền thống, xuất hiện nhiều trong thơ

1.2.3.3 Tính nhạc

a Khái niệm

Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất tính nhạc là đặc trưng cơ bản nhất của ngôn ngữ thơ La Fontaine khẳng định “Chẳng có thơ nào không có nhạc” [72, tr.2] Và Bằng Việt nhấn mạnh “Nhạc điệu là yếu tính của thi ca Thiếu nhạc tính

Trang 32

thơ trở thành văn xuôi” [72, tr.2] Thực tế cho thấy dù đọc thơ thành tiếng hay bằng mắt thì âm hưởng thơ vẫn cứ vang lên trong giác quan của chúng ta Xét về mặt ngữ

âm “tính nhạc là linh hồn của thơ ca” [6, tr.77] Vì thế khi ngâm nga đoạn thơ trong bài

“Nguyệt cầm” của Xuân Diệu, chúng ta như đang hát một nhạc phẩm:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

Nguyễn Thị Thanh Hà giải thích tính nhạc là “những phẩm chất âm thanh ngôn ngữ được sử dụng trong thơ ca có mang phẩm chất của âm thanh trong nhạc, là cơ sở để tạo nên một số hình thức diễn tả tương tự như trong âm nhạc” [16(a), tr.1] Tuy nhiên, tìm hiểu định nghĩa về tính nhạc không phức tạp bằng việc xác định những yếu tố ngôn ngữ nào tạo nên tính nhạc trong thơ ca

b Những yếu tố tạo nên tính nhạc trong thơ

Trước hết, tính nhạc trong ngôn ngữ thơ không giống với tính nhạc trong âm nhạc

dù nhạc trong thơ và âm nhạc đều có chung nguồn gốc là âm thanh ngôn ngữ Có ý kiến cho rằng từ ngữ trong thơ tương đồng với các nốt trong âm nhạc Kết luận ấy không đúng với thực tế Vì số lượng từ ngữ trong ngôn ngữ rất lớn và khác nhau ở từng ngôn ngữ Trong khi đó, khuông nhạc chỉ có 8 nốt (3) cơ bản và dùng chung cho tất cả mọi người Ngoài ra, nhạc trong thơ được tạo nên bởi âm thanh của ngôn ngữ còn với

âm nhạc âm thanh ngôn ngữ chỉ là một yếu tố bên cạnh nhiều loại âm thanh khác

Sự phân biệt trên hoàn toàn không phủ nhận mối quan hệ khăng khít giữa ngôn ngữ, đặc biệt ngôn ngữ thơ với âm nhạc Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu “Mỗi tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện Cái biểu hiện trong ngôn ngữ là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu hiện là khái niệm hay đối tượng được biểu thị” [19, tr.56] Bản chất ngôn ngữ đã có âm thanh Khi được nói

(3)

Đó là các nốt đồ, rê, mi, fa, sol, la, si, đô

Trang 33

thành lời, âm thanh ấy được hiện thực hóa và cảm nhận bằng thính giác con người Và khi được đặt vào tổ chức đặc biệt như thơ, âm thanh ngôn ngữ có thể mang đầy đủ điều kiện trở thành âm thanh của nhạc

Những yếu tố nào tạo cho ngôn ngữ thơ phẩm chất âm thanh như nhạc? Bùi Công Hùng nhận xét tính nhạc được tạo ra bởi kỹ năng dùng từ (từ tượng thanh, từ tượng hình, từ láy ), cách đặt câu, tổ chức nhịp điệu, vần, ngữ điệu… Lâm Vinh kết luận

“trong thơ ca của tất cả các dân tộc, những yếu tố tạo nên tính nhạc thường là: cấu tạo

âm hình (sự kết hợp nguyên âm, phụ âm tạo nên sức vang ngân hay tính chất cứng mềm của âm), trọng âm, ngữ điệu, vần thơ và các thủ pháp trong âm nhạc khác như: nhắc lại nhịp điệu, nhắc lại ngữ âm ” [85, tr.64] Mai Ngọc Chừ chỉ ra 6 yếu tố cơ bản: âm vực, giai điệu, nhịp, trường độ, vần và hiện tượng điệp âm [6]

Theo chúng tôi, để nghiên cứu các yếu tố tạo nên tính nhạc trong ngôn ngữ thơ ta cần chú ý các phương pháp diễn tả âm nhạc Xkrepxôp đã nêu ra 10 phương pháp như sau: giai điệu, khoảng âm, hòa âm, cường độ, nhịp điệu, cách phát âm, tiết luật, màu

âm, nhịp độ và cấu trúc [10, tr.162]

Trong đó giai điệu, nhịp điệu và hòa âm là cơ bản, bao trùm các phương pháp còn lại, phản ánh những phẩm chất đặc trưng của nhạc Với thơ, ba yếu tố này cũng vô cùng cần thiết

Đầu tiên là giai điệu Trong âm nhạc, nó được xem như yếu tố giữ vai trò quan trọng bậc nhất Các nốt nhạc phải được tổ chức biến thiên theo trật tự thời gian nhất định thì mới có bản nhạc Thơ cũng có giai điệu (tiết tấu) “nếu hiểu giai điệu là một dòng âm thanh đẹp được tạo nên bởi những âm có cung bậc khác nhau” [77, tr.64] Nhưng cách tổ chức giai điệu trong từng ngôn ngữ không giống nhau Với ngôn ngữ không có thanh điệu, giai điệu trong thơ dựa vào hiệu quả tổng hợp của ngữ âm, trọng

âm, cấu tạo âm Ở đây cung bậc cao thấp của các âm – yếu tố cơ bản tạo nên giai điệu – không có trong bản thân cấu tạo từ mà phải dựa vào giọng đọc, ngữ điệu và trọng âm Với ngôn ngữ có thanh điệu, cơ sở giai điệu có sẵn trong cấu tạo từ Đó là những cung

Trang 34

bậc khác nhau đã được định sẵn nhờ vào sự đối lập giữa các thanh điệu Sự đối lập này dẫn đến sự đối lập cao thấp của các âm tiết mà ngôn ngữ gọi là âm vực Trong phạm vi một âm tiết, sự biến thiên giữa các âm vực theo thời gian gọi là âm điệu; còn trong ngữ đoạn, sự biến thiên này được gọi là ngữ điệu Hai yếu tố âm điệu và ngữ điệu có vai trò như giai điệu trong âm nhạc, và trở thành yếu tố quan trọng tạo nên tính nhạc cho thơ của những ngôn ngữ có thanh điệu Thơ tiếng Việt là một ví dụ điển hình Sự đối lập

âm điệu trong tiếng Việt là sự đối lập giữa các thanh bằng và thanh trắc Sự luân phiên bằng trắc tạo nên những giai điệu trầm bổng, mượt mà và truyền cảm trong thể loại thơ truyền thống như lục bát

Yếu tố thứ hai mà cả thơ và nhạc đều cần là nhịp Không có nhịp thì không có thơ

và cũng không có nhạc Nhưng khái niệm nhịp xuất phát đầu tiên từ nhạc nên nói đến nhịp thơ đã là nói đến một biểu hiện của tính nhạc trong thơ Theo Mai Ngọc Chừ, cần phân biệt giữa nhịp điệu và ngữ điệu, hai yếu tố vốn có quan hệ khăng khít với nhau

“Nhịp điệu là sự lặp lại một cách tuần hoàn những âm mạnh và nhẹ sắp xếp theo những hình thức nhất định… Sau mỗi lần lặp lại, nhịp điệu được đánh dấu bằng một chỗ ngừng, tức sự ngắt nhịp” [6, tr.77] Chúng ta sẽ hình dung được nhịp điệu và ngắt nhịp qua ví dụ rất hay sau đây:

Chưa có/ bao giờ/ đẹp như/ hôm nay //

Non nước/ mây trời/ lòng ta/ mê say //

Sóng nước/ trùng dương /dài theo/ biển cát //

Những dãy/ đảo xa/ nằm nghe/ biển hát //

(Tình em biển cả, Nguyễn Đức Toàn)

Phẩm chất thứ ba không thể thiếu để tạo nên âm nhạc là sự hòa âm Đó là sự phối hợp hài hòa các yếu tố âm thanh để tạo nên giai điệu cho nhạc Mức độ hòa âm càng cao thì tính nhạc càng lớn Với thơ, sự hòa âm được xem là kết quả của hiện tượng gieo vần Vấn đề là cơ chế của hiện tượng gieo vần trong ngôn ngữ thơ diễn ra như thế nào? Nguyễn Phan Cảnh đã có những luận giải thú vị Ông nhận định rằng dưới dạng sóng

Trang 35

âm thanh, các tín hiệu ngôn ngữ đã được phát đi thông qua các thuộc tính âm thanh (cường độ, cao độ, trường độ) và các đơn vị âm thanh (nguyên âm, phụ âm) “Các thuộc tính âm thanh được lưu giữ – truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình thi ca, làm nên tiết tấu của thơ Còn các đơn vị âm thanh thì được lưu giữ - truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình loại thể, làm nên vần thơ” [2, tr.132] Có nhiều tiêu chí để phân loại vần Dựa vào vị trí gieo vần, vần gồm hai loại: vần lưng và vần chân Dựa vào mức độ trùng lặp của các yếu tố trong khuôn vần, người ta chia làm vần chính và vần thông Ngôn ngữ có thanh điệu lại có vần bằng và vần trắc Tuy không phải thể loại thơ nào cũng cần có vần nhưng vần là yếu tố quan trọng để liên kết các dòng thơ, tạo ra sự hài hòa âm thanh Cũng nhờ có vần mà thơ dễ nhớ dễ thuộc Isokratés nhận xét “câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” [2, tr.134]

Những phân tích trên cho thấy ngôn ngữ thơ với đặc điểm giàu nhịp điệu, phong phú về hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng hình chính là ngôn ngữ giàu tính nhạc

Nó chấp nhận sự xuất hiện đa dạng của các phương thức tu từ, đặc biệt những phương tiện và biện pháp tạo ra hiệu quả âm thanh như sóng đôi, điệp ngữ, điệp phụ âm Thật thiếu sót nếu không bàn đến tính nhạc trong ngôn ngữ thơ Việt Nam Tiếng Việt có nhiều nguyên âm, phụ âm và thanh điệu Độ dài âm tiết thường ngắn và luôn tách rời nhau Ngoài ra các đơn vị ngôn ngữ của tiếng Việt còn sở hữu khả năng gợi hình, biểu cảm cao Vĩnh Long đã bàn đến vấn đề này như sau:

Do có ý nghĩa, có cấu trúc riêng, nhiều âm tiết, nhiều từ trong tiếng Việt đã

có sức gợi tả cảm xúc, hình tượng dồi dào Khả năng này biểu hiện chủ yếu

ở những từ tượng thanh, những từ láy âm như: là lướt, lắc lư, nhấp nhô, ào

ào, lơ thơ, mênh mông, rì rầm, ục ịch, khúc khích, vùn vụt, lấp lóe, lập lòe sức gợi tả này giúp cho việc tìm tòi, phát triển đường nét giai điệu và lời ca

để làm cho tiếng hát thêm độc đáo, ý vị, duyên dáng và đậm đà màu sắc dân tộc [10, tr.162]

Trang 36

Đó là lí do cho nhiều bài thơ tiếng Việt được phổ nhạc thành công như Vàm cỏ

đông (thơ Hoài Vũ, nhạc Trương Quang Lục), Ngọn đèn đứng gác (thơ Chính Hữu,

nhạc Hoàng Hiệp) Lắng nghe đoạn thơ sau, chúng ta như đang nghe một bài hát:

Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng Bóng chiều không thắm không vàng vọt, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

(Tống biệt hành, Thâm Tâm)

Đoạn thơ có tiết tấu chậm buồn Những thanh bằng kết hợp hài hòa, bao trùm toàn

bộ lời thơ Lại thêm cách ngắt nhịp linh hoạt làm xốn xang nhiều tâm trạng Câu 1 và 3 ngắt nhịp 2/5 với giọng thơ bày tỏ sự tình và miêu tả Nhưng hai câu 2, 4 thì ngắt nhịp ngắn hơn 1/6 với bao thảng thốt, bàng hoàng khi nhận ra nỗi đau li biệt

Quả thật, tính nhạc làm cho thơ trở nên thật sự quyến rũ, dễ đi vào lòng người

“Nhạc tính của một văn bản thơ càng phong phú thì hiệu quả lưu giữ, truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sự sinh tồn của nó càng mạnh” [2, tr.116]

Tóm lại, ngôn ngữ thơ là loại NNNT độc đáo, mang những nét đặc trưng nổi bật về tính hàm súc, tính tương xứng, tính nhạc Các đặc trưng này hòa quyện vào nhau hình thành thứ ngôn ngữ kì diệu vừa thân quen vừa quyến rũ con người Nhưng để sáng tạo được ngôn ngữ thơ, cần có những công cụ đặc biệt như phương thức tu từ

1.3 Phương thức tu từ và vai trò của nó trong ngôn ngữ thơ

1.3.1 Khái niệm

Từ xa xưa con người vốn có nhu cầu sử dụng ngôn ngữ sao cho hay, đạt hiệu quả cao nhất khi giao tiếp Vì thế, từ thời cổ Hi Lạp, các học giả nổi tiếng như Platon, Democrite, Aristote đã dày công xây dựng môn học mĩ từ pháp để tìm hiểu cách tạo ra lời văn hoa mĩ, dùng trong thuật hùng biện, diễn thuyết Đây có thể được xem là những kết quả đầu tiên, bắt nguồn cho việc nghiên cứu phương thức tu từ nói riêng cũng như phong cách học nói chung sau này

Trang 37

Để định nghĩa phương thức tu từ, chúng ta cần xác định các khái niệm có liên quan

như đặc điểm tu từ, giá trị tu từ, hiệu quả tu từ, biện pháp tu từ và phương tiện tu từ

Đặc điểm tu từ (hay còn được gọi màu sắc tu từ) chỉ phần tin riêng mang tính chất

bổ sung của hình thức biểu đạt cùng nghĩa Bất kì hình thức biểu đạt cùng nghĩa nào cũng bao gồm hai nội dung biểu hiện: nội dung cơ sở và nội dung bổ sung Trong đó, nội dung cơ sở luôn có mặt trong các hình thức biểu đạt cùng nghĩa Còn nội dung bổ sung là phần thông tin riêng của một hình thức biểu đạt cùng nghĩa Nó được hình thành từ bốn thành tố là biểu cảm (chứa đựng những yếu tố hình tượng), cảm xúc (diễn đạt những tình cảm, cảm xúc), bình giá (đánh giá, nhận xét) và phong cách chức năng (chỉ rõ phạm vi sử dụng, thường xuyên, cố định)

Giá trị tu từ là kết quả của sự đối lập hai hay nhiều yếu tố trong sử dụng ngôn ngữ Kết quả ấy được tạo nên bởi sự đối lập các yếu tố trong hệ thống đúng – sai hoặc sự đối lập tạm thời trong ngữ cảnh hợp hay không hợp Từ đó, chia thành hai loại giá trị: giá trị tuyệt đối (do sự đối lập trong hệ thống) và giá trị tương đối (do sự đối lập tạm thời trong ngữ cảnh) Giá trị tu từ mang tính khách quan

Hiệu quả tu từ được dùng để chỉ hiệu quả thẩm mĩ, tác dụng gây ấn tượng (về hình ảnh, cảm xúc, thái độ…) ở người tiếp nhận Nó thuộc chủ quan của người nghe người đọc và là đích đến cuối cùng của việc tu sức ngôn ngữ trong giao tiếp

Ba khái niệm trên đưa đến hai khái niệm quan trọng là phương tiện tu từ và biện pháp tu từ Từ trước đến nay, các nhà phong cách học cố gắng phân biệt phương tiện tu

từ và biện pháp tu từ vì thường có sự nhầm lẫn trong sử dụng Theo chúng tôi, muốn hoàn thành tốt việc làm này, đầu tiên phải thống nhất trong cách hiểu về khái niệm Đinh Trọng Lạc đã đưa ra những giải thích được nhiều người chấp nhận

“Phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật - lôgic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung mà tu từ học gọi là màu sắc tu từ.” [41, tr.5]

Trang 38

“Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là trung hòa hay tu từ (còn được gọi là diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ” [41, tr.5]

Từ cách hiểu này, chúng ta có sự phân biệt phương tiện tu từ với biện pháp tu từ theo bảng sau:

- Là các phương tiện ngôn ngữ mà

ngoài ý nghĩa cơ bản ra chúng còn có

ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ

- Màu sắc tu từ nằm ngay trong bản

thân phương tiện đó

- Là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ

- Hiệu quả tu từ nảy sinh do sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng

- Màu sắc tu từ bị qui định bởi quan

hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ cùng bậc

trên trục liên tưởng

- Hiệu quả tu từ học bị qui định bởi quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ cùng bậc hay khác bậc nằm ở trục tuyến tính

Bảng 1.3 : Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ

Trang 39

Để khắc phục những trường hợp khó phân biệt như trên và mong muốn đưa ra thuật ngữ bao quát các phương tiện và biện pháp tu từ, chúng tôi mạnh dạn đề xuất thuật ngữ

“Phương thức tu từ” Thật ra, thuật ngữ này không mới trong phong cách học Theo Nguyễn Thái Hòa, “phương thức tu từ (phương thức biểu đạt tu từ, hay còn được gọi là cách tu từ) là cách biểu đạt ngôn ngữ có màu sắc tu từ, điều mà người Hi Lạp cổ đại gọi là “lời nói có cánh” để phân biệt với phương thức biểu đạt bình thường” [32, tr.194] Cách hiểu này đã đồng nhất phương thức tu từ với biện pháp tu từ Dựa vào lối

chiết tự (phương thức = phương tiện + cách thức), chúng tôi định nghĩa “ phương thức

tu từ là các phương tiện và cách thức sử dụng ngôn ngữ để nhằm làm tăng giá trị sử

dụng, bao gồm một hệ thống các phương tiện và biện pháp tu từ”

Như vậy, bên cạnh những phương thức biểu đạt thông thường thì luôn tồn tại những phương thức tu từ Người sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp nên chú ý lựa chọn, phối hợp chúng với nhau để tạo nên hiệu quả như mong muốn của mình

Ví dụ:

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

(Ca dao)

Trang 40

“Tre non đủ lá”, “đan sàng” là những cách chuyển nghĩa ẩn dụ tu từ thể hiện lời cầu hôn của chàng trai dành cho cô gái “Tre non đủ lá” chỉ tuổi trưởng thành, lập gia đình

“Đan sàng” hàm ý nói đến chuyện hôn nhân, cưới hỏi Nếu hiểu theo nghĩa đen thì là

“Hôm nay đêm trăng sáng anh hỏi nàng rằng nàng đã đến tuổi lấy chồng thì có thể kết duyên với anh không?” Cách nói ẩn dụ đã tạo cho lời nói của chàng trai vẻ đẹp của sự

tế nhị, chân thành và thi vị Đồng thời cô gái cũng sẽ không cảm thấy ngượng ngùng, mắc cỡ mà thậm chí có thể thấy chàng trai thật đáng yêu

Giới Việt ngữ khi nghiên cứu phong cách ngôn ngữ tiếng Việt cũng dành nhiều sự quan tâm bàn về các phương thức tu từ tiếng Việt Các công trình chuyên sâu về tu từ của Cù Đình Tú, Hữu Đạt, Nguyễn Thái Hòa, Đinh Trọng Lạc đóng góp quan trọng làm sáng tỏ vấn đề này, càng cho thấy sự phong phú và giàu có của tiếng nói nước ta Hiện nay, người ta tính có khoảng 250 các phương thức tu từ Trong chuyên khảo “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, Đinh Trọng Lạc đưa ra được một hệ thống khá hoàn chỉnh và khoa học về 99 phương thức tu từ cơ bản tiếng Việt Thiết nghĩ để thuận tiện trong việc nghiên cứu, chúng ta cần có một sự phân loại khoa học các phương thức tu từ

1.3.2 Phân loại

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các phương thức tu từ Cù Đình Tú dựa vào hai quan hệ cơ bản của các đơn vị ngôn ngữ là quan hệ liên tưởng và quan hệ tổ hợp mà chia làm hai loại: các phương thức tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng và các phương thức tu từ cấu tạo theo quan hệ tổ hợp [83, tr.173] Còn Nguyễn Thái Hòa phân chia theo cấp độ ngôn ngữ học: phương thức tu từ ngữ âm (điệp âm, đảo âm, hài âm ), phương thức tu từ từ vựng (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ ) và phương tiện tu từ ngữ pháp (đảo cú, đảo đối, điệp cú ) [32, tr.194] Tuy nhiên, sự phân chia trên chỉ mang tính tương đối vì trong một biểu đạt nhiều khi khó tách bạch thật rõ ràng phương thức thuộc

về từ hay câu hay âm thanh Chẳng hạn, điệp ngữ liên quan đến cả âm thanh và ngữ pháp

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Từ điển Truyện Kiều, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2000
2. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt (2 tập), Nxb. Giáo dục, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (2 tập
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2004
3. Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 2000
4. Vũ Thị Sao Chi (2005), “Một số vấn đề về nhịp trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam”, Ngôn ngữ (03), tr.1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nhịp trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2005
5. Vũ Thị Sao Chi (2008), “Nhịp điệu và các loại hình của nhịp điệu trong thơ văn”, Ngôn ngữ (01), tr.12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhịp điệu và các loại hình của nhịp điệu trong thơ văn
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2008
6. Mai Ngọc Chừ (2006), “Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (từ góc nhìn ngữ âm tiếng Việt)”, Ngôn ngữ (05), tr.77-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (từ góc nhìn ngữ âm tiếng Việt)
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 2006
7. Mai Ngọc Chừ (chủ biên) (2007), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
8. Hoàng Diệu (2001), “Một cách nói của ngôn ngữ thơ”, Ngôn ngữ (03), tr.53-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cách nói của ngôn ngữ thơ
Tác giả: Hoàng Diệu
Năm: 2001
9. Hữu Đạt (1996), “Đặc điểm phong cách ngôn ngữ của thơ và ca dao (nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ)”, Ngôn ngữ (04), tr.58-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phong cách ngôn ngữ của thơ và ca dao (nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ)
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 1996
10. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1996
11. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2000
12. Hữu Đạt (2008), “Vài suy nghĩ về vai trò của ngôn ngữ học đối với tìm hiểu thơ ca”, Ngôn ngữ (11), tr.48-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về vai trò của ngôn ngữ học đối với tìm hiểu thơ ca
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 2008
13. Nguyễn Thạch Giang (2000), Từ điển văn học quốc âm, Nxb. Văn hóa thông tin, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học quốc âm
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2000
14. Nguyễn Thạch Giang (2002), Điển nghĩa văn học tập giải, Nxb. Văn học, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển nghĩa văn học tập giải
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2002
15. Nhiều tác giả (1973), Tạp chí Văn, số đặc biệt về nhà thơ Bùi Giáng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1973
16. Nhiều tác giả (1997), Tạp chí Thời văn, số 19 về nhà thơ Bùi Giáng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thời văn
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1997
17. Nhiều tác giả (1999), Đặc san Hợp Lưu, số 44 về nhà thơ Bùi Giáng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san Hợp Lưu
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1999
18. Nhiều tác giả (2005), Tưởng nhớ thi sĩ Bùi Giáng, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tưởng nhớ thi sĩ Bùi Giáng
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2005
19. Nguyễn Thiện Giáp (1983), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Đại học trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. Đại học trung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
20. Nguyễn Thiện Giáp (2002), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb. Giáo dục, Quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm