1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý hiện sinh trong tiểu thuyết ở đô thị miền nam trước 1975

144 91 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tư tưởng về khẳng định nhân vị, tự do, lo âu… của chủ nghĩa hiện sinh đã được các nhà tiểu thuyết ở đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975 thể hiện rõ nét trong các tác phẩm văn học..

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỚC 1975

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỚC 1975

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã s ố : 60 22 01 21

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUY ỄN THÀNH THI

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung nghiên cứu trong luận văn này là công trình nghiên

cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Thành Thi Mọi trích dẫn trong luận văn đều có trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian

và địa điểm công bố Moi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Huỳnh Diễm Hồng Thư

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thành Thi – người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Em xin trân trọng cảm ơn quý Thầy cô Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư

phạm Thành phố Hồ Chí Minh, quý đồng nghiệp trường THPT chuyên Lê Quý Đôn đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong thời gian học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, cổ vũ tinh thần để tôi

có thể hoàn thành đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2016

Tác giả

Huỳnh Diễm Hồng Thư

Trang 5

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC ĐÔ THỊ MIỀN NAM TRƯỚC 1975 14

1.1 Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh 14

1.2 Những tư tưởng chính của Chủ nghĩa hiện sinh 18

1.2.1 Vấn đề “nhân vị” – vấn đề trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh 18

1.2.2 Những phạm trù xoay quanh vấn đề “nhân vị” 20

1.3 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với văn hóa, văn học miền Nam trước 1975 24

1.3.1 Bối cảnh xã hội miền Nam trước 1975 24

1.3.2 Quá trình du nhập của chủ nghĩa hiện sinh vào miền Nam trước 1975 26

1.4 Xu hướng tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở đô thị miền Nam trước 1975 29

1.4.1 Tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở đô thị miền Nam trước 1975 trên bình diện sáng tác 29

1.4.2 Tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở đô thị miền Nam trước 1975 trên bình diện lí luận, phê bình 32

Ti ểu kết chương 1 35

Chương 2 TRIẾT LÝ HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT ĐÔ THỊ MIỀN NAM TRƯỚC 1975 NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG T Ự SỰ 36

2.1 Con người với khát vọng dấn thân và trăn trở về số phận 36

2.1.1 Đánh mất sự hiện hữu để dấn thân truy tìm bản thể 36

2.1.2 Những trăn trở về số phận con người 42

Trang 6

2.2 Con người cô đơn 47

2.2.1 Con người bơ vơ, lạc lõng 49

2.2.2 Con người tách biệt với đám đông 53

2.3 Con người tha hóa 58

2.3.1 Con người vong thân 59

2.3.2 Con người bỏ cuộc 65

Ti ểu kết chương 2 70

Chương 3 DẤU ẤN CỦA TRIẾT LÝ HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT ĐÔ THỊ MIỀN NAM TRƯỚC 1975 NHÌN TỪ BÌNH DIỆN PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ 71

3.1 Dấu ấn triết lý hiện sinh qua phương thức kết cấu và tổ chức cốt truyện 71

3.1.1 Tình tiết bất ngờ, hồi hộp 71

3.1.2 Kết thúc mở 75

3.2 Dấu ấn triết lý hiện sinh qua phương thức xây dựng nhân vật 78

3.2.1 Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật 78

3.2.2 Sự khám phá con người từ góc nhìn phân tâm học 82

3.3 Dấu ấn của triết lý hiện sinh trong phương thức kiến tạo diễn ngôn 87

3.3.1 Triết lý hiện sinh trong diễn ngôn của người kể chuyện 88

3.3.2 Triết lý hiện sinh trong diễn ngôn của nhân vật 96

3.3.3 Sự hòa phối giữa diễn ngôn người kể chuyện và diễn ngôn nhân vật 101

3.4 Giọng điệu đa dạng, độc đáo 105

3.4.1 Giọng triết lý thâm trầm 106

3.4.2 Giọng trữ tình sâu lắng 109

3.4.3 Giọng mỉa mai dí dỏm 112

Ti ểu kết chương 3 116

K ẾT LUẬN 117

TÁC PH ẨM KHẢO SÁT 120

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do l ựa chọn đề tài

Chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu triết học xuất hiện đầu tiên ở Đức dưới sự ảnh hưởng của thế chiến thứ nhất và phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây vào đầu thế kỉ XX Bối cảnh xã hội thời chiến đã khiến cho con người cảm thấy bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời, nghi ngờ, mất niềm tin vào các giá trị hiện tại, mù mịt phương hướng cho tương lai Chính vì vậy con người cảm thấy “buồn nôn”, “phi lý”, “cô đơn”, “chán nản” Văn học hiện sinh bắt đầu nảy nở và đi vào phản ánh những hiện tượng bất trắc của thực tế xã hội, bày tỏ cảm giác cô đơn của con người đồng thời còn

thể hiện thái độ phản kháng đối với thực tế ấy bằng sự “nổi loạn” Cuộc chiến tranh

khốc liệt những năm năm mươi của thế kỉ hai mươi đã đem đến hậu quả tất yếu là xã

hội miền Nam Việt Nam rối ren, hỗn độn Đó chính là mảnh đất màu mỡ, thuận lợi để văn học hiện sinh phát triển một cách tự nhiên và hợp lý nhất Những tư tưởng về

khẳng định nhân vị, tự do, lo âu… của chủ nghĩa hiện sinh đã được các nhà tiểu thuyết

ở đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975 thể hiện rõ nét trong các tác phẩm văn học

Muốn nắm bắt được những tâm tư, tình cảm, quan niệm, suy nghĩ của con người trước

thời cuộc, chúng ta nên đọc và hiểu những thông điệp mà các nhà văn gửi gắm qua tác

phẩm của mình

Trong dòng lịch sử văn học dân tộc, độc giả chưa được giới thiệu và tiếp nhận rộng rãi một bộ phân văn học đó là văn học hiện sinh ở đô thị miền Nam trước 1975 Chiến tranh với cảnh chết chóc, mất mát, tang thương tạo nên tâm lý chán nản, cô đơn, bế tắc

và sự nổi loạn của giới trẻ Đó là nguyên nhân lí giải vì sao các tác phẩm ở đô thị miền Nam trước 1975 lại có âm hưởng trầm uất, u buồn Hơn nữa do một số nguyên nhân khách quan khác, việc nhìn nhận và đánh giá văn chương hiện sinh ở đô thị miền Nam trước 1975 chưa được xác đáng, tích cực

Nhận thấy được vai trò và vị trí của bộ phận văn học này đối với đời sống đô thị

và con người miền Nam trong giai đoạn trước 1975, người viết mong muốn được trình bày những hiểu biết của bản thân qua việc tiếp nhận tiểu thuyết miền Nam trong luận

văn “Tri ết lý hiện sinh trong tiểu thuyết ở đô thị miền Nam trước 1975” Từ đó ở

một mức độ nhất định, giúp người đọc có sự nhìn nhận và đánh giá tiểu thuyết ở đô thị

Trang 8

miền Nam nói riêng và của văn học miền Nam nói chung một cách toàn diện và khách quan theo hướng tích cực hơn nhằm trả lại những giá trị vốn có của bộ phận văn học này đối với văn học nước nhà

Từ hai lý do trên, chúng tôi chọn “Triết lý hiện sinh trong tiểu thuyết ở đô thị miền

Nam trước 1975” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

a Kh ảo sát những công trình nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh ở miền Nam trước 1975

Văn học mang hơi hướng hiện sinh xuất hiện ở đô thị miền Nam Việt Nam từ

rất sớm với những nhà văn thấm nhuần những tư tưởng của các nhà hiện sinh chủ nghĩa và chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học hiện sinh phương Tây đặc biệt là văn học Pháp Cùng với sự ra đời của văn học hiện sinh, các nhà phê bình nghiên cứu cũng đã có những bước khởi động trong việc bình phẩm “mổ xẻ” những nội dung, tư tưởng chứa đựng trong nó Tất nhiên, một trào lưu văn học ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh với sự chồng chéo của nhiều khuynh hướng văn học không thể tránh khỏi

những luồng dư luận trái chiều Văn học hiện sinh ở đô thị miền Nam trước 1975 cũng

thế, nó đã khiến cho giới phê bình tốn không ít nhiều giấy mực để luận bàn, tranh cãi

một thời và tận đến ngày hôm nay

Nguyễn Trọng Văn trong “Những người con hoang của Nguyễn Văn Trung”

tạp chí Bách khoa số 264, Sài Gòn, ngày 1 tháng 1 năm 1968 đã cho rằng văn chương

hiện sinh là một thứ “làm dáng trí thức” Do ảnh hưởng phức tạp và có những “biến

dị” trong cách tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh, một số phận thanh niên bế tắc trong cuộc

sống đã có những phản ứng “nổi loạn” bằng lối sống phóng khoáng, buông thả Vì thế, qua việc sử dụng hình ảnh “Những đứa con hoang của Nguyễn Văn Trung”, Nguyễn

Trọng Văn đã lên tiếng cảnh báo về hậu quả của việc truyền bá chủ nghĩa hiện sinh vào đời sống đô thị miền Nam cũng như việc thể hiện những tư tưởng của nó trong văn

học

Trong “Nghĩ về văn chương hiện sinh hay là tính chất sì nốp bít của xã hội

mi ền Nam” Nghiên cứu văn học số 6, Sài Gòn, tháng 6 năm 1968 Nhà văn Thế

Nguyên mạnh mẽ phê phán những biểu hiện của điều mà ông gọi là “tính chất

Trang 9

sì-nốp-bít” (thói học đòi làm sang) của xã hội miền Nam Ông bài bác thứ “văn chương hiện sinh” “theo đuôi”, “làm dáng”, đồng thời đề cao văn chương hiện sinh dấn thân, trong

đó con người phản tỉnh về thân phận của mình, thông qua những kinh nghiệm sống trong một hoàn cảnh cực đoan của đất nước

Phạm Văn Sĩ trong “Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại” đã trình bày

những quan niệm của các nhà hiện sinh chủ nghĩa Bên cạnh việc tác giả thừa nhận

những giá trị của văn học hiện sinh phương Tây, ông vẫn phê phán đối với một số

phạm trù tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh Chính vì thế, khi áp vào những tiêu chí ấy

vào văn học hiện sinh miền Nam ông đã cho rằng: “Văn học hiện sinh ở Sài Gòn ít có

cái dáng vẻ cao đạo, cái dáng siêu thoát như một số truyện ở Phương Tây, cũng ít có băn khoăn day dứt về thân phận con người như ở Châu Âu” [130, tr.12]

Gay gắt hơn cả, ta không thể không kể đến những lập luận dẫn đến việc “quy án”

“kết tội” văn học hiện sinh ở đô thị miền Nam của Đỗ Đức Hiểu trong chuyên luận

Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa” năm 1978 Bằnng những lí lẽ trên lập

trường chính trị, Đỗ Đức Hiểu đã phủ nhận tất cả những nội dung mà văn học hiện sinh miền Nam đem lại và hơn nữa tác giả đã khẳng định văn học hiện sinh miền Nam

là dòng văn học “phản động” Ông cho rằng: “Có thể nói, cái bộ phận văn học đó

không thể gọi là văn học hiện sinh chủ nghĩa Khoác lên mình những danh từ của triết

dụng Mỹ - chủ nghĩa thực dụng trong một hoàn cảnh đặc biệt: chiến tranh xâm lược;

nó đẫm máu và đồi bại Hung bạo và đầy tính dục, hai tính chất này phục vụ trực tiếp

“quân đội viễn chinh Mỹ.” [76, tr.5] Tuy nhiên có thể thấy, ngay sau khi đất nước

thống nhất, văn học nước nhà vẫn còn trôi theo dòng chảy ngợi ca những chiến công hào hùng gắn liền với nhiệm vụ thống nhất đất nước, đồng thời do hoàn cảnh lịch sử khách quan, tác giả chưa được tiếp cận nhiều tác phẩm văn học ở đô thị miền Nam trước 1975 Vì vậy tác giả có ý kiến trái chiều như vậy cũng là điều dễ hiểu Về sau chính tác giả là người điều chỉnh lại quan niệm của mình đối với văn học miền Nam trước 1975

Bên cạnh những ý kiến phê phán, lên án văn chương hiện sinh, vẫn có những nhìn nhận, đánh giá của các nhà nghiên cứu theo hướng đi sâu vào cốt lõi bên trong

Trang 10

vấn đề để tìm ra nguồn cội của việc biểu hiện những tư tưởng hiện sinh trong văn chương ở đô thị miền Nam trước 1975

Cung Tích Biền – một nhà văn nằm trong khuynh hướng ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đã khẳng định những đóng góp không thể chối cãi của chủ nghĩa hiện

sinh đối với văn học miền Nam lúc bấy giờ Ông nhận xét “Do có đồng khí tương cầu,

chủ nghĩa hiện sinh đã có đất gieo mầm tại miền Nam một thời Nó là dòng chảy, từ tư duy đến hành động, thái độ sống, nơi mỗi cá thể thành một những tập thể quần chúng,

lãnh vực văn chương nghệ thuật, âm nhạc, hội họa” [28, tr.2]

Viết về chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam một cách khái quát và toàn

diện không thể không kể đến “Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954 -

1975 (trên bình di ện lý thuyết) của tác giả Huỳnh Như Phương Bài viết như một công

trình thu gọn lịch sử nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam trên bình

diện lý thuyết Tác giả đã khái quát sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam

Việt Nam trên ba bình diện, đó là: bình diện lý thuyết triết học và văn học, bình diện sáng tác văn học, bình diện thái độ sống Từ đó tác giả đã đưa đến ba nhận xét cơ bản

sau đây: “Thứ nhất có thể khẳng định rằng đại học miền Nam, tập trung các trường

đại học Văn khoa Sài Gòn và Huế, Viện đại học Vạn Hạnh, đóng vai trò rất quan

văn học hiện sinh, một phần thỏa mãn nhu cầu có tính thời thượng của công chúng, phần khác đáp ứng một đòi hỏi về kiến thức toàn diện mà đại học trang bị cho sinh viên… Thứ hai, có những phân hóa rất lớn trong việc tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh ở

Nguyễn Tiến Dũng trong “Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt

Nam” đã đi vào khái quát sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh, sự hiện diện

của nó ở Việt Nam đặc biệt ở đô thị miền Nam Việt Nam qua sáng tác của một số tác

giả như Nguyễn Thị Hoàng, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh,…Tác giả cho rằng:

Trang 11

khỏi cuộc sống đơn điệu Người ta nói nhiều đến cô đơn, đến cái chết…thể hiện sự bi quan đến cùng cực” [42] Theo ông “chưa có một trào lưu văn học nào như văn học

[42]

Nhà nghiên cứu Trần Hoài Anh trong “Lí luận phê bình văn học đô thị miền

Nam 1954 - 1975” trong mục 3.1.3.1 viết về chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh

ở đô thị miền Nam, tác giả đã đề cập đến việc ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối

với văn học ở đô thị miền Nam trên hai phương diện đó là nội dung tư tưởng và hình

thức biểu hiện Đặc biệt tác giả đã liệt kê một số các tác phẩm thể hiện sự ảnh hưởng

của chủ nghĩa hiện sinh ở ngay tên gọi như Con sâu, Đêm tóc rối (Dương Nghiễm

Mậu); Thở dài, Hơi thở rướn cong, Tôi nhìn tôi trên vách, Những sợi sắc không (Túy

Hồng); Chiều mênh mông, Thú hoang, Đêm tối bao la, Lao vào lửa (Nguyễn Thị Thụy

Vũ);…Và những tác phẩm mang đậm không khí hiện sinh với những phạm trù “hư vô”, “lo âu”, “tha nhân”, “cuộc đời hư vô phi lí” như Nắng qua sông (Trịnh Thị Diệu Tân), Cát l ầy (Thanh Tâm Tuyền), Con sâu (Dương Nghiễm Mậu), Ngựa chứng trong sân trường (Duyên Anh) Từ đó tác giả khái quát “Như vậy, hầu hết các phạm trù cơ bản của triết học hiện sinh đã ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác văn học ở đô thị miền Nam Đây là con đường để chủ nghĩa hiện sinh thâm nhập vào đời sống của xã hội

Tác giả Nguyễn Phúc trong “Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ

nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền nam trước năm 1975” đã khẳng định ảnh

hưởng của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước năm 1975 Tác giả đã có cái nhìn khách quan khi đánh giá những giá trị của văn học

hiện sinh miền Nam 1954 -1975 Ông khẳng định rằng: “Với cách tiếp cận con người

và phương pháp luận, văn học, kịch nghệ hiện sinh đô thị miền Nam trước 1975 đã có

Việt Nam Triết học, văn học kịch nghê hiện sinh đã có được một vị trí đáng kể về bản thể luận, nhận thức luận trong lịch sử triết học, văn học đô thị miền Nam trước đây.”

[119]

Trang 12

Luận án “Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam

1954 - 1975” của Nguyễn Thị Việt Nga đã chỉ ra được những biểu hiện của thân phận con người trong tiểu thuyết hiện sinh ở đô thị miền Nam như: thân phận đau khổ, nỗi

cô đơn, bơ vơ giữa thời cuộc, sự lo âu, sợ hãi, mất niềm tin vào cuộc sống Tác giả đã

chỉ ra hình ảnh “con người cô độc trong một thế giới phi lý”, “con người cô độc trong

cả không gian, thời gian”, con người “nổi loạn” trong tuyệt vọng và bị ám ảnh bởi cái

chết… trong các sáng tác của các nhà tiểu thuyết hiện sinh ở đô thị miền Nam Tác giả

đã đưa ra nhận định: “triết học hiện sinh – triết học về thân phận con người du nhập

vào đô thị miền Nam nhanh chóng được ưa chuộng và ảnh hưởng của nó in đậm trong lối sống cũng như trong sáng tác văn học nghệ thuật Tiểu thuyết đô thị miền Nam đã,

Ngoài ra, luận văn Thạc sĩ “Triết lý hiện sinh trong thơ Bùi Giáng” của Huỳnh

Thị Diễm Diễm đã đi sâu tìm hiểu và nhận diện dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng Tác giả luận văn đã khai thác dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng qua cái tôi trữ tình

và phương thức biểu hiện Từ đó góp thêm tiếng nói khẳng định vị thế của nhà thơ trong tiến trình vận động và phát triển thơ Việt Nam hiện đại Qua luận văn, tác giả cũng đã có những nhận định xác đáng về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đến

với các thể loại văn học đặc biệt là tiểu thuyết và thơ ca: “Trong sáng tác văn học đô

nhưng sâu đậm nhất vẫn là tiểu thuyết là thơ ca Tiểu thuyết thời kì này “không chỉ phản ánh hiện thực” mà “suy ngẫm về hiện thực”, “áp sát hiện thực” Nó đi vào thân

hư vô của kiếp người và cái chết, sự đổ vỡ của niềm tin mơ ước Các nhà văn, nhà thơ

th ế kỉ XXI” không đồng mốc thời gian nghiên cứu của chúng tôi, song luận văn này

của Nguyễn Tiến Dũng cũng là nguồn tư liệu quý giá vì công trình đã có những quan

niệm mới mẻ về chủ nghĩa hiện sinh với những lý giải thú vị và hợp lý “Thế giới quan

đa chân lý sẽ góp phần hình thành thế giới phi lý Hơn nữa, chủ thể nhận thức về thế

Trang 13

giới, bị quăng quật, lôi kéo, đưa đẩy, tha hóa… Hệ lụy là con người với tư cách là chủ thể quan sát sẽ cảm thấy thế giới đời hết sức phi lý Thế giới phi lý sẽ nảy sinh những con người mang tâm thức phi hiện sinh và là môi trường phản tỉnh cho con người hiện

sinh.”[43]

b Kh ảo sát những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với những tiểu thuyết ở đô thị miền Nam trước 1975

Việc nghiên cứu tiểu thuyết hiện sinh ở đô thị miền Nam trước năm 1975 cũng

vậy, phần lớn xuất hiện ở báo chí miền Bắc đặc biệt trên tờ Nghiên cứu văn học (Tạp

chí văn học) Có khá nhiều bài báo viết về tiểu thuyết ở đô thị miền Nam, tuy nhiên

khuynh hướng chung của những bài viết này là lên án, phê phán các tác phẩm này và

coi đó là những tác phẩm chạy theo đồng tiền, các nhà văn đã “sa vào cái mê hồn trận

Nguyễn Tiến Dũng trong “Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt

Nam” đã chỉ ra những ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong nhiều tác giả cụ thể như Nguyễn Thị Hoàng, Thanh Tâm Tuyền Nguyễn Thị Hoàng ví cuộc sống như một

chường của những con đực và con cái”; “không có ánh sáng rực rỡ của sửng sốt ngạc nhiên và nồng nàn của xôn xao, rung cảm” Còn Thanh Tâm Tuyền “nhìn đời thấy đời như một bãi cát lầy, ở đó chỉ có những kiếp sống nhầy nhụa, lầm lỗi trong tuyệt vọng

ngoài cơ thể tôi” Duyên Anh thì thấy “tuổi trẻ đã là sa mạc – cái khởi đầu của một đời người cũng vẫn chỉ là một sa mạc hoang vắng; và trong cái hoang vắng đó, người

cái thân xác đang hiện hữu xuống đáy mồ cô tịch” [42, tr.130]

Văn học hiện sinh miền Nam nói chung tuy thu hút được nhiều sự quan tâm, bàn

luận sôi nổi, thế nhưng việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong

một tác giả cụ thể còn rất khiêm tốn Có thể kể đến một số nhận định riêng về Nguyễn

Thị Hoàng, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, như sau:

Võ Phiến trong bộ “Tổng quan văn học miền Nam” đã nhận xét về nhà văn

Nguyễn Thị Hoàng: “Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng sau khi nổi tiếng với tiểu thuyết

Trang 14

Vòng tay học trò cũng cho ra đời một số sáng tác khác của bà Những tiểu thuyết thể hiện nỗ lực làm mới chính mình của bà, vì e ngại các nhà xuất bản có thể không muốn

in, bà đã tự in lấy dươi bảng hiệu Hoàng Phương Đông” [118], và có đánh giá cao vai

trò của Chu Tử đối với văn học miền Nam “nếu cần nhắc đến vai trò của một đôi cá

nhân, thật không thể quên Chu Tử Nhà văn ấy cũng là một nhà báo có biệt tài, nhiều sáng kiến, can đảm, mưu cơ… Chu Tử viết truyện được nhiều người khoái, mà làm báo cũng khiến nhiều người khoái quá trời, bất luận là cao hay thấp, người ta khoái

Trần Vũ trong cuộc nói chuyện với Thụy Khuê trên đài RFI phát lại ngày

13/4/2009 cũng cho rằng: “Tiểu thuyết với Nguyễn Thị Hoàng là một lựa chọn khoảnh

Trong cuốn “Các nhà văn nữ Việt Nam 1900 - 1970”, Uyên Thao đã nhận xét về Nguyễn Thị Hoàng: “Con đường của Nguyễn Thị Hoàng là con đường dẫn tới vũ trụ

người” [138]

Trong “T ổng quan văn học miền Nam”, Võ Phiến đã ưu ái khi viết rất nhiều về

Duyên Anh Ông cho rằng cái “chất hiện sinh” hiện hữu trong giọng văn, cách xây

dựng nhân vật với những cái tên thật không kiêng dè, nể sợ Theo ông, trong nhà văn Duyên Anh có tới hai tác giả Một là tác giả viết tiểu thuyết với những tình cảm dạt dào, thi vị, lãng mạn đối với những kỉ niệm ngọt ngào thời quá khứ Một là tác giả của

thái độ phản kháng, táo bạo, manh động Và “cả hai phương diện đều biểu hiện trung

Huỳnh Phan Anh trong “Duyên Anh tuổi trẻ mộng và thực” cho rằng sở dĩ

Duyên Anh có vị trí đặc biệt trong văn học đô thị ở miền Nam là do tác phẩm của ông

có sự gắn bó thiết tha với những số phận con người nhiều ước mơ hoài bão những loay hoay không tìm thấy đích đến của cuộc đời Đó cũng chính là sự ảnh hưởng của chủ

nghĩa hiện sinh trong sáng tác của ông Và “sự gần gũi cuộc đời, bóng dáng những

Trang 15

chân thực trong tác phẩm Duyên Anh đã đưa ông trở thành hiện tượng tác giả có sách bán chạy nhất mọi thời đại này” [11, tr.50]

Đến nay các công trình nghiên cứu đã quan tâm hơn đến việc đi vào các tác

phẩm của các nhà văn để tìm hiểu và khám phá Nguyễn Vy Khanh trong Nhà văn

Duyên Anh đã nêu ra một cách khái quát những đề tài trong tiểu thuyết của nhà văn Duyên Anh bao gồm: tình yêu quê hương, gia đình; tuổi thơ; tuổi trẻ; tình yêu; xã hội

thời đại Với cách viết giản dị, trong sáng, nhà văn Duyên Anh đã trở thành một “hiện tượng văn học” vì tác phẩm của ông đã đáp ứng được những nhu cầu của thời đại Tác

giả cho rằng “Duyên Anh đã tạo dựng những thần tượng tuổi thơ hiền lành nhưng hiểu

biết trong tiểu thuyết, nhưng những thần tượng tuổi thơ này đã vượt thế giới tiểu

Cùng tác giả Nguyễn Vy Khanh trong “Nhân vật tiểu thuyết của Thanh Tâm

Tuy ền”, ông đã đi vào phân tích những kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Thanh Tâm

Tuyền ở các tác phẩm: Bếp lửa, Khuôn mặt, Dọc đường, Tiếng động, Cát lầy, Một chủ

Thanh Tâm Tuyền “Nhân vật trong thế giới tiểu thuyết của Thanh Tâm Tuyền tự kỷ, ái

kỷ đôi khi đến bệnh hoạn, muốn phá hủy tha nhân, trở nên nguy hiểm vì chúng biết hóa trang, ngụy tạo!” [86] Qua việc phân tích sâu và gắn mỗi tác phẩm với mỗi mốc

thời gian vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tác giả Vy Khanh đã chứng tỏ tài phản ánh tâm

trạng nhân vật, có khi cầu kỳ khó hiểu của Thanh Tâm Tuyền Ông cho người đọc

nhận ra rằng nhân vật trong tiểu thuyết của Thanh Tâm Tuyền mang đặc điểm lạc loài,

cô độc, đầy “hoài nghi tư duy” và “tiêu cực hành động”

Viết về Mai Thảo với tất cả tình yêu thương, ngưỡng mộ, Nguyễn Mộng Giác trên

Tạp chí Văn học, số 143, tháng 3 năm 1998 đã bày tỏ “Những nhà nghiên cứu phê

bình văn học sau này có thể không đồng ý với nhau về văn chương Mai Thảo và ảnh hưởng thực sự của nhóm Sáng Tạo đối với văn học Miền Nam, nhưng trong sinh hoạt văn hóa của Miền Nam suốt hai mươi năm (1955-1975), không ai có thể phủ nhận được ảnh hưởng lớn lao của Mai Thảo Anh gây thành một phong trào viết óng ả chải chuốt như lối viết của anh, lối viết đó lan sang giới truyền thanh qua những lời giới

Trang 16

bỏ được, làm nhịp cầu giữa ca nhạc và văn chương Anh tạo thành một thế lực văn hóa ảnh hưởng lan rộng qua nhiều ngành, từ văn chương, báo chí, xuất bản, qua ca

số kiểu nhân vật và những tìm tòi nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng Qua

đó cho thấy được giá trị văn chương của một tác giả trong dòng văn học đô thị miền Nam đã bị lãng quên, đồng thời góp phần tìm hiểu chung về văn học miền Nam 1954 -

hiện sinh trên những bình diện cụ thể trong tiểu thuyết ở đô thị miền Nam như bình

diện nội dung tự sự, bình diện phương thức tự sự hoặc có chăng cũng chỉ đề cập một cách riêng lẻ các bình diện trên của một số tác giả cụ thể Có thể thấy rằng đề tài

“Tri ết lý hiện sinh trong tiểu thuyết ở đô thị miền Nam trước 1975” là một đề tài còn

khá mới mẻ

Trên tinh thần tiếp thu những gợi mở của các nhà nghiên cứu đi trước người viết

muốn tìm tòi những dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh biểu hiện trong tiểu thuyết ở đô thị

miền Nam trước 1975 nhằm góp phần nhận diện chung cho nền văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975

3 Ph ạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Như trên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là Triết lý hiện

sinh trong ti ểu thuyết ở đô thị miền Nam trước 1975

Trang 17

b Ph ạm vi tư liệu khảo sát

Trước năm 1975 ở miền Nam Việt Nam nở rộ phong trào nghiên cứu triết học

hiện sinh và văn học hiện sinh phương Tây Đời sống văn học miền Nam cũng có nhiều chuyển biến mới mẻ, các nhà tiểu thuyết với bút lực dồi dào đã cho ra đời hàng

loạt tác phẩm biểu hiện tinh thần hiện sinh mạnh mẽ Tuy nhiên với đề tài này, trong khoảng thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn, chúng tôi xin được nghiên cứu

“khoanh vùng” trong một nhóm tác giả Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Hoàng, Mai

Thảo, Duyên Anh, Chu Tử Sở dĩ chọn năm tác giả này vì những lí do cụ thể theo dựa vào mục đích đưa ra ở trên của luận văn Thứ nhất, Thanh Tâm Tuyền là một nhà tiểu thuyết rất có ý thức trong việc cách tân lối viết, cách tổ chức cốt truyện, cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của mình Đồng thời xoay quanh vấn đề “nhân vị”, Thanh Tâm Tuyền đã xây dựng trong tiểu thuyết của mình những nhân vật có lý tưởng, “dấn thân” vì mục tiêu cao cả nhưng càng hi vọng lại càng nhận lấy thất vọng đau thương,

bế tắc hoặc những nhân vật ngay từ đầu đã nhận ra sự nhàm chán, phi lý của cuộc đời,

cố gắng thoát chạy những lại càng bị “cột chặt” ở cuộc đời đó dẫn đến những cuộc

sống tha hóa cô đơn Thứ hai, chúng tôi chọn tiểu thuyết Nguyễn Thi Hoàng làm đối tượng khảo sát bởi đây là một tác giả nữ với những nhìn nhận những vấn đề của triết

học hiện sinh rất “phụ nữ” Những trăn trở về tình yêu, hiện thực, cuộc sống có phần táo bạo, “nổi loạn”, muốn bứt phá vươn lên khỏi những rào cản định kiến cũ nhằm

khẳng định “cái tôi” hiện sinh, mang đến cho người đọc những đồng cảm, suy ngẫm

Thứ ba, chúng tôi chọn Mai Thảo vì ông viết khá nhiều tác phẩm ở các thể loại, đặc

biệt với tiểu thuyết ông đã có cách nhìn nhận về hiện thực cuộc sống độc đáo, phản ánh được “cơn sóng ngầm” của thời đại và gắn liền với những tư tưởng của chủ nghĩa

hiện sinh Thứ tư, chúng tôi đặt nhà văn Duyên Anh cạnh các tác giả trên vì ở Duyên Anh có “sự nổi loạn”, phản ứng lại với thời cuộc của những con người bất đắc chí bên trong nhưng lại khéo được “che đậy” bởi lối viết nhẹ nhàng, dí dỏm Đó là một phong cách riêng, mới lạ nhưng lại nằm trong xu hướng chung vì thế cần được đặt vào trong

bối cảnh chung để lí giải và khám phá Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu thêm hai tác

phẩm của Chu Tử vì nhà văn có sức sáng tạo dồi dào và có lượng độc giả đông đảo, là

Trang 18

đặc biệt là tác phẩm của ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa hiện sinh, mang màu sắc rất riêng, để lại nhiều ấn tượng cũng như gây ra những phản ứng trái chiều

của độc giả Vì vậy chúng tôi muốn tìm hiều sâu hơn để trả lại giá trị khách quan của tác phẩm cho nhà văn

Ở mỗi tác giả, người viết cũng xin chọn lựa những tác phẩm được coi là tiêu biểu

để khai thác, nghiên cứu Tư liệu khảo sát chính của luận văn là một số tiểu thuyết cụ

thể là: Cát lầy, Mù Khơi của Thanh Tâm Tuyền; Vòng tay học trò, Tuổi Saigon của

Nguyễn Thị Hoàng; Ảo vọng tuổi trẻ, Ngựa chứng nơi sân trường của Duyên Anh,

S ống chỉ một lần, Gần mười bảy tuổi của Mai Thảo, Yêu và Sống của Chu Tử

4 Phương pháp nghiên cứu

Dưới ánh sáng của lý thuyết phê bình hiện sinh và trên cơ sở tiếp cận, phân tích các tác phẩm của các tác giả để làm rõ triết lý hiện sinh trong tiểu thuyết ở đô thị miền Nam trước 1975, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

trong quá trình thực hiện, chúng tôi đã dựa vào đặc điểm về nội dung tư tưởng và phương thức tự sự để triển khai những nội dung của luận văn phù hợp với yêu cầu của

loại hình tiểu thuyết

nghiên cứu trong nhiều hệ thống và có nhiều cấp độ khác nhau đó là đặt tiểu thuyết trong hệ thống sáng tác của tác giả; đặt sáng tác của một tác giả trong hệ thống lớn hơn

là văn học đô thị miền Nam để có thể thấy được mối liên hệ giữa chúng với những tác

phẩm thuộc để loại khác, của dòng văn học khác về nội dung, tư tưởng,…

xét tiểu thuyết là một loại hình của văn học riêng lẻ mà chúng tôi còn vận dụng những

kiến thức tổng hợp về lịch sử, chính trị, văn hóa, tâm lý… liên quan đến ngôn ngữ học,

xã hội học, …

- Ngoài ra để thực hiện những phương pháp này chúng tôi đã sử dụng phối hợp các thao tác như phân tích, tổng hợp, so sánh,…

Trang 19

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn làm rõ Triết lý hiện sinh trong một số tiểu thuyết ở đô thị miền Nam

trước 1975 qua bình diện nội dung tự sự và bình diện phương thức tự sự trong sáng tác

của các nhà văn Đây là một hướng tiếp cận khái quát có khả năng nhìn ra những đặc điểm quan trọng của tiểu thuyết ở đô thị miền Nam trước năm 1975 góp phần tạo

khẳng định vị trí và vai trò chức năng của bộ phận văn học này đối với nền văn học

Việt Nam Đồng thời chúng tôi cũng hi vọng luận văn sẽ là tiền đề để các tác giả sau

có thể đi sâu khám phá triết lý hiện sinh trong từng tác giả cụ thể để chúng ta vừa có cái nhìn toàn diện bao quát vừa thấy được những nét nổi bật từng tác giả thời kì này

nhằm làm hoàn chỉnh một bộ phận văn học ít được đi sâu tìm hiểu

6 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tư liệu tham khảo, mục lục; luận văn cấu tạo gồm

ba chương:

Chương 1: Chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn

h ọc đô thị miền Nam trước 1975

Chúng tôi đi vào tìm hiểu khái quát chủ nghĩa hiện sinh, những tư tưởng chính, sự ảnh hưởng của nó đối với văn học đô thị miền Nam trước 1975 và xu hướng tiếp nhận

chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam trước 1975 để có cái nhìn khái quát và làm nền tảng cho việc triển khai nội dung của các chương sau

Chương 2: Triết lý hiện sinh trong tiểu thuyết ở đô thị miền Nam trước 1975 nhìn

từ bình diện nội dung tự sự

Ở chương này, chúng tôi tiếp cận triết lý hiện sinh ở một số tiểu thuyết ở đô thị

miền Nam nhìn từ bình diện nội dung Trong đó chúng tôi đề cập đến các nội dung chính là khẳng định nhân vị và khát vọng dấn thân; sự biểu hiện của cái tôi bản thể cô đơn; con người tha hóa

Chương 3: Dấu ấn của triết lý hiện sinh trong tiểu thuyết miền Nam trước 1975 nhìn từ bình diện phương thức tự sự

Chương này giải quyết bốn vấn đề trọng tâm đó là phương thức kết cấu, tổ chức

cốt truyện; phương thức xây dựng nhân vật; phương thức kiến tạo diễn ngôn và giọng điệu của tiểu thuyết đô thị miền Nam

Trang 20

Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

TRONG VĂN HỌC ĐÔ THỊ MIỀN NAM TRƯỚC 1975 1.1 S ự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học ra đời vào khoảng những năm đầu

thế kỉ XX sau đó sa vào trạng thái bão hòa và thoái trào vào những năm 60 cùng thế

kỉ Tuy nhiên có thể nói rằng chủ nghĩa hiện sinh từ lúc ra đời không chỉ phát triển

mạnh mẽ ở phương Tây mà những tư tưởng của trào lưu này còn ảnh hưởng sâu rộng

và có sức lan tỏa lớn trên toàn thế giới Ở chủ nghĩa hiện sinh, khuynh hướng phi lý được thể hiện rõ ràng nhất, nó phản ánh tâm trạng bế tắc, hụt hẩng của con người đối

với nền văn minh hiện đại tư sản thế kỉ XX Cho đến tận ngày nay, mỗi khi gặp đúng

“thời cơ” thuận lợi, những tư tưởng này lại được trỗi dậy và chuyển hóa linh hoạt trong những hoàn cảnh cụ thể như những cuộc tái sinh âm ĩ trong đời sống xã hội và văn học

Xét về nguồn gốc của sự ra đời, chủ nghĩa hiện sinh ra đời chính là hệ quả tất yếu

của chiến tranh, cụ thể là Thế chiến I và thế chiến II Chiến tranh đã phơi bày ra trước

mắt con người nhữg thảm cảnh kinh hoàng về số người chết, bị thương Con người lâm vào tình cảnh mất phương hướng mất niềm tin, cảm tưởng như mình chỉ là một

mắc xích vô danh trong guồng máy cai trị của chiến tranh Luật pháp, tôn giáo – nơi con người nương tựa niềm tin cũng trở thành vô nghĩa Con người mất hết niềm tin, nghi ngờ tất cả các giá trị, lâm vào trạng thái chán nản, “buồn nôn” Sau chiến tranh,

cuộc sống con người càng đi vào bế tắc Chiến tranh đã tàn phá đi tất cả những gì con người đã cố công xây dựng trong một thời gian dài kể cả niềm tin vào cuộc sống, thế

giới Cùng với những đổ nát sau chiến tranh đó là sự sụp đổ của thế giới tinh thần con người Tinh thần con người trở nên yếu đuối, lạc lõng, mất niềm tin, chao đảo trước

thế cuộc Ắt hẳn, sự chao đảo trong tâm hồn ấy cũng tạo nên tâm trạng bi quan, tuyệt

vọng và khi một khi một luồng tư tưởng mới ra đời sẽ nhận được sự quan tâm và đón

nhận nồng nhiệt của một bộ phận người nhạy cảm sâu sắc trước hoàn cảnh Họ sẵn

sằng chuẩn bị tâm thế đón nhận những tư tưởng mới nhằm để xoa dịu tâm hồn đang bị

Trang 21

bao phủ bởi những mất mát mà họ phải gánh chịu ở hậu chiến Đó là thời cơ để chủ nghĩa hiện sinh ra đời và phát triển sâu rộng

Ngoài ra, chủ nghĩa hiện sinh ra đời chính là sự phủ nhận và đi ngược lại với chủ nghĩa duy lý – coi con người là một bộ phận, một mắc xích không thể thiếu trong quá trình hiện đại hóa Thành tựu vượt bậc của nền công nghiệp tiên tiến và khoa học công nghệ đã khiến con người mất đi chức năng làm chủ chính mình Mọi vấn đề nhân sinh đều được giải quyết bằng khoa học kỹ thuật Nó coi thành tựu khoa học kĩ thuật là một

lực lượng đa năng, siêu hình có thể thống trị cả thế giới tinh thần của con người Con người chỉ đơn thuần là một dạng “máy móc đặc biệt” không thể thiếu trong quy trình

vận hành của nền công nghiệp hiện đại Chủ nghĩa duy lý đã coi con người không còn

là “con người” như vốn có Nó tước đi của con người thế giới nội tâm bên trong, chiều sâu tâm lý Chính vì thế, chủ nghĩa duy lý đã bộc lộ những mặt trái và từ lâu nó có

những khủng hoảng nghiêm trọng Sự khủng hoảng này là nền tảng cho sự ra đời của

chủ nghĩa hiện sinh Sứ mệnh lớn lao của chủ nghĩa hiện sinh là đòi lại những gì thuộc

về con người, phản ứng lại những tư tưởng lệch lạc của chủ nghĩa duy lý Các triết gia

hiện sinh đã phủ nhận vai trò của khoa học và kĩ thuật bởi nó không đem lại hạnh phúc cho con người mà ngược lại con người trở thành “nô lệ” phục dịch nó Con người không còn làm chủ những hoạt động mang tính sáng tạo cá nhân của bản thân nữa mà

hoạt động theo sự cưỡng bức của máy móc, công nghệ Vì thế con người mất đi tính cá

thể độc lập thể hiện sự độc đáo khác biệt của cá nhân mà đơn giản chỉ là thực hiện một

chức năng nào đó cho xã hội Chính vì vậy, chủ nghĩa hiện sinh đòi hỏi con người phải được trở về bản chất con người với những khát khao về tự do cá nhân, có đời sống nội tâm, thế giới tinh thần phong phú, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc

Bên cạnh hai nền tảng về mặt lịch sử xã hội, chủ nghĩa hiện sinh ra đời cũng là sự

kế thừa những tư tưởng hiện sinh manh nha trước đó Có thể kể đến hai luồng tư tưởng sau: nhóm thứ nhất là nguồn ảnh hưởng bởi tư tưởng triết học của S Kierkegaard, triết

học đời sống của A Schopenhuaer, F Nietzsche, hiện tượng luận E Husserl Nhóm

thứ hai là nguồn ảnh hưởng từ A Augustin, B Pascal, F M Dotstoevsky, F Kafka…Trong đó luồng tư tưởng thứ nhất có sự ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình

Trang 22

thành chủ nghĩa hiện sinh sau này Có rất nhiều những nhà triết học tên tuổi đã góp

phần xây dựng những tư tưởng hoàn thiện của chủ nghĩa hiện sinh

Có thể kể đến tư tưởng hiện sinh của Socrate (470-399 TCN) với phương pháp

dạy học đối thoại Ông cho rằng, con người chính là đối tượng của triết học với những ứng xử mang bản chất con người Tức là ông đã chú trọng chuyển đối tượng của triết

học từ thế giới vũ trụ sang con người

Kierkegaard (1813 - 1855) và F Nietzsche (1844 - 1900) là những nhà triết học

có công sáng lập ra chủ nghĩa hiện sinh mặc dù hoàn toàn đối lập nhau trong quan điểm Chính sự đối lập về tư tưởng này đã dẫn đến việc ra đời của hai nhánh triết học:

Hữu thần (Kierkegaard) và vô thần (Nietzsche) Kierkegaard đã đi sâu phản ánh và có

ý kiến trái chiều với chủ nghĩa duy lí của Hê-ghen Nếu như tư duy khoa học là khách quan thì tư duy hiện sinh của ông gắn liền với thế giới nội tâm độc đáo và đầy phức

tạp của con người Nếu tư duy khoa học không quan tâm đến cá thể đang tư duy hiện sinh thì ông lại quan tâm đến tư duy của mình, nó tồn tại trong tư duy ấy Ông cũng đã lưu tâm đến các khái niệm “lo âu”, “nghi ngờ”, “run sợ” vì ông cho rằng sự tồn tại của con người là bất ổn và khó tránh khỏi cái chết Ông cho rằng có ba giai đoạn hiện sinh:

hiếu mỹ, đạo hạnh và tôn giáo Ở mỗi giai đoạn có những tôn chỉ khác nhau như ở giai đoạn hiếu mỹ đề cao khoái lạc, giai đoạn đạo hành đề cao nhiệm vụ và giai đoạn tôn giáo là giai đoạn phát triển cao nhất của con người Những tư tưởng này của ông đến

tận một thế kỉ sau, vào khoảng 1945 mới bắt đầu xâm nhập và có vị thế mới trong đời

sống tinh thần của con người Ông là người đã chống lại những tư tưởng trước đây coi

trọng vai trò của lý trí trong việc kiểm soát cuộc sống tự do của mỗi cá nhân Ông coi

cuộc songs cá nhân ấy không thuộc quyền kiểm soát và phán xét của lý trí Chính vì

thế “Triết Kierkegaard là triết về đời sống, và là triết để mà sống cho ra người” “đem

con người về với cuộc đời và bản thân mình” tư tưởng triết học của ông “là một suy tưởng sâu xa về cuộc đời vì thế nó mang tên là triết học hiện sinh, triết học về cuộc đời con người” [24]

F Nietzsche – ông tổ của hiện sinh vô thần, người đã kế thừa những tư tưởng hiện sinh của Schopenheaur về giá trị ở tính chủ thể của con người người Theo ông “đời sống là giá trị cao nhất, hiện sinh là giá trị uyên nguyên làm nền tảng cho

Trang 23

các giá trị khác” [11] Ông kêu gọi con người hãy sống vì mình, theo những giá trị của

mình, hãy tự do trong khuôn khổ của bản thân mình chứ không phải vì người khác Con người chỉ chịu dưới quyền của mình, không làm nô lệ cho bất cứ điều gì khác và

phải luôn sáng tạo cho cuộc đời mình Tức là ông đề cao sự “dấn thân” của con người Con người phải có sự vươn lên, không sống hài lòng thỏa mãn trong những ao tù nhạt

nhẽo theo những giá trị có sẵn Với những tư tưởng mới mẻ, ông đã sẵn sàng tạo lập giá trị con người để cho ra đời chủ nghĩa hiện sinh nhân vị

Mặc dù hai ông có những quan điểm chưa thông nhất và có phần đối lập nhau nhưng họ vẫn có những điểm chung xuất phát từ bản chất con người Họ cùng quan tâm đến những trải nghiệm mang tính chủ quan của con người hơn là những tác động khách quan của thế giới bên ngoài Họ đề cao đến những ước muốn khát khao và đi sâu khám phá khả năng đấu tranh của mỗi cá nhân chống lại sự bế tắc nhàm chán của

cuộc sống hiện tại

Bên cạnh Kierkegaard và Nietzsche, Pascal (1623-1662) cũng có những góp góp

quan trọng về mặt tư tưởng cho việc hình thành của chủ nghĩa hiện sinh Pascal tư duy

về con người bất an với tư cách là một cá nhân cụ thể Theo ông “đó là bản chất thực

sự của anh ta Chính nó làm cho ta không có khả năng biết một cách chính xác và không biết hoàn toàn một cái gì Ta bơi lội trên mặt khoảng không mênh mông luôn

được các nhà hiện sinh đi sau kế thừa như Bacon, David Hume, Kant, Hesgel và cả Mác

Tuy nhiên chủ nghĩa hiện sinh kế thừa hầu hết tư tưởng của Hiện tượng luận của

Edmund Husserl (1859 – 1938) Ông cho rằng tất cả sự vật không “che giấu” thứ gì bên trong nó, nó là chính nó và khi tiếp cận đối tượng cần mô tả chúng như chúng đã

xuất hiện trước ý thức chứ không được dùng ý thức để suy diễn, mô tả lại theo ý kiến

chủ quan đã qua sự pha tạp và sự chi phối của các yếu tố khách quan đối với ý thức mà hình thành Nghĩa là chỉ nhận thức cái bản chất mà con người đã ý thức về sự vật Chính tư tưởng này mà E Husserl được coi là người đặt nền móng lý luận cho chủ nghĩa hiện sinh Tuy nhiên, E Husserl chỉ nhấn mạnh những hiện tượng của ý thức và cái tôi đơn thuần mà chưa quan tâm đến cái tôi cụ thể, cái tôi kinh nghiệm… nên quan

Trang 24

niệm của ông còn nhuốm màu sắc chủ quan Vì vậy giai đoạn hiện tượng luận này cũng mau chóng chấm dứt nhường chỗ cho những tư tưởng mới của giai đoạn hiện tượng luận thứ hai ra đời Đó là chủ nghĩa hiện sinh từ cuối những năm hai mươi đến

cuối những năm năm mươi bắt đầu và nở rộ ở nước Pháp

Nói tóm lại, chủ nghĩa hiện sinh ra đời dựa trên nền tảng của sự thay đổi nhanh chóng của lịch sử xã hội, nhận thức và tư tưởng Từ những mảnh tư tưởng hiện sinh có trước của các nhà triết học vĩ đại, tư tưởng chủ đạo của nó là cổ vũ cho những gì thuộc

về con người, về thế giới tinh thần thấm đẫm chất nhân văn, sự hiện hữu của mỗi cá nhân đối lập với chủ nghĩa duy lí Đến thế kỉ XX chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành một trào lưu có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống xã hội của hầu hết các quốc gia trên

thế giới

1.2 Những tư tưởng chính của Chủ nghĩa hiện sinh

1.2.1 Vấn đề “nhân vị” – vấn đề trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh là sự hội tụ của nhiều gương mặt những nhà triết học lớn thuộc hai nhánh hữu thần (Karl Jaspers, Gabriel Marcel…) và vô thần (Martin Heidegger, Jean Paul Sartre…) Ở họ có nhiều điểm khác biệt nhau nhưng ở họ đều đề

cập đến những vấn đề cơ bản nhất: con người như một nhân vị Tức là triết học hiện sinh là triết học về con người, hướng tới con người, tới sự hiện hữu của mỗi cá nhân Trái ngược với những triết gia cổ điển, họ quan tâm đến việc tìm kiếm ý nghĩa lớn lao

của vũ trụ mà đánh mất sự tồn tại của con người Vấn đề trung tâm và thiết yếu mà chủ nghĩa hiện sinh hướng đến là con người nhưng đó không phải con người chung chung mang tính phổ quát, con người viết hoa của Aristot, mà là con người như một nhân vị,

là một cá thể độc lập phân biệt với các cá nhân con người khác trong xã hội, không

phải là con người vô danh Đề cao chủ thể tính, chủ nghĩa hiện sinh quan niệm con người khác loài vật bởi điểm khác nhau cơ bản là con người tự ý thức về sự tồn tại

hiện sinh của mình, có cuộc sống nội tâm và ý thức về thân phận mình trong thế giới

hiện tại Con người hiện sinh luôn hoạt động, không ép mình vào khuôn mẫu có sẵn, hành động có ý thức và theo ý nguyện chủ quan Tất cả những gì họ nhận thức được đều xuất phát từ họ, do họ chứ không phải do một đấng tối cao là Thượng đế hay thần linh ban phát, sắp đặt Và để được hiện sinh, con người luôn tham vọng và hương tới

Trang 25

cái mà người ta muốn trở thành Nếu không sẽ đứng tại chỗ, sẽ đánh mất, sẽ bỏ cuộc, không còn hiện sinh nữa “Nhân vị của con người chính là hiện sinh của nó, mang bộ

mặt riêng biệt, đặc thù, xa lạ với mọi tính cách phổ quát Chủ nghĩa hiện sinh chỉ quan tâm đến cái gì hiện sinh, hay nói cách khác về sự hiện sinh của cái gì hiện sinh, mà

hiện sinh chỉ có ở con người, không có ở bất cứ vật nào” [41]

Theo các nhà hiện sinh, vấn đề “nhân vị” bao giờ cũng gắn liền với “tự do” Tự

do ở đây không theo nghĩa là tự do chính trị, xã hội mà là tự do hiện sinh Con người hành động và ý thức hành động đó là phục vụ cho chính cuộc đời mình, thể hiện ý nghĩa sự tồn tại của mình chứ không vì sự tồn tại của một mục đích thiêng liêng tối

cao nào khác “T ự do” còn là chọn lấy một lối sống riêng, dám là mình, không rập

khuôn người khác và cũng không chịu sự áp bức theo khuôn khổ của người khác Đó

là việc ý thức được sự tồn tại của mình là sự tồn tại của một cái tôi cá biệt, không trùng lặp với bất cứ cái tôi nào khác Sự hiện sinh ấy không phải do Trời ban phát mà

do việc lựa chọn cách tồn tại, sự vươn lên cái bình thường để tạo nên vị thế của riêng mình Sự tự lựa chọn đó của con người cũng là một giá trị hiện sinh tạo nên một “nhân

Bàn về vấn đề “nhân vị”, Trần Thái Đỉnh đã cho rằng: “Đề tài duy nhất của triết

hiện sinh là con người tại thế, con người cá vị với những điều kiện sinh hoạt nhất định

và định mệnh độc đáo của mỗi người Rồi con người hiện sinh, tức nhân vị đó, được

duy nhất ý thức về sự tồn tại của mình cho nên con người là thế giới thu nhỏ, không

phải là một thành phần vũ trụ như những thành phần khác Chính vì thế, khi tồn tại con người luôn nỗ lực khẳng định nhân vị, tự tạo ra ý nghĩa cuộc sống cho chính mình Theo Trần Thái Đỉnh “Cuộc đời của đa số người ta đều mang vẻ tầm thường, buồn

nôn; cuộc đời đó là một phóng thể; vì thế, cần thiết chúng ta phải tỉnh ngộ, ý thức cao quý về nhân vị của mình, do đó sinh ra ưu tư Tuy nhiên sống vươn lên, vươn lên mãi,

đó, tôi không thể ỷ lại vào người bên cạnh, lấy họ làm khuôn mẫu, tôi không được làm

Trang 26

Chính vì con người phải tự gánh vác cho số phận chính mình nên con người hiện sinh không chỉ là một nhân vị tư do độc đáo mà còn là con người cô đơn, lo âu trước những

giới hạn Họ luôn phải đối mặt với cuộc sống nhàm chán, bế tắc, vô nghĩa và cả với sự tha hóa: “Nó hành động như một cái máy không hồn, nó đánh mất nhân vị của mình,

ăn theo tư tưởng của người khác, của một tập đoàn nào đấy không dứt ra được Tha hóa bám vào con người như một tội tổ tông” [48, tr.107]

Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, con người vẫn tồn tại va có mối quan hệ tác động qua lại với những cá thể khác xung quanh Đó là một cộng đồng nhân vị gồm nhiều

tồn tại cá nhân con người, không phải là thế giới tồn tại hỗn tạp của những đồ vật mang sứ mệnh giống nhau Những cá thể tồn tại trong mối tương quan, tác động với cái tôi cá thể ấy, chủ nghĩa hiện sinh gọi là tha nhân Từ đó nãy sinh phạm trù “Nhập

cuộc” Nhập cuộc là hành động, thực hiện hành vi mang tính sáng tạo có quan hệ với người xung quanh Chủ nghĩa hiện sinh đề cao lối nhập cuộc đầy lo âu nhưng cũng đầy trách nhiệm đối lập với những cử chỉ lặp lại một cách nhạt nhẽo, vô vị

Chính vì sự đòi hỏi sự tồn tại của một nhân vị tự do để trở thành bản ngã độc đáo nên con người cần phải dấn thân hành động Sự dấn thân đầy ý thức và trăn trở của con người với cuộc sống đã trở thành đồi tượng trung tâm của triết học hiện sinh

1.2.2 Những phạm trù xoay quanh vấn đề “nhân vị”

Xoay quanh vấn đề “nhân vị”, chủ nghĩa hiện sinh thể hiện những phạm trù tư tưởng chủ yếu nhằm làm rõ hơn vấn đề về con người

Thư nhất, Sự bất lực của lí trí

Sự bất lực của lí trí này của chủ nghĩa hiện sinh thực chất là không thể dùng lí trí

để nhận thức đầy đủ về sự tồn tại của con người bởi con người là một thực thể linh hoạt, luôn luôn vận động và sáng tạo trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Trong khi đó, các nhà triết học đi trước như Platon, Hêghen đã đề cao quá mức vai trò của lí trí, lấy lí trí làm phương tiện, công cụ, là tiêu chuẩn để giải thích, đánh giá cuộc sống và thế giới Các nhà hiện sinh đã chống lại quan niệm đó của triết học lí tính Họ cho rằng tồn tại của con người không chỉ là tồn tại khách quan như cái gì vốn có mà tồn tại con người còn là tồn tại chủ quan Con người là chủ thể của nhận thức Bởi ngoài lí trí con người còn có đời sống tình cảm vô cùng phong phú và phức tạp mà ngay cả lí trí cũng

Trang 27

khó giải thích được Vì thế quan điểm của Pascal cho rằng con tim có những lý lẽ mà lí trí không thể hiểu nổi đã trở thành một trong những tư tưởng chính của chủ nghĩa hiện sinh Con người không phải chỉ là một sinh vật có lý trí mà con người còn có cả một thế giới tinh thần, tình cảm sâu kín đầy tính nhân văn

Thứ hai, Sự siêu việt của con người

Một trong những nhân tố làm nên sự tồn tại của con người là sự “vượt lên trước” Trong cuộc sống, con người không ngừng vươn lên, không dừng lại một phút giây ngắn ngủi nào Con người luôn luôn sáng tạo để lập nên những giá trị, phải có cái gì để vượt qua “Con người là cái mà nó không là”, luôn dự tính, dự định cho bản thân, không đứng yên mà luôn vươn mình lên phía trước Đó là con người của hiện sinh, sự vươn lên của hiện sinh, không chấp nhận sự “tồn tại” đơn thuần mà phải là “tồn tại” hiện sinh Chính điểm này là cơ sở để phân biệt giữa sự vật và con người Sự vật là bất động, là tồn tại, chỉ là nó còn con người là tồn tại vì nó, biến hóa linh hoạt Nếu con người không tự vươn lên mà bất động, ù lì thì cũng chỉ là sự vật nhàm chán

Thứ ba, Sự tha hóa

Chủ đề này được đề cập khá nhiều trong chủ nghĩa hiện sinh Tha hóa là tình trạng con người đánh mất chính mình trong sự tồn tại Đó là tình trạng tồn tại không hiện sinh Tồn tại không hiện sinh là tồn tại của con người bị phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội Con người hòa đồng, hòa nhập với những người khác, mất đi khả năng tồn tại đích thực Trong sự tồn tại không đích thực ấy, người này hoàn toàn có thể thay thế người khác Như vậy cá nhân bị mất đi, chỉ còn lại “người ta” mang tính chất “bình quân” Tình trang bình quân làm cho những riêng biệt của con người không còn lí do để tồn tại Con người sẽ trở thành những khuôn mẫu giống nhau, không ai còn có những thứ riêng tư, cá biệt

Thứ tư, Cái chết

Cái chết đã trở thành một phạm trù quan trọng của chủ nghĩa hiện sinh Các nhà hiện sinh nhận thấy chết không phải là hết mà nó còn mang lại một ý nghĩa cho cuộc sống Đó là sự cảm nhận được tính hữu hạn của sự tồn tại của con người Cái chết mang vẻ đẹp tối cao vì nó có khả năng giải thoát con người khỏi những vướng mắc Cái chết không là một tai nạn bên ngoài đến với con người, nó là một sự cố, là đặc

Trang 28

quyền sở hữu của riêng cá nhân cụ thể, hiện diện cụ thể, thường trực, bất cứ lúc nào cũng có thể đến Vậy nên các nhà hiện sinh cho rằng không thể có một cuộc đời hoàn tất, không có một dự định hoàn thành nào gắn liền với sự tồn tại của con người Cuộc đời con người hiện sinh là một công trình luôn bị dang dở Con người không bao giờ là chủ của chính mình Vì vậy việc chạy trốn cái chết là một trong những biểu hiện của

sự tha hóa Con người cần phải chấp nhận nó như một cơ cấu nội tại của hiện sinh Chấp nhận nó tức là con người chấp nhận sự tồn tại của con người là sự tồn tại hữu hạn Khi nhận thức được điều này con người sẽ để cho mình sống tự do là chính mình, được hành động theo ý muốn của chính mình bất chấp những hậu quả Đó là biểu hiện cao nhất của sự tồn tại hiện sinh

Thứ năm, Độc đáo

Đây là chủ đề đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh Trần Thái Đỉnh cho rằng: “đây là

điểm quan trọng nhất và đặc sắc nhất của triết học hiện sinh” [48, tr.51] Chủ nghĩa

hiện sinh cho rằng, con người tồn tại là một sự độc đáo, không vô danh, vô nghĩa Mỗi con người đều có những khả năng riêng, có một thế giới tinh thần riêng, có những quan niệm, suy nghĩ, hành động riêng, không có chuẩn mực nào chi phối cái riêng đó Con người tồn tại không độc đáo là con người bị sa vào sự tha hóa

Thứ bảy, Tha nhân

Là một trong những chủ đề có ý nghĩa đặc biệt của chủ nghĩa hiện sinh Ở phạm trù này, ngay ở những nhà hiện sinh cũng có những quan niệm đối lập nhau Một bên cho rằng cần chủ trương đề cao sự cảm thông, chia sẻ với tha nhân Một bên lại cho rằng giữa cái tôi và tha nhân có sự tranh chấp Lí do để có sự đối lập này là ở chỗ, hiện sinh tồn tại có ý thức về cuộc sống của chính mình, tự chịu trách nhiệm cho số phận,

Trang 29

cuộc đời mình Vì vậy “tôi” là chủ thể của sự tồn tại ấy và “tôi” có quyền phán xét vạn vật, kể cả “tha nhân” (những người khác) Chính vì ý thức được “tôi là chủ thể” nên con người ý thức được “tha nhân” cũng là chủ thể như chính tôi Tha nhân là khác tôi đồng thời cũng là một sự tồn tại mang cá tính khác, số phận khác Sự khác biệt đó tôi không có được Tha nhân bổ sung làm phong phú thêm cho tôi Tôi và tha nhân gặp

gỡ, đồng cảm, bổ khuyết cho nhau hình thành mối quan hệ “tương chủ tính” Mặt khác, quan niệm đối lập lại cho rằng tôi và tha nhân có sự tranh chấp bởi trong mối quan hệ với mọi vật xung quanh tôi đóng vai trò là trung tâm Nếu tha nhân cũng là sự tồn tại mang tính chủ thể thì trung tâm không còn tôi mà chuyển thành tha nhân Tôi bị biến thành đối tượng trong nhận thức của tha nhân Do đó tôi và tha nhân là hai kẻ mãi tranh chấp nhau để giành vị trí trong cái nhìn nhận thức và nhất định giữa tôi và tha nhân không có cái nhìn cảm thông, chia sẻ Hai cách nhìn nhận trên của các nhà hiện sinh có thể cho ta thấy rằng giữa con người và tha nhân không tồn tại mối quan hệ sẵn

có mà còn phụ thuộc vào môi trường, điều kiện xã hội, lịch sử, thời đại Sự thông cảm hay tranh chấp giữa tôi và tha nhân cũng là ranh giới mong manh khó lí giải được Thứ tám, Buồn nôn

Là thái độ triết học của con người trước sự phi lí của cuộc đời Họ cảm thấy khó chịu, ngạt thở trước trạng thái ù lì, thụ động, tồn tại trong những khuôn khổ, những giá trị có sẵm, không sáng tạo vươn lên của con người Con người chấp nhận đánh mất đi

cá thể độc đáo của mình, biến mình thành một sự vật chung lẫn với những sự vật tồn tại khác Đó là cuộc sống nhàm chán, vô vị, vô ý thức, vô lý tưởng Điều này làm cho các nhà hiện sinh “buồn nôn” Họ không chấp nhận con người tự xa rời và tước bỏ

“nhân vị” độc đáo của mình

Ngoài những phạm trù trên, chủ nghĩa hiện sinh còn nhiều đề tài khác liên quan

chặt chẽ đến vấn đề trung tâm “nhân vị”

Như vậy, dù mỗi nhà hiện sinh đều có cách lí giải của riêng mình có khi đồng quan điểm, có khi đối lập nhau nhưng cuối cùng đều đem lại cho trào lưu triết học này một

hệ thống phạm trù xoay quanh phạm trù trung tâm là “nhân vị”, làm cho nó càng trở

nên phong phú và độc đáo hơn

Trang 30

1.3 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với văn hóa, văn học miền Nam trước

1975

1.3.1 Bối cảnh xã hội miền Nam trước 1975

Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết vào tháng 7 năm 1954 đã chia cắt đất nước ta thành hai miền Nam – Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới Hai bên bờ vĩ tuyến là hai

thể chế chính trị khác nhau Từ vĩ tuyến 17 trở ra là miền Bắc – nhà nước cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam độc lập đang tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh Từ vĩ tuyến 17 trở vào là miền Nam – chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Đình Diệm đứng đầu, dưới sự hỗ trợ của Hoa Kỳ về kinh tế lẫn chính trị Trên thực tế,

ở miền Nam, chiến tranh vẫn còn diễn ra dai dẳng khi đế quốc Mỹ bành trướng thế

lực, dùng chiến tranh để đàn áp và tiêu diệt cách mạng nước ta Vì vậy, chúng ta buộc

tiến hành cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa nước ta tiến lên theo con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhà nước đã vạch ra từ trước Trong

buổi đầu, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã cố gắng có những cải cách để vực dậy

nền kinh tế miền Nam, biến miền Nam thành một quốc gia tự chủ Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế không có cơ sở hoạch định khoa học và mang tính chủ quan dưới sự thúc ép của Mỹ đã đem lại sự thất bại Thực chất của “cuộc cải cách điền địa” mà Ngô Đình Diệm đưa ra là cướp lại ruộng đất của nông dân trao trả cho địa chủ nhằm khôi

phục lại giai cấp địa chủ phong kiến ở nông thôn Hậu quả của hành động này dẫn tới

nền kinh tế miền Nam mất cân đối, ngày càng sa sút, bế tắc Nền kinh tế ngày càng

phụ thuộc vào sự viện trợ của Mỹ, cơ cấu giai cấp trong xã hội có sự phân hóa sâu sắc Chính sách dồn dân lập ấp chiến lược đã khiến cho nhiều nông dân phải bỏ đất đai trôi

dạt về các thành phố lớn trở thành những người nghèo sống và làm việc trong hoàn

cảnh hết sức đáng thương, tội nghiệp Trên bề nổi, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã làm cho miền Nam Việt Nam có những năm tháng ổn định, tuy nhiên ở bề sâu đang

diễn ra tâm lý chống đối gay gắt với những chủ trương chính sách mà chính quyền này ban bố Về lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, chính trị, năm 1956 Ngô Đình Diệm đưa ra điều khoản đặt chủ nghĩa cộng sản ngoài vòng pháp luật Từ đó, chúng đã thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố dã man đối với nhân dân miền Nam, đặc biệt là những

Trang 31

người cộng sản yêu nước Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã thành lập chiến dịch

“tố cộng, diệt cộng”, lê máy chém khắp miền Nam với khẩu hiệu “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót” Mâu thuẫn càng căng thẳng khi Ngô Đình Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản vào tháng 5/1963 Hành động này đã châm ngòi cho ngọn

lửa đấu tranh bùng phát mạnh mẽ ở đô thị miền Nam sau đó truyền lan nhanh chóng đến các tỉnh thành khác trong cả nước Cao trào cho hoạt động phản kháng này là sự

kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt Phong trào đấu tranh không chỉ dừng lại ở phạm vi các tín đồ Phật giáo mà còn lan rộng đến với các tầng lớp nhân dân trong đó đặc biệt chú ý đến giới trí thức trẻ,

học sinh sinh viên ở các trường đại học Từ năm 1963 trở đi, tình hình chính trị miền Nam diễn biến phức tạp với sự gia tăng về số lượng và quy mô các cuộc biểu tình phản đối chính quyền Việt Nam Cộng Hòa Nhằm lập lại trật tự ở miền Nam, buộc Mỹ thực

hiện cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm 11/1963 Dương Văn Minh lật đổ Ngô Đình Diệm, sau đó có sự thay đổi liên tục về thể chế chính trị, tạo nên sự bất ổn toàn

diện của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa Điều này càng khiến cho phong trào đấu tranh càng dâng cao mạnh mẽ hơn bao giờ hết Làn sóng cách mạng dâng cao ồ ạt của nhân dân miền Nam với khẩu hiệu kêu gọi hòa bình, phản đối chiến tranh tạo tiền đề cho sự ra đời của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam vào 6/1969, từ đó làm cơ sở cho những vận động lịch sử tiếp theo như kết kết Hiệp định Paris năm 1973 và thống nhất đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975

Nhìn chung, xã hội miền Nam trong những năm 1975 lâm vào hoàn cảnh xáo trộn,

bi đát, đầy nước mắt, đau thương Sống trong hoàn cảnh bế tắc cùng cực đến thế, con người không tránh khỏi chán nản, bi quan, mất niềm tin và phương hướng vào cuộc đời Chủ nghĩa hiện sinh đã đến đúng thời điểm Nó đề cập đến những vấn đề về cuộc

sống nhân sinh, về số phận con người, sự lựa chọn con đường sống, sự dấn thân và trách nhiệm của mỗi con người đối với sự tồn tại của mình và của tha nhân Chủ nghĩa

hiện sinh đã bắt gặp những tâm trạng bế tắc, tuyệt vọng và ở đó nó đã có những tư tưởng phù hợp, xoa dịu những nỗi trăn trở, tuyệt vọng, không lối thoát của con người

Vì vậy người ta đón nhận những tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh một các nồng nhiệt,

Trang 32

coi đó như một làn gió mới, xua đi sự tăm tối, ngột ngạt, bức bách của xã hội đương

thời

1.3.2 Quá trình du nhập của chủ nghĩa hiện sinh vào miền Nam trước 1975

Theo các nhà nghiên cứu, họ cho rằng ở miền Nam trước 1975 có ít nhất năm con đường du nhập chủ nghĩa hiện sinh vào miền Nam Việt Nam Có thể kể: nguồn thứ

nhất là các giáo sư công giáo và linh mục như Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Nguyên Sa, Lê Tuyên…; nguồn thứ hai là các giáo sư theo đạo Phật như Lê Tôn Nghiêm, Phạm Công Thiện, Thích Đức Nhuận…; nguồn thứ ba là các tạp chí, văn nghệ sĩ như Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Thế Uyên, Thanh Tâm Tuyền, Mai

Thảo…; nguồn thứ tư là chương trình triết học ở trung học và đại học chủ yếu là lập trường của các nhà tôn giáo thần học trong đó có những tác giả của nguồn thứ nhất như Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh; nguồn thứ năm là qua dịch thuật, biên khảo

giới thiệu của Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh

Quá trình du nhập của chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam trước 1975 có thể chia thành hai giai đoạn là trước năm 1964 và sau năm 1964, lấy mốc thời gian là sự kiện 1/11/1963 – thời gian xảy ra cuộc đảo chính lật đổ chế độ Diệm- Nhu

Trước năm 1964, chủ nghĩa hiện sinh chủ yếu được giới thiệu thông qua con đường thứ nhất do các nhà hiện sinh Thiên chúa giáo trình bày Bởi dưới sự lãnh đạo

của Ngô Đình Diệm, Thiên chúa giáo được đề cao và Ngô Đình Diệm muốn biến Thiên Chúa giáo thành “quốc giáo” nên thực hiện chính sách ưu đãi cả về vật chất lẫn tinh thần đối với tôn giáo này Vì vậy, việc phổ biến chủ nghĩa hiện sinh hữu thần ít nhiều cũng mang màu sắc thiên vị, không khách quan và nhằm hỗ trợ cho chủ nghĩa nhân vị của Ngô Đình Diệm Từ năm 1956, khi Nguyễn Văn Trung cho ra đời cuốn

“Tri ết học tổng quát” thì chủ nghĩa hiện sinh đã hiện diện rộng rãi trong đời sống

sinh hoạt tinh thần, tư tưởng của người dân miền Nam Trong cuốn này, Nguyễn Văn Trung đã trình bày các khuynh hướng của chủ nghĩa hiện sinh Tuy nhiên các vấn đề được Nguyễn Văn Trung đưa ra làm cho người đọc hiểu nhầm rằng chỉ có duy nhất

chủ nghĩa hiện sinh mới là triết học của hiện đại vì chỉ có nó mới đề cập đến vấn đề con người Năm 1957, tạp chí “Sáng tạo”, “Đại học”, “Bách khoa” đã xuất hiện một số bài viết giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh thông qua các tác phẩm văn chương Chủ yếu

Trang 33

các bài viết ngày đã tán dương, khen ngợi chủ nghĩa hiện sinh bằng những cụm từ hoa

mĩ như “hiện đại”, “nhân bản”, “triết học con người”, “triết học nhập thể”…tạo sự chú

ý và cái nhìn thiện cảm của xã hội đối với chủ nghĩa hiện sinh Tháng 5/1958, trên tạp

chí Đại học, số 2, Nguyễn Văn Trung cho đăng bài Vấn đề giải thoát con người trong Ph ật giáo và tư tưởng J.P.Sautre Bài viết đã cho rằng, giữa quan điểm của

Phật giáo và tư tưởng hiện đại Phương Tây có những nét tương đồng Đó là đều công

nhận con người là tự do nhưng cách giải quyết của hai quan điểm trên là khác biệt

Phật giáo cho rằng con người ngộ đạo sẽ thực hiện việc siêu thoát, tịnh độ trong cái nhìn lạc quan, còn quan điểm của tư tưởng Xac-tơ-rơ con người càng cố gắng giải thoát thì càng nhận thực được số phận bi đát của chính mình vì vậy con người thất bại trong cuộc truy tìm bản thể Tháng 11/1960, tạp chí Đại học số 18 đã trình bày chuyên

đề giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh với những đại diện tiêu biểu và tư tưởng chính của

từng tác giả Có thể kể đến các bài như Vấn đề con người trong tư tưởng Karl Jaspers c ủa Lê Tôn Nghiêm; V ị trí của trào lưu hiện sinh của Trần Văn Toàn; Gabriel Marcel hay con người là một huyền nhiệm của Thần Văn Tường…Trong

các bài viết, các tác giả đã đề cao chủ nghĩa hiện sinh, chế bai, bài bác chủ nghĩa vô

thần, coi việc vô tín hay thiếu tín ngưỡng là nguyên do khiến cho con người cũng như

mọi sinh vật khác Tháng 10/1961, trong số 114, tạp chí Bách khoa mở chuyên mục

“giới thiệu những trào lưu tư tưởng mới”, với số lượng phát hành đều đặn (hai số mỗi tháng) đã giới thiệu khá chi tiết và cụ thể những đề tài tư tưởng chính của hai nhánh (vô thân và hữu thần) của chủ nghĩa hiện sinh Tuy nhiên, dù sao đây cũng là những bài nghiên cứu của những nhà trí thức công giáo nên ít nhiều chủ nghĩa hiện sinh cũng

có cái nhìn thiên vị đối với chủ nghĩa hiện sinh hữu thần Cũng trong khoảng thời gian này, Trần Thái Đỉnh cũng cho ra đời cuốn “Triết học nhập môn” trình bày đối tượng,

đặc điểm, nguồn gốc và những vấn đề đặt ra của triết học theo quan điểm hiện sinh của Giaxpe và Macxen Đây được coi là cuốn sách quan trọng trong số các sách báo viết

về hiện sinh thời kì này Vì vậy, đối với những người chỉ được làm quen với triết học

hiện sinh sẽ dễ nhận thức sai lầm và “thần thánh hóa” chủ nghĩa hiện sinh, coi nó là triết học duy nhất có ích cho cuộc sống con người

Trang 34

Giai đoạn thứ hai (sau 1964) với cuộc đảo chính chính quyền Ngô Đình Diệm, tình hình chính trị, xã hội có những thay đổi sâu sắc Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa hiện sinh như nảy nở nhanh chóng như mảnh ruộng vừa đến thời kì khô hạn lại gặp mưa rào Môi trường thuận lợi của xã hội đã khiến củ nghĩa hiện sinh lan tràn vào mọi ngóc ngách đời sống con người Ở giai đoạn này tất cả những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh đều được thể hiện rõ nét từ văn chương thơ ca, tiểu thuyết đến dịch thuật, phê bình với những từ ngữ đầy màu sắc hiện sinh với những nội dung phản ánh cũng phong phú, đa dạng phục vụ nhu cầu của xã hội Chính vì vậy, có thể nói rằng, chủ nghĩa hiện sinh đã có những ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, quan điểm và lối sống của người dân miền Nam thời kì này Sau sự kiện đấu tranh của Phật tử Phật giáo tháng 11

năm 1963, vai trò của Phật giáo lên ngôi Năm 1967, Tạp chí Tư tưởng, đại học Vạn

Hạnh - nơi quy tụ nhiều trí thức Phật giáo được thành lập Tạp chí Tư tưởng đã dành nhiều số bàn về chủ nghĩa hiện sinh So với các tạp chí trước đây thường trình bày các

vấn đề của chủ nghĩa hiện sinh một các hệ thống và chi tiết thì tạp chí Tư tưởng tập trung vận dụng những nội dung của chủ nghĩa hiện sinh để bàn về vấn đề của chính

bản thân mình, của xã hội hiện thời Đặc biệt nhằm mục đích đề cao Phật giáo

Nhìn chung, chủ nghĩa hiện sinh ở giai đoạn sau năm 1964 lâm vào tình trạng lộn

xộn và xô bồ Các tác phẩm văn chương chứa đựng những từ ngữ hiện sinh xuất hiện ngày càng nhiều Tuy nhiên việc lạm dụng chủ nghĩa hiện sinh từ cách hiểu lệch lạc, khi thì sùng bái quá mức khi thì lên án chỉ trích không đúng với tinh thần ban đầu của triết học này gây nhiễu loạn đời sống văn học ở miền Nam Chủ nghĩa hiện sinh bị bóp méo và bị đồng hóa với tất cả những gì xấu xa, ghê gớm, phế thải của đời sống xã hội như bi quan, sa đọa, trụy lạc, phóng túng, sống hôm nay không nghĩ đến ngày mai, vô luân, loạn luân,…Vì thế, đôi khi người ta nhắc đến hiện sinh là nhắc đến thứ văn chương tối tăm, u buồn, bế tắc, chán nản, xa rời thực tế với thái độ mỉa mai, khinh bỉ

và có phần xa lánh Để góp phần cải thiện tình hình, một số nhà xuất bản đã dịch và cho in lại những sách về chủ nghĩa hiện sinh của các tác giả phương Tây nhưng lại càng làm người đoc thêm rối hơn vì những thuật ngữ chuyên môn cao siêu, khó hiểu

Về sau, người ta tập hợp những bài viết trên tạp chí Bách Khoa của Trần Thái Đỉnh và

in thành cuốn “Tri ết học hiện sinh” với cách trình bày dễ hiểu, nhẹ nhàng hơn cho

Trang 35

những ai muốn tìm hiểu về triết học này Năm 1969, Lê Thành Trị xuất bản cuốn

“Hi ện tượng luận về hiện sinh” nhằm mục đích đưa triết học hiện sinh từ trừu tượng,

khó gần gũi thành những gì giản dị, gần gũi thuộc về đời sống con người hơn và hứa

hẹn sẽ cho ra đời cuốn thứ 2 Tuy nhiên, sau cuộc tổng tiến công năm Mậu Thân 1968

chế độ của Mỹ và tay sai ở miền Nam bị lung lay phần nhiều cùng với những thất bại

ở chiến trường khiến Mỹ phải khiên cưỡng kí Hiệp định Paris và rút quân về nước

Tiếp theo, cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 của quân đội ta đã quét sạch hoàn toàn bọn tay sai miền Nam, giải phóng miền Nam thống nhất toàn vẹn đất nước Sự

kiện này cũng là dấu chấm chấm dứt sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam trong suốt 20 năm giai đoạn 1954- 1975

1.4 Xu hướng tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở đô thị miền Nam trước 1975

1.4.1 Tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở đô thị miền Nam trước

1975 trên bình diện sáng tác

Chủ nghĩa hiện sinh từ lúc thâm nhập và phát triển ở những năm 60 của thể kỉ XX

đã có những ảnh hưởng lớn đối với văn học giai đoạn này Các nhà văn, nhà thơ sống trong bầu không khí được bao trùm bởi chủ nghĩa hiện sinh Nhu cầu được tiếp nhận các tác phẩm văn chương hiện sinh của người dân thành thị ngày càng cao càng thúc đẩy sức sáng tạo của những nhà cầm bút Phần lớn họ đều có ý thức đưa triết học hiện sinh vào những sáng tác của mình Có thể nói rằng chủ nghĩa hiện sinh lan tỏa khắp

những trang viết của các tác giả trên cả hai bình diện nội dung và hình thức

Về mặt hình thức, dễ dàng nhận thấy các tác phẩm văn học thể hiện triết lý hiện sinh đều có nhan đề rất “hiện sinh” Người đọc cũng cảm nhận được sự buồn thảm, phi

lý, hư vô, tuyệt vọng, đôi khi mang chút sắc màu ma mị, huyền ảo, khó lý giải toát ra

từ các nhan đền tác phẩm tiêu biểu như: Bóng tối cuối cùng, Thung lũng hư vô,

Ti ếng chuông gọi người tình trở về, Tình yêu địa ngục, Ngày qua bóng tối (Nguyễn

Thị Hoàng); Tôi nhìn tôi trên vách, Biển điên, Những sợi sắc không (Túy Hồng);

Sống một ngày, Cô Hippy lạc loài, Đêm nghe tiếng đại bác (Nhã Ca); Sa mạc tuổi trẻ,

Ảo vọng tuổi trẻ, Điệu ru nước mắt (Duyên Anh); Cát lầy, Mù khơi (Thanh Tâm

Tuyền); Sống chỉ một lần, Bên lề giấc mộng, Chìm vào lãng quên (Mai Thảo)…

Trang 36

Về mặt nội dung, dù trực tiếp hay gián tiếp các tác giả đều cố gắng đưa ra những suy tư chiêm nghiệm thấm đẫm tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh qua những câu văn,

lời nói, những phát ngôn của nhân vật Đời sống con người luôn trong tình trạng bức bách, cái chết như một ám ảnh thường trực Họ có cái nhìn bi quanm đau khổ về kiếp nhân sinh Họ không thể lí giải cũng như không thể tìm thấy câu trả lời đích thực cho

cuộc đời của bản thân mình Con người càng ý thức được sự phi lý của cuộc đời lại càng hoàn toàn mất phương hướng Họ hiện hữu nhưng sự hiện hữu đó là sự hiện hữu

cô đơn, chỉ có mình đối diện với chính mình, gặm nhấm nỗi cô độc, nếm trải bi kịch thân phận như Trâm trong “Vòng tay học trò” của Nguyễn Thị Hoàng Trâm là một

phụ nữ đầy cá tính và giàu tình yêu thương những dường nhưng tình yêu đối với nàng

là xa xỉ Nàng yêu say đắm, mở lòng đón nhận yêu thương nhưng cái mà nàng nhận

lấy lại là sự ám ảnh của chia lìa và nước mắt Vì thế nàng từ chối yêu thương, chấp

nhận sống khép mình với thế giới bên ngoài và trong sâu thẳm nàng muốn kháng cự

lại với những giá trị như “thành lũy hư vô” mà cuộc sống giả tạo của “tha nhân” mang

lại Để rồi, khi trái tim nàng rung động với Minh - cậu học trò trọ học nhà nàng thì nàng lại yếu đuối từ bỏ, chấp nhận thu mình nhận lấy cô đơn vây quanh Hay trong

tiểu thuyết của Thanh Tâm Tuyền, ta nhận thấy những con người quẩn quanh trong bế

tắc vì yêu thương lại chính là đau khổ Tình yêu thương, sự tha thứ, dịu dàng chăm sóc

của “tha nhân” đều đem đến con người nỗi khổ tâm Muốn thoát ly nhưng lại bị ràng

buộc bởi thứ tình cảm gọi là “gia đình” Họ muốn chối bỏ nhưng lại càng bị sa vào bãi

“Cát l ầy” tăm tối, để tình yêu, hạnh phúc ngày càng “Mù khơi” xa xôi không bao giờ

chạm tay tới Hay những thân phận con người bị chối bỏ, bị hất văng ra bên lề của

cuộc sống của một loạt tiểu thuyết viết về “thế giới bụi đời hè phố” của Duyên Anh Ở

đó, tuổi trẻ của con người cũng chính là những sa mạc hư vô, hoang vắng và tăm tối Con người bị dày vò, vùng vẫy tìm lối thoát để cuối cùng thân xác hiện hữu bị nhấm chìm trong tuyệt vọng đau thương Ngoài ra, những tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy

Vũ, Nhã Ca, Túy Hồng, Dương Nghiễm Mậu, Chu Tử, Trịnh Thị Diệu Tân, Lệ Hằng, Mai Thảo, Trùng Dương, Nguyễn Thụy Long,…đều khơi gợi trong tâm tư người đọc

về sự nhỏ bé của thân phận con người (đặc biệt chú tâm đến nỗi cô đơn trong tình yêu)

giữa những biến động dữ dội của thời cuộc Vì cuộc sống là phi lý, hư vô nên con

Trang 37

người luôn sẵn sàng dìm mình trong đau khổ của “bãi cát lầy” cuộc đời không lối thoát

hoặc buông thả để thỏa mãn bản thân và coi đó cách để phản ứng lại cuộc đời Mỗi con người là một bi kịch, họ chấp chới, vùng vẫy, nổi loạn trong ngập ngụa đau thương nhưng rốt cuộc họ vẫn là những kiếp người mong manh, bé nhỏ bị hiện thực vùi dập Vì thế họ coi cuộc sống hiện hữu là một thảm kịch, hư vô, phi lý, họ tức tối, điên cuồng, nổi loạn như muốn khiêu khích, chống trả lại cuộc đời, kháng cự với thân

phận “Tôi bỏ học từ đó Bỏ học đi lang bang khắp cùng mọi nơi để chạy trốn một cuộc

với các lũ người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm như Kha Di, Tấu Sẹo để quên

nguồn, chối bỏ thân phận chính mình, điên cuồng phản ứng lại cuộc đời, bỏ mặc lý tưởng, tương lai để sa lầy trong tuyệt vọng, cô đơn Họ tìm ra và đi theo con đường

của chính mình để khẳng định sự tồn tại tự do của nhân vị dù cho những nỗ lực ấy sẽ

thất bại đem đến sự thất vọng, đua thương “Em không phải là Châu nữa cũng như anh,

đâu còn là Trường nữa đến mười năm nay Anh không thích ai gọi anh là Trường Gọi

là em dại vô tả Nó mất rồi, thật mà, nó mất lâu quá rồi” [7]

Ngoài văn xuôi, chủ nghĩa hiện sinh còn hiện diện và để lại dấu ấn khá độc đáo trong thơ ca giai đoạn này như thơ của Bùi Giáng, Du Tử Lê, Nhã Ca, Ngô Kha, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Nguyễn Đức Sơn,… Trong thơ của họ, người đọc

nhận thấy vô vàn những tư tưởng, quan niệm của triết lý hiện sinh Họ bày tỏ sự cô đơn giữa thời cuộc của con người, cảm nhận được sự hư vô và ám ảnh bởi cái chết Càng mộng mị, huyền ảo càng chứng tỏ niềm tin con người vào thế giới hiện thực bị

đổ vỡ tan tành, chỉ còn lại những nỗi sầu thảm khi nghĩ về tương lai Họ nhận ra và

chấp nhận cuộc đời con người là vô định Họ là những nghệ sĩ lang thang nghêu ngao đứng bên lề đợi chờ kết thúc của phận người

Như vậy, trên bình diện sáng tác, các nhà văn nhà thơ đã tiếp nhận hầu hết những

phạm trù cơ bản của triết học hiện sinh và thể hiện một cách có ý thức thông qua cả hình thức và nội dung trong tác phẩm của mình Đây là một trong hai con đường giúp

Trang 38

chủ nghĩa hiện sinh thâm nhập sâu rộng vào đời sống xã hội ở đô thị miền Nam trước

1975

1.4.2 Tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở đô thị miền Nam trước

1975 trên bình diện lí luận, phê bình

Bên cạnh bình diện sáng tác, các nhà phê bình lí luận cũng dùng các phạm trù của

chủ nghĩa hiện sinh trong việc đánh giá, bình phẩm một tác phẩm văn học như âu lo, phi lí, hư vô, tự do, buồn nôn, tha nhân,…Việc sử dụng triết học hiện sinh vào việc phê bình văn học giúp đem lại giá trị mới cho tác phẩm, phù hợp với tầm đón đợi của thể hệ độc giả đương thời Vì vậy, nhà phê bình đã đưa tác phẩm văn học đến gần với độc giả hơn đặc biệt là các tác phẩm của thời kì trước như Truyện Kiều của Nguyễn

Du hay Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn Bàn về cuộc đời của Thúy Kiều, nhiều

nhà phê bình đã vận dụng các phạm trù về sự vong thân, tha hóa để lí giải Lê Tuyên

cho rằng bi kịch lớn nhất mà con người phải gánh chịu là việc đánh mất tự do Khi con người sống không còn là sự tự do lựa con đường đi cho cuộc sống của mình thì ắt hẳn

sẽ đem đến bi kịch vì “con người hiện hữu là kết quả của tình trạng tha hóa thảm

khốc” [167, tr.24] Còn với Đặng Tiến, ông khẳng định sự hiện hữu mất tự do của con

người là một bi kịch Khi con người sống không còn là sự tự do lựa con đường đi cho

cuộc sống của mình thì ắt hẳn sẽ đem đến bi kịch vì “con người hiện hữu là kết quả

của tình trạng tha hóa thảm khốc” [154, tr.24] Và tha nhân chính là ngọn nguồn của

sự trầm luân khổ ải mà Thúy Kiều gánh phải Vì tha nhân mà con người tha hóa, không còn là chính mình, sống vì người khác, hi sinh vì người khác Ở đây mối quan

hệ giữa nhân vị con người và tha nhân mâu thuẫn nhau, giằng xé và đối đầu nhau

Cũng dùng triết học hiện sinh, nhưng Nguyên Sa dùng phạm trù Tự do lại cho rằng

việc Thúy Kiều lưu lạc mười năm năm đó chính là do sự sắp xếp, trù tính của nàng, tức là tự bản thân nàng tạo ra định mệnh cho chính mình vì nàng biết sau khi bán mình chuộc cha thì cuộc đời nàng lành ít dữ nhiều Cuộc đời nàng là do nàng quyết định,

không Thượng đế hay đấng tối cao nào sắp đặt cho nàng “làm gì có định mệnh Tự do

của Thúy Kiều đã đẻ ra định mệnh” [127]

Viết về Chinh phụ ngâm, tác giả Lê Tuyên đã vận dụng các phạm trù như sự hiện

hữu, cái chết, cô đơn, tha nhân… để giải mã một cách thấu đáo đưa người đọc đi từ

Trang 39

thú vị này đến ngạc nhiên khác mà các nhà phê bình thời kì trước chưa phát hiện được Nhờ triết học hiện sinh mà nhà phê bình đã nhận thấy được thân phận của người chinh

phụ trong hoàn cảnh éo le “đã sống trong một kiếp lưu đày tính cảm” [167, tr.36] Khi

mọi mong muốn chính đáng không được đáp trả, con người sống trong cô độc, lẻ loi

thì sự hiện hữu ấy trở nên vô nghĩa vì “Ta làm sao nghe được, biết được kẻ kia và trái

lại kẻ kia làm sao nghe được, biết được tiếng nói của ta, con người vì vậy sống trong hai lần cô đơn bi thiết, cô đơn của mình và cô đơn của tha nhân mà chính mình đang hứng chịu cho cả tha nhân” [167, tr.52]

Ngoài ra còn nhiều tác phẩm văn học trung đại khác cũng được các nhà phê bình đưa ngòi bút sắc nhọn thấm đẫm tinh thần hiện sinh soi sáng như Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát,…

Bên cạnh các tác phẩm văn học trung đại, các nhà phê bình còn tiếp nhận triết học hiện sinh trong việc phê bình các tác phẩm văn học đương thời ở đô thị miền Nam Đó

là những phân tích đầy chất hiện sinh qua cách nhìn hiện sinh của Huỳnh Phan Anh khi tiếp cận tác phẩm Bướm trắng của Nhất Linh Đó là cái nhìn đầy bất trắc về thế

giới tồn tại của con người Con người sống trong nỗi ám ảnh kinh hoàng về cái chết Cái chết có uy lực vô biên, nó có thể sai khiến cả ý thức con người hướng về nó Khi con người ý thức được cuộc sống chỉ là địa ngục tù đày tinh thần và con người tồn tại chỉ là một cách ngẫu nhiên và giới hạn thì cái chết chính là chọn lựa cho sự kết thúc

“sống tức là đang đi lần tới, đã tới chỗ tận cùng của đời sống mình”

Trong “Đi tìm tác phẩm văn chương”, Huỳnh Phan Anh đã có lý khi chỉ ra nhân

vật trong tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền cụ thể là Cát Lầy luôn trong tâm thế của

những kẻ cô độc trên bước đường phiêu dạt tìm kiếm thân phận để khẳng định sự tồn tại chính đáng nhân vị của bản thân Càng dấn thân truy tìm càng chơi vơi, lạc lõng

điếng hồn, thì thầm hay thất thanh, của một kẻ không ngớt hồ nghi, bàng hoàng trước

sống tận cùng của những ray rứt và cô độc” [165] Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm của

các tác giả khác như Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thụy Long, Du Tử Lê, Tô Thùy

Trang 40

Yên,…cũng được các nhà phê bình vận dụng các phạm trù của triết học hiện sinh để phân tích, làm sáng tỏ nội dung một cách thuyết phục

Có thể thấy, trên bình diện lí luận, các nhà phê bình đã vận dụng rất thành thục và sáng tạo triết học hiện sinh để soi chiếu tác phẩm ở góc độ mới, hiện đại hóa hơn tạo

sự phong phú hơn trong phê bình lí luận văn học thời kì này Song song với lối phê bình truyền thống cắt nghĩa cách dùng từ, đặt câu, chọn hình thức thể hiện… khuynh hướng phê bình tiếp nhận từ triết học hiện sinh đã thổi một luồng gió mới vào môi trường văn học tưởng chừng đã oi bức từ lâu nay hồi sinh tươi mới Từ đó tác phẩm văn học được nhìn nhận khách quan, đa chiều và gần gũi hơn với công chúng Đồng thời cũng góp phần tạo nên trào lưu lối sống tích cực hơn cho thanh niên đô thị miền Nam – những con người đang bế tắc trước việc chọn lựa con đường đi đúng đắn cho mình, đó là sự dấn thân, nhập cuộc và gánh lấy trách nhiệm của bản thân trước nhiệm

vụ lớn lao của xã hội, Tổ quốc

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w