1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu lớp từ hài âm, tượng trưng trong tiếng hán và dấu ấn của nó trong tiếng việt

249 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 16,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Việt là hết sức sâu sắc, lâu dài và phức tạp, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt được công bố.. ĐỐI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂNVĂN

   Tóm tắt báo cáo khoa học

Trang 2

TP.HCM NGÀY 24 THÁNG 10 NĂM

2008

GVHD: TS HÀ THỊ NGỌC OANH

MÔN HỌC: KINH TẾ ĐÓI NGOẠI

Nhóm sinh viên thực hiện:

HUỲNH THỊ THUỲ NHÂN -

20565124

ĐÀO THỊ VÂN ANH

-20565005

NGÔ DUY TIẾP - 20565181

LỚP NHẬT HAI KHÓA V—VĂN BẰNG HAI

TP.HCM.NGÀY 06 THÁNG 10 NĂM

2008

TP HCM NGÀY 20 THÁNG 05 NĂM 2008

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lý do (và mục đích) chọn đề tài

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

3 đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài

4 Ý nghĩa khoa học thực tiển

5 Nguồn tư liệu

6 Phương pháp tiếp cận đề tài

7 Bố cục luận văn

CHƯƠNG I VÀI NÉT VỀ HÀI ÂM, TƯỢNG TRƯNG 1.1 Từ ngữ hài âm

1.1.1 Từ và âm tiết trong tiếng Hán và tiếng Việt

1.1.2 Cấu trúc của âm tiết tiếng Hán và tiếng Việt

1.1.3 Từ đồng âm

1.1.4 Từ cận âm

1.1.5 Hài âm trong tiếng Hán và tiếng Việt

1.1.6 Các mức độ vận dụng hài âm

1.1.7 Một số ví dụ về đồng âm và cận âm

1.2 Từ ngữ tượng trưng

1.2.1 Nghĩa từ vựng

1.2.2 Nghĩa ngữ pháp

1.2.3 Nghĩa tu từ

1.2.4 Nghĩa văn hóa

Tiểu kết chương I

CHƯƠNG II

TỪ NGỮ HÀI ÂM TRONG TIẾNG HÁN (VÀ DẤU ẤN TRONG TIẾNG VIỆT)

Trang 4

2.1 Lời cầu mong tốt lành

2.2 Hài âm trong kiêng kỵ

2.3 Từ kiêng kỵ trong địa danh

2.4 Từ kiêng kỵ trong tên người

2.5 Hài âm qua các con số

2.6 Hài âm mang tính khôi hài

Tiểu Kết Chương II

CHƯƠNG III : TỪ NGỮ TƯỢNG TRƯNG TRONG TIẾNG HÁN (VÀ DẤU ẤN TRONG TIẾN VIỆT) 3.1 Vài nết về hàm nghĩa văn hóa trong lớp từ tượng trưng

3.2 Từ ngữ tượng trưng của một số động thực vật

3.2.1 Từ ngữ tượng trưng cho sự phú quý, các tường

3.2.2 Từ ngữ tượng trưng cho tình yêu sự chung thủy

3.2.3 Từ ngữ tượng trưng cho sự trường thọ

3.2.4 Từ ngữ tượng trưng cho phẩm chất cao thượng

3.2 Từ ngữ tượng trưng sự dũng cảm, oai hùng, sức mạnh, sự nhanh nhạy

3.2.6 Từ ngữ tượng trưng cho tính hiền lành, ngoan ngoãn

3.2.7 Từ ngữ tượng trưng cho sự hung ác, độc địa

3.2.8 Từ ngữ tượng trưng cho sự ngu xuẩn, ngốc nghếch

3.2.9 Tính biểu trưng và biểu âm tính trong từ ngữ đối với loài chó

3.2.10 Từ ngữ tượng trưng liên quan đến cơ thể con người

3.2.11 Từ ngữ tượng trưng liên quan đến phục sức

3.2.12 Từ ngữ tượng trưng cho khí tượng tự nhiên

3.2.13 Từ ngữ tượng trưng trong từ chỉ màu sắc

Trang 5

3.2.14 Từ ngữ tượng trưng qua số từ

3.2.15 Từ ngữ tượng trưng trong tên gọi các món ăn và khẩu vị món ăn

3.3 Tiểu Kết Chương III

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI CẢM ƠN Xin chân thành cảm ơn:

- Tiến Sĩ Lê Đình Khẩn là thầy trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn này, với cả tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt thành

- Quý Thầy Cô của khoa ngôn ngữ học trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, những người đã hướng dẫn giảng dạy tôi trong suốt thời gian học và hoàn thành xong chương trình cao học của mình

- Qúy Thầy Cô ở văn phòng sau đại học, là những người đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập tại trường

Tôi cũng không thể không nhắc đến tất cả bạn bè, đồng học ờ lớp cao học ngôn ngữ học khóa 2006- 2009 là nguồn động viên lớn cho tôi trong thời gian học tập nghiên cứu

Sau cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đôi với gia đình về sự động viên, khuyến khích, hổ trợ tôi một cách tích cực trong thời gian viết luận văn

TP.HCM, ngày tháng năm 2009

Người thực hiện

Huỳnh Thị Thùy Nhân

Trang 7

1

DẪN NHẬP

1 LÝ DO(VÀ MỤC ĐÍCH) CHỌN ĐỀ TÀI: Luận văn này nhằm hướng tới hai mục

đích sau:

1.1 Trong quá trình học tập, giảng dạy tiếng Hán (tiếng Trung Quốc), chúng tôi

nhận thấy rằng ở Việt Nam những tài liệu viết về hàm nghĩa văn hóa trong từ vựng tiếng

Hán rất hiếm thấy Các giáo trình dạy tiếng Hán cũng không thấy đề cập đến Vì thế nhân dịp này chúng tôi muốn thử tìm kiếm, và nếu thành công thì sẽ góp phần bổ sung cho tình trạng khiếm khuyết nói trên

2.2 Ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Việt là hết sức sâu sắc, lâu dài và phức

tạp, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt được công bố Nhưng nói thế, không có nghĩa là mọi bí mật đều đã được khám phá Ngay

cả những công trình chuyên nghiên cứu về từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, cũng chưa

thấy ai nhắc đến vấn đề mà chúng tôi hiện đang quan tâm: Hàm nghĩa văn hóa của từ

Hán trong tiếng Việt Vì thế luận văn này muốn có một chút đóng góp nhỏ bé vào chỗ

chưa hoàn thiện ấy (nếu nghiên cứu thành công)

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

Các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Hán đã có rất nhiều, trên nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, về lĩnh vực liên quan đến đề tài của luận văn còn khá ít Có thể điểm qua những công trình chính liên quan đến đề tài này như sau:

A Thường Kính Vũ (Trung Quốc), Hán ngữ từ hội dữ văn hóa, Bắc Kinh Đại học

Xuất bản xã, 1998 Bản chữ Hán dày hơn 200 trang Theo lời giới thiệu của nhà nghiên cứu Trần Tiến Dân thì đây là quyển sách đầu tiên ở Trung Quốc đề cập đến ý nghĩa văn hóa trong từ vựng tiếng Hán Cuốn sách đã trình bày nhiều phương diện liên quan đến vấn đề ý nghĩa văn hóa của từ Hán

Trang 8

2

B Lê Đình Khẩn (Việt Nam), Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, NXB Đại học

quốc gia TP HCM 2002, với 420 trang, xoay quanh vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt

C Một số khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Khoa Đông Phương học:

C1 Nguyễn Tuấn Nghĩa, “con số biểu trưng trong văn hóa Trung Hoa”, 2006 C2 Trần Thị Hồng Gấm, “Văn hóa màu sắc Trung Hoa- ngũ sắc”, 2006

C3 Nguyễn Thị Thanh Trúc, “lớp từ ngữ văn hóa hài âm, tượng trưng trong

tiếng Hán và dấu ấn của lớp từ ngữ đó trong tiếng Việt”, 2008

Điểm nhấn của luận văn chúng tôi là vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt, về

phương diện hàm nghĩa văn hóa của từ vựng, một vấn đề đang được các nhà Việt ngữ

học quan tâm

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI:

3.1 Đối tượng: Hàm nghĩa văn hóa trong từ vựng tiếng Hán

3.2 Phạm vi đề tài: Do hạn chế về trình độ và thời gian nên luận văn chỉ đề cập đến hai

hiện tượng là hài âm và tượng trưng, đồng thời tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các hiện tượng đó khi từ ngữ Hán có mặt trong tiếng Việt

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN:

4.1 Ý nghĩa khoa học: Nếu nghiên cứu thành công thì có thể đóng góp cứ liệu cũng như lý thuyết cho việc nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt mà tiếp xúc văn hóa như một nhân tố đi kèm ngôn ngữ

4.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn sẽ bổ sung phần nào tài liệu tham khảo về hàm nghĩa văn hóa trong từ vựng tiếng Hán cho những người đang học tập, giảng dạy và nghiên cứu tiếng Hán, để họ hiểu biết sâu sắc hơn cũng như sử dụng ngôn ngữ có hiệu quả hơn

5 NGUỒN TƯ LIỆU:

Trang 9

3

5.1 Tận dụng những tài liệu thành văn bằng tiếng Hán do các nhà nghiên cứu Trung Quốc

cung cấp Chủ yếu là dựa vào các ngữ liệu của Tác giả Thường Kính Vũ đã được công bố

5.2 Phần lý luận dựa vào một số công trình nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ Hán -Việt

Chủ yếu là cuốn Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt của Tác giả Lê Đình Khẩn

5.3 Tham khảo và tiếp thu những cứ liệu đáng tin cậy ở một số khóa luận của một số bạn

sinh viên ngành Đông Phương học (như đã nêu trên)

5.4 Sử dụng một số tư liệu điền dã (từ Hoa kiều đang sinh sống ở Việt Nam)

5.5 Ngoài ra còn đọc một số sách báo có liên quan và truy cập internet

6 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐỀ TÀI:

- Chúng tôi dựa trên bình diện nghĩa học để xem xét vấn đề Phương pháp chủ yếu của luận văn này là phương pháp tổng hợp - phân tích - đối chiếu - so sánh

- Hình thức triển khai: Lấy tiếng Hán làm trung tâm để khảo sát, kết hợp so sánh hoặc liên hệ với tiếng Việt lúc cần thiết, không so sánh theo kiểu một đối một giữa tiếng Hán

và tiếng Việt như cách truyền thống xưa nay

7 BỐ CỤC LUẬN VĂN:

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, bố cục luận văn gồm có:

Chương 1: Vài nét về từ ngữ hài âm, tượng trưng Nội dung của chương này nhằm giải quyết một số khái niệm, chuẩn bị tri thức đi vào chương hai và chương ba

Chương 2 : Từ ngữ hài âm tiếng Hán (và dấu ấn trong tiếng Việt) Nội dung trình

bày các phương diện khác nhau của lớp từ hài âm tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt )

Chương 3: Từ ngữ tượng trưng tiếng Hán (và dấu ấn trong tiếng Việt)

Trang 10

4

CHƯƠNG I

VÀI NÉT VỀ HÀI ÂM , TƯỢNG TRƯNG

1.1 TỪ NGỮ HÀI ÂM:

1.1.1 Từ và âm tiết trong tiếng Hán và tiếng Việt:

-Trong tiếng Hán: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, hoàn toàn độc lập về nghĩa và hình thức

- Trong tiếng Việt: cũng tương tự như tiếng Hán vì hai ngôn ngữ này đều là ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, nên giữa chúng có rất nhiều điểm giống nhau Trong cuốn:

“Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Gíáp [6, 61] đã đưa ra định nghĩa về Từ

trong tiếng Việt như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về nghĩa và hình

thức” Ta hãy xem ví dụ về từ trong tiếng Hán và tiếng Việt như sau:

-Trong tiếng Hán: 福(fú/phúc), 禄(lù/ lộc), 寿(shòu/ thọ), 天(tiān / thiên), 地(dì/ địa), 吃(chī / ăn), 喝(hè/ uống), 睡(shuì/ ngủ), 走(zǒu / đi), 学(xué / học)…

-Trong tiếng Việt: Yêu, ghét, vui, buồn, giận, nhớ, thương, cá, thịt, cơm…

Qua ví dụ trên, trong tiếng Hán và tiếng Việt đều như nhau: Một từ đơn được phát âm bằng một âm tiết, có đủ ý nghĩa hoàn chỉnh và có khả năng làm thành câu

1.1.2 Cấu trúc của âm tiết tiếng Hán và tiếng Việt:

a) Trong tiếng Hán: Âm tiết trong tiếng Hán gồm ba phần:

- Thanh mẫu(声母): Trong tiếng Hán thanh mẫu được xem là tương đương với phụ âm đầu trong tiếng Việt

Trang 11

Nói: âm đầu là n, vần là oi và thanh điệu là thanh sắc

Trời: âm đầu là tr, vần là ơi, và thanh điệu là thanh huyền

Hoa: âm đầu là h, vần là oa và thanh điệu là thanh ngang

Ngủ: âm đầu là ng, vần là u và thanh điệu là thanh hỏi

Nghĩ: âm đầu là ngh, vần là i và thanh điệu là thanh ngã

Trang 12

6

Tội: âm đầu là t, vần là ôi và thanh điệu là thanh nặng

1.1.3 Từ đồng âm: Đó là những từ được phát âm bằng những âm tiết có cấu tạo giống

nhau hoàn toàn Chẳng hạn xem ví dụ về từ đồng âm trong tiếng Hán và tiếng Việt sau:

a) Từ đồng âm Trong tiếng Hán:

píng (瓶) là “Cái bình” và píng (平) là “hòa bình”

jǐu (九) là “số chín” và jǐu (久) là “lâu”

xīn (心) là “tim, lòng” và xīn (新) là “mới”

yú (鱼) là “con cá” và yú (余) là “sự dư dã, dư dật”

yǎn (眼) là “con mắt” và yǎn (演) là “sự diễn xuất hay biểu diễn”

shāng (伤) là “vết thương” và shāng (商) là “thương lượng, bàn bạc”

dēng(灯) là “đèn” và dēng(凳) là “trèo leo”

hóng (红) là “hồng, đỏ” và hóng (鸿) là “chim hồng nhạn”

lèi (累) là “mệt” và lèi (泪) là “nước mắt”

b)Từ đồng âm Trong tiếng Việt:

Cưa(cái cưa) và cưa (cưa gỗ)

bác (cô bác) và bác (bác học, uyên bác)

thương (thươngyêu) và thương (thương lượng, bàn bạc)

quần(quần áo) và quần(quần chúng)

lùng (lùng sục, tìm tòi) và lùng (lạnh lùng)

Trang 13

7

búa(dụng cụ bằng sắt dùng để đóng đinh) và búa (trong chợ búa)

cà (một loại cây có quả để ăn) và cà (trong cà phê)

1.1.4 Từ cận âm: Là từ chỉ có một hoặc hai bộ phận của âm tiết giống nhau

a ) Từ cận âm trong tiếng Hán: Có thể là cùng thanh mẫu, vận mẫu nhưng khác thanh điệu, hoặc cùng thanh mẫu nhưng khác vận mẫu Chẳng hạn xem ví dụ sau:

ān(安)là “an tâm, an ổn” và àn(按) là “ấn vào, bấm vào”

bāo(包) là “cái bao” và bào()là “thông báo, báo cáo”

zǎo(早) là “sớm” và zào(造) là “sáng tạo, tạo ra”

bấu (bám vào) và cấu (cấu thành, cào cấu)

lui (rút lui) và lụi (tàn lụi)

thêm (thêm vào) và chêm (chêm vào, bù thêm)

Trang 14

dìm (làm cho chìm) và chìm (đắm dưới nước)

1.1.5 Hài âm (諧音) trong tiếng Hán và tiếng Việt:

- Theo Tác giả Đinh Trọng Lạc [10, 221-230] đã định nghĩa về hài âm như sau: “Đó là

biện pháp điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh, cố ý tạo ra sự trùng điệp về âm, hoặc giống nhau hoàn toàn, hoặc một bộ phận nào đó”

- Theo Thường Kính Vũ [23, 78], Tác giả đã nêu ra định nghĩa về hài âm như sau: “Hài

âm trong tiếng Hán là phương thức sử dụng đặc điểm đồng âm, gần âm”

(1) Đồng âm: Hai âm tiết hoàn toàn giống nhau ví dụ các cặp đồng âm sau:

- fù(父) trong fù qīn 父亲(phụ thân) và fù (婦) trong fù nǚ (婦女) (phụ nữ)

- hái (孩) trong hái zi 孩子 (con trẻ) và hái(还) trong hái shì 还是 (hay là)

- chéng (城) trong chéng shì 城市(thành phố) và chéng (诚) trong chéng xīn诚心 (thành

khẩn)

(2) Cận âm: Tức chỉ có một hoặc hai bộ phận của âm tiết giống nhau ví dụ:

- sàn (散) trong sàn bù(散步) (tản bộ) và sāng(丧) trong sāng shì(丧事) (việc tang sự),

sàn và sāng là một cặp cận âm

Trang 15

1) Hài âm trong tu từ:

Đây là loại hài âm thường gặp trong thơ, là biện pháp điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh, tạo nhịp điệu và tạo âm hưởng Lập các thanh điệu thường cùng nhóm bằng hay trắc, nhằm mục đích tăng tính tạo hình và diễn cảm cho câu thơ Loại hài âm này có tính nghệ thuật tạm thời, chỉ đúng trong bối cảnh mà người nói muốn nói Ví dụ hai từ lợi trong bài thơ sau:

Bà già đi chợ cầu đông Bói xem một quẻ có chồng lợi chăng Ông thầy gieo quẻ nói rằng Lợi thì có lợi mà răng không còn

Chữ lợi 1 (利) trong câu (2) là một từ Hán Việt, nghĩa là: Lợi ích, còn chữ lợi 2 trong câu cuối là một từ thuần Việt nghĩa là: “Phần thịt bao chung quanh chân răng” Chỉ có trong ngữ cảnh này, do có sự hài âm này mà người ta mới tạm hiểu “Lợi” là “phần thịt bao

chung quanh răng”, còn nếu đặt nó trong ngữ cảnh khác, thì nó không còn nghĩa đó nữa

Như vậy ta thấy hai từ “Lợi” tuy là đồng âm với nhau nhưng hàm nghĩa hoàn toàn khác

nhau, tạo ra sự hiểu lầm (do cố tình) của gả thầy bói vô cùng dí dỏm, hài hước, có tác dụng phê phán sâu sắc

2) Hài âm mang sắc thái văn hóa:

Trang 16

10

Đây là thể loại được dùng phổ biến nhất không chỉ trong các tác phẩm nghệ thuật, hoặc trong từ ngữ giao tiếp mà còn xuất hiện trong các từ ngữ chỉ phong tục dân gian Hình thức hài âm này được dùng đi dùng lại nhiều lần, được mọi người công nhận Thông qua hình thức hài âm này sẽ khiến cho người ta từ một sự vật đang nói liên tưởng đến sự vật khác Qua đó giúp người ta hiểu biết sự việc mang tính văn hóa Chẳng hạn như trong

văn hóa cầu phúc may mắn, thay vì người ta chúc tụng nhau bằng lời nói thẳng: “Cầu

mong những điều phúc lành luôn đến gia đình”(福到) sẽ cảm thấy nhàm chán, không gây

ấn tượng, không hay bằng cách sử dụng hài âm Do hai từ dào (到) và / dǎo (倒) là một cặp hài âm, kiểu cận âm, vận dụng sự hài âm này mà dân tộc Hán đã liên tưởng từ nghĩa

của từ (福到) “phúc đến”/ fúdào sẽ nghĩ đến chuyện fú dǎo (福倒) thế là thay vì dán hai chữ (福到 / fúdào) để cầu mong “Phúc đến nhà” thì họ đem chữ (福 / fú) tức là “phúc” dán ngược, được xem như là “Phúc đến” vậy

1.1.7 Một số ví dụ về đồng âm, cận âm được thể hiện bằng từ Hán Việt hoặc thuần

Việt của nhiều tác giả, phần nhiều là trong quyển sách: “Thú chơi chữ” của Lê Trung

Hoa [7] đã nói khá kỹ về hiện tượng đồng âm, cận âm Sau đây chúng tôi xin mạn phép

trích dẫn ra một số ví dụ như sau:

1) Trong tác phẩm truyện Kiều Thi hào Nguyễn Du chua chát trước sự mâu thuẩn giữa tài sắc và số mệnh của nàng Kiều, đã dùng hai điệp vần để biểu lộ sự thông cảm:

Chữ tài liền với chữ tai một vần

2) bốn câu thơ sau:

Từ ngày Tự Đức lên ngôi Cơm chẳng đầy nồi kẻ khóc như ri Bao giờ Tự Đức chết đi Thiên hạ bình thì lại dễ làm ăn

Trang 17

11

Trong bốn câu thơ trên có cặp đồng âm: Bình thì Bình thì 1 là một từ Hán Việt nghĩa là

“thời bình” sẽ đồng âm với bình thì 2 cũng là từ Hán Việt tức là “dẹp yên Tự Đức” vì

tên tục của vị Vua này là: “Thì” Qua mấy câu thơ chứng tỏ không những nhân dân mong

nhà Vua mau chết mà còn khuyến khích nhau nỗi loạn

3) Trong bài thơ của Nguyễn Khuyến nhân dịp tặng Tổng Đốc Hà Nam có hai câu sau:

Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp Nẹt thằng mặt trắng lấy tam nguyên

Từ Tam nguyên 1 (三元) là một từ Hán Việt, nghĩa là: “Ba đồng” (giá trị bằng một tạ gạo lúa lúc bấy giờ), đồng âm với từ Tam nguyên2 (三元 ) cũng là một từ Hán Việt, nghĩa là:

Đậu ba kỳ thi (thi hương, thi hội, thi đình)

4) trong hai câu thơ sau:

Bạn vàng chơi với bạn vàng Đừng chơi bạn vện ra đàn cắn nhau

Trong tiếng Việt đã sẳn có từ “bạn vàng” tức là chỉ cho “bạn quý và rất thân thiết”, nhưng khi từ “bạn” xuất hiện bên cạnh từ “vện” thì từ “bạn vện” sẽ hàm ý chỉ “chó

vện” lúc đó từ Bạn vàng được hiểu thành “Chó (lông) vàng”

5) Hai câu thơ sau:

Đục cùn thì giữ lấy tông Đục long cán gãy còn mong nỗi gì

“Tông” là từ chỉ “Cái chuôi sắt, phần trên của lưỡi đục” Tông và cán (thuần việt) đồng

âm với Tông trong (Trịnh Tông) và Cán trong (Trịnh Cán) Cả hai đều là con trai của Trịnh Sâm Chữ “Tông”, còn đồng âm với chữ “Tông” trong từ “Tổ Tông” Câu này ám

Trang 18

12

chỉ việc Trịnh Sâm đã phế bỏ con cả của Trịnh Tông(tức con của Dương Thái Phi), lập con thứ là Trịnh Cán (tức con của Đặng Tuyên Phi) làm thái tử gây ra cuộc tranh giành ngôi vị giữa Tông và Cán

6) Tương truyền Hoàng Trọng Phu và Vi Văn Định là hai viên Tổng Đốc thời pháp thuộc, lúc Hoàng về hưu, Vi Văn Định được cử đến thay thế Cùng lúc ấy có nạn Hoàng trùng cắn phá lúa(cào cào, châu chấu) và vi trùng thổ tả hoành hành, thế là ông Trần Bình đã cảm tác :

Hoàng trùng đi

Vi trùng lại Suy đi xét lại

Vi hại hơn hoàng

Ta thấy chữ “Hoàng” vừa chỉ “Hoàng trùng”, vừa chỉ: “Hoàng Trọng Phu”, chữ “Vi” vừa chỉ “vi trùng”, vừa ám chỉ: “Vi Văn Định”

7) Tương truyền có một anh đồ tể làm nhà mới, đến xin cụ Tam nguyên Yên Đổ đôi câu đối Cụ đã viết ngay cho hai câu đối sau:

Tứ thời bát tiết canh chung thủy Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang

Sau khi viết xong chủ nhà sung sướng mang về, bởi vì nghĩa đen của hai câu này là: “Bốn

mùa, tám tiết, thay đổi trước sau vẫn thế; bờ liễu, gò cỏ bồ muốn điểm trang” Ngôi nhà

được như thế còn gì hơn nữa, vì dù thời tiết có thay đổi, trước sau vẫn có thế, và đằng trước nhà cảnh vật lại khoe tươi Song cái dí dỏm ở đây của câu thơ là nghĩa bóng của nó: Nếu mà không ngắt câu như bình thường ở sau từ tiết và từ bồ mà đọc liền thì ta sẽ có

“bát tiết canh và đôi bồ dục” (chỉ thận của thú nuôi để ăn thịt), là những món thường

thấy dưới tay ông đồ tể Đây là hiện tượng đồng âm giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt

Trang 19

13

8) Tương truyền một hôm Trạng Quỳnh sai người nhà ra bảo các hàng thịt là ngày mai Quan Trạng có đãi tiệc, cần mua mỗi hàng vài cân thịt, nhưng phải thái sẵn để đỡ tốn công cho người nhà Sáng hôm sau các hàng thịt thái sẳn để đó chờ Đợi mãi không thấy

ai tới lấy, họ đến nhà Quan Trạng thì thấy nhà vắng tanh Hỏi Trạng thì Trạng bảo:

- chắc có đứa nào chọc phá bà con đấy, cứ gọi thằng nào bảo thái mà chửi bạn hàng thịt tức giận chửi đổng :

- Tiên sư thằng bảo thái ! Tiên sư thằng bảo thái!

Trong ví dụ trên, từ “Bảo thái” là từ thuần Việt, nghĩa là: “bảo người ta xắt ra”, sẽ đồng

âm với niên hiệu “Bảo Thái” (1720-1726) của Vua Lê Dụ Tông đương thời là từ Hán

Việt Như vậy Trạng Quỳnh đã xúi dân chửi vua

9) Trong hai câu thơ sau:

Số em là số đào hoa

Số anh đào ngạch hai ta cùng đào

Từ đào mang hai ý nghĩa khác nhau: “Đào 1” là từ Hán Việt đi với “hoa” là (đào hoa) chỉ: “Sự may mắn trong tình yêu”; “đào 2” là từ (thuần Việt) là một động từ kết hợp với

từ “ngạch” là (đào ngạch) Từ đào cuối câu có thể hiểu theo hai cách: “Cùng đào” tức là: “Cùng nhau đào ngạch” (kẻ đi ăn trộm) hoặc: “Cùng mang âm đào như nhau”

10) Có một câu đối thường được dán ở cửa hàng bán nước giải khát như sau:

Bán rượu, bán trầu, không bán nước Buôn trăm, buôn chục, chẳng buôn quan

Hai từ: “bán nước” và “buôn quan” đều là hai từ thuần việt, từ “bán nước” có hai nghĩa, một có nghĩa là: “Bán nước uống”, hai có nghĩa là: “Phản bội tổ quốc, làm tay sai cho kẻ

ngoại xâm để mưu cầu lợi ích riêng tư” Từ “buôn quan” cũng có hai nghĩa, một có

Trang 20

14

nghĩa là: “Buôn bán số hàng có giá trị bằng một chuỗi 600 đồng tiền kẽm” (1 quan= 600

đồng tiền kẽm), hai có nghĩa là: “Mua bán chức tước”

11) nhà thơ Nguyễn Bính cũng đưa ra một vế đối như sau:

Tập thể dục tập thể dục tập thể

Từ câu này ta thấy có tới ba cặp đồng âm “tập thể” và có hai cách hiểu:

- Một là “tập thể dục thì nên tập thể dục tập thể” Nếu hiểu theo nghĩa này thì nên đặt dấu phẩy ở phía sau “tập thể dục” đầu tiên

- Hai là “tập thể thúc giục tập thể dục tập thể” Nếu hiểu theo nghĩa này thì phải viết thành câu: “Tập thể giục tập thể dục tập thể”

Như vậy từ giục và từ dục là một cặp hài âm, kiểu cận âm

12) Hiện tượng hài âm trong câu đối sau:

Trong quần anh có em học khá

Từ “quần anh” thứ nhất là từ ngữ Hán Việt, có nghĩa là: “Họp mặt các anh tài” và

“quần anh” thứ hai là từ ngữ thuần Việt, có nghĩa là: “Cái quần của anh” Như vậy nếu

theo nghĩa Hán Việt thì câu trên có nghĩa rất thanh nhã, còn theo nghĩa thuần Việt thì câu trên có nghĩa tục

13) Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, dân ta thường gọi tên một số lính Mỹ theo kiểu đọc trại đi, miễn sao gần giống với tiếng nước ngoài mà vẫn tạo ra nghĩa hài hước chẳng hạn như các từ gần âm sau:

- wesmoreland được phiên âm là: Vét mồ lên hoặc vét mỡ lợn

- Marcastheur được phiên âm là: Mặt ác tệ

- Hakin được phiên âm là: Hắc in

Trang 21

15

Tóm lại: Qua những điều phân tích ở trên, hiện tượng hài âm trong tiếng Hán và dấu ấn của nó trong tiếng Việt quả là không nhỏ Trong tiếng Hán từ đồng âm và cận âm có số

lượng rất lớn Ở đây, gọi chung hai loại đó là: “Hài âm”, như đã trình bày ở trên Hiện

trạng đó có thể ít nhất do hai nguyên nhân sau đây gây ra: Một là, vì tiếng Hán có rất nhiều phương ngữ, sự đóng góp của các phương ngữ vào kho từ vựng của ngôn ngữ toàn dân, đồng thời cũng làm cho số lượng từ đồng âm tăng lên; hai là, nhờ tính trực quan của chữ Hán (vốn phát triển dựa trên cơ sở tượng hình, hội ý) mà hiện tượng đồng âm được

xử lý qua “mặt chữ” do đó, đồng âm vẫn còn đất tồn tại Chẳng những như thế người Hán đã tạo ra được nét nghệ thuật hài âm trong tu từ, và cao hơn nữa là: “Văn hóa hài

âm” (sẽ được trình bày trong chương hai)

Tiếng Việt có nhiều đặc điểm tương đồng với tiếng Hán Ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Việt là cực kỳ to lớn và sâu sắc, điều đó đã được khẳng định qua rất nhiều công trình nghiên cứu từ trước đến nay của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Ảnh hưởng ấy không chỉ dừng lại ở sự có mặt một số lượng lớn từ vựng Hán trong tiếng Việt, mà còn cao hơn thế Đó là những sắc thái văn hóa đi kèm theo tiếng Hán trong

quá trình du nhập vào tiếng Việt Hiện tượng “Văn hóa hài âm” là một ví dụ, nhưng

dường như chưa có công trình nào đề cập đến Luận văn này có thể xem là sự tìm kiếm bước đầu về vài khía cạnh dễ thấy nhất

1.2 Từ ngữ tượng trưng:

Khi nói về từ ngữ thì người ta nghĩ ngay đến khái niệm “nghĩa” hay “ý nghĩa” từ

một góc nhìn mang tính ứng dụng, có thể thấy, ở một từ ít nhất cũng có khả năng mang

bốn loại “nghĩa” theo cách gọi truyền thống như sau:

Trang 22

16

1.2.1 Nghĩa từ vựng:

Đó là loại “nghĩa” mang tính định danh, là “tên” hay “tên gọi” của một sự vật

hiện tượng, tính chất, trạng thái, sự phát triển, sự biến hóa, v.v Là loại nghĩa được quan tâm đầu tiên và quan tâm nhiều nhất trong mọi ngôn ngữ Loại nghĩa ấy khiến cho từ ngữ trở thành một tín hiệu cơ bản nhất tạo nên sự liên hệ giữa con người với con người cũng như con người với thế giới xung quanh

1.2.2 Nghĩa ngữ pháp:

Đó là loại “nghĩa” mang tính kết nối Là công cụ biến những khái niệm rời rạc

thành từng dòng tư duy, thành những thông báo có nội dung trọn vẹn Cũng là một loại

“nghĩa” cơ bản rất được quan tâm Nó không thể thiếu trong hệ thống ngôn ngữ

1.2.3 Nghĩa tu từ:

Nghĩa tu từ là loại nghĩa vay mượn, có tính nhất thời, xuất hiện có điều kiện trong một bối cảnh nhất định Nó giúp cho người sử dụng ngôn ngữ biểu đạt nội dung thông báo sinh động hơn, uyển chuyển hơn, có hiệu quả hơn trong một trường hợp cụ thể Nó được tạo thành dựa trên cơ sở nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp Ví dụ trong câu ca dao Việt Nam quen thuộc:

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối… nhưng chưa ai vào

Các từ “mận”, “đào”, “hồng” vốn là những danh từ, chúng có vị trí tương đối tự do

trong các câu nói, có thể đứng đầu câu để làm chủ ngữ, đứng giữa câu hay cuối câu để làm vị ngữ, tân ngữ, định ngữ v.v.(đó là ý nghĩa ngữ pháp) Chúng là tên gọi của các loại thực vật khác nhau, nhờ vào đó để phân biệt (đó là ý nghĩa từ vựng) Nhưng trong câu thơ

Trang 23

17

dân gian trên thì chúng lại là người, người con trai, người con gái và tình yêu Nói xa(chuyện mận đào), nhưng lại rất gần (chuyện đôi ta), nói vòng kín đáo (lối vào vườn hồng), nhưng lại rất thẳng thắn, công khai (muốn tỏ tình và sẳn sàng tỏ tình) Trong trường hợp này, nhà thơ dân gian đã gán cho nó một ý nghĩa mới, tạm thời, để giúp tác

giả dân gian tỏ tình một cách tế nhị cho đở e thẹn, đó là “nghĩa tu từ” Chỉ trong trường hợp cụ thể ấy “mận” và “đào” mới là: “chàng trai” và “cô gái”, còn trường hợp khác thì không hẳn, chúng lại trở về với chính mình: Mận là mận, đào là đào, chàng trai là

chàng trai Từ điển tiếng Việt cũng không hề giải thích rằng: Mận là chàng trai, đào là

cô gái v.v

Trong một câu thơ khác:

Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Thì “thuyền” có lẽ là “chàng” còn “bến” có lẽ là “nàng” nhưng ở nơi khác thì lại là:

Chỉ có biển mới biết Thuyền đi đâu về đâu

“biển” là nàng, “thuyền” là chàng chăng?

Hay trong câu dao khác:

Tưởng giếng sâu anh nối sợi gàu dài Hay đâu giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây

Thật rất lạ lùng những câu thơ vừa nhắc không hề xuất hiện một chữ thương yêu nào, ấy

vậy mà nhớ mà thương đấy Hay ít ra là lời ướm hỏi, đánh tiếng Ở đây có lẽ “Giếng” là

nàng, còn “sợi dây” có lẽ là chàng chăng?

Trang 24

18

Sự vay mượn “Nghĩa” tạm thời ấy tùy theo cảm xúc của từng người, từng nơi, từng lúc

v.v không giống nhau, nó luôn thay đổi, và người nghe cũng có quyền hiểu theo cách

riêng của mình Vì thế những cái “nghĩa” vay mượn nhất thời ấy chẳng bao giờ được đưa

vào từ điển cả Phải đợi đến lúc sự vay mượn tạm thời ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần, trong nhiều văn cảnh khác nhau, được nhiều người trong xã hội biết đến và thừa nhận, trở

thành tính ước lệ xã hội cao, lúc đó chúng sẽ có: “Ý nghĩa văn hóa”

1.2.4 Nghĩa văn hóa:

Nghĩa văn hóa (hay hàm nghĩa văn hóa của từ ) là loại nghĩa mà mọi người trong

xã hội suy rộng ra và gán thêm cho từ dựa trên cơ sở nghĩa từ vựng ban đầu Bao gồm nghĩa so sánh, nghĩa liên tưởng, nghĩa biểu cảm v.v Nhiều ngôn ngữ có cả một lớp từ có hàm nghĩa văn hóa, loại nghĩa này thường được đưa vào từ điển như một yêu cầu không thể thiếu được

Rùa (龟/quy) là tên gọi một loài động vật, đặc điểm của chúng là sống rất lâu Vì thế, người Hán và người Việt xem rùa là tượng trưng cho tuổi thọ, cho sự thách thức với thời gian Ở văn miếu Hà Nội, có hàng loạt con rùa bằng đá cõng trên lưng những tấm bia ghi tên các tiến sĩ Ý nghĩa của nó là gì? Rùa sống mãi thì danh tiếng của các tiến sĩ ấy còn mãi

Tào tháo, Trương Phi là tên những nhân vật nổi tiếng trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Do cách khắc họa tài tình của tác giả (La Quán Trung) mà Tào Tháo, Trương Phi là những từ chỉ tính cách đa nghi, nóng nảy của ai đó

Những danh từ vốn là tên riêng của nhân vật trong truyện như: Sở Khanh, Hoạn Thư, Grăng đê, Đông Ky Sốt v.v., đối với người Việt thì lại là những từ có hàm nghĩa tượng trưng cho những loại tính cách điển hình của con người

“Nghĩa văn hóa” của từ luôn gắn liền với bối cảnh xã hội, đặc điểm tâm lý, phong tục

tập quán của một dân tộc Vì thế, khi học tập nghiên cứu một ngôn ngữ nào đó, nếu

Trang 25

Tiểu Kết Chương I:

Trong chuơng 1 chúng tôi lần lượt trình bày những khái niêm cơ bản về từ và âm tiết trong tiếng Hán và tiếng Việt, khái niệm cơ bản về hiện tượng hài âm, tượng trưng trong tiếng Hán Do hai ngôn ngữ Hán, Việt là hai ngôn ngữ đơn lập, hơn nữa dân tộc Hán và dân tộc Việt có một thời gian dài giao lưu tiếp xúc, vì thế khái niệm về từ, cấu tạo

âm tiết trong tiếng Hán và tiếng Việt có những nét gần giống nhau khái niệm về hiện tượng hài âm trong tiếng Hán chính là hiện tượng đồng âm, cận âm Trong tiếng Việt, ngoài khái niệm về hài âm mà tác giả Đinh Trọng Lạc đã nhắc đến trong tu từ thì tuy chưa có cách gọi là hài âm, nhưng qua các ví dụ đã trình bày ở phần trên, hiện tượng đồng âm và cận âm trong tiếng Việt đã rất phổ biến Có thể nói các từ đồng âm, cận âm

trong tiếng Việt gốc Hán hoặc từ thuần Việt cũng được xem như là hiện tượng hài âm Từ

ngữ tượng trưng trong tiếng Việt cũng tương tự như trong tiếng Hán ngoài ý nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp, nghĩa tu từ thì đó chính là lớp từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần

đã trờ thành lớp từ mang ý nghĩa văn hóa

Trang 26

20

CHƯƠNG II

TỪ NGỮ HÀI ÂM TRONG TIẾNG HÁN

(VÀ DẤU ẤN TRONG TIẾNG VIỆT)

“Hài âm” xuất hiện trong trường hợp không muốn dùng từ trực ngôn (nói thẳng), vì

nhiều lý do khác nhau, như lý do đáp ứng tính nghệ thuật, lý do cần sự tế nhị, hoặc cũng

có thể để làm cho câu nói hàm súc Thường nó được dùng trong hai mục đích chính: Một

là cầu mong những điều tốt lành, hai là tránh những điều xui xẻo, hoặc đôi khi cũng chỉ là

để giải trí cho vui, cho thư giản, mà chẳng vì cái gì to tát cả Hình thức thể hiện của “hài

âm” hết sức phong phú có thể dùng những từ cụ thể, có thể xen vào trong thành ngữ, tục

ngữ, có thể dùng hội họa (tức là dùng tranh vẽ để “chơi hài âm” nhất là loại tranh cát

tường, có số lượng rất lớn)v.v

Sau đây sẽ phân tích và tìm hiểu một số trường hợp:

2.1 LỜI CẦU MONG TỐT LÀNH:

Trang 27

21

(Hình 1)

2.1.1 fú dǎo (福 倒) và fú dào (福 到):

Trong tiếng Hán dǎo và dào là hai cặp hài âm, theo

dạng cận âm dǎo là “đảo ngược”, còn dào là “đến” Vào

dịp đón năm mới âm lịch, đáng lẽ dán hai chữ fú dào( 福到 )

trước cửa để cầu mong “phúc đến nhà” thì người Trung

Quốc chỉ dán một chữ fú (福), nhưng dán ngược Đó là một

hình thức “chơi” hài âm, mang tính văn hóa (xem hình 1)

2.1.2 Hai cặp hài âm: yáng (羊)và xiáng (祥); lù (禄) và lù(鹿):

- yáng ( 羊 ) và xiáng( 祥 ): Là một cặp hài âm, kiểu cận âm, chữ yáng (羊)là con dê, còn

xiáng (祥) là chỉ: “Những điều may mắn cát tường” Vì vậy, để thay cho lời cầu chúc thì người Trung Quốc khi tặng lễ vật trong buổi lễ, nhà trai thường mang “cừu, dê” đến tặng cho nhà gái nhằm cầu mong: “Những điều tốt lành sẽ đến với họ” hoặc nhằm chúc cho

họ hàng nhà gái luôn gặp “Những điều tốt lành”

- lù ( 禄 ) và lù ( 鹿 ): Là một cặp hài âm, kiểu đồng âm Người Trung Quốc dựa vào mặt

chữ để khu biệt nghĩa Chữ lù (鹿) là chỉ “con nai, hươu”, còn lù (禄) là: Lộc (một trong

ba điều tốt: Phúc, lộc, thọ) [13, 197]

2.1.3 Hai cặp hài âm: shēng (生) và shēng (生); lián ( 莲 ) và lián ( 连 ):

- huā shēng (花 生) và shēng chǎn (生产) Trong tiếng Hán chữ shēng (生) trong huā shēng (花 生) và shēng (生) trong shēng chǎn (生产) là một cặp hài âm, kiểu đồng âm,

huā shēng (花 生) là “đậu phọng”, shēng chǎn (生) là “sinh con”

- Tương tự chữ lián (莲) trong từ lián zi (莲子) và chữ lián (连) trong từ lián xù (连续)

là một cặp hài âm, kiểu đồng âm Chữ lián (莲 ) trong lián zi (子) là “hoa sen”, còn

chữ lián (连) trong lián xù (连续) là “liên tiếp, liên tục, suốt” Nếu kết hợp hai cặp hài

Trang 28

22

(Hình 2)

âm vừa mới phân tích trên sẽ là lời cầu chúc cho: “Đôi phu thê được liên tiếp sinh con”

Chính vì vậy mà có tục lệ thường tặng hoa sen và đậu phọng cho đôi tân lang và tân nương

2.1.4 guì (桂) và guì ( 贵 ): Đây là một cặp hài âm, theo kiểu đồng âm, guì (桂) dùng trong guì

yuán (桂圆) là “quả nhãn”, còn chữ (贵) dùng trong xiáng guì(祥贵) là: “Những điều

may mắn tốt lành” Người Trung Quốc thường tặng quả nhãn vào các ngày lễ, tết là cách

thể hiện thành ý của mình một cách nghệ thuật: “Chúc may mắn tốt lành”

2.1.5 hé (核) và hé (和): Trong tiếng Hán, đây là một cặp hài âm, kiểu đồng âm, hé (核) được

dùng trong hé tào (核桃) là “quả hạnh đào”, còn hé (和) được dùng trong hé měi (和美) là: “Sự hòa hợp” Chính sự hài âm này, người Trung Quốc thường dùng quả hạnh đào tặng cho đôi tân hôn, với hy vọng: “Họ luôn đối xử với nhau một cách hòa hợp”

2.1.6 Từ thành ngữ bǎi nián hé hǎo (百年和好):

Trong thành ngữ này ta có hai cặp hài âm như sau:

(1) bǎi (百) trong bǎi hé (百合) là “hoa bách

hợp” và bǎi (百) trong bǎi nián (百年) là: “Trăm

năm” Hai chữ bǎi (百) này là một cặp hài âm,

kiểu đồng âm, và đồng nghĩa là: “Một trăm”

(2) hé (合) trong bǎi hé (百合) và hé(和) trong

hé hǎo (和好): hé (合) và hé (和) là một cặp hài

âm, kiểu đồng âm, hé (合) trong bǎi hé (百合) là “hoa bách hợp”, còn hé (和) trong hé

Trang 29

23

(Hình 4a) (Hình 3)

hǎo (和好) là: “Sự hòa hợp” Phương pháp hài âm độc đáo này có thể thay cho lời chúc tụng đôi vợ chồng trẻ trong ngày cưới được: “Bách niên hảo hợp” (trăm năm hòa hợp) Chính vì thế người Trung Quốc thường tặng hoa bách hợp (xem hình 2)

2.1.7 xié(鞋) và xié( 谐 ):

xié(鞋) và xié(谐) là một cặp hài âm, kiểu đồng âm, chữ xié (鞋) là “giày”, còn chữ

xié(谐) là: “Sự hài hòa” Đặc biệt trong tiếng Hán lại có câu thành ngữ: “Phu thê đồng

hài” (fū qītóng xié: 夫妻同鞋), người Trung Quốc thường dùng chỗ hài âm này, nên có

tục trước khi vào động phòng cô dâu cởi giày của mình ra và mang giày chú rễ vào (đồng

hài: 同鞋 / là cùng đi chung một giày), với tâm nguyện là: “Mong sao cho hai người luôn

luôn hòa hợp, yêu thương nhau” (đồng hài: 同 / là cùng hòa hợp)

2.1.8 yú ( 鱼 ) và yú(余):

Trong tiếng Hán yú(鱼) và yú(余) là một cặp hài âm, kiểu đồngâm, yú(鱼) là “cá”, còn

yú (余) là “sự dư dật, sung túc” Chính sự hài âm của hai từ này nên cá đã trở thành đề

tài hấp dẫn và được ưa chuộng nhất Cá sẽ phối hợp với rất nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau để thể hiện sự giàu có dư dã

2.1.9 lián ( 莲 ) và lián ( 连 ): Hai từ lián (莲) và lián (连)

là một cặp hài âm, kiểu đồng âm, lián (莲) dùng

trong lián huā (莲花) là “hoa sen”, còn lián (连)

dùng trong lián xù(连续) là “liên tục, liên tiếp,

suốt” Để ứng dụng chỗ hài âm này người Trung

Trang 30

24

(Hình 5) (Hình 4b)

(Hình 6)

Quốc thường vẽ hoa sen và cá chung với nhau, với tâm nguyện là: Sự dư dã, sung túc

luôn mang đến

cho họ (xem hình 3) Một số người cònvẽ chín con cá Đây cũng có cặp hài âm jǐu(九)

và jǐu(久), theo kiểu đồng âm, jǐu (九) là “Số 9”, còn jǐu (久) là “Sự trường cửu, mãi

mãi”, với hàm nghĩa là: “Mãi mãi sẽ được sung túc, dư dật” (xem hình 4 a, 4b) Chín

con cá và hoa sen hoặc 9 con cá và hoa đào: Biểu

tượng của sự “Mãi mãi sẽ được sung túc, dư dật”

- Theo truyền thống Trung Quốc đông con là có

phúc, con trai được coi trọng hơn con gái vì con trai

nối dõi cho dòng họ, chỉ con trai mới được chấp

nhận tham dự vào các cơ hội thăng tiến: đi thi làm

quan Do đó hình tượng bé trai bụ bẩm vui cười

được xem là nguồn hạnh phúc của gia đình, là biểu

tượng của: “Sự phú quý giàu sang”, theo mục

[2.1.8] và [2.1.9] vừa mới trình bày thì hình con cá

và hoa sen là biểu tượng của “Sự sung túc dư dật

liên tục năm này sang năm khác” Do đó hình ảnh

đồng tử ôm con cá, tay cầm hoa sen là tượng trưng

cho “liên niên phú quý hữu dư”( 连 年富 贵 有余 ), cũng gọi là “phú quý hữu

dư”( 富 贵 有余) Người Trung Quốc đã vận

dụng chỗ hài âm này, họa ra bức tranh hình đồng tử tay cầm hoa sen và ôm con cá, để

thay cho lời chúc tốt đẹp nhất (xem hình 5)

2.1.10 Ba cặp hài âm lián( 莲 ) và lián( 连 ); guì(桂) và guì( 贵 );

shēng(笙) và shēng (生):

Trang 31

25

(Hình 7)

- lián ( 莲 ) và lián ( 连 ) : Là một cặp hài âm, kiểu đồng âm, chính thế lián (莲) trong từ lián huā(莲花) được xem như là: “Sự liên tục, liên tiếp”, xem mục [2.1.3]

- guì ( 桂 ) và guì ( 贵 ): Là một cặp hài âm, kiểu đồng âm, guì(桂) trong guì huā(桂花) là

chỉ “hoa nguyệt quế”, còn guì (贵)trong từ guì zI(贵子) tức là “Qúy tử” (con trai quý)

- shēng ( 笙 ) và shēng ( 生 ): Là một cặp hài âm, kiểu đồng âm, shēng (笙) là cái kèn còn

shēng (生) là chỉ: “Sự sinh sản, sinh đẻ” Để cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ luôn sinh

được quý tử, thay vì nói bằng lời sẽ không gây ấn tượng bằng vận dụng ba cặp hài âm vừa mới trình bày, người Trung Quốc sẽ họa bức tranh hình bé trai mập mạp cầm cái kèn

thổi và hai bên có hoa sen và hoa nguyệt quế Hình bé trai cũng là biểu tượng của “Sự

phú quý giàu sang” Bằng cách chơi hài âm này đã nói lên được tâm nguyện cầu chúc

cho đôi vợ chồng trẻ luôn được “liên sinh quý tử” ( 连 生 贵 子 ), tức chỉ: “Sự liên tiếp sinh

được quý tử” (xem hình 6)

2.1.11 Hai cặp hài âm: qìng(罄) và qìng( 庆 ); zǎo(藻) và zǎo(早):

- Hai từ qìng(罄) và qìng(庆): Là một cập hài âm, kiểu đồng âm, qìng (罄) nghĩa là “cái

khánh” (một loại nhạc cụ cổ), còn qìng(庆) trong từ qìng zhù (庆祝) tức chỉ: “Sự chúc

mừng, chúc mừng”,

- Hai từ zǎo(藻) và zǎo(早): Là một cặp hài âm, kiểu

đồng âm, zǎo(藻) là loài tảo biển sống dưới nước còn

gọi là rong , còn zǎo(早) nghĩa là sớm Vận dụng chỗ

hài âm này, kết hợp với sự hài âm trong mục [2.1.8] và

[2.1.9] (con cá và hoa sen luôn là biểu tượng của: Sự

dư dật liên tiếp) người Trung Quốc vẽ nên bức tranh

Trang 32

được: “Tảo nam khánh dư” (早男余) tức là “Sớm sinh được con trai và luôn dư dật

sung túc từ năm này sang năm khác” (xem hình 7)

2.1.12 Hai cặp hài âm jú (橘) và jí(吉); nián yú ( 鲶鱼 ) và nián yú (年余):

- Hai từ jú (橘)và jí(吉) này là một cặp hài âm,

kiểu cận âm, jú (橘) trong (橘子) là “quả quít”,

còn jí(吉) trong (大吉) là: “Đại cát, những điều

may mắn tốt lành”

- Hai từ nián yú (鲶鱼) nián yú (年余) là một cặp

hài âm, trong cặp hài âm này lại được chia ra làm

2 nhóm nhỏ nữa:

+ nián(鲶) và nián(年) là một cặp hài âm, kiểu

đồng âm, nián(鲶) trong nián yú(鲶鱼) là: “một

loài cá nheo”, còn nián(年) trong nián yú(年余)

là: “niên dư” (sự dư dật sung túc từ năm này

sang năm khác)

+ yú (鱼)và yú(余) là một cặp hài âm, kiểu đồng

âm, xem mục [2.1.8]

Vận dụng hai cặp hài âm vừa mới trình bày sẽ là

một lời cầu chúc cho mọi người luôn được “niên

niên hữu dư” hay là “niên niên đại cát” tức

Trang 33

27

(Hình 9 a)

“giàu sang phú quý, may mắn tốt lành từ năm này sang năm khác”, (年年有余/

年年大吉) Chỉ cần tặng hình vẻ con cá nheo và quả quýt là người được tặng quà hiểu ý

ngay và cảm thấy rất vui mừng, (xem hình 8a) Tương tự “Niên niên hữu dư” (年年有) còn được thể hiện bằng bức họa: Mấy quả pháo và làn cá nheo Hay còn gọi là: “Niên

niên đại cát” Pháo là một thứ mà con người dùng để đốt và phát ra tiếng nổ thật là hào

hứng vui nhộn Thường được con người đốt trong những dịp lễ, tết Hoạt động này cứ lặp

đi lặp lại hàng năm, cho nên pháo sẽ mang ý nghĩa biểu tượng là: “Niên niên”, nghĩa là:

“Hàng năm, năm này sang năm khác” Bên cạnh đó hình ảnh con cá tương tự như trên đã

nói sẽ đồng âm với chữ yú (余) là: “Dư dật, sung túc” Cho nên đây là lời cầu chúc có ý nghĩa: “Cát tường, được dư dật, sung túc năm này sang năm khác” (xem hình 8b)

2.1.13 lǐ () và lì(利):

lǐ(鲤) và lì(利) là một cặp hài âm, kiểu cận âm, lǐ(鲤) trong từ lǐ yú (鲤鱼) là “cá chép”, còn lì (利) trong dà jí dà lì (大吉大利) là: “Đại cát đại lợi (điều tốt lành)” Chính sự hài

âm này đã tạo nên lời cầu chúc cho các sĩ tử vượt mọi gian khổ để thi đỗ đạt, được thể

hiện qua bức tranh: “Cá chép vượt long môn” (lǐ yú tiào lóng men: 鲤鱼跳龙门) Từ tiào

(跳) là động từ “nhảy qua, vượt qua”, nó làm cho người ta liên tưởng đến sự: “Vượt lên

cao” (gāo shèng: 高升), ngụ ý là:”Sự kiên

trì, bền chí, Sự thăng tiến” Nếu nghĩ theo

cách khác đó là: “Việc làm ăn được thuận

lợi, trôi chảy, có lời từng bước thăng tiến”

(xem hình 9a, 9b)

Trang 34

“Ngọc ngà châu báu đầy nhà” (jīn yú mǎn táng: 玉堂), (xem hình 10a, 10b)

2.1.15 jì( 鸡 ) và jí(吉):

Trang 35

“Phú quý cát tường” (xem hình 11 )

2.1.16 Hai cặp hài âm gōng(公) và gōng(功) ; míng( 鸣 ) và míng(名):

- gōng(公)và gōng (功): là một cặp hài âm,

kiểu đồng âm, gōng(公) trong gōng jì(公鸡) là

“con gà trống”, còn gōng (功) trong gōng láo

(劳) là “công lao”

- míng(鸣) và míng(名): là một cặp hài âm,

kiểu đồng âm, míng(鸣) là:”Tiếng gà gáy”,

còn míng (名) là: “Công danh” Xuất phát từ

chỗ hài âm này người ta đã biết phối hợp rất

nhiều loại Hoa mẫu đơn (mǔ dān: 牡丹) là vua

các loài hoa, biểu tượng của: “Sự giàu sang

phú quý” Đây là bức vẽ biểu trưng cho “Công

danh phú quý” (gōng míng fù guì / 功名富贵),

thay cho lời chúc: “Con người thành đạt, nổi

tiếng và giàu sang” (xem hình 12)

2.1.17 Ba cặp hài âm có tên trong món ăn Trung Quốc:

jú zi(橘子) và jí lì(吉利); tāng yuán( 汤圆 ) và tuán

yuán( 团圆 ); nián gāo(年糕) và nián gā(高)

(1) jú zi (橘子) và jí lì (吉利):

Trang 36

30

Trong tiếng Hán, jú (橘) và jí (吉) là một cặp hài âm, kiểu cận âm, jú zi(橘子) là “quả

quýt”, còn jí lì (吉利) là: “Thuận lợi, may mắn” Người Trung Quốc vào dịp tết đoan ngọ

thường có tục đeo túi thơm để trừ tà lánh nạn Trong túi thơm thường đựng nhiều thứ như: Các loại thuốc bắc có mùi thơm, lá ngải, có thể tránh muỗi, trừ khuẩn, có lợi cho sức

khỏe, hình quả đào, hình dơi, đặc biệt là có hình “quả cam quýt” Nhằm chúc: “Luôn

được may mắn thuận lợi”

(2 ) tāng yuán (汤圆) và tuán yuán (团圆):

Tương tự yuán (圆) và yuán (圆) là một cặp hài âm, kiểu đồng âm, tāng yuán (汤圆) là

“bánh trôi”, còn tuán yuán (团圆) là: “Sự đoàn viên, đoàn tụ” Bánh trôi là bánh thường được ăn vào dịp tết nguyên tiêu đã có từ lâu đời ở Trung Quốc với nguyện vọng là: “Gia

đình đều được đoàn tụ như trăng tròn”

(3) nián gāo (年糕) và nián gāo (年高):

nián gāo(年糕)và nián gāo(年高) là một cặp hài âm theo kiểu đồng âm, niángāo(年糕) là

“bánh tết”, còn nián gāo(年高) là: “Niên cao, tuổi tác cao, sống lâu” Đặc biệt là chữ

gāo(高) trong gāo shēng (高升) và chữ gāo (高) trong nián gāo(年高) cũng là một cặp hài

âm, nghĩa là: “nián nián gāo shēng” (年年高升) Tức là: “Suốt năm đều được thịnh

vượng và phát đạt”

Việt Nam là một trong những nước trải qua quá trình giao thoa với văn hóa Hán khá lâu Trong quá trình tiếp xúc cả về ngôn ngữ lẫn những sắc thái văn hóa đã có ảnh hưởng rất lớn Vì vậy tiếng Việt có nhiều đặc điểm tương đồng với tiếng Hán, ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Việt là cực kỳ to lớn và sâu sắc Ngoài một số lượng lớn từ

vựng gốc Hán trong tiếng Việt, thì “văn hóa hài âm” của tiếng Hán đã để lại dấu vết của

nó trong tiếng Việt rất nhiều, chẳng hạn cách chơi hài âm của dân tộc Việt Nam được Tác

giả Lê Trung Hoa ghi nhận trong quyển sách có tên là: “Thú chơi chữ” Đó là những thủ

Trang 37

31

pháp và “thú chơi chữ” của dân tộc Việt Nam, là một minh chứng về dấu ấn của văn hóa

hài âm của tiếng Hán trong tiếng Việt Đặc biệt dấu ấn sâu sắc và đời thường nhất là hiện tượng hài âm có liên quan đến các loại trái cây của Việt Nam như sau:

2.1.18 Năm cặp hài âm có liên quan đến các loại trái cây :

(1)Trái mãng cầu và nguyện cầu: chữ cầu trong (trái mãng cầu) và chữ cầu trong (nguyện cầu) là một cặp hài âm, kiểu đồng âm

(2) Trái dừa và vừa (mức độ): Chữ dừa trong (trái dừa) và chữ vừa (chỉ mức độ

vừa, tương đối) là một cặp hài âm, kiểu cận âm

(3) Trái đu đủ và đủ (chỉ mức độ): Chữ đủ trong (trái đu đủ) và chữ đủ (chỉ mức

độ đầy đủ), là một cặp hài âm, kiểu đồng âm

(4) Trái xoài và xài (chỉ động tác tiêu xài): chữ xoài trong (trái xoài) và chữ xài trong (tiêu xài) là một cặp đồng âm, kiểu cận âm

(5) Chữ sung trong (trái sung) và chữ sung trong (sung túc/ 充足 ): Là một cặp hài

âm, kiểu đồng âm

Do vận dụng cách hài âm này mà người Việt thường có tập quán trang trí mâm

ngũ quả vào ngày tết (đó là cầu, dừa, đủ, xài, sung) Đây là năm cặp hài âm mang sắc thái văn hóa dân tộc Về ngũ quả còn có ý nghĩa hết sức đặc biệt Trước hết là về chữ ngũ quả

(tức năm loại quả) Điều này không phải ngẫu nhiên, tại sao không dùng bốn hay ba quả

mà lại dùng “Năm loại quả” Những điều này cũng do xuất phát từ những nét văn hóa dân tộc và đã trở thành phong tục Ở đây chúng tôi sẽ nói một chút về chữ ngũ Chữ ngũ (chỉ số 5) và chữ ngũ trong (ngũ hành) là một cặp hài âm, kiểu đồng âm Theo sách “Tìm

về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm [14, 142-188], chúng ta nhận biết

rằng không gian vũ trụ mà chúng ta đang sống được cấu tạo bởi ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa thổ) Theo đó, hành thổ ứng với số 5 Hơn nữa, nước Việt Nam ta là một nước luôn xem trọng nền kinh tế nông nghiệp lúa nước Vì vậy đối với người làm nông nghiệp

Trang 38

32

(Hình 13)

thì không gì quan trọng hơn đất.Vừa vận dụng sự hài âm và kết hợp với yếu tố văn hóa

vừa nêu nên số 5 là số biểu hiện chung của “sự sống” Thêm vào đó chữ quả, tại sao phải dùng quả mà không phải là thứ khác Ở đây chữ quả là (trái cây) bên trong thường chứa nhiều hạt, được đồng nhất với quả trứng, với vũ trụ, biểu tượng cho: “Mọi nguồn gốc,

mọi sự khởi nguyên”, hạt bên trong của nó biểu trưng cho: “Sự phồn thực sinh sôi và khao khát, sự bất tử” hiểu theo nghĩa là: “Sự nối truyền dòng giống miên viễn” Cho nên

từ quả (trái cây) nói chung là biểu tượng của: “Sự sung túc dồi dào” Chính vì vậy mà

người Việt Nam vào ngày tết, cho dù ở thành thị hay thôn quê, giàu sang hay nghèo khó,

trên bàn thờ tổ tiên, hay bàn khách, hầu như nhà nào cũng có trưng một “mâm ngũ quả”,

và cố thể hiện sao cho vừa đẹp mắt, vừa hàm ý những điều nguyện ước của gia chủ Theo tập quán của người Nam bộ thì ngày tết thường trưng năm ngũ quả gồm các thứ như: Mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài và sung Đây là do vận dụng hiện tượng hài âm nói trên nhằm

mục đích:

- cầu (求) là: cầu phúc, những điều như ý

- dừa (vừa) chỉ: mức độ chỉ vừa đủ, đừng thiếu

- (đu đủ) là: sự mong ước đầy đủ, thịnh vượng

- xoài (xài) là: sự tiêu xài

- (trái sung) chỉ sự sung túc (充足), sự sung mãn

về sức khỏe, hay tiền bạc

Trong năm loại ngũ quả của người Việt Nam có đến hai yếu tố gốc Hán (cầu và sung), chúng tôi nghĩ “Văn hóa hài âm” của tiếng Hán, không chỉ dừng ở sự mặt các yếu tố gốc Hán trong tiếng Việt, mà dấu vết của nó là thủ pháp và “thú chơi chữ” (xem hình 13)

2.1.19 Vài ví dụ về ảnh hưởng “văn hóa hài âm” của người Hán đối với người Việt:

Trong văn hóa Hán có hai cặp hài âm:

Trang 39

33

(Hình 14)

- shì (柿) trong shì zi (柿子)và shì (事) trong shì qíng(事情) là một cặp hài âm, kiểu đồng

âm, shì zi (柿子) là “cây, trái hồng”, còn shì qíng(事情) là: “Sự việc, công việc”

- píng (苹) trong píng guǒ (苹果) và píng(平) trong píng ān(平安) Là một cặp hài âm,

kiểu đồng âm, píng guǒ(苹果) là “cây táo”, còn píng ān (平安) là: “Sự bình yên” Đặc biệt hơn nữa là trong tiếng Hán thường có câu: “Mọi sự đều được bình an” (shì shì píng

ān: 事事平安) Người Việt thường trồng cây hồng và cây táo trong sân nhà là để mong

ước: “Mọi sự đều được tốt đẹp êm xuôi” Có thể xuất phát từ nguồn gốc dùng “văn hóa

hài âm”của tiếng Hán, người Hán trước đây

Theo tập quán người Việt, mỗi năm vào đêm giao thừa người ta thường có tục

“Hái lộc đầu năm” trong sân Đình, Chùa Cái gọi là: “Lộc” ở đây thường là: “Một nhành cây non” hay “một nhành hoa mai” Đây cũng là cách mọi người ứng dụng sự hài

âm qua cặp hài âm sau: lộc (nhành mai non) hài âm

với chữ lộc(禄) / lù: “bổng lộc” có nguồn gốc từ

gốc Hán Những điều này nói lên tâm tư, nguyện

vọng của mọi người là: “Mong sao cho cả năm đều

gặp vận may mắn, được nhiều ơn ban thưởng”

2.1.20 qīng lián (清 莲 ) và qīng lián (清廉) :

Trong tiếng Hán chữ lián (莲) và lián (廉) là một

cặp hài âm, kiểu đồng âm, lián (莲) trong (清莲) là

“hoa sen”, còn lián(廉) trong (清廉) là “thanh

liêm, (trong sạch)” Hoa sen khi chưa nở thì cánh

hoa bao quanh nụ, hoa có màu xanh lục nên gọi là:

“Thanh liêm” Đặc biệt là trong tiếng Hán có câu

thành ngữ: “Nhất phẩm thanh liêm” (一品清廉)

Trang 40

34

(Hình 15)

Ngụ ý chỉ: “Những người làm quan luôn giữ đạo công chính liêm minh” Để thể hiện

câu thành ngữ này,

người ta chỉ cần vẽ bức tranh cây sen (xem hình 14)

2.1.21 Hai cặp hài âm: lì (荔)và lì (俐) ; yuán ( 圆 ) và yuán(元)

- lì (荔) và lì (俐) là một cặp hài âm theo kiểu đồng âm, lì (荔) trong lì zhī (荔枝) là “trái

vải” còn lì (俐 ) trong líng lì (伶俐) là “lanh lợi”

- yuán (圆) trong guì yuán (桂圆) là “trái vải”, còn

yuán (元) trong sān yuán (三元) là: “Tam nguyên”

(ba kỳ thi: thi hương, thi hội, thi đình) Xuất phát từ

hai cặp hài âm này, người Trung Quốc liên tưởng

đến câu thành ngữ: “Liên trung tam nguyên” (lián

zhōng sān yuán / 连中三元), tức là: “Đỗ liên tục

trong ba kỳ thi” Để thể hiện được nguyện vọng này

người Hán đã họa bức họa gồm trái vải, trái nhãn và

trái hạnh dào Hạnh đào là một loại trái cây tượng

trưng cho “tuổi thọ” đào thường được hiểu là trái

đào tiên, là loại trái cây trên cung thượng giới,

thuộc cung Dao Trì của Bà Tây Vương Mẫu Theo

truyền thuyết ăn được trái đào này sẽ được trường thọ Vì vậy đào ở đây là ngụ ý: “Mãi

mãi, liên tục” Hơn nữa, trái vải, trái nhãn và hạnh đào đều có hình tròn chỉ cho:”Tam nguyên” Cho nên nó là biểu tượng của: “Sự liên tục thi đậu trong ba kỳ thi” (xem hình 15)

2.1.22 Hai cặp hài âm: róng (蓉 ) và róng ( 荣 ); guì (桂) và guì ( 贵 ):

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w