Khảo sát một số tập thơ của các nhà thơ nữ tiêu biểu mang dấu ấn hiện sinh viết từ năm 2000 đến 2015, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau: - Dấu ấn hiện sinh trong v
Trang 3Trong thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lí luận Văn học với đề tài “Dấu ấn hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam 2000-2015” tôi nhận được sự quan tâm của Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, quý thầy cô giảng dạy chuyên ngành Lí luận Văn học (Cao học khóa 25- Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) Đặc biệt là sự động viên và giúp đỡ tận tình của TS Nguyễn Hoài Thanh, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Và tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Trần Hoài Anh, người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu
Xuất phát từ tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hoài Thanh, TS Trần Hoài Anh, Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, quý thầy cô, các phòng ban của Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh (Phòng Sau đại học, thư viện trường) cũng như gia đình và đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 03 năm 2017
Người thực hiện
Hoàng Thị Hợp
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ thầy hướng dẫn - TS Nguyễn Hoài Thanh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài “Dấu ấn hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam 2000-2015” là trung thực và chưa từng công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Nếu có sự gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ, cũng như kết quả luận văn của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày10 tháng 03 năm 2017
Người cam đoan
Hoàng Thị Hợp
Trang 5VIỆT NAM TỪ 2000 ĐẾN 2015 7
1.1 Chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam 7 1.1.1 Chủ nghĩa hiện sinh và sự du nhập của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt
Nam 7 1.1.2 Chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn học Việt Nam
trước 1975 10 1.1.3 Chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn học Việt Nam
sau 1975 12 1.2 Khái quát về thơ nữ Việt Nam thời kì đổi mới (từ 1986 đến nay) 17 1.2.1 Thơ nữ Việt Nam trong bối cảnh đời sống xã hội thời kì đổi mới 17 1.2.3 Đội ngũ các nhà thơ nữ từ 2000 đến 2015 nhìn từ sự vận động của
thơ nữ thời kì đổi mới 21 1.3 Thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015 – nhìn từ cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới 24 1.3.1 Cá tính sáng tạo trong thơ 24 1.3.2 Cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới trong thơ nữ Việt Nam từ
2000 đến 2015 27 Tiểu kết chương 1 34
Trang 6THƠ NỮ VIỆT NAM TỪ 2000 ĐẾN 2015 35
2.1 Những biểu hiện của cái tôi bản thể 35
2.1.1 Sự thức tỉnh ý thức cá nhân của cái tôi bản thể 35
2.1.2 Cái tôi đầy dự cảm bi kịch 42
2.1.3 Cái tôi lo âu, dằn vặt và bất an 47
2.2 Nỗi ám ảnh về sự mong manh của kiếp người 54
2.2.1 Nỗi lo âu về sự mong manh của kiếp người – một hằng số của thơ ca 54
2.2.2 Nỗi ám ảnh về sự mong manh của kiếp người trong thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015 59
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM 2000 – 2015 – NHÌN TỪ CẢM THỨC VỀ NỖI BUỒN, SỰ CÔ ĐƠN VÀ KHÁT KHAO NHỤC CẢM 68
3.1 Cảm thức về nỗi buồn 68
3.1.1 Cảm thức về nỗi buồn – một phẩm tính của thi ca 68
3.1.2 Cảm thức về nỗi buồn trong thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015 72
3.2 Cảm thức về sự cô đơn 80
3.2.1 Nỗi cô đơn – Căn tính của phận người 80
3.2.2 Nỗi cô đơn phận người – mã thẩm mỹ của dấu ấn hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015 84
3.3 Sự khát khao nhục cảm 92
3.3.1 Khát khao nhục cảm – một phẩm tính của con người 93
3.3.2 Khát khao nhục cảm – một biểu hiện của cái tôi trong văn học hiện sinh 96
Trang 7Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết học hiện sinh, một trong những hệ hình tư duy triết học phương Tây được nhân loại quan tâm bởi lẽ nó luôn song hành với thân phận con người Với việc lấy con người làm đối tượng trung tâm nên vấn đề chủ nghĩa hiện sinh đặt
ra có ý nghĩa thẩm mĩ và nhân sinh sâu sắc Cùng với triết học hiện sinh là sự xuất hiện của khuynh hướng văn học hiện sinh chi phối sâu sắc đời sống văn học của nhiều nước trên thế giới mà Việt Nam không phải là ngoại lệ Do đó nghiên cứu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với văn học là điều rất quan thiết Trước đây vì nhiều lý do khác nhau, trong nền văn học cách mạng, triết học hiện sinh và cả văn học hiện sinh ít được đề cập đến trong đời sống văn học nói chung và đời sống lý luận – phê bình văn học nói riêng Song, từ khi đất nước đổi mới, trong xu thế mở cửa hòa nhập với thế giới, nhiều trường phái lý thuyết phương Tây như Phân tâm học; Tự sự học, Thi pháp học; Hiện tượng luận; Cấu trúc luận, Phê bình nữ quyền, Hậu hiện đại được tiếp nhận và giới thiệu ở Việt Nam trong đó chủ nghĩa hiện sinh Những trường phái ấy đều được các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình vận dụng trong sáng tác và phê bình văn học mà chủ nghĩa hiện sinh là một trường hợp điển hình
Trong thành tựu văn học Việt Nam từ sau thời kì đổi mới, có khá nhiều tác phẩm văn học có dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong đó có những tác phẩm thơ ca của các nữ thi sĩ, đặc biệt là thơ ca nữ Việt Nam từ 2000-2015 Thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu, phê bình về thành tựu thơ nữ giai đoạn này và đã đề cập đến dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh, nhưng chưa có công trình nào đi sâu khảo sát những biểu hiện cụ thể sinh động của nó
Để hiểu rõ hơn vấn đề này và thấy được những thành tựu của văn học nói chung và thơ ca đặc biệt là thơ ca nữ nói riêng trong thời kỳ đổi mới, chúng tôi
Trang 9chọn đề tài Dấu ấn hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015 làm đề
tài nghiên cứu trong luận văn của mình
2 Lịch sử vấn đề
Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay, vấn đề nghiên cứu về dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới chưa được nghiên cứu nhiều, chỉ có Trần Hoài Anh là người có một số bài viết liên quan đến vấn
đề chủ nghĩa hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới Đó là các bài viết
như: “Ly Hoàng Ly - Người gọi hồn cho đêm” (Văn nghệ trẻ số 37/13/9/2009));
“Tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du” trong tác phẩm Văn học nhìn từ văn hóa
(Nxb Thanh niên 2012 ; “Người đàn bà qua hai mùa tóc và tâm thức hiện sinh
trong thơ Anh Hồng” (in trong Văn hóa – Văn chương và hành trình sáng tạo,
Nxb Thanh niên 2014 Khuynh hướng hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam thời kì
đổi mới, (Tạp chí Sông Hương 10/2015); Lâm Thị Mỹ Dạ và sự ám ảnh về cái đẹp của tâm thức hiện sinh (Tạp chí Nhật Lệ số 254 5/2016)
Trong bài viết Khuynh hướng hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam thời kì đổi
mới, tác giả cho rằng: “Khảo sát thơ nữ Việt Nam từ sau 1986 đến nay, chúng
tôi nhận thấy ảnh hưởng của tư tưởng hiện sinh đã tạo thành một khuynh hướng sáng tác trong thơ của nhiều tác giả thuộc các thế hệ cầm bút khác
nhau” [12] Như vậy, Trần Hoài Anh khẳng định chủ nghĩa hiện sinh có sức ảnh
hưởng đủ mạnh để trở thành một “khuynh hướng” trong sáng tác của nhiều nhà thơ nữ từ sau năm 1986 Trong bài viết của Trần Hoài Anh, dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh thể hiện ở nhiều phạm trù khác nhau nhưng về cơ bản, ở giai
đoạn này, thơ nữ tập trung phản ánh những vấn đề về thân phận, hữu thể, nhân
sinh của kiếp người Trong bài viết, tác giả đưa ra những vẫn đề nổi bật trong
cảm thức hiện sinh Trước hết là những trăn trở, suy tư về kiếp người trong hành
trình đi tìm, khẳng định cái tôi bản thể qua sáng tác của một số nhà thơ như Lâm
Thị Mỹ Dạ, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly…, là những cảm thức về nỗi buồn,
Trang 10niềm cô đơn và sự hư hao mỏng manh của kiếp người, khi con người vừa thoát
ra khỏi cuộc chiến tranh và bắt đầu đối diện với những nhiễu nhương của cuộc
sống đời thường thời kì hậu chiến
Sau khi đưa ra những biểu hiện cơ bản để khẳng định khuynh hướng hiện sinh trong thơ nữ thời kì đổi mới, Trần Hoài Anh đã khẳng định đây là sự trở lại
của chủ nghĩa hiện sinh sau một thời gian dài vắng bóng: “Khuynh hướng hiện
sinh trong thơ nữ Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay thực chất là sự tiếp nối cảm thức hiện sinh vốn có từ nguồn mạch văn học của dân tộc đã bị đứt gãy trong một số thời kỳ do những va đập của lịch sử”
Những bài nghiên cứu này cũng đã chỉ ra một số dấu ấn khác nhau của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ của những cây bút nữ Do tập trung nghiên cứu vào vấn đề hiện sinh trong những tác giả cụ thể, cho nên các bài viết của Trần Hoài Anh mới chỉ dừng ở một số phạm vi nhất định Tuy nhiên những bài viết trên đã đặt ra những hướng nghiên cứu chính gợi mở cho chúng tôi trong việc triển khai các nội dung nghiên cứu của luận văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của luận văn là thơ của các nhà thơ nữ từ năm 2000 đến năm 2015 trên phổ rộng Trong đó luận văn tập trung nghiên cứu 30 tập thơ của các cây bút tiêu biểu như: Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Thị Lan, Huệ Triệu, Trần Mai Hường, Nguyễn Thị Minh Thắng, Cát Du, Bàng Ái Thơ, Ngô Thị Hạnh, Đông
Hà, Cẩm Lai, Vy Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Nguyệt Phạm,
Đinh Thị Thu Vân, Anh Hồng, Minh Đan, Vương Chi Lan, Ngô Thúy Nga…
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Theo cách nhìn nhận của chúng tôi, dấu ấn hiện sinh là sự thể hiện những sắc thái hiện sinh một cách cảm tính trong quá trình sáng tác của người nghệ sĩ Chính vì vậy, chúng tôi tập trung vào khảo sát, đối chiếu giữa tác phẩm và luận
Trang 11điểm hiện sinh để chỉ ra dáng vẻ, màu sắc hiện sinh cụ thể
Khảo sát một số tập thơ của các nhà thơ nữ tiêu biểu mang dấu ấn hiện sinh viết từ năm 2000 đến 2015, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:
- Dấu ấn hiện sinh trong việc thể hiện cái tôi bản thể và nỗi ám ảnh về sự mong manh của kiếp người
- Dấu ấn hiện sinh trong cảm thức về nỗi buồn, về sự cô đơn và khát khao nhục cảm
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp cận lý thuyết về chủ nghĩa hiện sinh và cảm nhận dấu ấn hiện sinh trong thơ của các nhà thơ nữ từ 2000 đến 2015, luận văn sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: phương pháp này sử dụng trong việc so sánh những sáng tác mang dấu ấn hiện sinh trong thơ nữ thời kì đổi mới nói chung và từ 2000-2015 với các thời kì trước Từ đó làm nổi bật dấu ấn hiện sinh trong thơ nữ 2000-2015
- Phương pháp lịch sử: xem xét, đánh giá thơ ca nữ 2000-2015 trong hoàn cảnh xã hội - lịch sử vừa qua
- Phương pháp phân tích tổng hợp: sau khi phân tích, tìm hiểu dấu ấn hiện sinh trong các tác phẩm cụ thể của thơ nữ 2000-2015, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp cho việc hỗ trợ thẩm bình, đánh giá đối tượng
- Phương pháp hệ thống: đây là phương pháp được áp dụng trong việc hệ thống lại những đặc điểm, đóng góp của đối tượng trong quá trình nghiên cứu để
Trang 12Việt Nam 2000-2015 Qua đó có thể khẳng định những giá trị, đóng góp của các nhà thơ nữ Việt Nam 2000-2015 trong dòng chảy văn học mang dấu ấn hiện sinh
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Áp dụng lí thuyết của chủ nghĩa hiện sinh vào nghiên cứu văn học, cụ thể
là nghiên cứu những ảnh hưởng của nó trong thơ nữ Việt Nam thời kì đổi mới nói chung và thơ của các nhà thơ nữ Việt Nam 2000-2015 nói riêng để từ đó thấy được những giá trị và những tiêu cực của dấu ấn hiện sinh trong mảng thơ này Luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy văn học ở các loại hình nhà trường
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
được triển khai trong 3 chương theo cấu trúc như sau:
Chương 1: Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và thơ nữ Việt Nam từ 2000
đến 2015
Đây là chương khái quát lí luận về chủ nghĩa hiện sinh và sự du nhập của
nó vào Việt Nam cũng như ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với văn học Việt Nam trước và sau 1975 Ở chương này chúng tôi cũng trình bày khái quát
về diện mạo của thơ nữ từ 2000 đến 2015 làm cơ sở cho việc khảo sát dấu ấn hiện sinh trong mảng thơ này
Chương 2: Cái tôi bản thể và nỗi ám ảnh về sự mong manh kiếp người-
Dấu ấn hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015
Trong chương này, luận văn tập trung khảo sát biểu hiện của cái tôi bản thể
và nỗi ám ảnh về sự mong manh của kiếp người Đây cũng là dấu ấn mang tính đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh
Chương 3: Dấu ấn hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015 –
Nhìn từ cảm thức về nỗi buồn, sự cô đơn và khát khao nhục cảm
Trang 13Ở chương này, chúng tôi tiếp tục khảo sát những dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh đó là cảm thức về nỗi buồn, cảm thức về sự cô đơn và khát khao nhục cảm được thể hiện trong thơ nữ Việt Nam từ 2000 -2015
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ
THƠ NỮ VIỆT NAM TỪ 2000 ĐẾN 2015
1.1 Chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam
1.1.1 Chủ nghĩa hiện sinh và sự du nhập của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam
“Con người trước hết là một dự phóng (project) tự tồn tại chủ quan, chứ
không như một đám rêu, một vật đang thối rữa hoặc một cây súp lơ.” [66,
tr.917] Đây chính là tuyên ngôn của Jean-Paul Sartre một trong những triết gia
về hiện sinh Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Chủ nghĩa hiện sinh là một
trào lưu văn học xuất hiện ở Châu Âu, trước hết là ở Pháp vào những năm trước
và sau Chiến tranh thế giới thứ hai và tiếp đó lan rộng nhanh chóng sang một số nước khác trên thế giới Đây là một trào lưu khá rộng lớn và phức tạp Ngay trong tư tưởng triết học của họ cũng không hoàn toàn đồng nhất Có người hữu thần, có người vô thần, song họ giống nhau ở tư tưởng bi quan sâu sắc đối với con người và cuộc sống Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh cho rằng trong thế giới ngày nay mọi giá trị tinh thần đang mất hết ý nghĩa mà không thể
bù đắp được Điều đó sẽ dẫn tới tấn thảm kịch truyền kiếp “Thân phận con người” Là quan niệm về sự mất ý nghĩa trong cuộc sống “một thời đại mất Chúa” Thế giới mà con người đang bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn giữa cái hiện hữu thù nghịch, cho nên cuộc đời chỉ là một sự vô nghĩa “Sự vô nghĩa sinh ra
từ sự đối chiếu giữa lời kêu gọi của con người và sự im lặng của cuộc đời” (A Camus)
Với quan niệm “Cái hiện sinh có trước cái bản chất”, các nhà hiện sinh chủ nghĩa kêu gọi con người quay về với cá nhân mình “dựa vào cái mình có để không ngừng nâng cao mình lên”, để “tự do sáng tạo ra mình bằng mỗi hành động của mình, tự do mang đến cho sự sinh tồn của mình một ý nghĩa và để trở
Trang 15thành cái trước đây mình không phải như thế” (Gi P Xác – tơ – rơ) Các khái niệm “dấn thân”, “nhập cuộc” mà các nhà hiện sinh chủ nghĩa thường nói tới chỉ là sự diễn đạt quan niệm và hành động tự do sáng tạo ra “con đường riêng của mình” như một sự cần thiết phải lựa chọn của bản thân mình trong những tình huống “bên bờ vực thẳm” đầy bi kịch, bất chấp tiêu chuẩn đạo đức không tính đến động cơ, hiệu quả Họ hành động như vậy trước hết chỉ vì cá nhân mình, vì sự vượt lên mình” [24, tr.75]
Trong cuốn Triết học hiện sinh, khi bàn về lập trường của triết học này
Trần Thái Đỉnh khẳng định: Triết học nào cũng hướng về con người nhưng triết học cổ truyền thay vì giúp con người nghĩ về thân phận và định mệnh của mình lại khuyến khích con người quên mình để mãi tìm hiểu những lẽ huyền vi của
tạo hóa Ngược lại “Bất cứ khuynh hướng nào trong triết hiện sinh đều là triết
học về con người, trước khi là triết học về vũ trụ.” (Emmanuel Mounier) “Con người có thể là quỷ hay là thánh, có thể sống làm thân trâu ngựa, sướng cái đời con vật hay trái lại có thể chọn tù ngục miễn là được nói sự thực và sống xứng đáng con người tự do.” [20, tr.23] Hay nói cách khác, đó là con người sinh hoạt
trong xã hội loài người, con người dám nhìn thẳng vào sự thật, không sống theo những quan niệm trừu tượng Triết học hiện sinh với quan niệm về chủ thể tính luôn khuyến khích con người chủ động, ý thức về mình Đồng thời, mỗi con người dưới cái nhìn của chủ nghĩa hiện sinh cần có tiếng nói riêng, giọng điệu riêng độc đáo không lặp lại
Nói về tha nhân, về bản thể, về tự do, dấn thân hay về những phạm trù phi
lí, buồn nôn… triết học hiện sinh thức nhận suy nghĩ về thân phận con người, về cách làm người Vì vậy triết hiện sinh hay văn của triết hiện sinh đều hướng đến
sự thức tỉnh phẩm tính người, để khai mở giá trị của nhân vị và con người tự do Cùng với sự khẳng định nhân vị, chủ nghĩa hiện sinh khẳng định được đời sống của nó trong văn học toàn cầu, kể cả các nền văn học phương Đông như
Trang 16Việt Nam Người đọc có thể nhận ra dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác của các tác giả như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên hay Thạch Lam, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng … ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám Nhưng phải đến những năm sáu mươi của thế kỉ XX chủ nghĩa hiện sinh mới thực sự trở thành một hệ tư tưởng ảnh hưởng sâu rộng ở miền Nam Việt Nam
Từ những bài giới thiệu, phê bình trên các tạp chí Đại học, Sáng tạo, Bách
khoa, Văn, Nghiên cứu văn học, Trình bày, Tư tưởng, … Chủ nghĩa hiện sinh
dần dần được giới thiệu rộng rãi trong đời sống lý luận – phê bình văn học ở miền Nam đặc biệt là ở tầng lớp trí thức mà tập trung nhiều ở đội ngũ sinh viên - học sinh thông qua các sách triết học được giảng dạy trong nhà trường
Hai cuốn Triết học tổng quát của Nguyễn Văn Trung và Triết học nhập
môn của Trần Thái Đỉnh, rồi sau này là Triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh
và Hiện tượng luận về hiện sinh của Lê Thành Trị đem đến cái nhìn cụ thể, dễ
hiểu hơn về chủ nghĩa hiện sinh Cùng với đó, nhiều tác phẩm của các triết gia, nhà văn hiện sinh nước ngoài như J.P Satre, Heidegger, Albert Camus được giới
thiệu, xuất bản rộng rãi qua con đường dịch thuật như: Hiện tượng luận về hiện
sinh (Đặng Phùng Quân dịch); Văn chương là gì? (Mai Văn Tạo dịch); Giao cảm, Ngộ nhận (Bùi Giáng dịch); Sa đọa (Trần Thiện Đạo dịch) … Những bài
báo khoa học về chủ nghĩa hiện sinh cũng xuất hiện với tần số ngày càng lớn
như: Tạp chí Sáng tạo có bài Khái niệm về chủ nghĩa hiện sinh của Quang Ninh
và bài Trình bày và phê bình hai quan niệm nổi loạn của Albert Camus của Thạch Chương; Tạp chí Bách khoa có các bài như Những đề tài chính của triết
học hiện sinh, Bộ mặt thật của triết học hiện sinh, Heidegger và bản chất của thi
ca của Trần Hương Tử, Lập trường văn nghệ của Albert Camus của Cô Liêu;
Tạp chí Văn có các bài như Tìm hiểu đạo đức của J.P Sartre của Trần Thiện
Đạo, tạp chí Tư tưởng cũng có rất nhiều bài viết liên quan đến chủ nghĩa hiện
Trang 17sinh và triết học hiện sinh như: Đức Phật và Nietzsche của Chơn Hạnh (1971), Bản thuyết trình về tình yêu trong triết học Kierkegaard của Lê Tôn Nghiêm (1971)…
Chính nhờ vậy mà triết học hiện sinh ngày càng ảnh hưởng sâu rộng cả trong đời sống lẫn văn học nghệ thuật trên cả bình diện sáng tác và lí luận phê bình
1.1.2 Chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn học Việt Nam trước 1975
Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu tư tưởng không chỉ ảnh hưởng trong lĩnh vực triết học mà còn ảnh hưởng nhiều lĩnh vực khác của đời sống con người trong đó có văn học Nhận định về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với văn học, Trần Hoài Anh cho rằng: “Nói đến triết học phương Tây, không thể không nói đến chủ nghĩa hiện sinh, một trào lưu tư tưởng chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý của triết học phương Tây hiện đại Là triết lý về thân phận con người, với những khắc khoải, âu lo trước hiện hữu và hư vô, chủ nghĩa hiện sinh chi phối không ít quá trình sáng tác của nhiều nhà văn trên thế giới, bất luận là phương Đông hay phương Tây Không những thế, là triết học gắn với sự sống và cái chết của con người, chủ nghĩa hiện sinh cũng như văn học đều có chung đối tượng khám phá đó là con người, nên văn
học hiện sinh là văn học của thân phận Vì vậy, các phạm trù của triết học hiện sinh nêu ra để luận giải về sự hiện hữu của con người như: hư vô, cô đơn, lo âu,
buồn nôn, phi lý, tự do, tha nhân, dấn thân đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn
học, là cơ sở mỹ học để nhà văn vận dụng lý giải những vấn đề của cuộc sống nhân sinh Và đây là những phẩm tính không thể thiếu của khuynh hướng hiện sinh trong văn học Ở Việt Nam, chủ nghĩa hiện sinh đã du nhập vào miền Nam
từ thập niên 50 của thế kỷ XX và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn học ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 cả trong sáng tác và lý luận - phê bình.” [4]
Trang 18Ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX, chủ nghĩa hiện sinh đã du nhập và
có ảnh hưởng lớn đối với văn học Việt Nam mà rõ nhất là dòng văn học ở đô thị miền Nam Các nhà văn, nhà thơ đều có ý thức đưa triết học hiện sinh vào sáng tác của mình xem như một nhu cầu thẩm mỹ thể hiện cái nhìn của nhà văn về cuộc đời và thân phận Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh thể hiện ngay trong nhan
đề tác phẩm như: Bóng tối cuối cùng, Thung lũng hư vô, Tiếng chuông gọi
người tình trở về, Tình yêu địa ngục, Ngày qua bóng tối (Nguyễn Thị Hoàng); Tôi nhìn tôi trên vách, Biển điên, Những sợi sắc không (Túy Hồng); Cô Hippy lạc loài (Nhã Ca); Sa mạc tuổi trẻ, Điệu ru nước mắt (Duyên Anh); Cát lầy, Mù khơi (Thanh Tâm Tuyền); Sống chỉ một lần, Bên lề giấc mộng (Mai Thảo) …
Về mặt nội dung các tác phẩm đều chú trọng khơi gợi trong tâm tư người đọc sự nhỏ bé của thân phận con người giữa những biến động dữ dội của thời cuộc Mỗi con người là một bi kịch, họ chấp chới, vùng vẫy, nổi loạn trong đau thương nhưng rốt cuộc họ vẫn là những kiếp người mong manh nhỏ bé bị hiện thực vùi dập Vì thế họ tức tối, điên cuồng, nổi loạn như muốn khiêu khích chống trả lại cuộc đời, kháng cự với thân phận, phản ứng với cuộc đời, chối bỏ quá khứ, bỏ mặc lí tưởng, tương lai Đọc tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhã Ca, Túy Hồng, Dương Nghiễm Mậu, Chu Tử, Trịnh Thị Diệu Tân, Lệ Hằng, Mai Thảo, Trùng Dương, Nguyễn Thụy Long… ta đều thấy rõ tâm thức hiện sinh này
Trong thơ, chủ nghĩa hiện sinh để lại dấu ấn sâu sắc Đọc thơ Bùi Giáng,
Du Tử Lê, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Nguyễn Đức Sơn… ta thấy rõ nỗi cô đơn thân phận, cảm nhận về sự hư vô và ám ảnh bởi cái chết giữa đạn bom của những cuộc chiến Thơ của họ là sự mộng mị, sự đổ vỡ niềm tin trong thực tại,
và chơi vơi khi nghĩ về tương lai với sự chấp nhận cuộc đời con người là vô định Không chỉ trong sáng tác mà trong lĩnh vực lý luận phê bình văn học, các nghiên cứu lí luận phê bình cũng ứng dụng chủ nghĩa hiện sinh với các phạm trù
Trang 19như “lo âu” “buồn nôn”, “tự do” “tha nhân”, “dấn thân” … để đi sâu nghiên cứu,
mở ra hướng tiếp cận mới và tạo nên những giá trị mới cho tác phẩm Các bài
đánh giá về Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, về thơ Hồ Xuân Hương, Cao Bá
Quát của Thanh Lãng, Nguyên Sa, Lê Tuyên, Đặng Tiến đem đến cho người
đọc những cái nhìn mới mẻ, đa chiều “Khi người ta đã chán phân tích khen chê
một cách lảm nhảm từ đặt câu, chọn tiếng một lớp nhà phê bình trẻ chịu ảnh hưởng của học thuyết hiện sinh đã đem ra một lối nhìn mới về Kiều” [40, tr16]
Cuộc đời của Kiều là do chính nàng quyết định “làm gì có định mệnh Tự do của
Thúy Kiều đã đẻ ra định mệnh” [56] Thân phận của nàng chinh phụ trong Chinh
phụ ngâm là thân phận của cái tôi cô đơn, “đã sống trong một kiếp lưu đày”.[74] Những bài viết của Trầm Tư, Huỳnh Phan Anh về Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Nhất Linh, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo … cũng thể hiện rõ ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong việc giải mã các hiện tượng văn học này
1.1.3 Chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của nó trong văn học Việt Nam sau 1975
Như đã nói ở trên, chủ nghĩa hiện sinh du nhập vào Việt Nam từ khá sớm ở miền Nam Việt Nam Nhưng trước 1975, ở miền Bắc cũng như sau 1975 trên phạm vi cả nước vì nhiều lý do khác nhau, chủ nghĩa hiện sinh không được nghiên cứu một cách khách quan, công bằng, thậm chí còn bị phê phán một cách thô bạo cho rằng đó là thứ triết học “đồi trụy”, “phản động” mà không thấy được mặt tích cực cùng những giá trị nhân văn của nó, rõ nhất là việc khẳng định vấn
đề nhân vị của cái tôi bản thể cũng như ý thức “dấn thân” (J P Sartre) của con
người đối với xã hội và cộng đồng Từ sau 1986, khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, cuộc đời mỗi người cũng bắt đầu có những đổi thay cùng với sự đổi thay của dân tộc Sự chuyển đổi đời sống xã hội sau chiến tranh, sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật, sự chuyển đổi trong nhận thức về con người, về bản thể
là những điều kiện hình thành cảm thức hiện sinh trong văn học “Hiện thực
Trang 20cuộc sống bây giờ không phải là những tháng năm hào hùng chiến đấu và chiến thắng, mà ẩn chứa đằng sau những vinh quang của một thời đã qua là những đắng cay của số phận con người khi đối diện với muôn mặt của cuộc sống đời thường Vấn đề đặt ra lúc này không chỉ là vận mệnh dân tộc, nhân dân mà còn
là số phận của từng cá nhân Cái tôi, cái cá thể của mỗi người lâu nay bị chìm khuất trong cái ta thì lúc này đã nổi lên như một yêu cầu bức thiết của đời sống Cảm hứng lịch sử và dân tộc đang được thay dần bởi cảm hứng thế sự và đời tư
Và đây là tiền đề tạo nên quan niệm mới về hiện thực mang tâm thức hiện sinh của văn học thời kỳ đổi mới được thể hiện ở nhiều thể loại văn học trong đó thơ ca.” – Trần Hoài Anh [12]
Trong sáng tác văn học cảm thức hiện sinh biểu hiện ở những ưu tư, trăn trở về bản thể, về thân phận con người Ám ảnh hiện sinh còn được gợi lên ngay
từ nhan đề trong một số truyện như: Một cõi nhân gian bé tí (Nguyễn Khải), Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương), Một ngày và một đời (Lê Văn Thảo) hay với thơ có các tập như: Khát, Đồng Tử (Vi Thùy Linh), Góc trọ
hồn người (Phạm Hương Lan), Sẹo độc lập (Phan Huyền Thư), Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ (Đinh Thị Thu Vân)…Từ những cái tên ấy, người đọc
thấy hiện ra một môi trường sống ngột ngạt, không có sự dung hòa với đời sống con người Mỗi thân phận đều cố gắng tự cắt nghĩa đời mình, tự đi tìm khẳng định ý nghĩa về sự tồn tại của bản thân nhưng càng đi càng lạc, càng thấy mình tiến về sự lạc loài, sự cô đơn đến cùng tận
Sau 1986, xã hội Việt Nam có những biến đổi rõ nét theo quy luật của một nền kinh tế thị trường Nhiều giá trị truyền thống dần mai một kéo theo sự gia tăng của những cái phi lí trong một thời kì mới Cái phi lí của đời sống nhanh chóng được chấp nhận như một sự thật tất yếu Con người buộc phải chủ động lựa chọn cách sống và chịu trách nhiệm trước những hành động của bản thân Thế nên dù chưa thật sự “nổi loạn” như một biểu hiện thái quá của tinh thần hiện
Trang 21sinh, quan niệm về cái phi lí của Camus, ý thức về chủ thể của Sartre … văn học Việt những năm cuối thế kỉ XX đã phần nào chạm đến những phương diện hiện sinh căn bản của con người
Đầu thế kỉ XXI, văn học Việt Nam vận động theo hướng ngày càng gần hơn với văn học thế giới, nhất là khi mọi ranh giới về địa lí, văn hóa gần như bị xóa nhòa Thế giới phẳng cũng chính là thế giới của sự giao lưu, tiếp biến Sự vận động này cũng được thể hiện rõ ở các sáng tác mang cảm thức hiện sinh theo hướng mới Mới bởi hiện sinh của hôm nay không hẳn là do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Soren Kierkegaard, Friedrich Nietzsche, Jean Paul Sartre, Simon de Bauvoir, Albert Camus như các tác phẩm ở miền Nam trước đây Hiện sinh hôm nay một mặt vừa mang cảm quan hậu hiện đại một mặt vừa là biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại, vừa có sự giao thoa với phân tâm học, vừa
có sự kết hợp với nữ quyền luận “Chủ nghĩa hiện sinh là triết học của một thời
đại không lặp lại” (Huỳnh Như Phương) [52] Thay vì tìm cách thoát khỏi nỗi
cô đơn, con người hôm nay bằng lòng với sự cô đơn, xem cô đơn là điều mặc định của kiếp người Thay vì bất mãn trước thế giới phi lí, con người hôm nay xem sự phi lí của thế giới là có lí và chấp nhận nó
Có thể nhận thấy rõ điều này trong việc khám phá phát hiện cái tôi đương đại trong văn chương Việt Các văn nghệ sĩ của ta đã tiếp nhận từ chủ nghĩa hiện
sinh những vấn đề cơ bản như: khẳng định nhân vị và tìm về thân xác và tính
dục “Thật phi lí chúng ta sinh ra, thật phi lí chúng ta chết đi” (J.P Sartre) Cội
nguồn của tinh thần hiện sinh nằm ở những trăn trở về sự hiện hữu của con người, của những thực thể bơ vơ, thiếu vắng điểm tựa trong thời đại “mất chúa” Văn học hiện sinh không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi về bản thể:
“Con người, anh là ai?”, “Tôi là ai?” như cách mà Chế Lan Viên tự hỏi: “Ta là
ai" Như ngọn gió siêu hình/ Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt/ "Ta vì ai?" Khẽ xoay chiều ngọn bấc/ Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh” (Hai câu hỏi)
Trang 22Trên phương diện đề cao nhân vị, các tác phẩm đầu thế kỉ XXI đều muốn
đi tìm ý nghĩa của tồn tại trong mỗi khoảnh khắc hiện hữu Các nhà văn, nhà thơ gặp gỡ nhau ở ý thức mô tả một kiểu nhân vật lạc lõng, cô đơn giữa một thế giới
phi lí như: Dạt vòm của Phan Hồn Nhiên, Sông của Nguyễn Ngọc Tư Con
người khước từ hoặc đánh mất sự hiện hữu để dấn thân vào hành trình truy tìm bản thể Con người lạc lõng, hoài nghi sự hiện hữu Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư đặt câu hỏi về bản ngã: “Ta là ai, sao ta là ta mà không là họ,
sao ta ở đây với những người này mà không cùng người khác ” (Sông) Các nhà thơ khắc khoải về thân phận: “Sao không là hai/ Mà quỳnh chỉ một/ Trăng
một đóa trời/ Quỳnh đóa trần gian/ Mỏng tang, mỏng tang/ Trăng cô đơn trời/ Quỳnh ơi, ta ngồi/ Một quỳnh, một ta/ Lặng thầm, thiết tha” (Một quỳnh một ta
– Lâm Thị Mỹ Dạ) hay như “Số phận cay nghiệt ơi/ cuộc sống dịu dàng ơi/ thời
gian một đời người không lặp lại/ một ngày qua đi/ một ngày ta dần mất ta/ từng chút, từng chút một…” (Ngày hôm qua, ngày hôm nay- Lâm Thị Mỹ Dạ) Ly
Hoàng Ly với Đêm, Đinh Thị Thu Vân với Một nửa đường đang khuất, Trong
góc tối: “Không tất cả, không cả lời gian dối/ không nụ cười hờ hững cuối vành môi” (Trong góc tối) Cùng cực cô đơn nhưng lại xa lạ, thù địch với kiếp tha
nhân Căn nguyên của những lo âu hiện sinh nằm ở đó Giống như Sartre và Heidegger quan niệm, càng tự do, con người càng dễ âu lo Ước mơ tưởng đơn
giản “Tôi muốn biết mình là ai để ngày tôi chết tôi biết rằng ai đã chết” (Và khi
tro bụi) muôn thuở vẫn khó có câu trả lời thỏa đáng
Ở việc khai thác vấn đề về thân xác và tính dục Cùng với việc khẳng
định nhân vị, chủ nghĩa hiện sinh đồng thời đề cao thân xác Con người chỉ hiện hữu nhờ thân xác và trong thân xác Tôi tồn tại bằng chính thân xác của mình
Sự phát triển của dòng văn chương thân xác vốn lấy tính dục làm trung tâm cảm xúc, qua tính dục để lí giải, cắt nghĩa những vấn đề cuộc sống và con người là bằng chứng của một quan niệm về hiện sinh tính dục ở văn chương đầu thế kỉ
Trang 23XXI Tính dục không chỉ là phương diện để tận hưởng hay trốn tránh thực tại
mà còn là phương diện để nhận diện chính mình Việc miêu tả con người tính dục trong các sáng tác văn chương những năm đầu thế kỉ XXI trở thành cái cớ
để nhìn thấu những bản thể người Trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên, Ly Hoàng
Ly, Vi Thùy Linh khát vọng nhục cảm trong tình yêu mà mỗi nhà thơ đều có
cách thể hiện riêng Đó là cảm thức khát yêu trong thơ Đoàn Ngọc Thu: “Thôi, /
Em sẽ làm tình cùng trăng, cùng gió và cả mặt trời/ Đêm cong mình lên và trăng mềm phủ sáng” (Yêu II - Quá Giang) Hay những khát vọng ái ân đầy chất nhục cảm nhân bản trong thơ Anh Hồng: “Thèm một cái ôm ghì siết của anh/ Để phiêu diêu vào cõi thiên đường/ Của Eva và A Đam/ Thèm anh ở trong em thăm thẳm” (Thèm) Những bài thơ mà ở đó những khát vọng về tình yêu nhục cảm thân xác mang màu sắc hiện sinh với những khát khao bạo liệt nồng nàn đang
tuôn chảy như: Tâm cảnh, Tự khúc 1, Tự khúc 2, Quà tặng thượng đế, Em yêu
anh như yêu tháng giêng của Phạm Thị Ngọc Liên; Soi mưa, say nắng, Bị động mùa thu, Cất giấu của Vi Thùy Linh; Giữ tháng ba, Gió dịu dàng của Hoàng
Kim Dung; Lời yêu, Lối mưa của Bùi Kim Anh, Diêm của Nguyễn Kim Anh,
Thơ tuổi bốn mươi của Phạm Thu Yến, Không đề của Lâm Thị Mỹ Dạ, ở đó,
cảm thức về những khao khát tình yêu nhục cảm như muốn vượt lên mọi giới
hạn: “Trời ơi/ làm sao có được một cuộc đời/ Để tôi ném mình vào đó/ Mà
không hề cân nhắc đắn đo/ Rằng cuộc đời ấy còn chưa đủ” (Không đề)
Điều khác biệt của việc khai thác vấn đề tính dục là các nhà văn, nhà thơ không tập trung vào góc nhìn xã hội học về giới mà hướng chủ đích vào việc thể hiện những trạng thái tâm hồn, những cung bậc cảm xúc mà xưa kia bị chìm khuất hoặc cố tình né tránh Và với các cây bút chịu ảnh hưởng của triết học và
mỹ học hiện sinh niềm đam mê bản năng cũng là biểu hiện của nỗi cô đơn cùng cực Việc tìm đến tính dục cũng là một cách để tìm kiếm bản ngã trong mỗi cá thể
Trang 24Rõ ràng khuynh hướng hiện sinh trong văn học Việt Nam từ sau 1975 đặc biệt là sau thời kì đổi mới là sự tiếp nối cảm thức hiện sinh của các giai đoạn trước đó Bởi lẽ, dù trong hoàn cảnh nào, thời đại nào con người vẫn là tâm điểm của xã hội, của văn chương Hơn bất kì trường phái triết mĩ nào, triết học hiện sinh là triết học về con người, từ con người và hướng vào con người
1.2 Khái quát về thơ nữ Việt Nam thời kì đổi mới (từ 1986 đến nay)
1.2.1 Thơ nữ Việt Nam trong bối cảnh đời sống xã hội thời kì đổi mới
Trong dòng chảy của thơ ca dân tộc, từ ngàn xưa, thơ nữ Việt Nam đã có một vị trí xứng đáng không thể phủ nhận với những gương mặt tiêu biểu như Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… Vì vậy theo Trần
Hoàng Thiên Kim “Trong lịch sử thi ca dân tộc Việt Nam, ngay dưới chế độ
phong kiến, khi quan niệm trọng nam khinh nữ còn nặng nề, đã xuất hiện một lớp các nhà thơ nữ lên tiếng bênh vực người phụ nữ Những trang viết của họ đã
có nhiều đóng góp cho nền văn chương nước nhà, để lại nhiều tên tuổi lớn”
[32] Bước sang thời kỳ văn học hiện đại, đặc biệt là từ 1986 trở lại đây, một lực lượng khá đông đảo các cây bút nữ xuất hiện Những sáng tác của họ đã góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng cho sự phát triển của nền thơ ca Việt Nam Trong khi thị trường văn học đang dần bị độc giả quay lưng thì thật mừng là các sản phẩm thi ca của các nhà thơ nữ được đông đảo bạn đọc đón nhận, được dư luận khẳng định và định hình được dấu ấn riêng của từng gương mặt nghệ sĩ Trong số những nữ thi sĩ đương đại, có những người đã đi qua chiến tranh, trải qua bao cay đắng ngọt bùi của thời đạn lửa đau thương mà anh hùng như Nguyễn Thị Hồng Ngát, Phan Thị Thanh Nhàn và đặc biệt là Lâm Thị Mỹ Dạ Với bối cảnh đời sống xã hội thời kì đổi mới thơ của họ vẫn chạm đến trái tim bạn đọc bởi độ chín của nghệ thuật, độ đằm của cảm xúc đặc biệt là việc hướng tới những vấn đề rất gần của cuộc sống đời thường, những nhu cầu thẳm sâu của trái tim người phụ nữ, người vợ, người mẹ Tuy nhiên đông đảo hơn cả phải kể
Trang 25đến các nhà thơ thế hệ 7x, 8x với những cái tên như: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Huệ Triệu, Trần Mai Hường, Cát Du, Nồng Nàn Phố, Đinh Thị Thu Vân, Nguyễn Bính Hồng Cầu, Nguyệt Phạm, Anh Hồng, Minh Đan, Ngô Thị Hạnh, Ngô Thúy Nga, Đoàn Ngọc Thu, Phạm Hương Lan, Trương Quế Chi, Trần Lê Sơn Ý, Trần Hương Giang, Đông Hà, Châu Thu Hà, Cẩm Lai, Bàng Ái Thơ, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, Huỳnh Ngọc Yến, Đông Hà, Cẩm Lai… Thơ họ thực sự là tiếng nói của những con người mới, trong thời đại mới
Trong bối cảnh của thời kì đổi mới, cùng với việc tiếp tục khai thác hướng
đề tài cũ nói về thân phận người đàn bà, về tình yêu về lòng thủy chung son sắt, tình mẹ con, bầu bạn, những tác giả thơ nữ trẻ đi sâu khai phá những đề tài mới đầy những biến động của đời sống, những va đập của đời thường, niềm khát khao mãnh liệt hướng tới những cái mới, những chân trời lạ lẫm Họ là những cây bút tiên phong trong sự cách tân đổi mới của văn học nghệ thuật với tư duy dám nghĩ, dám làm, dám thể nghiệm Sự mở cửa về kinh tế, sự giao lưu về văn hóa, sự hỗ trợ của công nghệ và kĩ thuật số khiến cho những nữ thi sĩ có cơ hội
dễ dàng hơn để kết nối toàn cầu Kiểu thơ song ngữ cũng ngày một thịnh hành, thậm chí các nhà thơ tự viết và tự dịch các tác phẩm của mình sang nhiều thứ tiếng như tiếng Anh, tiếng Pháp khiến cho các tác phẩm không chỉ hướng tới bạn đọc trong nước mà còn được bạn bè thế giới quan tâm
Nền kinh tế thị trường đẩy mỗi cá nhân phải tiến nhanh, tiến chắc, phải dám đương đầu với sự thay đổi và cái mới Đó là tiền đề dẫn đến sự thay đổi trong những quan niệm về văn chương Bên cạnh giọng tung hô, ngợi ca là giọng tâm sự, giãi bày với nỗi buồn và sự cô đơn choán ngợp Hành trình đến với thơ ca là hành trình dám là chính mình trong cuộc kiếm tìm giá trị của nghệ thuật Thơ của các tác giả nữ bên cạnh những đề tài cũ, bên cạnh khát khao chồng vợ, trong niềm hạnh phúc gia đình, trong những ước mơ về tình yêu đôi lứa còn là dòng cảm hứng mang đầy tính nhục cảm Nếu phải gọi tên các đặc
Trang 26điểm của thơ nữ thời kì đổi mới có thể dễ dàng nhận ra một vài nét chính sau:
Đó là dòng thơ thiên về bộc lộ cảm xúc đời tư, của những cái tôi cá nhân phức tạp, bí ẩn, vô thức Họ sẵn sàng từ bỏ những gương mặt đồng phục, sẵn sàng giã
từ cái ta để tìm về bản thể, tha nhân, nhân vị của riêng mình Họ quan niệm, thơ
là trò chơi của chữ nghĩa Nhiều khi nó được coi là thứ trang sức để tự làm mới bản thân Đặc biệt sự cách tân còn nằm trong việc mở rộng quan niệm về thể loại trong thơ Với lối vắt dòng, ngắt nhịp với sự pha trộn của cả điện ảnh, hội họa, kiến trúc và tín ngưỡng văn hóa vào thơ ca
Nói vậy không có nghĩa thơ nữ đương đại thời kì đổi mới quay lưng tuyệt giao với văn học và văn hóa truyền thống Những đứa con tinh thần của họ vừa
dễ dàng bắt nhịp với dòng chảy của văn học thế giới song vẫn mang hơi thở của văn hóa và thị hiếu của người Việt Nam Không còn sự e lệ bẽn lẽn kiểu mượn
mây, trăng, gió hoa để gửi lời tâm tình hay kiểu “Giấu một chùm hoa trong
chiếc khăn tay / … Cô gái như chùm hoa lặng lẽ/ Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu” (Hương Thầm của Phan Thị Thanh Nhàn) cũng hiếm thấy những lời ngân
nga, êm dịu những hình ảnh dễ nhìn, dễ nhận, dễ cảm mà là thế giới với những cảm xúc mãnh liệt tận độ đến quằn quại cuồng si Tâm hồn thi ca của họ như những những dây đàn mà chạm nhẹ có thể rung lên những nhịp cảm xúc nóng bỏng, chân thực Người đọc nhận ra cái nhịp đập cuộc đời trên mỗi trang thơ như nhịp đập của mạch máu dưới làn da
Sự tươi mới của cảm xúc, sức nóng của sự sáng tạo cùng sự ảnh hưởng của những luồng văn hóa mới giúp cho các cây bút nữ trẻ định hình mình một cách
rõ nét hơn Sự đa dạng trong thơ ca cũng như sự đa dạng trong nghề mà họ quyết định dấn thân Có một điểm thú vị là khá nhiều những cây bút trẻ bước vào đời không phải trong tâm thế của một nhà thơ Họ là những nhà giáo, nhà báo, nhà văn hay những họa sĩ chuyên nghiệp … và sau chót, với nỗi đa mang
đa cảm họ tìm đến thơ để trút lòng như cách con tằm nhả tơ Trong thơ họ có nỗi
Trang 27cô đơn trước sự quẩn quanh của đời sống, sự hỗn mang của thời cuộc Nhiều gương mặt mới đã được bạn đọc quan tâm, như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư,
Ly Hoàng Ly, Bình Nguyên Trang, Trương Quế Chi, Lê Thị Mỹ Ý, Dạ Thảo Phương, Vũ Thị Huyền, Trần Lê Sơn Ý, Nguyễn Thúy Hằng, Phạm Vân Anh, Nguyễn Thanh Vân, Chu Thị Minh Huệ, Ngô Thị Hạnh, Lê Ngân Hằng, Trang
Thanh, Lữ Thị Mai, Trương Hồng Tú Những tác giả này “Dù ít hay nhiều họ
đã tự tạo cho mình một lối đi riêng Tinh tế hay bộc trực Nhẹ nhàng hay mạnh
mẽ Gai góc, dữ dội hoặc dịu êm Thách thức hoặc khiêm nhường Thách thức hoặc làm xiếc câu chữ Tất cả đã tạo cho thơ một dòng chảy liên tục không ngắt
Nếu nhìn vào đội ngũ sáng tác và các tác phẩm, có thể phân thơ nữ trẻ đương đại thành hai xu hướng nghệ thuật chính: thứ nhất, thơ truyền thống có giao thoa với hiện đại; thứ hai, thơ cách tân, phá cách với sự phi chuẩn cả về nội dung và hình thức
Xu hướng thứ nhất ảnh hưởng từ truyền thống và phát huy các giá trị truyền thống Thơ của họ nhuần nhị cả về mặt cấu trúc, thể loại, ngôn từ lẫn nội dung được chuyển tải Có thể thấy rõ đặc điểm này ở một số cây bút như Bình
Trang 28Nguyên Trang, Phạm Vân Anh, Đường Hải Yến, Lê Mỹ Ý, Chu Thị Minh Huệ, Nguyễn Thanh Vân, Trang Thanh, Lê Ngân Hằng, Trần Lê Sơn Ý Những tác giả này tìm tòi trên những khuôn hình có sẵn Thơ theo xu hướng này dễ được
bạn đọc đồng cảm, ủng hộ Thơ họ ít gây tranh cãi, ít bị tấn công hơn “Thế giới
nghệ thuật của các tác giả này phong phú, ám ảnh bởi hồn thơ, tứ thơ và hình tượng thơ Họ đã đến cõi thơ bằng trái tim và sự đam mê quặn thắt Ở một góc
độ nào đó, sự kiếm tìm của họ đã thành công Thơ họ đã có bóng dáng của chiều sâu triết lý, mang yếu tố xã hội mà vẫn có những rung động nghệ thuật rất
đỗi cao cả, mang tính nhân văn, không nhòa với các tác giả khác”[66]
Xu hướng thứ hai xuất hiện với lối thơ tự do phóng khoáng, nội dung thường gắn liền với biến động của đời sống tình cảm, khơi gợi tình yêu và nhục dục Các tác giả thơ không bằng lòng với những cái đã an bài, thơ họ mạnh bạo
về ngôn từ, lạ về giọng điệu, thể hiện bản ngã một cách mãnh liệt Khát vọng
của cái tôi nhục cảm được thể hiện ráo riết và thôi thúc: “Cái lưỡi mềm của anh
nơi gan bàn chân em/ Làm thế giới hóa lỏng ” (Vi Thùy Linh) “Vào sau cửa buồng vần vũ mười lăm phút/ Ra đường đoan trang chớp mắt thướt tha ”
(Phan Huyền Thư) Con người trong thơ của những cây bút nữ phá cách chịu
sự chi phối rất mạnh của đời sống cá nhân, đề cao đời sống cá nhân, dám sống thật với chính mình và có thể coi đây là tiếng nói mạnh mẽ về giải phóng phụ nữ trong thơ ca Thơ họ mang hơi hướng của chủ nghĩa hiện sinh và những mảng màu trừu tượng của nghệ thuật sắp đặt Để tìm hiểu, cắt nghĩa thơ họ không chỉ cần sự rung cảm của con tim mà hơn thế cần đến phông nền tri thức, văn hóa Thơ nữ là sự phản ánh tâm hồn, thế giới nội tâm của người phụ nữ, là cách nhìn đời thông qua lăng kính và trái tim người đàn bà
1.2.3 Đội ngũ các nhà thơ nữ từ 2000 đến 2015 nhìn từ sự vận động của thơ nữ thời kì đổi mới
“Văn học là cuộc sống” chính vì vậy mỗi nhịp chuyển động trong đời sống
Trang 29xã hội cũng ít nhiều ảnh hưởng đến mạch vận động của văn chương trong đó có thơ ca Trước đây, văn học Việt Nam đã có một đội ngũ thơ chống Pháp, chống
Mỹ Với đội ngũ nhà thơ sau 1975, những cây bút kháng chiến quay trở về với cuộc sống mới vẫn tiếp tục sáng tác, thơ của họ mang hơi thở của đời sống hòa bình, những vui buồn thường trực của con người; họ là những nhà thơ vẫn giữ được trong lòng độc giả những ấn tượng khó phai mờ với tư duy của những tâm hồn đã được tôi luyện qua chiến tranh
Trong khoảng mười năm trở lại đây, đội ngũ những nhà thơ trẻ (trẻ cả tuổi đời, tuổi nghề) ngày càng xuất hiện đông đảo Họ là thế hệ những tác giả thơ nữ trẻ đương đại được sinh ra và lớn lên trong hòa bình với sự đổi thay, phát triển nhanh chóng của đất nước về mọi mặt kinh tế, xã hội Cùng với đà phát triển của đất nước, nền văn học nước nhà cũng có những bước chuyển mình, từng bước giao lưu, hội nhập với văn học quốc tế Nhiều nhà thơ nữ trẻ có điều kiện tiếp xúc, học hỏi và chịu ảnh hưởng của văn học nước ngoài, trong đó “nữ quyền luận” là trào lưu được họ “ưa chuộng” vì đã nói lên mong muốn, khát khao muốn thể hiện cái tôi cá nhân của người phụ nữ Á Đông sau bao thế kỉ buộc phải dồn nén trước những giáo lí đạo đức Nhiều gương mặt mới đã được bạn đọc quan tâm, như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Lê Thị Mỹ
Ý, Dạ Thảo Phương, Vũ Thị Huyền, Trần Lê Sơn Ý, Nguyễn Thúy Hằng, Bình Nguyên Trang, Phạm Vân Anh, Nguyễn Thanh Vân, Trần Mai Hường, Huệ Triệu, Cát Du, Bàng Ái Thơ, Đông Hà, Cẩm Lai, Nguyệt Phạm, Chu Thị Minh Huệ, Ngô Thị Hạnh, Lê Ngân Hằng, Trang Thanh, Trương Quế Chi, Anh Hồng, Minh Đan, Lê Mai, Lê Hoàng Anh, Thanh Yên, Ngô Thúy Nga,
Trong khoảng mười năm năm trở lại đây (từ 2000 đến 2015) thơ nữ trẻ đã
đi được chặng đường với những dấu ấn đậm nét Sự hòa trộn giữa truyền thống
và hiện đại, sự dứt khoát từ bỏ lối mòn để hướng tới cách tân, thể nghiệm, làm mới trong thi ca Chính sự cởi mở trong tư tưởng đã giúp các nữ sĩ cởi trói mình
Trang 30trong thơ Họ quan tâm đến giải phóng phụ nữ, xác lập bản sắc – nhân vị đàn bà
Họ sẵn sàng dấn vào những vấn đề nhạy cảm như tính dục cũng như thẳng thắn thể hiện lối nghĩ mới về những miền hiện thực mang màu sắc truyền thống như đức hạnh, trinh tiết Ở thơ nữ đương đại ta thấy rõ hình ảnh người phụ nữ tự do,
tự hành động và tự chịu trách nhiệm về mình, mạnh dạn đòi hỏi được làm chủ
Dù dịu dàng hay mạnh mẽ, dữ dội hay dịu êm, khiêu khích hay khiêm nhường, các nữ sĩ đã tạo cho mình một lối đi riêng Sự khẳng định mình trong thơ ca chính là nỗ lực để thể hiện tồn tại hiện sinh, cũng là minh chứng cho sự vùng dậy của những người bị coi là “phái yếu” trong xã hội hiện đại
Một số cây bút thơ nữ đầy mạnh mẽ, quyết đoán trong việc đi tìm cái mới với khát vọng được giải tỏa, dấn thân, được nói, được tung hoành cùng lối viết
bạo dạn, tự do phóng khoáng Vi Thùy Linh quan niệm: “Tôi luôn muốn tạo sự
độc đáo riêng biệt trong lối tư duy, diễn đạt và hình ảnh Tôi muốn làm những điều chưa ai làm, hoặc không ai làm được, khó “nhái” được, dù cho vì sự tiên phong mạnh mẽ, tôi đã chịu nhiều thiệt thòi, cô lập, thậm chí là sự tấn công của những người bảo thủ, tư duy cũ Chính những đòi hỏi ấy ở bản thân khiến tôi trở nên vất vả mỗi khi sáng tạo, vì tôi luôn buộc mình không được lặp lại tôi, không giống người khác trong nghệ thuật, để tạo được dấu ấn riêng, là điều không dễ
có, không dễ làm được Sống tận lực bằng tình yêu cuộc sống, cá tính đời thực
và cá tính nghệ thuật của tôi là một Tôi dám sống, dám dấn thân, dám đi đến cùng Không mưu toan vụ lợi gì, vào thơ, tôi yêu thơ bằng tình yêu say đắm, tận trung của một người si tình, chung tình, không tiếc gì cho tình yêu ấy” [36] Chị
luôn khát khao biểu hiện cái tôi bản thể mang tính khác biệt và chấp nhận sự cô
độc của mình trên con đường sáng tạo: “Với tôi, cuộc đi đẹp nhất trong sáng
tạo, là độc mã Tôi phục những con thú dám tách khỏi bầy, dù nó sẽ gặp nhiều hiểm nguy” [36] Gần với quan niệm này, Phan Huyền Thư cũng cho rằng: “Nhà thơ bây giờ đồng nghĩa với cá tính và khác lạ”[36] Ly Hoàng Ly thì bộc bạch:
Trang 31“Tôi làm nghệ thuật là để khám phá thế giới quanh mình và khám phá chính
mình Tôi sử dụng mọi phương tiện nghệ thuật, phương pháp thể hiện, những kỹ thuật mà mình học được, tìm được để có thể thể hiện ý tưởng của mình trong tác phẩm Nhưng tôi thấy cái quan trọng nhất của mọi người sáng tác trong mọi thời đại, là sự đắm đuối thực sự với nghề, và trung thực với cảm xúc, tư tưởng của mình” [36] Trương Quế Chi, một cây bút đang có nhiều nội lực trong thi ca
thế hệ 8X, quan niệm: “Viết với tôi, như một cách để sống chung dung hoà với
những cảm xúc đơn độc, buồn bã” [36]
Chính đội ngũ đông đảo ấy sẽ làm nên diện mạo thơ nữ Việt Nam với những nét phong cách riêng vừa thể hiện bản sắc dân tộc trong thời đại mới, vừa thể hiện đặc trưng mang phong cách giới nữ Và đặc biệt hơn cả đó là phong cách riêng của mỗi nhà thơ được định hình rõ nét trong sự nghiệp thơ ca của chính họ Điều này đã tạo nên một dấu ấn hiện sinh của chính cái tôi bản thể của
họ qua hành trình sáng tạo thơ cũng như trong sự tiếp nhận của người đọc
1.3 Thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015 – nhìn từ cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới
1.3.1 Cá tính sáng tạo trong thơ
Có thể nói cá tính sáng tạo là một yếu tính của người nghệ sĩ dù là viết văn xuôi hay làm thơ Đây là một phẩm chất cần thiết khẳng định bản sắc riêng cũng như khẳng định sự hiện hữu của nhà thơ trong cuộc sống Vì vậy hiểu như thế nào là cá tính sáng tạo cũng là một vấn đề quan tâm của các nhà lý luận văn học
“Cá tính sáng tạo là biểu hiện rực rỡ của các phạm trù cái chủ quan, cái
cá biệt, cái đặc thù, cái không lặp lại trong tài năng của nghệ sĩ Nó không mâu thuẫn với các phạm trù cái khách quan, cái chung, cái điển hình, cái lặp lại, mà ngược lại, nó gắn bó hữu cơ với chúng, và cũng chỉ trong sự thống nhất đó thì nghệ sĩ mới khám phá được cái mới trong lĩnh vực nghệ thuật.Cá tính sáng tạo biểu hiện tập trung ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo, ở cách cảm nghĩ của nhà văn
Trang 32có khả năng đề xuất những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật mới mẻ, tạo thành một ngôn ngữ nghệ thuật mới trong việc biểu hiện những nội dung mới của đời sống và tư tưởng” [24, tr.35]
Nhìn trên bình diện bao quát về thơ Việt Nam đương đại có thể điểm lại những cá tính sáng tạo với những tên tuổi như: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, ĐinhThị Thu Vân, Ly Hoàng Ly, Phan Thị Vàng Anh, Đinh Thị Như Thúy… Sống đúng với chính con người của mình, được là mình, tưởng là điều không phải bàn cãi, nhưng kỳ thực đã có thời gian chúng ta không được sống hoàn toàn tưởng như chân lí ấy Vậy nên phải được là mình trở thành nhu cầu tiên quyết, căn bản của con người đương đại Nhà thơ lại càng ý thức rõ tầm quan trọng của việc được là mình trong sứ mệnh hiện hữu thơ và hiện sinh người Nói như Vi
Thùy Linh: “Không gì đẹp bằng con người/…Không có gì kỳ diệu bằng việc tạo
thành con người/ Cuộc sống bắt đầu bằng việc phôi thai những đứa trẻ.” (Thế
giới hiện hữu)
Khi Dư Thị Hoàn chấp nhận tan vỡ bởi sự “lơ đễnh đến là” vô ý của người yêu sau phút êm đềm trên ghế đá nghĩa là người con gái ấy muốn không chỉ tình nhân mà cả thế gian hiểu rằng: em là một bản thể có đời sống riêng và giá trị riêng, cần được sống và tôn trọng giá trị, bản sắc ấy Sau chị, những người con
gái khác, lại yêu và bày tỏ tình yêu trong ý thức bản thể của mình: “Khỏa thân
trong chăn/ Thèm chồng Thèm có chồng ở bên Chỉ cần Anh gối lên đùi/ Mình
ôm lấy Anh ôm mình/ Biết sự bình yên của mặt đất” (Chân dung - Vi Thùy
Linh) Trong thơ của các thi sĩ đương đại, bản năng người trỗi dậy như một nhu cầu thiết yếu để sống Điều cần nhấn mạnh là những phức cảm này tái sinh mạnh mẽ do đã sống quá lâu trong những vùng không gian có tính tập thể mà quên đi tiếng nói của bản thể trong tư cách là một con người tự nhiên - xã hội
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức phản tư, tâm linh, tính dục, nữ quyền, ngoại vi, bên lề, bề trái, thiểu số ,… đã trả lại cho đời sống, thơ ca những trường thẩm mỹ làm nên đời sống con người bản thể Thơ Phạm Thị Ngọc Liên, Dư Thị
Trang 33Hoàn, Dạ Thảo Phương, Phan Huyền Thư, Khương Hà, Thanh Xuân, Nguyệt Phạm, Phương Lan, Vi Thùy Linh, giúp con người nhận ra diện mạo của mình
mà trước hết là rọi sáng những khoảng khuất lấp vốn dĩ không tách rời để làm nên thân phận Từ sự kiến tạo chủ thể sáng tạo đến kiến tạo con người đương đại, các thi sĩ đã nỗ lực tái cấu trúc thân phận, diện mạo trong bối cảnh đương đại đang mở rộng, dung nạp tất cả các hình thái, khả năng, Có thể, nhà thơ không bận tâm lắm đến những tri thức này, nhưng chính họ, trong lẽ sống của mình đã đòi hỏi sự tự biểu hiện như là một nhu cầu tất yếu Các nhà thơ viết
bằng chính trải nghiệm, thể nghiệm của họ, viết để được là chính mình: Mười
ngón tay xòe ra/ bưng lấy khuôn mặt bé xíu/ ửng lên vì niềm vui lần đầu tiên/ em khóc nưng nức/ nước mắt tràn ngập khắp thân thể/ trong giây phút tận hiến/ Đau chiếc khăn thắm màu trinh tiết Mẹ Nữ Oa/ phủ mặt trong lần đầu linh thánh/ giây phút bắt đầu khai triển nhân loại/ Những ngón tay sần lên sục sạo/ khắp khe hang đồi núi vực sâu/ Niềm hạnh phúc chực ộc ra nóng ấm/ ôm lấy tấm thân non trẻ/ Anh trở vẻ mùa yêu đương/ trên tay kiêu hãnh thanh kiếm chiến chinh bén sắc/ chực đâm thủng những ngày nhàn nhạt (Hợp nhất - Nguyệt
Phạm)
Ngay trong những chia sẻ về quan niệm nghệ thuật, các nữ sĩ khá thẳng thắn bộc bạch “Làm nghệ thuật là để khám phá chính mình” Vi Thùy Linh phát biểu rằng, chị luôn muốn tạo sự độc đáo riêng biệt trong lối tư duy, diễn đạt và hình ảnh Chị muốn làm những điều chưa ai làm, hoặc không ai làm được Chính những đòi hỏi ấy ở bản thân khiến chị trở nên vất vả mỗi khi sáng tạo, vì chị luôn buộc mình không được lặp lại, không giống người khác trong nghệ
thuật: “Tôi yêu thơ bằng tình yêu say đắm, tận trung của một người si tình,
chung tình, không tiếc gì cho tình yêu ấy”[35]
Phan Huyền Thư thì quan niệm về nhà thơ như sau: “Nếu như khoảng 10
năm trước đây, nhắc đến nhà thơ là nhắc đến một khái niệm đi mây về gió, nghèo kiết xác và hay mơ mộng hão huyền thì giờ đây chúng tôi nổi loạn, cứng
Trang 34đầu, lập dị Nhà thơ bây giờ đồng nghĩa với cá tính và khác lạ” Ly Hoàng Ly
thì cho rằng: “Với tôi, làm nghệ thuật là công việc đường dài, càng làm càng
mê, càng làm càng thấy đuối sức Như người bắt đầu từ con đường mòn và đi mãi, đi mãi, thấy mình lạc vào mê lộ Rồi sau những lúc đuối, mệt, kiệt lực, lại
là những phút giây sung sướng khi phát hiện ra một điều mới, dù là nhỏ nhoi Tôi làm nghệ thuật là để khám phá thế giới quanh mình và khám phá chính mình”[35] Trương Quế Chi, một cây bút đang có nhiều nội lực trong thi ca
quan niệm “Sống/ Vì ngôn ngữ của chính mình/ Sống/ Vì không còn muốn độc
thoại/ Sống vì đã thấy những ngôn ngữ thanh âm gần gũi/ Những ngôn ngữ tạo nên thế giới” (Đồng giao Chi)
Từ những chia sẻ của họ có thể thấy trong quan niệm sáng tác của mình họ luôn hướng tới cái tôi bản thể tận hiến Dám sống thật với chính mình, trung thành với thực tại, đương đầu với những thử nghiệm mới, đi tìm một nguồn thơ dào dạt chảy về từ sự nổi loạn trong tâm hồn đòi hỏi được giải tỏa, được dấn thân, được nói, được tung hoành cùng với lối viết bạo dạn, tự do phóng khoáng
Cá tính sáng tạo là cơ sở của phong cách nghệ thuật, là nhân tố không thể thiếu của quá trình sáng tạo của một nhà thơ cũng như của một nền thơ ca dân tộc Một nền văn học đa dạng trong phong cách sáng tạo là một nền văn học kết tinh được những giá trị để tạo nên sự tồn sinh hằng cửu của nó Một nền văn học không thể hiện được cá tính sáng tạo của cá nhân nghệ sĩ hay sáng tạo theo kiểu đồng phục thì sẽ không tạo nên giá trị nên cũng không để lại dấu ấn trong lòng người đọc Thơ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới quả thật là một vườn thơ nhiều hương thơm, nhiều nhan sắc vì vậy nó đã chiếm lĩnh được tâm hồn người tiếp nhận và nó thật sự hiện sinh như chính sự hiện sinh của chủ thế sáng tạo ra nó là những nhà thơ nữ trưởng thành trong thời kỳ đổi mới
1.3.2 Cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới trong thơ nữ Việt Nam từ 2000 đến 2015
Thơ nữ Việt Nam từ thủa sơ khai đã hình thành cho mình những nét cá tính riêng không trùng lặp Từ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị
Trang 35Điểm rồi sau này là Nữ sĩ Đạm Phương, TTKH, Mộng Tuyết, Tương Phố, Anh Thơ, Xuân Quỳnh, Phan thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát… Nét độc đáo là trong cá tính sáng tạo các nhà thơ nữ để lại dấu ấn sâu sắc về đặc điểm giới Đó là niềm hạnh phúc được làm mẹ, làm vợ; là nỗi cô đơn rất riêng của phái nữ
Phụ nữ chính là người “giữ lửa” trong gia đình Sau những ồn ào bận rộn của công việc thường ngày điều mỗi người phụ nữ luôn hướng về là những phút giây bên gia đình với những người thân yêu như mẹ, cha, chồng cùng các con Người xưa vẫn nói “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” Vì thế, thơ nữ luôn hướng tới đời sống gia đình, nỗi khát khao làm vợ làm mẹ Đó quả thực là thiên chức cao cả mà thượng đế ban cho người phụ nữ
Trước đây, nữ sĩ Xuân Quỳnh là người có những trang viết về con giản dị
mà sâu sắc, thẫm đẫm tình yêu thương của tình mẫu tử Trong câu chuyện cổ tích chị kể con nghe có câu chuyện về loài người mà khởi tạo trước hết chính là
đứa trẻ: “Trời sinh ra trước nhất/ Chỉ toàn là trẻ con” (Chuyện cổ tích về loài
người) rồi tiếp đến mới là vạn vật Thế giới tròn đầy, rực rỡ hơn là “để cho trẻ con” Cũng chính tình yêu ấy giúp chị nhận ra nét ngây thơ đáng yêu, hồn nhiên
trong tình yêu của con trẻ: “Con yêu mẹ bằng con dế” (Con yêu mẹ) Ẩn chứa
trong mỗi lời thơ Xuân Quỳnh là sự chở che, bao bọc cho đứa con yêu dấu Cả những âu lo lẫn với niềm lạc quan trong những ngày tháng đạn bom loạn lạc:
“Tuổi thơ con có những gì/ Có con cười với mắt tre trong hầm” (Tuổi thơ của
con)
Nối tiếp truyền thống của những nhà thơ đàn chị đi trước, thơ nữ trẻ đương đại từ năm 2000 – 2015 cũng đã thể hiện rõ những phẩm chất của cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới nên họ đã dành một mảng lớn để viết về đời thường Trong đó, những trang viết đầy tình yêu thương nhất vẫn là dành cho con, những thiên thần bé nhỏ của cuộc đời mình Mỗi đứa trẻ là bến bờ cho người mẹ gửi gắm niềm ước mơ và nguồn sống tương lai Mỗi trang viết về con là bấy nhiêu
Trang 36nỗi niềm bao dung, bao đổi thay lớn lao trong tâm thức và mỹ cảm văn học của những cây bút nữ Thiên tính nữ đã đưa họ trở về với mạch nguồn trong trẻo, dịu dàng của những ánh mắt, nụ cười con thơ Thơ họ dù có phá cách đến bao nhiêu
đi chăng nữa, thì trong những trang viết về con, họ vẫn là những người mẹ Việt
Nam với những nét thuần hậu nhất, đắm say nhất.: “Con đang ở đâu trong từng
chuyển động/ Trong từng nhịp thở phập phồng/ Từng cú quẫy nhẹ tênh như một chú cá bẩy mầu/ Rỉa ngón tay của mẹ thời thơ ấu/ Con đang ở đâu khi bụng mẹ nhấp nhô từng đợt/ Và ngón chân nhỏ tròn như một quả ping pông? (Này con,
con ở đâu – Trần Lê Sơn Ý) Con là ánh sáng của cuộc đời, thắp sáng những niềm mong của mẹ, xua tan những muộn phiền và nước mắt, để mẹ lại được
khát vọng những ước mơ thầm kín “Rút khỏi đầu tấm voan ảm đạm / vắt nỗi
buồn mẹ lên cành trăng non / Lập Duy / Vỗ cánh / Gót chân hồng lanh canh / tiếng cười bi ve ôm mặt trời nhồi bông / mơ mẹ / Bên kia bến ngủ / ngượng ngùng giấu con / khát vọng mẹ / thanh xuân thao thức / Nước mắt này hai bầu tinh khiết / nguyên vẹn cho con / Cạn hai bầu vú / con bay / Ngày mai /điềm tĩnh lại mẹ sẽ tập đi bằng ánh sáng Lập Duy” (Lập Duy – Phan Huyền Thư) Đứa
con là cả một niềm mơ ước lớn lao đang được hồi sinh trong lòng những người
mẹ cưu mang chín tháng mười ngày, người mẹ gửi gắm những ước vọng lớn lao vào hình hài bé nhỏ kia Người mẹ muốn chở che cả những niềm đau mai sau
mà chắc chắc bất cứ một phận người nào cũng phải trải qua trong cuộc sống này Và cũng chính có con, người mẹ biết cách vượt qua tất cả, để trước hết, làm một người đàn bà bình thường, có mọi buồn vui của đời sống, mọi âu lo vặt
vãnh, mọi thử thách gian truân: “Con trai ơi! Con đã cho mẹ một sinh lực phi
thường/ Để biết im lặng và nhẫn nại/ Để làm việc bằng hai ba/ Để đến ngày được làm người đàn bà bình thường nhất (Đồng tử - Vi Thùy Linh) Trong niềm
vui lớn lao vì sự hiện diện của đứa con thơ dại, người mẹ bỗng cảm giác mong thế giới hòa bình để đứa con bé bỏng của mình lớn lên an lành Người mẹ cầu
Trang 37mong mọi sự thiệt thòi hãy đổ hết lên đầu mẹ, để đứa con của mình thênh thang bước đi trên con đường rải thảm Và cũng là nỗi đau của người mẹ khi không
thể có được đứa con yêu dấu mình hằng mong đợi: “Mẹ ước/ Con là của mẹ/
Không phải của những cát bụi hôm qua/ Mẹ ước/ Ước mơ của người đàn bà bình dị/ Mà nỗi đau trong mình đã chạm đến biển khơi/ Biển không có gió / Biển không còn cát/ Con nơi nào mẹ thét gào đớn đau run rẩy (Sóng chết – Ngô Thị
Hạnh)
Trong sự bộn bề của đời sống, trong những giây phút thăng hoa của tứ thơ, vẫn ẩn chứa một nỗi niềm đàn bà không nguôi quên bổn phận nhưng cũng
không thể không nghĩ tới những nhọc nhằn của thiên chức làm mẹ: “Từ lúc có
con, giấc ngủ không bao giờ nhẹ nhàng với mẹ” (Trần Lê Sơn Ý)
Trong bài Lá cỏ nhà thơ Walt Whitman nói: Và tôi bảo không có gì vĩ đại
hơn làm mẹ những con người Thơ nữ trẻ đương đại bên cạnh cái dữ dội, là một
nốt lặng trở về khao khát thế giới thực tại bình yên, trở về với thiên tính nữ, sự yếu mềm cần chở che, bao bọc Họ là những tâm hồn yếu mềm, khát khao yêu, khát khao dâng hiến, khát khao làm mẹ, khát khao yên ấm trong vòng tay gia đình Họ là những tiếng nói đương đại với nét trầm sâu lắng, cũng có một hành trình gian truân khổ ải để đến được bến bờ hạnh phúc Họ đã và đang góp phần làm cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong văn chương kim cổ trở thành một biểu tượng đẹp đẽ về tình yêu thương, sự thủy chung và lòng nhân ái
Nét cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới thứ hai ở thơ nữ Việt Nam chính
là nỗi cô đơn riêng của phái nữ Dù cô đơn là một trạng thái tình cảm của con người Lúc cô đơn là lúc con người buồn bã Với những nghệ sỹ, cái tôi cô đơn thăng hoa thường sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị Cô đơn là giây phút của sáng tạo Bà Huyện Thanh Quan trong buổi chiều hoàng hôn với nỗi nhớ
nhà, thương nước, với cái quạnh hiu của đèo Ngang để rồi “Dừng chân đứng lại
trời non nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta” Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân
Trang 38Hương, tiếng là mạnh mẽ, khinh bạc thế, nhưng vẫn có lúc phải than rằng “Kẻ
đắp chăn bông kẻ lạnh lùng/ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” hay vẫn có
những phút giây cô lẻ đến não nề “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/ Vầng
trăng bóng xế khuyết chưa tròn/ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ
tí con con” Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, người đàn bà của những yêu thương và đắm
say, người luôn phấp phỏng âu lo trước hạnh phúc mong manh của tình yêu và
định mệnh, đã viết những câu thơ gọi lên nỗi lo âu, dự cảm, bất an: “Em lo âu
trước xa tắp đường mình / Trái tim đập những điều không thể nói / Trái tim đập cồn cào cơn đói/ Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn… (Tự hát – Xuân Quỳnh)
Nếu như các nhà thơ nữ thế hệ trước thường diễn tả nỗi cô đơn bằng một biểu tượng nào đó, hoặc nói một cách xa vời thì thơ nữ thế hệ trẻ thời kỳ từ
2000 – 2015 cũng chứa đầy ắp nỗi cô đơn trong từng trang viết, với những buồn
bã trực diện và dồn dập Dường như, đó là một yếu tố không thể thiếu Nó song hành cùng đời sống vốn bận rộn và lắm lo toan của họ Bên cạnh đời sống ồn ã, tấp nập ngoài kia, bao giờ cũng có chỗ cho nỗi cô đơn trống vắng trong góc khuất của tâm hồn Thơ họ là để thể hiện, là giải tỏa nỗi buồn, cô đơn ăm ắp cả
lý tính và xúc cảm, đôi khi buồn mà không thể cắt nghĩa nổi nỗi buồn ấy
Một trong những cái tôi cô đơn trong thơ nữ trẻ đương đại là cái tôi thiếu hụt tình cảm, thiếu vắng sự sẻ chia, nỗi khao khát hoàn thiện bản thân, khao khát
tìm được sự đồng điệu, cụ thể ở đây là thiếu hụt tình yêu, thiếu hụt “Anh”: “Nỗi
cô đơn ập vào sự chịu đựng của em - con đê muốn vỡ/ Mây như quầng mắt người mất ngủ/ Hai vì sao tìm đến nhau buốt sáng/ Bao giờ anh đến? Bao giờ anh đến? (Bài ca số phận – Vi Thùy Linh) Nhưng không dừng ở đó, không để
cho số phận, cho nỗi buồn và sự cô đơn “nuốt chửng”, trong thơ mình các nhà thơ nữ thường cố tìm một lối thoát sau nỗi cô đơn, nỗi buồn tràn ngập, một tiếng reo vui khi trái tim được giải thoát khỏi những đợi mong, những thổn thức Nhưng, tiếng nói thơ nữ đương đại khác trước ở chỗ, họ luôn dự cảm mong
Trang 39manh trước niềm vui tạm thời đó Phía sau niềm vui là nỗi lo lắng mới, niềm lo lắng thường trực và khó xua tan Xã hội hiện đại luôn kéo theo nó những bất ổn không dễ gì biết trước được, con người luôn phải đuổi theo nó đến tận cùng, cứ phải lo lắng, cứ phải tìm kiếm, cứ phải ý thức nỗi buồn, nỗi cô đơn luôn thường
trực, bao giờ cũng có trên đường chạy của mình: “Nỗi cô độc mọc dại ngút ngàn
đường chạy/Không hiểu sao lại khóc nhiều đến thế?/ Không hiểu sao lại buồn nhiều đến thế? (Viết cho ngày sinh nhật 10.10.2003 – Trương Quế Chi) Cuộc
đời trước mắt như một dấu hỏi lớn Các ngả đường như một dấu hỏi lớn Trước
vô vàn nẻo đường tương lai, đôi khi con người phải lựa chọn thật nhiều, hoang mang thật nhiều Cũng từ đó con người thấy cô độc trước những chọn lựa Thơ
nữ đương đại, những cô gái đương đại viết về những vấn đề đương đại luôn cảm thấy trước mắt mình nhiều ngả rẽ, nhiều nỗi cô đơn, nhiều nỗi buồn
Có một thực tại nghiệt ngã, và ngược chiều nhau, khi cuộc sống càng bận rộn, càng ít thời gian dành cho mình, con người lại cảm thấy cô đơn ngay trong
sự bận rộn đó Những giờ phút hiếm hoi dành để chăm sóc bản thân mình, cũng
là lúc những cô gái cảm thấy bất lực trước con chữ, trước trang thơ Ngổn ngang nỗi buồn thiêu đốt từng mạch máu, từng tế bào Trang thơ tự cắt nghĩa nỗi buồn
mà không lý giải nổi: “Thật ra nỗi buồn đâu có màu sắc gì/ Chỉ là màu vàng của
ánh đèn vàng đêm đêm soi vào mắt cô gái trẻ để tìm cho ra nỗi buồn có màu sắc gì/ Nhưng mắt quá trong/ Khoắng lên cũng vô ích (Lô lô – Ly Hoàng Ly) Ngày
đã tắt nắng, ngọn lửa cháy bùng lên trên không trung trong đêm, giữa mặt đất, nhưng nỗi buồn không vơi đi mà bị nhân lên gấp bội
Thơ nữ trẻ đương đại thể hiện bản thể cô đơn đáu đáu và trực diện, như là
tự sự với chính bản thân mình, tự sự với trang giấy trắng ngổn ngang Đôi lúc
cái tôi cô đơn òa vỡ và nhận thấy sự phù du của kiếp người: “Nhiều khi đơn độc/
Muốn thức dậy ở cõi khác/ Hình dung một nụ cười/ Đưa sợi tóc lên ngậm miệng/ Cũng đỡ nhớ niềm vui ” (Buổi sáng – Phan Huyền Thư) Tuy nhiên, nỗi cô đơn
Trang 40như một con dao hai lưỡi, mình biết chế ngự nó, thì mình vượt qua, nhưng mình
bị nó chế ngự thì mình trở thành nô lệ Chẳng thể có một nỗi cô đơn hoàn hảo, nếu nó hoàn hảo, nó sẽ lại nguyên vẹn Cũng như không thể biến nỗi cô đơn trở thành cái chết vô nghĩa Nỗi cô đơn phải làm cho người ta giàu hơn lên trong tâm hồn, giàu hơn khát vọng sống, khát vọng yêu Cũng không thể để nó triệt
tiêu của chúng ta những đam mê và sức lực: “Nỗi buồn gặm nhấm con người
từng ngày/ Nó ngốn của chúng ta sức lực” (Một ngày chưa có trong sự thật – Vi
Thùy Linh)
Không thể để nỗi buồn rứt, rỉa mình như một thứ mồi ngon Tuổi trẻ biết buồn biết cô đơn nhưng phải vực dậy để tiến kịp đời sống như vũ bão tính bằng
giây đang qua đi trên thế giới Cũng không thể “khai tử” mình khỏi vũ trụ “Buồn
tập tễnh/ Về ăn giỗ mình” (Phan Huyền Thư) được Đó là nỗi buồn, nỗi cô đơn
ảo não tự hủy hoại
Mặc dầu có những hạn chế nhỏ khi bộc lộ cái tôi cá nhân cô đơn, buồn bã, nhưng thơ nữ trẻ đương đại đã có những khoảnh khắc thăng hoa của cái tôi cô đơn Họ trả lại cho thi ca vẻ đẹp của cái tôi cô đơn buồn bã tràn sức sống mà một thời không được phép đánh thức Họ trở về đúng nghĩa với chính mình, là cái tôi cần sẻ chia, cần bù đắp Những nỗi cô đơn mặn mà cần một bờ vai rộng chở che, yêu thương Là sự khao khát tình yêu, khao khát người yêu những lúc vắng xa cách trở Cái tôi cô đơn biết nâng niu tình yêu và hạnh phúc, làm đẹp hơn cho đời những giây phút trở về với nguồn cội của tâm hồn, một tâm hồn nữ yếu đuối, vị tha và giàu lòng trắc ẩn
Như vậy, trong một khuôn khổ nào đó, thơ nữ trẻ đương đại đã có những thành tựu đáng ghi nhận ban đầu Họ đang có tiền đề thuận lợi để bứt phá trong chặng đường tiếp theo Nếu như họ không yên phận với cái tôi bản thể đang trỗi dậy đầy thách thức với cuộc đời, mà có những mối quan tâm đến cộng đồng rộng lớn, thì “nguồn sống mới” của họ sẽ mang một “tầm vóc” mới