Lịch sử vấn đề nghiên cứu Bùi Giáng là một hiện tượng khá phức tạp nên đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu phê bình viết về thơ ông, nhưng những bài viết liên quan đến việc tiếp nhận thơ Bù
Trang 1Hồ Thị Giáng Thu
TIẾP NHẬN THƠ BÙI GIÁNG
TỪ 1954 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3Tác giả luận văn xin cam đoan: Luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Hoài Anh Những nội dung nghiên cứu và tài liệu
được trích dẫn trong đề tài Tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay là trung thực
Kết quả này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đây
Nếu phát hiện có bất kì sự gian dối nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ, cũng như kết quả luận văn của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2016
Học viên
Hồ Thị Giáng Thu
Trang 4Thay mặt các học viên cao học khóa 25, chuyên ngành Lý luận văn học tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn tận tâm, tận lực giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho học viên chúng tôi, học tập và hoàn thành nhiệm vụ của mình
Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến TS Trần Hoài Anh, người đã tâm huyết, tận tình chỉ dạy, động viên, trang bị cho tôi những kiến thức để hoàn thành luận văn này
Tôi rất biết ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của các thủ thư ở thư viện trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, thư viện trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn và thư viện Khoa học Tổng hợp
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã hết lòng động viên tôi hoàn thành luận văn này
Tp.HCM, tháng 09 năm 2016
Học viên
Hồ Thị Giáng Thu
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 HIỆN TƯỢNG THƠ BÙI GIÁNG VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN THƠ BÙI GIÁNG TỪ 1954 ĐẾN NAY 5
1.1 Bùi Giáng và hiện tượng thơ Bùi Giáng 5
1.1.1 Phác thảo về tiểu sử và con người nhà thơ 5
1.1.2 Hiện tượng thơ Bùi Giáng 11
1.2 Tình hình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay 14
1.2.1 Tình hình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến 1975 14
1.2.2 Tình hình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1975 đến nay 16
1.3 Người đọc trong quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay 24
1.3.1 Quan niệm về người đọc 24
1.3.2 Tầm đón đợi của người đọc qua tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay 27
Chương 2 TIẾP NHẬN THƠ BÙI GIÁNG NHÌN TỪ KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH CHỊU ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG 37
2.1 Tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo 37
2.1.1 Giới thuyết về tư tưởng Phật giáo 37
2.1.2 Những biểu hiện của việc tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo 40
2.2 Tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão giáo 53
2.2.1 Giới thuyết tư tưởng Lão giáo 53
Trang 6Chương 3 TIẾP NHẬN THƠ BÙI GIÁNG NHÌN TỪ KHUYNH HƯỚNG
PHÊ BÌNH CHỊU ẢNH HƯỞNG LÝ THUYẾT VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY 70
3.1 Tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình phân tâm học 70 3.1.1 Giới thuyết về phân tâm học 703.1.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình phân tâm học trong việc
tiếp nhận thơ Bùi Giáng 713.2 Tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình hiện sinh 82 3.2.1 Giới thuyết về tư tưởng hiện sinh 823.2.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình hiện sinh trong tiếp nhận
thơ Bùi Giáng 843.3 Tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình thi pháp học 98 3.3.1 Giới thuyết về phê bình thi pháp học 983.3.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình thi pháp học trong tiếp
nhận thơ Bùi Giáng 100
KẾT LUẬN 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn đàn những năm 60 của thế kỉ XX, Bùi Giáng xuất hiện như một ngôi sao
lạ, làm chấn động giới văn nghệ Bùi Giáng nổi tiếng ngay từ những tác phẩm đầu tay in năm 1957 như: "Một vài nhận xét về Bà huyện Thanh Quan", "Lục Vân Tiên", "Chinh phụ ngâm", cho đến những năm sáu mươi, nhà xuất bản An Tiêm ấn hành liên tục các
tập thơ của Bùi Giáng tiêu biểu như: Mưa Nguồn (1962), Lá Hoa Cồn (1963), Bài Ca
Quần Đảo (1963), Ngàn Thu Rớt Hột (1963), Sa Mạc Trường Ca (1963), Màu Hoa Trên Ngàn (1963), Sa Mạc Phát Tiết (1969) cùng với rất nhiều khảo cứu, nghiên cứu
triết học, phê bình văn học, sách dịch Sự xuất hiện vô cùng ấn tượng ấy, đã tạo nên một hiện tượng Bùi Giáng, làm dậy sóng cả nền văn học miền Nam Bùi Giáng thổi ngọn gió mới cho dòng văn học Việt Nam thế kỉ XX Bùi Giáng trở thành một trong những thi sĩ kỳ dị của thơ ca Việt Nam hiện đại
1.2 Thơ Bùi Giáng là một hiện tượng văn học độc đáo Cõi thơ ấy vừa quen lại
vừa lạ Quen vì thơ ông rất truyền thống, mang âm hưởng lục bát của ca dao nhưng lạ là
vì thơ Bùi Giáng vô cùng hiện đại, cách tân và sự thử nghiệm quyền năng của ngôn ngữ Cõi thơ Bùi Giáng là cõi thơ gần gũi, dung dị, chan chứa cái nhìn đôn hậu của một nhà thơ thấm đẫm tư tưởng phương Đông Bùi Giáng đem đến cho thơ ca cái nhìn nhân văn
và những khát vọng đẹp đẽ về con người không từ những triết lí kinh viện mà là một cái nhìn đầy trải nghiệm, đầy trăn trở ưu tư trong lớp vỏ bụi bặm, nhớp nháp ngay ở cuộc sống đời thường Cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Giáng đã rong chơi, phiêu bồng ở cõi trần và đã tự khám phá ra những xung đột nội tâm, những khát khao hạnh phúc, những bản năng nhục thể, những niềm đau thân phận, những ưu tư về tồn tại
1.3 Sự hấp dẫn của thơ Bùi Giáng không chỉ ở những hình ảnh trong thơ mang
tính biểu tượng cao, gợi hình, gợi cảm, đầy lạ hóa mà còn ở kho từ vựng, đầy ấn tượng của riêng Bùi Giáng Đặc biệt giọng điệu tự tình trong thơ cũng góp phần không nhỏ để
mê hoặc người đọc Giọng điệu trong thơ Bùi Giáng vừa tha thiết, chân tình vừa sâu lắng có khi suồng sã, tưng tửng, giễu cợt, có khi giàu chất triết lý, suy tư, chiêm nghiệm tạo nên tính cách đặc thù riêng biệt góp phần hình thành phong cách độc đáo, dị thường cho nhà thơ Thơ Bùi Giáng là một hiện tượng thu hút sự quan tâm của độc giả cũng
Trang 8như các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong và ngoài nước
Tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay là một vấn đề phức tạp Việc vận dụng
lý thuyết mỹ học tiếp nhận để đánh giá quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng của các nhà phê bình, nhằm giải mã những thông điệp, khám phá chân trời nghệ thuật mà Bùi Giáng gởi gắm qua thơ của mình là một vấn đề cần được nghiên cứu nghiêm túc, khoa học
Là cây bút tài hoa, một ca đặc biệt của văn học hiện đại thế kỉ XX, Bùi Giáng với
phong cách vừa truyền thống vừa hiện đại đã thu hút chúng tôi ngay khi tiếp cận Chính
vì thế chúng tôi chọn nghiên cứu, khảo sát về vấn đề tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay để làm luận văn Cao học
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Bùi Giáng là một hiện tượng khá phức tạp nên đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu phê bình viết về thơ ông, nhưng những bài viết liên quan đến việc tiếp nhận thơ Bùi Giáng không nhiều, chỉ duy nhất có bài viết của Trần Hoài Anh “Bùi Giáng trong cái nhìn của phê bình văn học ở miền Nam trước 1975” đăng trên tạp chí Sông Trà số 47/2013 Trong bài nghiên cứu của mình Trần Hoài Anh cho rằng: “Bùi Giáng là một hiện tượng thu hút rất nhiều sự quan tâm của độc giả cũng như các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong và ngoài nước từ khi ông còn hiện hữu trên cõi đời cho đến lúc ông
đi ra ngoài cõi sống” [4, tr.143] Trần Hoài Anh đã đưa ra những tư liệu quý giá minh chứng cho việc tiếp nhận hiện tượng thơ Bùi Giáng từ 1954 – 1975 ở miền Nam Việt Nam Và theo Trần Hoài Anh : “đi vào cõi thơ Bùi Giáng, người đọc cần có một tầm đón đợi phù hợp, phải xuất phát từ nhiều điểm nhìn khác nhau cùng với một vốn sống, vốn văn hóa phong phú may ra mới thấu cảm được với hồn thơ của thi sĩ”
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn tìm hiểu các công trình nghiên cứu, những bài viết, phê bình về thơ Bùi Giáng từ 1954 đến 31/8/2016 được đăng tải trên báo, tạp chí, các hội thảo khoa học, các luận văn, luận án được bảo vệ ở các cơ sở đào
tạo trong nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiếp cận từ lí thuyết mỹ học tiếp nhận và sử dụng một số phương pháp sau:
4.1 Phương pháp lịch sử:
Xem xét sự tiếp nhận thơ Bùi Giáng trong bối cảnh lịch sử xã hội của từng giai đoạn để có cái nhìn chuẩn xác, thấu đáo về những nhận định của các nhà phê bình, nghiên cứu khi tiếp nhận thơ Bùi Giáng
4.2 Phương pháp so sánh:
Sử dụng phương pháp so sánh, đề tài hướng đến việc đối chiếu những nhận định, đánh giá về quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại
để có những luận giải đúng về thơ Bùi Giáng
4.3 Phương pháp phân loại và hệ thống:
Sử dụng phương pháp phân loại là sắp xếp các bài viết, các bài phê bình, các luận văn, luận án theo từng vấn đề có cùng một khuynh hướng Phương pháp hệ thống giúp
hệ thống hóa cách tiếp cận thơ Bùi Giáng từ những khuynh hướng phê bình khác nhau
để từ đó tạo nên cái nhìn tổng quát về quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Lý thuyết
- Làm rõ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết mỹ học tiếp nhận hiện đại vào việc tìm hiểu một hiện tượng văn học cụ thể mà ở đây là thơ Bùi Giáng
Trang 10- Luận văn là một công trình nghiên cứu về tiếp nhận thơ Bùi Giáng để góp phần hiểu thêm về những đặc sắc trong thơ Bùi Giáng
5.2 Thực tiễn
Luận văn là tư liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu văn học trong nhà trường và các viện nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn được
triển khai theo 3 chương:
Chương 1 – Hiện tượng thơ Bùi Giáng và quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ
1954 đến nay
Chương này luận văn phác thảo về tiểu sử và con người nhà thơ Bùi Giáng, đồng thời lý giải hiện tượng thơ Bùi Giáng, tình hình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay
Chương 2 – Tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình chịu ảnh
hưởng tư tưởng phương Đông
Chương này phân tích, đánh giá, lý giải việc tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo và Lão giáo
Chương 3 – Tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn từ khuynh hướng phê bình chịu ảnh
hưởng lý thuyết văn học phương Tây
Chương này phân tích, đánh giá, lý giải ý nghĩa việc tiếp nhận thơ Bùi Giáng nhìn
từ khuynh hướng phê bình phân tâm học, khuynh hướng phê bình hiện sinh, khuynh hướng phê bình thi pháp học
Trang 11Chương 1 HIỆN TƯỢNG THƠ BÙI GIÁNG
VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN THƠ BÙI GIÁNG
TỪ 1954 ĐẾN NAY 1.1 Bùi Giáng và hiện tượng thơ Bùi Giáng
1.1.1 Phác thảo về tiểu sử và con người nhà thơ
1.1.1.1 Tiểu sử nhà thơ Bùi Giáng
Bùi Giáng là nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 (Bính Dần) tại làng Thanh Châu, nay đổi thành Duy Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Bùi Giáng xuất thân từ một dòng họ gia thế Thân phụ là Bùi Thuyên, thuộc đời 16 dòng họ Bùi, tục danh Cửu Tý, địa chủ giàu có Do người vợ đầu qua đời, ông bước thêm bước nữa với bà Huỳnh Thị Kiền Bà sinh được hai gái, bảy trai, Bùi Giáng là con thứ năm của người vợ sau Thân Mẫu Bùi Giáng là cháu nội cụ Hoàng Văn Bảng, em ruột Hoàng Diệu, đỗ Phó Bảng khoa 1853, Thượng thư Bộ binh, Tổng Đốc Hà Ninh, tuẫn tiết tại Hà Nội năm 1882 Trong dòng họ của ông có rất nhiều người nổi tiếng như bác sĩ Bùi Kiện Tín, sản xuất dầu khuynh diệp, kỹ sư Bùi Thạnh, hay giáo sư Bùi Xuân Đào
Năm 1933, ông bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu với thầy Cù Đình Quý Năm 1936, ông học trường Bảo An (Điện Bàn) với thầy Lê Trí Viễn
Năm 1939, ông ra Huế học tư tại Trường trung học Thuận Hóa Trong số thầy dạy ông có Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trần Đình Đàn
Năm 1949, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm bộ đội Công binh
Năm 1950, ông thi đỗ tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, được cử tới Hà Tĩnh để tiếp tục học nhưng khi đến nơi ông quyết định bỏ học sau đó trở về quê đi chăn
bò trên vùng rừng núi Trung Phước
Năm 1952, ông trở ra Huế thi tú tài 2 ban Văn chương Thi đỗ, ông vào Sài Gòn ghi danh học Đại học Văn khoa
Năm 1965, nhà bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông
Năm 1969, ông “bắt đầu điên rực rỡ” (chữ của Bùi Giáng) Sau đó, ông “lang thang du hành Lục tỉnh” (chữ của Bùi Giáng), trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc
Năm 1971, ông trở lại sống ở Sài Gòn Thi sĩ Bùi Giáng trút hơi thở cuối cùng lúc
Trang 122 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998, sau một cơn tai biến tại bệnh viện Chợ Rẫy sau
những năm tháng sống “điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang”(chữ của Bùi Giáng),
để lại biết bao nhiêu tiếc thương trong lòng bạn bè giới văn nghệ sĩ, người yêu thơ Bùi Giáng
Theo thống kê chưa đầy đủ, tác phẩm của Bùi Giáng gồm có:
Thơ: Mưa Nguồn (1962, Nxb Trang Phượng, Sài Gòn), Lá Hoa Cồn (1963, Nxb
Lá Cồn), Màu Hoa Trên Ngàn (1963, Nxb Lá Cồn, Sài Gòn ), Ngàn Thu Rớt Hột (1963, Nxb Lá Cồn, Sài Gòn), Bài Ca Quần Đảo (1963, Nxb Nguyễn Đình Vượng), Sa Mạc
Trường Ca ( 1963, Nxb An Tiêm), Thơ vô tận vui (1987, Nxb Thuận Hóa), Mùa Màng Tháng Tư (1987, Nxb Văn Nghệ), Mùi Hương Xuân Sắc (1987, Nxb Tân An), Đêm Ngắm Trăng (1997, Nxb Trẻ), Thơ Bùi Giáng (1994, Nxb Montréal), Thơ Bùi Giáng
(1995, Nxb California), Như Sương (1998, Nxb Trẻ), Rong rêu, (1995, Nxb Đà Nẵng),
Mười hai con mắt (2001, Nxb Văn Nghệ ),
Khảo cứu:
Nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan (1957, Nxb Tân Việt), Nhận xét về Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm và Quan Âm Thị Kính (1957, Nxb Tân Việt), Nhận xét về Truyện Kiều và Truyện Kiều Phan Trần (1957, Nxb Tân Việt), Giảng luận về Nguyễn Công Trứ, Giảng luận về Cung oán ngâm khúc (1959, Nxb Tân Việt), Giảng luận
về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1959, Nxb,Tân Việt), Giảng luận về Phan Bội Châu, Giảng luận về Chu Mạnh Trinh (1959, Nxb Tân Việt), Giảng luận về Tôn Thọ Tường, Giảng luận về Phan Văn Trị, (1959, Nxb Tân Việt)
Nghiên cứu triết học:
Tư tưởng hiện đại (1962), Martin Heidgger và tư tưởng hiện đại I và II (1963), Sao gọi là không có triết học Heidgger? (1963), Dialoque (viết chung, 1965)
Nghiên cứu văn học:
Sách xuất bản năm 1969: Đi vào cõi thơ, Nxb, Ca Dao; Thi ca tư tưởng, Nxb Ca Dao; Sa mạc phát tiết, Nxb, An Tiêm; Trăng châu thổ, Nxb Võ Tánh; Mùa xuân trong
thi ca, Nxb An Tiêm; Thúy Vân, Nxb Quế Sơn Sách xuất bản năm 1970: Biển Đông
xe cát, Nxb An Tiêm; Mùa thu trong thi ca, NXb, An Tiêm Sách xuất bản năm 1971: Ngày tháng ngao du, Đường đi trong rừng, Nxb, Lá Hoa Cồn; Lời cố quận, Nxb An
Trang 13Tiêm; Lễ hội tháng Ba, Nxb An Tiêm; Con đường ngã ba, Nxb An Tiêm; Bước đi của
tư tưởng, Nxb An Tiêm…
Dịch thuật:
Cõi người ta (1966), Nxb An Tiêm; Khung cửa hẹp Nxb An Tiêm;, Hoa ngõ hạnh
(1966), Nxb Ngọc Minh, Othello, Nxb Ngọc Minh; Bạo chúa Caligula (1967) Nxb Võ Tánh; Ngộ nhận (1967), Nxb An Tiêm; Kim kiếm điêu linh (1967), Nxb Võ Tánh; Con
đường phản kháng (1967), Nxb Võ Tánh; Mùa hè sa mạc (1967), Nxb Võ Tánh; Kẻ vô luân (1967) Nxb Quế Sơn; Nhà sư vướng luỵ (1969), NXb An Tiêm; Ophélia Hamlet
(1969) Nxb Quế Sơn; Hòa âm điền dã (1969), Nxb Quế Sơn; Đi vào cõi thơ (1969), Nxb Ca Dao; Thi ca tư tưởng (1969) Nxb Ca Dao; Hoàng tử Bé (1973) Nxb An Tiêm;
Mùa xuân hương sắc (1974) Nxb An Tiêm…
1.1.1.2 Con người nhà thơ Bùi Giáng
Bùi Giáng tự họa về bản thân mình: "Nhe răng cười trong bóng tối Không bao
giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài Chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh." [155]
Trong lời tự họa ấy, ta thấy thơ vướng vào Bùi Giáng như là định mệnh, như là duyên nghiệp, mặc cho ông có muốn hay không, chán chường hay vui sướng thì Bùi Giáng sẽ là người thơ, một người thơ với nhiều dự phóng Và quả đúng như thế, thơ Bùi Giáng đã được rất nhiều chủ người tiếp nhận, đánh giá cao Bùi Vĩnh Phúc nhận định: “Ông là một thi sĩ bát ngát, ngây thơ và cỏ hoa điên đảo” [109]
Bùi Giáng không chỉ là thiên tài về thơ mà còn là người có khả năng tự học ngoại ngữ tuyệt vời, Bùi Giáng am hiểu tường tận tiếng Hán, thành thạo trong việc sử dụng tiếng Anh, Pháp, Đức…Bùi Giáng vừa sáng tác thơ, vừa nghiên cứu triết học, phê bình văn học Ông am hiểu tất thảy các nguồn triết học Đông Tây kim cổ, thơ văn ông đề cập đến hàng trăm thi sĩ, triết nhân, nhà tư tưởng Bùi Giáng vừa ca ngợi họ, lại vừa phê phán hết thảy từ Khổng, Trang, Lão đến Socrate, Platon, Heidegger, Kant, Sartre… Bùi Giáng là một người đốn ngộ trong tư tưởng Phương Đông, lẫn phương Tây Với kiến thức uyên thâm, sự tài hoa trong thi ca nghệ thuật, Bùi Giáng trở thành một nhà thơ với diện mạo khá phức tạp Để hiểu được cõi thơ ông không phải là điều dễ dàng, muốn đi
Trang 14vào cõi thơ Bùi Giáng phải hiểu được con người của ông như Buffon nói “Văn là người”
Bùi Giáng có quan niệm về thơ vô cùng độc đáo Trong cuộc hành trình của khát vọng đi tìm một lời giải đáp về thơ, Bùi Giáng cho rằng: “Thơ tôi làm chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác Đi giữa trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian mang trên hai cánh tay bay đi […] Tôi ra bờ ruộng nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần
bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao” [63, tr.83] Đó phải chăng là sự quy hồi vĩnh cửu
của ngôn ngữ mà Nietzsche từng gọi “thể” (Heidegger), ngôn ngữ từ đó cũng lên đường trở về cố quận một dòng sông trôi chảy Ngôn ngữ là mái nhà an cư của tính không bến bờ” [159]
Bùi Giáng là nhà thơ kì tài có quan niệm về sáng tác thơ ca rất riêng của mình
“Thơ ca là một cái gì không thể bàn tới, không thể diễn gì được” Ông là thiên tài thơ, ông làm thơ, nói về thơ, ăn thơ, ngủ thơ, chơi thơ, cà rỡn thơ, điên thơ Nhưng thơ ông không dễ hiểu, người ta cũng không biết ông làm thơ như thế nào? Và bản thân ông làm
thơ nhưng không cần biết thơ là gì Chính Bùi Giáng Viết: Bắt Chước ông Khổng Tử/
Con chim thì nó biết bay/ Con cá thì ta biết nó lội/ Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ/ Nhưng thơ là gì/ Thì đó là điều/ Ta không biết! [65, tr.98] Nói như thế Bùi Giáng muốn
nhấn mạnh sự kì diệu, ảo diệu khôn cùng của thơ ca Ông ý thức việc vì sao ông làm thơ: “Thơ tôi làm ra là để tặng chuồn chuồn, châu chấu, xin các ngài học giả hãy xa lánh thơ tôi” [47]
Quan niệm thơ như trên là sự mời gọi sự đồng điệu trong tâm hồn con người, hãy đến với thơ ông một cách thơ mộng nhất, phiêu bồng nhất, đừng lý luận theo cách thông thường thô thiển, hãy sống như ông sẽ cảm nhận được vẻ đẹp hồn hậu tự nhiên gợi lên qua từng chữ, từng từ, từng câu, từng dòng, từng trang thơ của thi sĩ
Bùi Giáng cũng đưa ra quan niệm về cách đọc thơ rất riêng và độc đáo của mình Theo Bùi Giáng, đọc thơ là: “Đi vào cõi thơ Thế nghĩa là ? Có một cõi và một cuộc đi, cuộc đi có nhiều thể thái Có thể theo lối chu du của ông Khổng Tử Có thể đi theo lối ngồi yên không rục rịch suốt bao diên trường tuế nguyệt dưới một gốc cây bồ đề theo
Trang 15lối Như Lai Cũng có thể đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim trái chín Đi như vậy dù sao thì dù, cũng là trong ý hướng mở cõi ra chơi Không ai buộc ai phải theo ý riêng độc đoán của ai … đã gọi là mở cõi thì chẳng nên khép miền Nghĩa là …tránh cái lối bưng bít (…) Đó là điều kiện cần và đủ, không buộc ai phải đi qua miên bạc bình sinh” “Đi vào cõi thơ theo lối ngẫu nhiên tao ngộ Cơ duyên sẽ dun dủi…Chẳng nên gò ép cưỡng cầu” (Dẫn theo Thanh Tâm Tuyền) [155]
Bùi Giáng đã nêu lên quan niệm về cách đọc thơ thực sự mới mẻ, hiện đại, đến
quyết liệt một cách điên thượng thừa của riêng ông: “Tôi xin vĩnh viễn gào thét thật to
rằng tôi xin im lặng mãi mãi Người nào đọc thơ tôi, nảy sinh ra cái ý gì, người đó hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái ý nảy ra trong đầu họ, hoặc là nảy ra trong tứ chi của họ Cuộc khiêu vũ của thơ ca rất mực vệ sinh Kẻ nào có thiên tài về món khiêu vũ, kẻ đó sẽ
có tư cách đón nhận bài học thượng thừa trong Sa Mạc Trường Ca Tôi là kẻ chăn trâu Tôi ăn nói theo ngôn ngữ chăn trâu Kẻ nào muốn nhảy vào cuộc đối thoại với tôi, kẻ đó phải học tập chăn trâu trước đã” [64, tr.54] Với cách nói hình tượng cố hữu ta nhận ra vai trò của chủ thể tiếp nhận không thể có lối “chiếm đoạt” hoàn toàn văn bản một cách chủ định như lối nghĩ truyền thống khi đến với thơ Tiếp nhận thơ là hoạt động chủ động của mỗi người đọc Mỗi người đọc khác nhau sẽ có cách chiếm lĩnh khác nhau đối với tác phẩm Theo đó, cõi thơ được nhìn nhận như là hệ thống mở đến vô cùng, chứa đầy ẩn số cần được giải mã Nó kích thích sự đào sâu suy nghĩ, cảm nhận lấp đầy chỗ
“bất khả giải” tức thời của thơ và nó kéo dài ra đến vô hạn tùy theo sự nội cảm, trạng thái nhận thức và tầm đón đợi, kinh nghiệm thẩm mĩ của chủ thể tiếp nhận Vấn đề đọc
và vai trò của người đọc cũng được Huỳnh Như Phương trong bài viết “Khám phá
người đọc” in trong cuốn Hãy cầm lấy mà đọc (2016, Nxb Tổng hợp TP HCM) cũng
cho rằng: “Đọc là khám phá, sáng tạo lại tác phẩm và cũng đồng thời khám phá sáng tạo chính bản thân mình” [112, tr.56]
Bùi Giáng là thi nhân có tâm hồn thánh thiện như trẻ thơ, ông hồn nhiên mà lém lỉnh, đa sầu, đa cảm nhưng lạc quan yêu đời Ông sống tự do, thoát tục “ngang tàng tính mệnh phóng túng hình hài”(Bùi Văn Nam Sơn), lang thang trong tư tưởng của chính mình Ông giác ngộ tư tưởng nhà Phật, thấy được đời người là vô thường, trăm năm hữu hạn, vậy nên Bùi thi sĩ chẳng giống người thường, chúng ta cứ tự mình lao vào bể khổ,
Trang 16tham sân si, bon chen ở đời, tự tạo nghiệp chướng cho mình, Bùi Giáng rong chơi như
hài nhi: Sài Gòn chợ lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn Ông là kẻ lữ khách
trên lưng đeo một túi thơ, trước ngực là trái tim nồng hậu cùng với tâm hồn an nhiên luôn tràn ngập tình yêu chúng sinh Sống trong cõi tạm trần gian này Bùi Giáng không
vợ, không con, không nhà, không cửa, không mảnh đất cắm dùi, không có tài sản gì quý giá Tất cả những thứ ấy đối với ông là hư vô, ảo ảnh Ông tìm đến với thiên nhiên, giao hòa với thiên nhiên, ngụp lặn trong đó, thiên nhiên vạn vật, chuồn chuồn, châu chấu, dê, bò… là bạn của ông, là tri âm tri kỉ của ông Cuộc sống chan hòa với thiên nhiên Ông chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão Trang và đốn ngộ trong Đạo ấy Vì vậy, Bùi Giáng sống giữa chúng ta, rất gần nhưng lại rất xa chúng ta, xa trong tư tưởng Người đời cho rằng ông điên vì cách ăn ở, sinh hoạt, không giống ai, nhưng kì thực ngẫm lại Bùi Giáng lại
là người tĩnh nhất, vả chăng nếu điên chỉ có chúng ta điên mà thôi: Ông vua kỳ vỹ thập
thành/ Vì vui quá độ nên thành ra điên (Tâm Sự Ông Vua Điên)
Con người của ông không chỉ chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng phương Đông mà còn ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng phương Tây Bùi Giáng là hiện thân của con người cô đơn Ông nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi tồn tại và tâm
trạng bất an của con người, thân phận người Bùi Giáng luôn đi tìm câu hỏi Ta là ai? Ta
từ đâu đến? Ta hiện diện trên cuộc đời này để làm gì? Khi ta chết ta sẽ đi đâu? Con
người nhà thơ còn là con người của hoài nghi tất cả, khi tận mắt chứng kiến biến cố lịch
sử đau thương của dân tộc Việt Nam, trước sự phi lí của chiến tranh, trước sự phi lí của đời người, khi các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng trở nên lỏng lẻo Nỗi đau tinh thần của con người, bi kịch lớn nhất của con người là mất hết niềm tin, hy vọng ở cuộc đời, ở con người Phải chăng
vì thế, Bùi Giáng tự giải thoát cho chính bản thân bằng thái độ điên thượng thừa, điên lẫy lừng của mình Thơ ca của ông tràn ngập tâm trạng cô đơn, lo âu của con người hiện sinh Hình như Bùi Giáng và Tạ Duy Anh có chung một nỗi niềm “khắc khoải đi tìm bản ngã, tìm những giá trị nhân bản trên cái đời sống đổ nát, điêu tàn, ông loay hoay lý giải, hóa giải những nỗi đọa đày con người từ tiền kiếp” [134]
Bùi Giáng quyết liệt lựa chọn cho mình cách dấn thân vào cuộc đời với lối sống
Trang 17lang thang, phiêu bạt Ông đứng khắp mọi nơi hang cùng ngõ hẻm, tự do ăn mặc, nói năng, không quan tâm đến những ánh mắt hiếu kì của thiên hạ Vậy nên, Bùi Vĩnh Phúc cho rằng: “Bùi Giáng ông là con người của tiêu sao, lang thang phiêu bạt dưới sương trời lổ đổ, không chấp nhận dưới bất cứ hình thức gò bó nào Và ông chấp nhận trả giá cho cuộc chơi, cho cuộc tồn sinh của mình” [109]
Con người thơ mộng ở ngoài đời lẫn trong thơ ca tư tưởng ấy cũng được Bùi Văn Nam Sơn nêu lên cảm nghĩ: “Viết đôi lời về Bùi Giáng không bằng đọc thơ Bùi Giáng Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui mà thật khó vậy” [121]
Bùi Giáng tuy đã ra đi, trở về đất mẹ, trở về vòng tay uyên nguyên của tạo hóa
nhưng trong từng sát na của cuộc đời mình, ông đã sống, đã cháy hết mình cho văn chương nghệ thuật, bởi thế Bùi Giáng không những để lại cho đời di sản lớn về văn nghiệp của mình mà mất ông là một sự mất mát lớn, là khoảng trống không thể thay thế cho nền văn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX Đó cũng là nhận định của Mai Thảo khi cho rằng: “Bùi Giáng đã đem lại cho cuộc đời biết bao châu ngọc Bằng tài thơ trác tuyệt Bằng cõi ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu Có ông thi ca mới đích thực
có biển có trời Từ ấy thi ca mới không cùng, không tận” [78, tr.342, 343] Quả đúng như thế Bùi Giáng là người thơ Ông hiện hữu trên cuộc đời này với 72 năm, vậy mà dành trọn cho thơ ca nghệ thuật tròn 50 năm Ông cùng với những nhà văn tài hoa miền Nam tạo ra một diện mạo mới, đặc sắc cho văn học hiện đại thế kỉ XX mang một hơi thở mới, tự do, cách tân trong sáng tạo, khơi những mạch nguồn còn u uẩn, dấu kín trong tâm thức của con người, đem lại vô số những tác phẩm giá trị mà sang thế kỉ này chúng ta vẫn đang tìm tòi giải mã Nếu như miền Bắc có một Trần Dần đầy dị chất, một người nghệ sĩ cuồn cuộn trong mình là dòng nham thạch nóng chảy, quyết liệt trong việc tìm kiếm cách tân nghệ thuật có khi đến cực đoan, thì ở miền Nam cùng những năm tháng ấy ta có Bùi Giáng một Đười Ươi thi sĩ đích thực, một Đười Ươi làm cho đời
và thơ trở nên gây cấn hơn bao giờ hết, ông đứng riêng một Cõi trong cõi người ta, không giống ai, chả có ai giống ông, vì thế, thơ ca Bùi Giáng là một hiện tượng lạ lùng,
kỳ dị nhất từ xưa đến nay
1.1.2 Hiện tượng thơ Bùi Giáng
Trang 18Thơ Bùi Giáng là một hiện tượng độc đáo của thế kỉ XX Thứ nhất được thể hiện qua con người, phong cách, quan niệm sáng tạo của ông Bùi Giáng có sức sáng tạo dồi dào, chưa có nhà thơ nào có khối lượng tác phẩm thơ đồ sộ như ông, chỉ trong thời gian ngắn Bùi Giáng có thể sáng tác ra hàng chục, hàng trăm bài thơ, chưa kể dịch thuật, phê bình, giảng luận… Bùi Giáng trở thành một thương hiệu cho Nhà xuất bản An Tiêm lúc bấy giờ Ấn tượng hơn, chưa có nhà thơ nào để lại nhiều giai thoại như ông Những câu chuyện về Bùi Giáng được bạn bè văn nghệ sĩ, học trò người quen kể lại nhiều vô kể, mỗi câu chuyện mang một màu sắc khác nhau, chạm khắc lên chân dung Bùi Giáng không giống nhau làm cho người đọc khi nghiên cứu về ông cảm thấy như bị lạc vào
một mê cung hủ nút Những giai thoại ấy còn được tổng hợp thành sách, 99 giai thoại
về Bùi Giáng (2008) do nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội ấn hành
Thứ hai cõi thơ Bùi Giáng là một “cõi bồng phiêu” Thơ ca Bùi Giáng là cuộc hôn phối giữa thi ca tư tưởng và triết học Có lúc ta bắt gặp rất nhiều bài thơ hay, gần gũi, quen thuộc với giọng thơ tha thiết của thể thơ lục bát ca dao nhưng cũng có lúc người đọc bắt gặp những bài thơ được Bùi Giáng viết trong trạng thái mê sảng rất khó hiểu
Có người cho rằng dạng thơ đó là thứ “của riêng” Bùi Giáng chứ không phải dành cho đông đảo công chúng Bởi chúng xuất hiện những hình ảnh, từ ngữ lạ hóa, độc đáo bất ngờ khó khăn trong việc giải mã, những từ ngữ được Bùi Giáng sử dụng đi sử dụng lại nhiều lần đến nỗi đã trở thành kho từ vựng của riêng Bùi Giáng, làm nên giọng điệu, phong cách của ông và chỉ có Bùi Giáng mới có khả năng sáng tạo ra chúng như lời Cung Văn – Nguyễn Vạn Hồng nhận xét: “Bùi Giáng không chỉ đạt đến cõi mênh mông của thi ca, uyên thâm trong nghệ thuật mà còn là một bậc thầy thượng thừa của nghệ thuật chữ nghĩa” [78, tr.202] Nội dung trữ tình trong cõi thơ Bùi Giáng thể hiện ý thức
cá nhân vô cùng mạnh mẽ Những bài thơ của ông chứa đựng tư tưởng, thái độ của con người giác ngộ về chân lý Nó mang đậm tư tưởng phương Đông của Phật giáo, Lão giáo Đồng thời mang dấu ấn sâu sắc tư tưởng Phương Tây như phân tâm học, hiện sinh, thi pháp học Thơ Bùi Giáng xuyên suốt thể hiện cái tôi hoài niệm, chiêm bao, một cái tôi ý thức cá nhân rất cao Bàng bạc trong cõi thơ ấy là mộng mị, những ước muốn bất thành, những hoài nghi, ám ảnh đến nhức nhối, những khao khát yêu đương đến tuyệt vọng, là sự tan chảy giữa tâm hồn với nhiên giới là sự hòa trộn giữa mộng và thực, giữa
Trang 19hư vô và hiện hữu, của thi ca và tư tưởng, giữa cuộc đời và triết thuyết, là tiếng nói của siêu hình Là tâm hồn tràn ngập tình yêu thương với con người và thiên nhiên Con người trong thơ là tổng hòa cộng hưởng mọi triết thuyết của nhân loại, làm đảo lộn hết thảy, bông đùa cà rỡn hết thảy với thánh thần, thiên la đại võng Đến với cõi thơ ấy người đọc không khỏi thảng thốt, giật mình sự kỳ lạ trước độ tài hoa, kỳ dị của ông Đặc biệt là ngôn ngữ thơ Bùi Giáng “Đi cho tới cùng cái sâu thẳm nhất của ngôn ngữ, tới đỉnh cao chót vót của nó, sống với nó trong từng mỗi giây phút, trong từng mỗi sát na, xưa nay có lẽ chỉ có mỗi Bùi Giáng là một” (Huỳnh Hửu Ủy); Thơ Bùi Giáng là khối trầm hương chữ nghĩa (Nguyễn Hoàng Văn); Bùi Giáng là tề thiên ngôn ngữ (Cung Tích Biền); Thơ Bùi Giáng là thơ vờn chữ (Trần Đình Thu)…” Có một kho từ vựng Bùi Giáng, có một kho biểu tượng mang kí hiệu trong thơ Bùi Giáng làm cho người đọc thơ ông như đi vào một ma trận của trò chơi đầy thú vị, ly kỳ gây nên nhiều tranh cãi cho cộng đồng diễn giải
Thứ ba, thơ Bùi Giáng là một hiện tượng bởi có rất nhiều bài phê bình thẩm bình như bài báo đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước, thơ Bùi Giáng hiện diện trong các công trình nghiên cứu trong nhà trường, thơ ông hiện diện trong đời thường, qua lời
ăn tiếng nói sinh hoạt đời sống đến các cuộc hội thảo khoa học, từ quán cóc lề đường đến chốn linh thiêng cửa Phật, cổng chùa Thơ ông hiện tồn trong âm nhạc, hội họa Có thể nói thơ ông xuất hiện trên mọi bình diện Chung quanh vấn đề thơ Bùi Giáng không thôi đã có hàng trăm bài nghiên cứu trong lẫn ngoài nước đánh giá, nhận xét, phê bình
Có rất nhiều ý kiến đánh giá cao, cũng không ít bài đánh giá thấp thơ ông Thơ Bùi Giáng đa diện, phức tạp, khó hiểu, khó diễn giải dẫn đến nhiều ngộ nhận từ người đọc Trong thực tiễn nghiên cứu văn học Việt Nam hiện nay, quá trình tiếp nhận văn học mà tác phẩm quá mới lạ, ẩn chứa nhiều “đề án” tiếp nhận, đan xen nhiều tư tưởng, nhiều ẩn
ức tinh thần, nhiều xung năng bị kìm nén như Bùi Giáng hiện là vấn đề tạo ra nhiều tranh luận, bất đồng giữa các nhà phê bình nghiên cứu Hiện tượng thơ Bùi Giáng trở thành đối tượng của các khuynh hướng phê bình Từ đó vấn đề tiếp nhận phê bình thơ Bùi Giáng là một phần của lịch sử văn học đang trên đường hiện đại hóa phê bình văn học dân tộc Đặc biệt sự tiếp nhận đối tượng như thơ Bùi Giáng phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn lịch sử đầy biến động và đau thương của dân tộc, giai đoạn 1954 – 1975
Trang 201.2 Tình hình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay
1.2.1 Tình hình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến 1975
1.2.1.1 Ở miền Bắc
Do hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử, sau 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền Miền Bắc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, cảm hứng văn học lúc này là cảm hứng về con người mới, con người lao động, con người hào sảng, cảm hứng sử thi ca ngợi người anh hùng, chiến sĩ, ca ngợi anh hùng trong lao động hòa cái riêng với cái chung Văn học miền Bắc phát triển thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Văn học một bộ phận khăng khít của bộ máy Cách mạng đã thực sự là một trợ thủ đắc lực Nền văn học miền Bắc bị chi phối bởi trường chính trị, ý thức hệ cách mạng Vô sản Lại Nguyên Ân nhận xét “khuynh hướng nghệ thuật được đề cao như những chuẩn mực mang tính pháp quy, được coi là độc tôn trong đời sống của nền văn học dân tộc” [ 9] Hệ hình này không chỉ
có tính độc tôn mà còn mang tính khép kín, không chấp nhận giá trị nào ngoài giá trị
hiện thực được coi là cao nhất, không chấp nhận phương thức nghệ thuật khác lạ nào Chủ đề quen thuộc là ca ngợi Tổ quốc xã hội chủ nhĩa, ca ngợi anh hùng, chiến sĩ, cảm hứng sử thi bao trùm Con người sống trong niềm hoan ca “trời của ta, mây thắm của ta” Văn học phục phụ cho công cuộc xây dựng xã hội ở miền Bắc và cổ vũ, kêu gọi cho
sự nghiệp thống nhất đất nước Như vậy, thời kì này ở miền Bắc trường nghệ thuật hợp nhất với trường chính trị Những năm tháng ấy thơ ca yêu nước trở thành dòng chủ lưu
cổ vũ cho cách mạng Văn học bị chi phối bởi ý thức hệ, trường chính trị Những trường khác không được đồng tình, ủng hộ, bị lu mờ, không được quan tâm Trong khi đó Bùi Giáng đang sống ở miềm Nam, bản thân và tác phẩm của ông không có điều kiện tiếp xúc với thị trường độc giả miền Bắc, vả chăng nếu có thì với tập tính kì dị như Bùi Giáng là một trường dị biệt mà trường văn học xã hội chủ nghĩa không dung nạp Chính
vì thế tuyệt nhiên không có khuynh hướng phê bình nào về thơ Bùi Giáng ở miền Bắc trong thời kỳ này
1.2.1.2 Ở miền Nam
Trong khi miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa với các kế hoạch ba năm, năm năm thì ở miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa, tình hình đời sống chính trị ở các đô thị miền Nam, vùng tạm chiến vô cùng phức tạp, chế độ Ngô Đình Diệm khủng hoảng sâu sắc
Trang 21Nội bộ chia rẽ, tranh quyền, đoạt vị những cuộc đảo chính liên tục xảy ra Sự bất ổn về chính trị kéo theo sự bất ổn về mọi mặt trong đời sống, văn học phát triển vô cùng phức tạp Sống trong bối cảnh như thế, các nhà thơ luôn thấy bất an, hoang mang Tác phẩm của họ là tiếng nói của số phận đau thương của con người trước những biến cố của lịch
sử dân tộc Những nhà thơ nhà văn tài hoa giai đoạn này, phải kể đến những tên tuổi như Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam… về nhạc có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn…Trong đó, Bùi Giáng là một
“ca” đặc biệt, một hiện tượng lạ lùng Đời và thơ độc đáo của ông luôn được các nhà phê bình văn học quan tâm nghiên cứu
Vì vậy, trong bối cảnh lịch sử đầy biến động và đau thương của dân tộc nhiều bài phê bình về thơ Bùi Giáng hiện diện trong các công trình phê bình nghiên cứu văn học ở
miền Nam đã được Trần Hoài Anh khảo cứu trong bài viết của mình như: “Những nhà
thơ hôm nay (Nhà văn Việt Nam Nxb, Sài Gòn, 1975) của Nguyễn Đình Tuyến; Văn học hiện đại, thi ca và thi nhân (Quần Chúng xuất bản, Sài Gòn, 1969) của Cao Thế
Dung; Những Khuynh hướng trong thi ca Việt Nam (Khai Trí xb, Sài Gòn, 1962) của
Minh Huy; Thơ Việt Nam hiện đại 1900 – 1960 (Hồng Lĩnh xb, Sài Gòn, 1969) của
Uyên Thao; Tác giả tác phẩm (Tác giả Xb Sài Gòn, 1973) của Trần Tuấn Kiệt Đặc
biệt cùng với Trịnh Công Sơn, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Thế Uyên, Thế Phong, Võ Hồng, Bùi Giáng là một trong mười khuôn mặt văn nghệ được Tạ Tỵ nói đến trong tác phẩm chân dung văn
nghệ có tên Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay nổi tiếng của mình do Lá Bối xuất bản,
khốn của Thanh Tâm Tuyền; Chung quanh vấn đề Bùi Giáng của Trần Tuấn Kiệt; Thi
ca và tư tưởng của Tuệ Sỹ; Thư từ trao đổi giữa Nguyễn Xuân Hoàng và Bùi Giáng và
một số sáng tác thơ, văn của ông …
Trang 22Bùi Giáng hiện diện trên nhiều báo, tạp chí, trong các công trình nghiên cứu khác
ở miền Nam trước 1975 Qua những tư liệu quý giá tìm thấy trong sách, báo, các thư viện còn lưu trữ Trần Hoài Anh trong bài nghiên cứu của mình cho rằng: “Chúng ta có thể khẳng định rằng Bùi Giáng là một trong những hiện tượng văn học khá nổi bật thu hút ngòi bút của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở miền Nam trước 1975” [4 tr.144] Tạ Tỵ khi nói về Bùi Giáng đã cho rằng: “Bùi Giáng là một hiện tượng, người yêu thơ phải nhìn Bùi Giáng qua phong cách độc đáo, ở đấy, mỗi dòng, mỗi chữ, mỗi ý, được viết ra là máu thịt của thi nhân dâng hiến cho đời Thơ Bùi Giáng không thuộc trường phái nào hết Nó không cũ, chẳng mới Nó có thể là thơ, là tư tưởng, đôi khi thơ
và tư tưởng lẫn lộn giao hòa tạo thành một vùng “mờ mịt thức mây Thơ Bùi Giáng như cơn đau chưa dứt, như nỗi bàng hoàng chiêm bao chợt tỉnh, để rồi lại chìm vào chiêm bao khác Nó bâng khuâng ở mỗi vần, mỗi chữ Có lúc, nó buồn bã như niềm tuyệt vọng! Người yêu thơ cứ phải men lần theo, như đi trên một hành lang trú ngụ Nhiều điều bí mật Mỗi khúc quanh lại mở ra những kỳ dị phi thường" [158, tr.549]
Chúng tôi rất đồng tình với ý kiến của Tạ Tỵ, ông đã nhận định thật xác đáng về con người và thơ Bùi Giáng Chúng ta có thể cảm nhận được tình cảm yêu mến con người và sự tài hoa của Bùi Giáng mà các nhà phê bình trước 1975 đã dành cho ông Đó cũng là một trong những lí do giúp ta thấy giai đoạn này có rất nhiều bài viết sâu sắc,
am tường về cõi thơ “miên trường”, bát ngát cỏ cây, thắm đượm cõi tình dương thế này
1.2.2 Tình hình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1975 đến nay
1.2.2.1 Từ 1975 đến 1986
Với đại thắng mùa xuân 1975, giang sơn thu về một mối, lịch sử văn học Việt Nam mở ra một thời kỳ mới – thời kỳ độc lập tự do, thống nhất đất nước Tuy nhiên đất nước ta đứng trước những khó khăn thử thách mới, xuất phát từ nền kinh tế sản xuất nhỏ, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh Việt Nam vừa bắt tay phát triển kinh
tế vừa tìm con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa Văn học trong giai đoạn này cũng dần chuyển mình sang giai đoạn khác, vẫn còn mang đậm cảm hứng sử thi, thơ văn tiếp tục
ca ngợi những người chiến sĩ cách mạng, anh hùng kháng chiến, một số khuynh hướng quan tâm đến đời sống thế sự, đời thường của con người, quan tâm đến thế giới tinh thần của con người đang sống trong hòa bình, đang hòa mình vào cuộc đời tự do Đời
Trang 23sống kinh tế bao cấp khó khăn Bối cảnh văn học không có gì nổi bật, lý luận phê bình chưa được quan tâm nhiều Vì vậy, thơ Bùi Giáng dường như vắng bóng, không thấy xuất hiện trên báo chí, tạp chí, công trình khoa học nào ở trong nước Chỉ duy nhất có
bài viết Một vài kỉ niệm với Bùi Giáng của nhà văn Mai Thảo in trên Tạp chí Văn, số
26, thánh 8 – 1984, tại California, in lại trong Hợp Lưu, số 44 Ở nước ngoài, trong bài viết của mình qua những kỉ niệm về Bùi Giáng, Mai Thảo đánh giá rất cao về con người
và thơ ca của thi sĩ họ Bùi Ông cho rằng ở Bùi Giáng có một sự sáng tạo phi thường, xưa nay chưa từng có trong nền thi ca văn học Từ khuynh hướng thi pháp học, Mai Thảo cho rằng: “Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa…cõi ngôn ngữ đạt tới hoang đường kỳ ảo…Cái kho tàng chữ nghĩa phong phú vô tận…” [78, tr.236] Mai Thảo có một nhận xét đầy thú vị về Bùi Giáng: “Thơ Bùi Giáng là một vũ trụ vui” [78, tr.tr.238] Ông còn cho rằng: “Mất Bùi Giáng, thơ ta lại trở về với cái hữu hạn đời đời của thơ Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng được kỳ
ảo biết bao nhiêu” [78, tr.242]
1.2.2.2 Từ 1986 đến nay
Năm 1986 với lời kêu gọi “cởi trói văn nghệ sĩ” của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, văn học có nhiều đổi mới, môi trường sáng tác văn chương nghệ thuật được thay đổi, không bị o ép, người nghệ sĩ được nói tiếng nói cá nhân Một giai đoạn văn học và văn nghệ mới ra đời phù hợp với hoàn cảnh chính trị xã hội Vấn đề này cũng được
Trần Đình Sử khẳng định: “Các nhà văn không cùng kể một câu chuyện chung của thời
đại, mà mỗi người kể câu chuyện của mình về thời đại, mỗi nhà thơ cũng có tâm trạng, giọng điệu riêng, không ai giống ai Đã kết thúc nền văn học đồng phục” (Dẫn theo Nguyễn Hiền) [71]
Với sự đổi mới, mở cửa của đất nước nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng từng bước nền văn học dân tộc chuyển sang giai đoạn đổi mới sâu sắc, mạnh mẽ và khá toàn diện Thơ Bùi Giáng một lần được nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng phê bình tiếp nhận Thơ Bùi Giáng hiện hữu hàng loạt trong các bài nghiên cứu, báo chí, tiểu luận, tham luận, luận văn bậc đại học, sau đại học, nghiên cứu sinh trong phạm vi
cả nước
Trang 24Những bài phê bình về thơ Bùi Giáng xuất hiện trên báo: Phóng túng hình hài,
ngang tàng tính mệnh của Cung Văn - Nguyễn Vạn Hồng (2005, Việt Báo,Theo
thanhnien.com.vn), Siêu hình Bùi Giáng, Liên tài tri ngộ của Đoàn Vị Thượng (2010, thethaovanhoa.vn), Bùi Giáng và những người thân của Hoàng Kim (2012, thanhnien.com.vn), Bùi Giáng Trong Tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường (2003, tuoitre.com.vn), Bùi Giáng rong chơi một ngày, một đời của Lê Minh Quốc (2009, kienthucngaynay.vn), Tôi gặp Bùi Giáng của Thanh Thảo (2005, thanhnien.com.vn),
Tưng tửng Quảng gặp tưng tửng Huế của Trần Kiêm Đoàn (2008, hue.vnn.vn), Bùi Giáng, nguồn xuân của Dặng Tiến (2010, baodanang.vn), Bùi Giáng rong chơi giữa đìu hiu phố thị của Vũ Đức Sao Biển (2005, thanhnien.com.vn) Một vài kỉ nệm với Bùi Giáng của Mai Thảo (1984, bài đăng lần đầu ở tạp chí Văn, số 26), Bùi Giáng ai người chia sẻ của Bùi Công Thuấn (2011, vannghesongcuulong.org.vn), Bùi Giáng nhà thơ của các nhà thơ của Đỗ Lai Thuý (2011, tapchitiasang.com.vn ), Viết vào Bùi Giáng mong manh của Đỗ Quyên (2009, tapchisonghuong.com.vn), Bùi Giáng, hồn thơ bị vây khốn của Thanh Tâm Tuyền (2014, https://nguoitinhhuvo.wordpress.com), Vài nét về Bùi Giáng của Bùi Văn Nam Sơn (1900 in lần đầu bài viết nội bộ gia phả dòng họ Bùi,
được đăng lại trên tạp chí Khởi Hành, số 2 năm 1998), Bùi Giáng lời cố quận của Phạm Thư Cưu (2006, http://thanhnien.vn), Giã từ cõi mộng của Thích Nhuận Châu (2005, http://www.diendanphatphaponline.com), Bùi Giáng, nhà thơ của ngày tháng ngao du của Cung Tích Biền (số 44, tháng 12/1998 tháng 1/1999, Đặc San Hợp Lưu,); Đỉnh ảo,
một đời thơ của Nam Dao (2003, www.talawas.org); Bùi Giáng, bước chân đi tìm hồn nguyên tiêu và một màu hoa trên ngàn – Thử thẩm thức vài câu thơ Bùi Giáng của Bùi
Vĩnh Phúc (2003, www.talawas.org); Bùi Giáng đằng sau những câu thơ của Nguyễn Văn Nho (2013, https://kontumquetoi.com ), Đi vào cõi thơ Bùi Giáng của Nhật Uyển (?,http://www.chuabuuminh.vn); Trường phái Bùi Giáng của Thu Bồn (2012, http://www.vanhoanghean.com.vn); Bùi Giáng và mùa xuân phía trước của Trương Vũ Thiên An (Đặc san tưởng niệm thi sĩ Bùi Giáng do nhóm thân hữu Quảng Nam Đà Nẵng thực hiện, lưu hành nội bộ); Những ngọn cỏ sầu của Bùi Giáng của Tuấn Huy (Đặc san tưởng niệm thi sĩ Bùi Giáng do nhóm thân hữu Quảng Nam Đà Nẵng thực hiện, lưu hành nội bộ); Lại một nhà thơ độc đáo của Bùi Tường Huy (Bài trích từ tác
Trang 25phẩm Bài toán cuộc đời của Bùi Tường in theo Đặc san tưởng niệm thi sĩ Bùi Giáng do nhóm thân hữu Quảng Nam Đà Nẵng thực hiện, lưu hành nội bộ); Bùi Giáng trong đời
tôi của Nguyễn Cẩn (2009, Tập san Pháp luân 39), Một ít kỉ niệm với anh Bùi Giáng của
Phạm Mạnh Hiên (Đặc san tưởng niệm thi sĩ Bùi Giáng do nhóm thân hữu Quảng Nam
Đà Nẵng thực hiện, lưu hành nội bộ); Bùi Giáng một vùng đất hẹp, một thế giới lớn của
Nguyễn Hoàng Văn (2005, http://www.xuquang.com
Không chỉ xuất hiện trên báo, việc tiếp nhận thơ Bùi Giáng còn được tập hợp in thành sách với những tác phẩm tiêu biểu như:
Tưởng nhớ thi sĩ Bùi Giáng, Kỷ niệm một năm ngày mất Bùi Giáng (7.10 1998 –
7.10 1999) của Bùi Văn Nam Sơn, Nhuận Quốc, Trần Đới do Nxb.Trẻ, phát hành năm
1999, 157 trang Trần Đình Thu, Bùi Giáng – thi sĩ kỳ dị, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh,
2005, 259 trang Hồ Công Khanh, Bùi Giáng trong tôi, Nxb Văn Nghệ, Tp Hồ Chí Minh, 2005, 156 trang Ngộ nhận Bùi Giáng của Nguyễn Minh Hùng (in trong cuốn
Cảm nhận văn chương - Ngôi thứ tư số ít, NXb Văn Nghệ), và mới đây nhất là cuốn Bùi Giáng trong cõi người ta do Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb Lao Động Trung Tâm
Văn Hóa Đông Tây, Hà Nội, 678 trang, và Bùi Giáng Đười Ươi Chân Kinh, Nxb Hội
Nhà Văn, 2016, 2012, 536 trang
Bùi Giáng - Thi sĩ kì dị của Trần Đình Thu làm tốt vai trò của nhà nghiên cứu khi
tìm hiểu nhiều mặt về văn nghiệp Bùi Giáng Cuốn sách chia làm hai phần, phần đầu là những bài viết về Bùi Giáng, phần sau dành để tuyển chọn, giới thiệu một số bài thơ tiêu biểu, lạ lùng của Bùi Giáng và một số bài trả lời phỏng vấn của ông Trần Đình Thu dành nhiều bài đi sâu phân tích ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng Trần Đình Thu nhận định ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng là ngôn ngữ “chơi”, thủ pháp “vờn chữ”, nói lái… Phải thừa nhận đây là một trong những cuốn sách hiếm hoi, khá công phu, đã góp phần hữu ích cho các nhà lý luận muốn khai phá thế giới thơ Bùi Giáng
Đến với Bùi Giáng trong cõi người ta, một cuốn sách ra mắt lần này dày tới hơn
550 trang, ngoài giới thiệu hơn 82 bài thơ đã công bố của Bùi Giáng (tương ứng với kỷ niệm 82 năm ngày sinh của ông), một số bài phê bình, khảo cứu văn chương của Bùi Giáng, còn tập hợp được khoảng 30 bài viết về Bùi Giáng của các văn nghệ sỹ, các nhà văn hóa… Cuốn sách là sự tổng hợp một số lượng lớn những bài phê bình Bùi Giáng từ
Trang 26trước đến nay, từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau Mỗi chủ thể tiếp nhận chọn cho mình những vấn đề mà họ tâm đắc nhất để giải mã con người lẫn văn nghiệp của Bùi Giáng Cuốn sách góp phần rất lớn cho việc nghiên cứu và tiếp nhận cõi thơ của Bùi tiên sinh Không chỉ xuất hiện trên báo, tập sang và sách, các bài nghiên cứu, tiếp nhận về
thơ Bùi Giáng còn xuất hiện trên các Trang web như: Đọc Bùi Giáng của Hoàng Hải
Vân, Hồn quê trong thơ Bùi Giáng của Huỳnh Ngọc Chiến, Một thử nghiệm đọc thơ Bùi
Giáng của Khế Iêm, Cuộc hoà giải vô tận: Trường hợp Bùi Giáng của Nguyễn Hưng
Quốc, “Người thơ” cuối cùng của thế kỷ 20 của Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nghĩ về Bùi
Giáng, Hàn Mặc Tử và Thanh Tuệ của Nguyễn Mộng Giác, Hiện tượng Bùi Giáng của
Thuỵ Khuê, Bùi Giáng giữa chúng ta của Trần Hữu Thục, Bùi Giáng - người lữ khách
cuồng điên và khôn cùng kỷ niệm của Văn Huyền Nguyên, Bùi Giáng trong “cõi người ta” của Ý Nhi, Phật Giáo trong thơ Bùi Giáng của Yên Tử, Nhớ Bùi Giáng của Nguyễn
Quang Lập,
Hay được chọn nghiên cứu trong các công trình khoa học, luận văn ở nhà trường như luận văn đại học, cao học như nhau:
Với đề tài: “Bùi Giáng – Một đời người, một cõi thơ” (2000), Đinh Vũ Thùy
Trang đã nói đến những Ngổn ngang nỗi niềm tâm sự của Bùi Giáng: yêu quê hương,
tuổi thơ hồn nhiên, nỗi buồn, tình yêu, trong thơ ông
Thơ ca Bùi Giáng luôn vẫy gọi người đọc đến giải mã, khám phá những đặc sắc nghệ thuật rất riêng, độc đáo và kỳ dị nên Nguyễn Văn Quốc chọn đề tài “Đặc điểm nghệ thuật ngôn từ trong thơ Bùi Giáng” cho luận văn của mình, dưới góc nhìn của thi pháp học, luận văn đi sâu tìm hiểu bản chất ngôn ngữ, tiêu biểu là hình thức khẩu ngữ trong thơ Bùi Giáng, tuy nhiên luận văn chưa xây dựng được các tiêu đề cụ thể, và chưa
đi sâu khai thác bản chất ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng
Trương Thị Mỹ Phượng chọn đề tài “Thơ Bùi Giáng” (2007) Với đề tài khá rộng, luận văn đã cố gắng bao quát các bình diện nội dung và nghệ thuật thơ Bùi Giáng Tuy nhiên vì quá rộng nên luận văn cũng chưa thể hiện sâu sắc chân dung độc đáo của nhà thơ, kết luận vẫn còn chung chung
Một trong những luận văn thành công nhất trong việc khám phá thế giới biểu tượng trong thơ Bùi Giáng dưới góc nhìn cổ mẫu đó chính là đề tài: “Thơ Bùi Giáng
Trang 27dưới lăng kính phê bình cổ mẫu” của Trần Nữ Phượng Nhi Có thể nói đây là một luận văn xuất sắc, nghiêm túc khi nghiên cứu thơ Bùi Giáng trên nền lý thuyết phân tâm học
của Freud và Jung, luận văn đã thật sự lý giải được những biểu tượng cổ mẫu trong thơ Bùi Giáng như cổ mẫu Vườn, Mùa Xuân, Màu Xanh, Đất Nước, Mưa, Hột, Sương,
Khe…
Đến với cõi thơ Bùi Giáng bao giờ người đọc cũng muốn khám phá thế giới nghệ thuật mới lạ, độc đáo trong thơ Bùi Giáng Với đề tài: “Đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi Giáng” (2009) của Lê Thị Kim Minh Luận văn tập trung nghiên cứu một số tập thơ Bùi
Giáng hướng tới xác định những cảm hứng chủ đạo: thân phận con người, thiên nhiên
trong thơ Bùi Giáng, và đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi Giáng Dưới góc nhìn của thi pháp
học, luận văn nêu lên những biểu hiện then chốt nghệ thuật thơ Bùi Giáng như Thể loại
có thơ lục bát, các thể thơ khác; Ngôn ngữ thơ Bùi Giáng: Các lớp ngôn từ nghệ thuật trong thơ Bùi Giáng gồm ngôn từ thế tục, ngôn từ triết học, lớp ngôn từ tôn giáo, hình thức ngôn ngữ truyện Kiều; Các biện pháp nghệ thuật nổi bật như ẩn dụ và tượng trưng hóa, tạo tân điển tích (tạo ra điển tích kiểu mới), lạ hóa ngôn từ; Giọng điệu như giọng đối thoại, giọng bông đùa Luận văn đã góp phần giới thiệu và khám phá thế giới nghệ
thuật trong thơ Bùi Giáng
Tập thơ đầu tay “Mưa nguồn” là một mốc son đánh dấu sự xuất hiện đầy ấn tượng
của Bùi Giáng trên văn đàn thập niên 60 và 70 ở miền Nam Như chính cái tên của tập thơ “Mưa nguồn”, đó là một cõi thơ ào ào tuôn đổ những tinh túy của trời và đất tạo nên một thế giới thơ vừa trong trẻo, tinh khôi, vừa diệu kỳ, bay bổng, vừa kim cổ, Đông Tây Vì vậy, Lê Trọng Nguyên chọn đề tài: “Thế giới thơ Bùi Giáng qua Mưa Nguồn” (2010) làm luận văn của mình Với công trình này người viết đã tìm hiểu chi tiết cụ thể
về con người và sự nghiệp, quan niệm độc đáo về thơ, nhà thơ của Bùi Giáng, trên cơ sở
đó cảm nhận Thế giới thơ Bùi Giáng qua mưa nguồn nhìn từ hình tượng cái tôi trữ tình:
cái tôi tâm giao với thiên nhiên, cuộc sống và tình yêu, cái tôi “tại thể bơ vơ”và hội thoại đau thương, cái tôi chiêm nghiệm, triết lý Đây được xem là quan niệm về con
người trong thơ Bùi Giáng, dưới góc nhìn thi pháp học luận văn còn làm rõ Ngôn từ thơ
Bùi Giáng phát hiện thú vị ra sự rong chơi, đùa vui trong ngôn từ, sự tinh luyện lạ hóa ngôn từ, sự biểu hiện ngôn từ Phật giáo; Các biện pháp nghệ thuật đặc sắc như nói lái
Trang 28và điệp ngữ, không gian, thời gian nghệ thuật Đóng góp của luận văn này là thông qua
tập thơ nổi tiếng Mưa Nguồn người viết muốn tìm ra phong cách độc đáo lạ lùng của Bùi Giáng
Bùi Giáng là một trong những người đi đầu trong việc tiếp nhận các lý thuyết văn học ở nước ngoài Một trong những lý thuyết du nhập vào Việt Nam được sự hưởng ứng của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ là Chủ nghĩa hiện sinh Thơ Bùi Giáng mang đậm tư tưởng hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh trở thành hệ quy chiếu để khám phá thế giới thơ Bùi Giáng Đó cũng chính là lí do mà Huỳnh Thị Diễm Diễm chọn đề tài: “Dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng” (2013) Từ những vấn đề của chủ nghĩa hiện sinh, thông qua
Quan niệm nghệ thuật và hành trình sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng luận văn nêu
lên những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong cõi thơ của ông: Cái tôi hoài niệm
chiêm bao, cái tôi hoài nghi bản thể, cái tôi tại thể bơ vơ, cái tôi dấn thân nổi loạn Chủ
nghĩa hiện sinh trong thơ Bùi Giáng còn được thể hiện dưới góc nhìn của thi pháp học
như: Ngôn ngữ đậm chất đời thường, ngôn ngữ đậm chất văn hóa triết học; Giọng điệu
nghệ thuật: giọng cợt nhã bông đùa, giọng tâm tình, giọng triết lý chiêm nghiệm; Một
số biểu tượng nghệ thuật: Cố quận – niềm hoài niệm, Mộng – hư ảo của kiếp người, Đười Ươi tinh thể người Qua việc tìm hiểu, phát hiện dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi
Giáng, luận văn này góp thêm tiếng nói khẳng định về những đóng góp và vị thế của nhà thơ Luận văn đã đem đến một cái nhìn mới, cái nhìn tư tưởng, góp phần làm cho thế giới thơ Bùi Giáng có thể tiếp nhận đa chiều, đa diện hơn Từ đó thấy được việc tiếp nhận những hiện tượng thơ độc đáo như Bùi Giáng là vô cùng triển vọng và mang lại hiệu quả cao trong nghiên cứu khoa học
Tiếp nhận thơ Bùi Giáng là một quá trình tiếp diễn, kế thừa Thơ Bùi Giáng ngày càng được độc giả quan tâm, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, lý luận – phê bình Tiêu
biểu vào ngày 29/2/2012, nhân dịp tái bản cuốn Bùi Giáng trong cõi người ta, Trung
tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây (Hà Nội) đã tổ chức tọa đàm về thơ Bùi Giáng và cuộc đời sáng tạo kỳ lạ của ông với sự tham gia của nhiều nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên, Trần Ninh Hồ, Đoàn Tử Huyến, Thúy Toàn, Đinh Quang Tỉnh, Yên Ba
Và gần đây nhất là hội thảo khoa học về thơ Bùi Giáng: Nhân kỷ niệm 15 năm
Trang 29ngày mất của thi sĩ Bùi Giáng (17/12/1926 - 7/10/1998), sáng 14/9 tại Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM đã diễn ra buổi tọa đàm khoa học, thu hút 25 tham luận của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và khoảng 400 người đến dự
Tọa đàm có nhiều bài viết đáng chú ý như: “Triết gia và thi sĩ” của học giả Bùi
Văn Nam Sơn; “Bùi Giáng - thơ phơi giữa nắng” của Huỳnh Như Phương Với tham
luận này Huỳnh Như Phương một lần nữa khẳng định sự độc đáo của nhà thơ Bùi Giáng
được thể hiện cụ thể trên những phương diện:Thứ nhất thơ và người Bùi Giáng là sự kết
hợp giữa thiên nhiên nguyên sơ, hoang dã và nhịp đời phố thị; Thứ hai, gắn liền với kết hợp Quê – Phố đó là một kết hợp khác trong sự nghiệp Bùi Giáng: kết hợp giữa cổ xưa
và hiện đại, Đông phương và Tây phương; Thứ ba, một đối cực khác được kết hợp trong tác phẩm và con người Bùi Giáng là sách vở, nhà trường trang nghiêm với cuộc đời nắng gió, bụi bặm, xô bồ Đó cũng là kết hợp giữa quy cách và phá cách; Thứ tư, đứng về mặt tâm lý sáng tạo và chức năng biểu hiện của văn bản, tác phẩm Bùi Giáng
là sự pha trộn, nhập nhòa giữa thực và mộng, giữa tỉnh và mê; Thứ năm, lao động nghệ thuật của Bùi Giáng là sự kết hợp giữa nghĩ, viết và chơi; Thứ sáu, đây là điều tế nhị mà cũng khó phân tích đầy đủ, ngôn ngữ Bùi Giáng là sự kết hợp giữa tục và thanh, tục mà thanh, thanh mà tục, trong tục có thanh, trong thanh có tục Đây là một tham
luận mang tính khoa học cao, đã khái quát một cách cụ thể, logic về con người và thế giới thơ ca của Bùi Giáng và góp phần làm rõ diện mạo của cõi thơ độc đáo và dị thường này
Góp mặt cho lễ hội khai phá chân trời nghệ thuật thơ Bùi Giáng phải kể đến bài viết của Nhật Chiêu với tham luận “Bùi Giáng chơi” đã đưa ra cho người đọc một khía
cạnh mới mẻ về con người và thơ Bùi Giáng Bùi Giáng mang trong mình bản thể Hồn
du mục, thế giới thơ ca của ông tràn ngập Đời vui đón hội còn Ngôn ngữ thì cuồng dại
si mê như chính bản chất con người nghệ sĩ trong ông
Bên cạnh đó còn có tham luận “Bản mệnh thơ Bùi Giáng” của Hồ Thế Hà cũng vô
cùng sâu sắc, thể hiện một cách tiếp nhận tinh tế về thế giới nghệ thuật thơ ca của thi sĩ
họ Bùi Với tham luận này, Hồ Thế Hà đi từ việc khám phá ra con đường Từ quan niệm
văn chương của Bùi Giáng đến tư duy nghệ thuật thơ Bùi Giáng Hồ Thế Hà kết luận,
thơ Bùi Giáng là một Vĩ thanh mở: “Đến đây, dù chưa đi hết hành trình tư tưởng và
Trang 30nghệ thuật của thế giới thơ Bùi Giáng, chúng ta cũng đã có thấy được bản mệnh đời, bản mệnh thơ của ông một cách rộng mở, chưa có vĩ thanh khép lại trọn vẹn Và vì vậy, thi giới Bùi Giáng luôn có sức vẫy gọi đồng sáng tạo mạnh mẽ trong nhu cầu tiếp nhận của nhiều thế hệ người đọc hôm nay và mai sau” [67]
Có lẽ, một trong những bài viết gần với đề tài nghiên cứu của chúng tôi đó là bài
nghiên cứu: “Bùi Giáng trong cái nhìn phê bình văn học của miền Nam trước 1975” của
Trần Hoài Anh Trong tham luận này, Trần Hoài Anh đã làm một công việc nghiêm túc khi lý giải sự tiếp nhận thơ Bùi Gáng từ góc nhìn của các nhà nghiên cứu: Tạ Tỵ, Thanh Tâm Tuyền, Trần Hữu Cư, Cao Huy Khanh, Cao Thế Dung… đã góp phần hệ thống quá tình tiếp nhận phê bình thơ Bùi Giáng (1954 -1975) từ nhiều góc nhìn và hệ quy chiếu để làm rõ cõi thơ Bùi Giáng
Ngoài ra còn có các tham luận khác như: “Bùi Giáng bản nhiên” của Nguyễn Thị Thanh Xuân; “Bùi Giáng - quê nhà và cuộc đời” của nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển; “Bùi Giáng - thi sĩ tinh quái của nền thi ca Việt Nam hiện đại” của nhà thơ Lê Minh
Quốc; “Bùi Giáng với kinh Phật thuyết đại thừa vô lượng thọ - trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác” của Giao Hưởng Bên cạnh là những bài viết nhiều phát hiện của Bùi Văn Ký, Phan Nguyễn Kiến Nam, Nguyễn Đức Chính, Phạm Phú Phong, Huỳnh Thị Thu Hậu, Tâm Nhiên, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Đình Trân, Trần Nữ Phượng Nhi… Qua sự khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy tình hình tiếp nhận thơ Bùi Giáng là rất phong phú và không kém phần phức tạp Phần lớn là những bài cảm nhận lẻ tẻ đăng trên báo, tạp chí, ít có công trình lớn, công phu Điều này chứng tỏ hiện tượng thơ Bùi Giáng
là một sự thách thức, đang vẫy gọi thế giới người đọc Hi vọng trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học nói chung và lý luận – phê bình nói riêng sẽ có nhiều công trình lớn hơn, giá trị hơn nữa khi tiếp nhận cõi thơ của một thiên tài đầy dị biệt có một không hai này
1.3 Người đọc trong quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay
1.3.1 Quan niệm về người đọc
Trong lịch sử văn học, có một thời gian dài tồn tại cách đọc lấy tác giả làm trung
Trang 31tâm, người đọc bị xem nhẹ, không hề được đề cập đến Đến thế kỉ XVIII, XIX một số nhà tiểu thuyết mới bắt đầu bàn đến vai trò năng động của người đọc như Balzac Nhưng sang cuối thế kỉ XIX các tác giả như H.Taine, G.Lanson, Sainte Beuve, Brunetière thường che đậy vấn đề người đọc bằng cách trở lại hướng sự quan tâm vào tác giả Người đọc và sự đọc bị gạt ra ngoài cuộc, chỉ chú tâm vào chủng tộc, môi trường, thời điểm, tiểu sử và những vấn đề khác liên quan đến tác giả Chủ nghĩa hình thức Nga, Chủ nghĩa cấu trúc, Thi pháp học, Tự sự học thì độc tôn vai trò của văn bản, loại người đọc ra khỏi tiến trình giải mã nghĩa của tác phẩm văn học Mãi đến sau nửa thế kỉ XX, lý thuyết tiếp nhận xuất hiện ở Phương Tây là kết quả tất yếu của quá trình phủ định có kế thừa thành tựu của những lý thuyết như: Hiện tượng luận, Thông diễn học, Cấu trúc, Hậu cấu trúc… đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của tư duy lí luận văn học Đại diện tiêu biểu nhất cho Mỹ học tiếp nhận là hai giáo sư đại học Konstanz Hans Robert Jauss và Wolfgan Iser Những quan niệm mới mẻ mà các công trình của hai vị giáo sư đề cập đã mở ra thời kỳ mới về ý thức văn học, nhất là đối với hoạt động tiếp nhận và vai trò của người đọc
Hoàn cảnh xã hội miền Nam từ 1954 – 1975 là một xã hội du nhập nhiều nền văn hóa, trong đó chủ yếu là văn hóa phương Tây và văn hóa Mỹ Với chủ trương mở cửa
du nhập văn hóa nước ngoài một cách tự do, thoải mái, nhiều trường phái triết học, mỹ học được giới thiệu ở miền Nam trong đó có mỹ học tiếp nhận Hàng loạt các bài viết về
lý thuyết mỹ học tiếp nhận được tập trung giới thiệu như: “Phê bình mới, phê bình cũ”
của Nguyễn Văn Trung (Bách khoa số 381/1972), Lược khảo văn học 2 (1966), Lược
khảo văn học 3 (1968) của Nguyễn Văn Trung; Văn nghệ và phê bình (1969) của Tam
Ích; Vũ trụ thơ (1972) của Đặng Tiến; Văn chương và kinh nghiệm hư vô (1968); Đi tìm
tác phẩm văn chương (1972) của Huỳnh Phan Anh; Dư vang nghệ thuật (1971) của
Trần Nhật Tân Bên cạnh những bài viết giới thiệu lý thuyết mỹ học tiếp nhận của các tác giả nêu ở trên, mỹ học tiếp nhận xuất hiện ở Viêt Nam còn nhờ công lớn của các nhà nghiên cứu: Hoàng Trinh, Nguyễn Lai, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng,Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Văn Dân, Huỳnh Như Phương… Tiêu biểu là những công trình của các tác giả như M Nauman: “Song đề của lý luận tiếp nhận”, (TC Văn học, số 4 - 1978), Huỳnh Vân dịch, Nguyên Ngọc dịch; R Jakobson:
Trang 32“Thơ của ngữ pháp và ngữ pháp của thơ” (TC Văn học, số 12 - 1998), Trịnh Bá Đĩnh dịch; G Lukas: “Nghệ thuật và chân lý khách quan” (TC Văn học nước ngoài, số 6 -1999), Trương Đăng Dung dịch; R Ingarden: “Tác phẩm văn học” (TC Văn học, số 3 - 2002), Trương Đăng Dung dịch; H R Jauss: “Lịch sử văn học như là sự khiêu khích với khoa học văn học” (TC Văn học nước ngoài, số 1-2002), Trương Đăng Dung dịch; v.v…Mỹ học tiếp nhận được giới thiệu, luận giải, ngày càng được hoàn thiện bổ sung,
và phát huy cao khả năng ứng dụng trong nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học Việt Nam
Nếu lý luận văn học về sáng tác gắn liền với ý thức và cá tính sáng tạo của nhà văn thì lý luận tiếp nhận đề cập đến tính sáng tạo của người đọc Mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm - người đọc trong tiếp nhận văn học là mối quan hệ thể hiện tính biện chứng Nếu trước đây người ta đề cao vai trò của tác giả, văn bản thì ngày nay tiếp nhận văn học đưa ra lý thuyết người đọc, khẳng định vai trò của người đọc trong tiến trình lịch sử của một tác phẩm là một phát hiện mới, đánh dấu bước ngoặt trong nghiên cứu văn học Tiếp nhận văn học xem người đọc là vấn đề then chốt, có tính quyết định đến giá trị sống còn của tác phẩm Văn bản được xem là tác phẩm khi và chỉ khi nó đến với độc giả thông qua các nhà sản xuất Độc giả là người mang lại đời sống cho tác phẩm, quyết định vận mệnh cho tác phẩm
Khảo sát về loại hình người đọc cho một hiện tượng độc đáo như hiện tượng thơ Bùi Giáng một cách thấu đáo là thật sự không đơn giản Có nhiều cách phân loại người đọc dựa trên những tiêu chí khác nhau Tuy vậy, cách phân loại người đọc hiện nay có
thể phân loại như sau: Độc giả giả định hay còn gọi là độc giả ẩn tàng (xét về mặt tâm lí) và Độc giả thực tế (xét về mặt xã hội)
Độc giả thực tế (xét về mặt xã hội): những người thực hiện hoạt động đọc, người
tiếp nhận sáng tác tồn tại một cách cụ thể, cá thể Họ là những con người riêng biệt, cụ thể tiếp nhận văn chương theo cá tính, theo sở thích cá nhân, thường cảm nhận tác phẩm
tự phát và tùy hứng
Qua độc giả thực tế, quá trình tiếp nhận văn học thực sự bắt đầu Mỗi văn bản được gợi lên bởi thế giới tưởng tượng của chủ thể sáng tạo, đến lượt chủ thể tiếp nhận anh ta sẽ kiến tạo nên một văn bản mới, khỏa lấp những khoảng trắng trong văn bản
Trang 33Độc giả tinh hoa (xét về mặt thẩm mĩ) bao gồm những người đọc như: nhà văn,
nhà phê bình, nhà nghiên cứu có trình độ chuyên ngành văn học Những người được đào tạo, giáo dục cơ bản và tiếp tục được phát triển trong chuyên ngành cũng như tự học
có kết quả
Loại độc giả tinh hoa tiếp nhận văn học trên cơ sở hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về tri thức văn học Họ hiểu rõ tác phẩm văn học là hình thức phản ánh cuộc đời bằng phương tiện nghệ thuật do cá tính sáng tạo của nhà văn Trong quá trình tiếp nhận văn học, trình độ thích ứng của lớp độc giả này với sự phát triển và tiến bộ của văn học trong sự phản ánh cuộc sống là nổi bật
1.3.2 Tầm đón đợi của người đọc qua tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay
1.3.2.1 Khái niệm tầm đón đợi
Khái niệm “tầm đón đợi” đã được các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật như Gadamar, nhà xã hội học Karl Manheim đưa ra Nhưng đến Hans Robert Jauss, khái niệm tầm đón đợi (Erwartungshorizont) mới giữ vị trí hạt nhân trong lý thuyết tiếp nhận Kế thừa quan niệm của Gadamar, Jauss cho rằng không phải chỉ người đọc mới
có tầm đón đợi của riêng mình khi đến với văn bản, mà ngay văn bản ấy tồn tại có một chân trời, không gian lịch sử, văn hóa cụ thể để người đọc lấy đó làm cơ sở diễn giải, gợi ra ý nghĩa văn bản Trong quá trình giải mã văn bản, tầm đón đợi của người đọc luôn biến động, tương tác liên tục với chân trời lịch sử văn hóa của thời đại Chân trời lịch sử ấy có vai trò khơi dậy tầm đón đợi nơi người đọc “Một tácphẩm văn học, ngay
cả khi nó xuất hiện dưới hình thức mới, cũng không tự hiện diện cho ta như cái gì tuyệt đối mới mẻ trong một khoảng chân không về thông tin, mà bằng những thông báo, những tín hiệu công khai hay kín đáo, những dấu hiệu quen thuộc, hay những chỉ dẫn ngầm, nó dẫn công chúng đến một phương thức tiếp nhận nhất định Nó khơi gợi những
ký ức về cái gì đã đọc, đem lại cho người đọc một thái độ cảm xúc nhất định, và với đoạn mở đầu, nó đánh thức những chờ đợi cho đoạn ‘giữa và cuối’, sự chờ đợi mà sau
đó có thể vẫn được duy trì nguyên vẹn hay là được sửa đổi và định hướng lại, hay được thực hiện một cách mỉa mai trong lúc đọc, theo những quy tắc đặc trưng của thể loại hay của kiểu loại văn bản” [70, tr.175]
Theo quan niệm của H R Jauss, “tầm đón đợi” là những kinh nghiệm sống và
Trang 34kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc ở thời điểm tiếp xúc với văn bản tác phẩm Chính tầm đón đợi của người đọc làm khúc xạ những thông điệp mà tác giả gửi trong văn bản
Sự tiếp nhận là kết quả lý giải, cắt nghĩa, đánh giá tác phẩm Tầm đón đợi vận động theo quá trình tiếp nhận của người đọc tác động đến quá trình sáng tạo của tác giả, nghĩa
là tác động đến kết cấu vẫy gọi của tác phẩm
Jauss xác định chân trời chờ đợi nơi người đọc là một “hệ thống quy chiếu có khả năng khách quan hoá, ra đời trong thời điểm lịch sử mà tác phẩm xuất hiện, cái hệ thống được hình thành từ những hiểu biết có sẵn về thể loại, về hình thức và chủ đề của những tác phẩm trước đó, về sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ hằng ngày” [70, tr.173,174] Tầm đón đợi còn được thể hiện từ những tác phẩm mà nhà văn dự phóng về tầm đón đợi của độc giả Vì thế Jauss cho rằng tầm đón đợi của người đọc được thông qua ba yếu tố cơ bản sau:
- Những chuẩn mực quen thuộc hay từ thi pháp nội tại của thể loại
- Thông qua các mối quan hệ mặc nhiên đối với những tác phẩm quen thuộc của bối cảnh lịch sử văn học
- Thông qua sự đối lập giữa hư cấu và thực tại, giữa chức năng thi ca và chức năng thực tiễn của ngôn ngữ, sự đối lập đóng vai trò như một khả năng so sánh luôn được người đọc phản tư sẵn sàng vận dụng trong suốt quá trình đọc [70, tr 177]
Ở Việt Nam hiện nay, cách hiểu về tầm đón đợi cũng có nhiều ý kiến khác nhau:
Phương Lựu đưa ra cách hiểu về tầm đón đợi: “là những nhu cầu và trình độ thưởng
thức kết tinh từ kinh nghiệm sống, hứng thú, lí tưởng của mỗi một người đọc” [90, tr
56]
Nguyễn Văn Dân cho rằng tầm đón đợi: “là trình độ kiến thức văn hóa – văn học
của công chúng” [29, tr.135]
Còn Nguyễn Thanh Hùng định nghĩa tầm đón đợi: “bao gồm cả những hiểu
biết về các hình thức biểu hiện văn học khác nhau, những kinh nghiệm nghệ thuật được lưu truyền và những tri thức khác có liên quan đến văn học,… cả những khát vọng về đạo đức và nhất là tư tưởng nghệ thuật, lí tưởng và hành động thẩm mĩ, đôi lúc nó tác động trở lại tác giả để quy định trước ý nghĩa của văn bản tác phẩm tương lai” [77,
tr.213]
Trang 35Huỳnh Vân khi nói về cách hiểu khái niệm “tầm đón nhận” ở Việt Nam ông cho
rằng: “Quan sát thực tiễn nghiên cứu, vận dụng mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss
ở Việt Nam chúng ta có thể ghi nhận những cố gắng tìm hiểu, học hỏi và tiếp thu bước đầu để góp phần đổi mới và phát triển khoa học văn học của chúng ta Tuy nhiên do mới là bước đầu nên không tránh khỏi những thiếu sót Một thí dụ của sự thiếu sót này
có thể nhận ra ở bài viết Người đọc như một nhân tố tất yếu của tác phẩm văn học (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11-2004) Bài viết này khẳng định rằng: “Tầm đón đợi được ông (tức Jauss) quan niệm là nhu cầu, trình độ thưởng thức được kết tinh từ quan điểm
xã hội và những phẩm chất cá nhân của người đọc (bao gồm thế giới quan, nhân sinh quan, kinh nghiệm sống, lý tưởng thẩm mỹ, nhu cầu tình cảm…) Tầm đón đợi này vừa mang tính cá nhân, vừa đặc trưng cho từng thời đại, từng thế hệ người đọc…” (Chúng
tôi nhấn mạnh - H.V) Quan niệm này tuy chưa toàn diện, nhưng nói chung có thể chấp nhận được Có điều nó không phải là quan niệm của Jauss Trong một số bài viết của các tác giả khác, chúng ta có thể thấy khái niệm tầm đón đợi, kinh nghiệm thẩm mỹ được vận dụng để nghiên cứu một số vấn đề trong văn học Việt Nam Tuy nhiên ở những bài viết này, các tác giả đã không đưa ra những định nghĩa rõ ràng của họ về các khái niệm trên, cho nên các kết quả nghiên cứu không tránh khỏi chung chung, mơ hồ [162]
Qua những cách trình bày trên trên ta có thể hiếu: Tầm đón đợi là tổ hợp các
thành tố tinh thần gồm kiến thức, đạo đức, văn hóa, kinh nghiệm, thẩm mĩ mà mỗi bạn đọc có như là hành trang văn hóa riêng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả tiếp nhận trên hành trình khám phá mỗi tác phẩm
Tầm đón đợi định hướng cảm nhận của người đọc khi tiếp xúc với tác phẩm, được hình thành bởi kinh nghiệm sống, trình độ văn hóa, tính cách và khí chất cũng như thị hiếu thẩm mỹ
Tầm đón đợi của người đọc cũng được tác giả nhận thức, đem phối hợp với ý đồ chủ quan của chính tác giả, hình thành một tầm đón nhận ẩn tàng trong tác phẩm với hi vọng người đọc sẽ cảm nhận và cảm thụ đúng như thế
“Những người khảng khái thấy âm thanh hùng tráng thì liền vỗ tay Những người hàm súc thấy những lời chặt chẽ tinh mật thì khoái trá Những người trí tuệ nông cạn
Trang 36thấy câu văn đẹp thì đã sướng mê Những người thích cái mới lạ, đối với những việc quái lạ thì nghe sốt sắng”(Văn Tâm điêu long “tri âm”) Tầm đón nhận là một khái niệm khá phức tạp, nó có tính lịch sử hình thành, phát triển phong phú, đa đạng Nó là sự hiểu
và lý giải, là phạm kinh nghiệm văn hóa và ngôn ngữ mà con người hiểu biết thông qua kinh nghiệm, trải nghiệm, có kế thừa, biến đổi, tương tác liên tục giúp người đọc định hướng, giải mã chân trời nghệ thuật của văn bản
1.3.2.2 Thơ Bùi Giáng nhìn từ tầm đón đợi của chủ thể tiếp nhận
Thơ Bùi Giáng là biểu hiện tính chất đa diện của tầm đón đợi Từ cấp độ xã hội, tầm đón đợi bao gồm một hệ thống ý thức văn học được hình thành trên hai phương diện cá nhân và xã hội Đó là kinh nghiệm và trình độ thưởng thức thơ dựa trên kinh nghiệm tiếp thu lâu dài và từ nhu cầu thị hiếu của thời đại được hình thành dựa trên đặc trưng của giá trị thơ Bùi Giáng trong bối cảnh nghệ thuật của thời đại
Không phải tầm đón đợi của người đọc đều như nhau mà nó còn phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ văn hóa, vốn sống, năng lực tư duy khoa học, thế giới quan, thị hiếu, sở thích, bối cảnh xã hội, môi trường văn hóa, môi trường văn học, giới tính, nhu cầu…
Trước một đối tượng như tác phẩm nghệ thuật ai là người có đủ tầm đón đợi, kinh nghiệm thẩm mĩ cắt nghĩa nó, quả là một câu hỏi khó trả lời Tác phẩm văn học có nhiều phần chúng ta hiểu được Nhưng có phần chúng ta không hiểu hết Trường hợp Bùi Giáng là một minh chứng cho vấn đề này Thơ Bùi Giáng sáng tác là ông đã huy động cả phần vô thức sâu thẳm, cái phần chìm của tảng băng trôi mà ý thức không kiểm soát hết Có khi người nghệ sĩ còn không hiểu hết tác phẩm của mình Khi ấy chúng ta thấy được vai trò của các nhà phê bình tài năng, độc giả tinh hoa thuộc về lịch sử, thuộc các thế hệ người đọc có toàn quyền cắt nghĩa tác phẩm văn học
Quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng là quá trình người đọc với tầm đón đợi của mình tham gia vào hoạt động “đồng sáng tạo”, làm nảy sinh nghĩa mới qua mỗi lần tiếp nhận văn bản Tầm đón đợi của người đọc mở rộng không ngừng những chân trời nghệ thuật của tác phẩm Chân trời nghệ thuật, nghĩa mới được kiến tạo qua những lần tiếp nhận, chẳng những không giống với chủ định của chủ thể sáng tạo mà giữa chúng cũng khác nhau Vì thế tầm đón đợi mang tính động lực thúc đẩy quá trình vận động, mở
Trang 37rộng nghĩa không cùng cho tác phẩm
Thơ Bùi Giáng cần đến trước hết là những năng lực văn học cụ thể, trực tiếp, sáng tạo độc đáo của mỗi người đọc Trong cơ cấu của tầm đón đợi còn cần đến một năng lực tinh thần tổng hợp và đa diện Vì vậy, càng về sau, tri thức kinh nghiệm mà mỗi người đọc thu nhận được từ thơ Bùi Giáng là không giống nhau Thế giới hình tượng của thơ Bùi Giáng tác động đến mỗi người đọc vì thế cũng khác nhau Điều này có nghĩa là, mỗi người đọc về sau đếu có một tầm hiểu biết của riêng mình về mặt văn chương và cuộc sống, được bồi đắp, tích tụ bởi truyền thống văn hóa lịch sử, bởi kinh nghiệm sống
và kinh nghiệm thẩm mỹ của xã hội thẩm thấu vào trong mỗi cá nhân, được biểu hiện ra trong việc tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Do đó sự tồn tại đa dạng của công chúng trong cùng một thời đại với nhiều với nhiều tầm đón đợi khác nhau là nguyên nhân làm nên tính phong phú của sự tiếp nhận thơ Bùi Giáng Từ đó chúng ta thấy, xét trên cả hai cấp độ cá nhân và xã hội, tầm đón đợi là một phạm trù phức tạp, một hệ thống đa bình diện Trong quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng, hai cấp độ này chỉ tồn tại trong sự chuyển hóa, thẩm thấu vào nhau Tầm đón đợi của người đọc thơ Bùi Giáng chỉ có thể được tạo thành từ sự dung hợp tầm đón đợi của nhiều cá nhân trong lịch sử tiếp nhận Như vậy, tầm đón đợi trong thơ Bùi Giáng được hiểu là sự kế thừa những trải nghiệm, kinh nghiệm được đúc kết tích lũy từ quá khứ Tầm đón đợi luôn biến chuyển đổi mới,
mở ra những chân trời mới hơn trong hiện tại và tương lai Đó là sự tác động của người đọc ở tư thế chủ động vào thế giới hình tượng trong thơ Bùi Giáng
Sự tiếp nhận của người đọc cũng bị chi phối bởi trường xã hội, trường chính trị, trường văn hóa Người đọc không chỉ đơn giản tái hiện nội dung nghệ thuật thơ Bùi Giáng mà còn là một sự trải nghiệm đặc biệt Quá trình giải mã, đi tìm những giá trị ẩn chứa trong thơ Bùi Giáng cũng là quá trình người đọc thâm nhập vào đời sống thơ Bùi Giáng Người đọc phải giải mã được thơ Bùi Giáng bằng chính năng lực tưởng tượng, sáng tạo, bằng thế giới tâm hồn và sự trải nghiệm cá nhân để tự tạo nên một đối tượng thẩm mỹ mới
Tầm đón đợi trong quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng còn được hiểu như một sự nỗ lực tích cực của người đọc mà chủ yếu là người đọc tinh hoa/ người đọc chuyên nghiệp/ siêu người đọc (nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu/ giáo viên), để đồng thời cùng
Trang 38lúc, vừa là sự tái hiện một thế giới thơ Bùi Giáng vừa là sự trải nghiệm khoái cảm thẩm
mỹ của cá nhân và để “đồng sáng tạo” với nhà thơ Nói cách khác trong quá trình giải
mã thơ Bùi Giáng người đọc cũng đồng thời tiến hành việc chuyển hóa thơ Bùi Giáng thành kinh nghiệm sống cho mình Mà kinh nghiệm sống là những cái duy nhất thuộc
về cá nhân, nó không lặp lại, khó có thể phổ quát và cũng không gò ép vào một khuôn khổ nhất định nào để đánh giá, xếp hạng Khi thơ Bùi Giáng được chủ thể tiếp nhận như một quá trình chuyển hóa thành kinh nghiệm thì tất yếu tính mơ hồ, triết lý, phiêu bồng,
ảo diệu, “khùng điên” hủ nút, chiêm bao, mộng mị, cà rỡn, bông đùa sẽ được hiểu rõ Những khoảng trắng của thơ Bùi Giáng sẽ được người tiếp nhận khỏa lấp, làm đầy nó
để phát hiện ra những ý nghĩa mới được tạo ra từ tầm đón đợi của người đọc Vấn đề cái tôi trong thơ Bùi Giáng không chỉ đặt ra ở cá nhân tác giả mà còn đặt ra với người đọc Những bài viết, những công trình nghiên cứu về thơ Bùi Giáng thực sự có được một tầm đón đợi mới chi phối sẽ được hình thành như là sự nắm bắt cái khoảnh khắc hiện tại của cái tôi ấy trong tiến trình vận động không ngừng của cuộc sống và sự không ổn định của thế giới tình cảm, tinh thần của con người Mỗi khoảnh khắc của sự tiếp nhận có thể không bao giờ có sự lặp lại Đó là quá trình người đọc thâm nhập sâu vào cõi thơ Bùi Giáng trong quá trình tường giải
Qua việc phân tích tính chất đa diện của tầm đón đợi nêu trên, chúng tôi thấy rằng, chính sự tồn tại song hành của hai bình diện cá nhân và xã hội trong tầm đón đợi khiến cho sự tiếp nhận thơ Bùi Giáng ở mỗi độc giả là không giống nhau nhưng lại thường không vượt ra ngoài một số khuynh hướng tiếp nhận chung của một cộng đồng diễn giải, của xã hội Sự thưởng thức của một người khác là tác giả hoặc một người đọc khác… Đó cũng chính là sự hòa hợp của những tầm nhìn Nhờ đó kinh nghiệm thẩm mỹ được được tạo thành Tầm đón đợi của xã hội và tầm đón đợi của cá nhân có một sự dung hợp nhất định, từ đó hình thành xu hướng thưởng thức nghệ thuật thơ ca của mỗi người Tầm đón đợi như vậy vừa là sản phẩm của xã hội vừa là sản phẩm của cá nhân Mặc dù quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng luôn chịu ảnh hưởng từ nhiều trường tiếp nhận nhưng khi đối mặt với tác phẩm thì trình độ, vốn sống, tư chất, bản lĩnh của chủ thể tiếp nhận sẽ là yếu tố quyết định cuối cùng Trong cơ cấu của một tầm đón đợi vừa có yếu tố chung, nó dựa trên những giá trị văn học nhưng cũng bao hàm những giá
Trang 39trị ngoài văn học Giữa các giá trị này luôn có sự tương tác, bổ khuyết cho nhau
Tiếp nhận thơ Bùi Giáng là cụ thể hóa, hiện thực hóa thế giới thơ trong trí tưởng tượng, là đối thoại liên tục với Bùi Giáng trên mọi lĩnh vực, là quá trình, chờ đợi, thắc mắc, giải đáp Quyết định số phận thơ Bùi thi sĩ là tầm đón đợi của người đọc Tầm đón đợi xét cho cùng cũng là sản phẩm của ý thức tập thể, là sự phản ánh chung nhất từ những tầm đón đợi cá nhân Tầm đón đợi là sản phẩm của xã hội, mang yếu tố động, không bất biến, một khi xã hội thay đổi sẽ kéo theo tầm đón đợi của một cá nhân, hay tập thể, cả xã hội thay đổi theo Tính chất năng động của tầm đón đợi đã tiềm ẩn trong văn bản cho nên thơ Bùi Giáng muốn đáp ứng hai điều kiện là vừa làm thỏa mãn nhu cầu cả người tiếp nhận, vừa phải vượt thoát những chuẩn mực thông thường để phá vỡ
sự sáo mòn, quen thuộc, phải hướng đến một đối tượng tiếp nhận có trình độ đọc cao Xét về mặt thứ hai, chúng tôi nhận thấy người đọc chủ yếu trong thơ Bùi Giáng là độc giả tinh hoa Trong quá trình tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay, độc giả tinh hoa với tầm đón đợi riêng của bản thân, họ thưởng thức thơ, thẩm định thơ, định hướng, cõi thơ Bùi Giáng, góp phần phát triển nền thơ ca của dân tộc
Những yếu tố như giai cấp, địa vị sống, trình độ, môi trường chính trị, văn hóa, văn học, tuổi tác, tâm lý, thị hiếu thẩm mỹ… của người tiếp nhận đều có liên quan đến tầm đón đợi chung Thơ Bùi Giáng mở ra nhiều tầm đón đợi và giữa những tầm đón đợi
ấy có sự giao thoa gặp gỡ tạo nên những khuynh hướng nằm cùng trên một trường tiếp nhận, hình thành nên những khuynh hướng tiếp nhận mà trong đó tập hợp những chủ thể tiếp nhận cùng “gu” thẩm mỹ, cùng quan niệm về thơ ca và thưởng thức thơ ca Có thể hệ thống các khuynh hướng này khi tiếp nhận thơ Bùi Giáng như khuynh hướng lý luận – phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng phương Đông và khuynh hướng lý luận – phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng phương Tây Những khuynh hướng này được hình thành trên cơ sở người đọc có chung kinh nghiệm thẩm mỹ Tầm đón đợi này hình thành ngoài việc cùng chung quan niệm nghệ thuật, cách thức, phương pháp, kinh nghiệm thẩm mỹ khi tiếp nhận văn bản nghệ thuật Vì vậy, khi tìm hiểu để giải mã thơ Bùi Giáng tầm đón đợi của người đọc phải dựa trên đề án tiếp nhận của Bùi Giáng Bất kỳ tác phẩm nào cũng là một đề án tiếp nhận, chất lượng của các đề án không hoàn toàn như nhau mà phụ thuộc vào toàn bộ những tiền đề phát sinh của mỗi tác phẩm như lịch
Trang 40sử xã hội, ngôn ngữ văn chương, tiểu sử cá nhân Quá trình tạo ra tác phẩm kết thúc với việc hoàn thành đề án tiếp nhận Khi viết một tác phẩm bao giờ nhà thơ cũng có đề án của mình Đề án đó phải được tiếp cận ưu tiên hàng đầu Giao tiếp giữa tác giả - tác phẩm - người đọc không có sự tuyệt đối Đề án tiếp nhận phải đưa ra mã, người tiếp nhận có nhiệm vụ giải mã Đề án tiếp nhận = Kí hiệu = Tần số người đọc phải dò được tần số ấy và thấu hiểu nó, nhưng đôi khi không có sự tương thích giữa mã của người gửi
và người nhận Người nhận mã giải mã bằng mã khác Khi người lập mã dùng một bộ
mã quá lạ để mã hoá thông tin nghệ thuật, văn bản ấy trở thành một thách thức đối với
mã người tiếp nhận Bùi Giáng đưa ra mã không tương thích về trường độc giả sẽ khiến cho tác phẩm của ông khó hiểu, người đọc khó tiếp cận, thậm chí có nhiều ngộ nhận Đó chính là quy luật của tiếp nhận văn học đối với các hiện tượng văn học độc đáo đầy dị chất của một người đốn ngộ, “chỉ dự phần như một kẻ bên lề” như Bùi Giáng
Để giải mã đề án tiếp nhận thơ Bùi Giáng, người đọc phê bình/ người đọc tinh hoa/ siêu người đọc cần phải quan tâm đến trình độ văn hóa, kinh nghiệm thẩm mỹ của nhà thơ, ý thức hệ mà nhà thơ đang bị chi phối, tâm lý sáng tạo của nhà thơ Bởi vì tác giả vừa là chủ thể sáng tạo vừa là chủ thể tiếp nhận tác phẩm của chính mình, anh ta cũng là một độc giả cũng có một tầm đón đợi chịu ảnh hưởng của một xu hướng, trào lưu nào đó mà chủ thể sáng tạo đang sống Rõ ràng, Bùi Giáng là một nhà thơ chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng đạo Phật và ngộ Đạo trong tư tưởng Lão giáo Ngoài ra một con người tài hoa có vốn kiến thức uyên thâm, am hiểu văn học, triết học phương Tây không thể không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng này Không có bất cứ một tầm đón đợi nào tồn tại một cách độc lập nó phải dựa trên những quy ước, chuẩn mực và nhu cầu thẩm mỹ…
Nó hình thành nên những khuynh hướng tiếp nhận giúp thế hệ người đọc hiểu, cảm nhận, phát hiện sự độc đáo, kỳ dị của hồn thơ Bùi tên sinh, từ đó có tầm đón đợi mới, mang lại đời sống cho cõi thơ ông
Thơ Bùi Giáng chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó tồn tại như một sự thách thức, một sự khiêu khích với độc giả Người đọc phải luôn nâng cao trình độ, kiến thức, vốn sống… mới có khả năng tiếp nhận Thơ Bùi Giáng vừa truyền thống vừa rất hiện đại, vừa dung
dị, đời thường nhưng lại cao siêu trong tư tưởng, lý luận Nếu như người đọc có tầm đón đợi chủ quan, phiến diện, bảo thủ sẽ không thể nào thấy được chân trời nghệ thuật