1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền nam 1965 1975

125 109 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất hiện trong giai đoạn lịch sử có nhiều biến động, chủ nghĩa hiện sinh tác động lên mọi mặt của đời sống văn hóa xã hội ở miền Nam, trong đó có văn học.. Trần Hữu Tá nhận định chủ ngh

Trang 1

Trần Mỹ Tường

ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

TRONG THƠ CA YÊU NƯỚC

Ở ĐÔ THỊ MIỀN NAM 1965 – 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 2

Trần Mỹ Tường

ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

TRONG THƠ CA YÊU NƯỚC

Ở ĐÔ THỊ MIỀN NAM 1965 – 1975

Chuyên ngành : Lí luận văn học

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN HOÀI ANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi độc lập nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn TS Trần Hoài Anh Kết quả nghiên cứu

của đề tài Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền

Nam 1965-1975 là trung thực, không sao chép của bất cứ công trình nghiên cứu nào

trước đây

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng về kết quả luận văn của mình

Tp Hồ Chí Minh, ngày 19, tháng 09 năm 2016

Người cam đoan

Trần Mỹ Tường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy hướng dẫn khoa học TS

Trần Hoài Anh, người đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình

thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các giảng viên khoa Ngữ Văn, các cán bộ Phòng Sau đại học đã tạo điều kiện để chúng tôi học tập, nghiên cứu Đồng thời, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ về mặt tài liệu của thư viện trường Đại học

Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn và thư viện Khoa học tổng hợp

Cuối cùng, xin cảm ơn sâu sắc gia đình, bạn bè, người thân đã hết lòng động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tp Hồ Chí Minh, ngày 19, tháng 09 năm 2016

Học viên

Trần Mỹ Tường

Trang 5

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU

Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ VÀO

MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1965–1975 9

1.1 Chủ nghĩa hiện sinh 9

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hiện sinh 9

1.1.2 Những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh 13

1.2 Sự du nhập và ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965-1975 20

1.2.1 Bối cảnh xã hội miền Nam 1965-1975 20

1.2.2 Sự du nhập của chủ nghĩa hiện sinh vào miền Nam 1965-1975 26

1.2.3 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở đô thị miền Nam

1965-1975 28

1.3 Vài nét về thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 34

1.3.1 Đội ngũ sáng tác 34

1.3.2 Đặc điểm cơ bản của thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 36

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẠM TRÙ TỰ DO, HOÀI NGHI VÀ NỔI LOẠN TRONG THƠ CA YÊU NƯỚC Ở ĐÔ THỊ MIỀN NAM 1965-1975 41

2.1 Ý thức về tự do – sự lựa chọn trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 41

2.1.1 Khát vọng tự do và sự lựa chọn lẽ sống 41

Trang 6

2.1.2 Hành trình của tự do và sự lựa chọn 47

2.2 Phạm trù nổi loạn trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 56

2.2.1 Phản ứng lại hiện thực bằng thái độ phủ nhận 56

2.2.2 Phản ứng lại hiện thực bằng cảm thức cô đơn 61

Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẠM TRÙ CÁI CHẾT VÀ DẤN THÂN TRONG THƠ CA YÊU NƯỚC Ở ĐÔ THỊ MIỀN NAM

1965-1975 69

3.1 Cảm thức về cái chết trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 dưới góc nhìn hiện sinh 69

3.1.1 Nhận thức về cái chết trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 69

1965-1975 69

3.1.2 Thái độ trước vấn đề cái chết trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 80

3.2 Ý thức dấn thân, nhập cuộc trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 84

3.2.1 Từ dấn thân, nhập cuộc trong nhận thức 86

3.2.2 Đến dấn thân, nhập cuộc trong hành động 89

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chủ nghĩa hiện sinh là triết học về những suy tư, trăn trở cho thân phận con người trong hoàn cảnh xã hội hiện đại Con người là đối tượng trung tâm, nên vấn đề chủ nghĩa hiện sinh đặt ra là đạo đức, ý thức trách nhiệm cá nhân con người trong sự

mở rộng, hợp tác và phát triển giữa các lĩnh vực trong cuộc sống

Ở Việt Nam, chủ nghĩa hiện sinh du nhập và phát triển gắn với hoàn cảnh xã hội đặc thù của miền Nam từ những năm 50 thế kỉ XX Đó không chỉ là sự lồng ghép giữa tình hình chính trị căng thẳng, xã hội ngổn ngang mà còn cho thấy sự pha trộn, đấu tranh và giằng co quyết liệt của nhiều luồng tư tưởng Gắn với chính sách của chính quyền Sài Gòn, sự phát triển của dịch thuật, in ấn cùng bao nỗi hoài nghi, hoang mang tột độ của con người,… Chủ nghĩa hiện sinh đã có điều kiện du nhập vào miền Nam một cách nhanh chóng Xuất hiện trong giai đoạn lịch sử có nhiều biến động, chủ nghĩa hiện sinh tác động lên mọi mặt của đời sống văn hóa xã hội ở miền Nam, trong

đó có văn học

Thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 có đóng góp không nhỏ trong dòng văn học yêu nước Việt Nam nói chung và văn học yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 nói riêng Đó là những trang thơ thoát thai từ cảnh cam go, máu lửa của cuộc chiến dân tộc Là thể loại tiên phong, thơ ca giai đoạn này đi đầu trong cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa Tập hợp những sáng tác ấy làm nên một dáng vóc riêng cho thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 Nó đã xuất hiện và đồng hành cùng những năm tháng phức tạp của lịch sử xã hội miền Nam Song, so với những bộ phận văn học khác, rõ ràng thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 chưa được nhìn nhận một cách xứng đáng với những với những giá trị và đóng góp của nó trong nền văn học nước nhà Qua sự sàn lọc của thời gian, những tác phẩm chưa hay đã khó lòng trụ vững Nhưng bên cạnh đó, còn nhiều những tác phẩm thật sự đạt đến độ chín của nghệ thuật cũng bị lãng quên Nhìn một cách khách quan, việc nghiên cứu, tìm hiểu giá trị của bộ phận văn học này còn chưa được quan tâm thỏa đáng Có những tác giả gần như bị lãng quên dù sáng tác của họ đáng được ghi nhận Thiết nghĩ, đây là một khiếm khuyết trong việc ghi nhận giá trị của một bộ phận văn học nước nhà

Trang 8

Việc nghiên cứu “Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở

đô thị miền Nam 1965 – 1975” có ý nghĩa thiết thực trong việc nhìn lại giá trị của một

thể loại có nhiều đóng góp quan trọng trong dòng văn học yêu nước đô thị miền Nam 1965-1975 Không những vậy, đề tài này còn mang đến một hướng tiếp cận mới mẻ đối với sáng tác văn chương – nghiên cứu thơ ca từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh

Tất cả những vấn đề trên là lí do để chúng tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của chủ

nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965 – 1975” để làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn Đây là đề tài mang đến một cách nhìn đối với thơ ca yêu nước đô thị miền Nam 1965-1975

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ những ảnh hưởng cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 trong bối cảnh văn hóa, lịch sử - xã hội miền Nam 1965-1975 Chỉ ra những ảnh hưởng tích cực của chủ nghĩa hiện sinh đối với thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 Và đồng thời khẳng định sự đóng góp của bộ phận văn học này trong dòng văn học yêu nước ở đô thị miền Nam nói riêng và trong văn học yêu nước nói chung

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra cho luận văn là giải quyết các vấn

đề sau:

Giới thuyết về chủ nghĩa hiện sinh để đưa ra những phạm trù cơ bản Lấy đó làm

cơ sở lý luận cho việc triển khai vấn đề, nhất là xem xét sự ảnh hưởng của vấn đề này trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975

Đặt thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 trong hệ thống văn học yêu nước ở đô thị miền Nam 1954-1975 nói chung, 1965-1975 nói riêng để thấy được những điểm nổi bật và sự thống nhất của bộ phận văn học yêu nước ở đô thị miền Nam 1954-1975

Tìm hiểu bối cảnh văn hóa, lịch sử - xã hội miền Nam cùng sự du nhập của chủ nghĩa hiện sinh trong giai đoạn 1954-1975 Đây là cơ sở thực tiễn lí giải sự ảnh hưởng

Trang 9

của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 ở một số phạm trù nhất định

Chỉ ra sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 đặt trong bối cảnh văn hóa, xã hội miền Nam 1954-1975

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ

ca yêu nước ở đô thị miền Nam trong giai đoạn 1965-1975 trên phương diện tư tưởng

có thể, không xét về phương diện chính trị - xã hội cũng như sự biến đổi tư tưởng của tác giả trước và sau giai đoạn khảo sát Trong khả năng sưu tầm nhất định, luận văn tập trung khảo sát 130 tác phẩm của 59 nhà thơ

4 Lịch sử vấn đề

Trong một thời gian dài, khi nhắc đến văn học giai đoạn 1954-1975, vì nhiều lí

do khác nhau mà văn học ở đô thị miền Nam được xem là bộ phận “ngoài lề” của nền văn học dân tộc Trải qua độ lùi nhất định của thời gian, bỏ qua những định kiến lịch

sử, một điều rõ ràng dễ nhận thấy là bộ phận văn học yêu nước tiến bộ ở đô thị miền Nam nói chung và thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 nói riêng có vai trò như một bộ phận cần được nghiên cứu để “lấp đầy” bức tranh chung của văn học nước nhà Tuy nhiên việc tìm hiểu và tri nhận những giá trị đó còn nhiều hạn chế, nhất là việc áp dụng chủ nghĩa hiện sinh vào tìm hiểu bộ phận văn học này lại càng hạn chế

Trang 10

hơn Trong quá trình khảo sát, chúng tôi thấy có một số công trình có liên quan đến đề tài như sau:

Công trình đầu tiên phải kể đến là Nhìn lại một chặng đường văn học của Trần

Hữu Tá xuất hiện vào năm 2000 Ở công trình này, Tác giả đã dành một phần khá dày dặn để tổng hợp, nhận định đóng góp của một số tác giả thời kì này như Trần Quang Long, Ngô Kha, Tần Hoài Dạ Vũ, Thái Ngọc San,… Tuy nhiên, tác giả công trình chỉ xem xét thơ ca nói chung trong giai đoạn 1954 - 1975 mà chưa đi vào cụ thể thơ ca yêu nước 1965 – 1975 Trần Hữu Tá nhận định chủ nghĩa hiện sinh cùng với phân tâm học là một trong những tư tưởng từ phương Tây ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 nói chung và 1965-1975 nói riêng

Trong bài viết Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên bình

diện lí thuyết) năm 2009, Huỳnh Như Phương đã khẳng định sự du nhập, ảnh hưởng

của chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác và lí luận phê bình ở miền Nam 1954-1975 Chủ nghĩa hiện sinh ảnh hưởng theo nhiều góc độ khác nhau bởi hoàn cảnh đặc thù của xã hội miền Nam

Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954-1975, có lẽ nhiều người sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh Ảnh hưởng đó thể hiện ở chỗ đây là trào lưu, tuy lúc đậm lúc nhạt, nhưng đã hiện diện gần như trọn cả một giai đoạn lịch sử đen tối và phức tạp Ảnh hưởng đó thể hiện trên cả bình diện lý luận lẫn trên bình diện sáng tác, cả trong giới chuyên môn lẫn trong độc giả phổ cập, cả trong nhà trường lẫn ngoài nhà trường Điều đó còn thể hiện ở chỗ đây là một ảnh hưởng đa chiều, có thuận có nghịch, có hiện sinh, có phản hiện sinh, có sản phẩm chính cấp và sản phẩm thứ cấp, có những đứa con chính thức lẫn những đưa con hoang” [69]

Sau khi đưa ra một số nhà nghiên cứu có đóng góp trong việc tiếp nhận và truyền

bá chủ nghĩa hiện sinh, tác giả đưa ra những bình diện chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong giai đoạn 1954-1975 Trong đó, bình diện lí thuyết triết học và văn học được đưa lên hàng đầu Lúc này chủ nghĩa hiện sinh được nghiên cứu kĩ lưỡng bằng

Trang 11

một đội ngũ trí thức đông đảo và nhiệt huyết như Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh,

Lê Tôn Nghiêm, Trần Nhựt Tân…Tuy nhiên, ở đây tác giả chưa đề cập đến những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học miền Nam 1954-1975 nói chung và thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 nói riêng

Trần Hoài Anh trong công trình nghiên cứu về lý luận – phê bình ở đô thị miền

Nam 1954-1975 năm 2009 có dành một phần nói đến khuynh hướng phê bình hiện

sinh ở văn học đô thị miền Nam 1954-1975 Theo Trần Hoài Anh:

Văn học ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, đặc biệt là từ những năm sáu mươi trở đi chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa hiện sinh trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện Hầu hết những người cầm bút lúc này luôn có ý thức đưa triết học hiện sinh vào tác phẩm của mình [2, tr.200]

Ngoài ra, Trần Hoài Anh còn nhấn mạnh việc các nhà nghiên cứu đã vận dụng chủ nghĩa hiện sinh vào trong lý luận – phê bình văn học:

Nếu sáng tác của các nhà văn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh cả trong nội dung tư tưởng lẫn hình thức thể hiện thì trong phê bình văn học các nhà lý luận – phê bình cũng lấy triết học hiện sinh làm cơ sở mỹ học để phê bình các hiện tượng văn học [2, tr.200]

Tác giả đưa ra nhiều tác phẩm văn học như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Bướm

trắng… và các hiện tượng khác như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Cao

Bá Quát,… được đánh giá, nhìn nhận dưới góc nhìn hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh đã đem đến một luồng gió mới cho đời sống văn học miền Nam trong cả sáng tác thể hiện

ở một số tác phẩm như: Du Tử Lê, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Thái Ngọc San Với độ lùi thời gian, văn học yêu nước ở đô thị miền Nam nói chung và thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam nói riêng ngày càng được quan tâm hơn, nhất là thơ ca ở chặng cuối 1965-1975 Gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đối

tượng này Năm 2012, với đề tài Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965-1975,

Bùi Bích Hạnh xem thơ ca yêu nước tiến bộ ở đô thị miền Nam 1965-1975 như một trong ba đối tượng nghiên cứu chính Theo hướng nghiên cứu cái tôi trữ tình, luận án tập trung vào dạng thức và phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình trên cơ sở so sánh thơ

Trang 12

ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 với thơ ca cách mạng miền Bắc và thơ ca vùng giải phóng trong cùng giai đoạn Tác giả đã đề cập đến việc ảnh hưởng của chủ

nghĩa hiện sinh trong bộ phận thơ trẻ Việt Nam 1965-1975 trên phương diện cái tôi trữ tình: “Trong thơ trẻ vùng tạm chiếm miền Nam, bắt gặp không ít giọng suy nghiệm

của cái tôi trữ tình cô đơn trong trống rỗng… Ý thức hiện sinh giữa một thực tại muôn vàn bế tắc, giữa cuộc sống ngột ngạt đã mang đến những trạng thái, giọng thơ tự hào,

in đậm cái tôi cô độc hiện sinh” [30, tr.118] Dù có nhắc đến chủ nghĩa hiện sinh

nhưng tác giả chỉ xem đó như một dấu hiệu để nhận biết cái tôi trữ tình, chưa đi sâu vào những biểu hiện cụ thể, lí giải rạch ròi

Tiếp nối Bùi Bích Hạnh, năm 2014, Nguyễn Bá Long hoàn thành luận án nghiên

cứu về Thơ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ: cảm hứng và giọng điệu Trong

giới hạn của luận án, thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam được xem là bộ phận không thể thiếu trong đối tượng khảo sát Trong quá trình tìm hiểu cảm hứng và giọng điệu

của Thơ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ, có nhiều phần tác giả đã đề cập đến

những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa hiện sinh hoặc màu sắc hiện sinh Khi tìm hiểu cảm hứng đời tư, nhận định về thơ Ngô Kha, tác giả viết:

Mang tâm thế của một trí thức yêu nước sụp đổ niềm tin, trong thơ “Ngụ ngôn của người đãng trí”, Ngô Kha cũng đã chạm vào những phạm trù của triết học hiện sinh Chủ thể trữ tình thấy cuộc đời chỉ là sầu muộn; con người bế tắc giữa một thực tại đầy nghịch cảnh… Tác giả hình thành một ý niệm sống trong cõi chết… Cái tôi vô vọng trong hành trình đi tìm chính

mình, thậm chí đối diện với cái chết” [51, tr.176]

Hay

Với quan niệm cuộc đời hiện hữu là một thảm kịch, phần nhiều con người hiện sinh trong thơ trẻ vùng tạm chiếm miền Nam chiêm nghiệm về sự cô đơn, tuyệt vọng như một bản thể đầy ý thức dấn thân Dấn thân để hiện sinh

về tình yêu, định mệnh đúng như quan niệm “con người chỉ hiện sinh khi không còn hiện sinh nữa” [51, tr.177]

Trang 13

Do yêu cầu và phạm vi của đề tài cho nên những phạm trù hay cảm thức hiện sinh chưa được tác giả nêu ra một cách hệ thống và lí giải nguyên nhân cũng như mối tương quan với điều kiện hoàn cảnh lịch sử - xã hội

Qua đây cho thấy Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở

đô thị miền Nam 1965-1975 còn là đề tài mới chưa có công trình khoa học nghiên cứu

một cách hệ thống và toàn diện Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu nêu trên chính là những tiền đề, cơ sở để người viết định hướng cho quá trình nghiên cứu của mình; nêu ra những vấn đề mới mẻ, hệ thống về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:

Phương pháp lịch sử: Đặt thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 trong bối cảnh lịch sử cụ thể của miền Nam 1965-1975 để lí giải sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh Bởi lẽ, đây là giai đoạn lịch sử phức tạp của miền Nam nói chung và ở các đô thị nói riêng Từ đó đánh giá ý nghĩa và vị trí của thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975

Phương pháp so sánh – đối chiếu: Đây là phương pháp dùng để đối chiếu, chỉ ra

sự ảnh hưởng khác biệt của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước với một số khuynh hướng sáng tác khác ở đô thị miền Nam 1965-1975 Dù được ra đời trong cùng một điều kiện lịch sử, văn hóa - xã hội nhưng với từng đối tượng, chủ nghĩa hiện sinh có những ảnh hưởng ở những mức độ và phương diện khác nhau

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này được dùng để tìm những ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong tác phẩm cụ thể

Phương pháp hệ thống: Phương pháp này đặt đối tượng ca yêu nước trong hệ thống văn học yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 để thấy được những nét đặc trưng và đóng góp cũng như giá trị của chúng

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 14

Đưa ra những ảnh hưởng cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca yêu nước ở

đô thị miền Nam 1965 – 1975 Qua đó khẳng định những giá trị, đóng góp của bộ phận văn học này trong việc nhìn nhận và lý giải về ý thức tồn tại của con người và ý thức dân tộc

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1 Chủ nghĩa hiện sinh và ảnh hưởng của nó với văn học ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965 – 1975 Chương 1 có 31 trang, luận văn tập trung giới

thiệu về chủ nghĩa hiện sinh và sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đến thơ ca yêu nước trong bối cảnh lịch sử, văn học miền Nam 1965-1975 Luận văn đi sâu vào một

số phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh mà trong quá trình khảo sát, chúng tôi thấy ảnh hưởng rõ đến đối tượng nghiên cứu

Chương 2 Ảnh hưởng của phạm trù tự do, hoài nghi và nổi loạn trong thơ

ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965 – 1975 Chương 2 gồm 28 trang, luận văn làm

rõ khát vọng tự do – sự lựa chọn trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975; thái độ đối với tự do và phản ứng trước thực tại phi lí trong cuộc đời của đội ngũ trí thức ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965-1975

Chương 3 Ảnh hưởng của phạm trù Cái chết và dấn thân trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965 – 1975 29 trang của chương 3 tập trung quan niệm về

“cái chết” của những nhà thơ yêu nước ở ở đô thị miền nam 1965-1975, tập trung vào

hành động nhập cuộc, dấn thân trong thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975

Qua đó thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức của cuộc hành trình lựa chọn

Trang 15

Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ VÀO MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1965–1975

1.1 Chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lí Nó đặt ra các vấn đề về con người và lấy sự tồn tại của con người làm trung tâm Cũng như các lí thuyết khác, chủ nghĩa hiện sinh ra đời dựa trên cơ sở của sự chuyển biến trong tư tưởng và chịu sự tác động của điều kiện lịch sử cụ thể nhất định

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa hiện sinh

1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội

Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trong điều kiện xã hội phức tạp, ngổn ngang của Châu

Âu sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và lan rộng sau chiến tranh thế giới thứ hai Chưa bao giờ con người của một vùng chinh chiến lại rơi vào bi quan, thất vọng và bất

an đến thế Chưa đầy nửa thế kỉ, người châu Âu phải đối mặt với hai cuộc chiến tranh tàn khốc nhất của nhân loại Trong ác mộng đen tối ấy, thân phận con người trở nên mong manh hơn bao giờ hết Họ bắt đầu hoài nghi về cuộc đời, về số phận, về chính

sự tồn tại của bản thân mình trong cuộc đời Và đây chính là mảnh đất màu mỡ gieo

mầm cho chủ nghĩa hiện sinh: “chiến tranh chính là điều kiện, nhân tố chính trị trực

tiếp động chạm tới đời sống tinh thần thực tiễn, dẫn tới khủng hoảng tinh thần hiện thực của con người phương Tây hiện đại, là nguyên nhân thúc đẩy chủ nghĩa hiện sinh trở thành một trào lưu tư tưởng có sức lan tỏa nhanh và mạnh nhất sau chiến tranh”

Trang 16

lan rộng qua các nước phương Tây khác Con người nhận thức được sự phi lí của chiến tranh Chiến tranh đã khiến con người phải hi sinh cho những mục đích vô nghĩa Họ muốn trở về với những giá trị làm người và muốn quên đi thực tại phũ phàng Con người lúc này muốn phá vỡ những quan niệm khắt khe, bó buộc trước đó

để sống với chủ thể tính của mình

Như vậy, chiến tranh là điều kiện thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh như một thứ triết học đi sâu vào thế giới nội tâm của cá nhân con người Sự ra đời của nó như một lẽ tất yếu của thời cuộc Bởi lẽ, hoàn cảnh chính trị xã hội phức tạp của châu

Âu qua hai cuộc chiến tranh là ngọn lửa làm bùng lên những u uất, ẩn tàng của xã hội Nhưng nếu chỉ xét riêng hoàn cảnh chiến tranh mà bỏ qua những yếu tố khác thì có phần khiêng cưỡng Chắc rằng, trước đó phải có một quá trình thai nghén lâu dài, để khi gặp điều kiện xã hội thích hợp, chủ nghĩa hiện sinh trỗi dậy một cách tự nhiên Và

đó, chính là những tác động tiêu cực của sự phát triển khoa học kĩ thuật trong lòng tư bản chủ nghĩa

Sự phát triển của khoa học hiện đại không đi liền với những tiến bộ về nhận thức con người Nhìn ở góc độ văn hóa, sự phát triển về khoa học kĩ thuật đã bộc lộ những mặt trái nhất định, đặc biệt khi nó tồn tại trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Khoa học - kỹ thuật đã làm thay đổi sinh hoạt của xã hội và của con người Kinh tế tư sản với những đặc thù riêng đã tác động, làm thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội Những biến đổi trong đời sống xã hội, chính trị và văn hóa kéo theo sự thay đổi giá trị đạo đức và thân phận con người Đáp lại sự sùng bái khoa học - kĩ thuật là những thiếu hụt về giá trị tinh thần, đạo đức Con người không tìm ra chỗ dựa tinh thần, định hướng giá trị, lối sống nhân văn

Như vậy, hoàn cảnh lịch sử - xã hội có tác động mạnh mẽ đến những chuyển biến trong tư tưởng của con người Chính bối cảnh lịch sử - xã hội đã tạo tiền đề cho sự hình thành chủ nghĩa hiện sinh, thúc đẩy tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh phát triển đến cao trào và lan rộng trong nhiều khía cạnh của đời sống văn hóa – xã hội

1.1.1.2 Bối cảnh văn hóa

Gắn với điều kiện lịch sử - xã hội, chủ nghĩa hiện sinh ra đời là kết quả của những tư tưởng hiện sinh trước đó Các luồng tư tưởng hiện sinh khác nhau làm nên sự

Trang 17

phong phú, phức tạp của chủ nghĩa hiện sinh sau này Trong sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy lí, chủ nghĩa hiện sinh đánh động đến những vấn đề về nhân vị, về chủ thể tính của con người Tuy thống nhất về vấn đề cơ bản nhưng chủ nghĩa hiện sinh tồn tại nhiều quan điểm khác nhau thậm chí đối lập nhau bởi sự ảnh hưởng đa dạng của các luồng tư tưởng Tư tưởng triết học của S Kierkegaard, triết học đời sống của F.Nietzsche, hiện tượng luận của E.Husserl là những cơ sở có vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng, hình thành các tư tưởng hiện sinh về sau Ngoài ra còn phải kể đến những ảnh hưởng từ A Augustin, B Pascal, F.M Dotstoevsky, I Kant, chủ nghĩa lãng mạn Đức thế kỉ XX, đạo tin lành… đối với trào lưu tư tưởng phức tạp này

Trong những triết gia được xem là nền tảng của chủ nghĩa hiện sinh, phải kể đến gương mặt tiêu biểu là S Kierkegaard và F.Nietzsche Kierkegaard được xem là vị thủy tổ sáng lập chủ nghĩa hiện sinh Tư tưởng hiện sinh của S Kierkegaard mang đậm tính hữu thần Tiếp nối những luận điểm của ông, nhà triết học người Đức Nietzsche với quan điểm tư tưởng về con người và cuộc sống đã phát triển những luận điểm về ý thức đau khổ, tự do và thân phận con người của S Kierkegaard để hình thành một nhánh khác của chủ nghĩa hiện sinh – hiện sinh vô thần Song, dù hiện sinh hữu thần hay vô thần thì vấn đề hai triết gia quan tâm đều là vấn đề về nhân vị và những trải

nghiệm chủ quan Tư tưởng triết học của Kierkegaard “là một tư tưởng sâu xa về cuộc

đời vì thế nó mang tên là triết học hiện sinh, triết học về cuộc đời và con người” (theo

Trần Thái Đỉnh) Còn F.Nietzsche quan niệm “Đời sống là giá trị cao nhất, hiện sinh

là giá trị uyên nguyên làm nền cho các giá trị khác” Ở đây chủ thể tính được

Nietzsche đề cao trong tư tưởng triết học của mình – một tư tưởng triết học về giá trị con người

Bước sang thế kỉ XX, ở Châu Âu, khi con người chơi vơi trong cảnh điêu tàn của chiến tranh thì hiện tượng học của Husserl xuất hiện Nó kết hợp với tư tưởng của Kierkegaard về con người tạo nên một hệ thống triết học ở phương Tây Ông cho rằng hiện tượng là hiện tượng, nó không “che giấu” thứ gì bên trong Ông cũng cho rằng không nên suy diễn, đặt vấn đề lý giải khái quát mà cần mô tả đúng đối tượng khi chúng mới xuất hiện - trước ý thức con người Thời kì này như một giai đoạn phát

Trang 18

triển mới của hiện tượng học Xét về mặt lý luận Husserl là người đặt nền móng đầu tiên của chủ nghĩa hiện sinh

Sự nỗ lực phát triển thuyết hiện sinh trong nửa đầu thế kỉ XX của Heidegger, Jaspers, Gabriel Marcel trong các trường đại học của Đức và Pháp đã đạt được những thành công nhất định Luận thuyết hiện sinh đã trở thành triết học phổ biến được tiếp nhận, đặc biệt là trong giới trí thức Đến giữa thế kỉ XX, triết học hiện sinh trở thành một trào lưu tư tưởng phổ biến rộng rãi khắp Tây Âu với những tác phẩm triết học, tác phẩm văn học và tiểu luận của Sartre Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh từ Đức chuyển sang Pháp Chủ nghĩa hiện sinh có thêm nhiều tác giả nổi tiếng tiêu biểu như Sartre, Albert Camus, Simone de Beauvoir… Lúc này nó trở nên gần gũi với con người hơn bao giờ hết vì đã đi vào ngõ ngách sâu thẳm trong tâm hồn con người Con người tìm được chỗ dựa tinh thần trước những lo âu, hoài nghi và tuyệt vọng Như Bùi Giáng và Hoàng Minh Tuynh nhận định:

Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện như một trào lưu tư tưởng phản ứng lại tinh thần duy lí, tinh thần hệ thống của các triết gia ngày trước Cuộc sống hiện tồn, thoạt hiện hữu là một thực thể phiền tạp, chập chờn nhiều sắc thái, há

dễ gì đem biện chứng ra giải thích một cách rành rẽ phân minh và khăng khít theo dòng luận lý được [26, tr.13]

Nhận định này cho thấy sự phức tạp trong nội hàm hai chữ hiện sinh Nó bao gồm sự phức tạp của hiện tượng đời sống, tinh thần của bản thể con người nên khó có thể định nghĩa một cách đầy đủ, thống nhất

Ngoài luồng tư tưởng mang tính quyết định trên, chủ nghĩa hiện sinh còn manh nha từ sớm với nhân vật trong kinh thánh, triết học của Socrate, thánh Augustin hay qua sáng tác của Pascal, của F Kafka

Qua đó, có thể thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh ra đời trong sự kế thừa của những

tư tưởng hiện sinh và sự tác động của điều kiện phức tạp của lịch sử Từ những suy tư, trăn trở về con người, chủ nghĩa hiện sinh vượt qua giới hạn của một phạm trù lí thuyết

để đến với đời sống một các tự nhiên Nó ảnh hưởng đến mọi mặt của xã hội, trong đó

có văn học Chủ nghĩa hiện sinh đã tạo nên một khuynh hướng mới mẻ trong sáng tác

và nghiên cứu văn học từ thế kỷ XX đến nay

Trang 19

1.1.2 Những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học phức tạp Quan điểm của những đại biểu có sự khác biệt, thậm chí đối lập nhau Nó có thể là khác biệt về thái độ đối với tôn giáo, về quan điểm đối với những sự kiện chính trị Song, tất cả đều quan tâm

và đặt ra vấn đề cốt lõi là vấn đề về nhân vị Từ đó các triết gia cụ thể hóa bằng những phạm trù như tự do, phi lý, cô đơn, buồn nôn, tha nhân, nổi loạn, dấn thân…

Nhân vị là vấn đề trung tâm cao nhất của con người được các nhà hiện sinh quan tâm Nhưng con người trong chủ nghĩa hiện sinh không phải là con người viết hoa, con người phổ quát như triết học của Aristotle mà là con người cụ thể với sự hiện hữu cùng chủ thể tính của nó Với chủ nghĩa hiện sinh, nhân vị gắn liền với tự do và trách nhiệm Con người sống không chỉ để sinh tồn mà còn tự lựa chọn để hành động, để được là mình Con người có quyền chọn lấy một lối sống và tự chịu trách nhiệm trước lối sống đó Chính vì vậy, con người thường khắc khoải lo âu Họ lo âu về sự lựa chọn của mình trước cuộc đời đầy rẫy những phi lí; cảm thấy bất an trong chính sự tự do của bản thân Con người đáp lại sự phi lí của cuộc đời bằng nhiều thái độ, trong đó có buồn nôn Buồn nôn là sự trầm tư, nặng nề của cảm xúc, là ý thức sâu xa về giá trị nhân vị khi chưa đạt tới đích

Con người cô đơn trong thế giới khi tự mình làm nên chính mình, không có chỗ dựa tinh thần Để từ đó, họ xem cái chết là cách giải thoát khỏi cuộc đời Trong hiện sinh, cái chết có ý nghĩa đặc biệt với sự sống Cái chết như một thế giới vĩnh cửu của

hiện sinh – Tôi chỉ hiện sinh khi tôi không còn hiện sinh nữa Tuy nhiên, còn một bi

kịch đau khổ hơn cái chết của con người là đánh mất chính mình khi đang hiện hữu Con người bị tha hóa, tự biến mình thành kẻ khác Đó là kết quả của sự tôn thờ lí tưởng Con người cần tự quyết trong việc lựa chọn tạo nên mình, tìm và sống theo cái tôi của riêng mình Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở việc sống là mình thì chưa đúng, chưa

đủ với tinh thần hiện sinh Bởi lẽ, chủ nghĩa hiện sinh còn hướng tới thái độ sống, hành vi sống đầy trách nhiệm của con người Đó là sự vươn lên, dấn thân và nhập cuộc Cuộc đời như một cuộc đua, mọi thứ đều không ngừng vận động, khi ta không tiến lên đồng nghĩa là đang lùi xuống Vì thế Sartre quan niệm con người phải không ngừng tiến lên, phải hành động và nhập cuộc Khi ta đứng yên có nghĩa là đang đánh

Trang 20

mất bản chất của mình Con người không dừng lại ở một điểm đích cụ thể mà là cái đang - trở - thành, là một bệ phóng vươn lên để vượt qua chính mình Bởi lẽ, bản chất con người được làm nên từ một quá trình tự do lựa chọn và thực hiện những lựa chọn

đó một cách tự do Tuy nhiên trong hành trình hiện sinh ấy, con người không chỉ tồn tại một mình mà họ luôn bị dòm ngó bởi tha nhân Trong mối quan hệ đó, con người là

kẻ bị nhìn nên tha nhân được xem là địa ngục của con người

Chủ nghĩa hiện sinh thống nhất về bản chất nhưng đa dạng trong cách biểu hiện nên có rất nhiều những phạm trù, những vấn đề được đặt ra Đó là kết quả tất yếu của việc chịu ảnh hưởng từ những luồng tư tưởng khác nhau và ứng vào từng điều kiện lịch sử cụ thể Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài, luận văn chỉ đề cập đến một số phạm trù có ảnh hưởng trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu – thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975

Trước hết, phạm trù tự do khẳng định hiện hữu có trước bản chất Để lý giải rõ

vấn đề này, hàng loạt câu hỏi được đặt ra để con người giải quyết trong sự tồn tại của mình Khi nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh Huỳnh Như Phương có dẫn ra nhận định:

Bạn là gì? (tức yếu tính của bạn) là kết quả của những sự lựa chọn của bạn (tức hiện sinh của bạn) hơn là ngược lại Yếu tính không phải là định mệnh Bạn là cái mà chính bạn tự làm nên [72, tr.5]

Do đó, quá trình ta sống là quá trình ta tạo nên tính cách Chỉ có con người mới

có khả năng lựa chọn và tạo ra bản chất riêng của mình Theo quan niệm của Marcel

(dẫn theo Trần Thái Đỉnh), tự do và định mệnh “là hai điểm làm con người khác sự

vật, và làm cho một người đã vươn tới hiện sinh khác một người sống trong tình trạng

sự vật” [15, tr.281] Bản chất của con người không tự nhiên mà có, đó là do lựa chọn

của mỗi người trong từng điều kiện, từng hoàn cảnh tạo thành Vì thế không có bản

Trang 21

chất phổ quát, chung chung cho mỗi con người Con người quyết định nhân tính của mình bằng cách “tự lựa chọn” Và con người tự chịu trách nhiệm về sự lựa chọn đó Jean-Paul Sartre phát triển quan điểm “tồn tại có trước bản chất” bằng sự khẳng định vị trí độc tôn của con người Chỉ có con người mới tự do lựa chọn ý thức để hiện sinh Con người có trước bản chất và không bị chi phối bởi một bản tính nào Không

có thần linh hay thượng đế ban cho con người một bản tính định sẵn Chính con người

tự quyết định bản tính của mình bằng sự lựa chọn Hay nói cách khác con người tự tạo

ra chính mình bằng sự lựa chọn tự do của chính họ “Tôi đã sống một cách nào đó, và

tôi cũng có thể sống một cách khác Tôi đã làm điều này và không làm điều kia Tôi đã không làm một điều nào đó, trong khi tôi lại làm một điều khác” [15, tr.154] Đó có

nghĩa là con người tự tạo ra chính mình bằng sự lựa chọn tự do của chính con người

Ngoài ra, tự do là lựa chọn giá trị hiện sinh của con người Con người khi sinh

ra là hư vô, cho nên, họ phải lựa chọn hành vi, thái độ sống và ý nghĩa cuộc đời của

mình “Ta đã tạo tác ra cuộc đời theo ý chí ta”, con người hoàn toàn có quyền tạo ra bản chất của mình thông qua những lựa chọn, nhưng lựa chọn đầu tiên là lựa chọn

nhân tính hay hiện sinh Tuy nhiên sự lựa chọn đó có thể thay đổi theo từng điều kiện,

hoàn cảnh sống khác nhau Ở mỗi lần lựa chọn, con người tạo nên những giá trị mới cho riêng mình J.P.Sartre phủ nhận sự tồn tại của thượng đế Theo ông, không ai ban

bố cho chúng ta tự do Nó nằm trong hành động, nhập cuộc của con người Từ khi mới sinh ra con người bị kết án phải tự do Nhưng khi con người biết ý thức về tự do, về sự

tự lựa chọn là khi họ đã ý thức về bản thân mình

Cùng với những quan niệm nêu trên, tự do là thước đo giá trị của con người Tự

do của chủ nghĩa hiện sinh không phải là một phạm trù đạt đến giá trị của chân lí mà là quyền tự lựa chọn, hành động theo những gì mình đã lựa chọn Vượt lên mọi lí lẽ, tự

do theo quan niệm của Sartre là tự do tuyệt đối, vô giới hạn theo chủ quan tính “Tự do

là do tự chính mình ta quyết định như thế, và ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự quyết định đó” [15, tr 209]

Sự lựa chọn đó không xuất phát từ một khuôn mẫu có sẵn nào, cho nên chủ nghĩa hiện sinh kêu gọi con người hãy thôi ám ảnh những ràng buộc của thói quen, luân thường đạo lý, chuẩn mực xã hội, để đi theo tiếng gọi của tình cảm, của lương tâm,

Trang 22

của những điều sâu thẳm trong mỗi con người Như vậy, tự do là tư tưởng cơ bản mỗi khi nhắc đến chủ nghĩa hiện sinh Nó là cơ sở, nền tảng để xem xét các giá trị của cá nhân trong sự hiện hữu của cuộc đời Chính sự tự do lựa chọn buộc con người phải dấn thân vì con người phải chịu trách nhiệm về sự lựa đó

Nhập cuộc là nói, là làm, là hành động, là thực hiện hành vi có quan hệ với người khác, với những vấn đề xung quanh Mỗi lần dấn thân, mỗi lần nhập cuộc là một lần lựa chọn để “tôi dám làm tôi” Mỗi lần tự quyết về tôi trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi đã hoàn thiện một nhân vị của mình Mỗi sự lựa chọn là một sự thăng hoa làm cho ý muốn của nó trở thành cao đẹp [9, tr.21]

Dấn thân là phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh đến trách nhiệm của con người với tự do – sự lựa chọn Kết quả của sự lựa chọn ấy có thể đúng hoặc sai nhưng nó tạo nên giá trị của mỗi con người như Friedrich Nietzsche quan niệm:

Chủ nghĩa hiện sinh đặt ra vấn đề trách nhiệm của mỗi cá nhân con người Bởi vì con người bằng khả năng định hướng lối sống đã tạo ra bản chất của mình Và sau đó chính con người phải chịu trách nhệm trước kết quả của sự lựa chọn đó Trước hết, con người phải có trách nhiệm về sự hiện hữu của mình, về lựa chọn bản chất của mình trong xã hội Khi con người lựa chọn

có nghĩa là họ đã dấn thân để tạo ra giá trị cho chính mình [16, tr.28]

Sự dấn thân của con người phụ thuộc vào những hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau Chính bằng sự lựa chọn đó, con người tạo ra bản chất của mình và hiển nhiên phải có trách nhiệm với nó

Nhân vị tự do thì ý thức về quyền tự do của mình, đồng thời cũng ý thức sâu xa về trách nhiệm làm người của mình: người tự do và tự chủ phải biết hoàn toàn nắm lấy trong tay mình tất cả ý nghĩa cuộc nhân sinh của mình, cho nên người đó phải tự quyết về mình [15, tr.195]

Chính vì vậy, dấn thân có ý nghĩa nhân sinh Chúng ta có quyền lựa chọn để dấn thân nhưng cái hành động dấn thân phải gắn liền với quan niệm đạo đức của xã hội Điểm này làm nên tính xã hội của con người Chúng ta không tồn tại một mình -

Trang 23

“Sống là sống với” Từ ý thức trách nhiệm về sự hiện hữu của cá nhân, trách nhiệm với cuộc đời, con người đi vào dấn thân, nhập cuộc

1.1.2.2 Phạm trù phi lí và buồn nôn

Khái niệm phi lí đã xuất phát từ thời cổ đại nhưng đến chủ nghĩa hiện sinh “phi lí” được hiểu như một phạm trù thể hiện sự bất đồng giữa lí tính và thực tại nhân bản Theo Sartre thực tại nhân bản là thực tại của phi lí Ở đó, ý thức con người có xu hướng tách ra khỏi thực tại

Thế giới là một cái gì xô bồ, hỗn hợp và phi lí tính; thế giới phi lí tính không có quy luật, không có nhân quả; nó biểu hiện như một trái núi khổng

lồ, sừng sững, đông đặc và đáng sợ; lí trí và ý chí con người bất lực trước cái thế giới ấy [15, tr.17]

Nhưng ngược lại nhận định này, Camus cho rằng cả thực tại và lí tính đều không phải phi lí mà phi lí chỉ nảy sinh từ sự bất hoà hợp giữa khát vọng của lí tính muốn tìm hiểu thế giới với cái thực tại u tối khó hiểu của thế giới đó, là sự tuyệt giao giữa khát vọng lí tính với thực tại u tối Sự bất hoà hợp giữa hai phạm trù này đã nảy sinh cái

cảm giác về sự phi lí Phạm trù này ám ảnh đến cả sáng tác và cuộc đời của Camus

Trong tập tiểu luận triết học cũng như trong các tác phẩm văn học của ông, cái cảm giác phi lí sau thất bại của khát vọng lí tính muốn tìm hiểu thực tại đã không ngừng dẫn tác giả đi đến chỗ coi thế giới là phi lí, nhưng là cái phi lí sau khi đã được con

người nhận thức, tức là cái phi lí mang tính chất chủ quan, hậu nghiệm Cái thế giới

phi lí chủ quan ấy được ông thể hiện thông qua hình tượng nhân vật huyền thoại Sisyphe Cho nên theo chúng tôi, cuối cùng thì cái phi lý của Camus lại chính là được nảy sinh từ sự giao tiếp (chứ không phải là từ sự tuyệt giao) giữa lý tính với thực tại

phi lý, nhưng đây là sự giao tiếp bất hoà hợp Chính vì vậy mà cái phi lý của Camus là

cái âm thầm day dứt trong nội tâm con người Theo ông, cảm giác phi lí được sinh ra

từ tâm trạng hoài nghi với trạng thái sinh tồn của con người khi ta không lí giải được cuộc đời, nhận thức được sự vô vị, tẻ nhạt, lặp đi lặp lại của cuộc đời:

Thức dậy, ngồi xe điện, bốn giờ ngồi bàn máy hoặc ở xưởng, cơm trưa, rồi lại ngồi xe điện, bốn giờ ngồi bàn giấy, cơm tối, đi ngủ Thứ hai, thứ ba, thứ

tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, cứ thế mãi, cứ thế mãi [15, tr.38]

Trang 24

Phạm trù phi lí của triết học hiện sinh là kết quả tất yếu của điều kiện lịch sử nhất định Con người cảm thấy sự tồn tại không mang một ý nghĩa nào Sự khủng hoảng về tinh thần đã đem đến cho con người cái nhìn phi lí về sự hiện hữu với cuộc đời Từ đây liên quan đến một phạm trù tiếp theo của chủ nghĩa hiện sinh – phạm trù buồn nôn Buồn nôn theo triết học hiện sinh là trạng thái trầm tư của con người trước sự phi

lí của cuộc đời Khi phát hiện ra bản chất của thế giới là phi lí, con người cảm thấy nặng nề, khó chịu, buồn nôn Buồn nôn là sự trừu tượng hóa các mối quan hệ giữa thế giới và con người

Buồn nôn là chìa khóa mở ra hiện sinh cho con người, nó có một giá trị siêu hình một khi ta phát hiện ra cái cơ bản của hiện hữu là hiện sinh thì một thế giới khác lập tức mở ra Cái thế giới ấy tràn đầy sức sống, chuyển động dữ dội, muôn hồng ngàn tía vui tươi Cái thế giới ấy được đánh thức bằng buồn nôn làm cho ta càng khó chịu đến tức giận trước cái phi lí bao trùm lên cái bình thường [33, tr.58]

Khi thế giới bị tiêu vong, mọi thứ sụp đổ thì ta phát hiện ra thế giới khác Và

trong cái thế giới ấy mọi vật không còn nguyên dáng vẻ của nó J.P.Sartre nhận định

“Buồn nôn không là cái gì khác ngoài cái tình cảm ngợp thở gây nên do sự phát hiện hiện sinh như thể một cái gì bỗng nhiên chiếm lấy anh, nó dừng lại nơi anh và đè nặng lên ngực anh và như con vật to lớn bất động” (dẫn theo Trần Thái Đỉnh [15, tr.59].)

Cảm giác hiện sinh như một cái gì ngợp thở và đè nặng khiến con người không thoát

ra được Và kết quả cuối cùng của buồn nôn là cái chết Cái chết được hiểu như một phạm trù mà chủ nghĩa hiện sinh hướng tới

Buồn nôn cho cái nhìn mới về sự vật và con người Cái hiện sinh nổi dậy như sóng cồn, và người ta bực bội, tức giận trước cái tầm thường, cái trừu tượng, trước cái sẵn có đúc thành khuôn khổ và tất cả những gì công thức nằm im – dấu hiệu của cái chết [33, tr.61]

1.1.2.3 Phạm trù nổi loạn, cô đơn và cái chết

Sự tự do của con người là nguyên nhân sinh ra trạng thái lo âu, hoài nghi Bởi lẽ, hành vi cơ bản của tự do là tự lựa chọn, mà khi lựa chọn, con người không biết trước được tương lai Đó là hoài nghi của hiện sinh vì họ không biết sự lựa chọn của mình

Trang 25

đúng hay sai Con người hoài nghi về sự tự lựa chọn của mình vì phải chịu trách nhiệm

về nó Điều đó góp những mặt tích cực nhất định vì nó không chỉ là nỗi bâng khuâng, day dẳng, vò xé về một thứ mơ hồ hay cụ thể mà còn tạo cho con người sự hưng phấn

để tìm thấy cuộc sống thực của mình Con người phải đối mặt với hoài nghi dù có chấp nhận hay không Họ luôn ám ảnh bởi câu hỏi: Ta là ai? Ta đang sống trong tình trạng nào? Và rồi, mỗi người có trách nhiệm đi tìm câu trả lời trong chính sự hiện hữu của mình Có lẽ, chính vì điều này mà con người hiện sinh luôn cảm thấy mình cô đơn Con người cô đơn vì bị kết án tự do từ việc sinh ra cho đến tồn tại giữa cuộc đời Họ tự tạo ra chính mình bằng những lựa chọn hoàn toàn tự do mà không theo một chân lí định sẵn nào Cô đơn có thể đưa con người đến tuyệt vọng, đau thương nhưng cũng có thể thúc đẩy con người đi tìm hướng đi mới Con người ý thức được mình phải lựa chọn, phải tìm hướng đi mới Khi con người lẫn tránh hay đối mặt với hiện thực điều thấy mình cô đơn Và khi con người cảm thấy cô đơn đồng nghĩa với việc họ đã ý thức được sự hiện hữu của bản thân mình trước cuộc đời

Nietzsche đánh thức con người bằng quan niệm “hãy là mình”, hãy sống để khẳng định mình Bằng quan niệm ấy, triết gia muốn con người thoát khỏi sự ru ngủ của tôn giáo, hãy nhận thức về sự hiện hữu chính mình để tạo nên giá trị cuộc sống cho bản thân Không ai tạo ra con người và giúp con người chịu trách nhiệm về những hành vi tội lỗi Cho nên, con người của chủ nghĩa hiện sinh đã “nổi loạn” để phản ứng lại cuộc đời Họ chọn cách sống, thái độ sống trước hiện thực phi lí của cuộc sống để

tự khẳng định mình Con người phải tự vượt lên chính mình để hoàn thiện hơn Nổi loạn trong chủ nghĩa hiện sinh không phải là sự phản ứng bình thường mà đó là sự

phản ứng mãnh liệt của con người Theo Camus “Sự cao cả của con người là ở thái độ

nổi loạn chống lại cái phi lý tính của vũ trụ” [46, tr.224] Hay có thể hiểu, nổi loạn là

sự phản kháng “liều lĩnh” bởi “nổi loạn là sự tự do của tự do nên nó cũng rất đa dạng,

một sự nổi loạn trong triết học hiện sinh phải được coi như một sự vùng dậy, một sự vùng dậy mãnh liệt Sự vùng dậy để phá phách, sự vùng dậy để chấp nhận hay không chấp nhận Sự liều lĩnh cũng vậy, người ta có thể chấp nhận hay không chấp nhận với một thái độ liều lĩnh” (46, tr.224)

Trang 26

Heidegger quan niệm “con người là hiện hữu hướng về cái chết” Cái chết là cái quan trọng nhất của con người, con người “tự do để chết” Chết là cách để con người thoát khỏi cuộc đời phi lý Chủ nghĩa hiện sinh quan niệm, con người từ khi sinh ra là tiến dần đến cái chết Và chỉ khi con người chết đi mới khám phá hết được ý nghĩa của cuộc đời như quan niệm “Tôi chỉ hiện sinh khi không cò hiện sinh nữa” Đối với Sartre, cái chết là giới hạn tận cùng của con người Cái chết trở thành nỗi ám ảnh của chủ nghĩa hiện sinh Con người hiện sinh là con người suy nghĩ, trăn trở về cái chết Cái chết giúp con người ý thức được giá trị của cuộc sống nên con người càng trân trọng cuộc sống, sống hết mình vì sự hiện hữu của mình Vì vậy, nó trở thành một trong những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh

1.2 Sự du nhập và ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965-1975

1.2.1 Bối cảnh xã hội miền Nam 1965-1975

1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội

Hoàn cảnh miền Nam giai đoạn 1965-1975 nói riêng và 1954-1975 nói chung vô cùng phức tạp Đó không chỉ là sự lồng ghép giữa tình hình chính trị căng thẳng, xã hội ngổn ngang mà còn cho thấy sự pha trộn, đấu tranh và giằng co quyết liệt của nhiều khuynh hướng tư tưởng Con người rơi vào cảnh hoang mang tột độ nhất là tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên trước sự khốc liệt và dữ dội của chiến tranh Trong cảnh tang thương, chết chóc, sự ly tán diễn ra từng ngày từng giờ thì chủ nghĩa hiện sinh đã vào miền Nam như một điều tất yếu Nó tác động lên mọi mặt của đời sống xã hội - trong đó có văn học với những mức độ và bình diện khác nhau Sau hiệp định Genève năm 1954, đất nước bị chia cắt làm hai miền Miền Bắc được độc lập và tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa Ngược lại, miền Nam phải sống trong cảnh lệ thuộc ngoại bang với cuộc chiến tranh tàn khốc do người Mỹ gây ra Xã hội miền Nam trở nên hỗn loạn do chính sách ổn định miền Nam của Mỹ và chính quyền Sài Gòn gặp phải sự chống đối quyết liệt của phong trào cách mạng Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường thực hiện chính sách tố cộng Nhiều sắc lệnh, luật lệ được ban hành, nhiều trại giam, nhà tù chính trị được thiết lập Tất cả những chính sách đó nhằm bắt bớ - giam cầm - giết hại những người đấu tranh, bóp nghẹt quyền tự

Trang 27

do của đồng bào miền Nam Năm 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời làm cho tình hình chính trị miền Nam phức tạp lại càng phức tạp hơn với sự tồn tại của nhiều thế lực chính trị khác nhau

Ngược lại, phong trào cách mạng không vì thế mà đứng yên Sau một thời gian tạm lắng, phong trào đấu tranh ở đô thị miền Nam trở lại với sự lớn mạnh và quyết liệt hơn, các phong trào phát triển đa dạng và trưởng thành hơn Năm 1960, sự ra đời của

tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tạo chỗ dựa nhiều mặt cho các lực lượng tiến bộ ở đô thị miền Nam Từ đây phong trào đấu tranh của quần chúng trên nhiều phương diện diễn ra sôi nổi và quyết liệt, trong đó, có cả những cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa Vấp phải sự đấu tranh của phong trào cách mạng, kế hoạch của Mỹ và chính quyền Sài Gòn thất bại Chính sự thất bại này đã dẫn đến tình

cảnh “tao loạn” của xã hội miền Nam như Võ Phiến đã nhận định: “Sau một loạt lục

đục, thất bại, miền Nam sống những năm cuối cùng của mình trong chết chóc thảm thê, trong máu me bê bết, ngụp lặn trong đọa lạc nhầy nhụa, trong tội ác ngập tràn…”

[67, tr.68]

Từ năm 1954, nhằm thực hiện mưu đồ thao túng miền Nam, Mỹ đã dựng lên chính quyền tay sai do người bản xứ cai trị Đây là kế hoạch trong việc khơi dậy niềm tin cho người dân về cái được gọi là dân chủ, tự do Mỹ “viện trợ” tối đa về tiền bạc và con người cho quân đội Sài Gòn để thực hiện mục đích đó Lúc này, trên mặt trận miền Nam có đến 543 ngàn lính Mỹ chưa kể quân đồng minh và binh lính Sài Gòn Dòng thác đô-la đã biến miền Nam trở thành một xã hội tiêu thụ Những người sống dựa vào chính quyền có đời sống phong lưu Đó cũng là lí do khiến nhiều người muốn kéo dài chiến tranh và sự hiện diện của Mỹ ở miền Nam Mỗi năm, Mỹ viện trợ hàng tỉ đô-la cho quân sự Bên cạnh đó, Mỹ còn tăng cường viện trợ cho các chương trình kinh tế Qua số liệu của Donald MacDonald, giám đốc Cơ quan phát triển quốc tế USAID ta thấy

“số viện trợ dự trù cho Việt Nam trong năm 1970 lên đến 514,2 triệu Mỹ kim, gồm 106 triệu cho chương trình thực phẩm phụng sự hòa bình, 240 triệu trong chương trình nhập cảng thương mại CIP và 168,2 triệu cho các dự án phát triển Số viện trợ

Trang 28

dự trù này đã hơn năm 1969 là 128,9 triệu và gần đạt đến mức năm 1968 (543,3 triệu)” [71]

Xã hội vật chất đã dựng nên một miền Nam phồn thịnh, ấm êm trong mắt của nhiều người Họ thầm biết ơn và ra sức ca ngợi chính quyền Nhưng cái giá phải trả cho một xã hội phong lưu ấy không hề nhỏ - đó là độc lập và tự do của dân tộc

Kinh tế - xã hội miền Nam trong giai đoạn này cũng rơi vào tình trạng rối ren không kém tình hình chính trị Không tránh khỏi số phận của một nạn nhân trong cuộc

“cách mạng của giới tiêu thụ”, miền Nam trở thành xã hội tiêu thụ bởi cuộc chiến tranh trở nên ngọt ngào với sức hút khó cưỡng của vật chất

Đầu những năm 70, quảng cáo ngày càng được mở rộng trên các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng của quần chúng Các mặt hàng xa xỉ như xe hơi, xe máy, bia rượu, máy điện lạnh cho đến mỹ phẩm, giày dép… nhanh chóng trở thành đối tượng được quảng cáo rộng rãi Ở đô thị miền Nam giai đoạn này, bên cạnh tình trạng thất nghiệp, đói khổ của người lao động, sự trôi dạt, tạm

bợ, bấp bênh của những người nông dân là lối sống phong lưu của bộ phận không nhỏ thành phần thị dân Họ chạy theo xã hội vật chất và sẵn sàng bỏ lại những giá trị tinh thần hay cố quên đi quyền tự do, nền độc lập của dân tộc Tâm lí hưởng thụ đã tạo cho người dân một cách nghĩ, một lối sống hiện sinh không đúng nghĩa Chiến tranh đã giày xéo tan nát quê hương Đó là xã hội miền Nam với sự phân hóa tư tưởng vô cùng phức tạp:

Xã hội miền Nam 1954-1975 đã chứng kiến những xung đột giữa khát vọng hoà bình, độc lập, thống nhất của đồng bào với sự can thiệp của Mỹ và các chính quyền thân Mỹ, những mâu thuẫn ngay trong nội bộ các thế lực cầm quyền đồng thời với sự phân hóa trong lòng quần chúng, giữa các tầng lớp giàu có và nghèo khổ, giữa các tín đồ của những tôn giáo khác nhau [71] Bằng những cảnh đời, số phận khác nhau nên thái độ của mỗi người đối với

chiến tranh, đối với chính quyền có sự khác nhau: một bên là chống cộng, ca ngợi, ủng

hộ chính quyền Sài Gòn, muốn kéo dài chiến tranh; một bên là phản đối, lên án, muốn nhanh chóng kết thúc chiến tranh và tiến tới thống nhất đất nước Bộ phận trí thức có tâm với dân tộc không khỏi khắc khoải, suy tư trước sự hoang tàn, tan tác của quê

Trang 29

hương; trước thân phận mong manh, nhỏ bé của con người Họ đã nhập cuộc bằng những hành động cụ thể Năm 1968, văn bản lời kêu gọi do giáo sư Lý Chánh Trung soạn thảo được sự thống nhất của 65 nhà giáo dục đại học đã nói lên được nguyện vọng thiết tha của người dân miền Nam trong nhiều năm lửa khói chiến tranh về một

cái tết đoàn tụ, hòa bình

Cuộc chiến tranh hiện tại đang đe dọa đến sự sống còn của toàn thể dân tộc Việt Nam trên cả hai bình diện vật chất và tinh thần, do đó mỗi người dân Việt Nam đều có bổn phận góp tìm một lối thoát hợp tình hợp lý cho quê hương Là những giáo chức, chúng tôi càng cảm thấy sâu xa bổn phận này, bởi lẽ không có gì mâu thuẫn với giáo dục cho bằng những cảnh bạo động, tàn phá, giết chóc, đồi trụy, dơ bẩn do chiến tranh gây ra [Báo Sống Mới,

ngày 24-1-1968, Dẫn lại theo Lý Chánh Trung: Đối diện với chiến tranh,

Nxb Trẻ, TP HCM, 2000, tr 21.]

Từ những vấn đề nêu trên, ta thấy đằng sau biến động chính trị, những phân hóa của xã hội là nỗi đau tột cùng của con người miền Nam Nỗi đau đó không chỉ là nỗi đau khi nhìn thấy quê hương bị tàn phá mà còn là nỗi thất vọng trước sự vô tâm của chính quyền, là sự tổn thương trong tâm hồn, hoang mang trong tư tưởng của người dân ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965-1975, nhất là giới trí thức

1.2.1.2 Bối cảnh văn hóa

Người Mỹ đã sử dụng văn hóa như một thủ đoạn trong kế hoạch thao túng, chinh

phục miền Nam Bởi vì“Xâm lăng văn hóa vừa là một trong những phương tiện chủ

chốt vừa là mục tiêu chiến lược quan trọng của chủ nghĩa đế quốc Mỹ” [80, tr.17] nên

từ năm 1954, cùng với những cây bút sẵn có, Mỹ ráo riết lôi kéo giới văn nghệ sĩ trong dòng người di cư từ Bắc vào Nam Nhiều tổ chức quản lí văn nghệ được thành lập nhằm hỗ trợ cho hoạt động văn hóa chống cộng, tiêu biểu là Cục Văn hóa Văn nghệ thuộc Tổng cục chiến tranh chính trị Dù khác nhau ở cách hoạt động nhưng các tổ chức này có chung mục tiêu là du nhập văn hóa Âu Mỹ vào miền Nam Trong đó, một

số tổ chức có nhiệm vụ “đón tiếp sự “viện trợ văn hóa” của các nước khác rồi chuyển

lại cho các tổ chức văn hóa Sài Gòn tiêu thụ” [110, tr.59] như hội Việt Mỹ, Hội Văn

hóa Á Châu, nhóm Bút Việt… do chính quyền Sài Gòn đảm nhiệm và hỗ trợ Các tổ

Trang 30

chức còn lại do Mỹ đảm nhiệm với vai trò “Đưa văn hóa Mỹ xâm nhập vào xã hội

miền Nam, tha hóa tinh thần, đày (đẩy) nền văn hóa truyền thống của dân tộc Việt xuống mức lệ thuộc, nô dịch, đi đến chỗ bị tiêu diệt” [110, tr.60] Điều này cho thấy

khi chiến tranh leo thang, khi miền Nam trở thành “trại lính khổng lồ” thì lối sống đồi trụy của lính Mỹ nhanh chóng ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, đặc biệt là thanh niên Lóa mắt trước xã hội vật chất cùng tâm lí hưởng thụ đã tạo cho giới trẻ thành thị và giới thượng lưu một lối sống mà họ tự nhận đó là “hiện sinh” Trong bài

viết Một thời đạn bom, một thời hòa bình, Lý Chánh Trung có nhắc tới quan điểm hiện sinh trong một bộ phận giới trẻ miền Nam lúc bấy giờ: “lý tưởng duy nhất của một số

thanh niên nam nữ mỗi ngày một đông hơn là được ăn mặc như Mỹ, nhảy nhót như

Mỹ, làm tiền như Mỹ và làm tình như Mỹ” [100, tr.29] Chính quyền ra sức đón nhận

và ủng hộ những nét văn hóa lai căng, lối sống hưởng thụ và tạo ra một xã hội vật chất như một cách lấp liếm, che đậy tình hình thực tại đen tối của của xã hội miền Nam Có nhiều luồng tư tưởng phương Tây được tiếp nhận một cách hời hợt, không đúng nghĩa

Họ tiếp nhận những tư tưởng “bọt bèo” và cho đó là lối sống hiện đại, lối sống phương Tây

Không chỉ dừng lại ở việc ủng hộ văn hóa Âu Mỹ, chính quyền còn làm ngơ trước sự bảo tồn văn hóa dân tộc thậm chí ra sức kìm hãm sự phát triển của chúng Một mặt chính quyền Sài Gòn phát triển các tổ chức định hướng văn hóa, mặt khác thiết lập hệ thống kiểm duyệt sách báo và xuất bản Sự kiểm soát chặt chẽ thể hiện rõ

nhất trong chính quyền là việc ra sức tịch thu sách báo “Tính từ đầu năm 1970 đến

giữa năm 1971, trong vòng một năm rưỡi, đã có 660 vụ tịch thu đối với nhật báo và

295 vụ đối với báo định kỳ Riêng tháng 6-1971 có đến 75 vụ và không ngày nào là không có tịch thu báo (Phúc trình của Ủy ban Ngoại giao – Thông tin Thượng nghị

viện Việt Nam Cộng hòa năm 1971 Dẫn lại theo Thế Nguyên: “Báo chí và xuất bản miền Nam dưới chế độ Mỹ ngụy”, trong Văn hóa, văn nghệ miền Nam dưới chế độ

Mỹ ngụy, Tập II, Nxb Văn Hóa, Hà Nội, 1979, tr 265)

Đây cũng là lí do chính khiến văn học yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975 mang dáng dấp riêng dù thể hiện chủ đề rất chung của lịch sử văn học dân tộc Hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ trở nên phong phú, đa dạng, cùng với sự luồng lách

Trang 31

của những ấn phẩm công khai, bán công khai, hay những tác phẩm bí mật và hình thức sinh hoạt văn nghệ khác nhau đã đánh động đến trái tim của người Việt Nam yêu nước Họ thổn thức, trăn trở về số phận của quê hương, vận mệnh của đất nước Những cuộc biểu tình, tuần hành, mít-tinh của quần chúng, ánh sáng bất diệt từ ngọn lửa của những người tự thiêu để phản đối chính quyền đã lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa đang diễn ra ở miền Nam

Những cây bút trẻ trong thời kì này đã tiếp thu và phát triển tinh thần yêu nước trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn Họ xem đó là một mặt trận chiến đấu trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Nhiều cây bút thể hiện được bản lĩnh, sự dày dặn của mình ngay trong tác phẩm

Bên cạnh đó, chính sách định hướng văn hóa của chính quyền trong việc tuyên truyền, phổ biến văn hóa Âu Mỹ đã tạo nên sự tự do nhất định của báo chí Điều đó đã

vô tình tạo điều kiện cho văn học yêu nước có cơ hội phát triển công khai Họ đã cất lên nỗi lòng của hàng triệu trái tim người Việt Nam yêu nước để từ đó nhận được tiếng

nói đồng ý, đồng tình trong quần chúng như Hoàng Phủ Ngọc Phan đã nhận định “Bút

vẫn mọc thành rừng chông Máu vẫn hòa thành mực Và bút ấy, mực ấy, máu, mồ hôi

và nước mắt của phong trào đã kết thành trăm mạch suối nguồn tuôn chảy để cùng hợp lưu thành một Giòng Văn Hóa Văn Nghệ Yêu Nước Tiến Bộ” (dẫn theo Trần Hữu

Lục [55].)

Thật vậy, văn học yêu nước ở đô thị miền Nam tập hợp lực lượng sáng tác đông

đảo nhất là những cây bút trẻ Dù cho “mỗi người một hoàn cảnh, một tính cách riêng,

có thể rất khác nhau, nhưng lại có chung một khát vọng: Đất nước độc lập, thống nhất, phú cường; xã hội bình đẳng, ấm no Bộ phận thanh niên này nghĩ rằng sự lựa chọn đó là đúng với tinh thần kẻ sĩ Á Đông và hợp với xu thế của thời đại Điều đáng nói nhất toát lên từ tâm hồn họ là sự lạc quan, trong sáng Họ đã sống trọn vẹn cho một thứ tính cảm: Tình yêu nước” [112, tr.14]

Nhìn chung, nhân dân miền Nam Việt Nam từ năm 1955 đến năm 1975 đã phải sống trong một hoàn cảnh xã hội phức tạp, tình hình chính trị rối ren và sự du nhập phức tạp của văn hóa phương Tây Trước nguy cơ đánh mất tự do, dân chủ, đánh mất chính mình, nhiều tiếng nói thức tỉnh kịp thời đã tác động đến nhận thức của các tầng

Trang 32

lớp, nhất là thanh niên, trí thức Do đó, mặc dù tồn tại nhiều luồng tư tưởng phức tạp nhưng ý thức về tự do, về thân phận nô lệ dần dần thành hình trong tâm thức mỗi con người

1.2.2 Sự du nhập của chủ nghĩa hiện sinh vào miền Nam 1965-1975

Chủ nghĩa hiện sinh có mặt tại miền Nam từ sớm nhưng thực sự bám rễ vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Từ những năm 50, hoàn cảnh lịch sử - xã hội đã tạo điều kiện cho chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện Song sự xuất hiện này chưa làm ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Đầu tiên đó chỉ là những bài phê bình, giới thiệu trên các

báo, các tạp chí của Đại học, Sáng Tạo, Bách khoa, Văn hóa Á Châu… Có nhiều lí do

khác nhau mà chủ nghĩa hiện sinh chưa được chú ý ở miền Nam Có thể nói, trước hết

do sự “định hướng” của chính quyền Sài Gòn trong việc dẫn dắt tư tưởng của quần chúng nhân dân Chủ nghĩa duy linh – nhân vị được xem là hệ tư tưởng chính thống Ngoài ra còn một nguyên nhân rất quan trọng, theo Trần Hoài Anh đó là

Hoàn cảnh xã hội lúc này còn chưa phù hợp, văn học miền Nam chỉ mới phôi thai, chiến tranh chưa ác liệt như những năm sau này, chưa tác động nhiều đến những suy tư về thân phận con người nên chủ nghĩa hiện sinh cũng chưa có mảnh đất màu mỡ để phát triển [2, tr.198]

Nhưng đến đầu những năm 60 khi chiến tranh leo thang, xã hội miền Nam rơi vào cơn “tao loạn” và chủ nghĩa duy linh – nhân vị sụp đổ Và tất cả những yếu tố trên

là những điều kiện tốt nhất để chủ nghĩa hiện sinh phát triển Cuộc chiến khốc liệt không chỉ dẫn đến những mất mát về vật chất mà còn đem đến những tổn thương trong

tâm hồn con người Đó là những vết thương khó lành trong tim người Việt Điều này

đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới tri thức đặc biệt là văn nghệ sĩ Thời điểm đó, chủ nghĩa hiện sinh bắt đầu được tiếp nhận, phổ biến một cách hệ thống Không chỉ xuất hiện các bài viết trên báo chí, chủ nghĩa hiện sinh còn được soạn thành giáo trình giảng dạy ở các trường đại học, trung học và viết thành sách để xuất bản Nó trở thành

hệ tư tưởng ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ đến đời sống xã hội miền Nam trong những năm 1965-1975 Trước sự sụp đổ của chủ nghĩa duy linh – nhân vị, chính quyền Sài Gòn sử dụng và đề cao tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh như một cách để đánh lạc

Trang 33

hướng bộ phận thanh niên khỏi thời cuộc Và đó cũng là kế hoạch cho việc xây dựng nền văn hóa thực dân kiểu mới Lý Chánh Trung nhận định:

Trên khắp thế giới, chỉ có chính quyền Việt Nam là dám hợp thức hóa và khuyến khích công khai phong trào hippy! Bởi vì trên thực tế chỉ có hippy Việt Nam là ủng hộ chính quyền! Hippy Mỹ sống phóng túng thác loạn là muốn phản đối thế giới người lớn Hippy Việt Nam phục tùng thế giới người lớn để được sống thác loạn phóng túng… Cho nên Hippy Việt Nam

bắt chước Hippy Mỹ như con khỉ bắt chước con người [76, tr.248-249]

Được sự ủng hộ của chính quyền Sài Gòn, mặt khác phù hợp với hoàn cảnh xã hội miền Nam, đặc biệt là sự hoang mang của giới tri thức nên chủ nghĩa hiện sinh được phát triển một cách nhanh chóng

Nhiều tác phẩm tiếng nước ngoài của các nhà văn, triết gia hiện sinh được dịch

sang tiếng Việt, sau đó được giới thiệu và xuất bản rộng rãi như Sartre và Heidegger

trên thảm xanh - Tam Ích dịch, Hiện tượng luận về hiện sinh - Đặng Phùng Quân dịch

Những triết gia chủ lực của chủ nghĩa hiện sinh được các dịch giả quan tâm như

J.P.Sartre, Albert Camus, Nhiều tác phẩm của Sartre được dịch như Văn chương là

gì? – bản dịch của Nguyễn Văn Tạo (1968); Bức tường lửa - bản dịch của Lê Thanh

Hoàng Dân và Mai Văn Phúc (1973) Nhiều dịch giả chú ý và dịch các tác phẩm

Albert Camus như Bùi Giáng có Giao cảm (1967), Ngộ nhận (1972); Trần Thiện Đạo

có Sa đọa (1972), và Franscoise Sagan đến với miền Nam qua tác phẩm Một chút mặt

trời trong giá lạnh – bản dịch của Kiều Diễm Hồng (1969) Ngoài sách, chủ nghĩa

hiện sinh còn xuất hiện nhiều trên các tạp chí dưới dạng bài báo khoa học như: tạp chí

Sáng tạo có các bài Khái niệm về chủ nghĩa hiện sinh của Quang Ninh, Trình bày và phê bình hai quan niệm nổi loạn của Albert Camus của Thạch Chương; tạp chí Bách khoa có các bài như Những đề tài chính của triết học hiện sinh, Bộ mặt thật của triết học hiện sinh, Heidegger và bản chất của thi ca… của Trần Hương Tử, Lập trường văn nghệ của Albert Camus của Cô Liêu, Con người siêu việt của Nguyễn Anh Linh;

tạp chí Văn có các bài như Tìm hiểu đạo đức của J.P.Sartre của Trần Thiện Đạo; Lịch

sử của cảm giác buồn nôn trong văn học phương Tây của Hoàng Văn Đức, Gặp gỡ giữa Ôn Như Hầu và Albert Camus; tạp chí Tư tưởng có các bài Đức phật và

Trang 34

Nietzsche, Trầm tư về cái chết trong tư tưởng Heidegger và phật giáo của Chơn Hạnh

(1971), Bản thuyết trình về tình yêu trong triết học Kierkegaard của Lê Tôn Nghiêm (1971)…

Bằng số lượng lớn những tác phẩm với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, có thể nói chủ nghĩa hiện sinh lúc này trở thành trào lưu tư tưởng hiện đại phương Tây quan trọng và phổ biến nhất ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965-1975 Nó ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến tình hình chính trị xã hội Chủ nghĩa hiện sinh đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn hóa, tư tưởng của con người ở đô thị miền Nam Điều này ít nhiều có ảnh hưởng và làm thay đổi nhận thức về số phận của con người trong

xã hội miền Nam lúc bấy giờ

1.2.3 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở đô thị miền Nam 1965-1975

Chủ nghĩa hiện sinh đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học ở đô thị miền Nam giai

đoạn 1954-1975 nói chung và giai đoạn 1965-1975 nói riêng Giới trí thức miền Nam

không phân định rạch ròi là đã chịu ảnh hưởng theo nhánh nào của chủ nghĩa hiện sinh

mà hầu hết họ tiếp nhận tinh thần hiện sinh Bởi lẽ khó phân biệt được đâu là ảnh hưởng của triết học, đâu là ảnh hưởng của văn học hiện sinh trong khi các triết gia hiện sinh thường cũng là các nhà văn hiện sinh vĩ đại Cho nên sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở đô thị miền Nam lúc này được hiểu là cả triết học lẫn văn học hiện sinh…

Trong Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975, Trần Hoài Anh nhận định:

Văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975, đặc biệt là từ những năm sáu mươi trở đi chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa hiện sinh trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện Hầu hết những người cầm bút này luôn có ý thức đưa triết học hiện sinh vào tác phẩm của mình [2, tr.200]

1.2.3.1 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong tiếp nhận và phê bình văn học

Phê bình hiện sinh trở thành một khuynh hướng phê bình văn học phổ biến ở đô thị miền Nam Ở đây, các nhà phê bình dùng triết học hiện sinh làm cơ sở mỹ học để

Trang 35

đánh giá các hiện tượng văn học Hệ thống các phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh thành

hệ quy chiếu trong việc “thẩm bình” tác phẩm

Ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965-1975, nhiều hiện tượng văn học truyền thống được đánh giá dưới góc nhìn “hiện sinh” mang đến cho nền lí luận phê bình nét mới,

sự phong phú trong hướng tiếp cận tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ được khai thác ở góc độ thi pháp học, xã hội học… mà còn được đánh giá dưới góc nhìn hiện sinh Thanh Lãng nhận định về việc nghiên cứu phê bình Truyện Kiều theo

khuynh hướng hiện sinh của giới phê bình miền Nam “Ở trong Nam sau khi người ta

đã chán phân tích khen chê một cách lảm nhảm từ cách đặt câu, chọn tiếng, một lớp nhà phê bình trẻ chịu ảnh hưởng của học thuyết hiện sinh đã đem ra một lối nhìn mới

về Kiều” [45, tr.16] Thật vậy, có nhiều bài nghiên cứu theo khuynh hướng phê bình

hiện sinh về Truyện Kiều như: “Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do” của Nguyên Sa; “Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh” của Lê Tuyên; “Vũ trụ thơ”

của Đặng Tiến… Ở mỗi bài viết, tác giả chọn một số phạm trù nhất định của chủ nghĩa hiện sinh làm hệ quy chiếu, đánh giá Nguyên Sa chọn phạm trù tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh là “tự do” để lí giải số phận của Kiều Kiều tự do lựa chọn số phận của mình và phải chịu trách nhiệm trước sự lựa chọn đó Số phận khắc nghiệt nhưng ở đó lại đặt ra nhiều sự lựa chọn khác nhau Kiều có số phận trôi dạt, chìm nổi, lênh đênh là kết quả của sự lựa chọn bán mình chuộc cha, không có đấng siêu nhiên nào sắp đặt cuộc đời Kiều phải như thế Với Lê Tuyên, thời gian trong Truyện Kiều suy cho cùng

là thời gian hiện sinh - thời gian của hư vô và phi lí Phạm trù cái chết luôn ám ảnh nhân vật trong truyện Kiều:

Đi về tương lai từ quá khứ và qua hiện hữu, nghĩa là đi về phi lý của nấm

mồ ( ) Con người sống luôn ao ước ngày mai, luôn nghĩ đến ngày mai, một ngày mai mà có lẽ con người không nên nghĩ đến, có lẽ nên phải từ khước,

vì ngày mai là cái chết, vì ngày mai là tiếng đoạn trường [103, tr.52]

Trong tiểu luận phê bình "Vũ trụ thơ", qua số phận éo le của Kiều, tác giả Đặng Tiến thấy được phạm trù phi lí của hiện sinh, cái phi lí của cuộc đời Sự hiện hữu phi lí

từ khi Kiều bị “ném” vào cuộc đời một cách ngẫu nhiên Trải qua những trắc trở, éo le, dâu bể của cuộc đời, Kiều càng ý thức sâu sắc về điều đó

Trang 36

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết khác của những nhà nghiên cứu phê bình theo

khuynh hướng hiện sinh về các tác phẩm của tác giả trung đại khác Trong Chinh phụ

ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày, Lê Tuyên vận dụng những phạm trù của

chủ nghĩa hiện sinh hiện hữu, cô đơn, tha nhân, thân phận lưu đày… để lí giải cách

đánh giá về Chinh phụ ngâm Cùng với sự ra đi của người chinh phu là “một kiếp sống

lưu đày tình cảm” Tác phẩm là tiếng kêu thất thanh trong đêm trường vô vọng về sự hiện hữu với cuộc đời của người chinh phụ Nhưng đó là tiếng kêu thương đi vào tuyệt

vọng: “ta làm sao nghe được, biết được kẻ kia và trái lại kẻ kia làm sao nghe được,

biết được tiếng nói của ta, con người vì vậy sống trong hai lần cô đơn bi thiết, cô đơn của mình và cô đơn của tha nhân mà chính mình đang hứng chịu cho cả tha nhân”

[102, tr.36] Bên cạnh đó, sáng tác của các tác giả ở đô thị miền Nam còn được nghiên

cứu dưới góc nhìn hiện sinh trong một công trình dài hơi của Huỳnh Phan Anh – Đi

tìm tác phẩm văn chương Ở đây tác giả chỉ ra sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh

hoặc dùng chủ nghĩa hiện sinh để giải mã các tác phẩm Huỳnh Phan Anh viết về tác giả nổi tiếng thế giới như Samuel Beckett, Jean Paul Sartre, Simone De Beauvoir đến các tác giả trong nước như Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Nhất Linh, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo…

Bằng việc vận dụng tư tưởng phương Tây hiện đại vào thẩm bình, đánh giá văn học dân tộc, khuynh hướng phê bình hiện sinh đã góp thêm một nhánh rẽ trong dòng chảy phê bình văn học Việt Nam Và đặc biệt, nó góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965-1975 nói riêng và 1954-1975 nói chung Bên cạnh những khuynh hướng khác như khuynh hướng phê bình giáo khoa, khuynh hướng phê bình phân tâm học, khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng quan điểm Mác xít, khuynh phướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng các tôn giáo thì khuynh hướng phê bình hiện sinh giúp đội ngũ nghiên cứu phê bình tri nhận những giá trị của tác phẩm văn học theo quan điểm mới

Cũng như những trào lưu tư tưởng khác, chủ nghĩa hiện sinh du nhập tác động vào xã hội miền Nam cả những mặt tích cực và hạn chế Nhất là trong bối cảnh rối ren

và phức tạp của xã hội miền Nam giai đoạn 1965-1975 Nếu không hiểu đúng và đầy

đủ về bản chất của hiện sinh thì sẽ dẫn đến suy nghĩ và lối sống tiêu cực Trong Phác

Trang 37

họa chân dung một thế hệ, Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã thấy bối cảnh xã hội ở phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ hai:

Điều kiện cơ bản nhất cho triết lí hiện sinh của Jean Paul Sartre, và cả của Albert Camus, nhanh chóng biến thành một thứ triết lí thời đại, nhanh chóng đưa đến lối sống buông thả, phá cách và hoàn toàn lạc lõng của thanh niên Pháp mà tiêu biểu là những thanh niên quy tụ ở khu Saint Germain dé Prés Nhưng thực ra, lối sống buông thả đó chỉ là bọt bèo tiêu biểu cho cách thể hiện hời hợt một triết lí có chiều sâu [112, tr.224 – 225]

Ở miền Nam, nhiều người gắn hai từ “hiện sinh” với lối ăn chơi, thác loạn của một bộ phận giới trẻ Sài Gòn Họ coi đây là tư tưởng hiện sinh của Sartre và Camus dù

bộ phận giới trẻ đó không hiểu gì về “hiện sinh”

Qua đây, ta thấy khuynh hướng phê bình hiện sinh có vai trò to lớn trong việc đánh giá tác phẩm văn học trong một hoàn cảnh đặc thù như xã hội miền Nam Đó như một hệ quả tất yếu của sự du nhập dòng tư tưởng này cùng sự phát triển rầm rộ của nền văn học hiện sinh ở đô thị miền Nam giai đoạn 1965 – 1975

1.2.3.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác văn học

Chủ nghĩa hiện sinh ảnh hưởng đến sáng tác văn học như một kết quả tất yếu của hoàn cảnh xã hội và tình hình văn học những năm 1954 – 1975 nói chung và 1965-

1975 nói riêng Các thể loại đều ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi dòng tư tưởng phương Tây hiện đại này Song, do những đặc trưng về thể loại nên thơ ca, tiểu thuyết và truyện ngắn có lẽ là những thể loại chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất, là những đối tượng thích hợp nhất cho việc “dung nạp” chủ nghĩa hiện sinh

Thơ ca giữ vai trò tiên phong trong giai đoạn này do sự phù hợp nhất định về thể loại Trên đà phát triển mạnh mẽ đó, chủ nghĩa hiện sinh bằng cách này hay cách khác thâm nhập và thẩm thấu vào tác phẩm của nhiều cây bút Có thể nói, ở giai đoạn này, Thơ ca miền Nam chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh theo nhiều hướng khác nhau Nó là thơ của một thế hệ đang suy tư, hoang mang, đau khổ và dằn vặt nhưng đồng thời cũng là thơ của sự trỗi dậy, dấn thân và nhập cuộc Nhiều nhà thơ đã đem tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh, thậm chí gọi đích danh nó trong tác phẩm của mình Tiêu biểu trong số đó có Bùi Giáng, Nguyên Sa, Ngô Kha, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử

Trang 38

Lê, Nhã Ca, Mai Thảo, Trần Dạ Từ, Trần Quang Long, Trần Phá Nhạc, Đông Trình…

Họ viết về sự mong manh, vô định của con người, những buồn đau, hoang mang, hoài nghi và đổ vỡ Hoài Khanh viết về nỗi cô đơn, sự bất lực, hữu hạn của con người trước cái vô hạn của thời gian Triết lí về những suy tư cuộc đời nhuốm màu hiện sinh

Tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể

Mây của trời rồi gió sẽ mang đi

Rồi em lại ra đi như đã đến

Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù

(Ngồi lại bên cầu – Hoài Khanh)

Bùi Giáng đau đáu về thân phận của con người, hoài nghi cuộc đời, và tự nhận

mình là người đứng bên Bờ trần gian “ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân biến

đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được"

Hỡi Thượng đế! Cúi đầu con thưa lại

Ở trần gian ai cũng khổ liên miên

Người đã dựng cảnh tù đày đọa mãi

Để làm gì! Cho sáng nghĩa vô biên

(Dâng - Bùi Giáng)

Trần Dạ Từ suy tư về kiếp người vô định, hoang mang về sự tự do của con người Chúng ta tự do lựa chọn trước những “ngã tư” của cuộc đời để rồi tự chịu trách

nhiệm về nó Bởi lẽ “cuộc đời lắm những ngã tư, ta không biết ngã tư nào là lưu

manh, ngã tư nào là đọa lạc” Đó là “ngã tư phố, ngã tư trong đời, ngã tư chết người, ngã tư chảy máu, ngã tư súng đạn, ngã tư lựa chọn hoặc-mẹ-hoặc-con, ngã tư láo nháo nốt chân,…” [8, tr.169]

Ở cuối con đường này

Là dĩ vãng khủng khiếp

Quẹo về bên trái

Những chuyến tàu tám giờ

Tiếng còi trầm réo gọi

Thôi tôi dừng lại đây

Trang 39

Hai vỉa hè tăm tối

Người chớ khóc than chi, đời đã thế

Ta lâm chung ngay tự thủa chào lòng

Môi đã chết ngay khi hồn đã nhận

Thân đã buồn khi ngực đẫm hơi quen

(Bài cuối năm – Du Tử Lê)

Nhưng bên cạnh đó, có những phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh thấm đẫm trong những trang thơ mang màu sắc khác Nhận ra cái phi lí của hoàn cảnh thực tại, các nhà thơ tìm tới tự do gắn với khát vọng hòa hợp dân tộc

Cây trên cành đều mọc chung một góc

Nước trong sông cũng phát tự một nguồn

Nhưng chúng ta có đến… hai Tổ quốc

Thật không còn điều mỉa mai nào hơn!

(Điều mỉa mai cũng là điều giản dị - Đông Trình)

Truyện ngắn, tiểu thuyết là hai thể loại chịu sự ảnh hưởng lớn của chủ nghĩa hiện sinh Ở mỗi tác phẩm, ta cảm nhận mất mát đau thương, chết chóc, điêu tàn của chiến tranh trong từng trang viết Màu sắc hiện sinh không chỉ được thể hiện qua tư tưởng

mà còn ngay trong tên gọi tác phẩm Chẳng hạn như: Thềm địa ngục, Thương tích,

Tiếng khóc vào đời, Uyên buồn của Nguyên Vũ; Bóng tối thời con gái, Cô Hippy lạc loài, Sống một ngày của Nhã Ca; Bao giờ hết thương đau, Bóng tối cuộc đời, Cành đào trong bão xoáy, Chân son đường lầy, Chuỗi sầu em đeo, Đôi chim trong bão tố, Hoa môi tàn nụ, Một mình, Mùa đông cô đơn, Nửa gối cô đơn của Nghiêm Lệ

Quân; Cát lầy, Mù khơi của Thanh Tâm Tuyền Không dừng lại ở đó, chủ nghĩa hiện

sinh đi vào từng nhân vật trong tác phẩm Đó có thể là những nhân vật cho cô đơn,

Trang 40

chán chường, tuyệt vọng “Tôi nốc ba ngụm bia thong thả, đắm đuối Một ngụm cho cô

đơn, một cho tình yêu, một cho sự chết” [35, tr.138] Các nhân vật đã vùng lên chống

lại số phận, chống lại cuộc đời bằng cách nổi loạn dù chỉ là phút chốc: “Tôi muốn nổi

loạn tức thì, đi chơi, phá phách, thật điên cuồng, mê mải, để trong một lúc có thể nhấn chìm con người tôi xuống đáy biển, quá khứ tối tăm, cho tôi quên đi, quên tôi đang sống, nghĩa là gần đến cái chết” [36, tr.8]

Chủ nghĩa hiện sinh ảnh hưởng đến sáng tác văn học trên tất cả các phương diện

ở hầu hết các thể loại với mức độ khác nhau Ở mỗi khuynh hướng, chủ nghĩa hiện sinh có một ảnh hưởng nhất định Bên cạnh khuynh văn học yêu nước tiến bộ với những phạm trù dấn thân, nhập cuộc thì có khuynh hướng thoát ly với nỗi cô đơn, tuyệt vọng; Bên cạnh ca ngợi, tung hô chính quyền thì có những sáng tác hướng về phản đối chiến tranh, cổ vũ cho sự hòa hợp dân tộc… Nhưng tổng hòa lại, nó làm nên bức tranh chung của nền văn học miền Nam đa dạng và phức tạp như chính bối cảnh lịch sử sản sinh ra nó Có thể nói, sáng tác văn học là con đường giúp chủ nghĩa hiện sinh thâm nhập vào đời sống, xã hội miền Nam một cách mạnh mẽ và toàn diện nhất

1.3 Vài nét về thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam 1965-1975

1.3.1 Đội ngũ sáng tác

Được hình thành từ những năm 1954, sau khi đất nước bị chia cắt, đội ngũ sáng tác văn học yêu nước nói chung và thơ ca thơ ca yêu nước không ngừng phát triển Đến giai đoạn 1965 – 1975, thơ ca yêu nước ở đô thị miền Nam được bổ sung lực lượng sáng tác rất đáng kể Sự góp mặt đông đảo về lực lượng đã làm khởi sắc thơ ca

giai đoạn này Đó là một thế hệ thanh niên ““Làm chính trị” với thái độ của những

người trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường, chịu sự tác động của nhiều luồng tư tưởng, triết học khác nhau, ở trong nhà trường hoặc ở ngoài ngoài xã hội, như Nho giáo, Lão

giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, hiện sinh, kể cả chủ nghĩa anh hùng cá nhân” [112,

tr.14]

Tuy đa dạng về phong cách nhưng tựu trung lại ở họ có một số điểm chung nhất định

Trước hết, đây là giai đoạn tập hợp những cây bút trẻ, nhiệt huyết và có trình độ

Họ không chỉ trẻ về tuổi đời, trẻ về tuổi nghề mà còn trẻ trong “hồn thơ” Trần Hữu Tá

Ngày đăng: 02/01/2021, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w