Tác giả nhấn mạnh "Một ñặc ñiểm trong tư duy hình tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc ñời: ñời người với ñời con cò và con bống"; " Người lao ñộng ñã lấy những con vật nhỏ bé ñể tượng tr
Trang 1LỜI CAM ðOAN
Tôi cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược
ai công bố, trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Trần Thị Thúy Hà
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ðẦU……….……… 1
1 Tính cấp thiết của ñề tài ……….…… ………2
2 Mục tiêu nghiên cứu……….2
3 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu ñề tài……… ……… 2
4 Phương pháp nghiên cứu……….……….3
5 Bố cục của ñề tài……….… 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu……….……….4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ðẾN ðỀ TÀI……… 9
1.1.KHÁI QUÁT VỀ CA DAO VÀ NGÔN NGỮ CA DAO………… … 9
1.1.1 Khái quát về ca dao……… ……… ……… … 9
1.1.2 ðặc trưng ngôn ngữ ca dao 15
1.2 KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƯỢNG TRONG CA DAO…… … ……21
1.2.1 Quan niệm về biểu tượng…… ……… ….21
1.2.2 Nguồn gốc của biểu tượng trong ca dao…… ……… ……… ….23
1.2.3 Các loại biểu tượng trong ca dao… ……….… 27
1.3 KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ BIỂU TƯỢNG TRONG CA DAO……….….29
1.3.1 Ngôn ngữ biểu tượng……… ……….………… ….… …29
1.3.2 Ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao……….………… ………31
1.4 TIỂU KẾT……….….… ………34
CHƯƠNG 2 ðẶC ðIỂM CẤU TẠO NGÔN NGỮ BIỂU TƯỢNG
TRONG CA DAO……… ……….………35
2.1 TỪ NGỮ BIỂU TƯỢNG NHÓM CÁC VẬT THỂ NHIÊN TẠO…… 35
2.1.1 Từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm các hình ảnh, hiện tượng tự nhiên 35
2.1.2 Từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm thế giới thực vật….…….…………45
Trang 32.1.3 Từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm thế giới ñộng vật……… …56
2.2 TỪ NGỮ BIỂU TƯỢNG NHÓM CÁC VẬT THỂ NHÂN TẠO….… 64
2.2.1 Từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm các ñồ dùng sinh hoạt….… 64
2.2.2 Từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm các công cụ sản xuất… ….72
2.2.3 Từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm các công trình kiến thiết… … 77
2.3 TIỂU KẾT……… ……… 83
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ BIỂU ðẠT CỦA TỪ NGỮ BIỂU TƯỢNG TRONG CA DAO……… ……….84
3.1 BIỂU ðẠT TÌNH YÊU ðÔI LỨA……… ……… 84
3.1.1 Ca dao tỏ tình……… ……… 84
3.1.2 Ca dao tương tư ………… ……….………89
3.1.3 Ca dao thề nguyền………… ……… ……….……….93
3.1.4 Ca dao hận tình……… ………96
3.2 BIỂU ðẠT TÌNH CẢM GIA ðÌNH………… ……….99
3.2.1 Tình cảm vợ chồng……… ……… ……… ……99
3.2.2 Tình cảm giữa cha mẹ con cái……… ………102
3.3 BIỂU ðẠT THÂN PHẬN CON NGƯỜI……… ………106
3.3.1 Thân phận người phụ nữ………….……….………….106
3.3.2 Thân phận người nông dân……… ……… ………110
3.4 TIỂU KẾT……… ……… …….115
KẾT LUẬN……… …116
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… ……118
QUYẾT ðỊNH GIAO ðỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Thống kê từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm các hình ảnh,
hiện tượng tự nhiên
35
2.2 Thống kê từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm thế giới thực vật 45 2.3 Thống kê từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm thế giới ñộng vật 56 2.4 Thống kê từ ngữ biểu tượng thuộc nhóm các ñồ dùng sinh
Trang 5MỞ ðẦU
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam ñã sáng tạo nên nhiều giá trị vật chất và tinh thần to lớn, ñáng tự hào Nền văn học Việt Nam
là một trong những bằng chứng tiêu biểu cho năng lực sáng tạo tinh thần ấy Văn học Việt Nam bao gồm các sáng tác ngôn từ với hai bộ phận lớn có liên
quan mật thiết với nhau ñó là văn học dân gian và văn học viết
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao chiếm số lượng khá phong phú, giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật Do ñặc ñiểm hình thức ngắn gọn, có vần dễ nhớ và nội dung phong phú, ña dạng, ñậm ñà bản sắc dân tộc, phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, nên ca dao luôn ñược nhân dân vận dụng
và truyền miệng qua nhiều thế hệ Sức hấp dẫn của văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng là ñiều không ai có thể phủ nhận vì nó là tấm gương soi cho tâm hồn và ñời sống dân tộc, là niềm tự hào của người dân Việt
Ca dao dễ ñi vào lòng người không chỉ bởi sử dụng nhiều thể thơ mang ñậm bản sắc văn hóa Việt mà sức hấp dẫn của nó còn thể hiện qua thế giới biểu tượng ña dạng phong phú và giàu ý nghĩa Việc nghiên cứu những vấn ñề liên quan ñến ca dao vẫn luôn là ñối tượng thu hút ñông ñảo người hướng ñến Ngôn ngữ có vai trò ñặc biệt quan trọng trong ñời sống xã hội Mỗi dân tộc có một tiếng nói và chữ viết riêng, cùng với tiếng nói và chữ viết thì những hình ảnh, sự vật cụ thể cũng là những phương tiện ñể diễn tả, ñể truyền ñạt một ý tưởng, một quan niệm nào ñó Ngôn ngữ biểu thị những hình ảnh sự vật có giá trị văn hóa ñược gọi là khả năng biểu trưng của ngôn ngữ Bản chất của biểu tượng là khó xác ñịnh, ñể hiểu hết biểu tượng còn phải tuỳ thuộc vào
sự từng trải và kinh nghiệm vốn có của mỗi cá nhân cũng như trình ñộ nhận thức của từng người Và ñể tìm ra ý nghĩa của biểu tượng cũng phải tính ñến
Trang 6thói quen, phong tục, tập quán của các nền văn hoá trong từng cộng ựồng dân tộc khác nhau Một biểu tượng thường có nhiều nghĩa và ngược lại một ý nghĩa lại có nhiều biểu tượng cùng biểu thị Chắnh vì vậy, nghiên cứu biểu tượng và ý nghĩa của nó vẫn luôn là ựối tượng ựược nhiều ngành và nhiều người quan tâm Chúng tôi ựến với ựề tài ựặc ựiểm ngôn ngữ biểu tượng trong
ca dao cũng vì muốn ựi sâu tìm hiểu thế giới biểu tượng phong phú, ựa dạng
và giàu ý nghĩa ựó
đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan ựến vấn ựề ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu và thống kê toàn bộ những biểu tượng trong một cuốn sách sưu tầm cụ thể
Chúng tôi ựã chọn vấn ựề Ộđặc ựiểm ngôn ngữ biểu tượng trong ca daoỢ
chắnh là mong muốn ựóng góp thêm trong việc xây dựng hệ thống ựặc ựiểm ngôn ngữ của biểu tượng trong ca dao và cũng nhằm mục ựắch hiểu biết rõ hơn giá trị ngôn ngữ của biểu tượng ựể vận dụng những kiến thức sẽ nghiên cứu vào việc giảng dạy các bài ca dao trong sách giáo khoa chương trình trung học
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng ựược hệ thống ựặc ựiểm ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao
dưới góc nhìn ngôn ngữ học trên hai bình diện từ vựng và ngữ nghĩa
- Nâng cao nhận thức về sự ảnh hưởng, giá trị, ý nghĩa của văn học dân
gian nhất là ca dao ựến ựời sống văn hóa tinh thần của người Việt
- Vận dụng những kiến thức sẽ nghiên cứu vào việc giảng dạy các bài ca dao trong sách giáo khoa chương trình trung học
3 đối tượng và phạm vi nghiên cứu ựề tài
3.1 đối tượng nghiên cứu:
đặc ựiểm ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao
Trang 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
ðề tài giới hạn nghiên cứu ñặc ñiểm ngôn ngữ biểu tượng trong cuốn
“Kho tàng ca dao người Việt” do Nguyễn Xuân Kính, ðặng Nhật Phan biên
soạn, xuất bản năm 2001 Cuốn sách có 2 tập, tư liệu sưu tầm ñược trích từ 40 cuốn sách khác nhau và gồm có tất cả là 12.487 lời ca dao
4 Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện ñề tài này của mình, chúng tôi vận dụng những phương pháp
chính sau ñây:
4.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Phương pháp này giúp chúng tôi thu thập, tổ chức và sắp xếp tư liệu một cách khoa học ðồng thời với số lượng hơn mười hai nghìn lời ca dao, phương pháp này sẽ giúp cho người nghiên cứu tổng hợp ñược những số liệu minh chứng cho các nhận ñịnh trong luận văn
4.2 Phương pháp phân tích, chứng minh
Chúng tôi ñi vào phân tích cụ thể các lời ca dao ñể làm rõ ñặc ñiểm cấu tạo của lớp từ ngữ biểu tượng trong ca dao ðây là phương pháp cơ bản nhất làm cơ sở cho việc nhận ñịnh, ñánh giá về ðặc ñiểm ngôn ngữ biểu tượng
trong ca dao
4.3 Phương pháp so sánh
ðây là phương pháp giúp chúng tôi nhận ra sự kế thừa và ñổi mới những quan niệm có liên quan ñến ñề tài
4.4 Phương pháp tổng hợp, khái quát
Sử dụng phương pháp này giúp người nghiên cứu tổng hợp kết quả nghiên cứu ñể ñi ñến kết luận
5 Bố cục của ñề tài
ðề tài của chúng tôi ngoài phần mở ñầu và kết luận, thì phần nội dung chính gồm ba chương:
Trang 8Chương 1: Những vấn ñề lí luận liên quan ñến ñề tài
Chương 2: ðặc ñiểm cấu tạo ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao
Chương 3: Giá trị biểu ñạt của từ ngữ biểu tượng trong ca dao
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu văn học dân gian nói chung và ca dao Việt Nam nói riêng từ trước ñến nay vẫn ñược nhiều người quan tâm Xin ñược giới thiệu một số công trình nghiên cứu có ñi sâu vào vấn ñề ñặc ñiểm ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao ñã ñược xuất bản và ñược in trên các tạp chí ngôn ngữ
Ngay từ năm 1968 trong bài viết " Những yếu tố trùng lặp trong cao dao trữ tình" tác giả ðặng Văn Lung ñã ñề cập ñến những hình ảnh trùng lặp "con
cò", "cây tre", "trăng", "nước" và tác giả khẳng ñịnh "Riêng trong văn học dân gian, những yếu tố trùng lặp chiếm một tỷ lệ lớn và có một vai trò quan trọng
Nó gắn liền với ñặc ñiểm tư tưởng và nghệ thuật của sáng tác dân gian, nó trực tiếp liên hệ với tài năng văn nghệ của nhân dân với kinh nghiệm sống và thế giới quan của nhân dân” [31]
Năm 1978 Vũ Ngọc Phan, trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam,
ñã nhắc ñến con cò, con bống - một ñặc ñiểm của tư duy hình tượng của nông dân Việt Nam như một biểu tượng gần gũi và giàu tính biểu nghĩa Trong công trình này tác giả ñã bàn ñến những từ ngữ chỉ con vật và biểu tượng của
nó Tác giả nhấn mạnh "Một ñặc ñiểm trong tư duy hình tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc ñời: ñời người với ñời con cò và con bống"; " Người lao ñộng ñã lấy những con vật nhỏ bé ñể tượng trưng cho cuộc sống lam lũ của mình", hay "Người dân lao ñộng Việt Nam ñem hình ảnh con cò và con bống vào trong ca dao, dân ca là ñưa một nhận thức ñặc biệt về một khía cạnh của cuộc ñời vào văn nghệ, lấy cuộc ñời của những con vật trên ñây là tượng trưng vài nét ñời sống của mình" [38, tr 63-70]
Trang 9Tiếp ñến 1981 khi nghiên cứu thi pháp văn học dân gian, Chu Xuân
Diện ñã ñưa ra các môtíp quen thuộc trong ca dao có tính thẩm mỹ và tính biểu cảm cao [7]
Năm 1988, tác giả Bùi Công Hùng ñã chính thức ñặt vấn ñề "Biểu tượng thơ ca" trong ñó ñã trình bày khái niệm và phân tích một số biểu tượng trong
ca dao: trăng, con ñò, mặt trời, ñôi mắt, con chim, lá trầu, sông núi, cỏ, thuyền,
và tác giả nhận ñịnh "Biểu tượng nguyên sơ hiện lên trong ca dao, tục ngữ khá rõ ràng" [17, tr 60-74]
Cùng năm 1988, Hà Công Tài ñã chú ý ñến "Biểu tượng trăng trong thơ
ca dân gian" Tác giả ñã có những phát hiện mới về ñặc ñiểm, vai trò của biểu
tượng trong thơ ca dân gian Biểu tượng trong thơ ca dân gian thì cực kỳ phong phú Chỉ riêng biểu tượng thiên nhiên như trăng sao, núi ñồi, cây cỏ, sông nước … ñã có thể xem là bách khoa về những sự vật hiện tượng trong thế giới nhiên tạo Nhưng hơn hết chúng ta có thể từ ñó mà tìm hiểu về mỹ học dân tộc, về ñặc ñiểm tư duy thơ ca dân tộc, ñồng thời góp thêm một hướng tiếp cận thơ [43]
Tác giả Mai Ngọc Chừ nghiên cứu về những ñặc ñiểm riêng biệt ñộc ñáo của ngôn ngữ ca dao Việt Nam từ việc phân tích "những ñặc ñiểm thơ" ñược tạo nên bởi các biện pháp tu từ, cách ngắt nhịp, lối hiệp vần ñến việc xem xét sự kết hợp nhuần nhuyễn tính chất bác học và tính chất khẩu ngữ của ngôn ngữ ca dao Việt Nam Bài nghiên cứu ñã ñược ñăng trên tạp chí văn học
số 2/ 1991 [4]
Trong hai năm 1991 - 1992, trên tạp chí Văn hoá dân gian, tác giả
Trương Thị Nhàn có 2 bài viết Giá trị biểu trưng nghệ thuật của một số vật thể nhân tạo trong ca dao và Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một tín hiệu thẩm mĩ, tác giả ñã tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của các vật thể như:
khăn, áo, giường, chiếu và tín hiệu thẩm mĩ của “sông” Từ ñó tác giả ñi
Trang 10ñến kết luận khả năng biểu trưng hoá nghệ thuật của các vật thể trong ca dao góp phần tạo nên một nét ñặc trưng rất cơ bản trong ngôn ngữ nghệ thuật ca dao, ñó là tính khái quát cao, tính hàm súc và ý tại ngôn ngoại
Những công trình nghiên cứu tiếp theo của tác giả Trương Thị Nhàn,
năm 1995, trong luận án tiến sĩ "Sự biểu ñạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm
mỹ không gian trong ca dao " Trương Thị Nhàn tiếp tục nghiên cứu một loạt
các từ ngữ biểu tượng không gian như: núi, rừng, sông, ruộng, bến, ñình, chùa góp phần ñáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu ca dao biểu hiện ñời sống tinh thần con người Việt Nam Hầu hết kết quả nghiên cứu của tác giả ñã có những ñóng góp tiêu biểu trong việc thống kê và tìm hiểu giá trị biểu trưng và vai trò của hệ thống tín hiệu thẩm mỹ vật thể nhân tạo, hệ thống tín hiệu thẩm
mĩ không gian trong ca dao [34]
Trong công trình nghiên cứu "Thi pháp ca dao" của Nguyễn Xuân Kính
năm 1992, tác giả dành trọn một chương ñể viết về một số biểu tượng, hình ảnh tiêu biểu trong ca dao: cây trúc, cây mai, con bống, con cò, hoa nhài trong
sự ñối sánh với văn học viết, và nêu những biểu hiện ý nghĩa khác nhau của các biểu tượng này "Tác giả dân gian không mấy khi tả thực cây trúc, cây mai Họ nhắc ñến "mai", "trúc" ñể thể hiện con ngời" Ngoài ra tác giả còn phân biệt sự khác nhau giữa dân gian và bác học trong ý nghĩa của một số biểu tượng ñộng vật Từ ñó, tác giả gợi lên một vấn ñề cần ñược quan tâm khi xác ñịnh nghĩa biểu tượng [21, tr 309-350]
Năm 1997, bài viết "Công thức truyền thống và ñặc trưng của cấu trúc
ca dao, dân ca trữ tình" Bùi Mạnh Nhị tiếp tục khẳng ñịnh nền móng vững
chắc của việc nghiên cứu biểu tượng ca dao [35]
Luận án tiến sĩ "Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống" của
tác giả Nguyễn Thị Ngọc ðiệp 2002 ñã khảo sát - thống kê khá hoàn chỉnh về
Trang 11chi tiết các hệ thống biểu tượng trong ca dao; gồm ba hệ thống lớn trong ñó gồm nhiều tiểu hệ thống dựa trên tiêu chí ñối tượng [10]
Tác giả Lê ðức Luận trong luận án tiến sĩ ngôn ngữ ñã ñi sâu nghiên
cứu “Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt” Công trình nghiên cứu này ñã
ñóng góp thêm một số cách thức tiếp cận văn bản ca dao nói riêng và văn học nói chung từ ñiểm nhìn ngôn ngữ ở phương diện cấu trúc ngôn ngữ Tác giả
ñã chỉ ra cấu trúc vần, nhịp là sức sống của lục bát trong ca dao ðây cũng chính là ñặc trưng của ngôn ngữ ca dao, một trong những yếu tố làm nên giá trị của ca dao dân tộc [27]
Trong chuyên luận bắt nguồn từ ñề tài nghiên cứu cấp bộ “ðiểm nhìn nghiên cứu văn học” TS Lê ðức Luận ñã ñưa quan niệm nghiên cứu từ quan
ñiểm ñến phương pháp, cách thức và phương diện nghiên cứu văn học Trong chuyên luận này, tác giả cũng ñã ñưa ra cách giải thích khá rõ về hình ảnh, hình tượng và biểu tượng Tác giả cũng ñã ñưa ra quan ñiểm nghiên cứu văn học từ ñiểm nhìn ngôn ngữ học Công trình ñã giúp ích rất nhiều cho các học viên và các nhà nghiên cứu trên phương diện lí luận văn học và phương pháp luận nghiên cứu văn học[28]
Ngoài ra, tác giả còn ñóng góp rất nhiều những bài nghiên cứu về các vấn ñề có liên quan ñến ngôn ngữ và biểu tượng trong ca dao, ñã ñược ñăng
trên nhiều tạp chí như “ Mùa xuân và hoa trong ca dao” ñăng trên tạp chí
Ngôn ngữ và ðời sống, số 4, 2006; “ Cơ chế ngôn ngữ của biểu tượng” in trong tạp chí Ngôn ngữ, số tháng 5/2011; “ Biểu tượng hoa trong văn học dân gian” in trong tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 328, tháng 10/2011…
Tác giả Vũ Thị Thu Hương truyển chọn và biên soạn cuốn “ Ca dao Việt Nam những lời bình” [18] và nhóm tác giả Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc ðiệp với cuốn sách “ Văn học Việt Nam, văn học dân gian những công trình nghiên cứu”[36] ðây là những cuốn sách ñã tập
Trang 12hợp khá nhiều các bài nghiên cứu về văn học dân gian có liên quan ñến biểu tượng trong ca dao
Việc nghiên cứu biểu tượng trong ca dao Việt Nam ñã và ñang là vấn ñề ñược rất nhiều người quan tâm, khám phá, phát hiện Tuy nhiên, các công trình, bài viết trên chủ yếu bàn về biểu tượng trong ca dao, chứ chưa có một công trình nào ñi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể có hệ thống, toàn diện
về vấn ñề từ vựng và ngữ nghĩa của biểu tượng trong một cuốn tuyển tập ca dao Kế thừa những nghiên cứu từ những cuốn giáo trình và sách chuyên khảo
về ngôn ngữ biểu tượng của văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng, chúng tôi có cơ sở ñể ñi sâu tìm hiểu vấn ñề ñặc ñiểm ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao ðây ñược xem là vấn ñề quan trong làm nên giá trị của các bài
ca dao Những công trình nghiên cứu là những gợi ý quý báu, cơ sở thực tiễn phong phú ñể chúng tôi có thể tiếp cận, nghiên cứu ñề tài của mình
Trang 13CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN đỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN đẾN đỀ TÀI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CA DAO VÀ NGÔN NGỮ CA DAO
1.1.1 Khái quát về ca dao
a Khái niệm ca dao
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam ựã sáng tạo nên nhiều giá trị vật chất và tinh thần to lớn, ựáng tự hào Nền văn học Việt Nam
là một trong những bằng chứng tiêu biểu cho năng lực sáng tạo tinh thần ấy Văn học Việt Nam bao gồm các sáng tác ngôn từ với hai bộ phận lớn có liên quan mật thiết với nhau ựó là văn học dân gian và văn học viết Một trong những thể loại của văn học dân gian ựã thể hiện sâu sắc vẻ ựẹp tâm hồn người Việt chắnh là ca dao
Theo từ ựiển văn học bộ mới do đỗ đức Hiểu chủ biên, ở phần thuật ngữ văn học thì Ộca dao còn gọi là phong dao Phong dao hay ca dao không phải là thuật ngữ dân gian đó là những thuật ngữ Hán-Việt Thuật ngữ phong dao ựầu tiên ựược các nhà Nho dùng ở Việt Nam ựể gọi bộ phận những câu thơ mà họ quan tâm tới và ựã ghi chép trong vốn ca hát và lời nói vắ truyền miệng của nhân dân Bộ phận những câu thơ ấy phần nhiều có nội dung phản ánh phong tụcỢ [16, tr 108] So với thuật ngữ phong dao và những thuật ngữ xuất phát từ thuật ngữ ựó như phong thi trong ỘQuốc phong thi hợp tháiỢ( Hợp tuyển thơ quốc phong) hay phong sử trong ỘViệt Nam phong sửỢ ( Bộ sử phong dao Việt Nam)Ầthì thuật ngữ ca dao có nội dung
rộng hơn
Nếu ựịnh nghĩa ca dao theo từ nguyên, thì ca là bài hát có chương khúc hoặc có âm nhạc kèm theo, còn dao là bài hát trơn Với cách ựịnh nghĩa như
Trang 14vậy thì thuật ngữ ca dao và thuật ngữ dân ca hầu như không có ranh giới rõ ràng Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói ñến ca dao, người ta thường nghĩ ñến những lời thơ dân gian còn khi nói ñến dân ca người
ta nghĩ ñến các làn ñiệu, những thể thức hát nhất ñịnh Vì vậy ñã dẫn ñến nhiều cách ñịnh nghĩa khác nhau về ca dao
Trong quyển Việt Nam văn học sử, Dương Quảng Hàm ñã giải thích khái niệm về ca dao: “Ca dao là những bài hát ngắn, không có chương khúc…”[13,
tr 20] Trong quyển lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, của tập thể tác giả, do Bùi Văn Nguyên chủ biên ñã nêu: “ Ca dao là những bài hát có hoặc không
có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần của dân tộc, ñể miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn ñạt tình cảm.” [32, tr 38] Mã Giang Lân lại quan niệm: “ Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian” [24, tr 9]
Trong quá trình nghiên cứu về cấu trúc ca dao trữ tình người Việt thì TS
Lê ðức Luận cũng ñã nêu ra ñịnh nghĩa của ca dao là “ Lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh ñược lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian” Tác giả cũng ñã chỉ ra khá rõ những ñiểm khác
nhau giữa các khái niệm ca dao với dân ca, ca dao với tục ngữ, ca dao với
thơ[27, tr 26]
Trong sách giáo khoa ngữ văn 10, tập 1 của nhà xuất bản giáo dục thì ñã nêu khái niệm như sau: “Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, ñược sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người” [30, tr 18]…
Như vậy, cho ñến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm ca dao và có khá nhiều các ñịnh nghĩa khác nhau về ca dao Mặc dù
có sự khác nhau về quan niệm nhưng các nhà nghiên cứu ñã nêu rõ các biểu hiện cụ thể của ca dao trên các mặt nội dung và hình thức nghệ thuật Dựa vào kết quả của các nhà nghiên cứu về ca dao, chúng tôi xin ñưa ra quan niệm của
Trang 15mình như sau: Ca dao là lời thơ trữ tình, ñược dân gian sáng tác và lưu truyền trong dân gian, nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người
b Nội dung chủ yếu của ca dao
Ca dao là phần phong phú nhất trong văn học dân gian của dân tộc ðây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện
Do ñặc ñiểm hình thức ngắn gọn, có vần dễ nhớ và nội dung phong phú, ña dạng, ñậm ñà bản sắc dân tộc, phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, nên ca dao luôn ñược nhân dân vận dụng và truyền miệng qua nhiều thế hệ
Ca dao thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương ñất nước của con người Việt
Nam Trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê, quê hương là cánh ñồng lúa thơm ngát, lũy tre xanh trải dài dọc bờ ñê, là những hình ảnh thân thương nhất ñối với cuộc sống mỗi con người Hai tiếng quê hương nghe gần gũi và thân thương, ñó là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ñã nuôi dưỡng ta trưởng thành Tình yêu quê hương ñất nước sâu ñậm và thiết tha ñược người bình dân xưa gửi gắm qua từng ñịa danh, di tích, sản vật,.v.v… của quê hương mình Qua
ca dao, những hình ảnh của miền quê như dòng sông, bến nước, con ñò, ñình miếu càng trở nên gần gũi hơn Yêu quê hương chính là gắn bó, tự hào về quê hương mình Tự hào với lũy tre làng; với con sông uốn quanh xóm làng, ñể nuôi dưỡng những sản vật, làm xanh tươi cây trái cho làng quê; yêu quý từng tấc ñất quê hương…
Rủ nhau ra tắm hồ sen Nước trong bóng mát hương chen cạnh mình
Cứ chi vườn ngọc ao quỳnh Thôn quê vẫn thú, hữu tình xưa nay
[20, tr 2251]
Ý thức yêu mến quê hương tiềm tàng trong huyết quản, trong thâm tâm
ñã tạo cho dân mình một tình yêu mến quê hương sâu ñậm, ñến nỗi họ không
Trang 16bao giờ muốn rời khỏi quê cha ñất tổ Chính tình cảm tha thiết và mãnh liệt
về quê hương sẽ là nhân tố thúc ñẩy và hình thành nhân cách mỗi người trong chúng ta
Bên cạnh tình yêu quê hương ñất nước thì tình yêu ñôi lứa cũng ñược phản ánh rất rõ nét trong những lời ca dao của dân tộc:
Thương thương nhớ nhớ sầu sầu Một ngày ba bận ra cầu ñứng trông Thấy người nam bắc ñông tây Thấy người thiên hạ mà không thấy chàng
[20, tr 2251]
Có thể khẳng ñịnh rằng, trong ca dao, ñề tài tình yêu ñược xem là sáng tạo phong phú nhất Sự phát triển của ca dao tình yêu phản ánh nhu cầu bộc lộ tâm tư, tình cảm, những quan niệm về tình yêu nam nữ, với nhiều sắc thái, nhiều cung bậc khác nhau Trong ca dao, ta thấy ñược tinh thần ñấu tranh ñể bảo vệ tình yêu chân chính trước sự hà khắc của lễ giáo phong kiến; thấy ñược sự trong sáng và tình cảm sắc son của những ñôi lứa yêu nhau Tình yêu làm cho con người thăng hoa trong cuộc sống, tình yêu là hạnh phúc, là ước
mơ của mọi người khi ñến tuổi trưởng thành
Trong cuộc sống, con người luôn muốn dành cho nhau những tình cảm chân thành nhất ñể hướng ñến một tương lai tốt ñẹp Và “thì tương lai” của tình yêu ñôi lứa chính là hôn nhân và gia ñình Những quan niệm về hôn nhân gia ñình, tình cảm gia ñình, tình nghĩa vợ chồng cũng là vấn ñề mà tác giả dân gian thường hướng ñến:
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
[20, tr 771]
Hôm nay sum họp trúc mai
Trang 17Tình chung một khắc, nghĩa dày trăm năm [20, tr 1223]
Trong ca dao, ta còn tìm thấy tình cảm cộng ñồng sâu sắc của người dân Việt Tính cộng ñồng của người Việt là ý thức và tình cảm gắn bó của người
dân Việt với nhau, ñó còn là tư tưởng yêu nước Có thể coi “tính cộng ñồng”
là một nét văn hóa Việt Tính cộng ñồng khiến cho người Việt Nam ý thức ñược trách nhiệm của bản thân ñối với người khác và ñối với cộng ñồng:
Nhiễu ñiều phủ lấy giá gương, Người trong một nước thì thương nhau cùng
[20, tr 1753]
Mỗi dân tộc ñều có một phong tục tập quán riêng, mang bản sắc văn hóa riêng của dân tộc ñó Những lời ca dân gian ñã giúp ta hiểu hơn về những
phong tục tập quán Theo phong tục Việt Nam, "miếng trầu là ñầu câu
chuyện", miếng trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa ñựng nhiều tình cảm, ý nghĩa Vì
trầu cau là "Ðầu trò tiếp khách" lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng Món trầu thể hiện nếp sinh hoạt mang ñậm tính dân tộc ñộc ñáo của Việt Nam Nước ta có tục thờ cúng, cho nên hòn ñá trên chùa, cây ña ñầu ñình, giếng nước, cửa rừng cũng ñược nhân dân tôn thờ, coi ñó là biểu tượng, nơi ẩn hiện của vị thiên thần hay nhân thần nào ñó Theo tập quán lâu ñời, dân ta rất coi trọng ngày mất, nên tục tang ma là phong tục truyền thống của người Việt:
Cái cò chết tối hôm qua
Có hai hạt gạo với ba ñồng tiền Một ñồng mua trống mua kèn Một ñồng mua mỡ ñốt ñèn thờ vong Một ñồng mua mớ rau rong ðem về thái nhỏ thờ vong con cò
[20, tr 361]
Trang 18Tục hôn nhân bao giờ cũng gắn với trầu cau:
Ai ăn cau cưới thì ựền Tuổi em còn bé chưa nên lấy chồng
[20, tr 51]
Trầu cau còn thể hiện sự tôn kắnh với ông bà, cha mẹ:
Ai về tôi gởi buồng cau Buồng trước kắnh mẹ, buồng sau kắnh thầy
[20, tr 94]
Ca dao là tiếng nói trung thực, phản ảnh rõ nét tâm tư, tình cảm, khát vọng của con người Tác giả dân gian luôn ựồng cảm với nỗi vất vả, bất hạnh,
sự thống khổ của người phụ nữ và nhân dân lao ựộng Cho nên qua những lời
ca của họ ta còn thấy rõ khát vọng sống hạnh phúc và tư tưởng dân chủ bình ựẳng của nhân dân:
Trời sao trời ở chẳng cân,
Kẻ ăn không hết người lần không ra Người thì mớ bảy mớ ba Người thì áo rách như là áo tơi
[20, tr 2461]
Thân ai khổ như thân con rùa Xuống sông ựội ựá, lên chùa ựội bia [20, tr 2231]
Ca dao có nội dung phản ánh sâu rộng, có tắnh trữ tình ựậm ựà, ựồng thời
có tư tưởng nhân văn sâu sắc Ca dao phản ánh trung thực bức tranh cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân đó là cuộc sống cần cù, giản dị, chất phác, chịu thương chịu khó đó là cuộc ựấu tranh anh hùng trong dựng nước
và giữ nước đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương thân tương ái giữa những con người lương thiện đó là những phong tục tập quán
Trang 19mang ựậm bản sắc văn hóa Việt Chắnh vì vậy, ca dao Việt Nam ựược xem là
tấm gương soi cho tâm hồn và ựời sống dân tộc, là niềm tự hào của người dân
Việt
a Ngôn ngữ giao tiếp bằng thơ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp kỳ diệu nhất của con người Văn học
cũng là một hình thức giao tiếp Nhưng khác với các loại hình nghệ thuật khác,
văn học lấy ngôn từ làm chất liệu Với chất liệu ựó, văn học chứa ựựng khả
năng giao tiếp mà không phải loại hình nghệ thuật nào cũng có thể có ựược
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hoạt ựộng quan trọng, là nhu cầu thiết yếu
của con người Hoạt ựộng này diễn ra trong xã hội loài người nhằm trao ựổi
thông tin, bộc lộ tình cảm giữa người với người đồng thời hoạt ựộng giao
tiếp còn là ựộng lực thúc ựẩy xã hội phát triển Ta có thể thấy rất rõ trong
những lời ca dao có sự tham gia của các nhân tố giao tiếp như nhân vật giao
tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục ựắch giao tiếp, nội dung giao tiếp TS Lê đức
Luận khi ựưa ra quan ựiểm nghiên cứu văn học từ ựiểm nhìn ngôn ngữ học ựã
khẳng ựịnh ỘCa dao là sản phẩm của các cuộc hội thoại nên cần nghiên cứu
cấu trúc hội thoại, tìm thấy yêu tố hội thoại không chỉ trong các bài ca dao có
các vế ựối ựáp mà còn trong các bài chỉ có một vếỢ[28, tr 154] Chắnh vì vậy
ngôn ngữ ca dao ựã thực hiện rõ chức năng giao tiếp Tuy nhiên ựây không
phải là lời giao tiếp bằng những câu nói khô khan, trần trụi mà là những câu
thơ bay bổng có vần có nhịp:
đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Ộ Tre non ựủ lá ựan sàng nên chăng?Ợ
- đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre vừa ựủ lá, non chăng hỡi chàng?
[20, tr 886]
Trang 20Trước hết, có thể khẳng ñịnh rằng ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ giao tiếp bằng thơ Người dân lao ñộng xưa ñã sáng tạo nên những lời thơ dân gian
ñể giao tiếp, bộc lộ những tâm tư tình cảm Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ của thơ ca dân gian, nên nó mang ñặc trưng riêng là dân dã, bình dị, chất phác, hồn nhiên của người nông dân lao ñộng ðây cũng chính là ñặc tính cơ bản của loại hình ngôn ngữ trong ca dao Thơ ca dân gian ñược sáng tác dưới nhiều thể thơ khác nhau như thể song thất, song thất lục bát, thể vãn, tuy nhiên ñược vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát Bởi vì thơ lục bát là
“ một thể thơ cách luật cổ ñiển, ñược coi là thuần túy của người Việt” [16, tr
881] Vì vậy, khi nghiên cứu ngôn ngữ trong ca dao, ta không thể tách nó khỏi thể loại thơ ca dân gian, ñặc biệt là thể thơ lục bát trong ca dao Với thể thơ lục bát, ngôn ngữ trong ca dao như ñược chắp thêm ñôi cánh bay bỗng lãng mạn:
Cô kia cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang ñây Sang ñây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này: cô lấy anh chăng?
[20, tr.692]
Thơ lục bát với phương thức gieo vần 6-8 ñã tạo nên vẻ nhịp nhàng của ngôn ngữ thơ, tạo nhạc tính ñể hình thành nên những âm hưởng nhiều màu sắc vang vọng trong thơ Lối ngắt nhịp chẵn, chủ yếu là nhịp hai, có một ý nghĩa quan trọng tạo nên sự phân bố và lặp ñi lặp lại ngắt quãng các ñơn vị
ngôn từ Trong bài viết “ Ngôn ngữ ca dao Việt Nam” tác giả Mai Ngọc Chừ
ñã dùng từ “ngừng nhịp trong thơ” [18, tr 162] ñể chỉ chức năng phân giới giữa các câu và các thành phần câu Còn phối ñiệu mang lại âm ñiệu trầm bổng trong thơ bằng sự sắp xếp phối hợp các thanh ñiệu bằng trắc theo nguyên tắc nhất ñịnh thể hiện tính cân ñối hài hòa về âm thanh giữa các nhịp
Trang 21và các vế tương ựương đó là nhịp ựiệu của những ngôn từ mang sắc thái bình
thơ PGS TS Mai Ngọc Chừ cho rằng ỘDù có biến ựổi như thế nào ựi nữa thì vần vẫn rơi vào âm tiết cuối cùng và bắt quan hệ với âm tiết thứ sáu hoặc thứ
tư của dòng bát ựi sauỢ[18, tr 112-120] ỘMột trong những ựặc ựiểm làm cho
ca dao dễ thuộc, dễ nhớ, dễ ựi vào lòng người là ở cách hiệp vầnỢ[18, tr 164]
Sông dài cá lội biệt tăm Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ [20, tr 2016]
Theo luật thơ thì thơ lục bát gieo vần ở cuối câu lục và ở chữ thứ 6 của câu bát theo luật như sau: chữ cuối câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát, chữ cuối câu bát vần với chữ cuối câu lục tiếp theo, cứ như thế tiếp tục Bài
ca dao trên ựã thể hiện khá rõ Nhờ những màu sắc ựặc trưng của ngôn ngữ tiếng Việt với hệ thống nhịp ựiệu, sắc thái tu từ mà thơ ca Việt Nam vẫn luôn mang một phong cách riêng ựậm ựà bản sắc dân tộc
Trang 22Tóm lại, ngôn ngữ giao tiếp bằng thơ ñã khiến cho ca dao trở thành cầu nối, sợi dây tình, gắn kết con người với nhau ðiều ñặc biệt của ca dao là ngôn từ giàu hình tượng, ñầy ý nghĩa nên ñã ñi sâu vào mọi tầng lớp trong xã hội một cách dễ dàng và nhanh chóng
b Ngôn ngữ mang tính ẩn dụ
Thơ ca trữ tình dân gian là nơi bộc lộ rõ nhất tâm hồn dân tộc Ý nghĩa
cơ bản của thơ ca trữ tình dân gian là biểu ñạt những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc của nhân dân Những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc ấy ñược chuyển tải thông qua những hình ảnh giàu giá trị tạo hình và qua một thế giới nghệ thuật ñầy màu sắc
Khi tìm hiểu ñặc ñiểm của các biện pháp tu từ ñược dùng trong những lời ca dao, chúng tôi ñều thấy ñó là những cách diễn ñạt bóng bẩy, gợi cảm,
có sức hấp dẫn và lôi cuốn Nhờ các biện pháp tu từ mà sự diễn ñạt của các lời ca dao vừa mang tính cụ thể, hình ảnh vừa mang tính khái quát, hàm súc
Vì vậy sự xuất hiện với tần số cao của các biện pháp tu từ trong ca dao là ñiều hiển nhiên và một trong những biện pháp nghệ thuật làm nên ñặc sắc của ca dao chính là ẩn dụ
GS Nguyễn Thiện Giáp cho rằng ẩn dụ là“ sự chuyển ñổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng ñược so sánh với nhau”[12, tr 76]; Tác giả ðinh Trọng Lạc ñã nêu khái niệm ẩn dụ “là sự ñịnh danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương ñồng hay giống nhau giữa khách thể ñược ñịnh danh với khách thể có tên gọi ñược chuyển sang dùng” [22, tr
52] Từ những khái niệm về ẩn dụ, ta thấy rằng một sự vật hiện tượng ñược gọi bằng tên của một sự vật hiện tượng khác khi giữa chúng có ñiểm tương ñồng giống nhau thì ñó chính là sự chuyển ñổi theo phương thức ẩn dụ Hiểu
rõ khái niệm này ta sẽ thấy rằng, ñây là hiện tượng xuất hiện rất nhiều trong
Trang 23thơ ca trữ tình dân gian Biện pháp ẩn dụ ñưa ñến cho ta một nhận thức mới, một lối tư duy mới về sự vật, hiện tượng:
Biết ñâu trong ñục mà chờ
Hoa thơm mất nhị, nương nhờ vào ñâu
ra một lối tư duy mới cả về phương diện miêu tả sự vật cụ thể lẫn những khái niệm trừu tượng ẩn sâu trong tâm tư của con người
Chính vì ngôn ngữ mang tính ẩn dụ, cho nên trong ca dao thường ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa, thậm chí có những trường hợp, một lời ca dao có tới hai, ba loại ý nghĩa:
Bướm già thì bướm có râu
Thấy bông hoa nở cuối ñầu bướm châm
Bướm châm mà bướm lại nhầm
Có bông hoa nở, ong châm mất rồi
[20, tr.340]
Bài ca dao này nói về cả bướm và ong ñều châm hoa rồi nói ñến sự nhầm của bướm Bướm tưởng mình là người châm hoa ñầu tiên nhưng hóa ra
Trang 24ong ñã châm trước Có ñiều ở ñây không biết là mình nhầm hay là bướm cứ vẫn sung sướng là mình ñược châm hoa ðằng sau việc ong bướm và hoa là nói về con người Bướm già tất nhiên là phải chịu châm sau ong, tuổi trẻ thì không ñược châm, về già phải châm thừa của người khác Nếu bướm già không hề biết mình bị châm thừa thì quả là hạnh phúc nhưng biết thì cũng chấp nhận ñắng cay, biết sao ñây, mình ñã già, người ñến sau thường thiệt thòi
Biện pháp ẩn dụ giúp cho tác giả dân gian diễn tả ñược những ñiều thầm kín, thậm chí những ñiều khó nói nhất, khó diễn ñạt nhất bằng những hình tượng nghệ thuật vừa khái quát vừa giàu chất thơ:
ðến ñây mận mới hỏi ñào
Vườn hồng ñã có ai vào hay chưa?
[20, tr.287]
Ai làm cho bến xa thuyền
Cho trăng xa cuội, cho bạn hiền xa ta [20, tr 61]
Như vậy về bản chất, ẩn dụ tu từ là việc sử dụng từ ngữ, trong tư cách là
kí hiệu ngôn ngữ, không ñược dùng với nghĩa vốn có ñể biểu thị sự vật thuộc loại này, mà dựa vào mối quan hệ liên tưởng về nét nghĩa tương ñồng, ñược dùng lâm thời với nghĩa chuyển, gợi lên một biểu tượng về một sự vật thuộc loại khác Ẩn dụ tu từ là hiện tượng so sánh ngầm, có tính chất lâm thời và nghĩa của nó không phải là nghĩa biểu vật, hay biểu niệm mà thiên về biểu cảm nên rất tinh tế, khó nắm bắt
Ngôn ngữ ca dao với ñặc trưng tính chất của thể loại thơ ca dân gian, mang âm sắc ñặc trưng của tiếng Việt kết hợp với sự vận dụng nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ ñặc biệt là tu từ ẩn dụ, tác giả dân gian ñã bộc lộ rất rõ cảm xúc, thái ñộ, tình cảm của mình Có thể khẳng ñịnh rằng, không ở ñâu
Trang 25ngôn ngữ lại biến hoá bất ngờ, giàu hình ảnh và lung linh giàu cảm xúc như trong văn học ðiều này ñã góp phần làm nên giá trị của các bài ca dao nói riêng và văn học dân tộc nói chung
1.2 KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƯỢNG TRONG CA DAO
1.2.1 Quan niệm về biểu tượng
Biểu tượng nghệ thuật không phải là khái niệm riêng của văn học Các loại hình nghệ thuật khác như hội họa, ñiêu khắc, sân khấu, ñiện ảnh…cũng ñều xây dựng cho mình hệ thống biểu tượng phù hợp ðiều này cho thấy biểu tượng có thể ñược hình thành nên từ nhiều chất liệu khác nhau như: với hội họa là màu sắc, ñường nét; với ñiêu khắc là hình khối…Vì văn học là tác phẩm ngôn từ nên biểu tượng ở ñây phải ñược xây dựng bằng chất liệu là
ngôn từ “Biểu tượng văn học gắn với việc xây dựng hình tượng, bằng các phép so sánh, ẩn dụ tu từ Biểu tượng văn học là tín hiệu ngôn ngữ có giá trị văn hóa, có ý nghĩa biểu trưng cho một vấn ñề nào ñó ñược mọi người thừa nhận”[21]
ðể nắm vững khái niệm về biểu tượng, cần phân biệt ñược sự khác nhau giữa các khái niệm hình ảnh, hình tượng và biểu tượng trong văn học Hình ảnh là những gì chúng ta thấy ñược thông qua thị giác rồi sau ñó chuyển
về não giúp ta cảm nhận hình ảnh ñó một cách chân thực nhất, từ ñó ñưa ra những phản xạ, cảm nhận về hình ảnh trong thế giới
Hình tượng là hình ảnh có tính nghệ thuật, có ý nghĩa biểu trưng
“ Hình tượng nghệ thuật luôn luôn có tính chất tượng trưng, có tính ñại diện,
nó là kí hiệu ñơn nhất của cái khái quát, là ñại diện cho những tầng sâu rộng của kinh nghiệm con người, của tính chất dân tộc, tính chất tâm lí Nhà nghệ
sĩ sáng tạo ra những kí hiệu ñể thể hiện tư tưởng” [42, tr 61-79] “ Hình tượng văn học nghệ thuật là một bức tranh sinh ñộng nhất của cuộc sống
Trang 26ñược xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách ñánh giá của người nghệ sĩ” [42, tr 95]
Vậy biểu tượng là gì? Biểu tượng trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là
"bày ra", "trình bày", "dấu hiệu", ñể người ta dễ nhận biết một ñiều gì ñó
Tượng có nghĩa là "hình tượng" Biểu tượng là một hình tượng nào ñó ñược
phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm ñể diễn ñạt về
một ý nghĩa mang tính trừu tượng Theo ðoàn Văn Chúc “Biểu tượng là dấu hiệu hình ảnh, con vật sống ñộng hay ñồ vật biểu hiện một ñiều trừu tượng,
nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một ñiều gì ñó” [3, tr 78] Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao ñã ñịnh nghĩa: “Biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể hiện quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng của từng nhóm tác giả, từng thời ñại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú” [21, tr 45] Bùi Công Hùng lại ñịnh nghĩa thiên về khả năng của biểu tượng “ Biểu tượng
là hình ảnh cụ thể giàu tính cảm xúc, có khả năng chứa ñựng ý nghĩa sâu, có khả năng kết hợp và biến hóa nhiều” [17, tr 68] Từ ñiển Tiếng Việt giải thích biểu tượng như sau: Biểu tượng có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là: “ hình ảnh tượng trưng”, nghĩa thứ hai là: “ hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong ñầu óc khi tác ñộng của sự vật vào giác quan ta ñã chấm dứt” [39, tr 26]
Trong bài viết “Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng: từ kí hiệu học ñến nhân học biểu tượng” TS ðinh Hồng Hải ñã ñi khá sâu và khá rõ về biểu tượng Biểu tượng là loại hình “kí hiệu” rất cổ xưa ra ñời từ rất lâu trong
lịch sử hình thành nhân loại Ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa vật làm biểu tượng với giá trị mà biểu tượng bao hàm cũng như ñời sống của các kí hiệu ñược F De Saussure gọi là “ Kí hiệu học” Tiếp thu quan niệm của F De Saussure thì Louis Trolle Hjelmslev cũng ñã khẳng ñịnh rằng mỗi ký hiệu là hiện tượng ñược nảy sinh bằng mối quan hệ giữa sự biểu ñạt (Signifiant) còn
Trang 27gọi là cái biểu ựạt: như các sự kiện, hiện tượng, cái dùng ựể biểu thị (một ựồ vật, một hình ảnh v.v ) và nội dung ựược biểu ựạt (Signifié) còn gọi là cái ựược biểu ựạt đó là những giá trị, quan niệm, ý nghĩa, ý tưởng v.v Vậy ký
hiệu là nội hàm của mối quan hệ cái biểu ựạt và cái ựược biểu ựạt đóng góp quan trọng của Louis Trolle Hjelmslev là có sự phân biệt khá rõ giữa Ộkắ hiệu học biểu hiệnỢ với Ộ kắ hiệu học hàm nghĩaỢ Kắ hiệu học biểu hiện là kắ hiệu thông thường, ựơn nghĩa, cụ thể nó là những hình ảnh, hình tượng biểu thị và
ý nghĩa biểu ựạt của chúng Kắ hiệu học hàm nghĩa là Ộ siêu kắ hiệuỢ, nó chắnh
là thế giới biểu tượng ựa nghĩa bao gồm hai mặt: kắ hiệu biểu thị - hiển ngôn,
và kắ hiệu ẩn dụ- mật ngôn
Dưới góc ựộ nghệ thuật thì biểu tượng ựược xem là một dạng chuyển nghĩa trong ngôn từ nghệ thuật và là một phạm trù thẩm mĩ Biểu tượng ựược xác lập bởi hai yêu tố cơ bản, ựó là Ộ hình tượng nghệ thuậtỢ( kắ hiệu biểu thị)
và Ộnghĩa bóngỢ( kắ hiệu ẩn dụ) Biểu tượng là hình tượng ựược hiểu ở bình diện kắ hiệu và phải là một kắ hiệu hàm nghĩa Nếu tách rời hai yếu tố thì không còn là biểu tượng Vì tách khỏi hình tượng thì kắ hiệu ẩn dụ sẽ mất tắnh biểu hiện, còn tách ý nghĩa thì hình tượng chỉ còn là hình ảnh thông thường
Từ kết quả nghiên cứu về biểu tượng ựã nêu ở trên, chúng tôi ựưa ra
quan niệm và cách hiểu về biểu tượng như sau: Biểu tượng là dùng hình ảnh
cụ thể ựể khái quát cho một nội dung trừu tượng nào ựấy
1.2.2 Nguồn gốc của biểu tượng trong ca dao
Tìm hiểu nguồn gốc của biểu tượng luôn là vấn ựề ựược nhiều người
quan tâm Trong chuyên luận ỘTìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt NamỢ của Nguyễn Thị Ngọc điệp ựã trình bày khá rõ 3 nguồn gốc của biểu tượng, ựó là:
* Biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán của người Việt Nam, từ quan niệm dân gian, tắn ngưỡng dân gian
Trang 28* Biểu tượng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc
* Biểu tượng xuất phát từ quan sát trực tiếp hằng ngày của nhân dân Dựa vào bài viết của Nguyễn Thị Ngọc ðiệp, chúng tôi sẽ trình bày 2 nguồn gốc cơ bản hình thành nên các biểu tượng trong ca dao Việt Nam nhưng ở phạm vị hẹp hơn Mục ñích của việc tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng
là ñể phục vụ cho việc ñi sâu giải thích ñặc ñiểm của ngôn ngữ biểu tượng trong thế giới nhiên tạo và thế giới nhân tạo có liên quan ñến nội dung trong
ñề tài của chúng tôi
a Biểu tượng xuất phát từ văn hóa của người Việt
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia tồn tại trên thế giới ñều có những ñặc trưng
riêng biệt về văn hóa và ñiều làm nên sự riêng biệt về văn hóa chính là biểu
tượng Văn học là loại hình nghệ thuật, mà dưới góc nhìn văn hóa học thì
nghệ thuật trước hết là một hệ thống văn hóa, ñể phân biệt chúng với những sản phẩm khác trong ñời sống xã hội người ta ñã gọi chúng là “ tác phẩm văn hóa” ðiểm quan trọng tạo thành ñặc trưng chung nhất của tác phẩm văn hóa
là nó sử dụng các hệ thống kí hiệu hàm nghĩa- biểu tượng ñể ñi sâu khám phá thế giới tâm hồn của con người Chính vì vậy, nguồn gốc của biểu tượng nghệ thuật nói chung và trong ca dao nói riêng có nguồn gốc từ văn hóa của dân tộc Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc một sắc thái riêng, cho nên văn hóa Việt Nam là một sự thống nhất trong ña dạng Văn hóa Việt Nam gắn liền với văn hóa nông nghiệp lúa nước Nói ñến nông nghiệp lúa nước không thể không nhắc ñến hình ảnh con trâu Trong khung cảnh ñồng quê người và trâu gắn bó với nhau như hình với bóng Con trâu trở thành biểu tượng cho sức mạnh, sự hi sinh, cần cù, chăm chỉ của con người Việt Nam Nó còn là biểu tượng của sự an lành, no ñủ Con trâu ñược chọn làm linh vật của Sea Games 22 tổ chức tại Việt Nam năm 2003
Trang 29Cũng từ nền văn minh lúa nước mà hình ảnh còn cò trắng xuất hiện khá nhiều trong ca dao Con cò ñã ñi sâu vào trong tiềm thức mỗi người dân quê Việt Nam Từ lời ru của mẹ ru ta vào giấc ngủ khi ta còn thơ bé cho ñến
“cánh cò” theo ta trên những cánh ñồng, trên những ñồi cây, trải dài khắp mảnh ñất quê hương, làm bạn với nhà nông trên những cánh ñồng bao la bình
dị Và cũng từ ngày xa xưa ấy “cánh cò” ñã ñi vào những bài ca dao của nhân dân ta, làm nên những bản tình ca cho khúc tâm tình của những người dân quê nghèo chân chất Hình tượng con cò trong ca dao Việt Nam mang tính chất một biểu tượng văn hoá, một hiện thân của thân phận con người lao ñộng bình thường, nhỏ bé, an phận, giàu tình cảm và mơ mộng
Có thể khẳng ñịnh rằng, trong kho tàng ca dao Việt Nam, hệ thống các biểu tượng là vô cùng phong phú và ña dạng Ngoài hai biểu tượng mà chúng tôi ñã nói ñến ở trên thì còn rất nhiều các biểu tượng xuất phát từ văn hóa ñậm
ñà bản sắc dân tộc như: bến - ñò, con thuyền, cây ña, dãi yếm, áo tứ thân, nón quai thao…ðặc biệt nước ta là một nước có rất nhiều sông, cho nên “ sông” cũng ñã dần dần ñi vào thơ ca một cách tự nhiên và trở thành một ñặc trưng cho quê hương xứ sở Con sông có vai trò quan trọng vừa là ñường giao thông vừa là nơi tụ họp buôn bán vừa là nơi sinh sống của con người
Người nghệ sĩ dân gian ngoài sự trải nghiệm cuộc sống, khả năng quan sát thế giới xung quanh, còn am hiểu rất sâu sắc văn hóa dân tộc Nguyễn Thị
Ngọc ðiệp trong “Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt Nam” có lời nhận xét “Khi lắng nghe ca dao, phải chăng thế giới biểu tượng trong ca dao và thế giới biểu tượng tồn tại trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam ñã cộng hưởng với nhau tạo nên một rung ñộng thẩm mĩ sâu sắc, một cảm nhận ñặc biệt về quê hương, dân tộc” [36, tr 330]
Văn hóa thể hiện trong ñời sống của dân tộc, những nền văn hóa khác nhau thì biểu tượng cũng sẽ khác nhau Văn hóa càng phong phú thì biểu
Trang 30tượng càng ựa dạng và giàu ý nghĩa Thông qua hệ thống biểu tượng trong ca dao sẽ giúp ta thấy rõ và trân trọng hơn những nét ựặc sắc riêng của văn hóa Việt
b Biểu tượng xuất phát từ trong văn học
Trong bài viết ỘTìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao Việt NamỢ
tác giả Nguyễn Thi Ngọc điệp ựã trình bày khá rõ vấn ựề này ở mục II.2 [36,
tr 330 - 341] Tác giả ựã khẳng ựịnh những nhân vật tiêu biểu trong văn học viết như Thúy Kiều, Kim Trọng, Kiều Nguyệt Nga, Lưu Bình, Dương Lễ, Hoạn Thư, Sở KhanhẦựã từ trang sách bước ra cuộc ựời, nhập thân vào những con người Việt Nam hồn hậu, trở thành những chàng trai, cô gái rất cụ thể Những nhân vật ựó trở thành biểu tượng với nhiều ý nghĩ biểu trưng khác nhau Có khi là biểu tượng cho tình yêu chung thủy, có khi biểu tượng cho cốt cách, phẩm hạnh con người Việt Nam, có khi biểu tượng cho tắnh cách của con người ở những môi trường, những ựịa vị khác nhau trong xã hội Những nhân vật ựó ựã ựược tác giả dân gian ựưa vào ca dao một cách rất tự nhiên, trở thành biểu tượng mang giá trị thẩm mĩ và giá trị tư tưởng nhân văn sâu sắc:
Bây giờ tôi mới gặp tình
Khác gì Kim Trọng thanh minh gặp Kiều
Tiện ựây tôi hỏi một ựiều đài gương soi ựến dấu bèo cho nhau?
Từ khi ăn một miếng trầu Miệng ăn, môi ựỏ, dạ sầu tương tư [20, tr 281]
Tác giả cũng khẳng ựịnh rằng một số biểu tượng còn có nguồn gốc xa xôi hơn: ựó là trong văn học cổ Trung Quốc Nhiều biểu tượng ựã trở nên quá gần gũi, quen thuộc với người Việt Nam Khi nói ựến tình yêu thường mượn những hình ảnh: dây tờ hồng, chỉ thắm, trăng già, ông Tơ bà NguyệtẦKhi nói
Trang 31ñến sự xứng ñôi vừa lứa thì có: loan – phụng, rồng – mây, …Và còn nhiều hình ảnh khác như ong – bướm, áo gấm, …Hầu hết các biểu tượng vay mượn của văn học Trung Quốc chủ yếu là những biểu tượng về tình yêu:
Bây giờ ta lại gặp nhau
Sẽ xin Nguyệt lão, Trăng già xe dây
Xe vào như gió như mây
Như chim loan phượng ñỗ cây ngô ñồng
[20, tr 280]
Ai ơi ñợi với tôi cùng
Tôi còn dở mối tơ hồng chưa xe
[20, tr 75]
Ở phần này, tác giả ñã giới thiệu ñược rất nhiều biểu tượng trong ca dao
có nguồn gốc từ trong văn học cổ nhất là những biểu tượng về tình yêu Và cũng ñã nhấn mạnh vai trò của các nho sĩ, trí thức bình dân xưa ñã tìm hiểu và phổ biến những biểu tượng này trong sáng tác dân gian
1.2.3 Các loại biểu tượng trong ca dao
Trong quá trình nghiên cứu biểu tượng, các nhà ngôn ngữ học không
những ñã nêu lên khái niệm, chỉ ra nguồn gốc mà còn dành nhiều thời gian ñể phân loại các biểu tượng Phân loại biểu tượng trong ca dao cũng ñã ñược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong ñề tài này, trước khi ñưa ra cách phân loại của mình, chúng tôi cũng xin ñược giới thiệu một số cách phân loại biểu tượng trong ca dao của một số nhà nghiên cứu
Tác giả Nguyễn Xuân Kính ñã phân loại các biểu tượng trong ca dao gồm có hai loại lớn như sau:
Một là thế giới các hiện tượng thiên nhiên, tự nhiên bao gồm: Trăng, sao, mây, gió ( các hiện tượng tự nhiên); cây cỏ, hoa lá…(thế giới thực vật); rồng phượng, chim muôn…( thế giới ñộng vật)
Trang 32Hai là thế giới các vật thể nhân tạo bao gồm: Áo, khăn, gương lược, mũ, giày…( các ñồ dùng cá nhân); chăn, chiếu, chén, bát…( các dụng cụ sinh hoạt gia ñình); thuyền, lưới, ñò, lờ, gàu…( các dụng cụ sản xuất); nhà, ñình, cầu…( các công trình kiến thiết) [21, tr 102]
Tác giả Trương Thị Nhàn trong bài viết “ Giá trị biểu trưng nghệ thuật của các vật thể nhân tạo trong ca dao cổ truyền Việt Nam” cũng ñã phân loại
thế giới vật thể nhân tạo một trong nhiều mảng của thế giới hiện thực ñược phản ánh vào trong ca dao, cụ thể bao gồm các loại sau: Nhóm các ñồ dùng cá nhân( áo, khăn, gương lược, mũ, giày…); nhóm các dụng cụ sinh hoạt hằng ngày(chăn, chiếu, chén, bát…); nhóm công cụ sản xuất (thuyền, lưới, ñò, lờ, gàu…); nhóm những công trình kiến thiết (nhà, ñình, cầu…)[18, tr 135-145] Dựa vào các công trình nghiên cứu của các tác giả, Nguyễn Xuân Kính, Vũ Ngọc Phan, Trương Thị Nhàn, Bùi Công Hùng, Hà công Tài, Nguyễn Thị Ngọc ðiệp…chúng tôi ñã phân loại các biểu tượng trong ca dao gồm hai loại lớn là: biểu tượng các vật thể nhiên tạo và biểu tượng các vật thể nhân tạo Cách phân loại của chúng tôi dựa trên cơ sở chủ yếu là trong bài viết của hai nhà nghiên cứu là Nguyễn Xuân Kính và Trương Thị Nhàn
Biểu tượng các vật thể nhiên tạo là những biểu tượng ñược tạo nên từ
những hình ảnh có trong thế giới tự nhiên như các hiện tượng tự nhiên, các loại ñộng vật, thực vật Ví dụ như trăng, sông, núi, con trâu, con cò, hoa sen, hoa nhài, cây trúc, cây mai…( dựa vào bài viết “ một số biểu tượng trong ca dao” của Nguyễn Xuân Kính.)
Biểu tượng các vật thể nhân tạo “ bao gồm những hình thức vật chất cụ thể ñược bàn tay lao ñộng của con người làm ra” [18, tr 137] xuất phát từ sự
quan sát trực tiếp hằng ngày và từ văn hóa của dân tộc, như chiếc yếm, chiếc khăn, cây cầu, chiếc thuyền… Những hình ảnh ñó dần dần ñi sâu vào trong tiềm thức của con người, và nó tự nhiên ñi vào thế giới thơ ca như người bạn
Trang 33tri âm tri kỉ rất gần gũi và thân thương ñể giải bày tâm tư tình cảm và thể hiện
vẻ ñẹp tâm hồn của nhân dân lao ñộng
Có thể nói, số lượng các hình ảnh ñược tái hiện và mang nhiều tầng ý nghĩa xuất hiện trong ca dao là khá nhiều và có nhiều hình ảnh ñã trở thành biểu tượng nghệ thuật sống mãi trong kho tàng văn học dân tộc và trong ñời sống văn hóa tinh thần của người dân
1.3 KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ BIỂU TƯỢNG TRONG CA DAO 1.3.1 Ngôn ngữ biểu tượng
Ngôn ngữ có vai trò ñặc biệt quan trọng, vì nó là công cụ giao tiếp ñể
con người trong xã hội ñến gần với nhau và hiểu nhau hơn Ngôn ngữ là những âm thanh và chữ viết có ý nghĩa Ý nghĩa của ngôn ngữ không phải là những gì chung chung cứng nhắc, vô hồn mà rất phong phú, ña dạng tùy vào từng ngữ cảnh với những quan hệ xã hội, tình cảm và mục ñích giao tiếp nhất ñịnh Ngữ cảnh ở ñây ñược hiểu theo nghĩa rộng chính là ngữ cảnh văn hóa Như ở phần nguồn gốc của biểu tượng ñã giải thích thì một trong những nguồn gốc xuất hiện của biểu tượng là từ văn hóa Biểu tượng ra ñời, tồn tại
và tác ñộng ñến ñời sống văn hóa của con người cho nên tìm hiểu ngôn ngữ biểu tượng cũng chính là tìm hiểu ñời sống văn hóa và xã hội loài người thông qua các biểu tượng văn hóa mà họ tạo ra
Vậy ngôn ngữ biểu tượng là gì? Trong Từ ñiển tiếng Việt, thuật ngữ ngôn ngữ ñược giải nghĩa là: “Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện diễn ñạt, thông báo” [39, tr 666] “Trong khi ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cho
phép con người giao tiếp với nhau bằng khả năng tri nhận trực tiếp của các
giác quan thì ngôn ngữ biểu tượng cho phép con người ở nhiều nền văn minh
khác nhau, nhiều vùng văn hoá khác nhau, thậm chí ở nhiều thời gian và không gian khác nhau hiểu ñược nhau nhờ vào ñặc tính căn bản của nó là thông tin và giao tiếp thông qua hệ thống kí hiệu hàm nghĩa của nó Nhờ có
Trang 34ngôn ngữ biểu tượng mà con người có khả năng giao tiếp vượt thời gian và không gian ựể hiểu ựược con người sống ở các nền văn minh cổ xưa cách chúng ta hàng nghìn năm thông qua những di vật văn hoá mà họ ựể lạiỢ [14]
Và khi tìm hiểu cơ chế ngôn ngữ của biểu tượng, TS Lê đức Luận cũng ựã chỉ ra cơ chế dẫn ựến một tắn hiệu ngôn ngữ trở thành biểu tượng đó là Ộ tắn hiệu ngôn ngữ có chứa ựựng biểu tượng văn hóa dân tộc và tắn hiệu ngôn ngữ ựược xây dựng thành hình tượng văn họcỢ [29]
Ở nước Việt, vào thời xa xưa, chim Lạc ựược xem là biểu tượng của nước Âu Lạc, một loại chim trong truyền thuyết Hình ảnh con chim Lạc cũng
là biểu tượng tìm thấy trên mặt Trống đồng Chim lạc tượng trưng cho tinh thần và văn hóa thuần Việt Với truyền thống lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc, người Việt dù ở phương trời nào, tuy có nhiều sự khác biệt về chắnh kiến nhưng ựều chung một cội nguồn, một ngày Giỗ Tổ, một tình cảm tự nhiên, một khát vọng bay lên như hình ảnh con chim Lạc ựược trạm trổ trên bề mặt trống đồng thể hiện sự vĩnh hằng của dân tộc Hình ảnh tà áo dài, loại trang phục truyền thống của người Việt ngày nay cũng trở thành biểu tượng cho vẻ ựẹp của người phụ nữ Hình ảnh áo dài ựã trở thành biểu tượng vẻ ựẹp kắn ựáo, duyên dáng của con gái Việt
Trong nghệ thuật, người nghệ sĩ cũng ựã sử dụng rất nhiều ngôn ngữ hình ảnh ựể tạo nên tầng hàm nghĩa cho tác phẩm của mình Vắ dụ, trong hội
họa, hình tượng nàng Mona Lisa với Ộnụ cười muôn thuởỢ trong bức tranh La
Joconde của Leonard de Vanci ựã trở thành biểu tượng ựộc ựáo trong hàng vạn hình tượng người ựàn bà có trong nghệ thuật hội họa Trong văn học, hình ảnh con cò trở thành biểu tượng cho người nông dân lam lũ, chịu thương chịu khó; hình ảnh hoa sen tượng trưng cho bản sắc, phẩm chất, khắ tiết của người lao ựộngẦ
Trang 35Qua việc tìm hiểu một số nghiên cứu về ngôn ngữ và biểu tượng, có thể
thấy rằng, ngôn ngữ biểu tượng, tức là dùng ngôn ngữ hình ảnh ñể nói lên một
vấn ñề nào ñó Vì lẽ ñó, ngôn ngữ biểu tượng là ngôn ngữ mang ñầy màu sắc, hình ảnh Những hình ảnh trong thế giới tự nhiên và hình ảnh do con người tạo nên nếu có cả phần “hiển ngôn” và “hàm ngôn” ñể tạo nên hệ thống “ ý nghĩa của ý nghĩa” thì ñều trở thành thứ ngôn ngữ ñặc biệt hay nói theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì ñó là một loại “siêu kí hiệu” luôn chứa ñựng
trong nó rất nhiều ý nghĩa
Như vậy “ một tín hiệu ngôn ngữ có tính biểu tượng phải ñược xây dựng từ các cấu trúc ngôn ngữ chứa ñựng ý nghĩa văn hóa Ý nghĩa văn hóa
có thể có sẵn trong nghĩa gốc của từ, có thể nằm trong nghĩa phái sinh của từ Với dạng này, biểu tượng ñược xây dựng ở cấp ñộ từ ngữ hay nói cách khác
là ngôn ngữ mang tính biểu tượng” [29]
Từ một số dẫn luận trên có thể thấy rằng, biểu tượng luôn luôn là biểu trưng về cái gì hay cho cái gì khác nó Cái biểu tượng là một, nhưng cái ñược biểu tượng luôn luôn khác một, nghĩa là nhiều hơn một Và do ñó, một hình ảnh biểu tượng có thể ñược hiểu qua nhiều góc ñộ, khía cạnh khác nhau ðối với ngôn ngữ, mọi ý nghĩa của biểu tượng bao giờ cũng tùy thuộc vào ngữ cảnh Trong xã hội hiện ñại, ngôn ngữ biểu tượng giúp con người giao tiếp và hoà nhập với nhau mà không nhất thiết phải nói chung một thứ tiếng
1.3.2 Ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao
Văn học nói chung và ca dao nói riêng ñều là những văn bản nghệ thuật
vì ñều ñược xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật Một thứ ngôn từ ña nghĩa, ñầy màu sắc Nhờ sử dụng hệ thống ngôn ngữ biểu tượng, tức là dùng ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ bằng những kí hiệu vừa gần gũi lại vừa ñậm bản sắc văn hóa dân tộc ñể chuyển tải những tư tưởng tình cảm của con người, ñã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn sâu sắc
Trang 36Văn học Việt Nam từ xưa ñến nay có rất nhiều biểu tượng, hầu hết những hình ảnh trong thế giới hiện thực khách quan ñều ñược dùng làm chất
liệu biểu trưng trong tác phẩm văn chương Nguyễn Phan Cảnh trong Ngôn ngữ thơ có viết: “Nghệ thuật ngôn ngữ trước hết là nghệ thuật tạo những mối liên tưởng giữa các yếu tố riêng lẻ làm thành tác phẩm, nhằm sử dụng một cách mĩ học chiều dày của chất liệu ngôn ngữ” [1] M Gorki cũng ñã khẳng
ñịnh: “ Yếu tố ñầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và
cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống, là chất liệu của văn học”
[11, tr 169] Những nhận xét ñó cho thấy tầm quan trọng của chất liệu ngôn ngữ ñối với sự sống còn của tác phẩm nghệ thuật
Trong ca dao, với việc sử dụng các phương tiện và biện pháp tu từ, ñặc biệt là ẩn dụ và so sánh…thì các ngôn ngữ tự nhiên trong sinh hoạt hằng ngày
ñã ñược lựa chọn, xếp ñặt, trau chuốt, tinh luyện trở thành ngôn ngữ nghệ thuật và nhiều hình ảnh có trong thế giới cũng ñã trở thành những biểu tượng
có giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cao
Trong phép ẩn dụ, thì ẩn dụ hình tượng và ẩn dụ bằng các hình thức ngôn ngữ ñược xem là hai loại tiêu biểu ñể tạo nên biểu tượng trong văn học Như “hoa” là từ chỉ cơ quan sinh sản hữu tính của cây có hạt kín, có màu và hương thơm Từ nghĩa gốc, “hoa” ñã ñược dùng với nghĩa chuyển thông qua
biện pháp ẩn dụ hình tượng Trong văn học “hoa khi thì dùng ñể ví người phụ
nữ ñẹp, khi thì dùng ñể ví với người tình nhân hào hoa phong nhã, có khi lại ñược dùng ñể ví người có phẩm chất cao ñẹp Chính vì vậy, “hoa” trở thành biểu tượng cho cái tốt ñẹp cao quí” [23, tr 53-54]
ðặc biệt nhất trong thế giới các loài hoa chính là hoa sen Hình ảnh hoa sen ñã trở thành biểu tượng cho ñất nước Việt Nam vì ñây là loài hoa ñã khẳng ñịnh giá trị tinh thần, tình cảm, thể hiện cốt cách của người Việt Nam
Trong bài viết “ Cơ chế ngôn ngữ của biểu tượng” TS Lê ðức Luận cũng ñã
Trang 37khẳng ñịnh “Hoa sen là loài hoa biểu trưng cho sức sống và bản chất trong
sạch không bị lây nhiễm bởi môi trường xấu “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi
bùn” Ý nghĩa biểu trưng này không xuất phát từ tên hoa mà từ môi trường
sống và bản chất của hoa Ý nghĩa này toát lên từ hình tượng hoa ñể rồi nâng
lên biểu tượng phẩm chất tâm hồn người Việt: sống có bản lĩnh, vững vàng
trước những thử thách nguy cơ, không bị ñồng hóa và tha hóa ðây là hình
Ngoài phương tiện ẩn dụ tu từ thì ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao
còn ñược tạo nên bởi biện pháp so sánh tu từ ðây “là một biện pháp tu từ
ngữ nghĩa, trong ñó người ta ñối chiếu hai ñối tượng khác loại của thực tế
khách quan không ñồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống
nhau nào ñó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về ñối
tượng” [22, tr 154] Tác giả dân gian ñã sử dụng khá nhuần nhuyễn biện
pháp này ñể tạo nên thế giới biểu tượng ña dạng, phong phú trong ca dao:
Bây giờ ta gặp nhau ñây
Như con cá cạn gặp ngày trời mưa
[20, tr 280]
Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển ñông
[20, tr 711]
Trang 38Tóm lại, qua các phương tiện và biện pháp tu từ thì những hình ảnh, sự vật hiện tượng trong thế giới ñã trở thành biểu tượng mang vẻ ñẹp văn hóa
dân tộc và giá trị nhân văn sâu sắc
1.4 Tiểu kết:
Có thể khẳng ñịnh rằng nghiên cứu biểu tượng nói chung và biểu tượng ngôn ngữ trong văn học nói riêng luôn là vấn ñề ñược nhiều người quan tâm Chính vì vậy ñã có rất nhiều công trình ñi sâu nghiên cứu về vấn ñề này Trong chương này, qua việc tìm hiểu khái lược về ca dao, ngôn ngữ ca dao cho ñến những quan niệm về biểu tượng và ngôn ngữ biểu tượng trong ca dao, phân loại các biểu tượng trong ca dao… là cơ sở vững chắc ñể chúng tôi ñi vào triển khai phần nội dung chính ở chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2
ðẶC ðIỂM CẤU TẠO NGÔN NGỮ BIỂU TƯỢNG TRONG
CA DAO
2.1 TỪ NGỮ BIỂU TƯỢNG NHÓM CÁC VẬT THỂ NHIÊN TẠO
2.1.1 Từ ngữ biểu tượng nhóm các hình ảnh, hiện tượng tự nhiên
ðể có cái nhìn khái quát và khoa học, chúng tôi xin ñược thống kê tần
số xuất hiện biểu tượng từ các hình ảnh, hiện tượng tự nhiên theo bảng sau:
Bảng 2.1 Thống kê biểu tượng thuộc nhóm hình ảnh, hiện tượng tự nhiên
Trang 40Qua bảng hệ thống, có thể thấy rõ biểu tượng ñược hình thành nên từ
các hình ảnh, hiện tượng có trong thế giới tự nhiên là vô cùng phong phú Trong các bảng khảo sát, chúng tôi ñã tính tỉ lệ phần trăm trên tổng số 12487
lời ca dao Trong số 12487 lời ca dao trong cuốn “ Kho tàng ca dao người Việt”, chúng tôi xác ñịnh ñược 78 ñơn vị sự vật các hiện tượng trong thế giới
tự nhiên ñã trở thành biểu tượng trong các lời thơ dân gian, với tần số xuất hiện khoảng 1007 lần ðây cũng là những biểu tượng làm nên sự phong phú
và ña dạng của các hình ảnh biểu tượng trong ca dao
a Biểu tượng có cấu tạo là từ
a.1 Từ ñơn
Mỗi từ ñơn biểu thị một ñối tượng sự vật tương ứng với một biểu tượng
Có rất nhiều từ ngữ trong số ñó ñã vượt ra khỏi ý nghĩa biểu vật ñể trở thành những biểu trưng nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ cao, biểu hiện ñời sống tư tưởng, tình cảm và số phận con người
Trong số các từ ngữ biểu tượng vật thể nhiên tạo thì “ trăng” là hình
ảnh ñược tác giả dân gian sử dụng khá nhiều ñể gởi gắm những quan niệm,
những suy nghĩ, những tâm tư tình cảm của mình Hình ảnh “trăng” ñi vào ca
dao một cách tự nhiên, mộc mạc giống như bản chất của người dân lao ñộng
Số lần “trăng” xuất hiện là từ ñơn là 39 lần “Trăng” không chỉ là một hiện
tượng của thiên nhiên mà như một người bạn của con người:
Bạn ơi có nhớ ta chăng
Ta thời nhớ bạn như trăng nhớ trời
[20, tr 234]
Với hình ảnh “sông”, trong tổng số 138 lần xuất hiện thì có (41 lần)
“sông” xuất hiện dưới hình thức là một từ ñơn Việc sử dụng hình tượng sông
trong ca dao không nhằm tái hiện hình ảnh một con sông cụ thể nào mà chủ yếu ñể thể hiện cảm xúc và mục ñích biểu tượng hoá nghệ thuật Sông trở