1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh

21 515 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 184 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết chung về giao tiếp vào việcphát hiện những nét văn hoá ứng xử liên quan tới giới tính của vai giao tiếp, tập trungchủ yếu vào giao ti

Trang 1

Bộ Giáo dục và đào tạo

Nguyễn Thị Mai Hoa

Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phờng vải Nghệ Tĩnh

Trang 2

Công trình đợc hoàn thành tại: Trờng Đại học Vinh

Ngời hớng dẫn khoa học:

1 GS.TS Diệp Quang Ban

2 GS TS Nguyễn Nhã Bản

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thái Hoà

Phản biện 2: GS.TS Hoàng Trọng Phiến.

Phản biện 3: PGS.TS Phạm Hùng Việt

Luận án đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc họp tại Trờng Đại học Vinh

vào hồi giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu Luận án tại Th viện Quốc gia,

Th viện trờng Đại học Vinh, Th viện tỉnh Nghệ An

MỞ ĐẦU

1 Lớ do chọn đề tài

Hỏt phường vải Nghệ Tĩnh là một thể loại thơ ca dõn gian đặc sắc của xứ Nghệ,gắn với mụi trường diễn xướng, cỏc vai giao tiếp trong hỏt phường vải thuộc về haigiới nam và nữ Vỡ lẽ đú, đặc trưng ngụn ngữ giới tớnh chi phối trực tiếp nội dung vàhỡnh thức biểu hiện của lời ca, việc nghiờn cứu yếu tố giới tớnh trong hỏt phường vải sẽgúp phần làm rừ thờm đặc trưng ngụn ngữ, văn hoỏ và con người xứ Nghệ Hỏt phường

Trang 3

vải trước đây thường được các nhà nghiên cứu khai thác từ góc độ văn học, ít đượcchú ý phương diện ngôn ngữ học, và chưa có công trình nào chuyên bàn về đặc điểmngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Chính tầm quan trọng và tính mới mẻ, hấpdẫn của yếu tố giới tính trong hát phường vải là cơ sở để chúng tôi lựa chọn đề tài

"Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh"

2 Lịch sử vấn đề

Các kết quả nghiên cứu về giới tính trong lĩnh vực ngôn ngữ đã có đã khẳng định ýnghĩa và tầm quan trọng của yếu tố giới tính trên nhiều bình diện, như ngữ âm, từvựng, ngữ pháp và phong cách ngôn ngữ (E Sapir, R Lakoff, W Labov, P.Trudgill )

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết chung về giao tiếp vào việcphát hiện những nét văn hoá ứng xử liên quan tới giới tính của vai giao tiếp, tập trungchủ yếu vào giao tiếp thường nhật trên một số phương diện: sự phân biệt đối xử về giớitính thể hiện trong ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ của giới (Nguyễn Văn Khang, VũThị Thanh Hương ) Các công trình nghiên cứu này có tác dụng gợi mở, cung cấp líthuyết cho những công trình nghiên cứu cụ thể, và ở luận án này là vấn đề ngôn ngữgiới tính trong hát phưòng vải Nghệ Tĩnh

3 Đối tượng, nguồn tư liệu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ giới tính thể hiện trong lờihát của vai nam/nữ trong hát phưòng vải Nghệ Tĩnh với nguồn tư liệu là 1745 lời hát.Phạm vi nghiên cứu là xem xét, mô tả, so sánh đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếpnam/nữ trong hát phưòng vải trên một số phương diện: từ xưng hô, các hành động nóitrong một số bước hát, cách sử dụng từ ngữ và các biện pháp, phương tiện nghệ thuật

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là xác định những đặc điểm ngôn ngữ mang đặc trưng giớitính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh; từ đó góp phần minh hoạ, bổ sung làm rõ một sốvấn đề về lí thuyết ngôn ngữ giao tiếp và giới tính, về văn hoá xứ Nghệ và con người

xứ Nghệ

Để thực hiện mục đích trên, các nhiệm vụ cụ thể được đặt ra là:

- Khảo sát, mô tả, phân tích các lời hát phường vải được xác định theo giới tính đểxem xét biểu hiện đặc điểm ngôn ngữ giới tính vai giao tiếp qua từ xưng hô, các hànhđộng nói trong một số bước hát, cách thức sử dụng từ ngữ, một số biện pháp, phươngtiện tu từ

- Tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ giới tính của hátphường vải

- Bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy về thơ ca dân gian

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ đạo được sử dụng trong công trình nghiên cứu là: thống kê,

Trang 4

miêu tả, phân tích, quy nạp, so sánh.

6 Đóng góp của luận án

Công trình nghiên cứu đề cập một vấn đề mới (ngôn ngữ giới tính) trên một đốitượng cổ điển có tính chuyên biệt (hát phường vải), cho nên nội dung đáp ứng được tínhmới mẻ, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác

a Về mặt lí luận

- Góp phần làm rõ một số đặc điểm về từ xưng hô xét từ góc độ giới tính, hành

động nói gắn với các ngữ cảnh giao tiếp

- Góp thêm cứ liệu cho nghiên cứu ngôn ngữ giới tính Cung cấp căn cứ lí luận vềmột số phương diện trong nghiên cứu hát phưòng vải như: thủ tục một cuộc hát, môitrường diễn xướng, giới tính vai giao tiếp, quan hệ chủ/ khách

- Khẳng định và bổ sung thêm những nhận định về đặc trưng văn hoá mang dấu ấngiới tính của vùng đất Nghệ Tĩnh, của con người Nghệ Tĩnh

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án có 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và một số vấn đề về hát phường vải Nghệ Tĩnh

Chương 2: Giới tính vai giao tiếp thể hiện qua từ xưng hô trong hát phường vải

Chương 3: Ngôn ngữ giới tính thể hiện qua một số hành động nói trong hát phường vải Chương 4: Giới tính vai giao tiếp thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ trong hát phường

vải.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ

HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH 1.1 Giao tiếp và hội thoại

1.1.1 Giao tiếp và giao tiếp bằng ngôn ngữ

Giao tiếp là sự trao đổi thông tin qua lại bằng lời giữa ít nhất hai người với những

thông điệp bằng ngôn ngữ trong một ngữ cảnh nhất định, hướng tới mục đích là tự thể

Trang 5

hiện mình (về thái độ, tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc, quan điểm ) Trong giao tiếp, ngôn

ngữ thực hiện hai chức năng chính: chức năng giao dịch và chức năng liên nhân Ở luận án này, chức năng liên nhân là cơ sở để chỉ ra quan hệ giữa các vai giao tiếp nam/

nữ

Khi tham gia giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có thể đổi chỗ cho nhau để đảm nhậnvai trao/ đáp, tạo hệ thống lượt lời với các cặp thoại hô ứng về nội dung và hình thức.Trong phạm vi luận án, vai giao tiếp được xem xét trong hoạt động hội thoại bằng lờiqua quan hệ tương tác vai trao - đáp

1.1.2 Vận động hội thoại và sự tương tác

Khái niệm hội thoại được xem xét trong đề tài chủ yếu được hiểu là song thoại Mỗilời hát phường vải tương đương 1 tham thoại, xuất hiện chủ yếu ở dạng lời đơn (cặpthoại một tham thoại) hoặc cặp lời đối đáp (cặp thoại 2 tham thoại) Theo Yule (1997),

dựa trên cơ sở quyền được nói mà người dự thoại có thể có lượt lời và có cơ hội nhận

lượt lời theo sự chi phối của (hay lệ thuộc vào) hệ thống điều hành cục bộ Quá trình

phân phối cơ hội nhận lượt lời theo hệ thống điều hành cục bộ giữa những người thamcuộc thoại chính là quá trình vận động hội thoại gồm ba nhân tố: sự trao lời, sự traođáp và sự tương tác giữa Sp1 (vai nói) và Sp2 (vai nghe), được sắp xếp theo một trình

tự trao/đáp luân phiên giữa những người dự thoại, còn gọi là sự liên hoà phối các lượtlời

Việc thực hiện cuộc tương tác phải theo những nguyên tắc nhất định Theo Grice

(1975), nguyên tắc cộng tác của hội thoại được chi tiết hoá thành bốn nguyên tắc bậc

dưới, gọi là các phương châm hội thoại bao gồm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm về quan hệ, phương châm về cách thức Khi người nói cố

ý vi phạm một phương châm hội thoại nào đó, cũng tức là người nói thông báo một ýnghĩa nào đó bằng hàm ý, và người nghe phải có năng lực giải đoán hàm ý ấy

Hát phường vải là hát giao duyên, do vậy hầu hết các lời hát phường vải đều chứahàm ý hội thoại Theo đó, những vấn đề liên quan tới ngôn ngữ các vai giao tiếp trongluận án được xem xét trên cơ sở hàm ý hội thoại

1.2 Hành động nói

Hành động nói là những hành động được thực hiện bằng các phát ngôn (xin lỗi,than phiền, chỉ dẫn, tán thành, cảnh báo…) Theo Searle, để thực hiện hành động nóicần có 4 điều kiện tiên quyết: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điềukiện chân thành, điều kiện căn bản; đồng thời đề xuất 5 lớp hành động nói gắn với 5chức năng tổng quát của các hành động nói: tuyên bố, biểu hiện, bộc lộ, điều khiển,ước kết Các hành động nói đề cập trong đề tài dựa trên hệ thống phân loại của Searle

1.3 Về ngôn ngữ và giới tính

Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt về mặt thể chất (tức sinh lí học) giữa nam

giới và nữ giới; còn giới là khái niệm chỉ mối quan hệ xã hội, mối tương quan giữa địa

vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể Giới tính là những chức năng tự

Trang 6

nhiên, hầu như bất biến; còn những yếu tố thuộc về giới thay đổi khi các điều kiện quy

định chúng thay đổi

Yếu tố giới tính ảnh hưởng tới ngôn ngữ, tạo ra những điểm khác nhau giữa ngônngữ nam giới và nữ giới được thể hiện trên ba phương diện: cách phát âm của mỗi giới,ngôn ngữ nói về mỗi giới và phong cách ngôn ngữ Sự khác biệt ấy được hình thànhbởi nhiều nguyên nhân khác nhau: Nguyên nhân tự nhiên là do cấu tạo cơ thể người;nguyên nhân xã hội là do nhiều nhân tố: văn hoá, sự phân bố quyền lực và địa vị xãhội, sự phân công lao động và kinh nghiệm về xã hội của mỗi giới Đặc điểm ngônngữ giới tính do nguyên nhân tự nhiên hầu như "bất biến", còn đặc điểm ngôn ngữ giớitính do nguyên nhân xã hội thường có khuynh hướng thay đổi để phát triển và thíchnghi

1 4 Về ngôn ngữ và văn hoá

Theo F.d Saussure (1973), văn hoá và ngôn ngữ đều là "thiết chế xã hội", hoạtđộng ngôn ngữ cũng như hoạt động văn hoá đều thuộc loại hoạt động tinh thần Còn E.Sapir (2000) khẳng định rằng ngôn ngữ và văn hoá quan hệ khăng khít với nhau tớimức sẽ không thể hiểu và đánh giá đúng được cái này nếu không có kiến thức về cáikia Trong thơ ca dân gian Việt Nam, mối quan hệ ấy được thể hiện khá rõ: Văn hoácộng đồng của người Việt là nền tảng để hình thành thơ ca dân gian; tác động trở lại,thơ ca dân gian lại có ý nghĩa phản ánh và lưu giữ quá trình hình thành, phát triển củavăn hoá cộng đồng

1.5 Phương ngữ xã hội

Được hình thành từ nguyên nhân về địa lí, nguyên nhân về xã hội và đặc điểm lịch

sử, phương ngữ thường được xem xét trên hai bình diện: phương ngữ địa lí (chỉ biếnthể địa lí của ngôn ngữ) và phương ngữ xã hội (chỉ biến thể xã hội của ngôn ngữ) Ởđây chỉ đề cập tới ngôn ngữ xã hội Trong HPV, dấu hiệu của phương ngữ xã hội đượcxem xét trên nhiều phương diện: cách sử dụng từ ngữ (hệ thống từ địa phương NghệTĩnh, nhất là từ xưng hô, từ ngữ chỉ không gian, thời gian; từ ngữ chỉ công việc…);cách sử dụng nghệ thuật chơi chữ (nói lái, đồng âm, đồng nghĩa…)

1.6 Hát phường vải Nghệ Tĩnh và việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới tính

Những nét riêng về địa lí thiên nhiên, khí hậu, sinh hoạt dân cư, ngôn ngữ đã tạonên một phong cách Nghệ Tĩnh khá nhất quán, nhất là phong cách con người, được thể

hiện trên các phương diện như: tiếng nói trầm đục, cách tư duy cứng nhắc, bảo thủ; hành động quyết liệt, dữ dội; cách ứng xử chuộng sự giản dị, mộc mạc; quan hệ làng xã

được xác định trên cơ sở gắn kết cộng đồng chặt chẽ

Cùng với ví đò đưa, hát phường vải được coi là 1 trong 2 thể ví tiêu biểu và thịnh hành nhất của hát ví xứ Nghệ, có thủ tục sinh hoạt khá chặt chẽ Để có cơ sở xét giới tính vai giao tiếp, tập hợp tư liệu hát phường vải được phân định thành 3 nhóm lời: (1)

Nhóm lời có thể phân định tách bạch giới tính của chủ ngôn thông qua hình thức cặp lời đối đáp hoặc từ xưng hô; (2) Nhóm lời khó phân định tách bạch giới tính của chủ ngôn; (3) Nhóm lời không thể phân định giới tính của chủ ngôn Do không phân định

Trang 7

được giới tính vai giao tiếp, nhóm lời (3) không được xem xét trong luận án Như vậy,tổng số lời hát được khảo sát trong luận án là 1745 lời, trong đó gồm 767 lời hát nam

và 978 lời hát nữ

1.7 Tiểu kết chương I

Giao tiếp trong hát phường vải có tính diễn xướng , theo đó, chức năng của ngônngữ trong hát phường vải chủ yếu là chức năng liên nhân Ở hát phường vải, vai giaotiếp được xét trong mối quan hệ tương tác thông qua các hình thức trao/ đáp của hoạtđộng hội thoại bằng lời hát Đồng thời việc lựa chọn ngôn ngữ của các vai giao tiếptrong hát phường vải cũng chịu sự chi phối bởi các yếu tố liên quan tới thuộc tính xãhội của vai giao tiếp: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, trình độvăn hoá, v.v

Đặt vào cuộc thoại, mỗi lời hát (lời đơn hay cặp trao-đáp) đều được coi là một lượtlời được thực hiện theo quy trình luân phiên đổi vai Đây là căn cứ để xác định kháiniệm hội thoại trong luận án chủ yếu được hiểu là song thoại với hai vai giao tiếpchính: vai nam (phường nam) và vai nữ (phường nữ) Mặt khác, do điều kiện có hạn,luận án chỉ xem xét ngôn ngữ hát phường vải qua hệ thống lời ca đã được tập hợpthành văn bản, không đặt lời ca trong môi trường diễn xướng, do vậy, cũng không xemxét đến các yếu tố phi ngôn ngữ vốn rất quan trọng đối với sinh hoạt văn hoá dân giannhư hát phường vải

CHƯƠNG 2: GIỚI TÍNH VAI GIAO TIẾP THỂ HIỆN QUA

TỪ XƯNG HÔ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI 2.1 Vai giao tiếp trong hát phường vải

2.1.1 Vấn đề xác định vai giao tiếp

Xét theo vai trò tham gia thì những người có mặt trong một cuộc hát phường vải

thường gồm: người hát, người đặt câu hát, người đi nghe hát Xét về quan hệ giao tiếp thì các thành phần trên được đặt vào ba vai giao tiếp: vai chủ, vai khách và vai thầy bày Xét về quan hệ giới tính thì các thành phần trên được đặt vào hai vai giao tiếp: vai nữ và

vai nam Về mặt giới tính, lời hát nữ có 978/1745, chiếm 56 %, và lời hát nam có

767/1745 chiếm 44% (Bảng 2.1).

Bảng 2.1 Phân loại lời hát phường vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát

Các chặng Lời

namđơn

Lời nữđơn

Lời nam trong cặptrao - đáp

Lời nữ trong cặptrao - đáp

Tổng

Namtrao Nam đáp Nữ trao Nữ đáp

Trang 8

Hát dạo 82 56 2 3 3 2 148

Hát hỏi 0 5 22 32 32 22 113Hát đố hát đối 2 18 10 124 124 10 288

Hát xe kết 307 372 42 53 54 42 870Hát tiễn 21 84 2 12 12 2 133Tổng 439 649 86 242 243 86 1745

2.1.2 Sự tương tác và quan hệ liên cá nhân giữa các vai giao tiếp trong hát phường vải

Quan hệ tương tác thể hiện qua sự điều hoà lượt lời của các vai giao tiếp và qua

những tín hiệu điều hành vận động trao - đáp Quan hệ liên cá nhân được xét trên 2trục: trục quyền thế xã hội và trục quan hệ khoảng cách

Xét trên trục quyền thế xã hội, các vai giao tiếp nam/nữ được phân biệt trên 3

phương diện: về nghề nghiệp và địa vị xã hội, sự tôn vinh về vai vế trong xã hội chỉ dành cho vai nam; về tuổi tác, vai nữ thường được đặt ở vị thế thấp hơn, khiêm nhường hơn khi xác định quan hệ với vai nam (thể hiện rõ qua từ xưng hô); về quan niệm định

kiến giới, các phát ngôn của chủ thể nam/hoặc nữ đã đề cập tới các mối quan hệ cụ thể:

vai nữ thường gắn với quan hệ gia đình, vai nam thường gắn với quan hệ xã hội

Xét trên trục quan hệ khoảng cách, quan hệ giữa vai nam/ vai nữ có sự điều chỉnh

về mức độ thân mật hoặc xa cách Nếu quan hệ xã hội giữa các vai giao tiếp hầu nhưkhông thay đổi trong cả cuộc hát thì về quan hệ khoảng cách, theo trình tự các bướccủa một cuộc hát, tình cảm của các vai giao tiếp có sự tịnh tiến dần theo hướng tíchcực: từ xa lạ đến gần gũi, thân thiết

2.2 Giới tính thể hiện qua hệ thống từ xưng hô trong hát phường vải

2.2.1 Sơ lược về từ xưng hô

Các nhân vật tham gia giao tiếp được phân định ở 3 ngôi vị (số ít và số nhiều): ngôithứ nhất chỉ người nói, ngôi thứ 2 chỉ người nghe và ngôi thứ 3 chỉ người được nóiđến Tuy nhiên, khi một hoạt động giao tiếp diễn ra, chỉ có ngôi thứ nhất và ngôi thứhai sử dụng từ xưng hô, do đó mới thực sự là các ngôi xưng hô

Xét trong quan hệ giao tiếp, các đại từ nhân xưng gốc trong tiếng Việt không biểuhiện giới tính, tức là không có phạm trù giống ngữ pháp cũng như giống sinh học Còncác đại từ nhân xưng lâm thời có thể biểu hiện giới tính; cũng có thể không biểu thịgiới tính Do đó, đối với tiếng Việt, muốn xác định giới tính (trỏ nam hay nữ) của nhânvật hành động do đại từ nhân xưng biểu thị thì phải dựa vào ngữ cảnh, văn bản, hoặc

Trang 9

theo phán đoán logic.

2.2.2 Từ xưng hô trong hát phường vải

Hệ thống từ xưng hô phong phú đã làm cho những lời đối đáp trong hát phường vảiNghệ Tĩnh vừa có tính uyên bác, vừa mang đậm nét không khí sinh hoạt dân gian.Ngoài ra, trong hát phường vải còn có hệ thống lời hát trống từ xưng hô với452/767lời hát nam (58,9 %), 589/978 lời hát nữ (60,2 %), bao gồm trống từ xưng hô

từ xưng hô ở ngôi thứ nhất, hoặc ngôi thứ hai, hoặc cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Làngôn ngữ giao tiếp nghệ thuật, hiện tượng trống từ xưng hô trong hát phường vải kháphổ biến và không bị coi là vi phạm phép lịch sự

2.2.3 Một số khuôn hình xưng hô trong sự quy chiếu giới tính vai giao tiếp

Trong tư liệu khảo sát, vai nam sử dụng 23 từ, tổ hợp từ xưng hô ở ngôi thứ nhất;

47 từ, tổ hợp từ xưng hô ở ngôi thứ hai Vai nữ sử dụng 21 từ, tổ hợp từ xưng hô ở ngôithứ nhất, 37 từ, tổ hợp từ xưng hô ở ngôi thứ hai Ngoài ra còn có hệ thống từ xưng hô

dùng chung gồm: nhóm từ nhân xưng đích thực: tôi, ta, đôi ta…; nhóm từ ngữ không phải là từ nhân xưng đích thực, được dùng với tư cách là từ xưng hô lâm thời: mình, ai,

cố nhân, tri âm, bạn, người… Kết quả đó cho thấy, hệ thống từ xưng hô trong lời hát

nam phong phú, đa dạng và linh hoạt hơn từ xưng hô trong lời hát nữ Tuy nhiên, nếu

so sánh về chuẩn mực giao tiếp thì từ xưng hô của vai nữ hướng tới sự chuẩn mực rõhơn vai nam

2.2.4 Cặp từ xưng hô xét trong sự tương tác giữa các vai giao tiếp

Với 4 bình diện quan hệ giữa các vai giao tiếp: quan hệ ngang quyền và có khoảngcách, quan hệ ngang quyền và thân hữu, quan hệ không ngang quyền và có khoảngcách, quan hệ không ngang quyền và thân hữu, luận án xem xét mối quan hệ tương tácgiữa các vai giao tiếp ở hai nhóm: Hệ thống cặp từ xưng hô đầy đủ với 319/771(*) lượttrong lời nam (41,4%), 393/982(**)lượt trong lời nữ (40 %) và hệ thống cặp từ xưng hôtrống với 452/771 lượt trong lời nam (58,6%) và 589/982 lượt trong lời nữ (60 %) Kết quả khảo sát các cặp từ xưng hô đầy đủ ngôi cho thấy: (1) Với những từ xưng

hô mộc mạc, nôm na, cách xưng hô của giới nam thường nghiêng về mối quan hệ thânhữu; với những từ xưng hô thường bảo đảm chuẩn mực, trang trọng, cách xưng hô củagiới nữ nghiêng về mối quan hệ quyền lực (2) Qua xưng hô, giới nam muốn rút ngắnkhoảng cách, còn giới nữ lại muốn giữ khoảng cách

Kết quả khảo sát các cặp từ xưng hô trống ngôi nhân xưng cho thấy: (1) Hiện tượngtrống từ xưng hô ở ngôi thứ nhất nhiều hơn ở ngôi hai, và không đồng đều giữa hai vaigiao tiếp: giới nữ thường trống từ dùng để xưng, còn giới nam thường trống từ dùng để

hô (2) So với các cặp từ xưng hô đầy đủ ngôi, hiện tượng trống từ xưng hô ở ngôi

trong lời nữ có 13 câu sử dụng 2 cặp TXH (978 lời có 991 lượt dùng cặp TXH) Đối với những trường hợp trong cùng lời hát, một cặp TXH được lặp đi lặp lại thì vẫn tính 1 lượt dùng.

Trang 10

nhân xưng chủ yếu nghiêng về quan hệ thân hữu nhiều hơn quan hệ quyền lực.

2.2.5 Văn hoá của người xứ Nghệ qua cách xưng hô

Ở hát phường vải, người xứ Nghệ thể hiện văn hoá riêng qua sự hình thành "cái tôi"vừa hoà đồng trong "cái ta" chung, vừa mang đậm dấu ấn cá nhân thể hiện qua cách

xưng gọi Cụ thể là: (1) Dùng từ xưng hô ở ngôi thứ nhất, số ít với tỉ lệ cao góp phần thể hiện bản lĩnh của người hát; (2) dùng từ xưng hô mang tính định danh cụ thể góp

phần làm cho các vai giao tiếp trong hát phường vải được xác định, không bị hoà vàocộng đồng, tập thể; đồng thời cũng thể hiện khả năng ứng đối linh hoạt của nhữngngười tham gia hát phường vải; (3) đưa tên riêng của các vai giao tiếp vào lời hát với ýnghĩa vừa cung cấp thông tin về danh tính, vừa thể hiện tài ứng đối linh hoạt của ngườitham gia cũng như sự hấp dẫn bởi tính gay cấn bất ngờ của cuộc hát

2.3 Tiểu kết chương II

Trong hát phường vải, các vai giao tiếp được đặt vào hai phe: phường nữ (vai chủnhà) và phường nam (vai khách) Giới tính vai giao tiếp thể hiện rõ nhất ở cách sửdụng từ xưng hô Với hệ thống từ xưng hô phong phú, đa dạng, lại khá linh hoạt, tự do,không bị ràng buộc bởi tính khuôn mẫu, hát phường vải có nét khu biệt rất rõ so vớicác thể hát ví, hát giặm khác của dân ca Nghệ Tĩnh, cũng như so với dân ca các vùngmiền khác Đồng thời, cách xưng hô này cũng đã thể hiện bản ngã của các vai giaotiếp: thông minh, dí dỏm, tự tin, bản lĩnh

Quan hệ liên cá nhân giữa các vai giao tiếp trong hát phường vải cũng được thểhiện trên hai trục: trục quyền thế và trục khoảng cách; tuy nhiên, có xu hướng nghiêng

về biểu hiện sự bình đẳng, thân hữu nhằm rút ngắn khoảng cách giữa giới nữ và giớinam Điều này thể hiện rõ trên một số phương diện: cách sử dụng từ xưng hô, cáchbiểu đạt nội dung tư tưởng, tình cảm qua các chặng, các bước của một cuộc hát Đặcbệt, với tư cách là chủ nhà, vai nữ thường ở thế chủ động, khá tự tin trong giao tiếp;còn vai nam, với tư cách là vai khách, lại rơi vào thế bị động, có lúc tỏ ra lúng túng,thiếu tự tin Có thể nói, sự bình đẳng, thái độ đề cao giới nữ là điểm khác nhau cơ bảngiữa ngôn ngữ giao tiếp trong hát phường vải với ngôn ngữ giao tiếp thông thường

CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ GIỚI TÍNH THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ

HÀNH ĐỘNG NÓI TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI 3.1 Dẫn nhập

Dựa trên sự kết hợp giữa các tiêu chí phân loại của J.R Searle và đích giao tiếp đặt

ra trong từng bước hát, luận án phân loại hành động nói cho lời hát phường vải thành 4

nhóm: (1) Nhóm hành động biểu hiện (representatives) chiếm tỉ lệ khá lớn, ở lời hát

Ngày đăng: 23/08/2014, 07:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phân loại lời hát phường vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát - tóm tắt luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 2.1. Phân loại lời hát phường vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát (Trang 7)
Bảng 4.1: Tổng hợp số liệu lớp từ ngữ về giới trong  hát phường vải - tóm tắt luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.1 Tổng hợp số liệu lớp từ ngữ về giới trong hát phường vải (Trang 13)
Bảng 4.2. Tổng hợp từ ngữ biểu thị thời gian trong hát phường vải - tóm tắt luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.2. Tổng hợp từ ngữ biểu thị thời gian trong hát phường vải (Trang 14)
Bảng 4.9:  Tổng hợp từ ngữ biểu thị không gian trong hát phưòng vải - tóm tắt luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.9 Tổng hợp từ ngữ biểu thị không gian trong hát phưòng vải (Trang 15)
Bảng 4.11. Tổng hợp các biện pháp chơi chữ trong hát phường vải - tóm tắt luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.11. Tổng hợp các biện pháp chơi chữ trong hát phường vải (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w