1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại trường đại học sư phạm đại học đà nẵng

114 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại trường đại học sư phạm – đại học đà nẵng
Tác giả Phạm Thị Thanh Mai
Người hướng dẫn PGS. TS. Bùi Trọng Ngoãn
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 7,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây nhất, phân tích diễn ngôn đã được vận dụng vào phân tích một thể loại văn bản nhất định như ở một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả sau: Lê Hùng Tiến, trong luận

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

PHẠM THỊ THANH MAI

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Đà Nẵng - Năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

PHẠM THỊ THANH MAI

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thanh Mai

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Khái niệm diễn ngôn và văn bản 6

1.1.2 Lí thuyết về phân tích diễn ngôn 6

1.1.3 Các đường hướng phân tích diễn ngôn 7

1.1.4 Văn bản hợp đồng 9

1.1.5 Các lớp từ vựng 11

1.1.6 Các kiểu câu tiếng Việt 13

1.1.7 Liên kết trong văn bản hợp đồng và mạch lạc trong văn bản hợp đồng 14

1.2 Hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng 16

1.2.1 Các loại hợp đồng 16

1.2.2 Các loại hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng 16

Tiểu kết chương 1 17

CHƯƠNG 2 KẾT CẤU, LIÊN KẾT VĂN BẢN VÀ THỂ THỨC VĂN BẢN HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 18

2.1 Kết cấu và liên kết văn bản của văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 18

2.1.1 Khuôn mẫu văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng về phương diện kết cấu 18

2.1.2 Liên kết liên câu trong văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 27

2.1.3 Liên kết đoạn trong các hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 42

2.2 Thể thức văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 47

Trang 7

Tiểu kết chương 2 51

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA, ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP

VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG CỦA HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 52

3.1 Đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 523.1.1 Các lớp từ vựng của văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 523.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa từ vựng của văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 543.2 Đặc điểm ngữ pháp của hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 553.2.1 Đặc điểm từ pháp 553.2.2 Đặc điểm cú pháp 603.3 Đặc điểm ngữ dụng của hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 743.3.1 Một số hành vi ngôn ngữ đặc dụng trong văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 743.3.2 Một số phương tiện tình thái nổi bật trong văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 82Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

1.1 Các tiểu loại ngôn ngữ luật pháp 102.1 Sơ đồ bố trí các thành phần thể thức văn bản 48

2.2 Thể thức văn bản hợp đồng tại Trường Đại học Sư phạm –

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) là một khuynh hướng nghiên cứu văn bản theo đường hướng ngôn ngữ học chức năng Vì vậy, các lí thuyết phân tích diễn ngôn đã có sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu trong hai thập niên vừa qua Từ hệ thống lí thuyết đó, hầu như các loại diễn ngôn phi nghệ thuật và nghệ thuật đều trở thành đối tượng nghiên cứu Trong đó ngay cả văn bản hợp đồng, một dạng văn bản hành chính có tính đặc thù cũng bước đầu được khảo sát nhận diện

Văn bản hành chính trong đó có văn bản hợp đồng lưu hành phổ biến trong mọi hoạt động đời sống xã hội Văn bản hợp đồng là công cụ pháp lí quan trọng để các chủ thể trong xã hội trao đổi, dịch chuyển các lợi ích do mình tạo ra và nhận lại những lợi ích vật chất cần thiết từ các chủ thể khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của mình Văn bản hợp đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành của nền kinh tế, vì nó là hình thức pháp lí cơ bản của sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong

xã hội Nó đã được miêu tả sơ bộ trong một số sách về phong cách học hoặc là kinh tế nhưng sự nhận diện đầy đủ về đặc điểm ngôn ngữ và thể thức văn bản của nó chưa thực sự thỏa mãn nhu cầu hiểu biết Trong thực tế, hầu như mọi giao dịch có liên quan đến quyền lợi giữa các đối tác, bao giờ cũng có hợp đồng như là một căn cứ của quá trình thực hiện nhưng hầu như người soạn thảo hợp đồng chỉ dựa theo những hợp đồng trước đó như một dạng khuôn mẫu kinh nghiệm chứ chưa hẳn là một khuôn mẫu văn bản có tính pháp quy

Hệ thống văn bản hành chính ở một trường đại học nói chung và Trường Đại học

Sư phạm – Đại học Đà Nẵng nói riêng, vừa là một đối tượng của hành chính học vừa

là một đối tượng của ngôn ngữ học Làm chủ các thể thức văn bản là một yêu cầu bắt buộc đối với bộ phận nhân viên văn phòng Vì lẽ đó, nghiên cứu về các loại hợp đồng trong một cơ sở không phải là đơn vị kinh tế có thể đem đến một cách nhìn về sự giống nhau và khác biệt về kiểu loại văn bản này ở một cơ sở giáo dục đại học với một

cơ sở kinh tế

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn

Theo Nguyễn Hòa, trong công trình “Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận

và phương pháp”, phân tích diễn ngôn đã trải qua một quá trình phát triển rất mạnh mẽ trong khoảng năm mươi năm gần đây và nằm dưới những tên gọi khác nhau “Ngôn ngữ học văn bản” (Text Linguistics), “Phân tích văn bản” (Text Analysis), “Phân tích chức năng” (Functional Analysis) Ở giai đoạn “Ngữ pháp văn bản”, phân tích diễn ngôn chủ yếu thao tác với “liên kết” và đã có một loạt các công trình nghiên cứu nổi bật như “Cohesion in English” (Liên kết trong tiếng Anh) của M.A.K Halliday và R Hasan Ở thời kì hậu “ngữ pháp văn bản”, khi vấn đề mạch lạc và cấu trúc của văn bản

Trang 11

càng được quan tâm hơn thì các nhà ngôn ngữ học đã đề nghị gọi địa hạt mới này là phân tích diễn ngôn Tên gọi “Phân tích diễn ngôn” (Discourse Analysis) được Z Harris đề cập đến lần đầu tiên trong tác phẩm “Discourse Analysis” (1952) Với Z Harris, phân tích diễn ngôn đã có được một đối tượng nghiên cứu rõ ràng Ông đã coi diễn ngôn là đối tượng của phân tích diễn ngôn Z.Harris đã quan niệm rằng văn bản mới thể hiện sự hoạt động của ngôn ngữ chứ không phải là câu hay từ như người ta vẫn thường quan niệm và đặc trưng của đơn vị này là sự thống nhất nghĩa và chức năng giao tiếp

Tuy nhiên, mối quan tâm về lĩnh vực này chỉ thực sự bùng nổ vào đầu thập

kỉ 70 Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đặc biệt tới việc nghiên cứu văn bản như một sản phẩm lời nói hoàn chỉnh Theo Cao Xuân Hạo (1991), Austin (1962), Searles (1980) và Ducrot (1972) là những người đi đầu trong việc gợi ý cho nghiên cứu nghĩa học của các phát ngôn Nhưng vốn là những nhà triết học, họ chỉ đặt ra vấn đề từ góc độ triết học chứ không giải quyết những khía cạnh cụ thể của ngôn ngữ Phải đợi đến các nhà ngôn ngữ học của thế hệ chức năng mới như S.C.Dik (1978), T.Givón (1979), M.A.K Halliday (1985), F.R.Palmer (1986) thì mới có những nghiên cứu cụ thể

Từ giữa những năm 1980, phân tích diễn ngôn bước vào giai đoạn phát triển theo hướng chuyên môn hoá trong nội bộ chuyên ngành Bắt đầu xuất hiện các lí thuyết diễn ngôn chuyên ngành, ví như lí thuyết diễn ngôn tư tưởng hệ, lí thuyết diễn ngôn dân tộc học, lí thuyết diễn ngôn của các nhóm xã hội thiểu số, lí thuyết diễn ngôn của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc… Một trong những khuynh hướng rộng lớn và nhiều cành nhánh nhất là phân tích diễn ngôn phê phán (Critial Discourse Analysis - CDA) Đường hướng này quan tâm đặc biệt tới vấn đề quyền thế và hệ tư tưởng được thể hiện trong diễn ngôn Từ đó đến nay, CDA đã có những bước tiến dài do đã được dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, nhất là ngữ pháp chức năng của M.A.K Halliday (Xem [44, tr.13-20])

Ở Việt Nam, việc thường xuyên tiếp cận với hướng lí thuyết mới đã giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ bắt nhịp được với xu hướng phân tích diễn ngôn trên thế giới Quá trình nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam có thể được khái quát như sau:

Giai đoạn đầu tiên, phân tích diễn ngôn trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào

“phân tích ngữ pháp văn bản” mà chủ yếu là phân tích “liên kết, mạch lạc, cấu trúc”

như Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985) Công trình này

được coi là cái mốc đánh dấu sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản ở Việt Nam Tiếp

theo là các công trình như Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt của Nguyễn Thị Việt Thanh và Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (1998); Giao tiếp, văn bản, mạch lạc,

liên kết, đoạn văn (2002); Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (2009) của

Diệp Quang Ban Trên cơ sở của ngôn ngữ học chức năng, tác giả Diệp Quang Ban

đã coi mạch lạc là một vấn đề cốt yếu của lí luận phân tích diễn ngôn

Trang 12

Giai đoạn tiếp theo, các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam đã nghiên cứu phân tích diễn ngôn từ nhiều gốc độ Các tác giả như Đỗ Hữu Châu, Hoàng Phê, Nguyễn Đức Dân… tập trung nghiên cứu phân tích diễn ngôn dưới góc độ dụng học Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng đã dành một chương để nói về “Diễn ngôn và phân tích diễn

ngôn” trong cuốn Dụng học Việt ngữ Nhiều vấn đề đã được đề cập đến như: ngữ cảnh

và ý nghĩa, cấu trúc thông tin, diễn ngôn và phân tích diễn ngôn, diễn ngôn và văn hoá, ngữ dụng học diễn ngôn, dụng học giao thoa văn hoá…[29, tr.167-203] Đặc biệt, phải

kể đến tác giả Nguyễn Hòa với công trình Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và

phương pháp Đây là những công trình đầu tiên ở Việt Nam về vấn đề phân tích diễn

ngôn, tác giả đã cung cấp một khối lượng tri thức khá lớn về cả lí luận và thực tiễn Gần đây nhất, phân tích diễn ngôn đã được vận dụng vào phân tích một thể loại văn bản nhất định như ở một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả sau: Lê

Hùng Tiến, trong luận án tiến sĩ ngữ văn Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp

tiếng Việt (1999), đã đề cập đến đặc điểm của diễn ngôn văn bản luật pháp, đưa ra một

số ứng dụng trong biên dịch văn bản luật pháp từ tiếng Việt sang tiếng Anh, trong đó

có các văn bản hợp đồng thương mại; Nguyễn Trọng Đàn, trong luận án tiến sĩ ngữ

văn Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại (1996), đã phân tích đối chiếu một số đặc

điểm về ngữ vực giữa thư tín tiếng Anh và tiếng Việt; Nguyễn Thị Hà trong luận án

tiến sĩ Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước qua phương pháp

phân tích diễn ngôn đã tập trung nghiên cứu các chức năng chính của văn bản quản lí

nhà nước và đã có những phân tích nhất định để làm rõ nét sự tác động tích cực của phương tiện ngôn ngữ đến chất lượng và hiệu quả của văn bản quản lí nhà nước [55,

tr.9] và Trần Thị Thùy Linh, trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp

đồng tiếng Việt từ bình diện phân tích diễn ngôn” (2015) đã phân tích diễn ngôn theo

hướng ngữ vực để làm rõ các đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản hợp đồng

2.2 Tình hình nghiên cứu văn bản hợp đồng

Từ những năm 60 của thế kỉ trước, dựa vào lí thuyết của những nhà ngôn ngữ

học Xô-viết từ V.V Vinogradov đến D.E Rozenthal, các nhà Việt ngữ học đã tiến hành nhận diện, phân loại và miêu tả các đặc điểm ngôn ngữ của các phong cách chức năng tiếng Việt dựa vào các đặc điểm sử dụng ngôn ngữ Và trong các công trình nghiên cứu đó, các tác giả đều thống nhất công nhận về sự tồn tại của phong cách hành chính (phong cách hành chính - công vụ) mà văn bản hợp đồng thuộc vào và mang những đặc điểm ngôn ngữ của phong cách này Vì vậy, xét trên bình diện lí thuyết, lịch sử nghiên cứu của phong cách ngôn ngữ hành chính cũng chính là lịch sử nghiên cứu của văn bản hợp đồng So với các phong cách ngôn ngữ khác như phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ khoa học thì phong cách ngôn ngữ hành chính xuất hiện muộn hơn Chỉ có thể nói đến phong cách ngôn ngữ hành chính từ sau năm 1945 khi chức năng xã hội của tiếng Việt được mở rộng Nó đã thay thế hoàn toàn tiếng Pháp trong các lĩnh vực hoạt động của

Trang 13

Nhà nước và của toàn dân, kể cả lĩnh vực đối ngoại [55, tr 10]

Văn bản hợp đồng, về mặt lí thuyết, là kiểu văn bản kinh tế trong phong cách ngôn ngữ hành chính- công vụ Do đó, các công trình phong cách học đã đề cập về nó nhưng chưa được miêu tả một cách chi tiết Sau này nhờ sự phát triển của các hoạt động kinh tế, văn bản hợp đồng trở nên phổ dụng thì mới có một số công trình kinh tế học hoặc hành chính học miêu tả về nó Chẳng hạn có thể kể đến các công trình sau:

Các mẫu hợp đồng thông dụng mới nhất dùng trong doanh nghiệp của tác giả Lương

Đức Cường; Nghiên cứu chức năng ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước của Nguyễn Thị Hà; Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan - tổ chức của tác giả Tạ Hữu

Ánh; Tìm hiều kỹ thuật trình bày văn bản công tác văn thư - Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Luật gia Lê Văn Chấn; Soạn thảo văn bản của các tổ chức Đảng, Mặt trận, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ, cấp cơ sở và trên cơ sở của Lê Văn

In; Quản trị hành chính văn phòng của tác giả Mike Harvey do Cao Xuân Đỗ dịch Về

phương diện ngôn ngữ học, kể từ sau năm 1954 hàng loạt các công trình đề cập tới lí thuyết hoặc mang tính thực hành về phong cách ngôn ngữ ra đời Có thể kể đến ở đây

một số giáo trình tiêu biểu như: Phong cách học tiếng Việt của nhóm tác giả Cù Đình

Tú - Lê Anh Hiền - Nguyễn Thái Hòa - Võ Bình (1982), Phong cách học và đặc điểm

tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú (1983), Phong cách học tiếng Việt do Đinh Trọng Lạc

chủ biên (1993), Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt (2000) và

Phong cách học tiếng Việt hiện đại (2001) của Hữu Đạt

Nói tóm lại, văn bản hợp đồng đã được nhắc đến nhiều trong các công trình liên quan đến phong cách chức năng và soạn thảo văn bản, nhưng các công trình đó chưa thỏa mãn nhu cầu cần tìm hiểu, nghiên cứu các lí thuyết về cách soạn thảo văn bản hợp đồng cũng như ngôn ngữ thường được sử dụng trong các văn bản hợp đồng Hơn nữa, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện những đặc trưng ngôn ngữ của thể loại văn bản có tính pháp lí cao này, đặc biệt là các hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tập hợp, thống kê, phân loại và khảo sát các hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, người viết nhận diện về khuôn mẫu chung, thể thức văn bản và đặc điểm ngôn ngữ của các kiểu loại hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học

Đà Nẵng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: chúng tôi quan niệm đối tượng nghiên cứu ở đây là đặc điểm kết cấu văn bản, thể thức văn bản, đặc điểm từ vựng ngữ pháp, đặc điểm diễn đạt của các văn bản, diễn ngôn

Phạm vi: toàn bộ văn bản hợp đồng tiếng Việt Trường Đại học Sư phạm – Đại

học Đà Nẵng từ năm 2015 đến năm 2018

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích miêu tả: Đề tài áp dụng phương pháp phân tích miêu tả

để làm nổi bật các đặc điểm ngôn ngữ của văn bản hợp đồng

Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đề tài phân tích diễn ngôn trên nhiều bình diện sử dụng các công cụ ngôn ngữ sẵn có

Ngoài hai phương pháp trên, thủ pháp thống kê, phân loại nhằm thống kê số lần

sử dụng của các đơn vị ngôn ngữ cũng như các kiểu loại câu theo quá trình, các động

từ tình thái, các hành vi ngôn ngữ, các phương thức liên kết … trên ngữ liệu nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp, thủ pháp được vận dụng kết hợp; tùy từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể mà sử dụng ưu tiên một phương pháp, thủ pháp thích hợp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Thực hiện đề tài này người làm luận văn mong muốn đem lại cái nhìn mới về đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản hợp đồng, đặc biệt là văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

7 Cấu trúc của luận văn

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm diễn ngôn và văn bản

Theo Nguyễn Hòa, “Văn bản là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, còn diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể Như vậy, là một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh, diễn ngôn phải có tính chủ đề bộ phận đến chủ đề chung, có mạch lạc” [44, tr.32,33]

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Diễn ngôn và văn bản thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó, diễn ngôn được hiểu là bao trùm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn” [29, tr.169]

Trong công trình Nhập môn ngôn ngữ học của Mai Ngọc Chừ, “Diễn ngôn được

hiểu là tập hợp gồm một hoặc nhiều phát ngôn có tính liên kết, thống nhất về đích và nội dung giao tiếp được tạo ra trong hoạt động giao tiếp” Diễn ngôn có thể tồn tại ở dạng nói và dạng viết, chẳng hạn như một bài văn, bài nói chuyện, cuộc đối thoại, tranh luận… Hình thức của diễn ngôn là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ được lựa chọn và sắp xếp theo những quy tắc nhất định, ứng với nội dung mà người phát muốn chuyển đến người nhận, còn nội dung của diễn ngôn sẽ bao gồm nội dung thông tin và nội dung tình thái [20, tr 494, 495]

Trong Dẫn nhập phân tích diến ngôn, thuật ngữ văn bản được sử dụng để chỉ bất

kì cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp Sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (ví dụ: một bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ, một cuộc giao dịch mua bán) hoặc ngôn ngữ viết (ví dụ: một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một áp-phích dán tường ), còn thuật ngữ diễn ngôn dùng để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh [46, tr.21]

Như vậy, kể từ khi lí thuyết phân tích diễn ngôn có mặt trong ngôn ngữ học thì các khái niệm văn bản (text) và diễn ngôn (discourse) được xác định lại một cách rạch ròi hơn Theo đó, văn bản được hiểu là một sản phẩm ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh, trong khi đó, diễn ngôn là sản phẩm ngôn ngữ ở trạng thái động, nghĩa là đặt nó trong mối quan hệ hành chức, thế phát và thể nhận, mã trong hiện trường giao tiếp và không gian văn hóa

1.1.2 Lí thuyết về phân tích diễn ngôn

Nguyễn Thiện Giáp, trong Dụng học Việt ngữ đã trình bày về phân tích diễn

ngôn như sau: “…tập trung vào quá trình sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ý định trong

Trang 16

ngữ cảnh nào đó Tất nhiên người ta quan tâm nhiều hơn đến cấu trúc của diễn ngôn, đặc biệt là chú ý đến cái tạo ra một văn bản chuẩn tắc Trong cách nhìn cấu trúc, tiêu điểm chú ý là những chủ đề như những khâu nối hiển ngôn giữa các câu trong văn bản

có mạch lạc hoặc những yếu tố tổ chức văn bản.” [29; tr.184]

Diệp Quang Ban, trong Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản cũng

đã nêu ra đối tượng và phương pháp của phân tích diễn ngôn: " Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngữ vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc)" [6, tr.158]

Nguyễn Thị Hà, trong Nghiên cứu chức năng ngôn ngữ văn bản quản lí nhà

nước cho rằng: “Phân tích diễn ngôn là nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ ở cấp độ

trên câu” [35, tr.50] Tác giả đã đưa ra một số bình diện trong phân tích diễn ngôn: bình diện lí thuyết, bình diện chung – chuyên ngành, bình diện ứng dụng, và bình diện mức độ phân tích

Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản hợp đồng tại Trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng, chúng tôi nhận diện chúng trong tư cách là diễn ngôn nhằm vận dụng những phương tiện phong phú nhất của khuynh hướng nghiên cứu này để nhận diện một kiểu văn bản cụ thể trong hoạt động hành chức của chúng

1.1.3 Các đường hướng phân tích diễn ngôn

Trong công trình Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp,

Nguyễn Hòa đã nêu ra các đường hướng phân tích diễn ngôn như sau:

a Đường hướng dụng học

Ngữ dụng học là một đường hướng phân tích diễn ngôn có đối tượng khá là rộng Đối tượng của dụng học là ý nghĩa, ngữ cảnh và giao tiếp

b Đường hướng biến đổi ngôn ngữ

Về cơ bản, đường hướng này thừa nhận có những khác biệt về ngôn ngữ sử dụng trong các tình huống khác nhau Đây là đường hướng có nguồn gốc ngôn ngữ học, mặc dù cái cơ sở ngôn ngữ học ở đây mang tính xã hội Đối tượng chủ yếu của đường hướng biến đổi ngôn ngữ là tìm kiếm những đơn vị hay bộ phận của diễn ngôn nằm trong mối quan hệ hệ thống và khuôn mẫu với nhau (từ vựng, âm vị hay cú pháp)

c Ngôn ngữ học xã hội tương tác

Ngôn ngữ học xã hội tương tác là đường hướng chức năng nhìn nhận diễn ngôn như là sự tương tác xã hội mà ở đó mà ở đó việc cấu thành và thương lượng nghĩa được hỗ trợ bởi việc sử dụng ngôn ngữ Đối tượng của ngôn ngữ học xã hội là mối quan hệ giữa việc sử dụng ngôn ngữ trong tương tác xã hội với các vấn đề như cấu thành nét đặc thù, giao tiếp, trong các ngữ cảnh văn hóa và xã hội khác nhau

Trang 17

d Đường hướng dân tộc học giao tiếp

Mục tiêu chính của đường hướng dân tộc học giao tiếp là nghiên cứu năng lực giao tiếp thể hiện qua các mô hình hay cấu trúc giao tiếp điều chỉnh sự hoạt động của ngôn ngữ trong đời sống xã hội Nói một cách cụ thể hơn, đây là sự nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc điểm sử dụng ngôn ngữ như mô hình cấu trúc (âm vị, từ vựng, cú pháp), phương tiện giao tiếp, đối tượng của ngôn ngữ trong tình huống xã hội

e Đường hướng phân tích hội thoại

Đường hướng phân tích hội thoại cho rằng (a) quá trình tương tác có tính tổ chức; (b) sự đóng góp vào quá trình tương tác hướng vào ngữ cảnh; và (c) hai tính chất trên (a), (b) vốn thuộc về các chi tiết của tương tác, do vậy không thể coi vứt bỏ bất kì một trật tự chi tiết nào như là vô tổ chức hay ngẫu nhiên một cách tiên nghiệm Tính chất tổ chức của hội thoại này thường được xem xét qua một số khái niệm chủ yếu của đường hướng phân tích hội thoại là cặp kế cận (adjacency pair) và lượt nói (turn – taking) Đường hướng phân tích hội thoại coi cặp là cấu trúc cơ bản của hội thoại, đơn vị cơ sở tổ chức nên các đơn vị khác lớn hơn là lượt nói (turn at talk) Ngoài

ra, đường hướng phân tích hội thoại nghiên cứu một loạt vấn đề như mở đầu hội thoại, kết thúc hội thoại, cải chính (repair), xử lí chủ đề, tiếp nhận thông tin, xử lí diễn ngôn, bày tỏ sự đồng ý hay không đồng ý, đưa ra ý kiến/ lập luận

f Phân tích diễn ngôn trong tâm lí học xã hội

Đây là đường hướng phát sinh từ lĩnh vực tâm lí học xã hội dựa trên ảnh hưởng của một số ngành có liên quan như phương pháp học dân tộc, phân tích hội thoại, lí thuyết giao tiếp, triết học ngôn ngữ hậu cấu trúc luận Mục đích của phân tích diễn ngôn trong tâm lí học xã hội là ứng dụng những ý tưởng của phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu tâm lí xã hội Nói cụ thể hơn, ngôn ngữ đã được cấu thành hay sử dụng như thế nào để thực hiện những ý định của người giao tiếp trong lĩnh vực tâm lí xã hội

g Đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán

Mục đích của phân tích diễn ngôn phê phán không chỉ là miêu tả diễn ngôn, mà còn là giải thích diễn ngôn đã được kiến tạo như thế nào và vì sao nó lại tồn tại và hoạt động như vậy Một số nhà phân tích diễn ngôn phê phán coi đối tượng của đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán là quan hệ quyền – thế (power) được thể hiện trong diễn ngôn; tuy nhiên cách nhìn nhận như vậy có thể còn hẹp Cần mở rộng thêm phạm vi của đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán sang nghiên cứu các mối quan hệ xã hội thường là không bình đẳng như sự phân biệt chủng tộc, giới tính, quan

hệ giữa các tầng lớp xã hội

h Đường hướng giao tiếp liên văn hóa

Phân tích diễn ngôn liên văn hóa là một xu hướng được nhiều người quan tâm do

ý nghĩa của chúng đối với việc dạy và học ngôn ngữ hai hoặc ngoại ngữ và nhu cầu giao tiếp ở ngôn ngữ khác phát sinh do nhu cầu di cư, đi lại quốc tế và sự phát triển với tốc độ khủng khiếp của các phương tiện thông tin Đường hướng này đặt nhiệm vụ

Trang 18

nghiên cứu tác động của văn hóa đối với giao tiếp liên văn hóa

i Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp

Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp là phân tích toàn bộ một chỉnh thể diễn ngôn dựa trên mạch lạc Mạch lạc thực sự là một hàm hay tích hợp của rất nhiều biến Có thể kể đến các biến quan trọng chủ yếu như: tính tổ chức, liên kết và tính quan yếu Phân tích diễn ngôn cần phải xác định được những yếu tố quan yếu tham gia vào nội dung của diễn ngôn Hơn nữa cũng cần phải xác định được sự hiện thực hóa các yếu tố này về mặt ngữ liệu hay vật chất Đó chính là các đơn vị từ ngữ được sử dụng trong một thể loại diễn ngôn (xem [44, tr.76-155])

1.1.4 Văn bản hợp đồng

1.1.4.1 Khái niệm hợp đồng

Trong thực tế đời sống ở Việt Nam trước đây có nhiều thuật ngữ khác nhau được

sử dụng để chỉ hợp đồng như: khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, cam kết, tờ giao ước,

tờ ưng thuận… Hiện nay, các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam không còn sử

dụng thuật ngữ như trước đây mà sử dụng các thuật ngữ có tính chức năng, công cụ

như hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại

Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học (2005) thì “hợp đồng

là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản” [42, tr.411]

Khái niệm trên đã chỉ ra bản chất của hợp đồng là được tạo nên bởi hai yếu tố:

sự thỏa thuận và sự ràng buộc pháp lí

Một sự thỏa thuận mang tính chất xã giao hoặc một lời hứa danh dự, như lời hứa

sẽ tặng quà nhân ngày sinh nhật, hoặc thỏa thuận sẽ đến dự tiệc ở nhà bạn, hay cùng đi

ăn tối với người khác cũng không phải là hợp đồng, vì các thỏa thuận này không tạo ra

sự ràng buộc quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa các bên Sự vi phạm lời hứa danh dự hoặc các cam kết mang tính chất xã giao như trên có thể làm cho người thất hứa bị mất uy tín, bị dư luận chê trách, nhưng không làm phát sinh trách nhiệm pháp lí và không thể

bị áp dụng chế tài dân sự như trường hợp vi phạm hợp đồng Tóm lại, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ những thỏa thuận tạo ra một sự ràng buộc pháp lí mới được coi là hợp đồng Bởi vậy, “sự thỏa thuận” và “sự tạo ra một ràng buộc pháp lí” là hai dấu hiệu cơ bản tạo nên bản chất của hợp đồng Và chính những đặc điểm bản chất này của hợp đồng đã chi phối đến toàn bộ nguồn lực ngôn ngữ trong văn bản [55, tr.43]

1.1.4.2 Ngôn ngữ văn bản hợp đồng

Theo Bhatia, trong công trình Language of the Law, language teaching (1987),

thể loại ngôn ngữ luật pháp bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau tùy thuộc vào mục đích giao tiếp, ngữ cảnh sử dụng, các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp liên quan, mối quan

hệ xã hội hoặc chuyên môn giữa các thành viên tham dự vào các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp, kiến thức nền của các thành viên và nhiều yếu tố khác Các nét khác

Trang 19

biệt giữa các tiểu loại này cũng được phản ánh thông qua nguồn lực ngôn ngữ trong văn bản được huy động thông qua các quy ước đặc thù, trong những bối cảnh luật pháp khác nhau Bhatia đã phân biệt các tiểu loại của ngôn ngữ luật pháp theo bối cảnh giao tiếp khác nhau với hai phân nhánh lớn là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết như sơ

đồ các tiểu loại ngôn ngữ luật pháp sau: (Dẫn theo [35, tr.38,39])

Sơ đồ 1.1 Các tiểu loại ngôn ngữ luật pháp

Theo sơ đồ trên, văn bản hợp đồng thuộc phân nhánh ngôn ngữ viết – luật pháp – khuôn mẫu

Chức năng chính của luật pháp nói chung và văn bản hợp đồng nói riêng là: 1) Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng các chủ thể tham gia các quan hệ đó phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ; 2) Chức năng bảo vệ: răn đe, ngăn chặn và xử lí mọi khả năng vi phạm hoặc hành vi vi phạm tới các quan hệ đã xác lập và duy trì trong

xã hội; 3) Chức năng giáo dục: pháp luật được ban bố tác động vào ý thức con người, giáo dục công dân tôn trọng các quy tắc và trật tự xã hội [55, tr.44]

Xét về phong cách học chức năng, văn bản hợp đồng thuộc thể loại văn bản mang phong cách hành chính-công vụ Chức năng của ngôn ngữ trong phong cách

Sư phạm

Chỉ dẫn của Hội đồng thẩm xét

Giao tiếp giữa các nhà chuyên môn

Tòa thực tập

Nghề nghiệp

Bộ luật, Quy đinh, luật lệ

Khuôn mẫu,

Hợp đồng,

hiệp định…

Luật pháp

Tham vấn Luật sư – Khách hàng

Học

thuật

Trang 20

hành chính-công vụ là chức năng giao tiếp lí trí (thông báo) và chức năng ý chí (sai khiến)

1.1.4.3 Ngữ cảnh và mục đích giao tiếp của văn bản hợp đồng

Thông thường trong giao tiếp có hai loại hình giao tiếp chính: giao tiếp trực tiếp (giao tiếp hai chiều) và giao tiếp gián tiếp (giao tiếp một chiều) Chẳng hạn đối với báo chí, người nhận thông điệp không cùng chung ngữ cảnh với người viết, do đó người viết chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt, đồng thời dự đoán trước thái độ và phản ứng của người nhận, loại bỏ mọi mơ hồ có thể xảy ra trong quá trình nhận thông điệp và hạn chế tới mức tối đa những sai lệch trong quá trình suy giải thông điệp Còn đối với văn bản hợp đồng thì yếu tố tham gia giao tiếp, tức người viết và người đọc văn bản này có tính chất đặc thù Bhatia nhấn mạnh vai trò tính chất đặc thù này của văn bản pháp luật, văn bản hợp đồng và vai trò của nó khi giải thích các đặc điểm ngôn ngữ của thể loại văn bản pháp luật Tác giả chỉ ra rằng đối với các thể loại văn bản khác thì tác giả văn bản vừa là người phát (originator) vừa là người viết (write) văn bản, trong khi đó những người viết văn bản hợp đồng chỉ đóng vai trò là những người soạn thảo, còn người phát lại là các chủ thể hợp đồng Tương tự như vậy, ở hầu hết các thể loại văn bản khác thì người đọc (reader) và người tiếp nhận (recipient) là một thì với văn bản hợp đồng, người đọc thực sự của nó lại là các chủ thể kí kết và/hoặc các luật sư, những chuyên gia luật pháp có trách nhiệm viện dẫn trong trường hợp xảy ra sự tranh chấp về hợp đồng, còn người tiếp nhận có thể là tất

cả những ai quan tâm đến đối tượng giao dịch của hợp đồng (dẫn theo [55, tr.45]) Như vậy, nhân tố tham gia giao tiếp đặc biệt như vậy đã tạo nên một ngữ cảnh riêng cho văn bản Điều này đặt ra cho người soạn thảo văn bản yêu cầu phải giải quyết hai vấn đề cùng một lúc, đó là vừa phải dùng các nguồn lực ngôn ngữ vừa phải dùng các chiến lược diễn ngôn (ngữ cảnh giao tiếp là yếu tố ngoại tại của diễn ngôn, chi phối sự hình thành diễn ngôn) để thể hiện, dung hòa được ý muốn của các chủ thể hợp đồng vốn đối lập nhau về mục đích giao tiếp Cụ thể, văn bản hợp đồng vừa quy định các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia hoạt động trao đổi, vừa đặt ra chế tài, vừa hướng dẫn các bên thực hiện đúng những điều khoản đặt ra trong văn bản hợp đồng [55, tr.46]

1.1.5 Các lớp từ vựng

Nguyễn Thiện Giáp trong công trình Từ vừng học tiếng Việt (2016) đã phân chia

các lớp từ vựng theo các tiêu chí (xem [33, tr.92-162])

-Tiêu chí thứ nhất, xét theo nguồn gốc:

+ Từ thuần Việt: là bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, chắc chắn phải tồn tại từ rất lâu

Ví dụ: cô gái, chồng, vợ, bí, củ, châu chấu (có sự tương ứng với tiếng Mường),

bé, cà, đồi (có sự tương ứng với ngôn ngữ Tày- Thái),…

+ Từ gốc Hán: tất cả các từ ngữ Hán được tiếng Việt mượn bằng con đường sách

Trang 21

vở đều đọc theo âm Hán Việt và được gọi là từ Hán Việt

Ví dụ: thượng đế, công nghiệp, văn chương, chiến trường, thẩm phán,…

+Từ gốc Ấn- Âu:

Từ cuối thế kỉ XIX, nhiều từ ngữ tiếng Pháp đã thâm nhập vào tiếng Việt do địa

vị của tiếng Pháp lúc ấy ở Việt Nam được đề cao Đồng thời gián tiếp thông qua tiếng Pháp, một số từ ngữ tiếng Anh cũng du nhập vào tiếng Việt Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước ta mở rộng quan hệ ngoại giao với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, cho nên tỉ lệ các từ tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Nga cũng tăng thêm

Ví dụ: kem, pho mát, bê tông, bônsêvích, xô viết, …

- Tiêu chí thứ hai, xét theo phạm vi sử dụng:

+ Từ vựng toàn dân: là những từ toàn dân hiểu và sử dụng Nó là vốn từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp

xã hội khác nhau Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ

Ví dụ: mưa, nắng, nhà, cửa, tốt, xấu, đi, đứng, xe đạp, mô tô,

+ Từ vựng địa phương: là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương

Ví dụ: từ toàn dân là không, thì Nghệ An và Hà Tĩnh dùng từ nỏ, còn Nam Bộ

và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội

Ví dụ: cày vỡ, bón lót, gieo thẳng (thuộc nghề nông), đá ngói, đá mài, tô cồn, mài tranh (thuộc nghề sơn mài), áp doa, bào cóc, đục tảng (thuộc nghề mộc)

+ Thuật ngữ: là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người

Ví dụ: các thuật ngữ trong toán học như đạo hàm, tích phân, ; thuật ngữ tư bản, giá trị thặng dư … trong kinh tế học, thuật ngữ âm vị, hình vị… trong ngôn ngữ học;

- Tiêu chí thứ ba, xét theo mức độ sử dụng:

+ Từ vựng tích cực: là những từ ngữ quen thuộc, được sử dụng thường xuyên trong phạm vi nào đó của việc giao tiếp bằng ngôn ngữ Từ vựng tích cực không mang sắc thái cổ, cũng không mang sắc thái mới

+ Từ vựng tiêu cực: là từ ngữ ít dùng hoặc không được dùng Nó bao gồm các từ ngữ đã lỗi thời và các từ ngữ còn mang sắc thái mới, chưa được dùng rộng rãi

Trang 22

+ Từ ngữ cổ: là những từ ngữ biểu thị những đối tượng trong tiếng Việt hiện nay

có các từ đồng nghĩa tương ứng Chính sự xuất hiện của các từ ngữ đồng nghĩa tương ứng ở giai đoạn này làm cho chúng trở nên lỗi thời

Ví dụ: bát (gang) trong câu Bảy tám mươi bằng một bát tay; cóc (biết) trong câu

“Thời gian ai có thì cóc” (Quốc âm thi tập)

+ Từ lịch sử: là những từ trở nên lỗi thời vì đối tượng biểu thị của chúng đã bị mất

Ví dụ: lí trưởng, thái thú, thuế đình,…

+ Từ ngữ mới và ý nghĩa mới

Phần lớn từ ngữ mới của tiếng Việt là các từ ngữ thuộc các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Ví dụ: bộ nhớ ngoài, bộ nhớ trong, máy điện toán, thị trường, cổ phẩn,…

- Tiêu chí thứ tư, xét về mặt phong cách học:

+ Từ vựng trung hòa: là lớp từ vựng được dùng chung trong tất cả các phong cách Chúng không mang sắc thái phong cách cũng không mang sắc thái gợi cảm và cảm xúc riêng

Ví dụ: dài, ngắn, núi, biển, thấp, cao…

+ Từ vựng hội thoại: là lớp từ được dùng trong các cuộc nói chuyện tự nhiên hằng ngày Có thể chia từ vựng hội thoại thành hai loại: từ vựng hội thoại toàn dân và

từ vựng hội thoại hạn chế về lãnh thổ hay xã hội

Ví dụ: hấp ta hấp tấp, sạch sành sanh, ối, chà, đẹp như tiên,…

+ Từ vựng sách vở: là những từ được dùng chủ yếu trên sách vở, báo chí Chúng thuộc loại từ vựng của ngôn ngữ văn học, có tiêu chuẩn nghiêm ngặt

Ví dụ: cách mạng, đại lượng, quan hệ sản xuất,…

1.1.6 Các kiểu câu tiếng Việt

Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2 (2012) đã nêu ra sự phân loại câu dựa trên 2 tiêu chí: phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp và phân loại câu theo mục đích nói (Xem [7, tr.119-226]

1.1.6.1 Câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp

a) Câu đơn: Câu đơn là câu do một cụm chủ - vị tạo nên Câu đơn có thể có

nhiều chủ ngữ hoặc nhiều vị ngữ giữ chức vụ là bộ phận song song

b) Câu ghép: Câu ghép là câu do hai hay nhiều cụm chủ - vị độc lập tạo thành

nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau về ý nghĩa

1.1.6.2 Câu phân loại theo mục đích nói

a) Câu tường thuật

Câu tường thuật được dùng để kể, xác nhận (là có hay không có), mô tả một vật với các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó Nó là hính thức biểu hiện thông thường của một phán đoán

b) Câu nghi vấn được dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ

Trang 23

đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó Câu nghi vấn cũng có những dấu

hiệu đặc trưng nhất định: các đại từ nghi vấn, kết từ hay, các phụ từ nghi vấn, các tiểu

từ chuyên dụng, ngữ điệu thuần túy

c) Câu mệnh lệnh

Câu mệnh lệnh (còn gọi là câu cầu khiến) được dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người nghe thực hiện điều được nêu lên trong câu, và có những dấu hiệu hình thức nhất định

Câu mệnh lệnh đích thực của tiếng Việt được cấu tạo nhờ những phụ từ tạo ý mệnh lệnh, bằng ngữ điệu mệnh lệnh cộng với điều kiện là chỉ chứa những từ liên quan đến nội dung của lệnh Các phụ từ mệnh lệnh đứng trước vị từ hay gặp là: hãy, đừng, chớ Các phụ từ mệnh lệnh đứng sau vị từ hay gặp là: đi, thôi, đi thôi, nào, đi nào

d) Câu cảm thán

Câu cảm thán được dùng khi cần thể hiện một mức độ nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá những trạng thái tinh thần khác thường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hay ám chỉ Câu cảm thán được cấu tạo nhờ

những phương tiện sau: thán từ, tiểu từ thay, nhỉ, phó từ (lạ, thật, quá, ghê…)

1.1.7 Liên kết trong văn bản hợp đồng và mạch lạc trong văn bản hợp đồng

1.1.7.1 Liên kết trong văn bản hợp đồng

Theo Diệp Quang Ban trong Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản

tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết với nhau” (xem [4, tr 347])

Phương tiện liên kết là các yếu tố hình thức cụ thể của ngôn ngữ tham gia vào việc tạo ra sự nối kết câu với câu Các phương tiện này là những hệ thống con trong hệ thống từ vựng và ngữ pháp của một ngôn ngữ

Phương thức liên kết (phép liên kết) là cách sử dụng các phương tiện liên kết có đặc tính chung vào việc liên kết câu với câu Các phép liên kết trong tiếng Việt bao gồm: phép nối; phép quy chiếu; phép tỉnh lược và phép thế; và phép liên kết từ vựng (lặp từ ngữ; dùng từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa, từ ngữ trong quan hệ cấp loại và từ ngữ trái nghĩa; phối hợp từ ngữ)

Theo Trần Ngọc Thêm, trong công trình Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt

(2006), liên kết văn bản bao gồm liên kết hình thức và liên kết nội dung Liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung [62, tr.17,18]

Trang 24

a Liên kết nội dung bao gồm liên kết chủ đề và liên kết logic

b Liên kết hình thức:

Trần Ngọc Thêm đã phân loại các phương thức liên kết theo loại phát ngôn Có 3 loại phát ngôn: câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc Tương ứng với 3 loại phát ngôn, liên kết hình thức được chia thành 3 nhóm (xem [62, tr.86,87])

- Các phương thức liên kết chung dùng chung cho 3 loại bao gồm: phép lặp (lặp

từ vựng, lặp ngữ pháp, lặp ngữ âm), phép đối (đối trái nghĩa, đối phủ định, đối miêu tả, đối lâm thời), phép thế đồng nghĩa (thế đồng nghĩa từ điển, thế đồng nghĩa phủ định, thế đồng nghĩa miêu tả, thế đồng nghĩa lâm thời), phép liên tưởng (liên tưởng đồng chất, liên tưởng không đồng chất) và phép tuyến tính (liên kết tuyến tính của các phát ngôn có quan hệ thời gian và liên kết tuyến tính của các phát ngôn không có quan hệ thời gian)

- Các phương thức liên kết hợp nghĩa bao gồm 5 phương thức chung và 3 phương thức khác là phép thế đại từ, phép tỉnh lược yếu và phép nối lỏng

- Các phương thức liên kết trực thuộc bao gồm 5 phương thức chung và 2 phương thức khác là phép tỉnh lược mạnh và phép nối chặt

Trong phần này, chúng tôi không đi sâu vào các định nghĩa hay phân tích đặc điểm của các phương thức liên kết cụ thể mà chỉ liệt kê các phương thức để có cái nhìn tổng quan về các phương thức liên kết văn bản Chúng tôi sẽ phân tích các phương thức liên kết cụ thể trong các phần sau

1.1.7.2 Mạch lạc trong văn bản hợp đồng

Mạch lạc là một khái niệm có ngoại diện bao quát rất rộng, nó bao gồm tất cả các kiểu cấu trúc có bản chất khác nhau, liên quan đến mặt nghĩa và mặt sử dụng văn bản Theo Diệp Quang Ban (2009), “mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay một bài viết), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu” [4, tr 297]

Diệp Quang Ban đã nêu ra các biểu hiện của mạch lạc trong các phạm vi cụ thể:

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau

- Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lí giữa các câu hay các mệnh đề

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với tình huống bên ngoài văn bản, hay là mạch lạc theo quan hệ ngoại chiếu

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận

(xem [4, 298-299])

Trang 25

1.2 Hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng

1.2.1 Các loại hợp đồng

Theo quy định của pháp luật hiện hành, ở Việt Nam hiện nay có 04 nhóm hợp đồng sau: Hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động và hợp đồng thương mại

- Hợp đồng kinh tế “là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kí kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để thực hiện kế hoạch của mình”

- Hợp đồng dân sự “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”

- Hợp đồng lao động “là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ mỗi bên trong quan hệ lao động”

- Hợp đồng thương mại “là sự thỏa thuận giữa thương nhân với nhau hoặc giữa các thương nhân với các bên có liên quan nhằm thực hiện hoạt động thương mại”

b) Theo tên gọi

- Nhóm hợp đồng lao động bao gồm: hợp đồng khoán việc; hợp đồng thuê khoán việc; hợp đồng lao động; hợp đồng thử việc; hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng làm việc xác định thời hạn; hợp đồng công việc; hợp đồng ghi nhớ

- Nhóm hợp đồng giảng dạy bao gồm: hợp đồng giảng dạy; hợp đồng giảng dạy cao học; hợp đồng cao học

- Nhóm hợp đồng liên kết đào tạo bao gồm: hợp đồng đào tạo bồi dưỡng; hợp đồng ôn thi và tổ chức thi; hợp đồng đào tạo trình độ thạc sĩ; hợp đồng đào tạo đại học:

Hệ cử tuyển; hợp đồng liên kết đào tạo…

- Nhóm hợp đồng khoa học: hợp đồng triển khai thực hiện đề tài KH&CN; hợp đồng khoa học

- Nhóm hợp đồng kinh tế: hợp đồng kinh tế; hợp đồng dịch vụ; hợp đồng mua quà; hợp đồng đặt tiệc; hợp đồng cung cấp suất ăn; hợp đồng dịch thuật; hợp đồng

Trang 26

thuê chuyên gia; hợp đồng tư vấn, đánh giá; hợp đồng thuê phiên dịch; hợp đồng triển khai xây dựng clip video giới thiệu và quảng bá nhà trường; hợp đồng triển khai xây dựng website cho Trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng;…

Tiểu kết chương 1

Có thể khái quát, phân tích diễn ngôn là một hướng lí thuyết hiện đại, có năng lực khám phá được toàn bộ các phương diện từ quan hệ hướng ngoại đến quan hệ hướng nội của mọi diễn ngôn trong đời sống Lí thuyết phân tích diễn ngôn là sự kế thừa và vận dụng hệ thống lí thuyết ngôn ngữ học đã có Vì vây, trong chương 1, chúng tôi đã trình bày những nội dung có tính lí luận làm cơ sở nền tảng cho luận văn này Cụ thể hơn, trong phần đầu của chương này chúng tôi đã nêu ra các khái niệm cơ bản của diễn ngôn và văn bản, phân tích diễn ngôn và đường hướng phân tích diễn ngôn Tiếp theo đó, chúng tôi đưa ra các khái niệm liên quan đến liên kết văn bản mà

sẽ được dùng trong luận văn để phân tích văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Trong phần này, chúng tôi cũng xác định áp dụng ngữ pháp cấu trúc trong việc phân tích các đặc điểm về câu và

từ pháp trong văn bản hợp đồng tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Ở phần cuối của chương 1, chúng tôi nêu ra các loại hợp đồng chung và các loại hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Trang 27

CHƯƠNG 2 KẾT CẤU, LIÊN KẾT VĂN BẢN VÀ THỂ THỨC VĂN BẢN HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

2.1 Kết cấu và liên kết văn bản của văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

2.1.1 Khuôn mẫu văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng về phương diện kết cấu

Nhìn chung, kết cấu của các văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng có 5 phần: phần thứ nhất là tiêu đề; phần thứ hai tư cách pháp nhân của các bên tham gia vào kí kết hợp đồng, phần thứ ba

là các điều khoản về công việc, trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên, phần thứ từ là điều khoản thi hành và phần thứ năm là các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng Tuy nhiên, giữa các nhóm hợp đồng khác nhau, tùy thuộc vào nội dung mà cách trình bày và kết cấu của văn bản hợp đồng sẽ khác nhau

a Nhóm hợp đồng lao động:

a 1 Hợp đồng thử việc:

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng thử việc (2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của Bên A và Bên B: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Bên A là chủ thể tiếp nhận, còn bên B là chủ thể được tiếp nhận

(5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

a 2 Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn (2) Phần 2 - Các căn cứ pháp luật liên quan đến hợp đồng và Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Nhiệm vụ lao động Điều 2: Chế độ làm việc

Trang 28

Điều 3: Quyền và nghĩa vụ của người được tiếp nhận Điều 4: Quyền và nghĩa vụ của người tiếp nhận (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành

(5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

a 3. Hợp đồng làm việc xác định thời hạn

Về kết cấu, hợp đồng làm việc xác định thời hạn cũng tương tự như hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, chỉ có tên gọi (phần tiêu đề) là khác nhau

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Nhiệm vụ lao động Điều 2: Chế độ làm việc Điều 3: Quyền và nghĩa vụ của người được tiếp nhận Điều 4: Quyền và nghĩa vụ của người tiếp nhận (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành

(5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

a 5. Hợp đồng thuê khoán công việc

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng thuê khoán công việc (2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 - Các nội dung hợp đồng: gồm các mục được đánh số thứ tự Lã Mã

(4) Phần 4– Các điều khoản chung về hợp đồng (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

a 6. Hợp đồng lao động

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng lao động (2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên.Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Thời hạn và công việc hợp đồng Điều 2: Chế độ làm việc

Trang 29

Điều 3: Nghĩa vụ, quyền hạn và quyền lợi của người lao động

Điều 4: Nghĩa vụ và quyền hạn của người sử dụng lao động

(4) Phần 4– Các điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

(3) Phần 3 - Các điều khoản:

Điều 1: Nhiệm vụ lao động Điều 2: Chế độ làm việc Điều 3: Quyền và nghĩa vụ của người được tiếp nhận Điều 4: Quyền và nghĩa vụ của người tiếp nhận (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành

(5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

(3) Phần 3 - Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung hợp đồng Điều 2: Trách nhiệm mỗi bên (4) Phần 4 - Cam kết thực hiện (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng Như vậy, có thể thấy rằng các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng lao động đều giống nhau về bố cục kết cấu văn bản Văn bảnhợp đồng nào cũng có năm phần Điểm khác biệt của các văn bản hợp đồng thuộc nhóm này là tính chất công việc và thời gian thực hiện công viêc trong các hợp đồng Chính tính chất công việc và thời gian thực hiện công việc quy định tên hợp đồng trong nhóm này

b Nhóm hợp đồng giảng dạy:

b 1. Hợp đồng giảng dạy

Trang 30

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng giảng dạy (2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung hợp đồng Điều 2: Phân công trách nhiệm (4) Phần 4 - Các điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

b 2 Hợp đồng giảng dạy cao học

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng giảng dạy cao học (2) Phần 2 - Các căn cứ pháp luật liên quan đến hợp đồng và tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 - Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung hợp đồng Điều 2: Trách nhiệm mỗi bên Điều 3: Kính phí

Điều 4: Thời hạn thanh toán (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

Số lượng điều khoản trong hợp đồng giảng dạy cao học nhiều hơn so với hợp đồng giảng dạy

c Nhóm hợp đồng liên kết đào tạo:

c 1 Hợp đồng Đào tạo bồi dưỡng

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng Đào tạo và trích dẫn nội dung hợp đồng

(2) Phần 2 - Các căn cứ pháp luật liên quan đến hợp đồng và tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên

Trang 31

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung liên kết đào tạo Điều 2: Trách nhiệm mỗi bên Điều 3: Định mức kính phí đào tạo Điều 4: Phân bổ kinh phí

Điều 5: Thời hạn thanh toán (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

c 2 Hợp đồng tổ chức ôn thi cao học và bổ túc kiến thức

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng tổ chức ôn thi cao học và bổ túc kiến thức

(2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên

(3) Phần 3 - Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung liên kết đào tạo Điều 2: Trách nhiệm mỗi bên Điều 3: Định mức kính phí đào tạo Điều 4: Phân bổ kinh phí

Điều 5: Thời hạn thanh quyết toán (4) Phần 4– Các cam kết

(5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

c 3 Hợp đồng tổ chức đào tạo trình độ thạc sĩ

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng tổ chức đào tạo trình độ thạc sĩ (2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên

(3) Phần 3 - Các điều khoản:

Điều 1: Điều khoản chung về nội dung hợp đồng Điều 2: Trách nhiệm mỗi bên

Điều 3: Học phí Điều 4: Phân bổ kinh phí Điều 5: Thanh quyết toán và thanh lí hợp đồng (4) Phần 4– Các cam kết hay điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

c 4 Hợp đồng liên kết đào tạo gửi sinh viên đến thực tập cơ sở

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng liên kết đào tạo gửi sinh viên đến thực tập cơ sở

(2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên

(3) Phần 3 - Các điều khoản:

Trang 32

Điều 1: Nội dung hợp đồng Điều 2: Trách nhiệm bên gửi sinh viên Điều 3: Điều khoản thanh toán

(4) Phần 4– Các điều khoản chung hay điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

C 5 Hợp đồng đào tạo đại học: Hệ cử tuyển

(1) Phần 1 - Tiêu đề: đào tạo đại học: Hệ cử tuyển (2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên

d Nhóm hợp đồng khoa học:

d 1. Hợp đồng triển khai thực hiện đề tài Khoa học và Công nghệ

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng triển khai thực hiện đề tài KH&CN

(2) Phần 2 - Các căn cứ pháp luật liên quan đến hợp đồng và tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Trách nhiệm chủ thể được tiếp nhận Điều 2: Nhiệm vụ chủ thể được tiếp nhận Điều 3: Kinh phí

Điều 4: Kiểm tra thực hiện hợp đồng (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành

(5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

d 2. Hợp đồng khoa học (loại hợp đồng này thường dùng để mời các nhà

khoa học hợp tác với Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng trong một

số công việc có tính chất thời vụ như thẩm định, đánh giá chương trình, …)

Trang 33

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng Khoa học (2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung hợp đồng Điều 2: Phân công trách nhiệm (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng Nhóm hợp đồng khoa học chỉ có hai loại văn bản hợp đồng Hai loại văn bản hợp đồng này đều có bố cục là năm phần Tuy nhiên, chúng có hai điểm khác nhau: thứ nhất là về các căn cứ pháp lí trong hợp đồng và thứ hai là về số lượng và nội dung điều khoản trong phần ba

e Nhóm hợp đồng kinh tế:

e 1 Hợp đồng Tư vấn giáo dục

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng Tư vấn giáo dục (2) Phần 2 - Tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung hợp đồng Điều 2: Trách nhiệm mỗi bên (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

e 2. Hợp đồng tập huấn xây dựng đề cương chi tiết theo chuẩn AUN

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng tập huấn xây dựng đề cương chi tiết theo chuẩn AUN

(2) Phần 2 - Các căn cứ pháp luật liên quan đến hợp đồng và tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung hợp đồng Điều 2: Trách nhiệm mỗi bên Điều 3: Kinh phí

Điều 4: Thời hạn thanh toán (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng

e 3. Hợp đồng thuê báo cáo viên tại hội nghị

Trang 34

(1) Phần 1 - Tiêu đề: Hợp đồng thuê báo cáo viên tại hội nghị (2) Phần 2 - Các căn cứ pháp luật liên quan đến hợp đồng và tư cách pháp nhân của hai bên: chứa thông tin về nhân thân mang tính pháp lí của hai bên Một bên là chủ thể tiếp nhận, còn một bên là chủ thể được tiếp nhận

(3) Phần 3 – Các điều khoản:

Điều 1: Nội dung hợp đồng Điều 2: Trách nhiệm mỗi bên Điều 3: Kinh phí

Điều 4: Thời hạn thanh toán (4) Phần 4– Các điều khoản thi hành (5) Phần 5- Các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng Các hợp đồng còn lại thuộc nhóm Hợp đồng kinh tế như Hợp đồng thuê phiên dich, Hợp đồng triển khai xây dựng clip video giới thiệu và quảng bá Nhà

trường,…đều có kết cấu tương tự như Hợp đồng Thuê báo cáo viên tại hội nghị

được nêu trên Chúng chỉ khác nhau về tên gọi trong phần tiêu đề và các căn cứ pháp luật liên quan

Nhìn chung, về kết cấu, các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng kinh tế đều giống nhau Tất cả các hợp đồng nhóm này đều có năm phần Chúng chỉ có hai điểm khác nhau: thứ nhất là về các căn cứ pháp lí trong hợp đồng và thứ hai là về số lượng và nội dung điều khoản trong phần ba

Sau khi khảo sát các loại văn bản hợp đồng của năm nhóm hợp đồng và so sánh các loại hợp đồng thuộc các nhóm, chúng tôi thấy rằng tất cả các văn bản hợp đồng thuộc năm nhóm đều có kết cấu giống nhau, gồm 5 phần: phần thứ nhất là tiêu đề, phần thứ hai là thông tin nhân thân mang tính pháp lí của các bên tham gia kí kết hợp đồng, phần thứ ba là các điều khoản nội dung hợp đồng, phần thứ tư là các điều khoản thi hành và phần thứ năm là các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng Tuy nhiên, các văn bản hợp đồng thuộc các nhóm cũng có những điểm khác nhau Điểm khác nhau thứ nhất là về số lượng Số lượng các điều khoản sẽ khác nhau tùy thuộc vào các loại hợp đồng của các nhóm Điểm khác nhau thứ hai là về nội dung điều khoản Sự khác nhau về nội dung được thể hiện như sau:

- Sự khác nhau đầu tiên là về phần nội dung thông tin nhân thân của các đối tác tham gia kí kết hợp đồng với Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Trong các văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, các chủ thể tham gia hợp đồng với Trường Đại học Sư phạm – Đại học

Đà Nẵng có thể là một tổ chức hoặc một cá nhân, cá nhân có thể là trong Đại học Đà Nẵng và cũng có thể là ngoài Đại học Đà Nẵng Trong các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng lao động, chủ thể được tiếp nhận thường là cá nhân thuộc Đại học Đà Nẵng và Trường Đại học Sư phạm, còn trong các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng liên kết đào

Trang 35

tạo, chủ thể đối tác với Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng là một đơn vị hoặc một tổ chức nào đó Đối với các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng khoa học, các chủ thể tiếp nhận là một cá nhân, trong hoặc ngoài Đại học Đà Nẵng, nhưng thông thường số lượng cá nhân trong Đại học Đà Nẵng sẽ chiếm tỉ lệ cao hơn so với số lượng cá nhân ngoài Đại học Đà Nẵng và thường những cá nhân này là người có học hàm, học vị cao và có chuyên môn sâu về các lĩnh vực đang được đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Còn đối với nhóm hợp đồng giảng dạy và nhóm hợp đồng kinh tế, các chủ thể đối tác là cá nhân, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau

- Sự khác nhau thứ hai là về nội dung kinh phí Trong các văn bản hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng lao động, hầu như không có nội dung điều khoản kinh phí, trong khi đó trong các văn bản hợp đồng thuộc các nhóm khác đều có nội dung kinh phí Trong các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng liên kết đào tạo, nội dung kinh phí được nêu ra trong một điều khoản riêng và kèm theo đó là điều khoản về phân chia kinh phí

và thời hạn thanh toán Trong các hợp đồng thuộc nhóm giảng dạy, nội dung kinh phí được đưa vào điều khoản trách nhiệm của hai bên và không có thời hạn thanh toán đi kèm Đối với các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng khoa học, nội dung kinh phí được nêu cụ thể trong một điều khoản, nhưng kèm theo là các điều khoản ràng buộc về việc thực hiện các nhiệm vụ đối với việc thanh toán kinh phí, và không có điều khoản về thời hạn thanh toán Còn trong các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng kinh tế, nội dung kinh phí được nêu ngắn gọn trong một điều khoản và kèm theo sau đó là điều khoản thời hạn thanh toán và có khi còn có điều khoản về phương thức thanh toán

Như vậy, nhìn vào đây, chúng ta sẽ thấy được những đặc điểm sau đây của văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học

Đà Nẵng Thứ nhất, chính các nội dung điều khoản quy định tên của văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Thứ hai, văn bản hơp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng là những văn bản hành chính có tính pháp lí cao Các văn bản hợp đồng thường có các căn cứ pháp luật và thông tin nhân thân của các chủ thể đều mang tính hành chính Ngoài ra, trong các văn bản hợp đồng, bao giờ cũng có những ràng buộc trách nhiệm và đặc biệt luôn luôn có những điều khoản thi hành, có giá trị pháp lí Hầu như tính pháp lí trở thành đặc điểm của hợp đồng mà tính pháp lí này dựa trên sự tự nguyện của hai bên Thứ ba, văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng có kết cấu chặt chẽ về logic, chia thành năm phần, không có hiện tượng nhầm lẫn giữa các nội dung

Nếu so sánh đặc điểm của văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng và các văn bản hợp đồng thông dụng được sử dụng trong các doanh nghiệp, chúng ta có thể thấy được những điểm giống nhau và khá nhau như sau:

- Giống nhau:

Trang 36

Các hợp đồng tại tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng và các hợp đồng được sử dụng trong các doanh nghiệp đều giống nhau về mặt kết cấu Tất cả các hợp đồng đều có năm phần và có bố cục chặt chẽ, nội dung các phần không trùng lặp nhau

- Khác nhau:

+ Hợp đồng được sử dụng trong các doanh nghiệp thường có nhiều điều khoản ràng buộc các bên hơn so với các văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Số lượng điều khoản tối đa trong các hợp đồng tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng là 7 điều, trong khi đó số lượng điều khoản tối đa trong các hợp đồng ở các doanh nghiệp có thể lên đến 25 điều + Trong các văn bản hợp đồng được sử dụng tại các doanh nghiệp, nội dung hợp đồng thường là việc trao đổi, mua bán hàng hóa về mặt vật chất, còn nội dung trong các hợp đồng tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng chủ yếu là khoán việc + Tính pháp lí của các văn bản hợp đồng được sử dụng tại các doanh nghiệp cao hơn ở các văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Bởi vì khác nhau về tính chất nội dung hợp đồng, nên hợp đồng tại các doanh nghiệp phức tạp hơn và kéo theo các ràng buộc pháp lí cao hơn đối với các bên tham gia kí kết hợp đồng

2.1.2 Liên kết liên câu trong văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Câu trong văn bản hành chính, cụ thể ở đây là văn bản hợp đồng là kiểu cẩu được trình bày theo hình thức mang tính đặc thù Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều lần xuống dòng và mỗi lần xuống dòng có khi chỉ có một cụm từ, một thành phần câu:

Ví dụ:

“Chúng tôi, một bên là ông: AAA Chức vụ: Hiệu trưởng

Đại diện cho: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng

Địa chỉ: 459 Tôn Đức Thắng, Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng Điện thoại: 0236.3841.323

Và một bên là bà: XXX Sinh ngày: 20 tháng 8 năm 1983, tại Đà Nẵng Trình độ đào tạo: Thạc sĩ

Chuyên ngành đào tạo: Báo chí Năm tốt nghiệp: 2017

Nghề nghiệp trước khi tuyển dụng: Giảng viên Địa chỉ thường trú tại: 131 Nguyễn Chánh, Liên Chiểu, Đà Nẵng

Số chứng minh nhân dân: 186145790 Cấp ngày 18/10/2004 tại Công an Nghệ An

Thỏa thuận ký kết Hợp đồng làm việc và cam kết làm đúng những điều khoản sau đây:”

Trang 37

Vì thế chúng tôi phải dựa vào logic để xác định một tổ chức câu Theo logic học phải là một mệnh đề có nội dung thông báo mới được gọi là một câu Trong mệnh đề

đó phải có một chủ từ và một vị từ Như vậy ở câu trên, “Chúng tôi là” là chủ từ mà về mặt ngữ pháp là chủ ngữ, còn “thỏa thuận” là vị từ mà về mặt ngữ pháp là vị ngữ Trong hợp đồng thường có các điều khoản và có những điều khoản có đề mục Không kể đến đề mục, dựa vào logic mệnh đề như vừa trình bày trên, chúng tôi tách phần nội dung của các điều này thành các câu và phân tích mối liên kết của chúng Trong mỗi nhóm hợp đồng, chúng tôi tiến hành phân tích một hợp đồng mẫu để nhận diện được các phương thức liên kết giữa các câu trong văn bản hợp đồng thuộc nhóm

đó

a) Câu trong các văn bản hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng lao động

Hợp đồng thử việc Số 470/ ĐHTV ngày 29 tháng 12 năm 2017 như sau:

HỢP ĐỒNG THỬ VIỆC

Chúng tôi, một bên là ông: AAA

Chức vụ: Hiệu trưởng

Đại diện cho: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng

Địa chỉ: 459 Tôn Đức Thắng, Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0236.3841.323

Và một bên là bà: BBB

Sinh ngày: 20 tháng 10 năm 1990

Thỏa thuận ký kết Hợp đồng thử việc và cam kết làm đúng những điều khoản sau đây:

Điều 1 Bà BBB làm việc theo Hợp đồng thử việc có thời gian là 03 tháng kể từ

ngày 01 tháng 01 năm 2018 đến ngày 31 tháng 3 năm 2018

- Địa điểm làm việc: Khoa Giáo dục Mầm non

- Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ

- Công việc phải làm: Theo sự phân công của Khoa Giáo dục Mầm non

Điều 2 Chế độ làm việc

- Thời giờ làm việc: Theo sự phân công của Ban Chủ nhiệm Khoa

- Được trang bị những phương tiện cần thiết theo yêu cầu công việc

- Điều kiện an toàn và vệ sinh lao động tại nơi làm việc theo quy định hiện hành

của nhà nước

Điều 3 Quyền và Nghĩa vụ của người lao động

1 Quyền lợi:

- Phương tiện đi lại làm việc: Cá nhân tự túc

- Lương thử việc: 157.700 đồng/ ngày làm việc và thanh toán theo thực tế bảng

chấm công

- Phụ cấp: Theo quy định của Trường

Trang 38

- Hình thức trả lương: Theo quy định của Trường

- Nghỉ hàng tuần: Theo quy định của Trường

2 Nghĩa vụ:

- Hoàn thành nhiệm vụ đã cam kết trong Hợp đồng thử việc

- Chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị, kỷ luật làm việc và các quy định của pháp luật

- Chấp hành việc xử lí kỷ luật và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả theo quy định của pháp luật

- Chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền khi đơn vị sự nghiệp có nhu cầu

Điều 4 Quyền và Nghĩa vụ của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp

Điều 5 Điều khoản thi hành

- Hợp đồng thử việc này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

- Những vấn đề về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của hai bên không ghi trong Hợp đồng thử việc này thực hiện theo quy định của pháp luật lao động

- Hợp đồng này làm thành 02 bản có giá trị ngang nhau, đơn vị sự nghiệp giữ 01 bản, người lao động được ký hợp đồng giữ 1 bản

Hợp đồng này làm tại Đà Nẵng ngày 29 tháng 12 năm 2017

(* Trong các văn bản gốc lưu trữ tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, tên của các bên kí kết hợp đồng được nêu cụ thể, nhưng vì lí do tế nhị nên chúng tôi thay bằng các kí hiệu:AAA,BBB…)

Trong phần nội dung thông tin tư cách pháp nhân của các bên tham gia hợp đồng, chỉ có một câu “Chúng tôi… thỏa thuận ký kết Hợp đồng thử việc và cam kết làm đúng những điều khoản sau đây” Câu này liên kết với câu chủ đề hợp đồng “HỢP

Trang 39

bằng phép lặp từ vựng (Hợp đồng thử việc, BBB) Câu thứ hai “Địa điểm làm việc” liên kết với câu thứ nhất bằng phép tỉnh lược định ngữ (của Bà BBB) Nếu được diễn

đạt đầy đủ, câu thứ hai sẽ là: “Địa điểm làm việc của Bà BBB là Khoa Giáo dục Mầm non” Câu thứ ba “Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ.” liên kết với câu thứ hai bằng phép liên tưởng, quan hệ hàm ẩn lặp lại định ngữ vừa kể trên Ở câu thứ ba, nếu diễn đạt đầy

đủ sẽ là: “Trình độ chuyên môn của Bà BBB là thạc sĩ” Câu thứ tư “Công việc phải làm: Theo sự phân công của Khoa Giáo dục Mầm non.” liên kết với câu thứ ba cũng bằng phép liên tưởng Câu thứ tư được viết hoàn chỉnh sẽ là: “Công việc phải làm của

Bà BBB là theo sự phân công của Khoa Giáo dục Mầm non”

Trong Điều 2, có bốn tổ chức câu Câu thứ nhất “Điều 2 Chế độ làm việc” liên

kết với câu thứ tư của Điều 1 bằng phép liên tưởng (hàm ẩn lặp lại định ngữ của Bà

BBB) Câu thứ hai “Thời giờ làm việc: Theo sự phân công của Ban Chủ nhiệm Khoa”

liên kết với câu thứ nhất bằng phép liên tưởng bao hàm (câu thứ 2 là một phần trong ý

chung bao quát của câu thứ nhất) và phép lặp từ vựng (làm việc) Câu thứ ba “Được

trang bị những phương tiện cần thiết theo yêu cầu công việc.” liên kết với câu thứ hai

bằng phép tỉnh lược chủ ngữ (Bà BBB được trang bị những phương tiện cần thiết theo

yêu cầu công việc) và phép liên tưởng đồng loại vì đều là các ý riêng được bao hàm trong ý chung của câu thứ nhất Câu thứ tư “Điều kiện an toàn và vệ sinh lao động tại nơi làm việc theo quy định hiện hành của nhà nước.” liên kết với câu thứ ba bằng phép

tỉnh lược định ngữ (Điều kiện an toàn và vệ sinh lao động tại nơi làm việc của Bà BBB

theo quy định hiện hành của nhà nước) và phép liên tưởng đồng loại

Điều 3 “Quyền và Nghĩa vụ của người lao động”, nếu trong mối quan hệ với toàn văn bản, được trình bày như một đề mục nhưng thực chất về mặt phương diện nội dung nó tồn tại như một câu “Quyền và Nghĩa vụ của người lao động” là câu đặc biệt,

trong đó Quyền và Nghĩa vụ là trung tâm và của người lao động là định ngữ Nó liên kết với câu thứ tư ở Điều 2 bằng phép thế (người lao động thay cho Bà BBB) Như

vậy, tiêu mục nhỏ “1.Quyền lợi” cũng là một câu, liên kết với câu “Điều 3 Quyền và

Nghĩa vụ của người lao động” bằng phép lặp (quyền) Câu tiếp theo “- Phương tiện đi

lại làm việc: Cá nhân tự túc.” liên kết với câu “1.Quyền lợi” bằng phép liên tưởng bao hàm Các câu tiếp theo sau: “- Lương thử việc: 157.700 đồng/ ngày làm việc và thanh toán theo thực tế bảng chấm công.”, “- Phụ cấp: Theo quy định của Trường”, “- Hình thức trả lương: Theo quy định của Trường”, “- Nghỉ hàng tuần: Theo quy định của Trường” liên kết với nhau bằng phép tuyến tính và phép liên tưởng, hàm ẩn tỉnh lược

định ngữ (của bà BBB) Trong phần tiêu mục nhỏ “2 Nghĩa vụ”, câu thứ nhất “- Hoàn

thành nhiệm vụ đã cam kết trong Hợp đồng thử việc” liên kết với câu tiêu mục trên bằng phép liên tưởng bao hàm Câu thứ hai “- Chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị,

kỷ luật làm việc và các quy định của pháp luật.” liên kết với câu thứ nhất bằng phép

lặp ngữ pháp (cả hai câu đều là câu tỉnh lược chủ ngữ Bà BBB) Các câu tiếp theo: “-

Chấp hành việc xử lí kỷ luật và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả theo quy định của

Trang 40

pháp luật”, “- Chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền khi đơn vị

sự nghiệp có nhu cầu.” liên kết với nhau bằng phép lặp từ vựng (chấp hành, quy định

của pháp luật) và phép lặp ngữ pháp (câu tỉnh lược chủ ngữ Bà BBB)

Tương tự như vậy, “Điều 4 Quyền và Nghĩa vụ của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp”cũng tồn tại như là một câu đặc biệt Tiêu mục nhỏ “1 Quyền” liên kết với câu

trên bằng phép lặp từ vựng (Quyền) Trong phần tiêu mục nhỏ “1 Quyền”, câu thứ

nhất “- Bố trí, phân công nhiệm vụ, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của người lao động.” liên kết với câu “1 Quyền” bằng phép liên tưởng bao hàm Câu thứ hai “- Tạm hoãn, chấm dứt Hợp đồng thử việc, kỷ luật đối với người lao động theo quy định của

pháp luật.” liên kết với câu thứ nhất bằng phép lặp từ vựng (người lao động) và lặp ngữ pháp (câu tỉnh lược chủ ngữ Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp) Trong phần tiêu

mục nhỏ “2 Nghĩa vụ”, câu thứ nhất “- Bảo đảm việc làm và thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết trong Hợp đồng thử việc.” liên kết với câu tiêu mục trên bằng phép liên tưởng bao hàm Câu thứ hai “- Thanh toán đầy đủ, đúng thời hạn các chế độ của viên chức đã cam kết trong Hợp đồng thử việc.” liên kết với câu thứ nhất bằng phép

lặp từ vựng (Hợp đồng thử việc)

Điều 5 có bốn tổ chức câu Câu thứ nhất “Điều 5 Điều khoản thi hành”liên kết

với Điều 4 bằng phép lặp từ vựng (Điều) Câu thứ hai “Hợp đồng thử việc này có hiệu

lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.” liên kết với câu thứ nhất bằng phép liên tưởng

bao hàm (Câu thứ hai là ý riêng được bao hàm trong ý chung là Điều khoản thi hành)

Câu thứ ba “Những vấn đề về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của hai bên không ghi trong Hợp đồng thử việc này thực hiện theo quy định của pháp luật lao động.” liên

kết với câu thứ hai bằng phép lặp từ vựng (Hợp đồng thử việc) và phép liên tưởng

đồng loại vì đều được bao hàm trong ý chung của câu thứ nhất Các thứ tư “Hợp đồng này làm thành 02 bản có giá trị ngang nhau, đơn vị sự nghiệp giữ 01 bản, người lao

động được ký hợp đồng giữ 1 bản.” liên kết với câu thứ ba bằng phép lặp từ vựng (hợp

đồng này) và phép liên tưởng đồng loại

b) Câu trong các văn bản hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng giảng dạy

Hợp đồng giảng dạy Số 294 ngày 27 tháng 9 năm 2018 như sau:

HỢP ĐỒNG GIẢNG DẠY

Hôm nay, ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN, chúng tôi gồm:

- Đại diện Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN (bên A):

1 Ông PPP - Phó hiệu trưởng

3 Bà TTT - Trưởng phòng Kế hoạch -Tài chính

- Đại diện bên giảng dạy (bên B):

Ông (bà): KKK -TS, Công ty Pracelsoft

Ngày đăng: 15/05/2021, 14:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Hữu Ánh (2010), Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan - tổ chức, NXB Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan - tổ chức
Tác giả: Tạ Hữu Ánh
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2010
2. Diệp Quang Ban, Hà Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1)
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hà Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
3. Diệp Quang Ban (1999), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
4. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp - Văn bản - Mạch lạc - Liên kết - Đoạn văn, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp - Văn bản - Mạch lạc - Liên kết - Đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
5. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
6. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp - Diễn ngôn và Cấu tạo của văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp - Diễn ngôn và Cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
7. Diệp Quang Ban (2012), Ngữ pháp tiếng Việt tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
8. Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
9. Brown G., Yule G. (2001), Phân tích diễn ngôn (Trần Thuần dịch), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn (Trần Thuần dịch)
Tác giả: Brown G., Yule G
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
10. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004
11. Lê Văn Chấn (2006), Tìm hiều kỹ thuật trình bày văn bản công tác văn thư - Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiều kỹ thuật trình bày văn bản công tác văn thư - Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: Lê Văn Chấn
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
12. Đỗ Hữu Châu (1992), “Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay”, Tạp chí Ngôn ngữ (2), tr. 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay”, Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1992
13. Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
14. Đỗ Hữu Châu (1996), Giản yếu về ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
15. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
16. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học Tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học Tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
17. Đỗ Hữu Châu (2007), Giáo trình từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
18. Học viện hành chính (2008), Giáo trình kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2008
19. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ "học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
20. Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2015), Nhập môn Ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w