Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn - -
Nguyễn Thị Thanh Hơng
đặc điểm ngôn ngữ
của loại bài ca dao hai câu
Tóm tắt khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành ngôn ngữ
Vinh - 2005
Tháng 3 - 2005
Trang 21 Khái niệm về câu và câu ca dao 13
1.1: Câu là gì?
1.2: Câu ca dao
2 Văn bản và văn bản ca dao (Bài ca dao) 15
2.1: Văn bản 2.2 Văn bản ca dao (Bài ca dao)
2.1.3: Từ ngữ trong câu kết chỉ bằng con số đếm
Trang 3III Đặc điểm về cấu trúc 40
1.1: Cấu trúc giản lợc 1.2: Cấu trúc lặp 1.3: Cấu trúc so sánh
2.1: Cấu trúc tĩnh lợc 2.2: Cấu trúc lặp 2.3: Cấu trúc so sánh
Chơng III
Đặc điểm nội dung của loại bài ca dao hai câu 48
2 Các cách mở 48
2.1: Cách mở trực tiếp 2.2: Cách mở gián tiếp
3 Vai trò của câu mở đầu 52
2.1: Phản ánh tình yêu đôi lứa2.2: Phản ánh thiên nhiên đất nớc2.3: Phán ánh về gia đình và xã hội
3.1: Quan hệ về nội dung 3.2: Quan hệ về hình thức giữa câu mở và câu kết
tài liệu tham khảo 63
Trang 4lời nói đầu
Qua một quá trình tìm tòi, nghiên cứu và đợc sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: “Đặc điểm
ngôn ngữ của loại bài ca dao hai câu ”
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn chu đáo nhiệt tìnhcủa Phó giáo s - Tiến sĩ Phan Mậu Cảnh cùng với tất cả các thầy cô giáo trongkhoa Ngữ văn Trờng Đại học Vinh
Bản khóa luận tốt nghiệp là kết quả bớc đầu tiên trên con đờng học tậpnghiên cứu của tôi Mặc dù tôi đã cố gắng, nghiêm túc trong công việc nhngchắc chắn không tránh khỏi thiếu sót
Tôi rất mong nhận đợc sự góp ý chân thành của thầy cô cùng các bạn
Trang 5loại hình nghệ thuật có vị trí đặc biệt quan trọng, là tiếng hát để nuôi dỡng tinhthần, là trí tuệ tài năng sức mạnh hiện hữu ở mọi thế hệ ngời dân Việt Nam
Trong những năm gần đây do vị trí quan trọng của ca dao nên các côngtrình nghiên cứu ca dao ngày càng nhiều Tuy nhiên các nhà nghiên cứu chỉ tậptrung khai thác ở các mặt giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, thi pháp ca dao mà
ít chú ý tới một khía cạnh khác dới góc độ ngôn ngữ học Trong các hình thứcthể hiện của ca dao Việt Nam, loại bài ca dao ngắn, đặc biệt là những bài chỉ cóhai câu chiếm một số lợng lớn Nhng cha đợc nghiên cứu kỹ trong các côngtrình khảo cứu về ca dao
Để tìm hiểu và nắm vững những tri thức cơ bản về hình thức, nội dung, ýnghĩa quan hệ của loại bài ca dao này
câu ” Đây là lý do của khóa luận này
2 Mục đích nghiên cứu:
Khóa luận tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của loại bài ca dao hai câu nhằm:
- Tiến hành khảo sát, thông kê, phân loại về đặc điểm hình thức, đặc
điểm cấu trúc nội dung trong ca dao hai câu
- Từ đó khóa luận đa ra các mô hình nhận xét đánh giá các đặc điểm củaloại bài ca dao này
3 Đối tợng phạm vi nghiên cứu:
3.1: Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng cơ bản của khóa luận là các bài ca dao hai câu đợc in thànhtuyển tập ca dao Việt Nam
3.2: Phạm vi nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu văn học dân gian ở nớc ta với nhiều
câu ,” thì hầu nh cha có công trình nào nghiên cứu giải quyết trọn vẹn mà chỉdừng lại ở một khía cạnh nào đó
Ca dao là mảng đề tài lớn, đa dạng phong phú với nhiều thể loại khácnhau Trong khóa luận này chúng tôi đi vào tìm hiểu các khía cạnh cụ thể từ
Trang 6góc độ ngôn ngữ học (ngữ âm, từ vựng, cấu trúc ngôn ngữ) của bài ca dao Tliệu chính phục vụ cho việc khảo sát: Nguyễn Nh ý - Ca dao trữ tình Việt Nam– NXBGD
4 Phơng pháp nghiên cứu:
Để đạt đợc mục đích trên nhiệm vụ của khóa luận là tập trung giải quyếtcác vấn đề bằng nhiều phơng pháp khác nhau, mang tính kết hợp hoặc độc lậptheo nội dung và công đoạn nghiên cứu:
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết thúc Nội dung chính của khóa luận gồm bachơng:
Chơng I: Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Chơng II: Đặc điểm ngữ âm từ vựng và cấu trúc của bài ca dao hai câu Chơng III: Đặc điểm nội dung của bài ca dao hai câu
6 Lịch sử vấn đề:
Nghiên cứu ca dao từ trớc đến nay đã có nhiều bài viết và những cách suynghĩ, bằng cái nhìn trân trọng bằng cái nhìn trân trọng đối với thế hệ trớc,chúng ta ghi nhận công sức của những nhà nghiên cứu ở Việt Nam trong nhiềuthập kỷ qua
Khi tiếp cận các bài viết, công trình nghiên cứu khoa học về ca dao từgóc độ ngôn ngữ học, kết cấu, thi pháp học, văn học dân gian
ở cấp độ ngôn ngữ, Nguyễn Phan Cảnh khảo sát phơng pháp tổ chứcngôn ngữ của ca dao
Đinh Gia Khánh – Nghiên cứu đặc điểm câu mở đầu trong thơ ca dângian-Thông báo khoa học – Văn học , ngôn ngữ - Trờng ĐH tự nhiên Hà Nội-Năm 1996
Trang 7Gần đây có một số công trình nghiên cứu “Đặc điểm ngôn ngữ phần mở
đầu trong ca dao” – Võ Hữu Vân – Luận văn thạc sỹ – Phan Mậu Cảnh
h-ớng dẫn
Tháng 9/1996 –Tạp chí văn học Có bài “Nghiên cứu lời đối đáp trong thơ trữ tình” của Cao Huy Đỉnh
Dới góc độ thi pháp, với ca dao đã có nhiều ngời nghiên cứu ở các phơng
diện khác nhau Đáng kể nhất là chuyên luận: “Thi pháp ca dao” của Nguyễn
Xuân Kính
Đây là một công trình nghiên cứu về thi pháp thể loại tơng đối qui mô
và mang tính hệ thống Bằng con mắt của nhà thi pháp học ông đã nêu và chứngminh những điểm cần chú ý cơ bản khi tìm hiểu ca dao
Nhà nghiên cứu Văn học dân gian Hoàng Tiến Tựu cũng đã có nhiều ýkiến, bình giảng về cao dao dới góc độ thi pháp học nh: Bình giảng văn học dângian – 1996
Hớng nghiên cứu từ góc độ Văn học gồm: Tác giả Đặng Văn Lung –
1999 - Nghiên cứu những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình Bài viết nêu rõ:
“Lặp đi lặp lại là hình tợng phổ biến trong văn học nghệ thuật nói chung Riêng trong văn học dân gian những yếu tố trùng lặp chiếm tỷ lệ lớn và có vai trò quan trọng Biểu hiện trùng lặp của ca dao trên các cấp độ về hình ảnh, về ngôn ngữ kết cấu ”
Tác giả Lã Nhâm Thìn có bài: “Tính lặp lại trong văn học dân gian và vấn đề tập cổ trong văn học viết ”
Nguyễn Tấn Phát (1999) Nghiên cứu nội dung phản ánh của ca dao, dân
ca Nam bộ (Những công trình nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam)
Nh vậy qua một số công trình nghiên cứu ca dao, có thể nói rằng ca dao
là đề tài đã đợc quan tâm, khảo cứu từ nhiều góc độ và đã có những thành tựuhết sức quan trọng
-
Trang 8-Nội dungChơng I Một số khái niệm liên quan đề tài
I Những nhận xét về ca dao:
1 Khái niệm ca dao
Ca dao và dân ca là hai thuật ngữ đợc dùng trong giới nghiên cứu văn học
và âm nhạc Nhng nội dung của hai thuật ngữ này xác định lại không giốngnhau Nó đợc diễn giải bằng những cách thức khác nhau theo cách hiểu quanniệm của mỗi ngời
Theo cách hiểu dân gian: Ca dao dân ca thờng là những bài hát dân gian
do quần chúng nhân dân sáng tác ,diễn xớng lu truyền trong đời sống
ở dân ca, yếu tố văn học (lời ca) và âm nhạc (làn điệu) cũng với thể thứcdiễn xớng gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất
Nh vậy ca dao – dân ca có phần nhạc và phần lời Trong thực tế từ cadao ngày càng xa rời nghĩa góc và chủ yếu dùng vốn nghĩa thứ hai nhằm chỉphần lời của những sáng tác dân ca Tính xác định của nó ngày càng cao, gắnliền với sự thu hẹp nghĩa của nó Không phải toàn bộ phần lời trong dân ca đều
là ca dao mà chủ yếu phần lời cốt lõi có kết cấu bền vững, ổn định và có phầntrữ tình (không kể tiếng đệm, tiếng đa hơi)
Do đó có thể nói: Ca dao là phần lời cốt lõi của dân ca, ca dao là một bộphận của thơ ca dân gian
Khái niệm “Thơ dân gian” rất rộng bao gồm phần lời thơ của tất cả các
loại dân ca và lời thơ trong các hình thức sáng tác dân gian khác
Giáo s Hoàng Tiến Tựu cho rằng:
Ca dao là bộ phận chủ yếu, quan trọng nhất của thơ dân gian, là loại
“
thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng đợc hình thành và phát triển
trên cơ sở thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình, tính truyền thống ngắn và tơng đối ngắn của ngời Việt”
(Văn học dân gian Việt Nam – Tập 2 - tr.139)
Ca dao là những bài hát có hoặc không có chơng khúc, sáng tác bằng vănvần dân tộc thờng theo thể lục bát để miêu tả tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm
Trang 9Từ xa xa trong sinh họat văn nghệ, các nghệ sỹ dân gian đã làm ra bài hát ngắn
để hát Dần theo thời gian, lời bài hát phát triển theo một thể thơ dân gian Cácthế hệ sau dựa vào phong cách cấu tạo của thể này mà đặt thêm lời ca mới đểngâm, đọc và đã đi sâu vào đời sống nhân dân, trở thành ca dao
Do vậy khái niệm ca dao đã mang nội dung mới không đồng nhất với cadao nữa
2 Đặc điểm của ca dao
Ca dao là bộ phận quan trọng có sự phong phú và đa dạng về nội dung vàhình thức của văn học dân gian Nhằm phản ánh đời sống muôn mặt của conngời, xã hội
Dù đợc sáng tác ở địa phơng và thời kỳ lịch sử nào, thì ca dao vẫn làtiếng nói từ đáy lòng của ngời lao động, nhằm trực tiếp bộc lộ thái độ cảm xúcthẩm mỹ của con ngời
2.1: Thể loại
Nhìn tổng quát đại đa số ca dao đợc sáng tác theo thể lục bát, thể loại thơlục bát có tính uyển chuyển, linh họat Ngoài ra với sự không gò bó, không hạnchế về độ dài ngắn của tác phẩm, khả năng ghép vô hạn các cặp lục bát theo lốiliên kết vần và nhịp, khiến cho thể thơ này nhanh chóng thành thể thơ tiệndụng
Thể lục bát có u thế trong việc diễn đạt cảm xúc, thể hiện nội dung hếtsức đa dạng của hiện thực đời sống lại dễ hát, dễ ru, nên ca dao – Lục bát làthể thông dụng nhất
Trong số các bài ca dao thì loại bài hai câu chiếm số lợng lớn
Theo thống kê, trong tổng số: 2552 bài ca dao, ở ca dao trữ tình Việt Nam, do Nguyễn Nh ý su tầm thì có 1368 bài ca dao hai câu, đợc sáng tác
theo thể lục bát (gồm lục bát biến thể và lục bát chỉnh thể) Chiếm 53,6 %
Khuôn hình cơ bản của một câu lục bát là trên 6 dới 8:
- “Ai ơi ăn bát cơm rauCòn hơn chốn khác mâm thau chậu đồng”
- Đôi ta nh lửa mới nhen
Nh trăng mới mọc nh đèn khêu
[1- tr.177]
Tuy nhiên trong thực tế các dòng lục bát có thể co giản tùy vào yêu cầubiểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
Trang 10+ Trờng hợp giảm dòng lục:
“Ngời đẹp nh tiên Tắm nớc đồng tiền cũng xấu nh ma”
+ Trờng hợp tăng dòng lục:
“Anh còn son em cũng còn son
Ước gì ta đợc làm con một nhà”
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
“Anh tiếc công đào ao thả cá
Biết nỗi này chẳng thả cho xong”
[1- tr.37]
+ Tăng dòng bát:
“Ai lên quán Dốc chợ Giàu
Để thơng, để nhớ, để sầu cho khách vảng lai”
“Ai sinh ra bãi cát bồi
Để em lo thuyền cạn cho ngời kém xinh”
Thờng trong ca dao, tình yêu của ngời lao động biểu hiện rất phong phú:
Có thể là tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, cũng có thể là tình yêu của nhữngngời lao động yêu thiên nhiên Ca dao còn là nơi biểu hiện t tởng đấu tranh củanhân dân lao động đối với xã hội Đây còn là thể loại quen thuộc gần gủi vớimọi lứa tuổi Tiếng hát trữ tình của nó có thể vang vọng đến mọi nơi, với sứchấp dẫn thu hút kỳ lạ của những làn điệu đậm đà màu sắc dân tộc, đem đến chongời đọc sự hào hứng đam mê
2.2: Nội dung của ca dao
Ca dao Việt Nam là nguồn thơ dân gian vô tận, có truyền thống lịch sử từlâu đời Ca dao có thể hình dung nh một dòng sông lớn, bắt nguồn từ hàng trămcon sông, từ các nguồn ca dao dân ca ở địa phơng các vùng, các miền trong cả
Trang 11nớc Với tính cách là thơ ca trữ tình, ca dao là tiếng nói tâm hồn, tiếng nói tìnhcảm của nhân dân trong trờng kỳ lịch sử dân tộc Nó là khuôn thớc cho lối thơtrữ tình của ta ở ca dao dù kết cấu theo lối đáp hay kể chuyện, chủ thể trữ tình
ẩn hay hiện ta vẫn luôn thấy dáng dấp đang giải bày cảm nghĩ tâm tình ngờikhác
Do đó ca dao hết sức phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức nghệthuật Ca dao biểu hiện nhiều mặt, phản ánh chân thực khí sắc dân tộc thể hiệntrong tình yêu trai gái, yêu xóm làng, gia đình quê hơng đất nớc
Ca dao đợc xem là pho bách th đời sống mọi mặt của nhân dân Qua ca
dao không những làm cho ngời ta thấu hiểu tình cảm thắm thiết mặn nồng của
họ mà còn thấy đợc phẩm chất đẹp đẽ của họ:
Tình anh nh nớc dâng caoTình em nh dải lụa đào tẩm hơng
Nếu nh truyện cổ tích chiếu rọi một ánh sáng hy vọng trong cuộc sống
đời thờng thì ở ca dao ta có thể thấy niềm tin, hy vọng ngập tràn cùng với baonỗi niềm con ngời gửi gắm với cuộc đời
“Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng”
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Bởi thế nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình Cảm xúc là thiên hớngchủ đạo bộc lộ trong từng lời ca Ca dao không những làm cho ngời ta cảm nhậntình yêu thắm thiết mặn nồng của ngời dân mà còn cho ngời ta thấy phẩm chấtcủa họ trong đời sống
Cơm cha áo mẹ công thầy Nghĩ sao cho bỏ những ngày ớc ao
[1-tr.141]
II Khái niệm câu ca dao, bài ca dao:
1 Khái niệm về câu và câu ca dao
Trang 12là cấu trúc chủ vị ở tiêu chí hình thức, thì có những dấu hiệu hình thức nhất
định nh ngữ điệu, dấu câu
Trong Việt ngữ học cũng nh trong ngôn ngữ học nói chung, thờng có haihớng phân loại:
- Phân loại theo mục đích phát ngôn thành các loại câu tờng thuật, nghivấn, cầu khiến, biểu cảm
- Phân loại theo độ phức tạp của cấu trúc thành câu đơn, câu phức và cáctiểu loại nhỏ hơn
Câu lại chính là một hiện tợng nằm trong phạm vi họat động của nhữngqui luật văn bản, đặc biệt là qui luật có tính liên kết Với sự có mặt của mặt củamình, tính liên kết không chỉ có khả năng làm cho một chuỗi câu đúng ngữpháp trở thành văn bản mà có thể làm cho một chuỗi câu có chứa những câu
“Sai ngữ pháp” cũng trở thành văn bản
Ví dụ: (a) Napôlêông là một vị tớng có đại tài, đánh đâu thắng đó (b) Từ
địa vị một quân nhân thờng, làm đến tổng thống (c) Từ tổng thống nhảy lên làm Hoàng đế (d) Làm Hoàng đế cũng cha đủ (e)
Qua đó ta thấy các câu này đã nằm trong mạng lới liên kết, dới bàn tay
điều khiển của tính liên kết, có rất nhiều loại đơn vị mang những đặc tính khácnhau, tham gia vào việc cấu thành văn bản
Dù đợc phân tích, xem xét từ nhiều góc độ, thì khái niệm chung nhất vềcâu, có thể hiểu: Câu là đơn vị dao tiếp có khả năng thông báo một t tởng, mộttình cảm thông qua một hình thức – cấu trúc nhất định gắn với hoàn cảnh đểxác định
1.2: Câu ca dao
Trang 13Tuy nhiên các nghiên cứu về câu xa nay chủ yếu là nghiên cứu câu ởdạng văn xuôi, còn câu thơ - một dạng tồn tại rất đặc trng của văn bản nghệthuật – thì hầu nh cha đợc bàn tới nhiều
Trong thực tế câu văn xuôi cũng có thể trùng với câu thơ, khi câu thơcũng diễn đạt một thông báo độc lập Tuy nhiên câu thơ lại có nhiều điểm khácvới câu văn xuôi về nội dung về hình thức Chẳng hạn nếu lấy nội dung thôngbáo làm chuẩn thì nhiều khi hai dòng thơ mới tơng ứng với một câu văn xuôi
Ví dụ:
Em len lét cúi đầu tay xách gói
áo quần dơ, cắp chiếc nón le te
(Tố Hữu)Trong thơ lục bát, có khi cả hai dòng (Dòng lục và dòng bát) gộp lại mớitơng ứng với một câu văn xuôi
Ví dụ:
- Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng Thơng cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi
- Em nh con hạc đầu đình Muốn bay không cất nổi mình mà bay
Vậy thì, trong thơ khái niệm câu đợc hiểu nh thế nào? Đã có nhiều bànluận về hiện tợng này ở đây chúng tôi qui ớc: Câu trong thơ lục bát mà ở đây
là ca dao, trùng với dòng thơ Mỗi dòng thơ (dòng 6, dòng 8) là một câu thơ.Bài ca dao có hai dòng thơ, khép kín là bài ca dao có hai câu
2 Văn bản và văn bản ca dao (Bài ca dao)
2.1: Văn bản
Văn bản là một sản phẩm ngôn ngữ, do con ngời tạo ra trong quá trìnhgiao tiếp Trớc ta thấy rằng văn bản là một đơn vị ngôn ngữ đợc tổ chức từ câu,
Tuy vậy có những văn bản chỉ có một câu, nh một câu châm ngôn, một
những đơn vị này có những đặc điểm của một văn bản, tồn tại nh văn bản
Văn bản bao gồm nhiều câu, nhng giữa các câu đó phải liên hệ gắn bóvới nhau, để trở thành một chỉnh thể thống nhất Nó đợc thể hiện ở phơng diệnsau:
Trang 14Mỗi văn bản tập trung thể hiện một chủ đề Chủ đề này phát triển qua cácchủ đề bộ phận nhng toàn văn bản luôn luôn đảm bảo tính nhất quán chủ đề
Một văn bản trình bày trọn vẹn về mặt nội dung thông báo có tính nhấtquán về chủ đề và tính trọn vẹn về nội dung Mỗi văn bản có một kết cấu kháchặt chẽ Đó không phải là một tập hợp hỗn độn giữa các câu trong văn bản, cómối quan hệ qua lại, chặt chẽ và chiếm vị trí thích hợp trong văn bản Đó là kếtcấu của một chỉnh thể
Qua đó ta thấy: Văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ, thờng bao gồm mộttập hợp các câu và có thể có một đầu đề có tính nhất quán về chủ đề và tính trọnvẹn về nội dung đợc tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ, độc lập và giao tiếp
Thờng văn bản đợc chia làm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung vàphần kết luận Nó có phần tạo điều kiện cho viện nghiên cứu và phân tích cácloại văn bản
Trong văn bản nội dung phải đợc chuyển hóa thành hình thức để thể hiệnphong cách, tổ chức sắp xếp hợp lý, phải có sự tơng ứng với phần nội dung,phần mở đầu, thân bài và giải quyết vấn đề
Văn bản có các kiểu cấu tạo khác nhau Ngợc lại trong ca dao nó cónhiều điểm khác nhau so với các thể loại Vì tác giả dân gian sáng tác ra ca dao
không phải để đọc mà để diễn xớng Nội dung của văn bản liên quan đến phongcách văn bản
2.2: Văn bản ca dao (Bài ca dao)
Mỗi bài ca dao có hình thức, cấu trúc của một văn bản, vì chúng thỏamãn các đặc trng của một văn bản, vì chúng thỏa mãn các đặc trng của một vănbản: Hoàn chỉnh về nội dung, trọn vẹn về hình thức, độc lập về giao tiếp
Bài ca dao có thể dài, gồm nhiều câu liên kết liên hoàn với nhau
Chẳng hạn bài: Hôm qua tát n “Hôm qua tát n ớc đầu đình ; Trèo lên cây b ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ởi hái hoa ; Thằng Bờm v.v ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b … Các bài thơ ngắn nhng đầy ắp tâm trạng, chỉ gồm 4
đến 5 câu
Ví dụ:
Ngồi buồn đốt một đống rơm Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào Khói lên đến tận Thiên Tào
Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm Trong các loại bài ca dao, số lợng bài ca dao hai câu chiếm một tỷ lệ cao
Điều đó cho phép ta nhận xét: Loại bài ca dao hai câu có khả năng to lớn trong
Trang 15việc dồn nén thông tin, cảm xúc, bộc lộ những tình cảm, suy nghĩ, phản ánhcuộc sống con ngời một cách cô đọng
Do liên kết nội dung và hình thức là hai mặt gắn bó mật thiết với nhaucho nên mỗi văn bản đều phải có đủ hai mặt liên kết này
III Lịch sử vấn đề:
1 Nhận xét chung:
Ca dao có từ lâu đời, việc su tầm nghiên cứu ca dao cũng rất đợc quantâm của mọi tầng lớp, mọi giới nghiên cứu, nhng rõ nhất là của ngành Văn họcdân gian (Folklore)
ở Việt Nam, những su tầm khảo cứu về văn học dân gian đã có từ lâu,
gắn liền với những tác giả, có thể xem là những chuyên gia đầu ngành nh: Đinh
Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu, Lê Chí Quế, Đặng Văn Lung, đặc biệt có Vũ Ngọc Phan
Các nhà nghiên cứu về ca dao Việt Nam đã khảo sát theo nhiều hớngkhác nhau Có hớng nghiên cứu đặc trng của ca dao một cách tổng thể nh trên,nội dung phản ánh trong ca dao, phân loại các đặc điểm về cấu trúc, hình thức
Một số tác giả đi vào nghiên cứu biểu tợng các tín hiệu thẩm mỹ của ca
Trong những năm gần năm gần đây ngời ta có xu hớng nghiên cứu ở góc
độ ngôn ngữ học Chẳng hạn: Nguyễn Phan Cảnh đề cập đến phơng thức tổchức ngôn ngữ trong ca dao Mai Ngọc Chừ : Chỉ ra đặc trng về vần, nhịp củathể thơ lục bát ca dao và sức mạnh biểu đạt ý nghĩa của chúng
Vậy Ca dao là đối tợng nghiên cứu của nhiều ngành: Văn học dân gian,thi pháp học, ngôn ngữ học, văn hóa học
2 Nghiên cứu thi pháp trong ca dao:
Nghiên cứu thi pháp văn học là nhấn mạnh bản chất nghệ thuật của tácphẩm, xem xét tác phẩm văn học nh là một chỉnh thể thống nhất giữa các thành
tố và các cấp độ nghệ thuật Thi pháp văn học dân gian nói chung và thi pháp cadao nói riêng, nghiên cứu các sáng tác của quần chúng nhân dân, vốn có những
đặc điểm riêng về hình thức và phụ thuộc vào cách thức thể hiện riêng
Chẳng hạn khi tìm hiểu thời gian nghệ thuật trong ca dao, ngời ta có thểnêu nhận xét:
Trang 16Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn ớng ở thơ ca dân gian thời gian của tác giả và thời gian của ngời nghe (thởngthức) hòa lẫn với thời gian diễn xớng Thời gian ở đây là thời gian
x-hiện tại, là thời gian nhằm bộc lộ tâm trạng đang diễn ra của nhân vật trữ tình
Qua dấu hiệu này nó đợc bộc lộ bằng những từ mở đầu ở bài ca dao hai
câu: “Hôm qua ; Hôm nay ; Đêm nay ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b…
- Hôm nay sum họp trúc mai Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm
- Đêm qua chung bóng chung hơi Bây giờ kẻ ngợc ngời xuối mặc lòng
[1- tr.163]
Những từ “Hôm qua ; Đêm qua ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b cho thấy thời gian xẩy ra sự việc,
hành động đợc miêu tả không phải là quá khứ xa xôi mà là thời gian rất gần vớihiện tại
Theo thống kê trong “Ca dao trữ tình Việt Nam” Số lời mở đầu bằng từ:
“Bây giờ”; “Trèo lên cây b là 9 bài, chiếm 0,64%
Ví dụ:
Bây giờ sông lặng nớc trong Thuyền đã cặp bến mặc dòng nớc trôi
[1-tr.54]
Mở đầu bằng :’Hôm nay”; “Trèo lên cây b Chiếm 0,07%,
- Hôm nay sum họp trúc mai Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm
[1-tr.236]
Bắt đầu bằng: “Bao giờ” có 7 bài, chiếm 0,51%
Những từ chỉ thời gian vào buổi tối, buổi chiều ban đêm, đêm khuya,
- Đêm khuya thắp chút dầu dTim lan cháy lụn, sầu t một mình
[1-tr.160]
- Đêm vuốt bụng thở dài Thở ngắn bằng chạch thở dài bằng lơn
[1-tr.159]
Trang 17Trong 75 bài mở đầu bằng vần: “Đ chiếm 5,48% ” thì có 15 bài chỉ thời gian vào chiều tối chiếm 1,09%
Ca dao, thì mảng ca dao về tình yêu đôi lứa là chủ yếu Thời gian tâmtrạng của hai nhân vật yêu nhau thờng gắn với thời gian hiện tại Với những câuhát đầy ân nghĩa, lời tỏ tình tha thiết mộc mạc Dù trong lời ca có yếu tố thờigian quá khứ nhng cũng là cái cớ để nói về thời gian hiện tại để đối lập với quákhứ
giờ ; Khi đi khi về ; X ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n a kia Bây giờ ; Ngày nào Bây giờ– ” “ – ”
Nh vậy có thể khẳng định: Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời giandiễn xớng, thời gian tâm trạng Chính ý nghĩa đó mà tác giả dân gian đã dùng
Còn trong ca dao, không gian nghệ thuật theo Nguyễn Xuân Kính trong
“Thi pháp ca dao”; “Trèo lên cây b cho rằng: Dòng sông, con thuyền, cái cầu, cây đa, mái đình,
ngôi chùa, mảnh vờn, cánh đồng, con đờng, trong nhà ngoài sân, bên khung cửa
sổ là những không gian vật lý thờng gặp ở trong ca dao Đó chủ yếu chàng trailàng và các cô thôn nữ sinh sống, làm lụng tình tứ và than thở
ở kho tàng ca dao dân ca của ngời Việt không gian vật lý là những khônggian bình dị của làng quê có qui mô vừa phải
- Trên đồng cạn dới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
- Khi đi trúc chữa mọc măng Khi về trúc đã cao bằng ngọn tre
[1-tr.225]
- Qua cầu ngã nón trong cầu Cầu bao nhiều nhịp em sầu bấy nhiêu
Bên cạnh không gian vật lý, trong ca dao còn có không gian xã hội ở
đây có những mối quan hệ hết sức đa dạng giữa con ngời với con ngời
“Năng ma thì giếng năng đầy Anh năng đi lại mẹ thầy năng thơng’’
[1-tr.319]
Trong văn học, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật có mối liên
hệ chặt chẽ Mỗi thời kỳ văn học, mỗi dòng văn học, mỗi thể loại văn học đềuthể hiện mối liên hệ đó theo cách của mình
Trang 18Chẳng hạn trong các tác phẩm bi kịch của văn học cổ đại Hy Lạp, thờigian đột biến (không có liên hệ với thời gian sinh họat và thời gian lịch sử) th-ờng đi liền với không gian trừu tợng
Trong ca dao cổ truyền, chúng ta cũng nhận thấy mối quan hệ các bìnhdiện đó Những lời ca dao đợm buồn thì không gian vật lý, không gian xã hộithờng đi liền với thời gian là lúc ban đêm
Đêm khuya chong ngọn đèn ngồi Bâng khuâng nhớ bạn, bồi hồi lá gan
[1-tr.159]
Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi canh cửi còn anh vá chài
[1-tr.159]
Để thể hiện tâm trạng buồn, ngoài miêu tả không gian và con ngời vào
lúc ban đêm thì tác giả dân gian cũng chọn công thức thời gian khác “Sáng ngày chiều nay ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b
Sáng ngày tôi đi hái dâu Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
Nh vậy không gian nghệ thuật trong ca dao là không gian phiếm chỉ và
nó chỉ tơng ứng với những con ngời chỉ mang tâm trạng chung, tình cảm chungcủa nhiều ngời trong dân chúng đó là chàng trai, cô gái đang yêu, anh thợ tàihoa
Thời gian nghệ thuật có một quan hệ chặt chẽ với không gian nghệ thuật.Trong ca dao chủ yếu là không gian làng quê, bình dị phiếm chỉ, những nhânvật cha đợc cá thể hóa đều mang tâm trạng chung
IV Tiểu kết:
Trang 19Ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ dân gian, là loạithơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, đợc hình thành và phát triểntrên cơ sở các thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tìnhtruyền thống ngắn và tơng đối ngắn của ngời Việt
Cao dao đợc nghiên cứu từ lâu, đã có nhiều thành tựu kết quả quan trọng.Trong chơng này chúng tôi đã xác định một số khái niệm cơ bản, về câu và câu
ca dao để tiếp tục tìm hiểu loại bài ca dao hai câu ở trong các chơng tiếp theo
Khuôn hình cơ bản của thể lục bát mỗi cặp gồm hai câu, câu trên 6 âm
tiết, câu dới 8 âm tiết nên đợc gọi là “Lục bát”
Thể thơ này đợc phân thành hai loại là lục bát chỉnh thể (hay chính thức)
và lục bát biến thể
Cách hiệp vần, tiếng cuối của câu 6, cùng vần với tiếng 6 của câu 8
“Râu tôm nấu với ruột bầu Chống chan vợ húp gật đầu khen ngon”
Trang 20Tiếng thứ 4 của câu hát vần với tiếng thứ 6 câu lục
“Cơm ăn một bữa một lng Nớc uống cầm chừng để dạ thơng em”
- Sơ đồ vị trí gieo vần trắc khi có biến thể:
Câu 6: B – B – T – T – B – B Câu 8: B – B – T – T – B – B – T- B
(B là Bằng, T là Trắc)Còn ở câu lục bát biến thức thì số tiếng trong mỗi dòng thơ có thể thay
đổi, nhng khuôn hình về vần vẫn đợc giữ nguyên
Theo thống kê của chúng tôi trong 1368 bài ca dao thì ca dao hai câu, chiếm tỷ lệ 53,6% và tỷ lệ gieo vần chiếm số lợng khá nhiều
- Gieo vần “a” : Có 452 lời ca chiếm 3,3%
- Gieo vần “o” : Có 348 lời ca chiếm 25,4%
- Gieo vần “u” : Có 148 lời ca chiếm 10,8%
- Gieo vần “e” : Có 36 lời ca chiếm 0,6%
- Gieo vần “i” : Có 84 lời ca chiếm 2,63%
- Ai ơi! Thơng lấy lúc ni Nhịp cầu kẻ đứng ngời đi sao đành
- Chiều chiều ra đứng ngõ trông Ngõ thì thấy ngõ ngời không thấy ngời
- Cây cao bóng ngã qua rào Mong sao gặp mặt không chào cũng ng
- Chàng ơi chớ giận thiếp cùng
Trang 21Giá cho bèo bọt anh hùng giận chi
2 Cách ngắt nhịp
Cặp lục bát gồm 14 tiếng (hai câu hai dòng) Mỗi câu đợc coi nh là một
đơn vị nhịp điệu, trong đơn vị lại có thể ngắt ra từng tiết tấu tùy theo cách diễn
đạt của câu thơ
Do đó cũng có thể ngắt thành đơn vị tiết tấu mà ta thờng gọi là nhịp 2,nhịp 3, nhịp 4 Cách ngắt nhịp trong câu thơ lục bát rất uyển chuyển, có loạinhịp ổn định, có loại nhịp xen kẻ, có sự linh họat vô cùng Ngoài ra với sựkhông gò bó, không bị hạn chế về độ dài ngắn của tác phẩm, số lợng cặp thơtùy thuộc vào tác giả Thể lục bát rất có khả năng trong việc diễn đạt cảm xúc,phong phú thể hiện các nội dung hết sức đa dạng của hiện thực
Nguyễn Đình Thi đã nhận xét về đặc điểm này nh sau:
“Dùng một hình ảnh ta có thế ví lối thơ đờng luật nh một chiếc bình pha
lê kết tinh trong suốt nhng không đủ sức lôi cuốn của một dòng sông Thơ lục bát trái lại vì hợp với tiếng nớc ta hơn nên có thể dung đợc nguồn cảm hứng tràn lan, đó là thể thơ ca hát, kể chuyện của dân chúng ”; “Trèo lên cây b
Thể lục bát đâu cũng quen thuộc không hẹn mà giống nhau, tao nhânmặc khách mở miệng nên thơ, gái dệt trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hátcủa xóm làng lời đùa của trẻ con, cũng không gì là không nhịp nhàng hợp vần
Về nhịp của câu thơ lục bát khá đa dạng: Câu 6 có thể ngắt nhịp theo: 2- 2 (nhịp đôi) hoặc 2- 4- ; 3 – 3; 4- 2
2-Câu 8 có thể ngắt nhịp theo: 2- 2- 2; 4- 4; 6 –2
Nhịp tự nhiên của câu thơ lục bát là nhịp đôi Nhng cũng có một số kiểungắt nhịp khác của lục bát nh:
- Lục bát nhịp chẵn 2/2: Theo thống kê trong ca dao trữ tình Việt Nam,
trong số 1368 lời ca hai câu thì cách ngắt nhịp chẵn 2/2 có 1205 lời ca, tỷ lệ
88,1%
Vầng trăng/ai xẻ/làm đôi
Đờng trần/ai vẽ/ngợc xuôi/hỡi chàng
- Cách ngắt nhịp 3/3: ở ca dao trữ tình Việt Nam trong 1368 lời ca, có 63 bài có cách ngắt nhịp của câu lục là 3/3, tỷ lệ 4,6%
“Ngồi mà nghĩ/ đứng mà suy/
Vàng còn bán chấn huống gì duyên em”
Cách ngắt nhịp 2/4: ở cách ngắt nhịp này, theo thống kê trong 1368 lời
ca có 69 bài hai dòng, tỷ lệ 5,1%
Trang 22“Núi cao/ sông hãy còn dài Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Đôi ta/ đã trót lời thề Con dao lá trúc/ đã kề tóc mai Nhịp ở đây cũng thể hiện biến tấu rõ nét Chính biến tấu này đã tạo nênkhả năng rất lớn cho ca dao lục bát thể hiện mọi sắc thái của hiện thực trongcuộc sống
II Đặc điểm từ vựng:
1 Các từ ngữ trong câu mở đầu
Trong ca dao thì giữa phần mở và phần nội dung lời ca có kết cấu chặtchẽ có quan hệ qua lại với nhau, có chức năng phản ánh khác nhau, tùy thuộc vịtrí của từng câu Các mối liên hệ này tạo nên kết cấu văn bản Đó là kết cấu củamột chỉnh thể
Các từ ngữ mở đầu trong ca dao gồm: Từ ngữ mở đầu bằng hình thức hỏi
Đây là hình thức đợc sử dụng nhiều Trong hát dao duyên đó là hình thức sinhhọat văn hóa dân gian của ngời lao động, qua đó các chàng trai cô gái có thểhỏi nhau để tỏ tình, các từ ngữ biểu thị nhằm bộc lộ tình cảm thái độ
“Ra về nhớ lắm em ơi Nhớ chốn em đứng nhớ nơi em ngồi”
Dùng đại từ “Ai” để mở đầu câu Thống kê trong ca dao trữ tình Việt
2,33% Loại câu có kiểu cấu tạo nh thế này biểu thị đợc khuyên bảo rất rộng,
không nhằm vào một đối tợng cụ thể nào
“Ai ơi đừng phụ bát đàn Nâng niu bát sứ bể tan có ngày
[4- tr.221]
Còn theo kết quả khảo sát trong “Kho tàng ca dao ngời Việt” gồm có
11710 bài ca dao thì có 123 baì mở đầu bằng đại từ “Ai , ” chiếm 1,2%
giờ ; Bây giờ ; Buồn ; Buổi ; Biết ; Bờ ; Bến ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ” … có 61 bài trong ca
dao trữ tình, chiếm tỷ lệ 4,45%
Bây giờ sông lặng nớc trong Thuyền đã cặp bến mặc dòng nớc trôi
[1- tr.54]
Trang 23Bao giờ cá chép hóa rồng
Đền ơn cha mẹ bế bồng ngày xa
[1-tr.49]
Mở đầu bằng từ “Em”; “Trèo lên cây b Thống kê trong 1368 bài ca dao hai câu ở ca dao
chiếm 4,4%
Em đây nh miếng cau khô
Kẻ thanh tham mỏng ngời thô tham giàu
“Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ” … Thống kê trong
1368 bài có 99 bài đợc mở đầu bằng các từ ngữ đó, tỷ lệ 7,23%
Từ ngữ mở đầu chỉ thân phận: Trong ca dao các từ ngữ mở đầu chỉ thânphận, duyên phận của ngời phụ nữ chiếm vị trí nhiều Bộ phận ca dao này thờng
Thống kê trong ca dao có 96 trên 1368 bài, tỷ lệ 71%
Thân em nh ớt chín cây Càng tơi ngoài vỏ càng cay trong lòng
[1-tr.413]
Thân em nh giếng giữa đàng Ngời khôn rửa mặt ngời phàm rửa chân
[1-tr.412]
Em đây nh quả chín mòi Anh trông mỏi mắt anh chòi mỏi tay
[1-tr.188]
Tác giả dân gian đã dùng nghệ thuật so sánh và dùng hình thức so sánh
đơn (Chỉ so sánh một bên) nhằm làm rõ bản chất đối tợng đợc so sánh
Ngoài bộ phận ca dao nói về thân phận của ngời phụ nữ còn có bộ phậnnói về thân phận, nỗi khổ của ngời nông dân rồi chế độ đa thê và cảnh góa bụa
áo rách chi lắm áo ơi
Trang 24Trong ca dao tiếng hát của ngời phụ nữ là tiếng hát than thở về số phận
đau khổ của mình dới chế độ phong kiến ngày xa Thời gian là một mặt củahiện thực khách quan đợc phản ánh vào tác phẩm
Trong ca dao thời gian chủ yếu là thời gian hiện tại, các từ đợc mở đầutrong ca dao thờng là:
có 34 bài, tỷ lệ 2,48%
Thuyền đi để bến đợi chờ Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau
Trang 25Khác với thơ trữ tình bác học, không gian trong ca dao là không gian
động, không phải là không gian tĩnh ở đây không gian rất gần gủi quen thuộcvới con ngời
Chiều chiều ra đứng bờ sông Muốn về quê mẹ mà không có đò
Những hình ảnh: Đồng ruộng ; Ao ; Bờ ; Rừng ; Bể ; Cầu ; “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b
Đò
“Hôm qua tát n ” … xuất hiện khá nhiều Vì rằng những hình ảnh này là những biểu tợnghết sức đẹp đẽ, là những dấu ấn quen thuộc trong làng quê Việt Nam
Trong văn học thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật có mối liên
hệ chặt chẽ, những bài ca dao đợm buồn thì không gian vật lý và không gian xãhội thờng đi liền với nhau
Mình em nh cây thâu dầu Ngoài tơi trong héo giữa sầu tơng t
[1-tr.287]
Nh vậy không gian nghệ thuật trong ca dao là không gian trần thế ,bình
dị mộc mạc, dân dã mang tâm trạng nỗi niềm của nhiều ngời
Từ ngữ mở đầu bằng từ xng hô: Ca dao có nội dung hình thứcphong phú, đây là sáng tác của tập thể, do đó các từ mở đầu nó thờng nằm
trong những lời ca về tình yêu lứa đôi, là tiếng nói trái tim của nam nữ thanhniên Nhân vật chính là: “Chàng trai” ; “Cô gái” ; và họ tự xng với nhau là: “
“Anh - Em ; ”; “Trèo lên cây b Thiếp Chàng ; Ta Mình – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b… tất cả họ đều hiểu “ngầm” với
nhau về thông lệ đó là luôn xem hò hát là chuyện văn nghệ, chuyện diễn kịch
Chúng ta biết ca dao tình yêu cũng là một sản phẩm của lịch sử nh mọiloại văn học dân gian khác Nó nảy sinh và phát triển rất sớm do nhu cầu thểhiện tình cảm yêu đơng của nam nữ Thờng thì ca dao theo kiểu kết cấu đối đáp
ở quan hệ tình yêu nam nữ khi xng hô thờng là: Anh Em ; Mận - Đào ;“Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n ”; “Trèo lên cây b Thuyền Bến ; Trúc Mai ; Rồng Mây
“Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b
Anh với em nh quế với gừng Dẫu xa nhân ngãi xin đừng tiếc chi
[1-tr.42]
Trúc nhớ mai trúc buồn ngao ngán Mai trở về mai nhớ trúc không?
Trang 26Còn với quan hệ vợ chồng thì xng hô là: Chàng Thiếp ; Mình Ta ; “Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b “Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b
Ta Mình
“Hôm qua tát n – khi về”; “X ”; “Trèo lên cây b
Chàng về để thiếp cho ai Chiều hôm vắng vẻ sớm hôm một mình
Muốn sang với bạn mà không có đò
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Chỉ là con số một nhng nó có nhiều chức năng khác nhau: chỉ thời gian
sự vật trừu tợng, khắc học nhiều tình cảm
- Một thuyền một bến một giây Ngọt bùi ta hởng đắng cay ta chịu cùng
[1-tr.303]
- Một duyên hai nợ ba tình Chiêm bao lẫn khuất bên mình năm canh Ngoài ra con số hai số ba, số bốn cũng xuất hiện khá nhiều
- Hai ta sang một chuyến đò Trông cho rảnh khách trao cho miếng trầu
- Ba cô mà đứng thong dong Tôi lấy cô giữa mất lòng cô bên
[1- tr.47]
Trong ca dao cũng có nhiều lời ca mở đầu bằng con số bốn, nó mang ýnghĩa về thiên nhiên
“Bốn mùa bông cúc nở sây
Để cho trời khiến duyên này về ai”
Những câu ca dao có các từ chỉ lợng nh thế thờng là phần mở cho cả bài
ca Nhng ở đây chúng ta đang nghiên cứu loại bài ca dao hai câu thì thông quanhững số từ mở đầu lấy đó làm nền để đi và cái nghĩa sâu hơn, bộc lộ nội dungcủa lời ca Tạo nên ý nghĩa phiếm định rất phong phú