1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong các nhà thơ cổ điển việt nam của xuân diệu

53 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong các nhà thơ cổ điển Việt Nam của Xuân Diệu
Tác giả Lê Thị Nhàn
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 197,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

mục lục - -

Chơng I: Những giới thuyết liên quan đến đề tài 06

I Văn bản nghị luận văn học và phê bình văn bọc 06

1 Văn bản nghị luận và nghị luận văn học 06

II Xuân Diệu và tác phẩm phê bình của Xuân Diệu 17

3 Về tập phê bình " Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" 22Chơng II: Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong " Các nhà

I Đặc điểm từ ngữ trong lời văn phê bình của Xuân Diệu 25

2 Từ ngữ trong lời văn phê bình của Xuân Diệu 26

II Đặc điểm kết cấu trong "Các nhà thơ cổ điển Việt

2 Các kiểu mở và kết thúc trong " Các nhà thơ cổ điển

Trang 2

 1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Phê bình văn học là một thể loại thuộc kiểu văn bản nghịluận văn học, trong phong cách văn bản chính luận Ngôn ngữ trongvăn bản phê bình văn học rất phong phú, đa dạng Nó vừa mang những

đặc điểm của ngôn ngữ chính luận, vừa có đặc điểm của ngôn ngữ vănchơng Vì thế, tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản phê bình làmột điều hết sức thú vị

Hơn nữa, nghiên cứu về ngôn ngữ trong các văn bản nghị luận, từlâu đã đợc nhiều ngời quan tâm - nhất là ở bộ môn tập làm văn Ngời

ta nghiên cứu sâu tới cách thức lập luận trong việc tạo dựng đoạn văn,văn bản; cách lựa chọn và sử dụng từ ngữ sao cho phù hợp với từng kiểuvăn bản Tuy nhiên việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong các vănbản nghị luận ở các tác giả cụ thể cha nhiều Do vậy, nghiên cứu đặc

điểm ngôn ngữ trong văn bản phê bình văn học ở các tác giả cụ thể vẫn

là một điều mới mẻ và cần thiết

1.2 "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" là một công trình nghiên

cứu phê bình thơ tiêu biểu của Xuân Diệu và là một trong những tácphẩm làm nên cụm công trình của Xuân Diệu đợc tặng giải thởng HồChí Minh về văn học nghệ thuật đợt một vừa qua của Đảng và Nhà nớc

ta "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" ngoài sự thể hiện niềm yêu thơmãnh liệt; một tầm tri thức uyên bác với những khám phá, phát hiệnmới mẻ, tinh tế, sâu sắc, còn là một công trình thể hiện một phong cáchnghiên cứu phê bình độc đáo của Xuân Diệu

Tuy nhiên, thành công của "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam"không chỉ dừng lại ở đấy Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong hợp tuyển

là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của nó

Với đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong Các nhà thơ“Các nhà thơ

cổ điển Việt Nam” của Xuân Diệu chúng tôi mong góp phần tìm hiểu,

xem xét hợp tuyển này từ góc độ ngôn ngữ học để có một cách nhìn cụthể và hệ thống về đặc điểm của loại văn bản phê bình

1.3 Kiểu văn bản nghị luận văn học trong đó có phê bình vănhọc là một trong những nội dung đợc giảng dạy ở trờng phổ thông,trong phân môn tập làm văn và ngữ pháp văn bản Với đề tài mày,chúng tôi mong muốn giúp ngời đọc hiểu sâu hơn về đặc điểm phê bìnhvăn học nói riêng và văn bản nghị luận nói chung về cách sử dụng từngữ, cách thức lập luận trong văn bản Từ đó có thể tự rút ra những bàihọc bổ ích cho mình trong quá trình giảng dạy tập làm văn và ngữ phápvăn bản ở trờng phổ thông

2 lịch sử vấn đề:

2.1 Phê bình văn học ở Việt Nam là một bộ môn có tuổi đời rấttrẻ, tiền thân của hoạt động phê bình là hình thức thẩm bình, ngâm vịnh

Trang 3

xa Đến đầu thế kỷ XX, khi văn hoá Pháp đã ảnh hởng không nhỏ đến

đời sống văn hoá tinh thần của ngời Việt thì phê bình văn học mớichính thức trở thành một bộ môn nghiên cứu

Hơn nữa, trớc đây phê bình văn học chỉ là hoạt động của một số

ít ngời trong xã hội, chỉ những ngời đợc trang bị kiến thức về lý luậnvăn học và những ngời say mê văn học mới làm công việc này Đội ngũ

độc giả cũng không nhiều bằng độc giả của văn chơng Do vậy, nghiêncứu phê bình văn học còn rất ít ngời chú ý Ngời ta chỉ mới dừng lạichủ yếu ở phơng diện lý luận văn học, nghiên cứu những nguyên tắc,phơng pháp đặc trng của phê bình văn học

Nhà văn Vũ Ngọc Phan khi nghiên cứu về các nhà phê bình vàbiên khảo (1942) đã đa ra cách hiểu của mình về hoạt động phê bình "Phê bình là dẫn cho độc giả, tức là đọc giúp độc giả, tức là vạch rõ chỗhay chỗ dở của tác giả, nghĩa là chỉ cho tác giả thấy rõ con đờng nêntheo, thì một khi đã thấy có đủ các loại văn khác mà không có loại vănphê bình, văn chơng có thể ví nh một con thuyền không chèo, khônglái" [ 28 - Tr583]

Lại Nguyên Ân tập hợp các bài viết trong cuốn " Văn học và phêbình" đã tìm cách xác định đờng biên của phê bình văn học với khoahọc, chính luận và văn học, ông xác định vị trí của nó: " Phê bình đứnggiữa văn chính luận, khoa học và văn học ; Vị trí "Giáp ranh", chỗ "

Đứt nối" giữa các ngành khoa học mà không thể mất đi vị trí củamình " [ 1 - Tr 216]

Ngoài ra còn một số nhà nghiên cứu khác: Trần Đình Sử, Đỗ ĐứcHiểu, Hà Minh Đức, Vơng Trí Nhàn đều đã đa ra những cách hiểu vàgiải thích khác nhau về phê bình văn học ở phơng diện lý luận văn học

2.2 Xét ở mặt lý thuyết ngôn ngữ học, văn bản phê bình văn học

là một thể lọai trong phong cách văn bản nghị luận Từ trớc đến nay,nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản nghị luận chỉ đợc xem xétchung trong khi nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản nghị luận

và nghị luận văn học

Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ phê bình ở các tác giả cụ thể rất ít

đợc chú ý bởi trong phê bình văn học cái quan trọng là phơng pháp,quan niệm và những nguyên tắc của nhà văn phê bình thể hiện nh thếnào trong văn bản Qua việc phân tích, bình luận tác phẩm văn học nhàphê bình rút ra điều gì bổ ích cho lý luận nghiên cứu phê bình văn họchay có những nhận xét đánh giá gì về tác giả, tác phẩm định hớng chohoạt động tiếp nhận và sáng tác văn học Do vậy các công trình viết vềcác nhà văn phê bình chủ yếu nghiên cứu ở phơng diện lý luận phê bình

và nghiên cứu văn học Nhiều công trình bài viết về các nhà văn phêbình nh Đặng Thai Mai, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan đều là những bàiviết ở góc độ lý luận nghiên cứu văn học

Trang 4

Nh vậy xét về mặt lý thuyết cho đến nay cha có công trình nàonghiên cứu về ngôn ngữ phê bình Trong khi đó những công trình vềngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ báo, ngôn ngữ hội thoại đều đã có rấtnhiều và đã có những đóng góp đáng kể Sự khuyết thiếu này cho thấynghiên cứu về ngôn ngữ phê bình văn học là mới mẻ và rất cần thiếttrong sự phát triển ngay một cao của bộ môn khoa học này.

Với những đóng góp lớn lao trên nhiều lĩnh vực văn học, XuânDiệu đã trở thành đối tợng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu từnhững mục đích và góc độ khác nhau Các nhà nghiên cứu đã tiếp cậnXuân Diệu trên hai phơng diện cơ bản: Xuân Diệu - Nhà thơ, XuânDiệu - Nhà nghiên cứu, phê bình thơ ở phơng diện thứ nhất ngời ta đã

đạt đợc một số thanh tựu đáng ghi nhận, ở phơng diện thứ hai, mặc dù

dễ dàng thống nhất với nhau về tầm cỡ nhà nghiên cứu phê bình thơ,song nh giáo s Trần Đình Sử nhận xét “Các nhà thơ Nghệ thuật và phơng pháp giớithiệu thơ của Xuân Diệu đang là một lĩnh vực hấp dẫn chờ đợi khámphá” Một sự nghiên cứu tập trung, đầy đủ và có hệ thống về nhànghiên cứu phê bình thơ Xuân Diệu đang đòi hỏi sự quan tâm chú ý củacác nhà nghiên cứu văn học “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” cũngkhông nằm ngoài thông lệ đó mặc dù giá trị to lớn của nó đã đợc đông

đảo mọi ngời khẳng định, các bài viết dù cha tập trung song đã đề cập

đến những khía cạnh sau của “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”:

1 “Các nhà thơ Đi đầu tìm kiếm gia tài văn học của ông cha”

( Vơng Trí Nhàn - Bớc đầu đến với văn học, Tr 67)

2 “Các nhà thơ Chú ý những bài văn đặc sắc tìm hết cái riêng, độc

đáo của mỗi nhà thơ qua những bài thơ hay” (Trần

- “Các nhà thơTự hào mà sảng khoái” ( Hữu Thỉnh)

- “Các nhà thơ Vừa tỉnh táo vừa đam mê” ( Phạm Tiến Duật).Nhìn chung, sự đánh giá về “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” làtơng đối thống nhất nhng hãy còn lẻ tẻ và tản mác, cha có một côngtrình khoa học chuyên sâu về đề tài này Hy vọng là đề tài nghiên cứu

về đặc điểm ngôn ngữ trong “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” của XuânDiệu sẽ góp phần làm cho bạn đọc có cái nhìn một cách toàn diện, tậptrung và có hệ thống hơn

3 Mục đích nghiên cứu.

Khi nghiên cứu khoá luận hớng tới những mục đích sau:

Trang 5

- Chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản nghị luận vàvăn bản nghị luận văn học, chỉ ra những nhân tố chi phối những đặc

điểm của ngôn ngữ trong “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”

- Khoá luận góp phần chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ quantrọng của văn bản trong “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” Đó là những

đặc điểm về kết cấu văn bản, về cách tổ chức ý và dựng đoạn nội dungtrong văn bản phê bình Đồng thời, nêu lên những đặc điểm về nghệthuật sử dụng từ ngữ với các phơng thức tu từ tạo nên lời văn và giọng

điệu trong “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”

- Qua việc nghiên cứu trên, luận văn cố gắng rút ra những kếtluận ban đầu về đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản phê bình văn học đểgóp phần thiết thực cho việc dạy tập làm văn ở trờng phổ thông

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

- Khoá luận chủ yếu xem xét những đặc điểm ngôn ngữ đặc sắc,nổi bật trong tập “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” của Xuân Diệu

- Ngoài ra sẽ khảo sát thêm một số tác phẩm phê bình của cácnhà phê bình khác nh Hoài Thanh - Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan để sosánh đối chiếu làm nổi bật những đặc điểm ngôn ngữ trong “Các nhà thơ Các nhàthơ cổ điển Việt Nam”

6 Cấu trúc của đề tài.

Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung chính của khoá luậngồm có hai chơng:

Chơng I: Những giới thuyết liên quan đến đề tài.

Chơng II: Đặc điểm ngôn ngữ phê bình của Xuân Diệu trong

“Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”

Trang 6

Ch ơng I:

Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Văn bản - với t cách là sản phẩm của hoạt động giao tiếp,thờng đợc xây dựng theo một kiểu phong cách chức năng nào đó Cácphong cách chức năng khi tồn tại ở dạng văn bản thì sẽ có các loại vănbản: Loại văn bản nghị luận, loại văn bản báo chí, loại văn bản hànhchính Trong mỗi loại lại có nhiều kiểu: Kiểu văn bản giáo khoa, kiểuvăn bản luận văn, kiểu văn bản hội thảo (Thuộc loại văn bản khoahọc); kiểu văn bản tin tức, kiểu văn bản công luận, kiểu thông tin -quảng cáo (Thuộc loại văn bản báo chí) Trong mỗi kiểu lại đợc chiathành nhiều thể loại văn bản: thể loại mẩu tin, thể loại phóng sự, thểloại phỏng vấn (Thuộc kiểu tin tức); lời kêu gọi, báo cáo chính trị, xãhội, bình luận (Thuộc văn bản nghị luận chính trị)

Theo sự phân loại trên, văn bản phê bình văn học là mộttrong những thể loại của nghị luận văn học – nằm trong loại văn bảnchính luận

và đánh giá cho rõ về một vấn đề gì đó” theo các cách giải thích trên thìnghị luận chính là bàn bạc và đánh giá cho ra phải trái về một vấn đề gì

đó Vấn đề đợc đa ra bàn bạc, đánh giá có thể là một vấn đề xã hội, vấn

đề chính trị hay kinh tế, văn hoá hoặc văn học nghệ thuật

Từ cách lí giải trên, các tác giả đã đa ra một cách giải thích vềnghị luận: “Các nhà thơVăn nghị luận: Thể văn dùng lý lẽ phân tích, giải quyết vấn

đề” [29-tr 673] Thể văn này bắt nguồn từ một thể văn trong văn chơngcổ: Thể luận Đây là một thể văn điển hình nhằm trình bày t tởng vàhọc thuyết chính trị, triết học, văn nghệ, lịch sử, đạo đức

Sách giáo khoa “Các nhà thơTập làm văn 10” do Trần Thanh Đạm chủ biên(Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000 - NXB GD tái bản lần thứ nhất),xem: Văn nghị luận là một thể văn trong tập làm văn cũng nh văn miêutả, văn tự sự, văn cảm tởng Trong cuốn sách này các tác giả viết: “Các nhà thơNếubài văn thiên về trình bày các ý kiến, các lý lẽ thì nó đợc gọi là lối vănnghị luận” Các tác giả giải thích rộng hơn về lối văn này: “Các nhà thơLối vănkhông loại trừ mà bao gồm lối văn cảm tởng và lối văn miêu tả, văn tự

sự khi cần thiết Song chủ yếu nó nhằm trình bày ý kiến để giải thích,chứng minh, biện luận, thuyết phục về một vấn đề gì đó Nó nhằm tác

động vào trí tuệ và lý trí của ngời đọc nhều hơn vào cảm xúc, tình cảmhay tởng tợng Nó là sản phẩm của t duy lôgic” [Tr 6]

Trang 7

Theo nhóm tác giả: Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng: “Các nhà thơVănbản nghị luận là kiểu văn bản dùng để trình bày, bình luận, đánh giátheo một quan điểm nhất định những sự kiện, những vấn đề về chínhtrị, xã hội, t tởng, văn hoá ” [36, tr 30].

Trên cơ sở những cách giải thích và định nghĩa trên, có thể nêu

về văn bản nghị luận nh sau :

Văn bản nghị luận là văn bản thuộc phong cách văn bản chínhluận, dùng lý lẽ để trình bày, bình luận, đánh gía theo một quan điểmnào đó những sự kiện, những vấn đề chính trị, văn hoá xã hội, văn học,nghệ thuật

Là sự cụ thể hoá của phong cách văn bản chính luận, văn bảnnghị luận có những chức năng: Thông báo, chứng minh, tác động

1.2 Các đặc điểm của văn bản nghị luận:

Tính trí tuệ: ở những văn bản có khuôn hình sẵn nh văn bản hành

chính công vụ (Các loại giấy tờ, công văn, đơn từ ), ngời viết ít khiphải hoạt động t duy Còn các loại văn bản khác: văn bản khoa học, vănbản nghị luận, văn bản báo chí lại buộc ngời ngời viết phải có sự đầu

t cao để suy nghĩ, lựa chọn trong quá trình tạo lập văn bản Tính trítuệ thể hiện ở chỗ: Ngời viết phải am hiểu vấn đề mình đang viết mộtcách sâu sắc, nắm vững các mối quan hệ của vấn đề đó với các vấn đềxung quanh (Bởi vì có khi nhờ những vấn đề xung quanh mà cả ngờiviết và ngời đọc, ngời nghe hiểu sâu hơn đợc vấn đề trung tâm) Chỉ cóhiểu sâu, nắm vững thì mới phân tích đợc vấn đề một cách thấu đáo,thuyết phục, chiếm đợc sự đồng tình của ngời nghe, ngời đọc “Các nhà thơ Tuyênngôn độc lập” (1945) của Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ điều đó Đa vấn

đề độc lập dân tộc ra trớc nhân dân Việt Nam và cả nhân dân yêuchuộng hoà bình trên thế giới, Ngời đã phân tích tỉ mỉ về độc lập dântộc ở Mỹ, ở Pháp trong các bản tuyên ngôn của chính nớc họ Khôngnhững thế, vị chủ tịch còn nói đến cả những vấn đề nhân quyền trongcác bản tuyên ngôn về “Các nhà thơ Nhân quyền và dân quyền ” của cách mạngPháp 1791 để chỉ rõ sự xâm lợc của thực dân Pháp ở Đông Dơng làhoàn toàn vô lý Thực hiện cuộc xâm lợc này, không những thực dânPháp đã vi phạm bản tuyên ngôn mà còn là một hành động độc ác đốivới con ngời Bên cạnh những vấn đề chính trị, Bác còn rất am hiểu vểlịch sử Những dẫn chứng mang tính lịch sử trong tuyên ngôn đã kêugọi đợc sự đồng tình, thuyết phục đợc đông đảo quần chúng nhân dânthế giới thấy đợc: Độc lập dân tộc, tự do dân chủ ở Việt Nam là hoàntoàn chính đáng Đó là một quyền không thể phủ nhận đợc

Tính lập luận chặt chẽ, thuyết phục: văn bản nghị luận thờng

nói, viết về một vấn đề có tính thời sự thu hút sự chú ý của ngời nghe,ngời đọc bằng chính nội dung của vấn đề đó.Tuy nhiên, để mang lạicho ngời nghe, ngời đọc sự tập trung cao độ khi tiếp nhận văn bản Ng-

ời viết phải có một năng lực sử dụng ngôn từ thực thụ Năng lực sử

Trang 8

dụng ngôn ngữ cho phép ngời ta sử dụng đợc cái lập luận chặt chẽ, khảnăng dùng từ ngữ thích hợp trong văn bản nghị luận Vấn đề đa ra phải

đợc phân tích, giải thích bằng lý lẽ bằng những căn cứ vững chắc dựatrên cơ sở khoa học xác đáng rõ ràng

Tính lập luận chắt chẽ biểu hiện ở chỗ: Nội dung vấn đề đợc chia

ra làm nhiều luận điểm, mỗi luận điển lại đợc tạo thành bởi nhiều luận

cứ, các luận cứ đợc minh hoạ bằngcác luận chứng Muốn làm đợc nhvậy, ngời tạo văn bản phải thực sự có kiến thức khoa học, có vốn ngônngữ phong phú để tác động vào tri thức, tình cảm của ngời nghe, ngời

đọc Điều đó buộc ngời tạo văn bản phải có một tình cảm, thái độ nhất

định đối với vấn đề mình đang bàn Có khi nội dung vấn đề đa ra là một

điều tâm huyết mà ngời tạo văn bản đã phải nung nấu cả một quá trìnhlâu dài “Các nhà thơ Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh là một ví dụ sinh

động

Tính đại chúng: Do nội dung của một văn bản nghị luận thờng là

một vấn đề nào đấy đang đợc mọi ngời quan tâm nên phạm vi đối tợnggiao tiếp - tiếp nhận của nó rất rộng Đối tợng của kiểu văn bản nghịluận có khi là những ngời có cùng một chuyên môn (nghị luận văn học,nghị luận kinh tế) cũng có khi bao gồm tất cả mọi tầng lớp nhân dân ởmọi lứa tuổi và mọi trình độ (lời kêu gọi, lời hiệu triệu ) Sự đa dạng

về đối tợng, nội dung, mục đích mà ngời viết muốn đa ra và đạt đợcbuộc họ phải có những cách thức sử dụng ngôn từ phù hợp Vấn đề đa

ra phải dễ hiểu, đợc diễn đạt bằng những từ ngữ trong sáng, cấu trúcngôn từ đơn giản, rõ ràng mạch lạc Có nh vậy mới đáp ứng đợc khảnăng tiếp nhận văn bản của quân chúng nhân dân

Xét về nội dung ý nghĩa và logic sự vật, văn bản nghị luận đợcchia ra thành nhiều kiểu: Nghị luận chính trị, nghị luận kinh tế, nghịluận xã hội Nghị luận văn học là một kiểu văn bản nghị luận

Khái niệm về nghị luận văn học cho đến nay vẫn cha đợc nhiềungời chú ý định nghĩa và mới chỉ là một khái niệm dùng để chỉ mộtkiểu bài trong tập làm văn ở trờng phổ thông Sách giáo khoa “Các nhà thơTập làmvăn 10” do giáo s Trần Thanh Đạm chủ biên đã đa ra quan niệm: Nghịluận văn học là lối văn nghị luận mà nội dung là một vấn đề văn học.Vấn đề văn học ấy có thể là một ý kiến về lí luận văn học, một nhận xét

về tác giả, tác phẩm văn học Trong cuốn sách này các tác giả cũng chỉra: Kiểu nghị luận văn học rất gần với nghị luận xã hội Vì vậy, nhiềungời ( nhất là học sinh phổ thông) rất hay có sự nhầm lẫn giữa hai kiểubài này Chẳng hạn, với đề bài: Bằng thực tế đời sống, hãy chứng minhcâu tục ngữ: “Các nhà thơ Học thày không tày học bạn”, bài viết lại có yếu cầu củamột bài nghị luận văn học, thể loại bình giảng văn học

Qua sự phân tích trên ta có thể rút ra kết luận về văn bản nghịluận nh sau: Văn bản nghị luận văn học là văn bản mà nội dung đa ra

để bàn bạc, bình luận đánh giá là một vấn đề văn học

Trang 9

Khi bàn về các vấn đề văn học, văn bản nghị luận văn học thờng đợcthể hiện ở các thể loại: Tiểu luận văn học, tổng quan văn học, phê bìnhvăn học.

2 Văn bản phê bình văn học:

2.1 Về khái niệm phê bình văn học:

Phê bình văn học là một ngành rất trẻ trong nghiên cứu văn học

Nó chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XXvới một số cây bút tiêu biểu nh: Trần Huy Liệu, Ngô Văn Tố, ĐặngThai Mai, Hải Triều, Tầm Vu, Vũ Ngọc Phan Thông thờng trong cácnghiên cứu về phê bình văn học, ngời ta đặt hai thuật ngữ “Các nhà thơ nghị luận”

và “Các nhà thơ phê bình văn học” cạnh nhau đề tạo thành: Nghị luận phê bình vănhọc ( Tập “Các nhà thơ Nghị luận phê bình văn học” - Nxb GD, H 1976) Thực rahai thuật ngữ này không khác xa nhau mà có quan hệ cấp độ nh đãphân tích ở trên Phê bình văn học là một thể loại trong nghị luận vănhọc

“Các nhà thơ Từ điển Tiếng Việt” ( Tập 2 - Nxb KHXH, H, 1984) giải thích

về phê bình văn học: Một bộ môn của khoa học nghiên cứu văn học Sử.Phê bình văn học thờng hớng vào những đối tợng chủ yếu là những hiệntợng văn học đang diễn ra trớc mắt Nó có nhiệm vụ kịp thời biểu dơng,khẳng định những tác phẩm, nhà văn và khuynh hớng t tởng nghệ thuậttheo đúng quan điểm văn học nhất định, đồng thời kiên quyết đấu tranhphê phán những cái ngợc lại

“Các nhà thơ Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên giải thích: “Các nhà thơPhêbình văn học - bộ môn chuyên phân tích các tác phẩm nhằm mục đích

đánh giá và hớng dẫn việc sáng tác” [ Tr 776]

Lại Nguyên Ân trong cuốn “Các nhà thơ Văn học phê bình” (Nxb TPM, H.1984) lại đa ra cách hiểu: “Các nhà thơ Phê bình văn học là sự luận bàn và bình giásáng tác văn học hoặc đúng hơn là sự sáng tạo ngôn từ” [1-Tr 213] ởcuốn sách này, tác giả cũng đã đa ra cách xác định vị trí của phê bìnhvăn học trong khoa học, văn học và chính luận trên cơ sở so sánh về đốitợng nghiên cứu, về hình thức t duy

Trong cuốn “Các nhà thơ Nhà văn phê bình”, Cuốn sách khảo cứu văn họcViệt Nam thời kỳ 1932-1945, hai tác giả Mộng Sơn Bình và Đào ĐứcChơng cùng đa ra một định nghĩa: “Các nhà thơ Phê bình văn học là suy nghĩ, mổ

xẻ, nhận định, đánh giá” [ Tr 9] Nh thế có ý nghĩa là: Phạm vi đối tợngnghiên cứu của phê bình văn học, theo hai tác giả, đã đợc mở rộng sang

đối tợng của các thể loại nh: tiểu luận văn học, tổng quan văn học

Trên cơ sở về khái niệm phê bình văn học, ta có thể rút ra kếtluận về văn bản phê bình nh sau: Văn bản phê bình văn học là thể loạivăn bản xem xét, phân tích và đánh giá các tác phẩm tác giả hay trào lu văn học Qua đó , nhằm định hớng cho việc sáng tác văn học

“Các nhà thơ Phê bình văn học là sáng tác văn học đặc biệt - Văn học phêbình” ( Lại Nguyên Ân) Đối tợng trực tiếp của phê bình văn học

Trang 10

không phải là đời sống thực tế sinh động hàng ngày nh văn học mà là

đời sống trong văn học, đời sống văn học Đời sống văn học là đối tợngtrực tiếp còn đối tợng gián tiếp là đời sống trong văn học hay cụ thểhơn là những tác giả, tác phẩm văn học trong hiện tại và cả trong quákhứ Với nội dung là phân tích, lí giải, cắt nghĩa đối tợng Phê bình vănhọc có khả năng đánh giá những giá trị tích cực của tác phẩm, công laocủa các tác giả văn học; đồng thời phê phán rút ra nhợc điểm của tácgiả, tác phẩm ấy để điều chỉnh hớng hoạt động sáng tạo trong thời điểmhiện tại

Hớng về những tác giả, tác phẩm đơng đại, phê bình văn học làbiểu hiện của bộ phận d luận xã hội đơng thời với những vấn đề về cáctác giả, tác phẩm ấy ở đây, nhà phê bình trình bày quan điểm, thái độcủa mình đối với các tác giả, tác phẩm văn học ý kiến thái độ ấy cóthể đợc đông đảo công chúng đồng tình nhng cũng có thể bị những ýkiến trái ngợc phản bác lại Nghĩa là bản thân nó cũng tạo ra xungquanh mình không khí tranh luận sôi nổi đầy tính thời sự Đây chính làtính chính luận của phê bình văn học

Với t cách là trung gian - “Các nhà thơ ngời môi giới” - giữa công chúng vớicác tác phẩm văn học, giữa tác giả và độc giả, phê bình văn học có vaitrò quan trọng trong sáng tạo và tiếp nhận văn học Thế giới nghệ thuậttrong tác phẩm văn học rất phong phú, đa dạng Nhìn nhận nó, tái hiện

nó nh thế nào trong văn bản phê bình văn học lại phụ thuộc vào chínhquan điểm nghệ thuật và tài năng của nhà phê bình Qua sự phân tích,bình giá của nhà phê bình, tác phẩm văn học có thể hay hơn, sống độnghơn, giá trị đợc nâng cao hơn nhng cũng có thể do phê bình văn học mà

nó bị hạ thấp đi Phê bình văn học trở thành công đoạn lựa chọn, đàothải tác phẩm văn học trong hành trình từ tác giả đến độc giả Tuynhiên để làm đợc cái công việc gọi là bình giá tác phẩm, định danh tácgiả, điều quan trọng trớc tiên cần có ở một nhà phê bình là phải có mộttrình độ lí luận nhất định, vững vàng về chuyên môn và phong phú vềkiến thức đời sống văn hoá xã hội việc xác định cho mình một quan

điểm nào đó ( mĩ học, triết học, lí luận học, văn hoá học) sẽ giúp nhàphê bình có một hệ thống phơng pháp phù hợp và nhờ thế cách nhìnnhận, đánh giá về tác giả và tác phẩm cũng xác đáng hơn, hợp lí hơn

Có một quan niệm, một hệ thống phơng pháp riêng, một trình độ khoahọc, một cách nhìn nhận độc đáo đó chính là biểu hiện của tính khoahọc trong văn bản phê bình văn học

Phê bình văn học dù có đánh giá về một tác giả, một vấn đề haymột trào lu khuynh hớng văn học cũng đều phải xuất phát từ tácphẩm văn học Tác phẩm văn học là tác phẩm nghệ thuật còn thế giớitrong tác phẩm văn học là thế giới hình tợng ( đó lại là đối tợng nghiêncứu của nhà phê bình văn học) Qua trình phân tích bình luận, lí giải tácphẩm văn học là quá trình tái tạo lại thế giới nghệ thuật, thế giới hình t-

Trang 11

ợng có trong tác phẩm theo quan điểm của nhà phê bình Vì vậy, cuộcsống trong tác phẩm phê bình văn học là cuộc sống đã đợc khúc xạ quahai tầng lăng kính ( nhà văn và nhà phê bình) Cuộc sống ấy phong phúhơn cuộc sống trong tác phẩm văn học vì nó đợc nhà phê bình xem xétmột cách tổng thể, sâu sắc hơn, phân tích và lí giải theo nhiều cáchkhác nhau Dới con mắt của nhà phê bình văn học, tác phẩm văn họcgiống nh một viên xúc xắc nhiều mặt, lật mặt nào cũng thấy óng ánhnhững sắc màu Mỗi nhà phê bình nhìn thấy ở nó những sắc màu khácnhau Tất nhiên, cái nhìn của nhà phê bình cũng chịu sự chi phối sâusắc của đời sống lịch sử, chính trị, văn hoá xã hội Nhà văn Vũ TrọngPhụng và “Các nhà thơvụ án” về ông đã phần nào làm sáng rõ vấn đề này Những

điều trên đây là những biểu hiện của tính nghệ thuật trong văn bản phêbình

Nh vậy, văn bản phê bình văn học vừa có tính chính luận vừa cótính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật Đặc điểm này đã tác động trựctiếp tới ngôn ngữ văn bản phê bình văn học làm cho ngôn ngữ trong thểloại văn bản này có đặc điểm riêng khác với các thể loại khác trongkiểu nghị luận văn học

2.2 Đặc điểm của phê bình văn học :

- Đặc điểm về kết cấu: Văn bản phê bình văn học không có kết cấu cố

định về khuôn hình, khuôn mẫu nh các loại văn bản hành chính hoặccác kiểu văn bản nghị luận khác Giống nh các thể loại văn bản này,văn bản phê bình văn học thờng có ba phần (trừ đầu đề) Đó là cácphần: Đặt vấn đề (phần mở đầu), giải quyết vấn đề (phần nội dungchính hay phần triển khai) và kết thúc vấn đề Các phần này có vị trí,vai trò và nhiệm vụ giống nh khi chúng ở trong những loại văn bản đã

- Đặc điểm về từ ngữ: Ngoài lớp từ toàn dân và khả năng sử dụng từ

ngữ đúng yêu cầu, từ ngữ trong văn bản phê bình văn học còn có những

đặc điểm sau:

Thờng xuyên sử dụng lớp từ chuyên dụng với tần số cao Đó lànhững từ thuộc về chuyên ngành văn học và nghiên cứu văn học nh: tác

Trang 12

phẩm, nhân vật, ngôn từ, lời văn, giọng điệu khả năng sử dụng từ ngữtrong phê bình văn học cũng khác với văn bản phê bình văn xuôi, khácvới văn bản phê bình kịch Chẳng hạn phê bình thơ thờng sử dụng các

từ ngữ nh: vần, nhịp, nhịp điệu, dòng thơ, khổ thơ Trong khi đó phêbình văn xuôi lại có những từ: ngời kể chuyện, cốt truyện, diễn biếntâm lý, nội tâm, lời văn Hơn thế nữa đối với mỗi tác giả tác phẩm khinghiên cứu nhà phê bình còn phải sử dụng những từ ngữ cho phù hợpvới nội dung chủ đề, với phong cách của từng nhà thơ, nhà văn

Ví dụ nh trong bài “Các nhà thơ Tìm hiểu giá trị bài ca chàng chai Đam San”,Chu Xuân Diên có đoạn bình:

“Các nhà thơ Trong khung cảnh ấy của đời sống dân tộc, Đam San nổi bậtlên nh một nhân vật kỳ diệu, có sức mạnh lôi cuốn lòng ngời Hình t-ợng Đam San là hình tợng ngời anh hùng của quân chúng, thể hiện ớcmơ và sức mạnh của quân chúng Quân chúng yêu thích Đam San gắncho Đam San những đức tính phi thờng kỳ vĩ, có tính chất thần thoại

Đó là một con ngời “Các nhà thơ khoẻ nh voi đực”, “Các nhà thơTiếng nói tiếng cời nh sấmvang sét đánh”, khi ngồi thì “Các nhà thơdẻo nh con răn trong hang, con hùm bên

bờ suối”, khi nằm thì “Các nhà thơ tóc dài thả xuống đựng trong một chiếc chiêng”,khi đi thì “Các nhà thơ ung dung, khoan thai, hai cánh tay đánh xa một cách tuyệt

đẹp thoăn thoắt nh con rắn Prao huê” [ 22 Tr 92]

ở đoạn văn trên, tác giả phê bình sử dụng những từ ngữ mangtính khoa học chuyên ngành nh: Nhân vật, hình tợng anh hùng, tínhchất thần thoại để phân tích bình luận Mặt khác, những từ ngữ nh:Sức mạnh lôi cuốn lòng ngời, ớc mơ và sức mạnh quần chúng, đức tínhphi thờng, kỳ vĩ đều phù hợp với nội dung chủ đề tác phẩm Để tăngsức thuyết phục, tác giả đã chọn ra những dẫn chứng tiêu biểu lấy từ “Các nhà thơBài ca chàng Đam San” minh hoạ cho những luận điểm: Đam San lànhân vật kì diệu, phi thờng

Đặc điểm thứ hai trong cách sử dụng từ ngữ của văn bản phêbình văn học là: từ ngữ giàu tính hình tợng và sắc thái biểu cảm Tínhhình tợng và sắc thái biểu cảm làm tăng giá trị thẩm mỹ, giá trị biểucảm và sức hấp dẫn của lời văn phê bình Hai đặc tính này có đợc là docác nhà phê bình đã sử dụng biện pháp tu từ ngữ nghĩa và từ vựng, cộngvới kết quả lựa chọn và kết hợp từ ngữ trong câu văn Biện pháp tu từtạo hình tợng thờng là ẩn dụ, nhân hoá, so sánh Các kết hợp từ ngữ

để tạo ra định ngữ nghệ thuật làm cơ sở cho việc tạo nhịp điệu trong lờivăn phê bình Ví dụ: Nhà phê bình Đặng Thai Mai khi nói tới chủ nghĩanhân đạo trong truyện Kiều, tác giả đã đa ra lời bình: “Các nhà thơ Lời than vãncủa Kiều cũng là tiếng nức nở của tất cả những ngời đàn bà bị đầy đoạ.Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du cố nhiên mới chỉ biểu hiện bằngnhững phơng pháp theo đạo lí chữ “Các nhà thơ Nhân” của đạo Khổng hoặc theotinh thần hiếu sinh của đạo Phật, cha phải là chiên đấu cho nhân đạo,cho con ngời nhng trong xã hội phong kiến đầy tội ác, giọt nớc mắt

Trang 13

trớc đau khổ của loài ngời cũng là “Các nhà thơ hạt ma móc” cần thiết cho cảnh vậtdới một gầm trời đang hạn” [ 22-Tr 280].

Trong lời bình trên tác giả đã sử dụng các ẩn dụ: lời than vãn,tiếng nức nở, giọt nớc mắt, hạt ma móc cần thiết cho cảnh vật dới mộtgầm trời đang hạn Bằng cách nó hình tợng ấy, Đặng Thai Mai đã chỉ ranhững khiếm khuyết có tính lịch sử trong chữ nghĩa nhân đạo củaNguyễn Du Đó là: Nguyễn Du mới chỉ đa ra cái lòng thơng cảm màcha chỉ ra đợc một lối thoát - Sự phản kháng đấu tranh cho con ngời

Văn bản nghị luận nói chung và văn bản phê bình văn học nóiriêng thiên về t duy lôgic và lập luận chặt chẽ do đó có nhu cầu lớntrong việc sử dụng các từ quan hệ - Các quan hệ từ Đó là những h từngữ pháp biểu hiện quan hệ của các t tởng, quan hệ giữa các ý phục vụcho lập luận Chúng liên kết các bộ phận lớn hơn ( đoạn văn, nhiều

đoạn văn) của văn bản

Chẳng hạn: Thi sĩ Tây phơng thờng nhìn cảnh tợng của tạo vật bằngcon mắt của hoạ sĩ, họ chú trọng đến hình thức, màu sắc kì diệu, đếnnhững cảm tởng, rung động mà hai thể ấy gây nên Thi sĩ Đông Phơng,

đặc biệt là thi sĩ đời Đờng thì kín đoá và vì thế thâm thuý hơn Nhữnglời thơ của họ chẳng qua là tiếng thở dài không cầm hết và chỉ có thế[28 - Tr 315]

Đặc điểm cú pháp: Câu trong văn bản nghị luận nói chung và

văn bản phê bình văn học nói riêng rất phong phú về kiểu loại, đa dạng

về cấu tạo Việc sử dụng kiểu câu nào( Nghi vấn, trần thuật, cảmthán ) là do nhu cầu thông tin tác động chi phối Câu trong văn bảnphê bình thờng là câu đầy đủ thành phần Đặc điểm này có đợc là dokết quả của một quá trình t duy lôgic cộng với cảm hứng sáng tạo trongthởng thức tác phẩm văn học Hơn nữa, do phải lập luận để thuyết phụcngời đọc bằng lí lẽ nên câu trong văn bản phê bình văn học thờng là câudài, có nhiều vế, hoặc các vế của câu dài đợc ngắt ra thành nhiều câungắn liên tục Câu dài cũng có thể là câu ghép hoặc câu đơn mở rộngthành phần Các vế trong câu thờng có sự kết hợp nhịp nhàng về ngữ

âm, cú pháp, từ ngữ, tạo nên sự cân đối, hài hoà, mềm mại, uyểnchuyển trong diễn đạt Các ví dụ khi phê bình về câu : “Các nhà thơ Túi Lng Phongnguyệt nặng vì thơ” trong bài “Các nhà thơ Cảnh thu” của Hồ Xuân Hơng, đã có rấtnhiều ý kiến khác nhau của các tác giả: Ngô Tất Tố, Dơng Quảng Hàm,

ôn Nh Nguyễn Văn Ngọc thì Xuân Diệu đã đi đến nhận xét và kếtluận:

“Các nhà thơ Rõ khổ! Sao lại cứ phải đi tìm quàng cho đợc nguồn gốc ở văn

tự nớc ngoài! Chỉ vì ở nớc ngoài có chữ nh thế, mà mình nhất định bảo

là các tác giả trong nớc đã dịch, đã mô phỏng hay sao? Thế ngộ nh cáctrí lớn gặp nhau thì thế nào?” [9 - Tr 425]

Trang 14

Một đặc điểm qua trọng về cú pháp trong phê bình văn học làdùng các biện pháp tu từ cú pháp: Lặp, đảo, sóng đôi cú pháp Các biệnpháp này tạo nhịp điệu và làm tăng tính nhạc cho lời văn phê bình.

Ví dụ: “Các nhà thơ Tại sao họ phải chết khổ thế? Họ làm thế nào để sống

đây?” [11-Tr 207]

ở đây tác giả đã sử dụng cấu trúc nghi vấn sóng đôi cú pháp làm cholời văn có sự cân đối nhịp nhàng, uyển chuyển

Ngôn ngữ trong văn bản phê bình văn học có những đặc điểmriêng so với ngôn ngữ trong một số thể loại nghị luận khác Đó là kếtcấu văn bản phê bình có sự linh hoạt, đa dạng, từ ngữ phù hợp với nộidung và đối tợng phê bình, dùng từ ngữ giàu hình ảnh, giàu tính biểucảm, gợi đợc sự liên tởng, tởng tợng phong phú trong độc giả Các biệnpháp tu từ cú pháp đợc sử dụng nhiều nh: mở rộng, lặp, đảo, sóng đôi tạo nên sự cân đối nhịp nhàng cho lời văn phê bình Với những đặc

điểm trên, ngôn ngữ phê bình rất gần với ngôn ngữ thơ, chỉ có điềumang đặc điểm của văn xuôi nên nó không có sự hiệp vần nh thơ.Những đặc điểm trên là đặc điểm chung của văn bản phê bình văn học

ở mỗi loại văn bản phê bình: phê bình thơ, phê bình văn xuôi lại cónhững nét riêng biệt Hơn thế nữa, ở mỗi nhà phê bình lại có cá tínhsáng tạo, có quan niệm vf phơng pháp phê bình khác nhau Tạo nên sựphong phú trong phong cách của văn bản phê bình

II Xuân diệu và tác phẩm phê bình của xuân diệu

1 Tác gia Xuân Diệu:

Thuở nhỏ, Xuân Diệu học chữ nho, quốc ngữ và cả tiếng Phápvới cha; năm 1927 xuống học ở Quy Nhơn, đỗ “Các nhà thơ đip lôm” ( bằng Thànhchung) năm 1934 Thời kỳ này Xuân Diệu đã tập làm thơ theo các thểthơ truyền thống và rất mến phục Tản Đà

1935 - 1936 Xuân Diệu ra học “Các nhà thơ tú tài” Phần thứ nhất ở trờngTrung học bảo hộ Hà Nội; 1936 - 1937 học “Các nhà thơ tú tài” Phần thứ hai ở tr -ờng Trung học Khải Định-Huế, tại đây Xuân Diệu gặp Huy Cận, họcsau hai lớp Hai bạn thơ đã kết nghĩa với nhau, một tình bạn cho đếnngày nay( 1982) đã bền bỉ 45 năm

Ngày Nôen ( Lễ Thiên Chúa giáng sinh) 1983 “Các nhà thơ Thơ Thơ” ra đờivới tựa của Thế Lữ và trình bày mĩ thuật của Lơng Xuân Nhị

Trang 15

1938 - 1940 Xuân Diệu cùng với Huy Cận ở gác 40 Hàng Than.Xuân Diệu dạy học ở trờng t thục Thăng Long ( Giám đốc: HoàngMinh Giám) và Huy Cân học ở trờng cao đẳng Nông Lâm.

1939 Xuân Diệu tập hợp các truyện ngắn của mình đăng trên báoNgày Nay và cho xuất bản tập “Các nhà thơ Phấn Thông Vàng”

Đầu 1940, Xuân Diệu thi tham tá thơng chính và vào Nam Bộ nhậnviệc ở “Các nhà thơ Sở Đoan” Mỹ Tho ( Nay là tỉnh Tiền Giang) nhờ vậy XuânDiệu đợc sống ngót bốn năm ở đất Nam Kỳ và có vốn địa lý, vốn nhântình để sau này viết “Các nhà thơ Miền Nam nớc Việt” và “Các nhà thơ Ngời Việt miền Nam”cùng nhiều bài thơ đấu tranh thống nhất

1943 Huy Cận tốt nghiệp kỹ s canh nông, Xuân Diệu xin thôi tham tánhà Đoan về sống với Huy Cân tại Hà Nội, bằng số tiền lơng của HuyCận Đôi bạn Huy-Xuân đã có lúc (1939) bằng tiền dành dụm của mình

đứng ra xuất bản tập “Các nhà thơThơ Thơ”(in lần thứ hai) với tên “Các nhà thơNhà xuất bảnHuy-Xuân” Xuân Diệu cùng với Huy Cận tham gia mặt trận Việt Minhhồi bí mật

Năm 1945, Xuân Diệu cho ra đời tập thơ văn xuôi “Các nhà thơ Trờng ca” vàtập thơ “Các nhà thơ Gửi hơng cho gió” ( Nxb Thời Đại) Tháng 2-1945, ông làmcuộc diễn thuyết đầu tiên trong đời mình với bài “Các nhà thơ Sinh viên với quốcvăn” do tổng hội sinh viên Việt Nam tổ chức; bài này sau đó đợc xuấtbản với tên mở rộng “Các nhà thơ Thanh niên với quốc văn”

Cách mạng tháng 8-1945 bùng nổ, những đảng phái phản độngnấp sau quân chiếm đóng Tởng Giới Thạch, không công nhận lá cờ đỏSao vàng là quốc kỳ mà Trơng lên lá cờ ba gạch, cờ sao trắng củachúng để chia rẽ nhân dân, tổ chức những vụ bắt cóc cán bộ cách mạng,

mu đồ biểu tình chống chính phủ cách mạng lâm thời Xuân Diệu đãcho đăng những bài thơ: “Các nhà thơ Một cuộc biểu tình”, “Các nhà thơ tổng bất đình công”, “Các nhà thơVịnh cái cờ” Và đã cho xuất bản anh hùng ca “Các nhà thơ Ngọn quốc kỳ” cangợi lá cờ đỏ sao vàng, và để cổ động tổng tuyển cử đầu tiên 6-1-1946

đã cho xuất bản tráng khúc “Các nhà thơ Hội nghị non sông”, bản thân Xuân Diệucũng là đại biểu quốc hội khoá I ( Đại biểu tỉnh Hải Dơng) từ 1946 -1960

Tháng 5-1946, một Phái đoàn quốc hội Việt Nam do đồng chíPhạm Văn Đồng làm trởng đoàn sang Pháp, Xuân Diệu tham dự với tcách đại biểu các nhà báo Sau chuyến đi này Xuân Diệu đã đăng trênbáo “Các nhà thơ Cứu quốc” thiên phóng sự “Các nhà thơ Từ trờng bay đến trờng bay” và choxuất bản tập “Các nhà thơ Việt Nam nghìn dặm” Viết về đời sống và cuộc đấutranh của Việt Kiều, lính chiến và lính thợ tại Pháp từ 1940-1946

Kháng chiến toàn quốc, Xuân Diệu ở suốt 9 năm trong các chiếnkhu tại Việt Bắc, ông đã đi theo đài tiếng nói Việt Nam ( 1947) và phụtrách mỗi tuần nói một “Các nhà thơ Câu chuyện văn hoá” ở Đài; Các tuỳ bút này

về sau xuất bản thành tập “Các nhà thơ Việt Nam trở dạ”, ông là uỷ viên chấp hànhhội văn nghệ Việt Nam kháng chiến; ông đã đăng trên tạp chí Văn

Trang 16

Nghệ một loạt bài “Các nhà thơ Tiếng thơ”, giới thiệu và cổ vũ phong trào thơ củacông nông binh.

Năm 1949, Xuân Diệu đợc kết nạp vào Đảng do hai nhà vănNguyễn Đình Thi và Nguyên Huy Tởng giới thiệu Trong giảm tô vàcải cách ruộng đất, ông là đội viên các “Các nhà thơ đội phát động” ở Thanh Hoá

và Nghệ An, và đã cho xuất bản tập thơ “Các nhà thơ Mẹ con” về đề tài nông dân

và ruộng đất Cũng từ 1949 ông bắt đầu đi nói chuyện thơ trong quầnchúng; công chúng Cho đến nay (1982) ông đã trải qua 400 cuộc bìnhthơ Tháng 9, tháng 10-1981, ông đợc mời sang nói chuyện về thơ ViệtNam tại Pháp

Sau hội nghị Giơ ne vơ 1954, từ chiến khu trở về Hà Nội, XuânDiệu lại vào cuộc chiến đấu mới; một phần quan trọng trong các tập thơcủa ông là đề tài đấu tranh thống nhất chống Mĩ - Nguỵ, và các chuyên

đề này chiếm toàn bộ tập “Các nhà thơ Mũi Cà Mau” (1962) Khi nhóm Nhân văn Giai phẩm đi theo đờng lối chống Đảng, chống CNXH trong văn nghệ,Xuân Diệu đã viết một loạt bài tiểu luận ứng chiến in thành tập “Các nhà thơNhững bớc đờng t tởng của tôi” (1958)

-Năm 1958, ông là diễn giả trong lễ kỷ niệm 138 năm ngày mấtcủa Nguyễn Du và đây cũng là thời điểm của một loạt công trìnhnghiên cứu của Xuân Diệu và các nhà thơ lớn, truyền thống của dântộc

Xuân Diệu viết khoảng 450 bài thơ tình, 30 bài đã đợc in trong tập

“Các nhà thơ Cầm tay” (1962) một số in xen kẽ trong các tập thơ khác và một sốcòn cha đợc in

Cùng với 15 tập thơ, ông còn là một nhà văn với tập truyện ngắn

“Các nhà thơ Phấn thông vàng”, tập thơ văn xuôi “Các nhà thơ Trờng ca”, những tuỳ bút,những bút ký viết dọc theo năm tháng của đời sống đất nớc và nhân dân

đồng thời là một nhà viết nhiều tiểu luận và phê bình văn học và đặcbiệt là về các nhà thơ cổ điển lớn Việt Nam

Xuân Diệu đã nhiều lần thăm Liên Xô, ông đã dịch trờng caVladimia Ilich Lê Nin của Maia Kôpxki, thơ Puskin, Êxênhin

Xuân Diệu đã dự hội nghị trù bị các nhà văn á Châu ở Niuđêli( 1958) và thăm ấn Độ 2 tháng, giới thiệu và dịch thơ RabinđranatTago (1961) Năm 1980 ông tự phát biểu trong hội nghị các nhà vănThế giới, bảo vệ hoà bình lần II ở Xôphia Năm 1981, Xuân Diệu sangPháp, nói chuyện thơ Việt Nam tại các trờng đại học ở Paris

Ông đợc bầu làm viện sĩ thông tấn viện hàn lâm nghệ thuật cộnghoà dân chủ Đức năm 1983 Cũng trong năm này, tuyển tập Xuân Diệu( Tập I) đợc xuất bản

Năm 1985 ông đợc nhà nớc tặng thởng Huân chơng độc lập hạngnhất Xuất bản Tuyển tập Xuân Diệu ( Tập II)

Ngày 18-2-1985, Xuân Diệu từ trần tại Hà Nội

1.2 Xuân Diệu - một tài năng đa dạng:

Trang 17

Con đờng sáng tạo của Xuân Diệu phát triển trên suốt nửa thế kỷ.

Ông là một tác giả lớn trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại với mộtphong cách riêng đặc sắc

Trớc và sau 1945, Xuân Diệu đều có những đóng góp lớn đối vớinền văn học nớc nhà Ông là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơmới Sau 1945, ông cũng thuộc số ít ngời ở hàng đầu của nền thơ cacách mạng Xuân Diệu đã để lại một khối lợng tác phẩm đồ sộ, có giátrị lâu dài về nhiều thể loại: Thơ, văn xuôi, nghiên cứu phê bình, dịchthuật Với nhà thơ tài năng này ở thể loại nào ông cũng đạt đợc nhữngthành tựu, in đậm dấu ấn riêng Trong sáng tác của Xuân Diệu, các thểloại hoà quện vào nhau, khó tách bạch; trong văn xuôi giàu chất thơ,trong thơ giàu chất sinh động của hiện thực đời sống, trong nghiên cứuphê bình tinh tế, tài hoa mà không kém phân sắc sảo ở một ngời cầmbút nh Xuân Diệu tính cả về số lợng và chất lợng thì ở mỗi thể loại đềucần thiết phải có những chuyên luận, nghiên cứu một cách công phu và

đầy đủ

Sinh thời, Xuân Diệu đã có nhiều bài phê bình, tiểu luận, nghiêncứu về các sáng tác của ông Số lợng bài viết về thơ Xuân Diệu kháphong phú Điều đó nói lên rằng giới nghiên cứu phê bình văn học nớc

ta ngày càng nhận thấy giá trị lớn lao của Xuân Diệu trong lịch sử vănhọc Việt Nam hiện đại Bài viết về Xuân Diệu trong “Các nhà thơ Thi nhân ViệtNam” của Hoài Thanh đã khái quát, đề cao đúng vị trí của Xuân Diệu:

“Các nhà thơ Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới”

Là một tác giả đa tài, sự nghiệp sáng tác văn học của Xuân Diệukhá đồ sộ Bên cạnh những mảng thơ mà Xuân Diệu đã giành phần lớnbút lực của đời mình, ông còn có một mảng sáng tác khá quan trọngnữa là văn xuôi Nhng nói nh nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh: “Các nhà thơ Tôikhông muốn tách biệt văn Xuân Diệu với thơ Xuân Diệu Văn hay thơthì vẫn là hình ảnh phập phồng nóng hổi của một trái tim đắm say sựsống, mùa xuân tuổi trẻ và tình yêu”

Không chỉ đến với thơ, Xuân Diệu đã đến với văn xuôi từ rấtsớm Năm 1939, tập hợp các truyện ngắn đăng trên báo “Các nhà thơ Ngày nay”,Xuân Diệu cho xuất bản tập “Các nhà thơ Phấn thông vàng” Đến năm 1945 cùngvới tập thơ “Các nhà thơ Gửi hơng cho gió” Xuân Diệu cho ra đời tập văn xuôi “Các nhà thơTrờng ca”

Sáng tác văn xuôi là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệpsáng tạo của Xuân Diệu Sau cách mạng, ông không viết chuyện ngăn

mà chỉ tập trung ngòi bút vào tiểu luận và bút kí Bằng vốn hiểu biếtphong phú và sự tinh tế nhạy cảm của một nhà thơ, bằng lối viết luôntràn đầy nhiệt tình, tràn đầy cảm xúc, các sáng tác của Xuân Diệu cómột tiếng nói riêng đáng chú ý Khối lợng lớn những sáng tác văn xuôicủa Xuân Diệu đã phần nào nói lên tâm sức của ông giành cho bút kí vàtiểu luận phê bình: “Các nhà thơ Tiếng thơ” (1951), “Các nhà thơ Triều lên” (1958), “Các nhà thơ Những

Trang 18

bớc đờng t tởng của tôi” (1958), “Các nhà thơ Ba thi hào dân tộc” (1958) “Các nhà thơ Màisắt nên kim” (1977), “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điền Việt Nam” ( 1981, 1982)

Xuân Diệu là một tài năng có vốn văn hoá sâu rộng, có sự thẩmbình rất tinh tế Ông là ngời rất quan tâm đến lao động câu chữ, là ngờikhẳng định mối quan hệ hàng đầu giữa thơ và cuộc sống Giới sáng tác,phê bình và công chúng yêu thơ vẫn luôn luôn trông đợi ngời thẩm bìnhthơ ca có “Các nhà thơ Đôi mắt xanh” nh Xuân Diệu

Đối với công việc tìm hiểu gia tài văn học của ông cha, XuânDiệu là ngời có công rất lớn Bộ sách “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”

là một công trình nghiên cứu chững chạc và bề thế Tác giả đã mangvào đó tất cả tâm huyết và tình yêu đối với văn học cổ điển Nhiều nhàthơ lớn của dân tộc: Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến,Cao Bá Quát đã đợc Xuân Diệu nghiên cứu, phân tích bình giải Khiviết về một tác giả, Xuân Diệu thờng bỏ nhiều công sức đọc đi đọc lạinhiều lần, tìm hiểu chu đáo những t liệu liên quan đến đối tợng nghiêncứu Viết về bất cứ tác giả nào Xuân Diệu cũng cố gắng nắm bắt và chỉ

ra đợc cái “Các nhà thơthần”, cái cốt cách riêng của ngời đó

Suốt đời mình, Xuân Diệu luôn luôn là một ngời say mê lao độngnghệ thuật và không ngừng suy nghĩ sáng tạo Tất nhiên không phảisáng tác của ông lúc nào cũng hoàn chỉnh, không tránh khỏi có nhữnglúc còn “Các nhà thơ sơ lợc, đễ dãi” Nhng với tất cả những gì làm đợc, phần đónggóp của ông cho văn học thật to lớn Xuân Diệu xứng đáng là một câybút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại ở nơi “Các nhà thơyên tĩnh đời

đời” Xuân Diệu có quyền tự hào về những điều ông đã làm đợc cho quêhơng đất nớc, cho nhân dân mà ông suốt đời gắn bó

2 Tác phẩm phê bình của Xuân Diệu:

Là một tác gia lớn trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại vớimột phong cách riêng đặc sắc và đạt đợc thành công ở nhiều thể loại:Thơ, văn xuôi, nghiên cứu phê bình, dịch thuật Nhng ở đây, trongphạm vi đề tài này chúng tôi chỉ giới thiệu những tác phẩm tiểu luậnphê bình của Xuân Diệu:

Thanh niên với quốc văn( 1945); Tiếng thơ( 1951, 1945); Nhữngbớc đờng t tởng của tôi ( 1958); Ba thi hào dân tộc ( 1959); Phê bìnhgiới thiệu thơ (1960); Hồ Xuân Hơng bà chúa thơ Nôm (1961); Dao cómài mới sắc (1963); Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966); Đi trên đờnglớn (1968); Thơ Trần Tế Xơng (1970); Đọc thơ Nguyễn Khuyến (1971)

và Cây đời mãi xanh tơi (1971); Mài sắt nên kim (1977); Lợng thôngtin và những kĩ s tâm hồn ấy (1978); Tìm hiểu Tản Đà (1982); Các nhàthơ cổ điển Việt Nam (1981, 1982)

3 Về tập phê bình Các nhà thơ cổ điển Việt Nam :“Các nhà thơ ”

Trong kho tàng văn học nớc nào cũng vậy, có một bộ phận đợcgọi là cổ điển Đó là những tác phẩm, tác giả chịu đợc mọi thử tháchcủa thời gian “Các nhà thơMãi mãi, đó là những giá trị đợc bạn đọc yêu thích; dù

Trang 19

đã đọc đi đọc lại hàng trăm lần rồi, ngời ta vẫn muốn có một bản trongnhà, thỉnh thoảng dở ra xem lại Tác phẩm nh có mặt ở bên chúng ta,cùng chúng ta sống qua mọi buồn vui của cuộc đời Càng từng trải,càng có kinh nghiệm đời hơn, chúng ta càng thấu hiểu và tâm đắc vớinhững điều từng đợc viết ra hết sức sâu sắc đó” (Vơng Trí Nhàn - XuânDiệu Tác giả - Tác phẩm [4-Tr 283]).

“Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” là công trình nghiên cứu côngphu: Khi lấy việc bình giải, cắt nghĩa thêm về thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Trần Tế Xơng,Nguyễn Đình Chiểu, Đào Tấn, Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu, á NamTrần Tuấn Khải Xuân Diệu đã nhận lấy một công việc dũng cảm: Nói

về những cái tởng nh ai cũng biết rồi, ai cũng đã nhiều lần nghe tới Nóisao để có những phat hiện mới, cái đó thật khó

Có điều, đó cũng là một công việc chạm đến tình yêu văn họccủa mọi ngời, việc làm tốt, ắt những trang nghiên cứu sẽ lan truyềnrộng, xa Phê bình nghiên cứu cũng có sức mạnh nh sáng tác vậy

Và đó chính là u điểm nổi bật mà chúng ta đang nói về “Các nhà thơ Các nhàthơ cổ điển Việt Nam” của Xuân Diệu Đợc in thành hai tập I, II vàonăm 1981, 1982 và đợc tái bản - có bổ sung vào năm 1998 do NguyễnBao su tầm và biên soạn Thuộc vào tập VI trong “Các nhà thơ Xuân Diệu toàn tập”( Nxb Văn học; 1998)

Những bài viết tập hợp ở đay thu góp công trình tác gả theo đuổi

“Các nhà thơ Công trình kể biết mấy mơi” - đó là những công trình nghiên cứuchững chạc, kỹ lỡng Viết về bất cứ tác phẩm nào, nhà nghiên cứu XuânDiệu cũng đối mặt với từng dòng từng chữ, đọc đi đọc lại nhiều lần; saukhi tìm kiếm khá đầy đủ những t liệu liên quan trực tiếp, lại đọc kỹnhững ý kiến trớc mình đã viết về tác phẩm tác giả nào đó, để thẩm

định, kê cứu Đọc sử Đọc các hợp tuyển văn học Khi cần, nghe thêmcác chuyện “Các nhà thơ ngoài rìa” viết về Tú Xơng, Xuân Diệu không quên viết

về Nam Định hồi đầu thế kỷ Viết về Nguyễn Khuyến, dừng lại ở từng

điển cố đứng đằng sau hai câu thơ chữ Hán, để bàn về sự sâu sắc của cụTam Nguyên khi sử dụng điển cố này v.v Tác phẩm càng lớn nh “Các nhà thơKiều”, thơ Hồ Xuân Hơng thì sự tìm kiếm, kê cứu càng nhiều Nhờ thếcuối cùng, bao giờ Xuân Diệu cũng có đợc cái tự tin, ung dung “Các nhà thơ Vâng,các vị bàn thế nào, tôi đã đọc cả; giờ tôi xin bàn thêm”

Sự tin cậy của công chúng cũng nh trong giới phê bình đối vớicác bài viết của Xuân Diệu là bằng chứng cho việc nghiên cứu có chấtlợng và đạt năng xuất cao Các bài viết vừa chắc chắn trên phơng diệnvăn học sử, vừa vững vàng trong thẩm định

“Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” là cuốn sách phổ cập: Trớc khitrực tiếp viết về các giá trị văn học cổ điển, Xuân Diệu từng là tác giảcủa tuỳ bút, tiểu luận bộc bạch những cảm nghĩ của một ngời làm thơtrong chế độ mới: Những bớc đờng t tởng của tôi, Phê bình giới thiệu

Trang 20

thơ, Dao có mài mới sắc, v.v Trong những áng văn xuôi đó, nhiều lầnnhà thơ muốn kêu lên nỗi sung sớng là đợc sống trong thời đại này, cómột công chúng rất tri âm tri kỷ là đại chúng nhân dân, khiến mìnhphải cố gắng rất nhiều mới khỏi phụ lòng những bạn đọc thân quý.

Với “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” lại một lần nữa ý hớngphục vụ đại chúng của Xuân Diệu bộc lộ rõ Trong văn phê bình nghiêncứu, Xuân Diệu luôn hiện ra nh một diễn giả kỹ lỡng, tỉ mỉ Ông khôngyêu cầu gì ở ngời nghe ngoài một điều lắng nghe ông

Nhng sở dĩ ngời ta thích văn nghiên cứ của Xuân Diệu nói chung

và “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ điển” nói riêng, là do tác giả đã mang vào đây tấtcả tâm huyết của một ngời sống chết với văn học, yêu vô cùng tiếng mẹ

đẻ, yêu sự nghiệp của cha ông

Trên mọi trang sách đối tợng đợc bàn cụ thể là các nhà thơ cổ

điển Việt Nam Nhng đằng sau đó, Xuân Diệu còn chạm đến những vấn

đề lớn hơn: Thế nào là sáng tạo? Về phơng diện này “Các nhà thơ Các nhà thơ cổ

điển Việt Nam” của Xuân Diệu có thể rất có ích với những ai muốnhiểu và cảm thấy còn phải đọc nhiều mới hiểu đợc thế nào là dở, thếnào là văn học

4 Tiểu kết:

Văn bản phê bình văn học là một thể loại trong kiểu văn bảnnghị luận thuộc phong cách chính luận Những đặc điểm về thể loại vănbản cùng với quan niệm và phơng pháp phê bình văn học đã tác độnghoặc trực tiếp hoặc gián tiếp lên đặc điểm ngôn ngữ và thể loại văn bảnnày Ngôn ngữ trong "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" cũng không nằmngoài sự tác động ấy Là tuyển tập có vai trò quan trọng trong nghiêncứu và phê bình văn học, "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" đã thực sự lôicuốn độc giả bằng lời văn " Tự hào mà sảng khoái" (Hữu Thỉnh), "Vừatỉnh táo vừa đam mê" ( Phạm Tiến Duật) Cùng đó là bằng những kếtcấu đầy ấn tợng

Lời văn là kết cấu văn bản trở thành những đặc điểm nổi bật củatuyển tập phê bình có một không hai này

ch ơng II:

Đặc điểm ngôn ngữ phê bình trong

" các nhà thơ cổ điển việt nam" của Xuân diệu

I Đặc điểm từ ngữ trong lời văn phê bình của Xuân Diệu

1 Khái niệm lời văn và lời văn phê bình:

Lời văn - Là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực văn học Trong vănhọc, mọi tác phẩm đều đợc viết hoặc đợc kể bằng lời văn, lời thơ, lời

Trang 21

tác giả, lời nhân vật gộp chung lại là lời văn Nếu ngôn từ là chất liệucủa lời nói, viết với tất cả tính chất thẩm mỹ của nó, là chất liệu củasáng tác văn học, thì lời văn là hình thức ngôn ngữ của tác phẩm vănhọc.

" Từ điển thuật ngữ văn học"của nhóm biên soạn Lê Bá Hán,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: "Lời văn nghệ thuật: Dạngngôn ngữ đợc tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ củavăn bản nghệ thuật là hình thức ngôn từ của tác phẩm văn học" [13 -

Tr 117]

Lời văn mà lý luận văn học nghiên cứu là lời văn nghệ thuật tức

là lời văn trong tác phẩm văn học Theo quan niệm trên thì lời vănchính là hình thức ngôn từ của tác phẩm văn học Một kiến giải đầythuyết phục và hiệu lực là quan niệm về lời văn nghệ thuật của nhà lýluận văn học M Bakhtin trong cuốn "Những vấn đề thi pháp Đôxtôiépxki" (Ngời dịch: Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vơng Trí Nhàn ): "Lời văn tức là ngôn ngữ trong tính toàn vẹn cụ thể và sinh động của nó"[4 - Tr 89]

Cuốn " Từ điển tiếng việt " Hoàng Phê chủ biên lại hiểu: "Lờivăn: Hình thức diễn đạt bằng ngôn ngữ đợc viết thành văn" [29

- Tr 582]

Theo cách hiểu trên thì phạm vi tồn tại của lời văn rộng hơn, nókhông còn chỉ là lời văn trong tác phẩm văn học mà là lời văn trong tấtcả các văn bản thuộc các lĩnh vực khác, tất cả những dạng lời nói đợc

cụ thể hoá, ký hiệu bằng văn bản

Nh vậy, dù là cách hiểu nào, các nhà nghiên cứu đều dịch nghĩalời văn xuất phát từ cơ sở ngôn từ của văn bản Đó là cách diễn đạt hay

là cách tổ chức sử dụng, sắp xếp các phơng tiện và biện pháp biểu đạtcủa từ ngữ nhằm thực hiện hoá t tởng tình cảm của ngời viết trong vănbản

Có hai dạng lời văn: lời văn nghệ thuật và lời văn phi nghệ thuật.Lời văn nghệ thuật là lời văn trong tác phẩm văn học hay có sáng tácvăn chơng Lời văn phi nghệ thuật là lời văn thuộc các phong cách vănbản khác: Văn bản khoa học, văn bản nghị luận lời văn trong văn bảnphê bình văn học thuộc loại thứ hai Tuy nhiên nói là phi nghệ thuật nh-

ng lời văn trong các văn bản này không phải hoàn toàn không mangtính nghệ thuật, tính nghệ thuật biểu hiện trong mỗi loại văn bản đều có

sự lựa chọn sử dụng và xắp xếp từ ngữ tạo nên cá tính cả từng văn bản ởtừng ngời viết

Lời văn trong "Các nhà thơ cổ điển" nh Vơng Trí Nhàn đã đánhgiá, nhận xét: "Không tuân thủ một quy luật trong giao tiếp một quyluật mà chắc tác giả biết rất rõ: Cần gợi nhiều hơn nói, cần ngắn gọnhàm súc" (Xuân Diệu tg - tp ; [25 - Tr 285] ) tuy nhiên tác giả lại nhận

định " Đó là một lối viết muốn đào cùng tát cạn mọi hiện tợng, phanh

Trang 22

phui bằng hết mọi bí mật trong sáng tác văn học Trong không ít trờnghợp, ngời đọc cảm thấy ngời nghiên cứu ở đây là một ngời lắm lời, và

có phần tán ra quá rộng Tuy nhiên, đây đã là cố tật của anh Mợnmột cách nói mà ngời ta vẫn nói về những ngời có cá tính mạnh mẽ: "Không thế thì không phải là Xuân Diệu" [Tr 285]

Đọc " Các nhà thơ cổ điển Việt Nam " ta nhận thấy Xuân Diệu

đã tận dụng hết mọi tầng ý nghĩa, mọi khả năng sử dụng vủa lời văn ởphơng diện khác nhau nh: Từ ngữ, ngữ pháp, kết cấu văn bản dù ởphơng diện nào Xuân Diệu cũng xoay nó, nhìn nỏ các góc độ để tìm ra

vẻ đẹp riêng

2 Từ ngữ trong lời văn phê bình của Xuân Diệu

Một trong những điểm nổi bật nhất, đặc sắc nhất trong " Các nhàthơ cổ điển Việt Nam" là lựa chọn và kết hợp từ ngữ một cách nhuầnnhuyễn và uyển chuyển Trong ngữ pháp học, từ ngữ là đơn vị ngữ phápcơ bản đầu tiên để tạo các đơn vị lớn hơn ( câu, đoạn văn, văn bản)song đó lại là một trong những đơn vị cơ bản của từ vựng - ngữ nghĩa.Việc sử dụng từ ngữ trong văn bản chịu sự qui định của thể loại văn bản

đồng thời chịu sự chi phối và là biểu hiện rõ nhất cá tính của ngời tạovăn bản

Qua những từ ngữ, ngời ta có thể xác định đợc phong cách vănbản, thể loại văn bản cũng nh có thể nhận ra đợc ngời đã tạo ra nó Từngữ chính là biểu hiện của giọng điệu và phong cách nhà văn

Trong các "nhà thơ cổ điển Việt Nam " đặc sắc của từ ngữ đợcthể hiện ở những điểm sau:

2.1 Sử dụng từ cùng trờng nghĩa, cùng chủ đề:

Hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa đợc tạo thành bởi sự tập hợp vô sốcác hệ thống con của từ, xét ở mặt ngữ nghĩa " Nói cách khác, tính hệthống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữnghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thểhiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng Mỗitiểu hệ thống ngữ nghĩa đuợc gọi là một trờng nghĩa Đó là những tậphợp đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa " ( Từ vựng ngữ nghĩa tiếng việt -

Đỗ Hữu Châu; [7- Tr 171] )

Trờng nghĩa có nhiều loại tuỳ theo quan hệ các từ Theo quan hệtuyến tính ta có trờng nghĩa ngang và theo quan hệ trực tuyến ta có tr-ờng nghĩa dọc Trong trờng nghĩa dọc có trờng nghĩa biểu vật và biểuniệm trờng nghĩa tuyến tính thuộc trờng nghĩa ngang và trờng nghĩaliên tởng là tập hợp những ý nghĩa xung quanh nghĩa gốc ở đây, chúng

ta chỉ xem xét trờng nghĩa dọc (trờng nghĩa biểu vật và trờng nghĩabiểu niệm) và trờng nghĩa liên tởng

Văn bản phê bình văn học là một thể loại trong văn bản nghịluận văn học Đặc điểm của kiểu văn bản này cho phép nhà phê bình sửdụng các trờng nghĩa và phát huy một cách tối đa những hiệu lực của

Trang 23

nó trong việc thể hiện nội dung, t tởng cũng nh trong viêc phân tích,bình luận và đánh giá tác giả ,tác phẩm văn học.

Ví dụ : Khi viết về "Bản cáo trạng cuối cùng trong truyện Kiều"Xuân Diệu viết:

" Thắc mắc với ai? với toàn bộ xã hội phong kiến suy tàn tàn ác khôngphải thắc mắc đâu mà căm giận nó ; mỗi lần đọc những lời Kiều nói, ba

đợt, trong cuộc đoàn viên, ta lại xót xa tức tối không chịu nổi Trongdịp kỉ niệm 200 năm nhà thơ Nguyễn Du thiên tài văn học của dân tộc,

ta hãy đem cái bản cáo trạng cuối cùng ở trong truyện Kiều ấy mà đổlên đầu tất cả những xã hội bóc lột áp bức, và tuyên bố : Chúng ta là kẻ

tử thù của những xã hội ấy" [10- Tr 230]

Trong đoạn bình trên Xuân Diệu đã sử dụng những trờng nghĩasau:

- Nói về xã hội phong kiến : suy tàn, tàn ác, bóc lột, áp bức

- Nói về thái độ: thắc mắc (2lần),căm giận, xót xa,tức tối, không chịunổi, tuyên bố

Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng điệp từ " xã hội "(3 lần) nhằm

tỏ rõ thái độ căm phẫn của mình khi suy ngẫm về "xã hội ấy"trongtruỵên Kiều, một xã hội mà Xuân Diệu muốn đem bản cáo trạng ấy mà

"đổ lên đầu" và tuyên bố " chúng ta là kẻ tử thù của xã hội ấy"

Sự tái hiện thế giới nghệ thuật thơ bằng những trờng nghĩa phùhợp vói ngôn ngữ thi nhân trở thành một đặc điểm nổi bật của các nhàphê bình tình cảm nh: Hoài Thanh , Hoài Chân , Lu Trọng L, Tản

Đà ,Thế Lữ, Xuân Diệu

Chẳng hạn , Thế Lữ viết " Tựa tập thơ thơ " của Xuân Diệu có

đoạn: " Thơ Xuân Diệu do đấy mà buồn tịch mịch ngay trong những

điều ấm nóng, reo vui Lạnh lùng ám khắp mọi nơi ,"xa vắng gồm tựmuôn đời ", ở đâu cũng thấy sự nhớ nhung , thơng tiếc Lòng thi sĩ ấy

rõ điều trái ngợc: nồng nàn vì thê lơng ,khăng khít nhng vẫn hững hờ,bao nhiêu những cảnh éo le của cảnh đời mà Xuân Diệu yêu tới đaukhổ Thơ Xuân Diệu là hơi thở thầm kín dấu diếm, trong đó ẩn sựhuyền bí ghê rợn của một đêm trăng, sự não nùng bao la của một buổichiều, và tất cả tâm hồn khó hiểu của một con ngời, của cảnh " [40 -

Tr 548]

Trong đoạn văn trên, nhà phê bình đã sử dụng trờng nghĩa biểuniệm thuộc phạm trù thể hiện tính chất trạng thái tâm lý (tích cực -tiêucực) của các hành động sự kiện :

Tích cực: ấm nóng, reo vui, nhớ nhung, nồng nàn, khăng khít Tiêu cực: Buồn tịch mịch, lạnh lùng, xa vắng, thê lơng, hững hờ,

éo le, đau khổ, não nùng ghê rợn

Với trờng nghĩa trên, Thế Lữ đã lột tả đợc cái mâu thuẫn trongtâm trạng, tâm hồn thi nhân, những điều trái ngợc mà nhà phê bình

Trang 24

nhận thấy trong thơ của thi sĩ Những tính từ cùng trờng nghĩa đã giúpnhà phê bình diễn đạt chính xác nội dung ấy

Hệ thống từ vựng ngữ nghĩa tiếng việt có vô số các tiểu hệ thốnghay các trờng nghĩa con Sự phong phú đó bắt buộc trong quá trình tạovăn bản, ngời viết (mà ở đây là nhà phê bình) phải lựa chon những từngữ trong những trờng nghĩa nhất định để thể hiện nội dung t tởng, thểhiện chủ đề của văn bản Hơn nữa các nhà thơ cổ điển là sự tập hợp của

9 nhà thơ với nhiều phong cách khác nhau Mỗi nhà thơ đều có mộtphong cách riêng, một đặc điểm riêng đợc bộc lộ qua t tởng và tìnhcảm, qua nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm Do đó, trongmỗi văn bản, nhà phê bình phải có một sự sáng tạo trong lựa chọn và sửdụng từ ngữ, sử dụng các trờng nghĩa sao cho nội dung văn bản vừa phùhợp với phong cách thi nhân, lại vừa bộc lộ đợc cảm súc của mình đốivới các thi hào dân tộc Từ cùng trờng nghĩa, cùng chủ đề trong " Cácnhà thơ cổ điển Việt Nam " thuộc vào hai nhóm sau:

Nhóm I: Gồm những tính từ, động từ biểu hiện tâm trạng, trạng

thái tình cảm, cảm xúc, tính chất của các hành động tâm lý

Nhóm II: Những từ có nội dung, hình ảnh, phù hợp với chủ đề

trong văn bản thơ cổ điển

Nhóm I: Mặc dù văn bản trong " Các nhà thơ cổ điển Việt Nam "

là những văn bản nghị luận văn học - Văn bản phê bình văn học nhngngời đọc rất ít khi gặp những thuật ngữ hay những khái niệm khoa học

có tính lý luận Trong khi đó những từ ngữ có tính chất miêu tả trạngthái, tâm lý, tình cảm lại đợc sử dụng nhiều

Ví dụ: Cùng viết về bản cáo trạng trong truyện Kiều, Hoài Thanhtrong bài viết về "Quyền sống của con ngời trong truyện Kiều củaNguyễn Du "( Nguyễn Du tác gia - Tác phẩm [Tr 454 - 457] đã sửdụng những từ ngữ miêu tả tính chất, trạng thái, hành động tâm lý, tìnhcảm là 16 lần/ 1040 từ bằng 1,5 % Trong khi đó ở văn bản "Bản cáotrạng cuối cùng trong truyện Kiều " những từ ngữ này chiếm 26 lần /

900 từ bằng 2,9 % Cụ thể là những từ: Yêu thơng, tin tởng, sâu sắc, ợng gạo, bi quan, chiếu lệ, coi thờng, phản đối, khinh bỉ thờng xuyênxuất hiện Mặt khác những từ kiểu nh: T tởng nghệ thuật, thi văn t tởng,văn chơng t tởng lại đợc tác giả Xuân Diệu sử dụng rất ít, thậm trítrong một số văn bản không xuất hiện lần nào

g-Trờng nghĩa đợc sử dụng nhiều nhất trong "Các nhà thơ cổ điểnViệt Nam " là trờng nghĩa chỉ trạng thái, tâm lý, tình cảm mà chủ yếu

là trạng thái "Thái độ" Hàng loạt những từ ngữ loại này đợc dùng trongmột đoạn văn, một văn bản để biểu lộ những cảm nhận của nhà phêbình về phong cách các nhà thơ cổ Về tình về ý trờng nghĩa thể hiện

nh sau :

- Về trạng thái tâm lý tình cảm gồm những từ: Buồn, tiếc, bất ổn, khâmphục, thoả mãn, đau đớn, hả hê, tán thành, đồng ý

Trang 25

- Về hoạt động tâm lý hớng tới một đối tợng khác: Yêu, nhớ, cảm

th-ơng, luyến tiếc

Thực chất những từ ngữ trong các trờng nghĩa này có tính chấttrung hoà trong văn bản làm cho câu văn, đoạn văn giầu hình ảnh, sống

động, uyển chuyển, mợt mà

Ví dụ: "Trái tim Nguyễn Du không bằng lòng chỉ có chừng ấy

mà mỗi ý run bần bật lên, trong mỗi lời là có mời lăm năm đau khổ,trong cả chơng Kim Kiều tái hợp, trong lời, ngoài lời đâu đâu cũng cócái khối đau đớn mời lăm năm" [19 - Tr 218]

Trong câu trên những từ ngữ thuộc trờng nghĩa thể hiện thái độ

mà Xuân Diệu sử dụng đó là: Không bằng lòng, run bần bật, đau khổ,

Hiểu đợc đặc điểm hồn thơ của mỗi thi nhân, nhà phê bình lựachọn những từ ngữ cho phù hợp với đặc điểm ấy để diễn đạt, miêu tả vàbình giá…

- Viết về " Chí khí và tâm huyết "của thơ Cao Bá Quát, Xuân Diệu dùngtập hợp những từ ngữ: Cao ngạo, thanh quí, sâu sắc, tình nghĩa, trìumến, yêu mến, ngang tàng

Nhóm II: Bên cạnh việc sử dụng từ ngữ cùng trờng nghĩa để bộc

lộ những cảm nhận hồn thơ, nhà phê bình còn sử dụng những từ có nộidung, hình ảnh, phù hợp với chủ đề trong văn bản thơ của các nhà thơ

cổ điển

Để viết về Nguyễn Khuyến là " Nhà thơ của dân tình " Nguyễn

Du đã sử dụng những từ ngữ tái hiện lại những hình ảnh quen thuộc vớingời dân Việt Nam đã từng xuất hiện trong thơ Nguyễn Khuyến nh:Khoảng vờn, đồng ruộng, trung nông, chân quê, làm lụng, đồng áng,thóc lúa, chuột, muỗi Đây chính là hình ảnh quen thuộc, thờngxuyên xuất hiện trong thơ Nguyễn Khuyến khi nhà thơ viết về nhữngngời nông dân nghèo khổ ở quê hơng mình, trong các bài thơ nh: "Nhànông tự thuật", “Các nhà thơá tế á ca", " Qụa thất tịch"

Khi Xuân Diệu gọi Tú Xơng là " Nhà thơ lớn Tú Xơng" [19 - Tr508] và "Xem coi tâm hồn Tú Xơng nh thế nào" thì Xuân Diệu đã sửdụng những từ ngữ sau: Sâu sắc, u thời mẫn thế, u uất, hoa sen trong

Trang 26

tâm hồn, trằn trọc, trăn trở, băn khoăn, thức không ra tỉnh, ngủ chẳng ra

Từ những từ ngữ đặc tả tâm hồn mang nhiều tâm sự của nhà thơ

Tú Xơng, Xuân Diệu nh trở thành ngời bạn đồng điệu tri âm tri kỷ, mới

có thể hiểu sâu sắc về Tú Xơng đến vậy: " Tú Xơng ấp ủ mãi vết thơngmất nớc trong tâm hồn Chửi cái nhố nhăng của cuộc đời t sản hoá dới

ách thực dân đế quốc, than sự suy đồi, là muốn bảo vệ tinh thần dântộc" [26 - Tr 574]

Để nói về Cao Bá Quát là ngời có tâm hồn thanh quí thì đợcXuân Diệu sử dụng đó là: Tâm hồn, tâm huyết, chí khí huyết lệ, khí tiếttrìu mến, đằm thắm Những từ ngữ này chủ yếu là những từ Hán Việt

đợc Xuân Diệu sử dụng một cách trân trọng, phù hợp với chủ đề củavăn bản viết về thơ Cao Bá Quát, thể hiện tình cảm, cảm nhận của XuânDiệu về hồn thơ Cao Bá Quát

Chính nhờ tập hợp đợc nhiều từ cùng trờng nghĩa, cùng chủ đề

nh trên, nên câu văn trong " Các nhà thơ cổ điển Việt Nam " có một sứcnén lớn Nó làm nên những câu văn hàm chứa nội dung bình giá rất đặcsắc về các nhà thơ, mang đậm chất Xuân Diệu: Tinh tế trong cảm nhận,

tỉ mỉ trong bình giá và khách quan trong nhận xét, nhận định

Giá trị của việc sử dụng biện pháp tu từ tập trung từ ngữ trongmột trờng từ vựng - ngữ nghĩa một chủ đề, là ở chỗ nó tạo ra và phát

động đợc một trờng liên tởng rộng lớn với ngời đọc, đó là trờng liên ởng về những hình ảnh đợc xuất hiện trong văn học trung đại qua cácnhà thơ lớn của giai đoạn này nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ XuânHơng Bởi nhờ có trờng liên tởng này mà hình ảnh về dân tình trongthơ Nguyễn Khuyến đợc hiện lên rõ nét, hay tâm hồn thanh quí củaCao Bá Quát đợc thể hiện và chúng ta nh hiểu thêm hơn về những conngời sống cách ta hàng mấy thế kỷ

t-2.2 Sử dụng lớp từ ngữ đặc trng cho phong cách khẩu ngữ:

Mỗi phong cách văn bản có một từ ngữ đặc trng ngoài lớp từ ngữthông thờng " Các nhà thơ cổ điển Việt Nam " lớp từ ngữ đặc trng chovăn nói xuất hiện khá nhiều đó là việc sử dụng các thán từ khẩu ngữvào trong các bài phê bình của Xuân Diệu Cụ thể là:

2.2.1 Các thán từ đợc dùng với tần xuất cao:

Thán từ thờng đợc dùng để bộc lộ trực tiếp cảm súc của tác giảvới đối tợng, nhng đồng thời có tác dụng hớng cảm xúc của độc giả,gây sự chú ý, buộc họ cùng sẻ chia cảm thông với ngời phê bình Ta cóthể gặp ở hầu hết các bài viết

Xuân Diệu thờng sử dụng hán từ nh một công cụ bổ trợ lực tiếpcho suy nghĩ, nhận xét của mình:

Ví dụ: " Chao ôi! giang sơn đờng cách muôn dặm Sự nghiệpbuồn đêm trống ba; Chao ôi! Nguyễn Trãi còn có một lòng lo việc n-

ớc "

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w