1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh

199 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở ĐầU 1. Lí DO CHọN Đề TàI 1.1. Hát ví phường vải (HPV) là một thể loại đặc sắc trong kho tàng thơ ca dân gian xứ Nghệ vốn vô cùng phong phú, đa dạng. Gắn với môi trường diễn xướng, có nguồn gốc từ hát đối đáp của nam nữ thanh niên trong lao động sản xuất, dần trở thành đối đáp giao duyên nam nữ, HPV là một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần một thời của người xứ Nghệ, phản ánh sâu sắc văn hoá đặc trưng xứ Nghệ. Xuất phát từ hoàn cảnh giao tiếp này, các vai giao tiếp trong HPV có thể quy về hai giới: vai nam và vai nữ. Theo đó, đặc trưng ngôn ngữ giới tính cũng thường chi phối trực tiếp tới nội dung và hình thức biểu hiện lời ca của các vai giao tiếp. Mặt khác, ở một mức độ nhất định, ngôn ngữ giới tính trong HPV cũng chịu ảnh hưởng của đặc trưng văn hoá xứ Nghệ. 1.2. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về ca dao dân ca (CDDC) nói chung, HPV nói riêng, các nhà nghiên cứu thường tập trung quan tâm khai thác ở góc độ văn học. Hướng nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học là một hướng nghiên cứu ít được chú ý tới. Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu đ• vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học x• hội và lí thuyết dụng học vào việc khai thác giá trị của thơ ca dân gian. Nhờ đó, các giá trị ngôn ngữ của thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, của HPV Nghệ Tĩnh đ• được soi xét trên một số bình diện từ nhiều góc độ khác nhau. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu đ• có vẫn chưa đặt ra vấn đề tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ giới tính trong các loại hình văn học nghệ thuật nói chung cũng như trong HPV nói riêng; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và số công trình nghiên cứu còn khiêm tốn. Chưa có công trình nào bàn chuyên về đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong HPV Nghệ Tĩnh. Vì vậy, đây vẫn còn là một hướng đi khá mới mẻ, hấp dẫn. 1.3. Với những kết quả đ• đạt được, lí thuyết ngôn ngữ học x• hội và lí thuyết dụng học đang ngày càng khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, giữa ngôn ngữ giới tính và văn hoá. Như vậy, việc nghiên cứu, xác định yếu tố giới tính trong ngôn ngữ đối đáp nam nữ của HPV cũng sẽ góp phần tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ, văn hoá và con người xứ Nghệ. Và công việc này càng có ý nghĩa hơn khi đây vẫn là một mảng đề tài chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu. Chính ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu yếu tố giới tính trong HPV và tính mới mẻ, hấp dẫn của vấn đề này là cơ sở để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh. 2. LịCH Sử VấN Đề 2.1. Về vấn đề quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ Quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ đ• và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực chuyên môn trong x• hội. Nó không còn là lĩnh vực riêng của các nhà ngôn ngữ học và những nhà chuyên môn về ngôn ngữ mà còn được nhìn rộng ra theo cách tiếp cận ngôn ngữ x• hội liên quan đến hàng loạt vấn đề khác như sinh học, địa vị, vai trò trong gia đình cũng như trong x• hội của mỗi giới. Tính x• hội của vấn đề còn thể hiện ở sự đông đảo, đa dạng của giới chuyên môn đ• và đang quan tâm nghiên cứu yếu tố giới tính trong ngôn ngữ như: các nhà ngôn ngữ học, các phóng viên, công chức, biên tập viên, các nhà quản lí, các nhà giáo dục học, tâm lí học, sử học, x• hội học, luật sư... Theo đó, phương pháp nghiên cứu và trọng tâm phân tích cũng khác nhau. Những người nghiên cứu không chuyên về ngôn ngữ có thiên hướng tập trung vào một số hiện tượng như sự định kiến về giống, sự thiếu cân đối trong việc sử dụng từng cặp, lối diễn tả nam giới và nữ giới, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, hoặc tập trung vào kết cấu của những diễn ngôn mang tính kì thị giới. Ngược lại, các nhà ngôn ngữ học lại sử dụng các phương pháp tiếp cận chuyên ngành (phương pháp ngôn ngữ học so sánh, phương pháp ngôn ngữ học lịch sử, phương pháp phân tích diễn ngôn...) để khảo sát, nghiên cứu những biểu hiện giới tính trong ngôn ngữ thể hiện trên một số phương diện: âm vị, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ... 55, tr. 27, 28. Để có căn cứ lí luận cho việc triển khai các nội dung của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới một số kết quả nghiên cứu về vấn đề quan hệ gữa giới tính và ngôn ngữ trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Những phát hiện về sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nam và nữ đ• có từ lâu, nhưng phải đến đầu thế kỉ XX, ấn tượng về sự khác biệt này mới thực sự hình thành rõ nét nhờ môt số công trình nghiên cứu chuyên sâu. Đó là sự khác nhau xét về mặt âm vị, cách dùng từ, phát âm mới được phát hiện qua kết quả quan sát, khảo cứu của E.d.Sapir đối với hiện tượng sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ trong tiếng Yana Inndian; của O.Jesperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của

Trang 1

Bộ Giáo dục và đào tạo Tr

ờng Đại học Vinh

Nguyễn Thị Mai Hoa

Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phờng vải Nghệ Tĩnh

Luận án tiến sĩ ngữ văn

Vinh – 2010

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các công trình nghiên cứu khác có liên quan và đợc trích dẫn trong Luận án có chú thích rõ ràng ở phần tài liệu tham khảo Mọi t liệu, kiến giải, kết luận là của bản thân, không sao chép

từ bất kì một tài liệu nào Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Vinh, ngày 20 tháng 06 năm 2010

Ngời viết

Nguyễn Thị Mai Hoa

Trang 3

Mục lục

trangLời cam đoan

Chơng 2 : Giới tính vai giao tiếp thể hiện qua từ xng hô

trong hát phờng vải

2.1 Vai giao tiếp trong hát phờng vải

2.2 Giới tính thể hiện qua hệ thống từ xng hô trong hát phờng vải

2.3 Tiểu kết

Chơng 3: Ngôn ngữ giới tính thể hiện qua một số hành động

nói trong hát phờng vải

3.1 Dẫn nhập

3.2 Hành động nói trong một số bớc hát của cuộc hát phờng vải lề lối

3.3 Tiểu kết

Chơng 4: Giới tính vai giao tiếp thể hiện qua cách sử dụng

ngôn từ trong hát phờng vải

4.1 Cách dùng một số lớp từ đặc trng về giới

4.2 Cách dùng hệ thống biểu tợng nói về giới

4.3 Cách dùng hệ thống từ ngữ chỉ thời gian, không gian

4.4 Cách dùng nghệ thuật chơi chữ và dẫn ngữ

4.5 Tiểu kết

Kết luận

Tài liệu tham khảo

23456

171726293437

4055

58587095

9797104141

144144153161177193195198199

Trang 4

DANH MôC C¸C KÝ HIÖU, C¸C CH÷ viÕt t¾t

6 HPVTL: H¸t phêng v¶i ë Trêng Lu

7 Sp: Ngêi tham gia vµo héi tho¹i

8 Sp1: Vai nãi

9 Sp2: Vai nghe

10 TXH: tõ xng h«

Trang 5

DANH MụC Các bảng

Bảng 1.1: Tổng quát năm lớp hành động nói của Searle 1979 (theo Yule 1996)

Bảng 1.2: Các đặc trng của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp (Theo Trần Ngọc

Thêm 1977)

Bảng 2.1: Phân loại lời hát phờng vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát

Bảng 2.2: Quan hệ tơng tác vai giao tiếp qua các cặp từ xng hô đầy đủ

Bảng 2.3: Tổng hợp các cặp từ xng hô trống từ chỉ ngôi

Bảng 3.1: H nh động nói trong à hát phờng vải xét theo giới tính vai giao tiếp

Bảng 4.1: Tổng hợp số liệu lớp từ ngữ về giới trong hát phờng vải

Bảng 4.2: Tổng hợp lớp từ có ý nghĩa định danh nói về giới trong hát phờng vải

Bảng 4.3: Tổng hợp lớp từ chỉ quan hệ thân tộc nói về giới

Bảng 4.4: Tổng hợp lớp từ chỉ ngoại hình nói về giới

Bảng 4.5: Tổng hợp lớp từ chỉ tài năng, phẩm chất, phong thái theo giới tính

Bảng 4.6: So sánh lớp từ chỉ công việc gắn với giới tính

Bảng 4.7: Tổng hợp hệ thống biểu tợng theo vai giao tiếp trong hát phờng vải

Bảng 4.8: Tổng hợp từ ngữ biểu thị thời gian trong hát phờng vải

Bảng 4.9: Tổng hợp từ ngữ biểu thị không gian trong hát phờng vải

Bảng 4.10: Tổng hợp các phơng tiện, biện pháp tu từ trong hát phờng vải

Bảng 4.11: Tổng hợp các biện pháp chơi chữ trong hát phờng vải

Bảng 4.12: Tổng hợp dẫn ngữ trong hát phờng vải

27

3660828898143144146147149150

153

161169177179188

Trang 6

Mở ĐầU

1 Lí DO CHọN Đề TàI

1.1 Hát ví phờng vải (HPV) là một thể loại đặc sắc trong kho tàng thơ ca dân gian

xứ Nghệ vốn vô cùng phong phú, đa dạng Gắn với môi trờng diễn xớng, có nguồn gốc từ hát đối đáp của nam nữ thanh niên trong lao động sản xuất, dần trở thành đối đáp giao duyên nam nữ, HPV là một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần một thời của ngời xứ Nghệ, phản ánh sâu sắc văn hoá đặc trng xứ Nghệ Xuất phát từ hoàn cảnh giao tiếp này, các vai giao tiếp trong HPV có thể quy về hai giới: vai nam và vai nữ Theo

đó, đặc trng ngôn ngữ giới tính cũng thờng chi phối trực tiếp tới nội dung và hình thức biểu hiện lời ca của các vai giao tiếp Mặt khác, ở một mức độ nhất định, ngôn ngữ giới tính trong HPV cũng chịu ảnh hởng của đặc trng văn hoá xứ Nghệ

1.2 Tuy nhiên, khi nghiên cứu về ca dao dân ca (CDDC) nói chung, HPV nói riêng, các nhà nghiên cứu thờng tập trung quan tâm khai thác ở góc độ văn học Hớng nghiên cứu

từ góc độ ngôn ngữ học là một hớng nghiên cứu ít đợc chú ý tới

Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học xã hội

và lí thuyết dụng học vào việc khai thác giá trị của thơ ca dân gian Nhờ đó, các giá trị ngôn ngữ của thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, của HPV Nghệ Tĩnh đã đợc soi xét trên một số bình diện từ nhiều góc độ khác nhau Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu đã có vẫn cha đặt ra vấn đề tìm hiểu đặc trng ngôn ngữ giới tính trong các loại hình văn học nghệ thuật nói chung cũng nh trong HPV nói riêng; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và số công trình nghiên cứu còn khiêm tốn Cha có công trình nào bàn chuyên về đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong HPV Nghệ Tĩnh Vì vậy,

đây vẫn còn là một hớng đi khá mới mẻ, hấp dẫn

1.3 Với những kết quả đã đạt đợc, lí thuyết ngôn ngữ học xã hội và lí thuyết dụng học đang ngày càng khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, giữa ngôn ngữ giới tính và văn hoá Nh vậy, việc nghiên cứu, xác định yếu tố giới tính trong ngôn ngữ

đối đáp nam nữ của HPV cũng sẽ góp phần tìm hiểu đặc trng ngôn ngữ, văn hoá và con ngời xứ Nghệ Và công việc này càng có ý nghĩa hơn khi đây vẫn là một mảng đề tài cha có những công trình nghiên cứu chuyên sâu

Trang 7

Chính ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu yếu tố giới tính trong HPV và tính

mới mẻ, hấp dẫn của vấn đề này là cơ sở để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Đặc

điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phờng vải Nghệ Tĩnh"

2 LịCH Sử VấN Đề

2.1 Về vấn đề quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ

Quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ đã và đang là đối tợng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực chuyên môn trong xã hội Nó không còn là lĩnh vực riêng của các nhà ngôn ngữ học và những nhà chuyên môn về ngôn ngữ mà còn đợc nhìn rộng ra theo cách tiếp cận ngôn ngữ - xã hội liên quan đến hàng loạt vấn đề khác nh sinh học, địa vị, vai trò trong gia đình cũng nh trong xã hội của mỗi giới Tính xã hội của vấn đề còn thể hiện ở

sự đông đảo, đa dạng của giới chuyên môn đã và đang quan tâm nghiên cứu yếu tố giới tính trong ngôn ngữ nh: các nhà ngôn ngữ học, các phóng viên, công chức, biên tập viên, các nhà quản lí, các nhà giáo dục học, tâm lí học, sử học, xã hội học, luật s Theo

đó, phơng pháp nghiên cứu và trọng tâm phân tích cũng khác nhau Những ngời nghiên cứu không chuyên về ngôn ngữ có thiên hớng tập trung vào một số hiện tợng nh sự định kiến về giống, sự thiếu cân đối trong việc sử dụng từng cặp, lối diễn tả nam giới và nữ giới, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, hoặc tập trung vào kết cấu của những diễn ngôn mang tính kì thị giới Ngợc lại, các nhà ngôn ngữ học lại sử dụng các phơng pháp tiếp cận chuyên ngành (phơng pháp ngôn ngữ học so sánh, phơng pháp ngôn ngữ học lịch sử, phơng pháp phân tích diễn ngôn ) để khảo sát, nghiên cứu những biểu hiện giới tính trong ngôn ngữ thể hiện trên một số phơng diện: âm vị, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ [55, tr 27, 28] Để có căn cứ lí luận cho việc triển khai các nội dung của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới một số kết quả nghiên cứu về vấn đề quan hệ gữa giới tính và ngôn ngữ trong lĩnh vực ngôn ngữ học

Những phát hiện về sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nam và nữ đã có từ lâu, nhng phải đến đầu thế kỉ XX, ấn tợng về sự khác biệt này mới thực sự hình thành rõ nét nhờ môt số công trình nghiên cứu chuyên sâu Đó là sự khác nhau xét về mặt âm vị, cách dùng từ, phát âm mới đợc phát hiện qua kết quả quan sát, khảo cứu của E.d.Sapir đối với hiện tợng sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ trong tiếng Yana Inndian; của O.Jesperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của nam và

Trang 8

nữ khi giao tiếp bằng tiếng Anh; của Yuan RenZhao, Chen Songling khi nghiên cứu về tiếng Trung Quốc Sự khác nhau xét về mặt ngữ pháp phải kể đến các nghiên cứu của Mary Haas (tiếng Koasati - Mĩ), Ralph Fasold (tiếng Kurux - ấn Độ) Theo từng mức…

độ nhất định, các nghiên cứu đều khẳng định những biểu hiện khác biệt rõ rệt trong ngôn ngữ của giới nam và giới nữ trên các bình diện: từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn tập trung khảo sát và chỉ ra sự phân biệt đối xử về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ nh: sự định kiến về giống, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, kết cấu của những diễn ngôn mang tính phân biệt đối xử về giới tính, sự phân biệt đối xử về giới tính trong xã hội theo quan niệm “nam tôn nữ ti” Có thể kể đến

công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nh: Allen Nilsen, B Thorne, C.Kramarac và N Henley (Dẫn theo [93, tr 146-155])

Một khía cạnh khác cũng đợc quan tâm là vấn đề phong cách ngôn ngữ mang yếu

tố giới tính Ngời có công đóng góp đáng kể trong nghiên cứu phong cách ngôn ngữ nữ giới là nhà ngôn ngữ học Mĩ Robin Lakoff Từ những khảo sát về cách sử dụng tiếng Anh của phụ nữ trung lu trong môi trờng bà sống, Lakoff (1975) đã đa ra giả thuyết về ngôn từ của phụ nữ trung lu: về âm, có khuynh hớng lên giọng ở cuối câu khẳng định

và thờng sử dụng những biến thể ngữ âm uy tín; về từ vựng, nữ dùng những từ làm nhẹ ý/hoặc nhấn mạnh nhiều; về cú pháp, thờng dùng những câu hỏi kèm theo câu khẳng

định và những câu cực kì lịch sự Theo Lakoff, phong cách ngôn từ mà phái nữ có khuynh hớng sử dụng để duy trì bản sắc nữ giới đã tạo cho ngời nghe một cái nhìn không hay về khả năng của ngời nói và làm cho phái nữ bị thiệt thòi trong giao tiếp xã hội (dẫn theo [89, tr.14, 15]) Những giả thuyết của bà đã đa đến nhiều cuộc tranh luận sôi nổi và nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong hơn hai thập kỉ theo tinh thần hoặc tiếp thu, phát triển, hoặc chỉ ra những điểm cần phải tiếp tục bàn luận để có cái nhìn toàn diện và sâu sát hơn Ngoài ra phải kể đến một số kết quả nghiên cứu của W.Labov (1970), P Trudghill (1972) với những kết luận quan trọng về phong cách ngôn ngữ giới tính: "ở phong cách thận trọng phụ nữ ít dùng biến thể phi chuẩn hơn nam, và mẫn cảm với mô hình uy tín hơn nam" [100, tr.187]; "Mô hình khác biệt theo giới tính khác với chuẩn mực thông thờng cho thấy một sự biến đổi ngôn ngữ đang xảy ra: nữ trung lu đi

Trang 9

tiên phong trong việc dùng các dạng thức chuẩn mực còn nam công nhân đi tiên phong trong việc dùng các dạng thức quy chuẩn" [162, tr 207].

ở Việt Nam, thời gian gần đây, lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ giới tính đã bắt đầu

đợc các nhà ngôn ngữ học quan tâm Trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản (1999), từ những khác biệt trong ngôn ngữ giới tính xét trên hai mặt: tiền đề lí

thuyết và kết quả khảo sát thực tế, tác giả Nguyễn Văn Khang đề cập tới vấn đề ngôn ngữ và giới tính trên cơ sở xem xét và phân tích các vấn đề cụ thể: sự phân biệt đối xử

về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ; phong cách ngôn ngữ của mỗi giới, v.v và đ… a ra một số kết luận: Cùng một vấn đề nhng cách diễn đạt của nam giới thờng "mạnh

mẽ , khẳng định/phủ định một cách dứt khoát” “ ”, nữ giới thờng chọn cách diễn đạt "dài"

và "uyển chuyển hơn”; nam giới "thích dùng các câu khẳng định, yêu cầu, ra lệnh" một

cách “thẳng thắn”, “công khai” và do đó “mệnh lệnh của nam giới th ờng chứa đựng cả quyền lực bắt phải phục tùng” thì nữ giới lại "a dùng những câu phối hợp xin - yêu cầu

- ra lệnh”, thể hiện yêu cầu một cách lịch sự , kín đáo , bỏ ngỏ sự khẳng định“ ” “ ” “ ”…chính vì vậy, "cách diễn đạt của nữ giới lại gây ấn tợng mạnh và trong nhiều trờng hợp

đạt hiệu quả cao hơn nam giới” Đồng thời khẳng định rằng "yếu tố giới tính là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ” từ hai chiều: chiều tác động của giới tính đến sự

lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp và chiều thông qua giao tiếp yếu tố giới tính đợc bộc

lộ [93, tr 144-168] Trớc đó, trong b i à "Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ”

(1996), tác giả đã xem xét yếu tố giới tính thông qua ứng xử giao tiếp trên cơ sở hai góc

độ: ngôn ngữ nói về mỗi giới và ngôn ngữ của mỗi giới Khi đề cập tới ngôn ngữ nói về mỗi giới, tác giả chỉ đa ra một nhận xét duy nhất là những từ nhất định chỉ dùng cho giới này hoặc giới kia mà thôi [92, tr 176-186].

Từ góc độ nghiên cứu hiện tợng phân biệt giới tính của ngời sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật, tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) đã đa ra 5 tiêu chí phân biệt ngôn ngữ của nam giới và nữ giới dựa trên đặc điểm quan trọng là ngôn ngữ nữ giới Nhật có tính mềm mại và tính chuẩn mực, cụ thể là: (1) Sự khác biệt trong sử dụng từ

để gọi giữa nam giới và nữ giới mà đặc quyền sử dụng thuộc về giới nam, nếu nữ giới dùng sẽ bị đánh giá là xấc xợc; (2) Sự "mềm mại" trong ngôn ngữ nữ giới đợc thể hiện

Trang 10

trong việc sử dụng vốn từ vựng tiếng Nhật, cụ thể là nữ giới hay dùng từ thuần Nhật dễ hiểu, còn nam giới lại thờng dùng từ Hán - Nhật có tính trang trọng; (3) Việc sử dụng thán từ ở cuối câu cũng có sự phân biệt về giới tính thể hiện qua hiện tợng nam giới th-ờng thêm vào cuối câu những từ cảm thán, tình thái từ tạo nên cảm giác mạnh mẽ, dứt khoát; (4) Nữ giới tuân thủ các quy định về sử dụng kính ngữ chặt chẽ hơn nam giới; (5) Cách phát âm của nữ giới Nhật đợc ngời Nhật coi là chuẩn hơn nam giới Hay nói cách khác, nữ giới phát âm rõ ràng, không nuốt âm, biến âm trong lời nói (Dẫn theo [149, tr 57-59]).

Trong một công trình nghiên cứu yếu tố giới tính trong cách xng gọi của trẻ em

tr-ớc tuổi đến trờng ở Hà Nội, Hà Tây, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình đã đi đến kết luận: trẻ em nữ dùng nhiều biến thể chuẩn hơn trẻ em nam, trẻ em xng và gọi không "nhầm giới" Còn các tác giả Vũ Thị Thanh Hơng (1999), Vũ Tiến Dũng (2002) lại quan tâm nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ giới tính trên cơ sở chỉ ra ngôn ngữ đặc trng của từng giới cũng nh mối quan hệ giữa giới tính và lịch sự, và cùng chung nhận định: mối quan hệ giữa giới tính và ứng xử lịch sự không đơn giản mà là tơng liên phức tạp với các tham

số xã hội tình huống khác, trong đó không chỉ có giới, mà cả tuổi tác, nghề nghiệp của ngời nói, mối tơng liên về quyền và khoảng cách xã hội giữa ngời nói và ngời nghe; từ

đó rút ra kết luận: xu hớng chung là nữ lịch sự hơn nam; và nữ giới thờng nhấn mạnh

đến quan hệ quyền lực hơn nam giới, ngợc lại, nam giới thờng nhấn mạnh đến quan hệ thân hữu nhiều hơn [44, tr 172; 85, tr 17-30]

Từ phơng diện nghiên cứu sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ qua cứ liệu tiếng Anh

và tiếng Việt, Trần Xuân Điệp (2005) lại tập trung phân tích khía cạnh phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính trong ngôn ngữ Đối với nữ giới, sự kì thị giới tính đợc xem xét qua các vấn đề: phạm trù giống trong ngữ pháp và quan hệ của nó với phạm trù giới (về mặt sinh học); thói quen đánh dấu về giống, đặc biệt là đối với danh từ tác nhân chỉ ngời; sự thiếu cân đối về mặt ngữ nghĩa giữa các từ chỉ nam giới và các từ chỉ nữ giới; sự kì thị giới tính trong các tập quán gọi tên/xng hô và sự rập khuôn về giới tính trong ngôn ngữ

Đối với nam giới, sự kì thị giới tính đợc đề cập tới thông qua việc phân tích 3 hình thức thể hiện: những cách sử dụng thể hiện tính loại trừ giống, những cách sử dụng thể hiện tính hạn chế giống, sự rập khuôn tiêu cực về nam giới [55, tr 57-162]

Trang 11

Việc điểm lại các công trình nghiên cứu đã có cho thấy ngôn ngữ giới tính đang dần trở thành một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn, thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều của các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà ngôn ngữ học và những ngời quan tâm tới vấn

đề ngôn ngữ và giới tính Dựa trên những cứ liệu đợc thu thập một cách chính xác và có

hệ thống mô hình khác biệt theo giới tính trong các cộng đồng ngôn ngữ và các hoạt

động khảo sát cụ thể, xác thực về việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của một số nhóm đối tợng cụ thể, các nhà nghiên cứu đều khẳng định sự tồn tại có thực của yếu tố giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ và bớc đầu đa ra những kết luận, lí giải về một số điểm khác biệt cơ bản trong ngôn ngữ giao tiếp của giới nam và giới nữ

2.2 Về vấn đề ngôn ngữ giới tính trong hát phờng vải Nghệ Tĩnh

Từ khoảng giữa thế kỉ XX trở về sau này, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã

có một số công trình có giá trị về thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, tiêu biểu là: Nguyễn Chung Anh với Hát ví Nghệ Tĩnh (1958); Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao với Hát giặm Nghệ Tĩnh (1962, 1963); Ninh Viết Giao với các công trình Về văn học dân gian Nghệ Tĩnh (1982), Hát phờng vải Nghệ Tĩnh (1993), Về văn hoá xứ Nghệ (2003); Vi

Phong với Dân ca Nghệ Tĩnh (2000) Trong lĩnh vực ngôn ngữ học đã có một số nhà

nghiên cứu quan tâm tới việc khai thác giá trị thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên) với Bản sắc văn hoá của ngời Nghệ Tĩnh (2001), Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao ngời Việt (2003); Ngô Văn Cảnh với Đặc trng hình thức của các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh (Luận án TS, 2004) Ngoài ra, có khá nhiều…bài viết của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, các nhà ngôn ngữ học bàn về văn hoá dân gian xứ Nghệ đăng trên các tạp chí chuyên ngành

Từ các góc độ nghiên cứu với nhiều phơng pháp nghiên cứu khác nhau, những

ng-ời quan tâm tới văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh đã khai thác nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của các loại hình văn học dân gian mang đậm màu sắc văn hoá xứ Nghệ Một số công trình đã đề cập sơ lợc tới vấn đề giới tính trong CDDC (vai giao tiếp, hình tợng nhân vật nữ ) Chẳng hạn nh trong Hát giặm Nghệ Tĩnh (1963), tác giả Nguyễn Đổng

Chi đã phân loại hát giặm vè và hát giặm nam nữ Tuy nhiên, việc xác định hát giặm

nam nữ chỉ giới thuyết về chủ đề, hình thức của các bài hát giặm, cha đặt ra vấn đề giới tính vai giao tiếp

Trang 12

Ngời đầu tiên thực sự quan tâm tới giới tính vai giao tiếp trong HPV là nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Ninh Viết Giao Trong Tiểu luận về HPV, tác giả đã đề cập tới

yếu tố giới tính khi phân tích nguồn gốc HPV, giới thiệu lề lối cuộc hát và chân dung các nghệ nhân phờng vải Về nguồn gốc HPV, theo tác giả, ban đầu là thể hát ví gắn với nghề kéo vải của phụ nữ, sau phát triển, mở rộng dần thành tục hát đối đáp giữa nam và nữ, trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá - văn nghệ đặc sắc của nhiều vùng quê xứ Nghệ Giới thiệu thể thức, thủ tục cuộc hát, tác giả mô tả hoạt động của các vai giao tiếp đối đáp là phờng nam, phờng nữ, đồng thời sắp xếp lời hát thành các

chặng, các bớc theo giới tính vai giao tiếp (nam hát, nữ hát; nam hỏi, nữ hỏi…) Trong

phần giới thiệu chân dung các nghệ nhân (các nhà nho, các nghệ nhân dân gian), tác giả

đã quan tâm tới yếu tố giới tính khi phân tích, phác hoạ chân dung của các nghệ nhân phờng vải Đó là các nhà nho "mẫn tiệp, nhanh trí, uyên bác, nhiệt thành", có hoài bão, chí khí hơn ngời Còn các "nghệ nhân tại gia" lại đem đến cho HPV dấu ấn đậm nét qua nhiều giai thoại gắn với tên tuổi của họ(1) So sánh giữa các vai giao tiếp, tác giả đã nêu một số nhận xét về các nữ nghệ nhân phờng vải nh có "cách phô diễn, đối phó nhanh nhạy, đối chọi, tấn công tài tình", luôn "giành thế chủ động", do vậy "nhiều phen họ làm cho một số vị có tên tuổi trong làng khoa bảng sững sờ thua cuộc” [I, tr 135]

Kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy: (i) Hớng nghiên cứu

về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính ở Việt Nam vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ, số lợng công trình nghiên cứu cha nhiều Việc nghiên cứu, khảo sát ngôn ngữ giới tính chủ yếu đang tập trung ở một số nhóm đối tợng, trên một số địa bàn nhất định và trong môi tr-ờng giao tiếp sinh hoạt (ii) Hớng nghiên cứu chung về CDDC xứ Nghệ chủ yếu tập trung vào các đặc điểm hình thức, những giá trị nội dung của các thể loại ca dao, vè, hát giặm, hát ví Các công trình nghiên cứu đã có ch… a đặt ra vấn đề tìm hiểu đặc trng ngôn ngữ giới tính trong hình thức nghệ thuật dân gian đặc sắc này Tuy nhiên, với những kết quả đã

đạt đợc, các công trình nghiên cứu đã có mang ý nghĩa gợi mở, cung cấp cơ sở lí luận và một số t liệu quan trọng cho chúng tôi trong việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong HPV Nghệ Tĩnh.

(1) Trong dân gian còn lu truyền nhiều giai thoại về tài hát ví phờng vải của các nghệ nhân dân gian nh cô Sạ, cô Cúc, cô Nhẫn, bà Dũng Thơn, bà cháu Ban [I, tr 134]

Trang 13

3 ĐốI TƯợNG, nguồn t liệu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ giới tính thể hiện qua lời hát của vai nam/nữ trong HPV Nghệ Tĩnh

3.2 Nguồn t liệu

T liệu đợc sử dụng phục vụ quá trình nghiên cứu là những lời HPV đã đợc su tầm

và tập hợp trong cuốn Hát phờng vải của Ninh Viết Giao (2002) Ngoài ra, các t liệu từ

hai văn bản: Hát phờng vải ở Trờng Lu của các tác giả Vi Phong, Th Hiền (1997) và Dân ca Nghệ Tĩnh của tác giả Vi Phong (2000) đợc dùng với mục đích đối chiếu, so

sánh, liên hệ, mở rộng

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận án chỉ tập trung xem xét, so sánh ngôn ngữ lời HPV theo giới tính vai giao tiếp với hai nhóm t liệu: lời nam và lời nữ; mô tả đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếp nam/nữ trên một số phơng diện nh: từ xng hô, các hành động nói đóng vai trò chủ

đạo trong một số bớc hát, cách sử dụng từ ngữ và các biện pháp, phơng tiện nghệ thuật

Từ đó rút ra những kết luận bớc đầu về những điểm tơng đồng và khác biệt trong ngôn ngữ của vai giao tiếp nam/nữ Vấn đề so sánh, đối chiếu kết quả nghiên cứu HPV Nghệ Tĩnh với CDDC các vùng miền hoặc các thể hát ví khác trong kho tàng thơ ca dân gian

xứ Nghệ cần đợc thực hiện bằng một công trình nghiên cứu khác có quy mô lớn hơn Với khả năng và điều kiện có hạn, ngời viết không đặt ra ở luận án này

4 mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Kết hợp lí thuyết dụng học về giao tiếp và lí thuyết ngôn ngữ học xã hội về giới tính, luận án khảo sát và xác định những đặc điểm ngôn ngữ mang đặc trng giới tính trong HPV Nghệ Tĩnh Từ đó góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về văn hoá giao tiếp

xứ Nghệ và về con ngời xứ Nghệ từ góc nhìn lí thuyết ngôn ngữ giao tiếp và giới tính

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đợc đặt ra là:

Trang 14

- Khảo sát, xác định, phân tích cứ liệu cụ thể (các lời HPV đợc xác định theo giới tính), trên cơ sở đó xem xét biểuừ hiện đặc điểm ngôn ngữ giới tính các vai giao tiếp trên một số phơng diện: từ xng hô, các hành động nói trong một số bớc hát, cách thức

sử dụng từ ngữ và một số biện pháp, phơng tiện tu từ

- Tìm hiểu những điểm tơng đồng và khác biệt trong ngôn ngữ HPV đợc hình thành dựa trên cơ sở khác biệt về giới tính

- Bổ sung kết quả khảo sát, đánh giá t liệu cho việc nghiên cứu văn hoá xứ Nghệ, con ngời xứ Nghệ qua HPV

5 Phơng pháp nghiên cứu

Đây là đề tài đợc nghiên cứu trên cơ sở lí thuyết dụng học và lí thuyết ngôn ngữ học xã hội, với đối tợng là nguồn t liệu văn học (hát ví phờng vải), do vậy, phơng pháp chủ đạo đợc sử dụng trong công trình nghiên cứu bao gồm: thống kê, miêu tả, phân tích, quy nạp, so sánh

- Phơng pháp thống kê đợc sử dụng để thống kê nguồn t liệu trên cơ sở tập hợp,

phân loại những lời HPV theo các nhóm: nhóm lời hát nam/ nhóm lời hát nữ; các cặp từ xng hô gắn với các vai giao tiếp nam/nữ; các hành động nói, các lớp từ ngữ, các phơng tiện nghệ thuật đợc phân bố trong lời hát của từng vai giao tiếp nam/nữ Với kết quả thống kê mang tính định lợng cụ thể, đây là phơng pháp đóng vai trò quan trọng, tạo ra một số căn cứ thực tiễn để có đợc những đánh giá định tính bảo đảm tính thuyết phục hơn

- Phơng pháp miêu tả đợc sử dụng kết hợp phơng pháp định lợng để giới thiệu sự

khác biệt về vị trí (khách/chủ) của các vai giao tiếp nam/nữ gắn với từng bớc, từng chặng trong HPV; sự khác biệt trong cách lựa chọn từ xng hô, trong biểu đạt hành

động nói, sự lựa chọn các từ ngữ, các phơng tiện, biện pháp nghệ thuật

- Phơng pháp phân tích và quy nạp đợc sử dụng phối hợp trong phân tích diễn

ngôn với nguồn t liệu đã lựa chọn, từ đó quy nạp thành các kết luận Chẳng hạn nh phân tích một số lời hát của các vai giao tiếp nam/nữ để đa ra kết luận về đặc điểm ngôn ngữ của mỗi giới trong xng hô, trong thực hiện các hành động nói v.v Ph… ơng pháp này góp phần tạo tính logic, chặt chẽ trong lập luận

Trang 15

- Phơng pháp so sánh, đối chiếu đợc sử dụng trong hầu hết các công đoạn của

luận án, từ khâu phân loại, khảo sát, phân tích, miêu tả, kết luận nhằm chỉ ra những…

điểm tơng đồng và khác biệt trong ngôn ngữ HPV của các vai giao tiếp nam/ nữ Do vậy, đây là phơng pháp quan trọng góp phần hình thành những nhận định cơ bản về đặc

điểm ngôn ngữ của mỗi giới trong hoạt động giao tiếp HPV

6 đóng góp của luận án

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về ngôn ngữ HPV xét từ phơng diện giới tính vai giao tiếp, tức là xem xét một vấn đề mới (ngôn ngữ giới tính) trên một đối tợng cũ (HPV), do vậy, nội dung nghiên cứu của luận án bảo đảm tính mới

mẻ, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác, và dự kiến sẽ có những đóng góp sau:

6.1 ý nghĩa lí luận

- Góp phần làm rõ một số vấn đề thuộc phơng diện lí luận ngôn ngữ có liên quan tới ngữ nghĩa, ngữ dụng - văn hoá nh: từ xng hô từ góc độ giới tính, hành động nói gắn với các ngữ cảnh giao tiếp, các lớp từ gắn với đặc trng giới tính

- Góp thêm cứ liệu trong lĩnh vực nghiên cứu về giới tính trong ngôn ngữ Cung cấp căn cứ lí luận để làm rõ thêm một số vấn đề nêu trong các công trình nghiên cứu về HPV đã đợc công bố nh: cách phân chia các chặng hát, bớc hát và thủ tục của một cuộc HPV; môi trờng diễn xớng của HPV và vấn đề không gian, thời gian; giới tính vai giao tiếp và quan hệ chủ/khách trong HPV

- Khẳng định và bổ sung thêm những nhận định về đặc trng văn hoá mang dấu ấn giới tính của vùng đất Nghệ Tĩnh, của con ngời Nghệ Tĩnh

6.2 ý nghĩa thực tiễn

- Cung cấp t liệu cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, các nghiên cứu sinh có đề tài nghiên cứu liên quan tới yếu tố giới tính trong ngôn ngữ thơ ca dân gian cũng nh nghiên cứu chung về thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh

- Bổ sung thêm t liệu cho việc giảng dạy, học tập các thể thơ dân gian, các nội dung liên quan tới nghệ thuật sử dụng từ ngữ (các lớp từ đặc trng, hệ thống biểu tợng nghệ thuật, các phơng tiện biện pháp nghệ thuật ).…

Trang 16

- Khẳng định đóng góp của các nghệ nhân nam / nữ phờng vải trong việc tạo nên giá trị của văn hoá xứ Nghệ.

7 Bố CụC CủA luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm có 4 chơng:

Nội dung chơng đề cập tới một số vấn đề lí luận ngôn ngữ bao gồm: giao tiếp và hội thoại, hành động nói, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, ngôn ngữ và văn hoá Phần cuối chơng giới thiệu khái quát về HPV Nghệ Tĩnh và việc xác định, phân loại t liệu lời HPV căn cứ vào đặc điểm ngôn ngữ giới tính

Nội dung chơng tập trung giới thiệu về vai giao tiếp, liên quan nh sự tơng tác và quan hệ liên cá nhân giữa các vai giao tiếp; đồng thời phần cuối của chơng tập trung giới thiệu hệ thống từ xng hô thể hiện đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong HPV Qua đó rút ra một số nhận xét, đánh giá về một số nét văn hoá của ngời Nghệ Tĩnh thông qua

giao tiếp trong HPV: thông minh, dí dỏm, tự tin, bản lĩnh

sử dụng ngôn từ giữa các vai giao tiếp

Trang 17

CHƯƠNG 1

Cơ sở lí thuyết và MộT Số VấN Đề

về hát phờng vải nghệ tĩnh

1.1 Giao tiếp và hội thoại

1.1.1 Giao tiếp và giao tiếp bằng ngôn ngữ

1.1.1.1 Khái niệm giao tiếp

Giao tiếp (communication) là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để

truyền đạt một thông tin nào đó Đối với xã hội loài ngời, con ngời có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phơng tiện, trong đó, phơng tiện ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ nói

và ngôn ngữ viết) là phơng tiện quan trọng nhất

Giao tiếp bằng ngôn ngữ là đối tợng thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu với

những mối quan tâm khác nhau; và do đó, cũng đợc hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo Berge 1994 (Dẫn theo [6, tr 18-21], giao tiếp đợc hiểu theo một số cách sau:

Hiểu theo cách đơn giản và chung nhất, giao tiếp là quá trình thông tin diễn ra giữa ít nhất là hai ngời giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định Cách định nghĩa này phù hợp với các cuộc trao đổi bằng lời trong

cuộc sống thờng nhật của con ngời, do đó nó liên quan tới xã hội học

Hiểu theo cách hiểu có tính chất chuyên môn, giao tiếp đợc định nghĩa nh một thuật ngữ chỉ loại, bao trùm tất cả các thông điệp đợc phát ra trong những ngữ cảnh và tình huống khác nhau Theo cách hiểu này, giao tiếp là cách gọi chung cho tất cả các

hành động ngôn ngữ trong xã hội

Theo một cách định nghĩa khác, khái niệm giao tiếp đợc giải thích thông qua tính

từ "thuộc về giao tiếp" hay "có tính giao tiếp": Một tín hiệu là có tính giao tiếp nếu nó nhằm báo cho ngời nhận về một cái gì đó mà cho đến lúc bấy giờ ngời ấy cha biết

Theo đó, giao tiếp đợc xem xét có sự phân biệt trong quan hệ một bên là ngời phát

(ng-ời nói, ng(ng-ời viết) với những chủ định nhất định, một bên là ng(ng-ời nhận (ng(ng-ời nghe, ng(ng-ời

đọc) với những giá trị nhất định

Trang 18

Trong ngôn ngữ học, khi đặt giao tiếp trong quan hệ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa

với lời nói, cách dùng , giao tiếp đợc nhìn nhận nh là những cái vốn có trong thông

điệp ngôn ngữ: qua bình diện nội dung và bình diện biểu hiện (hình thức) của thông

điệp bằng ngôn ngữ, ngời ta có thể hiểu tình huống, ngữ cảnh, và bản thân những ngời trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình Đây là cách định nghĩa có tính trung hoà

HVP không phải là "ngôn ngữ trao đổi bằng lời trong cuộc sống thờng nhật", cũng không có tính chất "đại diện chung" cho tất cả các hành động ngôn ngữ trong xã hội Mặt khác, nội dung thông tin trong giao tiếp phờng vải không hoàn toàn là "một cái gì

đó" mà ngời nhận cha biết Do vậy, để thực hiện mục đích nghiên cứu, việc xem xét đặc

điểm ngôn ngữ giới tính sẽ căn cứ vào lời nói, cách dùng bao gồm cả bình diện nội dung và hình thức biểu hiện của những thông điệp ngôn ngữ, qua đó "những ngời trao

đổi lời với nhau tự thể hiện mình" Với công trình nghiên cứu này, định nghĩa giao tiếp

có tính chất trung hoà là thích hợp

Theo đó, khái niệm giao tiếp dùng trong luận án đợc hiểu là sự trao đổi thông tin qua lại bằng lời giữa ít nhất hai ngời với những thông điệp bằng ngôn ngữ trong một ngữ cảnh nhất định, hớng tới mục đích là tự thể hiện mình (về thái độ, tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc, quan điểm ) Việc xem xét ngôn ngữ giao tiếp ở đây còn căn cứ trên

tính đặc thù của giao tiếp trong HPV so với giao tiếp thông thờng Chẳng hạn nh: tính nghệ thuật cao hơn, ngôn từ trau chuốt hơn, quy trình bài bản hơn…

1.1.1.2 Chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp

Về phơng diện lí thuyết chung, từ lâu, ngôn ngữ đợc coi là có chức năng giao tiếp Theo các nhà phân tích diễn ngôn, trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ thực hiện hai chức năng chính là chức năng giao dịch và chức năng liên nhân

Chức năng giao dịch (hay còn đợc gọi là chức năng biểu hiện, quy chiếu, quan niệm, miêu tả) là chức năng của ngôn ngữ đợc dùng trong việc diễn đạt kinh nghiệm,

Trang 19

Việc phân biệt hai chức năng trên của ngôn ngữ trong giao tiếp không có nghĩa một diễn ngôn (văn bản) chỉ có duy nhất chức năng này và loại trừ chức năng kia, mà chỉ có thể nói đến sự nổi trội của một trong hai chức năng đó trong một diễn ngôn cụ thể, ứng với một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Chẳng hạn, chức năng giao dịch đợc thể

hiện rõ trong tục ngữ, CDDC về lao động sản xuất, hoặc trong các diễn ngôn đợc thực hiện nhằm trao đổi thông tin đòi hỏi chi tiết, chính xác Còn chức năng liên nhân nổi

trội trong các trờng hợp cần sử dụng ngôn ngữ để thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội Theo đó, trong khi các nhà ngôn ngữ học, các nhà triết học - ngôn ngữ quan tâm

chức năng giao dịch thì các nhà xã hội học và xã hội học - ngôn ngữ lại thờng đề cập

tới chức năng liên nhân

Với việc nghiên cứu ngôn ngữ giới tính ở HPV, chức năng liên nhân của ngôn ngữ

trong giao tiếp là cơ sở để chỉ ra quan hệ giữa các vai giao tiếp nam/nữ

1.1.1.3 Vai giao tiếp

Các nhân tố giao tiếp gồm: ngữ cảnh, ngôn ngữ, diễn ngôn, trong đó ngữ cảnh là

một hợp phần gồm: nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn [29, tr 15 - 40].Nhân vật giao tiếp là những ngời tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ

để tạo ra lời nói Giữa các nhân vật giao tiếp có hai quan hệ: vai giao tiếp và quan hệ liên nhân Nhờ đó mà các diễn ngôn trong hoạt động giao tiếp tác động đến nhau, tạo thành chuỗi trao - đáp cho một cuộc thoại Trong hoạt động giao tiếp, các nhân vật giao tiếp luôn đảm nhận các vai giao tiếp khác nhau Vai giao tiếp có thể là ngôi thứ nhất (vai trao lời) tác động đến vai nhận là ngôi thứ hai (vai đáp lời) Khi vai nhận đáp lời,

đến lợt mình, vai nhận lại trở thành vai trao còn vai trao lại trở thành vai nhận Cứ thế, trong suốt cuộc thoại, các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tợng luôn đổi chỗ cho nhau, làm thành các cặp trao - đáp luân phiên nhau (còn gọi là luân phiên lợt lời) Mức độ ảnh hởng lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp và hiệu quả giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân của chủ thể nh vị trí xã hội, vai trò xã hội, uy tín, giới tính, tuổi tác cũng nh các mối quan hệ và tơng quan giữa họ

Tuy nhiên, không phải hai ngời thay nhau nói là thành một cuộc thoại Trong quá trình giao tiếp, cả hai bên cùng phải có ý thức, trách nhiệm khởi động và duy trì cuộc thoại, tức là duy trì sự tơng tác qua lại lẫn nhau thông qua hành động ngôn ngữ tơng

Trang 20

tác, có sự thống nhất và mâu thuẫn, có sự vận động để điều hành cuộc thoại diễn tiến theo một chiều hớng nhất định Giữa các bên tham gia giao tiếp ban đầu thờng có một khoảng cách nhất định về mối quan hệ thân sơ Nếu cả hai nhân vật giao tiếp cùng có

sự thống nhất trong các hành động ngôn ngữ thì cuộc thoại diễn ra theo chiều hớng thuận Ngợc lại, nếu hai nhân vật giao tiếp có sự bất đồng về nhận thức cũng nh hành

động ngôn ngữ thì cuộc thoại diễn tiến theo chiều hớng không thuận Hoặc nếu một

ng-ời nói ra một phát ngôn để gợi chuyện (hoạt động trao lng-ời) mà ngng-ời nghe không hởng ứng (không thực hiện hoạt động đáp lời, đáp lời một cách miễn cỡng, rời rạc ) thì…cuộc thoại cũng không thể tiến triển [108, tr 200-204] Nh vậy, để cuộc thoại phát triển theo hớng mong muốn, các vai giao tiếp phải có sự phối hợp chặt chẽ về từ ngữ, cấu trúc, cách nói, tạo thành hệ thống lợt lời với các cặp thoại hô ứng về nội dung và hình thức Nhiều khi, trong một lời thoại, nhân vật giao tiếp cùng lúc vào cả hai vai: vai trao

và vai đáp Một vấn đề nữa là trong thực tế hoạt động giao tiếp, số ngời tham gia cuộc thoại có khi lớn hơn hai Sự tơng tác hội thoại cũng không hoàn toàn theo tỉ lệ 1-1 trong lời trao - lời đáp, thậm chí vai đáp lời có thể sử dụng các phơng tiện phi ngôn ngữ (thái

độ, cử chỉ, ánh mắt ) để thay cho lời đáp

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đã xác định, luận án chỉ xem xét vai giao tiếp trong hoạt động hội thoại bằng lời thông qua mối quan hệ tơng tác lời trao - đáp

1.1.2 Vận động hội thoại và sự tơng tác

1.1.2.1 Hội thoại

Đợc coi là hoạt động cơ bản thờng xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ, hôi thoại là giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa hai hay hơn hai ngời nhằm những mục đích nhất định. Có thể gọi hội thoại là hình thức giao tiếp hai chiều , bên này nói, bên kia“ ” “

nghe và phản hồi lại, lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe ” [39, tr 76] Hội thoại tồn tại ở hai môi trờng: môi trờng sinh hoạt hàng ngày và môi trờng đợc nhà văn tái tạo, thể hiện trong tác phẩm văn học Trong hội thoại, ngoài yếu tố ngôn ngữ lời nói còn có yếu tố ngôn ngữ cử chỉ nh

ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ, hoàn cảnh giao tiếp; trong văn bản viết thờng đợc thể hiện qua lời của ngời viết Về cấu tạo, hội thoại tồn tại ở các dạng: đơn thoại, song thoại và đa thoại

Trang 21

Đơn vị hội thoại bao gồm nhiều cấp độ, cụ thể là:

a) Đơn vị cơ sở: gồm hành động ở lời (ngôn ngữ) và tham thoại

- Hành động ở lời: Là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Các ứng xử bằng lời

đều căn cứ vào hành vi ngôn ngữ (hành động ở lời) Hành động ở lời là những lời thoại

tổ chức nên tham thoại, cặp thoại

- Tham thoại: Là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định Tham thoại do hành động ở lời tạo nên

Tham thoại và lợt lời không đồng nhất với nhau Một lợt lời có thể gồm nhiều tham thoại Một tham thoại có thể gồm nhiều lợt lời

b) Cặp thoại

Cặp thoại đợc cấu thành từ các tham thoại Đây là đơn vị lỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại Có thể căn cứ vào số lợng các tham thoại để phân loại các cặp thoại: cặp thoại 1 tham thoại, cặp thoại 2 tham thoại, cặp thoại 3 tham thoại Nội dung cơ bản của một cặp thoại thờng gồm 2 tham thoại chính: dẫn nhập, hồi đáp Tuy nhiên có những cặp thoại mà tham thoại thứ 3 có tính chất đóng lại cặp thoại đó

c) Đoạn thoại

Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp thoại trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề Về ngữ dụng, đó là tính duy nhất về đích Một đoạn thoại thờng có một nội dung đích nhất

định Một cuộc thoại có thể gồm nhiều đoạn thoại, vì có thể nói về nhiều chủ đề

Ngời ta phân đoạn thoại thành các đoạn cơ bản: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại (có thể gồm nhiều đoạn), đoạn thoại kết thúc Đoạn mở thoại và đoạn kết thúc trong một cuộc thoại thờng chỉ là những đoạn có tính chất nghi thức

d) Cuộc thoại

Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất Một cuộc thoại có thể dài, ngắn tuỳ tính chất của cuộc thoại Để xác định một cuộc thoại, có thể dựa vào các tiêu chí sau đây :

- Nhân vật hội thoại: Nói chung một cuộc thoại đợc xác định bởi sự góp mặt, trao

đổi giữa ít nhất 2 ngời hội thoại

Trang 22

- Tính thống nhất về thời gian và địa điểm: Một cuộc thoại thờng xảy ra trong một thời gian và một không gian nhất định.

- Tính thống nhất về đề tài và diễn ngôn: Một cuộc thoại thờng phải có hớng nhất

định từ đầu đến khi kết thúc

Thuật ngữ hội thoại đợc sử dụng trong luận án chủ yếu đợc hiểu là song thoại, có

sự tham gia của các vai giao tiếp trong một cuộc hát (phờng nam, phờng nữ) và đợc thực hiện theo quy trình luân phiên đổi vai Tuy nhiên, ngữ liệu đợc xem xét ở đây là lời HPV đợc su tầm, tập hợp theo từng nhóm lời ứng với các bớc, các chặng nên sự luân phiên đổi vai chỉ phần nào thể hiện đợc trong từng cặp thoại trao - đáp, khó xác định ở lời hát đơn Mặt khác, do lời hát tách khỏi môi trờng diễn xớng nên việc nghiên cứu cũng không có điều kiện xét đến các yếu tố ngôn ngữ cử chỉ nh ánh mắt, động tác, điệu

bộ của ngời hát; ở đây chỉ tập trung xem xét về mặt ngôn từ

Hệ thống ngữ liệu đợc khảo sát trong luận án gồm tổng hợp 1745 lời hát, mỗi lời hát tơng đơng một tham thoại, chủ yếu xuất hiện ở dạng lời đơn (cặp thoại một tham thoại) hoặc cặp lời trao - đáp (cặp thoại 2 tham thoại) Chỉ có 6 trờng hợp xuất hiện ở dạng 3 tham thoại, 2 trờng hợp ở dạng 4 tham thoại, 1 trờng hợp ở dạng 7 tham thoại

Do ngữ liệu đợc tập hợp thành nhóm lời theo từng chặng, từng bớc của cuộc hát, luận

án không có điều kiện xem xét đơn vị hội thoại là đoạn thoại và cuộc thoại

lợt lời (turn at talk), còn gọi là bớc thoại (move) Muốn thực hiện lợt lời thì phải có

cơ hội nhận lợt lời (turn-taking) Cơ hội nhận lợt lời chịu sự chi phối của (hay lệ thuộc

vào) hệ thống điều hành cục bộ (local management system), một hệ thống mang tính xã

hội" [7, tr 69] Quá trình phân phối cơ hội nhận lợt lời theo hệ thống điều hành cục bộ giữa những ngời dự thoại chính là quá trình vận động hội thoại

Trang 23

Trong bất cứ cuộc hội thoại nào, vận động hội thoại giữa các nhân vật cũng thờng bao gồm ba nhân tố: sự trao lời, sự trao đáp và sự tơng tác

a) Sự trao lời (allocution)

Chuỗi đơn vị ngôn ngữ đợc nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lợt lời Đỗ Hữu Châu

đã dùng kí hiệu Sp để chỉ ngời tham gia vào hội thoại, Sp1 là vai nói, Sp2 là vai nghe Sp1, Sp2 và Spn là các đối tác hội thoại [29, tr 205]

Theo đó, sự trao lời là vận động mà Sp1 nói lợt lời của mình ra và hớng lợt lời của mình về phía Sp2 Sự trao lời có thể đợc thực hiện bằng các yếu tố bằng lời hoặc kèm theo các yếu tố phi lời (bao gồm cử chỉ, điệu bộ ) Trong một cuộc song thoại, khi chỉ gồm một ngời nói và một ngời nghe, vấn đề xác định Sp2 không đặt ra Còn trong một cuộc đa thoại thì vận động trao lời có thể hớng tới toàn thể ngời nghe, cũng có thể chỉ nhằm vào một (hoặc một số) ngời nghe trong số đó, tức là Sp1 phải sử dụng những dấu hiệu để định hớng rõ ai là ngời nghe đích thực của lợt lời đó

b) Sự trao đáp (exchange)

Sự trao đáp (hay còn gọi là sự đáp lời) là lợt lời đợc Sp2 thực hiện để đáp lại lợt lời của Sp1 Có sự trao đáp này thì cuộc thoại mới chính thức đợc hình thành Cũng nh sự trao lời, sự đáp lời có thể thực hiện bằng các yếu tố bằng lời hoặc các yếu tố phi lời hoặc kết hợp cả hai

c) Sự tơng tác (interaction)

Sự tơng tác hội thoại là quá trình các nhân vật hội thoại ảnh hởng lẫn nhau, tác

động qua lại với nhau, làm cho nhau biến đổi Một chuỗi các tơng tác nối tiếp nhau gọi

là liên tơng tác Liên tơng tác trong hội thoại trớc hết là liên tơng tác giữa các lợt lời của Sp1 và Sp2, còn gọi là sự liên hoà phối các lợt lời Sự hoà phối này hoàn hảo thì cuộc hội thoại ở cực điều hoà, nhịp nhàng; các lợt lời của Sp1 và Sp2 đợc sắp xếp theo một trình tự trao/đáp luân phiên giữa những ngời dự thoại Ngợc lại, nếu thiếu sự hoà phối nhịp nhàng thì cuộc thoại trở nên hỗn độn với sự xuất hiện của các hiện tợng trùng lời, dẫm đạp lên lợt lời của nhau, cớp lời nhau Do vậy, trong giao tiếp, mỗi nhân vật rất cần thực hiện sự tự hoà phối, tức là tự điều chỉnh hành động, thái độ, lợt lời của mình để

có đợc sự tơng tác tích cực cho cuộc thoại

Trang 24

1.1.2.3 Hàm ý hội thoại và nguyên tắc cộng tác

Trong giao tiếp, ngời nói và ngời nghe cùng tham dự vào cuộc thoại thờng có cộng tác với nhau Sự cộng tác ấy giúp cho ngời nghe tiếp nhận những tiền giả định của ngời nói, từ đó luận giải đợc những điều mà ngời nói cố ý thông báo nhiều hơn cái đợc nói

ra Đó là "thứ ý nghĩa phụ thêm" đợc chuyển tải ngoài những gì mà nghĩa của các từ cung cấp, đợc gọi là hàm ý (implicature)

Theo đó, hàm ý hội thoại (conversational implicatures) đợc hiểu là phần ý nghĩa

đợc truyền đạt nhiều hơn những gì mà nghĩa từ ngữ cung cấp; đặc tính của hàm ý hội

thoại là giải đoán đợc, cản ngăn đợc, huỷ bỏ đợc, tăng cờng đợc Các hàm ý hội thoại

thờng gặp đợc chia ra thành hai lớp lớn là hàm ý hội thoại thông dụng (generalized

conversational implicature, còn dịch là dùng chung hay tổng quát hoá) bao gồm cả

hàm ý thang độ (scalar implicature) và hàm ý hội thoại đặc dụng (particularized

conversational implicature, còn dịch là dùng riêng, hay cá thể hoá) Việc giải đoán

hàm ý hội thoại thông dụng không cần vận dụng đến ngữ cảnh riêng biệt, còn hàm ý hội thoại đặc dụng chỉ có thể nhận biết, giải đoán đợc trên cơ sở vận dụng kiến thức riêng về tình huống cụ thể trong đó nó đợc sử dụng [7, tr 130-134]

Nh vậy, hàm ý hội thoại là thứ hàm ý suy ra đợc trong quá trình hội thoại, gắn với

cách thức thực hiện nguyên tắc cộng tác trong hội thoại, cụ thể hơn là gắn với các

ph-ơng châm hội thoại Điều kiện để có đợc một cuộc thoại là những ngời dự thoại phải hợp tác với nhau trên cơ sở đổi vai trao - đáp trong suốt diễn biến cuộc thoại Việc thực hiện cuộc tơng tác phải theo những nguyên tắc nhất định Các nguyên tắc có mặt trong cuộc tơng tác phổ biến đến mức Grice (1975) đã nâng lên thành nguyên tắc cộng tác (co-operative principle) của hội thoại và chi tiết hoá thành bốn nguyên tắc bậc dới, gọi

là các phơng châm (maxims) hội thoại bao gồm: phơng châm về lợng yêu cầu phần

đóng góp chứa số lợng tin đòi hỏi theo tiêu chuẩn cần và đủ xét theo mục đích của cuộc thoại đó, không chứa nhiều tin hơn; phơng châm về chất yêu cầu phần đóng góp là chân

thực, không nói những điều mà ngời nói không tin là đúng hoặc không có bằng chứng

xác thực; phơng châm về quan hệ yêu cầu phần đóng góp những gì có quan hệ với đề

tài một cách cần thiết (trọng yếu), ngời đa tin cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh

Trang 25

nói lạc đề, ngời nhận tin cần hiểu nghĩa thực ở phát ngôn của ngời phát tin, không ra ngoài đề, ngoài mục đích; phơng châm về cách thức yêu cầu cần phải nói ngắn, gọn, rõ,

có trật tự, không nói tối nghĩa, gây mơ hồ cho ngời nghe Các nguyên tắc cộng tác này

đợc nhiều nhà ngôn ngữ học tán thành, sử dụng, phát triển, mở rộng [7, tr 126-127], [29, tr 229 - 231]

Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, có những lí do chính đáng khiến các phơng châm hội thoại trên có thể bị vi phạm Sử dụng hàm ý là một trong những biểu hiện vi phạm ấy Khi ngời nói cố ý vi phạm một phơng châm hội thoại nào đó, thì cũng tức là ngời nói thông báo một ý nghĩa nào đó bằng hàm ý, và bằng suy luận thông qua tiền giả

định, ngời nghe có thể hiểu đợc hàm ý này

Để sử dụng hàm ý, đòi hỏi phải có sự cộng tác giữa các bên giao tiếp Cụ thể là ngời nói dùng hàm ý phải tính đến năng lực giải đoán hàm ý ở ngời nghe, còn ngời nghe thì ý thức đợc rằng ngời nói đang cùng cộng tác và có chủ định thông báo một

điều gì đó Nếu ngời nói không quan tâm đến năng lực giải đoán hàm ý của ngời nghe thì hàm ý sẽ không đợc nhận biết; ngợc lại, nếu ngời nghe không ý thức về việc ngời nói đang cộng tác với mình thì sẽ không cố gắng giải đoán hàm ý, và hệ quả của cả hai giả thiết trên là việc dùng hàm ý thất bại

Do vậy, trong Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (2009), khi nói về hàm

ý hội thoại, tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: "Muốn dùng hàm ý thành công, trớc hết ngời dự thoại phải cộng tác với nhau, trong đó ngời nói phải tính đến khả năng giải

đoán hàm ý của ngời nghe và ngời nghe phải nắm đợc rằng ngời nói muốn thông báo một điều gì đó (nằm trong hàm ý) và cố gắng hiểu điều đó (cố gắng giải đoán đúng)" [7, tr 137]

Giao tiếp trong HPV là giao tiếp mang tính nghệ thuật, do vậy hầu hết các lời HPV đều chứa hàm ý hội thoại Trong quá trình tham gia hoạt động trao đáp, ngời hát thờng mợn lời hát để gửi gắm tâm t, tình cảm của mình, và ngời nghe có thể luận giải

đợc hàm ý ấy trên cơ sở vận dụng/hoặc không cần vận dụng đến ngữ cảnh riêng biệt Theo đó, những vấn đề liên quan tới ngôn ngữ các vai giao tiếp trong HPV đợc luận án xem xét trên cơ sở hàm ý hội thoại

Trang 26

1.2 Hành động nói

1.2.1 Khái niệm

Trong đời sống xã hội, muốn tồn tại, con ngời phải hoạt động, tức là phải thực hiện những hành động với các phơng tiện cụ thể, các thao tác cụ thể Nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con ngời - hành động thông qua ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ làm công cụ để thực hiện các giao tiếp xã hội nhất định Nh vậy, giao tiếp bằng ngôn ngữ là một dạng hành động xã hội của con ngời

Nói là làm (How to do things with words - Quand dire, c’est faire) là nhan đề một

cuốn sách nổi tiếng của nhà triết học ngời Anh J.L.Austin, ngời khởi xớng ra lí thuyết hành động ngôn ngữ (actes de langage), một lí thuyết làm xơng sống cho ngữ dụng học Thuật ngữ này sau đó đợc một nhà triết học khác là J Searle phát triển Hai ông xác nhận rằng khi sử dụng ngôn ngữ, chúng ta không chỉ tạo ra những phát ngôn có chứa mệnh đề về những đối tợng, những thực thể, sự kiện mà còn thực hiện những chức năng

nh yêu cầu, phủ nhận, xin lỗi v.v , tức là thực hiện các hành động bằng các phát ngôn…

đó Điều đó cũng có nghĩa là khi nói năng, ngời ta thực hiện những hành động nh ngời

ta thực hiện những hành động vật lí khác Vì vậy, chỉ có thể nhận dạng hành động nói (HĐN) do một phát ngôn thực hiện khi biết đợc ngữ cảnh mà phát ngôn diễn ra HĐN chính là ý định về mặt chức năng của mỗi phát ngôn Theo đó, không chỉ các phát ngôn ngôn hành mà tất cả các phát ngôn đều đợc sử dụng để thực hiện các HĐN nhờ hiệu lực riêng của chúng [30, tr 94-95], [67, tr 42], [108, tr 68-69]

Nh vậy, hành động nói (còn gọi là hành động ngôn ngữ, hành vi ngôn ngữ) là những hành động đợc thực hiện bằng các phát ngôn (xin lỗi, than phiền, chỉ dẫn, tán thành, cảnh báo )… [170, tr.96]

1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động nói

HĐN cũng nh mọi hành động vật lí, sinh lí, khi thực hiện cần phải có điều kiện thích hợp Đó là “những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn

ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [27, tr 111]

Có nhiều cách xác định các điều kiện sử dụng HĐN nh cách xác định của J.L.Austin, của J.R.Searle Austin xem điều kiện chung nhất của việc sử dụng các…

Trang 27

hành động ngôn trung (illocutionary acts) là điều kiện "may mắn" (fecility conditions) nếu chúng đợc bảo đảm thì hành động mới thành công Còn theo J.R Searle (1975), để thực hiện HĐN cần có 4 điều kiện tiên quyết: điều kiện nội dung mệnh đề; điều kiện chuẩn bị; điều kiện chân thành; điều kiện căn bản Để minh họa cho quan điểm của mình, ông đã đa ra một số HĐN cùng những điều kiện thoả mãn của chúng bao gồm:

thỉnh cầu, cảm ơn, xác tín, trần thuật, khẳng định, khuyến cáo, hỏi, cảnh cáo, chào, khen ngợi… Hệ thống điều kiện sử dụng HĐN của Searle đợc nhiều nhà ngôn ngữ học

chấp nhận [29], [108], [170]

1.2.3 Phân loại hành động nói

Theo Austin, trong một trờng hợp bất kì, việc hành động đợc thực hiện bằng cách tạo ra một phát ngôn cũng đều gồm có ba hành động liên quan nhau: hành động tạo ngôn (locutionary act) là việc sản xuất ra một biểu thức ngôn ngữ có đủ nghĩa; hành

động ngôn trung (illocutionary act) đợc thực hiện bằng một lực thông báo của một phát

ngôn, còn gọi là lực ngôn trung (illocutionary force); hành động dụng ngôn

(perlocutionary act) là sự chủ định làm cho phát ngôn có một hiệu quả Từ đó ông đa ra kết luận:“Thuật ngữ hành động nói nhìn chung đ‘ ’ ợc giải thích rất hẹp, chỉ có nghĩa là lực ngôn trung của một phát ngôn” Và phơng tiện chỉ ra lực ngôn trung thờng là một biểu thức, trong đó có một ô dành cho một động từ gọi tên một cách hiển ngôn cái hành

động ngôn trung đang đợc thực hiện”, đợc gọi là động từ ngôn hành“ ” (performative verb) [170, tr 97-99].

Có nhiều cách phân loại HĐN khác nhau nh cách phân loại của J.L Austin, của J.S.Searle, của D.Wunderlich, F.Recanati, của K.Bach và R.M.Harnish [29, tr.20-38] Trong đó cách phân loại của Searle đợc nhiều ngời chấp nhận [6, tr 236-237, 633], [29,

tr 123-126], [67, tr 4-51], [108, tr 88], [170, tr 106-109]

J.R Searle cho rằng có ít nhất 12 tham tố để xác định HĐN, trong số đó một số tham tố đợc coi là cơ bản gồm: (i) đích ngôn trung; (ii) hớng khớp ghép của lời nói và hiện thực đợc nói đến; (iii) trạng thái tâm lí đợc diễn đạt của ngời nói và (iv) nội dung mệnh đề [4, tr 236, 633], [108, tr 88]

Trên cơ sở các tham tố đã đợc phát hiện, Searle đã đề xuất 5 lớp HĐN gắn với 5 chức năng tổng quát:

Trang 28

Các HĐN đề cập trong luận án dựa trên hệ thống phân loại này.

1.2.4 Hành động nói trực tiếp và hành động nói gián tiếp

Câu với t cách là lời trao đổi có quan hệ trực tiếp với việc thực hiện các HĐN Xung quanh quan hệ với cấu trúc thức của câu, tiếng Việt có 4 kiểu câu: Câu trình bày (declarative - còn dịch là câu tờng thuật), câu nghi vấn (interrogative), câu cầu khiến, hay câu mệnh lệnh (imperative), câu cảm thán (exclamative) Số lợng kiểu câu có cấu trúc thức trong các ngôn ngữ là rất hạn chế, còn số lợng các HĐN thì khá nhiều và khá phức tạp Trong thực tế, một kiểu câu có thể thực hiện nhiều HĐN cụ thể khác nhau,

đồng thời một HĐN cũng có thể đợc diễn đạt bằng những kiểu câu khác nhau

Để thực hiện ý định của mình, ngời nói thực hiện HĐN chủ yếu theo một trong hai cách sau: Sử dụng HĐN trực tiếp và sử dụng HĐN gián tiếp Do vậy, muốn nhận biết cách sử dụng HĐN trực tiếp và HĐN gián tiếp, cần biết các thái độ (mục đích, đích ngôn trung) của ngời nói nếu đợc diễn đạt ra bằng từ ngữ thì có hình thức nh thế nào

Cụ thể các thái độ của ngời nói có thể đợc diễn đạt thành lời nh sau:

Ngời nói tin chắc rằng…” trong hành động trình bày.

Trang 29

Ngời nói muốn biết…” trong hành động hỏi.

Ngời nói muốn ngời nghe làm…” trong hành động điều khiển.

Ngời nói lấy làm ngạc nhiên rằng…” trong hành động bộc lộ cảm xúc.

Các mục đích nói này là cơ sở xác định các chức năng tơng ứng của câu trong sử dụng: chúng giúp nhận biết một câu cụ thể đợc dùng theo lối trực tiếp hay gián tiếp

1.2.4.1 Hành động nói trực tiếp

HĐN trực tiếp là “hành động có sự t ơng ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên”[108, tr 88] Có nghĩa là chừng nào có mối dây liên hệ

trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì ta có một HĐN trực tiếp” HĐN trực

tiếp đợc thực hiện bằng những đơn vị tơng đối trọn vẹn có thể lớn hơn một câu, chúng

đợc phân biệt thành hai trờng hợp cụ thể: Trờng hợp sử dụng câu ngôn hành tờng minh

và trờng hợp sử dụng câu ngôn hành hàm ẩn [170, tr 109-111]

1.2.4.2 Hành động nói gián tiếp

HĐN gián tiếp là hành động không có sự tơng ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên

bề mặt với hiệu lực của nó gây nên” [108, tr 88], và mối quan hệ giữa một cấu trúc và

một chức năng là mối quan hệ gián tiếp Đó là những câu có đặc điểm về thức có thể

đ-ợc sử dụng không đúng với chức năng (mục đích nói) vốn có của nó, nh dùng câu nghi vấn để nhận định một sự việc nào đó hoặc để nêu yêu cầu, đề nghị; dùng câu trình bày

để hỏi, để đề nghị; dùng câu nghi vấn để nêu yêu cầu

1.3 Về ngôn ngữ và giới tính

1.3.1 Giới và giới tính

Giới tính (sex) và giới (gender) là hai khái niệm tuy có liên quan nhng lại có

những nội hàm khác nhau cần phải phân biệt Theo các nhà khoa học, nữ giới và nam giới khác nhau ở hai khía cạnh: thể chất (sinh lí học) và xã hội Giới tính (hoặc giống“ ”) chỉ sự khác biệt về mặt thể chất giữa nam và nữ Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do các yếu tố di truyền tự nhiên quy định Nói đến

giống là nhấn mạnh đến tính ổn định, bất biến về một số đặc điểm về chức năng sinh lí

của nam/nữ Đây là những chức năng tự nhiên, hầu nh không bao giờ thay đổi

Trang 30

Khái niệm giới chỉ mối quan hệ xã hội, mối tơng quan giữa địa vị xã hội của nam

và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể Nói đến giới là nói đến điều kiện và yếu tố xã hội

quy định vị trí, vai trò, hành vi xã hội của mỗi giới trong hoàn cảnh cụ thể; vị trí, vai trò, hành vi xã hội của mỗi giới không phải là bất biến mà thay đổi khi các điều kiện quy định chúng thay đổi

1.3.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính

Một trong những mối quan tâm của ngôn ngữ học xã hội là vấn đề giới tính trong ngôn ngữ Từ hai hớng tiếp cận chính là ngôn ngữ của mỗi giới và ngôn ngữ nói về mỗi giới, các công trình nghiên cứu và khảo nghiệm đã xác định rõ mối quan hệ giữa ngôn

ngữ và giới tính thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau, nhng kết luận chung nhất là

đều chỉ ra sự khác biệt về ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới

Về ngôn ngữ của giới, sự khác biệt thể hiện trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa

nam và nữ trên các phơng diện: đặc điểm sinh lí cấu âm; đặc trng âm vị, từ vựng, cú pháp; phong cách ngôn ngữ Trong công trình nghiên cứu về một số đặc trng âm vị tiếng Anh của ngời da trắng ở Mỹ, Labov (1966) đã đa ra chứng cứ về mặt số lợng cho thấy nữ giới có xu hớng dùng các âm vị chuẩn mực nhiều hơn nam giới, và ở phong cách thận trọng phụ nữ ít dùng biến thể phi chuẩn hơn nam, mẫn cảm với mô hình uy tín hơn nam [100, tr 187] Còn nhà ngôn ngữ học ngời Mĩ R Lakoff (1975) trên cơ sở tiến hành khảo sát cách sử dụng tiếng Anh của giới nữ trung lu ở Mĩ trong môi trờng sống và làm việc của họ đã rút ra một số kết luận về khuynh hớng ngôn ngữ của giới nữ trung lu: nữ giới có khuynh hớng lên giọng ở cuối câu, sử dụng những biến thể ngữ âm

uy tín, hay dùng cách nói rào đón, nghiêng về tính lịch sự nhng lại thiếu óc hài hớc hơn

so với nam giới (Dẫn theo [89, tr 14-15]) …

Kết quả của hớng nghiên cứu quan niệm giới tính trong ngôn ngữ lại cho thấy

những dấu hiệu thể hiện sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính trong ngôn ngữ, trong

đó, sự bất bình đẳng nghiêng về giới nữ Sự phân biệt đối xử này thể hiện rõ nhất là ở bình diện cấu tạo từ ở những ngôn ngữ có phạm trù giống (tiếng Nga, tiếng Đức), các

từ gọi tên nghề nghiệp và các danh từ gọi tên sự vật, hiện tợng thờng ở dạng thức giống

đực nhiều hơn giống cái; các danh từ giống đực có thể bao hàm chỉ chung cả hai giới (hiện tợng này không xảy ra đối với các danh từ giống cái) Chẳng hạn nh, hàng loạt từ

Trang 31

tiếng Anh đợc cấu tạo có yếu tố man phản ánh về vị thế xã hội của nam quyền, theo đó,

một loạt từ trong tiếng Anh cũng phải có yếu tố man nh: "phụ nữ" (woman), "loài ngời,

nhân loại" (hu man, mankind) Sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính còn thể hiện

trong cấu tạo từ qua hiện tợng đặt từ "phụ nữ" trớc một số từ chỉ chức danh nghề nghiệp xuất hiện ở một số ngôn ngữ nh tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Anh: nữ kĩ s, nữ bác sĩ, nữ phóng viên, nữ giám đốc (Dẫn theo [93, tr.151]) Hiện tợng này cho thấy trong quan niệm của xã hội, dờng nh có sự quy ớc những chức danh, nghề nghiệp này dành cho nam giới là đơng nhiên, còn đối với nữ giới, phải bổ sung yếu tố giới tính "nữ" vào trớc danh từ mới rõ ý nghĩa định danh

Trong một bài viết có tên gọi "Ngôn ngữ của chúng ta phải chăng là việc của nam giới", Michael Steindl (2002) khi nghiên cứu phạm trù giống trong các từ gọi tên các nghề và các danh từ gọi tên một hành động xảy ra trong tiếng Đức, đã nhận thấy ngời ta

sử dụng các từ có dạng thức giống đực Cụ thể nh: Theo một cách đọc thì những từ

khách hàng, thính giả, chủ toạ cuộc họp, th kí v.v chỉ thuộc về giới nam; còn theo

cách đọc khác thì họ có thể thuộc về nhóm bao gồm cả hai giới Chỉ có một cách đọc không thể nào chấp nhận đợc, đó là tất cả những khách hàng, những thính giả, những ngời chủ toạ cuộc họp đều là giới nữ Từ đó, tác giả đặt ra vấn đề: Phải chăng đây là

vấn đề về quyền bình đẳng giữa nam giới và nữ giới thể hiện trong cách dùng ngôn ngữ, cái gọi là quan niệm về giới tính trong ngôn ngữ? Hay tình hình trên "chỉ là tính kinh tế trong ngôn ngữ mà thôi" [144, tr 1-2]

Kết quả các công trình nghiên cứu đã có về quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính cho thấy ba vấn đề:

Thứ nhất, sự khác biệt về sinh lí cấu âm của mỗi giới dẫn đến sự khác biệt âm thanh ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới nh: âm thanh ngôn ngữ của nữ giới thờng

trong và cao, âm thanh ngôn ngữ của nam giới thờng trầm và đục

Thứ hai, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa giới nam/giới nữ còn thể hiện ở ngôn ngữ nói về mỗi giới Đây là sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới tính thể hiện trong ngôn ngữ nh: sự định kiến về giống, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, kết cấu của những diễn ngôn có nội dung phân biệt đối xử về giới Hầu nh ngôn ngữ của các quốc

Trang 32

gia, dân tộc đều có những phơng tiện, yếu tố chỉ dùng cho giới này mà không thể dùng cho giới khác

Thứ ba, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa giới nam/giới nữ thể hiện qua ngôn ngữ

mà mỗi giới sử dụng nh cách diễn đạt, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu thị cùng một vấn

đề Đây là sự khác nhau trên bình diện phong cách ngôn ngữ mang yếu tố giới tính Thực tế cho thấy, những kinh nghiệm khác nhau về xã hội của nam giới và nữ giới cũng

nh sự phân bố quyền lực khác nhau trong xã hội nhiều khi là nguyên nhân dẫn tới cách

sử dụng và cách hiểu ngôn ngữ của hai giới không giống nhau Chẳng hạn nh nữ giới quan tâm nhiều hơn tới việc tạo dựng các mối quan hệ, do vậy thờng chọn ngôn ngữ giao tiếp hớng vào sự hợp tác (sự mềm mại về thanh điệu, uyển chuyển về cách lập luận, ); trong khi đó, nam giới thờng có tính độc lập cao hơn, do đó, hành động tơng tác của họ chủ yếu mang tính cạnh tranh và hớng tới sự điều khiển (dùng âm lợng mạnh hơn, ít từ ngữ đa đẩy rào đón hơn )

Với phạm vi nghiên cứu đã xác định, luận án chủ yếu tập trung xem xét vấn đề ngôn ngữ giới tính qua các vai giao tiếp Ngoài ra, có đề cập tới một vài bình diện liên quan ngôn ngữ nói về mỗi giới nh: các lớp từ đặc trng, các biểu tợng nói về giới, tuy

nhiên những vấn đề này cũng đợc xem xét trên cơ sở gắn với lời của vai giao tiếp

1.3.3 Cơ sở của sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới

Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa nam và nữ xuất phát từ những nguyên nhân nhất định Để lí giải hiện tợng này, hiện

đang có một số hớng tiếp cận sau:

Hớng thứ nhất cho rằng sự khác biệt là do đặc điểm về sinh học bẩm sinh của mỗi giới tác động đến tinh thần và tâm tính, tạo ra sự khác biệt về ngôn ngữ của giới Chẳng hạn, nữ giới thờng cố gắng vơn tới sự phụ thuộc lẫn nhau giữa mọi ngời, do vậy, quan tâm đến việc tạo dựng các mối quan hệ, còn nam giới lại có xu hớng khẳng định tính

độc lập trên các thứ bậc quan hệ Một số nhà nghiên cứu cho rằng sự khác biệt về ngôn ngữ giữa nam và nữ còn xuất hiện ở vùng não bộ, dẫn tới sự khác biệt trong sử dụng, tiếp nhận ngôn ngữ ở nam giới, nữ giới (Dẫn theo [44, tr 50-52])

Hớng thứ hai nhấn mạnh sự ảnh hởng của xã hội cũng nh địa vị xã hội của mỗi giới dẫn đến hiện tợng khác biệt về ngôn ngữ giữa nam và nữ Những định kiến xã hội

Trang 33

cùng những kinh nghiệm khác nhau về xã hội của nam và nữ đã dẫn đến những cách thức sử dụng và hiểu ngôn ngữ khác nhau Với quan niệm "nam tôn nữ ti", nữ giới ở vào địa vị phụ thuộc, bị hạn chế phát huy khả năng của bản thân cả ngoài xã hội và trong gia đình, do vậy, so với nam giới, họ hạn chế về vốn ngôn ngữ, thờng chọn cách nói nhẹ nhàng, vòng vo, thích thể hiện sự tuân thủ và thích làm hài lòng ngời khác Trong một công trình nghiên cứu trên cơ sở kết quả điều tra phơng ngữ đô thị ở thành phố Norwich, xuất phát từ góc độ giới tính, Peter Trudgill (1972) đã đa ra nhận xét:

"Các nữ nghiệm viên" đã "sử dụng các dạng thức có liên quan đến chuẩn uy tín ở mức thờng xuyên hơn các nam nghiệm viên"; và nhìn chung phụ nữ "ý thức về vị thế ở mức cao hơn nam giới", vì thế "có ý thức hơn nam giới về ý nghĩa xã hội của các biến ngôn ngữ" Để giải thích điều này, tác giả nêu ra 2 lí do chính: (1) Do vị trí xã hội của phụ nữ

"ít đảm bảo hơn nam giới", và "thờng thấp hơn vị trí của nam giới", có thể vì thế mà phụ nữ thấy cần phải "ghi nhận vị trí xã hội của mình bằng các phơng tiện ngôn ngữ"; (2) Do "ngôn từ của tầng lớp lao động, cũng nh các khía cạnh văn hoá khác của tầng lớp này, dờng nh là có các hàm ý về nam tính"; chẳng hạn nh coi "tính thô lỗ và cứng rắn" là "đặc điểm nam tính đợc a thích", còn sự "lịch lãm" và "tế nhị" là những đặc trng

a thích hơn ở phụ nữ [162, tr 211-212]

Hớng giải thích thứ ba quy cho sự khác nhau cơ bản của giới trong hành động ứng

xử ngôn ngữ là sự phân bố quyền lực khác nhau trong xã hội Vận dụng lí thuyết giao tiếp (mục đích và chiến lợc giao tiếp), một số nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích

đặc trng phong cách ngôn ngữ nữ giới nhằm làm rõ mối quan hệ nội tại giữa trạng thái tâm lí với hiệu ứng của ngời giao tiếp, từ đó cho rằng nữ giới là những thành viên không

có thế lực, thuộc nhóm dới quyền nên thờng lịch sự hơn so với nam giới Phân tích một cách cụ thể vấn đề này, Brown và Levinson (1987) đã nhấn mạnh tình thân hữu nh là

đặc trng của nhóm ngời dới quyền, do vậy, nhóm ngời dới quyền thờng hớng tới sự nhấn mạnh về lợi ích Khi khảo sát yếu tố lịch sự trong giao tiếp dới tác động của các tham tố trong tình huống giao tiếp (nh quyền thế, khoảng cách, thể diện), P Brown đã cho rằng, nếu phong cách nói năng của nữ giới lịch sự hơn của nam giới thì có thể là do khách thể giao tiếp của nữ giới đã làm cho nữ giới phải tạo ra đợc phong cách nói năng nữ tính (Dẫn theo [44, tr 52], [93, tr.166])

Trang 34

Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn xuất phát từ vai xã hội với "thiên chức" của ngời phụ nữ để khẳng định rằng cách nói năng của phụ nữ mang cả sứ mệnh "dẫn dắt",

từ đó đặt ra giả thiết "phải chăng đây cũng là lí do để cách nói năng của nữ giới mang phong cách nữ tính?"[93, tr 165] Theo hớng phân tích này, với vai trò là ngời vợ, ngời

mẹ trong gia đình, việc đảm nhận trách nhiệm chính trong nuôi con và dạy con "học ăn, học nói" đã khiến cho phụ nữ ý thức về tính tất yếu phải sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, ngôn ngữ lịch sự (hơn đàn ông) Ngoài xã hội, một số công việc (nghề nghiệp) phù hợp với nữ giới nh văn phòng, th kí, bảo mẫu, giáo dục, chữa bệnh v.v đòi hỏi họ, dù muốn hay không, phải tuân thủ các quy tắc giao tiếp (về lịch sự, hội thoại) mới có thể thành công trong công việc

Có thể nói, khác biệt giới tính là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ, đợc hình thành bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Về nguyên nhân tự nhiên, đó là do cấu tạo cơ thể ngời (bao gồm vị trí của phần "chứa" ngôn ngữ ở trong não bộ và đặc điểm

về sinh lí cấu âm riêng của mỗi giới) tạo nên sự khác biệt trong sử dụng và tiếp nhận ngôn ngữ cũng nh về âm lợng, âm sắc lời nói Về nguyên nhân xã hội, sự khác biệt trong ngôn ngữ giới tính do nhiều nhân tố, bao gồm yếu tố văn hoá, sự phân bố quyền lực và địa vị xã hội cũng nh sự phân công lao động và kinh nghiệm về xã hội của mỗi giới Nếu đặc điểm ngôn ngữ giới tính hình thành do nguyên nhân tự nhiên hầu nh là

"bất biến" thì những đặc điểm hình thành do nguyên nhân xã hội thờng có khuynh hớng

điều chỉnh, thay đổi để phát triển và thích nghi nh có nhà nghiên cứu đã nhận xét: Tuỳ thuộc vào vai xã hội - gia đình cũng nh bối cảnh giao tiếp cụ thể,"mỗi cá nhân nữ giới

sử dụng ngôn ngữ mang phong cách nữ tính hay mang phong cách trung tính thậm chí

có thể thiên về phong cách nam tính"; do đó"ngày nay có nhiều nữ giới sử dụng phong cách nói năng gần với phong cách nói năng của nam giới" [93, tr 162]

1 4 Về NGÔN NGữ Và VĂN HOá

1.4.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ v v à ăn hoá

Trong khoa học xã hội, văn hoá là một trong những thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa Theo Phan Ngọc, "cho đến nay đã có ngót bốn trăm định nghĩa khác nhau";

và"vì dân tộc nào cũng có văn hoá, vì bất kì cái gì ta hình dung cũng có mặt văn hoá ,

Trang 35

cho nên không thể tìm một định nghĩa thao tác luận cho văn hoá nếu dựa vào xã hội

học, kinh tế, chính trị v.v " [120, tr 114]

Gần đây, UNESCO xác định: "Văn hoá hôm nay có thể coi l một tổng thể những à nét riêng biệt tinh thần v vật chất, trí tuệ v xúc cảm quyết định tính cách của một xã à à hội hay của một nhóm ngời trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngỡng Văn hoá đem lại cho con ngời khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá l m cho chúng ta trở th nh những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí à à tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hoá mà con ngời tự thể hiện, tự ý thức đợc bản thân, tự biết mình l một ph à ơng án cha hoàn thành đặt ra

để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới

mẻ và tạo nên những công trình vợt trội lên bản thân" (dẫn theo [12, tr 48]).

Giữa văn hoá và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ Là hệ thống kí hiệu với chức năng quan trọng là phơng tiện giao tiếp, ngôn ngữ chính là chiếc cầu bắc qua giữa các dân tộc có nền văn hoá khác nhau, mở rộng giao lu, trao đổi văn hoá giữa các cộng

đồng ngời Dù diễn đạt bằng cách nào, ngôn ngữ cũng là thành tố của văn hoá, là tiền

đề cho văn hoá phát triển Nói cách khác, văn hoá bao hàm ngôn ngữ nhng ngôn ngữ lại

là một phơng diện tác động tích cực đối với quá trình hình thành và phát triển của một nền văn hoá Chính ngôn ngữ cùng với lao động là những tiền đề giúp con ngời cải tạo thế giới và cải tạo bản thân mình Ngôn ngữ là phơng tiện để con ngời nhận thức và mô hình hoá thế giới khách quan, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn và sáng tạo những mô hình, phơng thức tồn tại mới

Trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cơng, F.d Saussure đã coi cả văn hoá và ngôn

ngữ đều là "thiết chế xã hội", hoạt động ngôn ngữ cũng nh hoạt động văn hoá đều thuộc

loại hoạt động tinh thần Ông khẳng định:“Phong tục của một dân tộc tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [141, tr 17].

Còn Sapir khẳng định ngôn ngữ và văn hoá quan hệ khăng khít với nhau Quan hệ

đó chặt chẽ tới mức sẽ không thể hiểu và đánh giá đúng đợc cái này nếu không có kiến

Trang 36

thức về cái kia: “Văn hoá có thể định nghĩa là cái mà một xã hội làm và suy nghĩ Còn ngôn ngữ là một phơng tiện đặc biệt để t duy Trong ý nghĩa là từ vựng của một ngôn ngữ phản ánh ít nhiều trung thành với cái nền văn hoá mà ngôn ngữ đó phục vụ, thì một điều hoàn toàn đúng là lịch sử của ngôn ngữ và lịch sử của văn hoá chuyển động theo những đờng song song" [140, tr 270]

Đối với thơ ca dân gian, mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ càng thể hiện rõ Hình thành và phát triển từ trong lao động, thơ ca dân gian phản ánh tâm t, tình cảm và

đời sống tinh thần vốn vô cùng phong phú, phức tạp của con ngời Theo đó, các đặc

tr-ng văn hoá cộtr-ng đồtr-ng là nền tảtr-ng để hình thành văn học dân gian nói chutr-ng và thơ ca dân gian nói riêng ở chiều tác động trở lại, văn học dân gian nói chung, thơ ca dân gian nói riêng lại có ý nghĩa phản ánh và lu giữ quá trình hình thành, phát triển của văn hoá cộng đồng

Thực sự, việc xác định nội dung cụ thể của nội hàm thuật ngữ văn hoá cũng nh mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá là vô cùng phức tạp, trừu tợng Trong điều kiện hạn chế, luận án chỉ đề cập tới yếu tố văn hoá từ một góc độ cụ thể: xem xét một số yếu

tố văn hoá trong mối quan hệ với giới tính thể hiện qua ngôn ngữ HPV Nghệ Tĩnh

1.4.2 Sơ lợc về đặc trng văn hoá giao tiếp của ngời Việt

Nằm trong khu vực Đông Nam á, một khu vực có một chỉnh thể riêng biệt về văn

hoá, lịch sử, c dân "ra đời và phát triển trên nền tảng kinh tế nông nghiệp, kinh tế lúa ớc", Việt Nam cũng là đất nớc có nền "văn hoá lúa nớc", cho nên từ suy nghĩ, cách làm, giao tiếp, lễ hội, kiến trúc đã "pha đậm màu sắc đó" Quan hệ xã hội của ngời Việt Nam chủ yếu là quan hệ dòng tộc, láng giềng, làng xóm Theo đó, với ngời Việt Nam, làng không chỉ là đơn vị hành chính mà còn là nơi lu truyền ngôn ngữ và văn hoá dân gian, nền tảng của ngôn ngữ và văn hoá dân tộc; biểu tợng“cây đa, bến n ớc, sân đình”

n-là nét văn hoá đặc trng của n-làng quê Việt Nam

Bên cạnh đó, trong cách ứng xử với môi trờng tự nhiên, đó là ý thức tôn trọng và

-ớc vọng sống hoà bình với thiên nhiên; trong lối sống ứng xử với môi trờng xã hội, đó

là thái độ dung hợp trong tiếp nhận, mềm dẻo, hiếu hoà trong đối ngoại Về mặt tổ chức

Trang 37

cộng đồng, đó là nguyên tắc trọng tình và thái độ trọng đức, trọng tài, trọng phụ nữ

Đây cũng là những nét đặc trng cụ thể của loại văn hoá gốc nông nghiệp điển hình [12, tr 57-88], [155, tr 22-25] (xem Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Các đặc trng của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp

Nghề chính

Nắng nóng lắm, ma ẩm nhiều

Trồng trọtứng xử với môi trờng tự nhiên Sống định c, thái độ tôn trọng, ớc mong sống

hoà hợp với thiên nhiên

hệ); chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm

Nguồn: Trần Ngọc Thêm (1977) [154]

Đặc điểm kinh tế chủ yếu của Việt Nam là nghề nông vốn phụ thuộc vào thiên nhiên, do đó, đặc trng nổi bật của văn hoá Việt Nam là tính cộng đồng, tổ chức nông

thôn Việt Nam đợc liên kết rất chặt chẽ theo các yếu tố chính: theo huyết thống nông

thôn đợc tổ chức thành gia đình và gia tộc; theo địa bàn c trú nông thôn đợc tổ chức

thành xóm và làng; theo đơn vị hành chính nông thôn đợc tổ chức thành thôn và xóm;

theo nghề nghiệp và sở thích nông thôn đợc tổ chức thành phờng và hội; theo truyền

thống nam giới đợc tổ chức theo giáp…Trong một làng, phần lớn ngời dân đều làm

nông nghiệp Ngoài ra, còn có những bộ phận c dân sinh sống bằng nghề khác Họ liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm nguyên tắc tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành đơn vị gọi là phờng ở nông thôn có thể gặp hàng loạt phờng

nh phờng gốm, phờng nề, phờng chài, phờng vải, phờng nón, phờng giấy, phờng mộc [155]

1.5 Phơng ngữ x hội ã

1.5.1 Phơng ngữ

Mặc dù mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ thống nhất chung nhng giữa các vùng, miền địa lí khác nhau thờng xuất hiện những biến dạng ngôn ngữ trong cách sử dụng của ngời dân địa phơng Hiện tợng này trong tiếng Anh đợc gọi bằng thuật ngữ dialect,

trong tiếng Pháp đợc gọi bằng hai từ: dialecte, patois Trong đó, thuật ngữ dialect trong

Trang 38

tiếng Anh dùng để chỉ cả phơng ngữ có chữ viết lẫn phơng ngữ không có chữ viết, cả biến thể địa lí lẫn biến thể xã hội của ngôn ngữ; đồng thời dới con mắt của ngời Anh, phơng ngữ là biến thể ngôn ngữ không chính thức, chỉ dùng trong các tầng lớp thấp hoặc ở nông thôn Còn trong tiếng Pháp, dialect là khái niệm chỉ các biến thể địa lí của

một ngôn ngữ có mối liên hệ với truyền thống văn học, patois chỉ là biến thể mang tính

khẩu ngữ và dờng nh có cái gì đó kém hơn (bởi thiếu yếu tố văn học) [93, tr 108]

ở tiếng Việt, hiện tợng này đợc diễn tả bằng nhiều tên gọi khác nhau: phơng ngữ, phơng ngôn, tiếng địa phơng Theo tác giả Hoàng Thị Châu: "Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phơng ngữ khác"

[31] Những khác biệt ấy xuất phát từ các nguyên nhân: nguyên nhân về địa lí, về đặc

điểm lịch sử, nguyên nhân về xã hội, theo đó, phơng ngữ đợc xem xét trên hai bình diện: phơng ngữ địa lí và phơng ngữ xã hội

Trong thực tế giao tiếp, việc xác định đờng ranh giới trong phơng ngữ địa lí có phần dễ dàng nhờ những căn cứ tơng đối khách quan nh: những vật định mốc tự nhiên phân chia các vùng địa lí nh núi đồi, sông suối hoặc cũng có thể là các mốc lịch sử về việc tách hoặc hợp nhất giữa các vùng v.v Còn việc xác định đờng ranh giới trong ph-

ơng ngữ xã hội không phải lúc nào cũng có những điều kiện thuận lợi nh vậy bởi vì tiêu chí nhận diện phơng ngữ xã hội phụ thuộc vào các thông số xã hội, mà các thông số này thờng có sự biến đổi

Xuất phát từ nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, luận án chủ yếu vận dụng những vấn đề lí thuyết của phơng ngữ xã hội để xem xét, khảo sát lời HPV

1.5.2 Phơng ngữ xã hội

Theo quan niệm phổ biến, "phơng ngữ xã hội là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định", và "chỉ khác với ngôn ngữ chung toàn dân về đôi cách phát âm, về một số từ vựng nghề nghiệp, nh từ ngữ của phờng thợ săn, ng dân, thợ gốm, thợ giày" Ngoài ra,

đó còn là tiếng lóng, biệt ngữ, ẩn ngữ của một nhóm ngời nhất định [153, tr 14]

Giữa phơng ngữ địa lí và phơng ngữ xã hội có mối quan hệ khá chặt chẽ Cụ thể là

sự vận dụng phơng ngữ trong những ngời có cùng địa bàn c trú nhng lại có sự khác nhau tuỳ thuộc vào nghề nghiệp, vị trí xã hội, hoàn cảnh xuất thân Khi có sự chi phối

Trang 39

của hoàn cảnh xã hội vào phơng ngữ thì phơng ngữ không đơn thuần giới hạn về mặt

địa lí nữa mà nó trở thành phơng ngữ xã hội Nói cách khác, sự hình thành phơng ngữ xã hội có liên quan chặt chẽ đến thuộc tính xã hội của ngời giao tiếp đợc hình thành trên cơ sở của hàng loạt các tiêu chí nh giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, trình độ văn hoá,v.v Nh… vậy cũng có hiểu rằng sự sắp xếp xã hội nh đã đề cập trên là những yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ, tạo nên đặc điểm về phơng ngữ trong cách sử dụng Gắn liền với sự phát triển xã hội nên phơng ngữ xã hội cũng thay

đổi tuỳ theo các điều kiện xã hội khác nhau Do vậy, sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ địa phơng cũng nh việc ảnh hởng trực tiếp của điều kiện xã hội lên nó đã làm cho phơng ngữ ngày càng có tính chất xã hội hoá cao

Mặt khác, phơng ngữ xã hội có liên hệ mật thiết với "chuẩn" và sự biến đổi ngôn ngữ Mỗi ngôn ngữ đều tồn tại những "chuẩn" nhất định gồm các quy tắc đợc hình thành từ "uy tín" về ngôn ngữ hoặc từ "truyền thống" vốn có từ trớc Và ngời nói đã vận dụng những "chuẩn" này để hiện thực hoá quyền tự do biểu đạt ý tởng của mình mà giao tiếp trong hoàn cảnh, điều kiện thích hợp Đây cũng là quá trình mà mỗi ngời, mỗi cộng đồng xã hội có thể góp thêm cái mới để sự giao tiếp đạt đợc kết quả cao hơn Cứ thế, khi cái mới nào đợc cộng đồng chấp nhận thì cũng có nghĩa là đang hình thành những "chuẩn" mới cho phơng ngữ đó [153, tr 23]

Nh vậy, mối quan hệ chặt chẽ và không thể tách rời giữa ngôn ngữ và xã hội đã

đ-ợc các nhà nghiên cứu ngôn ngữ sớm thừa nhận và khẳng định Thông qua sự phát triển của ngôn ngữ, có thể hình dung đợc sự phát triển của xã hội và ngợc lại, đời sống xã hội cũng đã đợc phản ánh một cách trung thực trong ngôn ngữ Một trong những chức năng quan trọng của ngôn ngữ là giao tiếp, đồng thời khi giao tiếp, ngôn ngữ đợc biểu hiện chủ yếu bằng phơng ngữ Tuy nhiên, việc sử dụng phơng ngữ vào giao tiếp phụ thuộc các yếu tố xã hội của ngời phát ngôn, và khi đó, phơng ngữ trở thành phơng ngữ xã hội.HPV là một hình thức giao tiếp mang tính nghệ thuật Việc sử dụng phơng ngữ vào lời hát đợc các vai giao tiếp thực hiện một cách linh hoạt, sinh động, do đó, mang lại những giá trị đặc sắc riêng cho thể hát ví này Dấu hiệu của phơng ngữ thể hiện trên nhiều phơng diện: cách sử dụng từ ngữ (hệ thống từ địa phơng Nghệ Tĩnh, nhất là từ x-

ng hô, lớp từ chỉ không gian, thời gian, lớp từ chỉ công việc )… ; cách sử dụng nghệ

Trang 40

thuật chơi chữ (nói lái, đồng âm, đồng nghĩa ) Những biểu hiện của ph… ơng ngữ Nghệ Tĩnh trong HPV sẽ đợc xem xét trong các chơng tiếp theo.

1.6 hát ví phờng vải Nghệ Tĩnh và việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới tính

1.6.1 Vài nét về xứ Nghệ và văn hoá giao tiếp của ngời Nghệ Tĩnh

1.6.1.1 Xứ Nghệ trong dòng chảy lịch sử và văn hoá Việt Nam

Nghệ Tĩnh là dải đất kéo dài từ 17,5 đến 19,3 độ vĩ Bắc, 104 đến 106,2 độ kinh

đông với diện tích 16 ngàn cây số vuông, đợc tính từ khe Nớc Lạnh (phía Bắc) đến Đèo Ngang (phía Nam); có núi rừng trùng điệp, đồng bằng phì nhiêu, sông ngòi chi chít; phía Đông giáp biển, phía Tây chung biên giới với nớc Lào

Nói xứ Nghệ là nói chung cả Nghệ An và Hà Tĩnh Xét theo chiều dài lịch sử Việt Nam, địa danh này đã trải qua nhiều thay đổi: có khi là một huyện, một quận, một châu, một trấn, một thừa tuyên, một tỉnh, một trại; lúc phân lúc hợp, chia tách sáp nhập Nhng dù tên gọi của dải đất này khi là Việt Thờng thời cổ, có khi là Hoan Châu, là An Tịnh hay Nghệ Tĩnh khi hợp nhất, Nghệ An - Hà Tĩnh khi chia tách, đất này vẫn đợc gọi bằng một tên chung là xứ Nghệ, vùng văn hoá có chung dãy núi Giăng Màn - Thiên Nhẫn, chung núi Hồng - sông Lam, chung giọng nói, phong tục, chung câu hò điệu ví Với một vị trí địa lí đắc địa, phía Bắc giáp Thanh Hoá, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Tây tựa lng vào dải Trờng Sơn, phía Đông nhìn ra biển, Nghệ Tĩnh đợc nhà nghiên cứu phong thổ Phan Huy Chú đánh giá là “Nơi núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tợng tơi sáng, gọi là đất danh tiếng hơn cả Nam Châu ” (Dẫn theo [64, tr 20]) Đây cũng là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hoá, từ xa xa đã từng đợc coi là biên trấn, viễn trấn, phên dậu của nớc Đại Việt Nói đến xứ Nghệ là nói đến một địa danh gắn với lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc

Trớc hết, Nghệ Tĩnh nổi tiếng với truyền thống đấu tranh dựng nớc và giữ nớc Nhận định về mảnh đất từng đợc xác định là vùng biên viễn, viễn trấn của phía Nam đất nớc này, Phan Huy Chú đã viết: "Con ngời ở đây rất cần kiệm và hiếu học, vật sản thì quý báu và hiếm lạ, thần núi và thần biển đều linh dị, khí thiêng non sông kết thành nhiều bậc danh hiền Đất này là vùng thông với xứ Man Lào lại là vùng giới hạn giữa

Ngày đăng: 22/07/2014, 17:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phân loại lời  hát phờng vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 2.1. Phân loại lời hát phờng vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát (Trang 60)
Bảng 2.3: Tổng hợp các cặp TXH trống từ chỉ ngôi - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 2.3 Tổng hợp các cặp TXH trống từ chỉ ngôi (Trang 89)
Bảng 3.1. H nh  à động nói trong  HPV xét theo giới tính vai giao tiếp - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 3.1. H nh à động nói trong HPV xét theo giới tính vai giao tiếp (Trang 98)
Bảng 4.1: Tổng hợp số liệu lớp từ ngữ về giới trong  hát phờng vải - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.1 Tổng hợp số liệu lớp từ ngữ về giới trong hát phờng vải (Trang 143)
Bảng 4.2: Tổng hợp lớp từ có ý nghĩa định danh nói về giới trong hát phờng vải - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.2 Tổng hợp lớp từ có ý nghĩa định danh nói về giới trong hát phờng vải (Trang 144)
Bảng 4.4. Tổng hợp lớp từ chỉ ngoại hình nói về giới - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.4. Tổng hợp lớp từ chỉ ngoại hình nói về giới (Trang 147)
Bảng 4.6. So sánh lớp từ chỉ công việc gắn với giới tính - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.6. So sánh lớp từ chỉ công việc gắn với giới tính (Trang 150)
Bảng 4.7: Tổng hợp hệ thống biểu tợng theo vai giao tiếp trong hát phờng vải - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.7 Tổng hợp hệ thống biểu tợng theo vai giao tiếp trong hát phờng vải (Trang 153)
Bảng 4.8: Tổng hợp từ ngữ biểu thị thời gian trong hát phờng vải - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.8 Tổng hợp từ ngữ biểu thị thời gian trong hát phờng vải (Trang 160)
Bảng 4.10: Tổng hợp các phơng tiện, biện pháp tu từ trong  hát phờng vải - Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh
Bảng 4.10 Tổng hợp các phơng tiện, biện pháp tu từ trong hát phờng vải (Trang 176)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w