1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa trong sách ngữ văn trung học phổ thông

93 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 6,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những l do trên đã thôi thúc chúng tôi khám phá đề tài đầy thú vị này.Chúng tôi hi vọng "Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa trong sách Ngữ văn trung học phổ thông" sẽ là một công trình mang tnh

Trang 1

NGÔ THỊ NHỤY

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIÁO KHOA TRONG SÁCH NGỮ VĂN` TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Đà Nẵng, Năm 2015

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI TRỌNG NGOÃN

Đà Nẵng, năm 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Thị Nhụy

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3.Đối tượng và phạm vi nhiên cứu 8

4.Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5.Phương pháp nghiên cứu 9

6.Cấu trúc đề tài 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 10

1.1.PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ KHOA HỌC 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Cá kiểu loại văn bản,diễn ngôn của PCKH 11

1.1.3 Đặc trưng .14

1.1.4 Đặc điểm ngôn ngữ 15

1.2.KHÁI NIỆM SÁCH GIÁO KHOA VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIÁO KHOA 18

1.2.1 Khái niệm sách giáo khoa .18

1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa 20

1.3.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT 27

1.3.1 Phân môn Tiếng Việt 27

1.3.2 Phân môn Văn học 29

1.3.3 Phân môn Làm văn 35

CHƯƠNG 2 CÁCH SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT 41

Trang 5

2.1.1.Cách phiên âm danh từ riêng nước ngoài 41

2.1.2 Nhận xét đặc điểm chính tả .42

2.2 CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT .45

2.2.1 Hệ thống thuật ngữ 45

2.2.2 Cá lớp từ vựng xuất hiện với tần số cao 46

2.2.3 Cá biện pháp tu từ từ vựng,ngữ nghĩa 48

2.3 CÁCH ĐẶT CÂU TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT 52 2.3.1 Khảo sát về cá kiểu c u 52

2.3.2 Cá biện pháp tu từ cú pháp 55

2.4 CÁCH DIỄN ĐẠT TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT 59 2.4.1 Cá h tổ chức ý trong c u 59

2.4.2 Cá h l ên kết c u và l ên kết đoạn .62

2.4.3 Cá h sử dụng câu văn có hình ảnh và c u văn có hàm ngôn 66

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT 70

3.1 CÁC PHƯƠNG DIỆN ĐẠT CHUẨN VÀ KHÔNG ĐẠT CHUẨN CỦA NGÔN NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT 70

3.1.1 Phương diện ngữ âm 70

3.1.2 Phương diện từ vựng 72

3.1.3 Phương diện ngữ pháp 75

3.1.4 Phương diện diễn đạt 75

3.2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 78

3.2.1 Yêu cầu c o về sự gắn gọn, dễ hiểu .78

3.2.2 Luôn luôn lấy t nh chuẩn mực của văn phạm t ếng Việt làm têu chí 79

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

Trang 7

Số hiệu Tên bảng Trang

2.1 Thống kê số lƣợng và tỉ lệ sử dụng c c yếu tố ngữ âm

trong sá h giáo khoa Ngữ văn THPT

411

2.2 Thống kê số lƣợng và tỉ lệ sử dụng thuật ngữ trong sá h

giáo khoa Ngữ văn THPT

455

2.3 Thống kê số lƣợng và tỉ lệ sử dụng từ thi ca trong sá h

giáo khoa Ngữ văn THPT

477

2.4 Thống kê số lƣợng và tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt trong sá h

giáo khoa Ngữ văn THPT

2.7 Thống kê số lƣợng và tỉ lệ sử dụng c c kiểu c u trong

sách giáo khoa Ngữ văn THPT

2.11 Thống kê số lƣợng và tỉ lệ sử dụng c ch l ên kết c u trong

sách giáo khoa Ngữ văn THPT

633

2.12 Thống kê số lƣợng và tỉ lệ sử dụng c ch l ên kết đoạn

trong sá h giáo khoa Ngữ văn THPT

655

2.13 Thống kê số lƣợng và tỉ lệ sử dụng c u văn có hình ảnh và

c u văn hàm ngôn trong sá h giáo khoa Ngữ văn THPT

67

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tiếng nói chung giữa người biên soạn với người tếp nhận,giữa người dạy

và người học là đích của quá trình thay đổi sá h giáo khoa trong mấy thập niên qua Việc t m được tếng nói ấy là một điều không hề dễ Biết bao nhà nghiên cứu giáo dục,nhà giáo, c c bậc phụ huynh đã lên tếng.Khi bộ sách giáo khoa xuất bản 2000 ra đời,tưởng nó sẽ là t ếng nói chung ấy Nhưng nó lại nảy sinh những điểm bất đồng khá để rồi quá trình ấy vẫn chưa có hồi kết

Bên cạnh cá môn học khác, Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí rất đặc biệt trong nhà trường Nó là một thành phần cấu tạo của chương trình văn hóa cơ bản trong nhà trường, cùng cá môn khá , có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết, những kiến thức cơ bản có hệ thống vững chắc được quy định trong chương trình Ngoài chức năng chung đó, môn Văn còn cung cấp cho học sinh những kĩ năng,tạo được sự phát triển c n đối, toàn diện về tâm hồn trí tuệ, về thẩm mĩ và hiểu biết để xây dựng nhân c ch cho học sinh

Là giáo viên, chúng tôi chọn đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa trong sách Ngữ văn trung học phổ thông" nhằm phục vụ cho công tágiảng dạy Thứ nhất, việc t m hiểu sách giáo khoa sẽ giúp người giáo viên hiểu hơn về đối tượng mà mình t ếp nhận Từ đó, sẽ có cái nhìn khá h quan hơn và quá trình tếp nhận sẽ phù hợp hơn Thứ hai, trong công tá đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, người giáo viên không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mà còn giúp học sinh chủ động t ch cực sáng tạo Người giáo viên hiểu được sá h giáo khoa, hiểu được học trò của mình thì sẽ làm tốt được vai trò là cầu nối giữa sách giáo khoa với học sinh Đồng thời giúp c c

em phát huy được sự sáng tạo của mình tránh thụ động, phụ thuộc

Trang 9

Những l do trên đã thôi thúc chúng tôi khám phá đề tài đầy thú vị này.Chúng tôi hi vọng "Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa trong sách Ngữ văn trung học phổ thông" sẽ là một công trình mang tnh khoa học thực sự.

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Sá h giáo khoa đã trở thành đối tượng quan tâm không chỉ của c c ban ngành mà còn của c c nhà nghiên cứu giáo dục, nhà giáo, bậc phụ huynh Về chương trình và SGK, chúng ta thấy trên c c trang báo có rất nhiều ý kiến khen, chê sau mỗi lần cải c ch Tuy nhiên,cá công trình chuyên sâu về SGK lại không nhiều Với đề tài này, chúng tôi chỉ điểm lại một số công trình có

l ên quan trực t ếp đến đề tài

Về chương trình môn Ngữ văn, nhiều tá giả đã đưa ra ý kiến của mình

Ở đây, chúng tôi xin được điểm qua vài công trình, ý kiến t êu biểu

Theo Đỗ Ngọc Thống, mô hình và cấu trúc nội dung SGK môn Ngữ văn phải thể hiện được những quan điểm cơ bản về xây dựng và biên soạn SGK Ngữ văn Mô hình đó được xây dựng theo t nh thần t ch hợp, không chỉ chú trọng nội dung mà còn phục vụ t ch cực cho việc đổi mới phương pháp dạy học Ông cũng đã khẳng định: "Cấu trúc chương trình Ngữ văn hiện hành được thực hiện theo nguyên tắc t ch hợp Với môn Tiếng Việt ở Tiểu học,chương trình tập trung vào hai thành phần: kiến thức kĩ năng, trong đó kiến thức gồm t ếng Việt văn học; kĩ năng gồm đọc, viết, nghe, nói Đến THCS

và THPT chương trình lại được cấu trúc theo ba phần: Tiếng Việt, Tập làm văn và Văn học Mỗi phần có c c nội dung riêng, theo hệ thống của mỗi phân môn khá độc lập… Cho nên nhiều nội dung rất khó t ch hợp Nhìn chung cấu trúc của CT và nhất là SGK Ngữ văn hiện hành vẫn chủ yếu lấy trục nội dung (t ểu học theo hệ thống chủ đề, còn Trung học lấy lịch sử văn học)."[28,tr.1] Trong quyển "Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT",

Đỗ Ngọc Thống lại một lần nữa khẳng định cấu trúc của chương trình Ngữ

Trang 10

văn gồm có ba phân môn là Văn học, t ếng Việt, Tập làm văn. Theo ông:

"Mục t êu trực t ếp, chủ yếu của môn Ngữ văn THPT là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc – hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản Chính vì thế chương trình được xây dựng theo hai trục t ch hợp: đọc văn và làm văn Đấy không phải là hai phân môn Văn học và Làm văn mà là hai hoạt động chính cần tập trung hình thành và rèn luyện cho học sinh trong môn học này Tất cả các tri thức và kĩ năng của ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn đều được t ch hợp theo hai trục này"[ 27, tr.10]

“Sách giáo khoa một số vấn đề l luận và thực t ễn” là nhan đề của phần bốn trong tài lệu “Nguyễn Khắc Phi tuyển tập” do Vũ Thanh tuyển chọn.Phần này giới thiệu một số bài viết của Nguyễn Khắc Phi trao đổi về chương trình và SGK Ngữ văn bậc Trung học Trong cá bài viết, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi nhấn mạnh một số điểm về phương pháp khi tếp cận SGK mới làm sao phát huy được ưu thế của phương châm tch hợp

Vũ Nho trong bài "Một vài suy nghĩ về sách giáo khoa Ngữ văn sau 2015" cũng đồng t nh với quan điểm bộ môn Ngữ văn gồm 3 phân môn: Tiếng Việt, Làm văn, Văn học Ông còn khẳng định: "Môn Ngữ văn, do đặc thù của nó và do ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống, sách chúng ta có khác với sách của một số nước ngoài Một phần Ngữ ( t ếng Việt), một phần Văn, Tập làm văn là phần có vẻ độc lập, nhưng kì thực nó là phần thực hành tạo lập ngôn bản ( nói) và văn bản( viết) của phần t ếng Việt là chính Bây giờ, một quan niệm gần như đã thống nhất Đối với t ểu học thì chủ yếu là học Tiếng, đối với THCS thì Tiếng và Văn tương đương, đối với THPT thì nghiêng về Văn, những kĩ năng về Tiếng được ôn lại và củng cố, nâng cao là chính Điều này là một cơ sở cực kì quan trọng để xây dựng cấu trúc, xác định nội dung, và cả phương pháp đối với sách giáo khoa Ngữ văn."[21,tr.2]

Trang 11

Trong tờ báo Văn nghệ số 46/2013, Vũ Nho có bàn về c c bài học trong SGK khi trao đổi với phóng viên Ông khẳng định: " Phải nói rằng chúng ta

đã có một bước t ến dài về làm chương trình và làm sách Dựa vào những hiểu biết về chương trình, sách giáo khoa nước ngoài, dựa trên kinh nghiệm trong nước qua nhiều lần thay đổi, chúng ta đã có một chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn hiện đại, t ên t ến Tuy nhiên đấy là nhìn khái quát Còn nếu đi vào chi t ết, cụ thể thì vẫn có thể chỉ ra những điều chưa ổn."[19,tr.1]

Về SGK Ngữ văn THPT năm 2000,có nhiều công trình nghiên cứu cũng nhƣ nhiều bài viết đƣợc đăng trên c c trang báo Những công trình, bài viết này đã có những đóng góp nhất định Với giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình, bài viết t êu biểu

Trong quyển "Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT",

Đỗ Ngọc Thống đã trình bày về những thay đổi nội dung và hình thức của SGK năm 2000 Ngoài ra, ông còn bàn về việc lựa chọn cá văn bản của SGK Ông cho rằng: " Sách Ngữ văn THPT lựa chọn các văn bản văn học theo t êu chí thể loại Bám sát vào t ến trình lịch sử văn học để lựa chọn hệ thống tác phẩm t êu biểu cho các thể loại của mỗi giai đoạn văn học Lấy văn học Việt Nam làm trục chính và bổ sung các tác phẩm văn học nước ngoài cùng thể loại một cách tương ứng – tương đối để HS t ện so sánh, đối chiếu."[

27 tr.75]

Tá giả Đỗ Ngọc Thống còn khẳng định: "Đối với văn học trung đại ranh giới văn – sử - địa – triết nhiều khi "bất phân" Vì thế việc lựa chọn các văn bản văn học cần được nới rộng một cách l nh hoạt."[ 27,tr.75]

Ngoài ra,ông còn bàn đến vấn đề lựa chọn c c văn bản trong SGK Theo ông: "Chương trình Ngữ văn mới lựa chọn văn bản tác phẩm theo thể loại và

tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại Chương trình vẫn dựa vào t ến trình lịch sử văn học dân tộc và thế giới nhưng ở mỗi giai đoạn sẽ lựa chọn ra các

Trang 12

thể loại tác phẩm văn học t êu biểu để làm văn bản mẫu cho việc dạy đọc – hiểu"[ 27 tr.11]

Trong bài báo "Chương trình Ngữ văn trong nhà trường THPT", Đỗ Ngọc Thống đã chỉ ra những mặt chưa được của nội dung SGK Ông cho rằng nội dung bài học của c c cấp "thiếu t nh thống nhất; một số đơn vị kiến thức lặp lại, một số nội dung không cần thiết phải học cả 3 cấp, hoặc lặp lại không phát triển, nâng cao…Văn bản đọc hiểu còn nhiều, một số văn bản dài, chưa chọn lọc, thiếu hấp dẫn…"[28,tr.1]

Ở bài nghiên cứu "Đổi mới căn bản toàn diện chương trình Ngữ văn"

được đăng ở tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM, Đỗ Ngọc Thống lại một lần nữa khẳng định những bất cập của SGK Ngữ văn năm 2000 "Chương trình gối lên nhau, có t ếp thu x m xét lẫn nhau, nhưng hoàn toàn không được thiết

kế ngay từ đầu như một chỉnh thể xuyên suốt toàn bộ giai đoạn phổ thông Kết quả là nhiều nội dung dạy học chồng chéo, giẫm đạp lên nhau; vừa thừa, vừa thiếu; hệ thống thuật ngữ khái niệm giữa các cấp, các lớp không thống nhất"[29, tr.44]

Cũng trong bài nghiên cứu "Đổi mới căn bản toàn diện chương trình Ngữ văn", Tá giả còn khẳng định sự không tương thích giữa SGK với chương trình Ngữ văn Ông cho rằng: " Chuẩn kiến thức và kĩ năng của chương trình Ngữ văn chỉ được xây dựng trên cơ sở khi SGK Ngữ văn đã triển khai thí điểm xong(2006) Có nghĩa là lấy nội dung SGK đã có để làm ra chuẩn cho phù hợp với chương trình Ngay cả chương trình cũng được hoàn chỉnh thêm rất nhiều sau khi biên soạn SGK"[29,tr.44]

Vũ Nho cũng đã chỉ ra những điểm chưa ổn trong SGK Tác giả đã đưa

ra từng ví dụ cụ thể như: " Bài viết của Giáo sư Phan Đình Diệu: “Tư duy hệ

thống - nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy” đưa vào chương trình lớp 12

là một bài viết rất hay Không ai băn khoăn gì Nhưng gần đây nhất, trong

Trang 13

buổi nói chuyện về “Tư duy” cho các nhà văn Hà Nội vào ngày 10 tháng 8 năm 2013, Giáo sư Chu Hảo thông báo rằng sự phát triển của tư duy nhân loại từ tư duy cơ giới đến tư duy hệ thống, và bây giờ thì tư duy hệ thống đã nhường lại vị trí cho tư duy phức hợp Như thế, bài viết rất hay đó đã trở nên lạc hậu Đấy là nói về sự chưa ổn nếu nhìn bằng con mắt hiện nay, chứ không phải là lúc xây dựng chương trình."[ 21, tr.2]

Ông còn trao đổi thêm về vấn đề thừa – thiếu kiến thức trong SGK với

phóng viên Ông cho rằng: "Trước đây sách không dạy quảng cáo, viết tin,

phỏng vấn và trả lời phỏng vấn Như thế là thiếu Bây giờ sách có dạy Nhưng nếu xem xét kĩ với con mắt của nhà chuyên môn, vẫn có thể nói câu xanh rờn: Vừa thừa lại vừa thiếu Ví dụ về phỏng vấn và trả lời phỏng vấn Bảo rằng thừa, vì không phải tất cả học sinh đều trở thành nhà báo để đi phỏng vấn Vì vậy dạy đặt câu hỏi phỏng vấn có vẻ như thừa Bảo rằng thiếu, vì sách chưa dạy rằng: người được phỏng vấn, do những lí do riêng, có thể từ chối trả lời Cũng thiếu nữa vì cái quan trọng nhất mà người nào cũng phải dùng ấy là trả lời phỏng vấn xin việc thì lại không dạy Tôi có xem chương trình của úc hiện hành Họ dạy phỏng vấn và rất chú ý đến trả lời phỏng vấn xin việc Chưa hết, học sinh sau khi học bài này, tự đi xin việc làm thêm Xin được việc rồi mới coi là hoàn thành bài học."[ 21 ,tr.3]

Đánh giáo về chương trình, sá h giáo khoa Ngữ văn năm 2000, thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển thẳng thắn thừa nhận: “Hiện chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn trong trường phổ thông ở Việt Nam chưa nhất quán theo một trục qua các cấp học, nội dung còn nhiều trùng lặp, t nh t ch hợp giữa các hợp phần càng lên các lớp trên càng mờ nhạt” Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển nhận xét thêm, nhiều bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn, nhất là ở cá lớp trên nặng về lý thuyết, í có tác dụng rèn luyện kỹ năng cho học sinh Một số nội dung còn c o đối với khả năng t ếp thu của học

Trang 14

sinh, nhất là học sinh nông thôn, miền núi và những học sinh có ở những vùng kinh tế- xã hội khó khăn.Thời lƣợng dành cho một số nội dung học tập chƣa hợp lý Hầu hết tá phẩm dạy trong sách giáo khoa môn Ngữ văn bậc THCS, THPT tuy có vị trí trong lịch sử văn học nhƣng đã ra đời quá lâu,nhiều tá phẩm không phù hợp với tâm lý của học sinh hiện nay,do đó không khơi gợi đƣợc hứng thú học tập của c c em.[19,tr.1]

Trong buổi tổng hợp các báo cáo và ý kiến thảo luận tại hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam, bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra những đánh giá nhận xét về chương trình cũng

như SGK năm 2000 Bộ cho rằng: " Chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn vẫn nặng tính hàn lâm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực học sinh - nhất là phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo."[19, tr.5]

Tiến Dũng trong bài "Hàng chục lỗi ngữ pháp trong sách Văn" đã nhận xét về bộ SGK Ngữ văn năm 2000 Tác giả khẳng định bộ SGK năm 2000 "

Là bộ sách được đánh giá tốt, biên soạn cẩn thận, công phu, đáp ứng yêu cầu của khung chươ ng tr ình nhưng bộ sách giáo khoa t ếng Việt (t ểu học) và Ngữ văn (THCS, THPT) vẫn bị coi là có lượng kiến thức tương đối nặng, y u cầu cao, hàn lâm với phần đông học sinh ."[7,tr.2]

Đỗ Hữu Châu trong công trình " Một số nhận x t về đề án đổi mới chương trình SGK sau năm 2015" đã chỉ ra những mặt đƣợc và mặt tồn tại của SGK xuất bản năm 2000 Theo ông: "Cần nhấn mạnh một ưu điểm nổi trội và có t nh lịch sử của SGK, đó là: Lần đầu t ên trong lịch sử phát triển giáo dục với các cuộc CCGD ở VN, vào năm 2006 một bộ chương trình GDPT đồ sộ từ lớp 1 đến lớp 12 với độ dày khoảng 5000 trang có sự tham gia của khoảng 800 nhà khoa học và nhà giáo dục trên toàn quốc (bao gồm nhũng nhà thiết kế CT, nhũng người góp ý CT và những người thẩm định CT) được xây dựng và được ban hành chính thức trên toàn quốc."[6, tr.1] Và ông

Trang 15

cũng đã chỉ ra những tồn tại của SGK năm 2000 để đưa ra hướng đổi mới SGK năm 2015.

Tóm lại, nghiên cứu về SGK là một vấn đề không mới Tuy nhiên, c c nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tch về chương trình cũng như những vấn

đề bất cập trong SGK để tm ra hướng đổi mới Còn về nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ SGK chưa có công trình nào đi sâu, nghiên cứu một c ch hệ thống,đầy đủ Vì thế, "Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa trong sách Ngữ văn trung học phổ thông" vẫn là một đề tài rất thiết thực cho công việc giảng dạy

3 Đối tượng và phạm vi nhiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ của c c bài văn học sử,cábài t ếng Việt, cá bài làm văn, phần ghi nhớ, phần chú thích, phần hướng dẫn học bài

- Phạm vi nghiên cứu: Môn học Ngữ văn THPT có 2 chương trình: nâng

c o và Cơ bản Do đó, tương ứng với chương trình có hai bộ sá h giáo khoa: + Bộ sá h chương trình chuẩn do Phan Trọng Luận chủ biên gồm 6 quyển: Ngữ văn 10,tập 1; Ngữ văn 10, tập 2; Ngữ văn 11, tập 1; Ngữ văn 11,tập 2; Ngữ văn 12, tập 1; Ngữ văn 12, tập 2

+ Bộ sá h chương trình nâng c o do Trần Đình Sử chủ biên cũng gồm 6 quyển: Ngữ văn 10,tập 1; Ngữ văn 10, tập 2; Ngữ văn 11, tập 1; Ngữ văn 11,tập 2; Ngữ văn 12, tập 1; Ngữ văn 12, tập 2

Với đề tài này, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu ở SGK Ngữ văn THPT chương trình chuẩn.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tch đặc điểm ngôn ngữ của tất cả c c bài văn học sử, các bài Tiếng Việt, các bài Làm văn, phần ghi nhớ, phần chú thích, phần hướng dẫn học bài trong 6 tập sá h. Tiếp đến thống kê, tập hợp hình thành c c nhóm,cákhu vực Từ đó nhận xét về đặc điểm của chúng trong mối quan hệ cá bài

Trang 16

học nói riêng và mối quan hệ với bộ SGK nói chung.

- Trên cơ sở nội dung khảo sát 6 tập SGK Ngữ văn, người viết rút ra những đặc điểm cơ bản, ưu điểm và hạn chế về đặc điểm ngôn ngữ trong 6 tập SGK đó Đồng thời người viết đề xuất những yêu cầu bắt buộc để SGK Ngữ văn đảm bảo t nh chuẩn mực

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu cá phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu l thuyết sử dụng phương pháp này, chúng tôi nhằm làm rõ cá khái niệm PCNNKH, SGK, đặc điểm của PCNNKH, đặc điểm SGK cũng như SGK Ngữ văn THPT

- Phương pháp thống kê, phân loại Chúng tôi sử dụng phương pháp này

để nghiên cứu đặc điểm c ch dùng từ, đặt c u, diễn đạt trong SGK Ngữ văn THPT

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để làm rõ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong SGK Ngữ văn THPT, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu giữa ngôn ngữ trong SGK Ngữ văn với ngôn ngữ của c c bộ môn khác,đồng thời so sánh, đối chiếu giữa c c bài học, c c chương, c c khối lớp…

- Phương pháp phân t ch, tổng hợp: Trên cơ sở c c phương pháp thống

kê, phân loại phương pháp so sánh, đối chiếu, chúng tôi sẽ phân tch những mặt đạt được và những hạn chế của SGK Ngữ văn THPT Qua đó, chúng tôi

sẽ đưa ra những ý kiến nhận xét và đề xuất của bản thân

6 Cấu trúc đề tài

Đề tài gồm 3 chương chính sau:

Chương 1 Cơ sở l luận và tổng quan về đối tượng nghiên cứu

Chương 2 Cá h sử dụng cá phương t ện ngôn ngữ trong sá h giáo khoa Ngữ văn THPT

Chương 3 Một số nhận xét và đề xuất

Trang 17

Trong cuộc sống thường ngày, ta được t ếp xúc và sử dụng nhiều phong

c ch ngôn ngữ khá nhau trong đó có phong c ch ngôn ngữ khoa học Vậy phong c ch ngôn ngữ khoa học là gì?

Nhóm nghiên cứu Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình quan niệm: " Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ sử dụng trong cá bài báo,

c c công trình, giáo trình, giáo khoa… về khoa học tự nhiên (toán, l , hóa,sinh…) và khoa học xã hội ( triết học, kinh tế chính trị học,tâm l học,sử học,văn học…)"[4,tr.45]

Trong Phong cách học Tiếng Việt của nhóm tá giả Nguyễn Thái Hòa,Đinh Trọng Lạc thống nhất quan niệm PCKH là khuôn mẫu Đồng thời,nhóm tác giả cũng cho rằng phong c ch khoa học chủ yếu dựa vào kiểu ngôn ngữ viết phi nghệ thuật. Yếu tố c nhân của người nói giảm xuống tối thiểu.[17, tr.80]

Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học Tiếng Việt đã đưa ra c ch định nghĩa về phong c ch khoa học Ông cho rằng: "PCKH là khuôn mẫu thích hợp

để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao t ếp trong lĩnh vực khoa học." [16, tr.49] Ông cũng l giải thêm người tham gia giao t ếp là vai của nhà khoa học, người nghiên cứu, kĩ sư, giáo viên, sinh viên…

Nguyễn Thái Hòa trong Từ điển tu từ - phong cách – thi pháp học cho rằng: "Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ dùng trong c c văn bản khoa học và

Trang 18

rộng hơn là trong phạm vi giao t ếp khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học

xã hội - nhân văn): thảo luận, phát biểu, tham luận, thƣ từ, thông t n khoa học."[13, tr.149]

Tá giả Hữu Đạt trong Phong cách học Tiếng Việt hiện đại lại có ý kiến rằng: "Phong cá h khoa học là phong cá h đƣợc dùng để trao đổi những vấn

đề có lên quan đến việc t m hiểu, nghiên cứu và phát triển khoa học [8,tr.156] Tác giả còn chỉ ra điểm khác biệt giữa phong c ch khoa học với phong c ch hành chính – công vụ,còn đƣa ra đối tƣợng tham gia giao t ếp của phong c ch khoa học

Đặc biệt trong Ngữ văn 12, tá giả Phan Trọng Luận (chủ biên) cũng đã đƣa ra khái niệm về ngôn ngữ khoa học Nhóm tá giả cho rằng: "Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ đƣợc dùng trong giao t ếp thuộc lĩnh vực khoa học, t êu biểu là trong cá văn bản khoa học: khoa học tự nhiên (Toán, Vật l, Hóa học,Sinh học…), Khoa học Xã hội và Nhân văn (Ngữ văn, Triết học, Tâm l học,Lịch sử), khoa học Công nghệ (Công nghệ Điện tử, Công nghệ Vi sinh, Công nghệ Thông t n…)"[3, tr.73]

Tóm lại, mỗi nhà nghiên cứu có một cá h diễn đạt khá nhau về khái niệm phong cá h ngôn ngữ khoa học Dựa vào c c ý kiến đó, ta có thể hiểu phong c ch ngôn ngữ khoa học là khuôn mẫu ngôn ngữ đƣợc sử dụng để trình bày, kiến giải, tranh biện…những vấn đề nghiên cứu, phát triển và phổ biến khoa học, gắn l ền với tƣ duy logic và mang t nh trí tuệ c o

1.1.2 Các kiểu loại văn bản, diễn ngôn của PCKH

Để phân loại cá kiểu văn bản, diễn ngôn của phong c ch ngôn ngữ khoa học, c c nhà nghiên cứu dựa vào c c t êu chí khá nhau để thể hiện ý kiến của mình

Theo nhóm tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình thì có 2 loại

Trang 19

- Văn bản khoa học tự nhiên (toán, l , hóa, sinh…)

- Văn bản khoa học xã hội ( triết học, kinh tế chính trị học, tâm l học, sử

Nhóm tác giả này còn chia ra 2 loại nhỏ:

- Ngôn ngữ khoa học thuần túy.

- Ngôn ngữ khoa học phổ cập( đại chúng)

Ngoài ra có thể kể thêm những bút kí khoa học tức là những bài phê bình tác phẩm khoa học, tóm tắt công trình… [4, tr.45] Cách phân chia này chƣa có sự thống nhất c c têu chí Các tác giả vừa dựa vào t êu chí nội dung lại vừa dựa vào t êu chí mức độ chuyên sâu

Nguyễn Thái Hòa trong Từ điển tu từ - phong cách – thi pháp học thì chia thành một số nhóm thể loại chính nhƣ sau:

- Luận án, luận văn, công trình, báo cáo khoa học… là những văn bản

có y u cầu chặt chẽ về t nh hệ thống, t nh logic và t nh quy phạm khoa học.

- Giáo trình, Sách giáo khoa, giáo án…có mục đích giảng dạy các bộ môn khoa học.

- Bài báo, sách vở, bút kí khoa học, thông t n khoa học nhằm phục vụ đông đảo quần chúng độc giả. [13, tr.149] Cách phân chia của tác giả Nguyễn Thái Hòa đã dựa vào mục đích và đặc điểm ngôn ngữ

Khi đƣa ra ý kiến về c ch phân loại cá kiểu văn bản, diễn ngôn của phong c ch ngôn ngữ khoa học,Đinh Trọng Lạc đồng thời đƣa ra c c têu chí.Nếu dựa vào nội dung ý nghĩa sự vật – logic thì có thể chia thành hai kiểu:

- Văn bản khoa học xã hội(văn, sử, địa, tâm lý, ngôn ngữ…)

- Văn bản khoa học tự nhiên(toán, lý, hóa, sinh…

Nếu dựa vào những đặc điểm về kết cấu và về tu từ thì chia thành c c thể loại bài giảng, sách giáo khoa, giáo trình, bài báo, chuy n luận, luận văn,

Trang 20

tóm tắt luận văn.[16, tr.51]

Riêng Hữu Đạt, khi phân chia cá văn bản thuộc phong c ch khoa học đứng từ hai góc độ Góc độ thứ nhất là theo mức độ phổ biến hay không phổ biến Góc độ thứ hai là t nh chất của văn bản Từ hai góc độ này, tác giả đã chia thành 12 loại văn bản:

- Văn bản phổ biến khoa học thường thức

- Báo cáo khoa học

- Sách chuyên luận(còn gọi là chuy n đề, chuy n khảo, khảo cứu)

- Khóa luận khoa học

Dựa vào những cá h phân chia trên, chúng tôi có thể tạm thời phân chia nhƣ sau:

(1) Các văn bản khoa học chuy n sâu: chuy n khảo, luận án, luận văn,

t ểu luận, báo cáo khoa học…

(2) Các văn bản khoa học giáo khoa: sách giáo khoa, thiết kế bài dạy, giáo trình,…

+ Sách giáo khoa: Đây là loại văn bản khoa học phục vụ cho giáo dục

t ểu học và phổ thông Nó phản ánh các loại kiến thức khoa học cơ sở một cách có hệ thống và có t nh tổng hợp.

+ Thiết kế bài dạy: Đây là loại văn bản khoa học phục vụ cho việc thiết

Trang 21

kế các bài dạy của giáo viên Có thể xem đây là loại sách công cụ.

+Giáo trình: Đây là loại văn bản khoa học phục vụ cho việc làm tài l ệu giảng dạy ở bậc Cao đẳng, Đại học Nội dung của nó phản ánh các kiến thức chuyên ngành ở mức độ cao.

cơ bản trên Với đặc trƣng tnh chính xá , ông gọi tên là t nh một nghĩa và phi hình tƣợng.Ngoài ra, ông còn đƣa ra thêm những đặc trƣng khá nhƣ:

Trang 22

- Tính ngắn gọn, khúc triết và logic chặt chẽ

- Tính một nghĩa và phi hình tượng [8, tr.170]

Từ những ý kiến trên, chúng tôi có thể tạm đƣa ra c c đặc trƣng của phong c ch ngôn ngữ khoa học nhƣ sau:

(1) Tính khái quát, trừu tượng

(2) Tính trí tuệ hay t nh logic cao

(3) Tính chính xác, khách quan, phi cá thể

1.1.4 Đặc điểm ngôn ngữ

Phong c ch ngôn ngữ khoa học yêu cầu nghiêm ngặt về chính âm, chính

tả Bên cạnh chữ viết còn cho phép đƣợc sử dụng c c kí hiệu, sơ đồ, bảng biểu Ngoài ra để đáp ứng yêu cầu phát triển của thông t n khoa học, phong

c ch ngôn ngữ này đã khai thác tất cả mọi t ềm năng của hệ thống ngữ âm

Bên cạnh c c thuật ngữ chuyên ngành, một thành tố quan trọng khátrong phong c ch ngôn ngữ khoa học là từ ngữ khoa học chung, tức là những

từ ngữ đƣợc dùng nhiều trong một số l ên ngành khoa học( toán, l , hóa,sinh…).Ví dụ: hệ thống, yếu tố, thành tố, vật chất, thời gian….

Trang 23

Phong c ch ngôn ngữ khoa học còn có xu hướng dùng nhiều từ ngữ trừu tượng, đặc biệt là trong cá văn bản khoa học mang t nh chất triết học hoặc toán học.

Đồng thời, xuất phát từ khuynh hướng định danh (miêu tả, gọi tên khái quát về đối tượng nghiên cứu và cá thao tá , c c phương pháp nghiên cứu về đối tượng) mà danh từ chiếm tỉ lệ khá lớn trong c c từ loại Và phần lớn danh

từ được dùng là danh từ trừu tượng Ví dụ: thời gian, hiện tượng, số lượng, tần số, trạng thái…

Để đảm bảo chính xá , khá h quan, từ ngữ trong phong c ch ngôn ngữ khoa học chỉ được phép hiểu một nghĩa và là nghĩa đen, tức là nghĩa sự vật – logic Việc sử dụng nghĩa bóng, nghĩa hình tượng là rất hiếm thấy Trong mạch trình bày việc thay thế một thuật ngữ bằng cá từ đồng nghĩa hoặc cáđại từ là rất hạn chế Tính chất trung hòa của từ ngữ trong phong c ch ngôn ngữ làm cho phong c ch này hoàn thành tốt chức năng thông báo khá h quan

và chứng minh thuyết phục, đồng thời cũng là một dấu hiệu phân biệt nó với ngôn ngữ nghệ thuật

Đặc điểm ngữ pháp nổi bật của phong cá h ngôn ngữ khoa học là việc sử dụng cú pháp chuẩn, chặt chẽ, rõ nghĩa Điều này để đảm bảo yêu cầu chính xác, một nghĩa và tránh cá h hiểu nước đôi, nước ba Phong c ch ngôn ngữ khoa học không dùng những kiểu c u giản lược thành phần, c u đảo vị trí.Đặc điểm cú pháp này góp phần làm cho c u văn thêm sáng tỏ,chặt chẽ, chứa đựng một dung lượng thông t n logic đầy đủ

Ví dụ:

- "Hai đường thẳng song song là hai đường thẳng không cắt nhau."

- "Vé tơ là một đoạn thẳng có hướng, nghĩa là trong hai điểm mũi của đoạn thẳng, đã chỉ rõ điểm nào là điểm đầu, điểm nào là điểm cuối".

Trang 24

Để đáp ứng yêu cầu thông tn, (sự phức tạp trừu tượng của những vấn đề khoa học) phong c ch ngôn ngữ khoa học thường dùng nhiều c u phức và sử dụng với tần số c o c c phương tện lên kết c u và l ên kết văn bản Để nối c c phần của văn bản phong c ch khoa học thì người ta thường dùng những phương

tện chuyên biệt chỉ ra trình tự phát triển của tư tưởng, nêu lên mối quan hệ giữa thông tn trước và sau,chỉ rõ mối quan hệ nguyên nhân – kết quả…

Ví dụ: - Đầu t ên…t ếp theo…, sau đó…, trước khi…

- Như đã nêu trên, như đã nói, đã được x m xét….

- Bởi vậy, cho nên, do đó, hậu quả là…

Để đảm bảo tnh khá h quan, phong c ch ngôn ngữ khoa học thường dùng c u khuyết chủ ngữ,hoặc chủ ngữ không xá định

Ví dụ: "Cho hình chóp S.ABCD có ABCD là hình thoi cạnh a, AC = a, hai mặt phẳng (SAC), (SBD) cùng vuông góc với (ABCD) Biết góc giữa hai mặt phẳng (SAB) và (ABCD) bằng Tính thể t ch khối chóp S.ABCD và khoảng cách giữa hai đường thẳng SA và CD."

Nghiên cứu khoa học cần những phát kiến, những sáng tạo, những quan điểm riêng Để đảm bảo điều đó, khi trình bày c c văn bản khoa học, tá giả thường chọn những c ch thức diễn đạt nêu bật chủ kiến của mình

Ví dụ: các cụm từ thường dùng như: chúng tôi nghĩ rằng, theo chúng tôi thì, chúng tôi cho rằng, chúng tôi lưu ý ở….

Lời nói khoa học loại bỏ yếu tố c nhân, không có t nh chất của riêng cnhân Tính chất trung hòa gắn với xu hướng quy phạm về cả hai mặt mặt cấu trúc của văn bản và mặt sử dụng cá phương t ện ngôn ngữ Mỗi loại thể đều đòi hỏi kết cấu riêng, một bài giới thiệu sá h khá bài tóm tắt t ểu luận, một bài báo khoa học khá một luận án…Có nhiều loại văn bản được xây dựng theo một khuôn mẫu đòi hỏi người viết phải tuân theo

Trang 25

Các công trình khoa học hiện đại được trình bày chủ yếu trong hình thức độc thoại Hình thức độc thoại phù hợp trong mức độ lớn với nội dung và nhiệm vụ của công trình khoa học Bên cạnh đó, cũng có những công trình được trình bày theo hình thức đối thoại.

Kết cấu của văn bản phổ cập luôn theo những khuôn mẫu cố định.Nhưng những khuôn mẫu ấy lại rất phong phú và người viết có thể l nh hoạt,sáng tạo Trình độ, kiến thức của người đọc là nhân tố quyết định c ch viết của tác giả Việc sử dụng một ngôn ngữ khoa học với hệ thống thuật ngữ chuyên môn và cá kí hiệu phức tạp, để trình bày có hệ thống hoàn chỉnh và chứng minh chặt chẽ nhiều khi không hiểu được và cũng không cần thiết Để

dễ hiểu, dễ t ếp thu hơn, c c tá giả thường dùng những truyện thần thoại,những c u chuyện viễn tưởng… khiến người đọc chuyển sang những vấn đề khoa học một cá h tự nhiên, thích thú

1.2 KHÁI NIỆM SÁCH GIÁO KHOA VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIÁO KHOA

1.2.1 Khái niệm sách giáo khoa

Từ điển t ếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: "Sách giáo khoa là sá h soạn theo chương trình giảng dạy và học tập ở trường học [10,tr.1083]

Trong Phong cách học t ếng Việt hiện đại, Hữu Đạt cho rằng: " Sá h giáo khoa là loại văn bản khoa học phục vụ cho giáo dục phổ thông.Nội dung phản ánh cá loại kiến thức khoa học cơ sở một c ch có hệ thống và có tnh tổng hợp Đối tượng phục vụ: học sinh từ lớp 1 đến hết phổ thông trung học [8, tr.168]

Với định nghĩa trên, sá h giáo khoa được hiểu theo nghĩa hẹp là sá h viết cho học sinh theo những nội dung chuyên môn đã được quy định và theo những phương pháp dạy học đã được chỉ đạo Theo định nghĩa này, chúng ta

có thể hiểu c c loại sá h phục vụ cho học sinh mẫu giáo, sá h dạy học

Trang 26

vần…chƣa đƣợc coi là sá h giáo khoa.

Luật giáo dục, chương 2 mục 2 điều 29 quy định: "Sách giáo khoa cụ

thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa."[32, tr.1].

Điều lệ trường Trung học, điều 25 ghi: "Sách giáo khoa cụ thể hoá các

yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông Sách giáo khoa do Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo duyệt để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở trường trung học." [32, tr.1].

Hiểu theo nghĩa rộng, sách giáo khoa có thể bao gồm cả sách viết cho học sinh và một số sách kèm theo như sách giáo viên, sách bài tập… Trước đây, hệ thống sách giáo khoa không bao gồm sách bài tập mà phần bài tập được in luôn trong sách giáo khoa Nhưng trong những năm gần đây, đặc

điểm của giáo dục hiện đại là "học đi đôi với hành" Giáo dục cần quan tâm

nhiều đến kĩ năng thực hành nên hầu hết tất cả các môn đều có sách bài tập bên cạnh sách giáo khoa

Cho đến nay, sách giáo khoa vẫn là tài liệu chủ yếu, quan trọng nhất để dạy và học Do đó, các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông về cơ bản đã được thể hiện trong nội dung và phương pháp biên soạn sách giáo khoa Trong những năm gần đây, trong quá trình biên soạn chương trình và sách giáo khoa

đã chú ý đến quan điểm đổi mới phương pháp dạy học Phương pháp "lấy học

Trang 27

sinh làm trung tâm" làm cho nội dung và hình thức của sách giáo khoa về cơ

bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếp tục nâng cao năng lực tự học

và giáo viên dạy học theo hướng tổ chức, hướng dẫn học sinh

1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa

"Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện

về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Để đáp ứng mục tiêu đó, nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học Và chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông "Sách giáo khoa phải cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông".[32, tr.1].

Như vậy theo mục tiêu của giáo dục quy định thì sách giáo khoa là công trình khoa học sư phạm, là tài liệu thể hiện một cách cụ thể nhất nội dung và phương pháp giáo dục của mỗi môn học trong chương trình giáo dục Mỗi bộ sách giáo khoa chứa đựng những kiến thức cơ bản thích hợp với nhận thức của học sinh, là bộ sách dùng chung cho học sinh và giáo viên Những kiến thức trong sách giáo khoa là những kiến thức cơ bản hoặc đã được nghiên cứu trong thời gian dài trở thành tri thức chung, kiến thức "phổ thông" và có sự

Trang 28

lựa chọn rất kĩ Nó là một hệ thống khoa học, chính xác theo trình tự logic chặt chẽ, được thiết kế cho phù hợp với trình độ học sinh và thời gian học tập Sách giáo khoa là một trong những dạng kiểu của phong cách ngôn ngữ khoa học Vì vậy ngôn ngữ sách giáo khoa phải đảm bảo những đặc điểm về ngôn ngữ của phong cách khoa học Tuy nhiên, đối tượng của ngôn ngữ giáo khoa là học sinh nên ngôn ngữ giáo khoa phải khác ngôn ngữ khoa học Đòi hỏi ngôn ngữ giáo khoa phải vừa sức và tránh lối diễn đạt khó nắm bắt mơ hồ

Về đặc điểm ngữ âm và chữ viết, ngôn ngữ giáo khoa phải đảm bảo đúng quy tắc chính âm, chính tả hiện hành Đặc biệt là về quy tắc viết hoa Cách

đây hơn 10 năm, ngày 13/3/2003 - Bộ GD-ĐT ban hành "Quy định tạm thời

về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa" Gọi là quy định tạm thời nhưng

cho đến nay vẫn chưa có quy định nào cụ thể Và khi biên soạn sách giáo khoa, các nhà biên soạn cũng tuân thủ theo quy định này Theo văn bản này thì c c chữ cái đứng đầu c u, đầu tên chương, bài, mục đều phải viết hoa.Chiếu theo quy tắc chung này, những chữ c i đầu dòng như ở ví dụ dưới đây cũng sẽ được SGK viết hoa: "Nói lời của em: - Chào bố, mẹ để đi học - Chào thầy,cô khi đến trường.- Chào bạn khi gặp nhau ở trường." (Tiếng Việt 2, tập một, tr.20) Cũng theo quy tắc,cá tên riêng (bao gồm danh từ riêng và cụm từ chỉ tên riêng) đều phải viết hoa Sá h giáo khoa viết tên riêng theo một quy tắc rất đơn giản: viết hoa tất cả c c chữ c i đứng đầu mỗi bộ phận cấu thành tên riêng ấy Cụ thể: Trong tên người, tên địa l Việt Nam thì mỗi bộ phận cấu thành được quan niệm là một âm t ết (quan niệm như vậy cho đơn giản, dễ vận dụng) Do đó, sá h giáo khoa viết hoa cá chữ c i đứng đầu mỗi âm t ết tạo thành tên riêng, bất kể đó là tên địa l hay tên người, tên thật hay tên thụy,tên tự, tên hiệu, bút danh, biệt danh như Việt Nam, Hà Nội, Triệu Thị Trinh,

Lý Thái Tổ,Trần Hưng Đạo,Tố Như,Đội Cấn

Trang 29

Trong tên người,tên địa l nước ngoài, trường hợp phiên âm qua âm Hán

- Việt: Viết theo quy tắc viết tên người, tên địa lí Việt Nam Ví dụ: Kim Nhật Thành Đức, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Triều Tiên Trường hợp phiên âm không qua âm Hán - Việt (phiên âm trực tiếp, viết sát theo cách đọc): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết

Ví dụ: Vơ-la-đi-mia I-lích Lê-nin, Mát-xcơ-va, I-ta-li-a, An-giê-ri Đối với tên

cơ quan, tổ chức, đoàn thể nước ngoài, trường hợp dịch nghĩa: Viết theo quy tắc viết tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể Việt Nam Ví dụ: Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Mát-xcơ-va mang tên Lô-mô-nô-xốp Trường hợp viết tắt: Viết nguyên dạng viết tắt Tuỳ từng trường hợp, có thể ghi thêm tên dịch nghĩa hoặc ghi thêm tên nguyên dạng không viết tắt Ví dụ: WB (Ngân hàng Thế giới), hoặc WB (World Bank) Trong sách giáo khoa hiện nay, các nhân vật nổi tiếng thế giới cũng được phiên âm tên riêng sang tiếng Việt: Beethoven phiên âm là Bét-tô-ven, Mozart phiên âm là Mô-da, Lev Tolstoy là Lép Tôn-xtôi, Rô-sơ-ven chính là Roosevelt…

Về quy tắc chính âm, chính tả cũng phải được đảm bảo tính nhất quán trong toàn bộ hệ thống sách giáo khoa từng phân môn, từng cấp học

Về từ ngữ, sách giáo khoa sử dụng từ ngữ chung Ngoài lớp từ ngữ chung, sách giáo khoa còn sử dụng một loạt các thuật ngữ Mỗi bộ môn, sử dụng một hệ thống thuật ngữ chuyên ngành riêng

Ví dụ: + Với môn Toán, từ sách giáo khoa lớp 1 cho đến sách giáo khoa lớp 12, ta dễ dàng bắt gặp một hệ thống thuật ngữ chuyên ngành toán học

như: Phép cộng, phép trừ, phép nhân, phép chia, đại số, hình học, số thập

phân, diện tích, chu vi, bán kính, đường kính, phương trình, đồ thị, bình phương, lũy thừa ba…

+ Với môn Vật lí, lại sử dụng hệ thống thuật ngữ như: dao động, chu kì, con lắc, thể tích, phương, hướng, chu kì, gia tốc, vận tốc, quán tính, đòn bẩy,

Trang 30

moomem, hơi, ngưng tụ, hóa hơi, sóng cực ngắn, vi sóng…

+ Với môn Sinh học, hệ thống thuật ngữ như: Phân chia tế bào, không

bào trung tâm, đột biến nhiễm sắc thể, nhiễm sắc thể, gen, giao tử, đột biến,

di truyền, hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, ADN, Enzym giới hạn, tế bào gốc…được

sử dụng nhiều

+ Còn với bộ môn Ngữ văn(chương trình cấp tiểu học gọi là phân môn

Tiếng Việt) lại sử dụng hệ thống thuật ngữ văn học như: chính tả, danh từ,

động từ, tính từ, số từ, chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, câu đơn, câu ghép, tác giả, tác phẩm, nghĩa đen, nghĩa bóng, hình tượng văn học,…

Bên cạnh hệ thống thuật ngữ riêng của từng bộ môn, sách giáo khoa còn

sử dụng các thuật ngữ chung cho tất cả các bộ môn như: tính hệ thống, khái

niệm, định nghĩa…

Về ngữ pháp, sách giáo khoa cũng như các dạng kiểu khác thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học là sử dụng cú pháp chuẩn, chặt chẽ, rõ nghĩa Mặt khác, trong những năm gần đây, trong quá trình biên soạn chương trình và

sách giáo khoa đã chú ý đến phương pháp dạy học "lấy học sinh làm trung

tâm" Phương pháp này cũng làm cho nội dung và hình thức của sách giáo

khoa phải tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nâng cao năng lực tự học Để đạt được mục tiêu đó thì việc sử dụng câu văn trong sách giáo khoa cũng đòi hỏi chứa đựng một dung lượng thông tin logic đầy đủ, dễ hiểu Câu trong sách giáo khoa chỉ hiểu một nghĩa, tránh cách hiểu nhiều nghĩa Sách giáo khoa chủ yếu sử dụng câu đơn, câu ghép chứ không sử dụng câu đặc biệt hay câu đảo vị trí

Ví dụ 1: "Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy

chung, hiếu thảo của Thúy Kiều" (Ngữ Văn 9(2006) Nxb GD, trang 96)

Ví dụ 2: "Những năm gần đây, các ngành công nghiệp sản xuất và lắp

ráp ô tô, xe máy, thiết bị điện tử…do liên doanh với các hãng nổi tiếng ở

Trang 31

nước ngoài nên sản phẩm đã có sức cạnh tranh và trở thành thế mạnh của nhiều nước trong khu vực." ( Địa lí 11(2006) Nxb GD, trang 104)

Một đặc điểm nổi bật trong sách giáo khoa là thường dùng cấu trúc câu khuyết chủ ngữ hoặc chủ ngữ không xác định

Ví dụ 1: "Dựa vào biểu đồ đã hoàn thành và những hiểu biết của bản

thân, hãy nhận xét về vị trí kinh tế của EU trên trường quốc tế"

Ví dụ 2: "Cho tứ diện ABCD Một mặt phẳng (P) di động luôn song song

với AB và CD lần lượt cắt các cạnh AC, AD, BD, BC tại M, N, E, F

A) Chứng minh tứ giác MNEF là một hình bình hành

B) Tìm tập hợp tâm I của hình bình hành MNEF."

(Hình học 11(2006) Nxb GD, trang 57)

Ví dụ 3: "Căn cứ vào hình dạng của vật thể để chọn cách vẽ hình chiếu

trục đo thích hợp Khi vẽ, để thuận tiện cho việc dựng hình, thường đặt các trục tọa độ theo chiều dài, chiều rộng và chiều cao của vật thể, sau đó vẽ hình hộp ngoại tiếp theo các kích thước dài, rộng, cao của vật thể"

(Công nghệ 11(2006) Nxb GD, trang 30)

Về diễn đạt, sách giáo khoa không sử dụng lời nói hàm ngôn Bởi ngôn ngữ sách giáo khoa yêu cầu chính xác, một nghĩa và tránh cách hiểu nước đôi, nước ba Và kiến thức sách giáo khoa là một hệ thống Chương trình của các lớp học, các cấp học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bài học này sẽ là nền tảng kiến thức liên quan đến bài kia Chính vì lẽ đó mà trong quá trình diễn đạt, người viết sách thường dùng tiền giả định cho sẵn

Ví dụ: "Ở lớp 10 ta đã biết, có thể đặt tương ứng mỗi số thực X với một

điểm M duy nhất trên đường tròn lượng giác mà số đo của cung AM bằng x (rad) Điểm M có tung độ hoàn toàn xác định, đó chính là giá trị sinx"

(Đại số và Giải tích 11(2006) Nxb GD, trang 4)

Trang 32

Vì sách giáo khoa thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học nên việc sử dụng các biện pháp tu từ trong sách giáo khoa không được phổ biến cho lắm, nhưng không phải là không có Chúng ta vẫn bắt gặp các biện pháp như: liệt

kê, so sánh, …

Ví dụ:

- Biện pháp liệt kê: "Các ngành chính trong sản xuất nông nghiệp ở

Đông Nam Á là : trồng lúa nước, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản…"

(Địa lí 11(2006) Nxb GD, trang 104)

- Biện pháp so sánh:

+ "Trong những năm đầu thế kỉ XX, người ta cho rằng các electron

chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên tử theo những quỹ đạo tròn hay bầu dục như quỹ đạo của các hành tinh quay xung quanh Mặt trời"

(Hóa học 10(2006) Nxb GD, trang 19)

+ "…nguyên tử như một quả cầu, trong đó các electron chuyển động

rất nhanh xung quanh hạt nhân thì nó có đường kính …"

(Hóa học 10(2006) Nxb GD, trang 7) Một điểm đặc biệt nữa trong cách diễn đạt của sách giáo khoa cần lưu ý là cách chú thích Việc chú thích trong sách giáo khoa không cứng nhắc Có khi ta thấy người viết chú thích ngay trong văn bản nhưng cũng có khi chú thích ở cuối trang với dòng chữ nhỏ Với những chú thích dung lượng ít thì tác giả chú thích ngay chỗ cần giải thích, nhưng có những vấn đề dài mà lại cần đảm bảo tính hệ thống của bài học thì tác giả lựa chọn cách chú thích cuối trang

Ví dụ1: "Phép tu từ nào đã học (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, nói

quá, nói giảm nói tránh) có liên quan trực tiếp tới phương châm lịch sự?"

Trang 33

Ví dụ 2: "(*) Ca Huế: dân ca Huế nói riêng và vùng Thừa Thiên nói

chung Ca Huế ở đây chỉ một sinh hoạt văn hóa độc đáo của cố đô Huế: người nghe và người hát cùng ngồi thuyền đi trên sông Hương; Ca Huế thường diễn ra vào ban đêm và chủ yếu hát các làn điệu dân ca Huế"

Mỗi bài học là một đơn vị, đơn vị đó vận dụng nhiều phương pháp, biện pháp sư phạm phong phú, đa dạng để tổ chức các tập thể học sinh thực hiện hoạt động học tập trong một thời gian và một kế hoạch nhất định Mỗi bài học là một chỉnh thể kiến thức, đồng thời là một mắt xích trong hệ thống kiến thức của từng chương Cấu trúc bài học trong sách giáo khoa các bộ môn

có những điểm tương đồng Cụ thể đều có các phần như sau: phần mở bài(phần này xác định mục tiêu của bài học), phần nội dung bài học(phần thông báo thông tin, xử lí thông tin và kết quả cần đạt được), phần bài tập

Ví dụ: Cấu trúc của một bài học trong sách giáo khoa

BÀI 10 Kết quả cần đạt

LUYỆN TẬP (Ngữ văn 9(2006) Nxb GD, trang 127)

Bởi cấu trúc mỗi bài học đều giống nhau nên nhìn vào cấu trúc, giáo viên

có thể xây dựng phương pháp phù hợp và học sinh cũng dễ dàng nắm bắt được yêu cầu của mỗi bài học

Trang 34

1.3 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT

Cấu trúc nội dung sá h giáo khoa Ngữ văn hiện nay được soạn theo nguyên tắc t ch hợp Ở cấp Tiểu học môn học có tên gọi là Tiếng Việt, tập trung vào hai phần: Tiếng Việt và Văn học Đến chương trình Phổ thông, môn học với tên gọi Ngữ văn, được cấu trúc theo ba phần: Tiếng Việt, Tập làm văn và Văn học Đỗ Ngọc Thống đã khẳng định: "Chúng tôi lấy tên Ngữ văn

vì cho rằng nó có thể bao quát chung cho cả ngữ và văn; hơn nữa đây cũng chỉ là quy ước mang t nh tương đối Điều quan trọng là cấu trúc bên trong, nội hàm của thuật ngữ chứ không phải là tên gọi Trong thực tế từ trước tới nay, dù các văn bản chương trình có nhiều cách gọi như Văn học, Ngữ văn

hay Văn học và Tiếng Việt… thì nó vẫn thường được gọi tắt là môn Văn Và cho dù tên gọi thế nào thì cấu trúc nội dung của môn học này vẫn là 3 phần:

t ếng Việt, văn học và làm văn" Sách giáo khoa ngữ văn hiện hành được biên soạn trong mối liên thông với chương trình các lớp dưới và trong mối liên kết giữa các phân môn: Văn học, tiếng Việt và làm văn SGK có chú trọng về phương diện kĩ năng, tính thẩm mĩ và tinh thần nhân văn Về kết cấu nội dung, những người biên soạn SGK đã cố gắng sắp xếp cho có sự gần gũi về nội dung của các văn bản nhằm thuận lợi cho việc so sánh, đối chứng… có chú ý tính tích hợp trong việc khai thác tối đa các văn bản đọc - hiểu như là những dữ liệu cơ sở cho sự hình thành khái niệm, kĩ năng Và mỗi phân môn

có c c nội dung riêng,theo hệ thống của mỗi phân môn khá độc đáo

1.3.1 Phân môn Tiếng Việt

Phân môn Tiếng Việt đưa vào chương trình Trung học phổ thông không nhiều như chương trình Trung học cơ sở Ở chương trình Trung học cơ sở hầu như tuần nào cũng có t ết Tiếng Việt Và kiến thức ở chương trình Trung học

cơ sở luôn là kiến thức mới Còn chương trình Tiếng Việt trong sá h giáo khoa Trung học phổ thông một phần là ôn lại kiến thức, một phần cung cấp

Trang 35

kiến thức mới Theo phân phối chương trình,chúng tôi có thể điểm lại cá bài học, tết dạy của phân môn Tiếng Việt như sau:

Chương trình lớp 10:

Học kì I

- Hoạt động giao tếp bằng ngôn ngữ

- Văn bản

- Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

- Phong c ch ngôn ngữ sinh hoạt

- Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ

Học kì I

- Khái quát lịch sử t ếng Việt

- Những yêu cầu về sử dụng t ếng Việt

- Phong c ch ngôn ngữ nghệ thuật

- Phong c ch ngôn ngữ báo chí

- Thực hành lựa chọn c c bộ phận trong câu;

Trang 36

- Luyện tập phỏng vấn và trả lời phỏng vấn.

Học kì I

- Nghĩa của c u;

- Đặc điểm loại hình của t ếng Việt

- Phong c ch ngôn ngữ chính luận

- Ôn tập Tiếng Việt

Chương trình lớp 12:

Học kì I

- Giữ gìn sự trong sáng của t ếng Việt

- Phong c ch ngôn ngữ khoa học;

- Tổng kết phần Tiếng Việt Hoạt động giao tếp bằng ngôn ngữ;

- Tổng kết phần Tiếng Việt Lịch sử, đặc điểm loại hình và c c phong

c ch ngôn ngữ

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy, sá h giáo khoa Trung học phổ thông chủ yếu ôn lại những kiến thức đã được học ở chương trình cấp 2, chỉ cung cấp một số kiến thức mới Những kiến thức mới tập trung vào hoạt động giao

t ếp, c c phong c ch ngôn ngữ và đặc điểm,loại hình Tiếng Việt

1.3.2 Phân môn Văn học

Cấu tạo chương trình phần văn học đã coi trọng sự phát triển của loại thể Các văn bản theo các loại thể đưa vào chương trình vẫn được sắp xếp theo các giai đoạn và thời kì phát triển của văn học dân tộc Chương trình

Trang 37

được xây dựng như một chỉnh thể văn hóa mở thể hiện cái nhìn xuyên suốt chương trình từ lớp 10 đến lớp 12 Cụ thể như sau:

Chương trình lớp 10:

Học kì I

- Tổng quan văn học Việt Nam;

- Khái quát văn học dân gian Việt Nam;

- Chiến thắng Mtao Mxây (trích sử thi Đamsan).

- Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ.

- Uy-l t-xơ trở về (trích Ô-đi-xê).

- Ra-ma buộc tội (trích Ra-ma-ya-na)

- Tấm Cám;

- Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày;

- Ca dao than thân,yêu thương,t nh nghĩa

- Ca dao hài hước;

- Đọc thêm Lời t ễn dặn (trích Tiễn dặn người y u)

- Ôn tập văn học dân gian Việt Nam;

- Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ thứ X đến hết thế kỉ XIX;

Trang 38

- Nỗi oán của người phòng khuê (Vương Xương Linh);

- Khe chim kêu (Vương Duy)

- Đọc thêm: Thơ Hai-kư của Ba-sô;

Học kì I

- Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu)

- Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi)

- Tựa "Trích diễm thi tập" (Hoàng Đức Lương);

- Đọc thêm: Hiền tài là nguy n khí của quốc gia (Thân Nhân Trung)

- Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ)

- Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Ngô Sĩ Liên);

- Đọc thêm: Thái sư Trần Thủ Độ (Ngô Sĩ Liên);

- Hồi trống Cổ Thành (trích Tam Quốc diễn nghĩa - La Quán Trung);

- Đọc thêm: Tào Tháo uống rượu luận anh hùng (trích Tam Quốc diễn nghĩa - La Quán Trung)

- Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn,bản dịch của Đoàn Thị Điểm);

- Truyện Kiều (Phần 1: Tác giả)

- Trao duy n (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du);

- Nỗi thương mình (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du);

- Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du);

- Đọc thêm: Thề nguyền (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du);

- Nội dung và hình thức của văn bản văn học;

Trang 39

- Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến);

- Thương vợ (Trần Tế Xương);

- Đọc thêm: Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến),Vịnh khoa thi hương

(Trần Tế Xương);

- Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ);

- Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát);

- Lẽ ghét thương (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu);

- Đọc thêm: Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu), Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh

- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu);

- Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm);

- Đọc thêm: Xin lập khoa luật (Trích Tế cấp bát điều của Nguyễn

Trường Tộ);

- Ôn tập văn học trung đại Việt Nam;

- Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cá h mạng tháng 8 năm 1945;

- Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

- Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân);

- Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng);

- Một số thể loại văn học: Thơ, truyện;

- Chí Phèo (Nam Cao);

- Đọc thêm: Cha con nghĩa nặng (trích – Hồ Biểu Chánh); Vi hành

(Nguyễn Ái Quốc); Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan);

- Vĩnh biệt Cửu trùng đài (Trích Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng);

- Tình yêu và thù hận (Trích Rô-mê-ô và Giu-l -ét của Sếch-xpia);

- Ôn tập Văn học

Trang 40

- Đọc thêm: Lai Tân (Hồ Chí Minh), Nhớ đồng (Tố Hữu), Tương tư

(Nguyễn Bính),Chiều xuân (Anh Thơ)

- Tôi y u em (Pu-skin);

- Đọc thêm: Bài thơ số 28 (Ta-go);

- Người trong bao (Sê-khốp);

- Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Trích Những người khốn khổ

của V Huy-gô);

- Về luân l xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh);

- Đọc thêm: Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

(Nguyễn An Ninh)

- Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng-ghen);

- Một thời đại trong thi ca (trích Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh,Hoài Chân);

- Một số thể loại văn học: Kịch,văn nghị luận;

Ngày đăng: 15/05/2021, 15:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w