Trải qua quá trình lâu dài, ngày nay Việt Nam còn lưu giữ một kho tàng thể loại ca nhạc cổ truyền độc đáo và vô cùng đặc sắc, Nhã nhã cung đình Huế là một trong những thể loại đặc sắc đó
Trang 1KHOA LỊCH SỬ
*****
Đề tài:
KHAI THÁC GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT
CỦA NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ GẮN VỚI
Trang 2Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô Trần Thị Mai An – người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em về kiến thức, phương pháp nghiên cứu để em có thể hoàn thành được khóa luận này
Em cũng xin trận trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Lịch Sử trường Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng đã cung cấp một khối lượng kiến thức phong phú và hướng dẫn phương pháp nghiên cứu hiệu quả cho em trong 4 năm học vừa qua
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tích Cố Đô Huế, nhà hát cổ Duyệt Thị Đường cùng các đơn vị biểu diễn Nhã nhạc cung đình
đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìm kiếm, thu thập tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này
Được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè cùng với những
nổ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
với đề tài “Khai thác giá trị nghệ thuật của Nhã nhạc
cung đình Huế gắn với các hoạt động du lịch” Tuy đã rất
cố gắng nhưng do khả năng nghiên cứu hạn chế nên chắc chắn khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để khóa luận có thể hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích của đề tài 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 7
7 Bố cục 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT ÂM NHẠC THỪA THIÊN HUẾ VÀ ÂM NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ 8
1.1 Tổng quan về âm nhạc truyền thống Huế 8
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 8
1.1.2 Phân loại âm nhạc truyền thống Huế 10
1.1.3 Nét đặc sắc trong âm nhạc truyền thống Huế 12
1.2 Nghệ thuật âm nhạc cung đình Huế 14
1.2.1 Bối cảnh ra đời và phát triển 14
1.2.2 Các thể loại âm nhạc cung đình Huế 18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGHỆ THUẬT NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ GẮN VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 22
2.1 Khái quát về du lịch Thừa Thiên – Huế 22
2.2 Kinh nghiệm đưa nghệ thuật truyền thống vào việc phục vụ du lịch ở nước ta và trên thế giới 25
2.3 Giá trị nghệ thuật của Nhã nhạc cung đình Huế 32
2.4 Thực trạng công tác khai thác giá trị nghệ thuật của Nhã nhạc cung đình Huế vào việc phục vụ các hoạt động du lịch hiện nay 37
2.4.1 Số lượng, thành phần khách 39
Trang 42.4.3 Doanh thu, đơn vị phục vụ 43
2.4.4 Thuận lợi và khó khăn trong công tác phục vụ du khách 45
2.5 Các địa chỉ thưởng thức Nhã nhạc cung đình Huế 48
2.5.1 Nhà hát cổ Duyệt Thị Đường trong Hoàng Thành Huế 48
2.5.2 Nhà hát cổ Minh Khiêm Đường 50
2.4.2 Câu lạc bộ Phú Xuân 51
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, KHAI THÁC CÓ HIỆU QUẢ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ GẮN VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 52
3.1 Quan điểm, phương hướng chỉ đạo củaTrung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế 52
3.2 Một số giải pháp 54
3.2.1 Giải pháp về bảo tồn 54
3.2.2 Giải pháp về nguồn vốn và nhân lực 55
3.2.3 Giải pháp hợp tác với các tổ chức về văn hóa trong nước và thế giới 57
3.2.4 giải pháp về quảng bá, tuyên truyền 57
3.2.5 Giải pháp đa dạng hóa các sản phẩm lưu niệm 59
3.2.6 Giải pháp hợp tác với các công ty du lịch, các nhà hàng, khách sạn trong việc đưa du khách đến gần hơn với Nhã nhạc 60
3.2.7 Giải pháp về dàn dựng các chương trình nghệ thuật đặc sắc 61
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC ẢNH
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, đời sống của con người cũng được nâng cao Du lịch vì thế mà trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của mỗi người
Hiện nay sản phẩm du lịch không chỉ đơn thuần là những thắng cảnh đẹp, những khu vui chơi giải trí hấp dẫn mà đó còn là các giá trị văn hóa nghệ thuật Khai thác các giá trị văn hóa đó để phục vụ vào du lịch là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để bảo tồn và phát huy truyền thống dân tộc Đất nước ta với bề dày lịch sử ngàn năm đã xây dựng nên các giá trị văn hóa đặc sắc, mà âm nhạc chính là một trong những tài sản vô cùng quý báu
đó Âm nhạc Việt Nam có truyền thống khá lâu đời, ngay từ thời cổ cư dân Việt Nam đã rất say mê âm nhạc, đối với họ âm nhạc là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt sản xuất Trải qua quá trình lâu dài, ngày nay Việt Nam còn lưu giữ một kho tàng thể loại ca nhạc cổ truyền độc đáo và
vô cùng đặc sắc, Nhã nhã cung đình Huế là một trong những thể loại đặc sắc đó.Trải qua bao biến thiên, thăng trầm nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế ngày càng được coi trọng và tôn vinh, đây được xem là loại hình nghệ thuật truyền thống kết nối một cách tài tình giữa các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống với đời sống đương đại
Trong thời đại ngày nay khi mà du lịch đã trở thành cầu nối về tinh thần, kết nối tâm hồn, mong muốn được khám phá, tìm hiểu các giá trị văn hóa độc đáo của mỗi vùng đất, mỗi địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch thì âm nhạc truyền thống trở thành địa chỉ gắn kết giữa du khách và điểm đến Trong những năm gần đây Nhã nhạc cung đình Huế đã trở thành một thương hiệu văn hóa gắn bó chặt chẽ với các hoạt động du lịch, được xem như là một sản phẩm du lịch đặc biệt của Huế Góp phần vào việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở kinh đô xưa
Trang 6Việc bảo tồn và phát huy các giá trị âm nhạc truyền thống của dân tộc vào việc phục vụ du lịch đã được rất nhiều nước trên thế giới quan tâm điển hình như: Trung quốc với Kinh kịch,Nô của Nhật Bản… Hay gần với đất nước ta thì có Thái Lan, Lào…Ở Việt Nam việc kết hợp loại hình âm nhạc cổ truyền vào du lịch cũng đã được thực hiện, điều đó góp phần mang lại nét mới
lạ nhiều màu sắc trong hành trình du lịch của du khách
Huế là thành phố du lịch nổi tiếng của nước ta với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, cùng với đó là các giá trị văn hóa có bề dày lịch sử lâu đời Điều đó
đã mang lại cho thành phố Huế nét đặc trưng rất riêng hằng năm thu hút số lượng đông đảo du khách đến tham quan và tìm hiểu Việc đưa Nhã nhạc Huế vào các hoạt động du lịch góp phần lưu giữ và bảo tồn giá trị của nó, đồng thời còn giới thiệu một cách rộng rãi văn hóa Huế đến với du khách
Với mong muốn tìm hiểu về nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế, cũng như nhận thấy tầm quan trọng của nó đối với đời sống tinh thần và hoạt động
du lịch của thành phố Huế, tôi đã quyết định chọn đề tài “Khai thác giá trị
nghệ thuật của Nhã nhạc cung đình Huế gắn với các hoạt động du lịch”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính vì thời gian ra đời và phát triển khá sớm vì vậy nghệ thuật âm nhạc truyền thống của nước ta nói chung và Nhã nhạc cung đình Huế nói riêng được các học giả nghiên cứu từ lâu, đây cũng là đề tài được sự quan tâm đông đảo của rất nhiều học giả cũng như báo chí
Năm 1962, được sự tài trợ của Viện bảo tàng quốc gia nghệ thuật Á Đông, luận án tiến sĩ của Trần Văn Khê, chuyên gia hàng đầu về âm nhạc truyền thống Việt Nam đã được nhà xuất bản PUF (Paris) cho phát hành Lần đầu tiên hơn 100 trang nghiên cứu nhạc học bằng tiếng Pháp được dành cho Nhã nhạc cung đình Huế Sau khi tác phẩm này được công bố, trong những thập niên 1960-1990, Trần Văn Khê đã được nhiều nhà xuất bản các bộ bách khoa thư Âu, Mỹ mời viết về nhạc Việt Nam và nhạc châu Á Thành công này
đã đưa nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế đến gần hơn với bạn bè các nước
Trang 7trên thế giới, góp phần quảng bá hình ảnh của đất nước Việt Nam đến với bạn
bè quốc tế
Giáo sư Trần Văn Khê cũng có một bài viết trên trang web tranvankhe.vn
“Âm nhạc trong du lịch” đã đưa ra nhiều giải pháp, ý tưởng hay để có thể khai thác, kết hợp âm nhạc truyền thống trong du lịch từ khi đón tại sân bay, nơi lưu trú cho đến các địa điểm du lịch
Cuối 2002 - đầu 2003 Nhà văn hóa Việt kiều Trịnh Bách vốn là một nghệ sĩ đàn ghi ta tài hoa bậc thầy Sau một thời gian say mê tìm hiểu và phục chế thành công trang phục hoàng gia triều Nguyễn đã đến Huế bắt đầu tìm hiểu Nhã nhạc cung đình Huế, làm việc nhiều ngày ( ghi âm, quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn ) với những nghệ sĩ cung đình lão thành nay đã trên dưới 90 tuổi : Lữ Hữu Thi, Lữ Hữu Cử, Lê Văn Lương Kết quả là loạt bài Nhã nhạc Việt Nam trong cung đình triều Nguyễn đăng trên tạp chí Xưa và Nay ( Hà Nội ), các số 134 - 136 ( thánh 2 - 3 / 2003 ) chứa đựng nhiều thông tin nhạc học sâu sắc, ngẫm nghĩ mới mẻ Đặc biệt đáng chú ý là những dòng kết luận của nhà văn hóa Việt kiều đầy tâm huyết : " Lâu nay người ta nhắc nhiều đến các danh từ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Chúng ta cũng đã từng đề nghị UNESCO đưa nhã nhạc triều Nguyễn vào danh sách Di sản văn hóa nhân loại Trong khi đó thì một di sản văn hóa sống như cụ Lữ Hữu thi ( sinh năm 1909 ) cần phải được bảo tồn và khai thác để duy trì những tinh hoa văn hóa dân tộc Nhưng tiếc thay chỉ mới có người nước ngoài ( người Nhật bản ) quan tâm đến việc khai thác kiến thức ( và tài năng) của cụ, còn trong nước thì mấy ai biết đến ( di sản văn hóa sống này ) " [36]
Năm 2005 với nhiều năm kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực nghiên cứu về âm nhạc truyền thống GS.TS Trần Văn Khê đã cho xuất bản tác phẩm
“Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam”, cuốn sách đã trình bày về lịch sử hình thành, sức sống mãnh liệt và những giá trị đặc sắc cùng sức hấp dẫn của âm nhạc truyền thống Việt Nam Giáo sư đã bày tỏ niềm mong mỏi , khát khao nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam được giới thiệu, quãng
Trang 8bá đến bạn bè các nước trên thế giới, trong đó du lịch chính là phương tiện hữu hiệu nhất
Việc khai thác Nhã nhạc cung đình Huế trong các hoạt động du lịch cũng được nhiều tác giả quan tâm Tác giả Mai Hoa trong bài báo “Đưa nghệ thuật truyền thống vào du lịch: cần sự bắt tay từ hai phía” đăng trên báo công thương ngày 23/12/2012 đã đưa ra ví dụ về sự thành công của một số đơn vị trong khai thác nghệ thuật âm nhạc truyền thống với việc phát triển du lịch Tuy nhiên tác giả cũng đưa ra một số nguyên nhân lý giải cho việc còn nhiều hạn chế trong công tác gắn kết âm nhạc cổ truyền với du lịch như điều kiện cơ
sở hạ tầng, rào cản về văn hóa, rào cản về tuổi tác, ngôn ngữ…
Bài viết được đăng mới đây trong trang chủ của Bộ Văn Hóa Thể Thao
và Du Lịch số ra ngày 16/10/2013/ “Bảo tồn giá trị di sản gắn với phát triển
du lịch: Góc nhìn từ Cố đô Huế”, bài viết chủ yếu đề cập đến công tác khai thác có hiệu quả nghệ thuật Nhã nhạc cung đình trong du lịch từ năm 2000 cho đến nay Đồng thời tác giả cũng nêu lên các biện pháp trong công tác đa dạng hóa sản phẩm du lịch nhằm thu hút ngày càng đông đảo số lượng khách đến với Huế
Báo nhân dân với bài viết “Gắn kết chặt chẽ văn hóa với du lịch” đề cập đến vấn đề quảng bá và khai thác có hiệu quả di sản phi vật thể Nhã nhạc cung đình trong việc phục vụ du lịch, bài viết cũng nêu lên những thách thức trong công tác bảo tồn giá trị nghệ thuật Nhã nhạc cung đình trong điều kiện hiện nay
Trên đây là một số ít công trình cũng như bài viết nghiên cứu về Nhã nhạc cung đình Huế Trên cơ sở kế thừa kết quả của những tác giả đi trước, tôi đã cố gắng tìm tòi, tổng hợp tài liệu đồng thời đưa ra một số biện pháp để đưa giá trị của Nhã nhạc cung đình Huế vào công tác phục vụ du lịch một cách có hiệu quả nhất
Trang 93 Mục đích của đề tài
Hiện nay Nhã nhạc cung đình Huế đang được kết hợp với các chương trình du lịch phục vụ cho du khách phổ biến khi đến với Huế Nhã nhạc cung đình Huế đang được cả khách nội địa và khách quốc tế đón nhận nồng nhiệt
Vì vậy khi thực hiện đề tài khóa luận này mục đích nghiên cứu cứu chính là tìm hiểu tổng quan về nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế, làm rõ vị trí, tầm quan trọng của Nhã nhạc cung đình Huế đối với văn hóa dân tộc và đối với du lịch
Từ đó xác định được thực trạng của việc khai thác Nhã nhạc cung đình Huế trong du lịch hiện nay, nêu lên các vấn đề, giải pháp bảo tồn nhằm xây dựng nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính mà đề tài hướng đến là nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế, cụ thể hơn là các thể loại âm nhạc trong Nhã nhạc cung đình Huế được dùng tùy theo mục đích và ngữ cảnh thích hợp như: giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc… Và một số chương trình hoạt động du lịch có liên quan đến nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian
Nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế được hình thành từ lâu đời, theo sách sử thì được ra đời từ triều Lý( 1011 – 1025) Tuy nhiên phải tới triều Nguyễn vào nửa đầu thế kỷ thứ XIX khi điều kiện xã hội đã cho phép Nhã nhạc cung đình Huế mới phát triển một cách mạnh mẽ Vào cuối thế kỷ XIX, khi đất nước lâm vào nạn ngoại xâm, vai trò của triều đình mờ dần, thì âm nhạc cung đình cùng các lễ nghi cũng giảm và mờ dần Hiện nay Nhã nhạc không còn giữ được diện mạo như xưa, nhưng nó vẫn có thể là một minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa đặc biệt của dân tộc Việt Nam
Trang 10- Phạm vi về không gian
Đề tài tập trung đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, gắn liền với tổng thể là âm Nhạc truyền thống Việt Nam
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi khai thác tu liệu từ nhiều nguồn khác nhau Trên cơ sở những tài liệu đã tham khảo, tôi chia thành các nguồn tư liệu sau:
- Tư liệu thành văn: đây là nguồn tư liệu quan trọng cung cấp hệ thống
kiến thức cơ bản làm cơ sở nền tảng lý thuyết cho đề tài từ sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, các trang web…
- Tư liệu thực địa: Thu thập qua điền dã, thực tế tại địa điểm nghiên cứu
như hình ảnh, tài liệu…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu
Thu thập các thông tin tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên việc tìm kiếm tự liệu đó phải phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài
Sau khi thu thập đầy đủ tư liệu tiến hành phân tích, thống kê các nguồn
tư liệu để tìm ra được tính toàn vẹn, phát hiện ra các mối quan hệ giữa các vấn đề liên quan từ đó rút ra những kết luận cần thiết liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp thu thập trực tiếp các thông tin, hình ảnh, số liệu thông tin về du lịch trên khu vực thực hiện khảo sát Đây là phương pháp dùng để kiểm tra, đối chứng sự chính xác của các thông tin trong nguồn tư liệu viết từ đó chọn lọc những thông tin chính xác, đầy đủ phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Trang 11Đồng thời cùng với đó là đưa ra các biện pháp bảo tồn Nhã nhạc cung đình Huế một cách có hiệu quả, tránh làm biến tướng giá trị nghệ thuật vốn có của nó
Kết quả của đề tài sẽ là tài liệu có giả trị để các cấp, ngành xem xét và ứng dụng vào công tác bảo tồn và đưa Nhã nhạc cungđình Huế vào hoạt động
du lịch tại địa phương
- Chương III: Một số giải pháp bảo tồn, khai thác có hiệu quả giá trị
nghệ thuật của Nhã nhạc cung đình Huế gắn với các hoạt động du lịch
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT ÂM NHẠC THỪA THIÊN HUẾ VÀ ÂM NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
1.1 Tổng quan về âm nhạc truyền thống Huế
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
“Huế đã từng là thủ phủ của Đàng Trong (1687-1775) và kinh đô 1945), trung tâm hội tụ văn hóa của cả nước, nơi giao lưu, tiếp biến của nhiều nền văn hóa Trong điều kiện thuận lợi đó, một kho tàng diễn xướng vô cùng phong phú và đặc sắc đã hình thành tại Huế, trong đó đáng kể nhất là kho tàng
(1802-âm nhạc bao gồm cả (1802-âm nhạc dân gian và (1802-âm nhạc cung đình-bác học” [1: 32]
Âm nhạc dân gian là âm nhạc của giới bình dân, do cộng đồng sáng tạo
và nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa dân gian Âm nhạc dân gian xứ Huế rất phong phú và đặc sắc Từ giữa thế kỷ XVI, Dương Văn An đã ghi lại trong
Ô châu cận lục: “Xuân sang thì mở hội bơi trải, gái lịch trai thanh; hạ tới thì bày cuộc dấu thăm, dập dìu rộn rã nơi ca chốn múa Tế lễ thì chuộng lập đàn trai bạt, đến sạt của hàng vạn muôn, ngõ hầu cạnh Phật An táng thì ca múa trước linh cửu, tên gọi đưa linh Nơi ca múa gióng trống thúc giờ vui trọn cả đêm Mỗi khi cầu đảo thì dùng lễ mọn con gà mà bày nghi lễ hát ca” [1:68 - 69]
Trên nền tảng đó, kể từ khi Huế trở thành thủ phủ của Đàng Trong (1687
- 1775) và kinh đô của cả nước (1802 - 1945), dòng âm nhạc dân gian xứ Huế lại tiếp tục có điều kiện phát triển thêm về bài bản và da dạng về thể loại Điều đó được thể hiện qua những gì vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay
Ngoài âm nhạc dân gian ở Huế còn hình thành dòng Âm nhạc cung đình bác học, đây là loại nhạc được sử dụng trong các nghi lễ cung đình, phục vụ đời sống tinh thần của hoàng gia và giới trí thức Nó phản ánh ý thức hệ của vương quyền và giới thượng lưu, trí thức trong xã hội Huế xưa
Nhạc Huế mang sắc thái địa phương rõ rệt, nhưng nhạc Huế lại không phải là một thứ âm nhạc địa phương, dưới các triều đại phong kiến nhà
Trang 13Nguyễn Do hoàn cảnh lịch sử, nhạc Huế - qua thành phần nhạc lễ và cung đình đã một thời gian khá dài đóng vai trò là "quốc nhạc" dưới thời thuộc Pháp Nhạc Huế vẫn chinh phục được quần chúng hâm mộ rộng rãi, được sử dụng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc và Nam Và ở những nơi này, không phải chỉ có vấn đề thưởng thức nhạc Huế như một đặc sản có hương vị lạ từ nơi khác đem đến, mà người ta còn thấy hiện tượng nhạc Huế thâm nhập vào nhạc Bắc, ảnh hưởng trở lại làm giàu có thêm cội nguồn miền Bắc, đồng thời khi đi sâu vào Nam, nó lại đã đóng góp những nhân tố quan trọng, từ đó đã nảy sinh và hình thành cái được xem là phong cách đặc thù của âm nhạc miền Nam
Nếu nói về gốc gác lịch sử, có lẽ không ai phủ nhận nhạc Huế đã khởi sự hình thành từ cội nguồn nhạc Bắc Những cứ liệu lịch sử từ thời Nguyễn Hoàng vào xã Ái Tử (Quảng Trị) hay câu chuyện Đào Duy Từ , cho thấy trên
đà mở nước vào phía Nam, văn học nghệ thuật nơi đất Tổ lưu vực sông Hồng
đã từ mấy thế kỷ vượt qua sông Gianh và Bến Hải Lại có thể thấy chứng cớ khác ngay trong bản thân nhạc Huế những "bản Bắc", còn mang một cái tên
có ý nghĩa nữa là những "bản Ngự", với tính chất một thành phần cơ sở của nhạc Huế, đã vừa nói lên cái xuất xứ cũng như mối quan hệ khăng khít với nhạc Bắc
Do hoàn cảnh địa lý, với những bãi biển, với sông Hương núi Ngự dễ khiến con người tức cảnh sinh tình, hay trong cuộc sống lao động và sự sinh tồn, để giảm bớt những khó khăn vất vả, nhọc nhằn trong lao động sản xuất, những điệu hò câu ví và các loại hình nghệ thuật dân gian cũng được hình thành và ngày càng phong phú Nói cách khác, do những điều kiện kinh tế khắc nghiệt nhiều hơn là thuận lợi, đã buộc con người, bằng mọi cách, kể cả cách dùng phương tiện nghệ thuật, vươn lên chống chọi với thiên nhiên, kiếm tìm cuộc sống ấm no hơn Do những dấu giọng đặc thù trong tiếng nói, uyển chuyển tinh vi, hay do chính ở đây, nơi tiếp xúc với nền văn hóa nghệ thuật, dân tộc Chăm đã hình thành những âm điệu, giọng điệu, những thể loại mới
Trang 14mẻ so với cái vốn cổ truyền từ Bắc đem vào, tạo nét đặc trưng riêng cái thường được gọi là phong cách "Huế", phong cách "miền Trung", hay nói gọn
là "nhạc Huế"
1.1.2 Phân loại âm nhạc truyền thống Huế
Âm nhạc Huế là nơi hội tụ của nhiều dòng nhạc, dòng nhạc cung đình, nhạc dân gian, dòng nhạc tín ngưỡng tôn giáo Mặc dù mnag sắc thái địa phương rõ rệt nhưng nhạc huế lại không phải là một thứ âm nhạc địa phương Dưới các triều đại phong kiến nhà Nguyễn, nhạc Huế qua thành phần nhạc lễ
và nhạc cung đình đã có một thời gian dài đóng vai trò là quốc nhạc Chính vì
lẽ đó nên rất khó phân biệt rạch ròi, cụ thể một thể loại âm nhạc truyền thống nào của Huế thuộc bộ phận dân gian hay cung đình vì trong quá trình hình thành và phát triển âm nhạc truyền thống Huế luôn có sự giao thoa, qua lại lẫn nhau
Ngày nay dưới con mắt những người đang tìm hiểu và nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Huế thì âm nhạc Huế thường được chia làm ba thành phần chủ yếu: nhạc lễ (bao gồm cả nhạc cung đình và nhạc Rõi bóng), dân ca (bao gồm các điệu hò, lý, kể ,vè…), ca Huế
- Nhạc lễ
Nhạc lễ là nhạc được sử dụng trong các nghi lễ đời sống phong kiến ngày trước, nhạc lễ gồm có nhạc lễ nghi thờ cúng và nhạc lễ nghi triều chính Thời Lê sơ nhạc cung đình và nhạc lễ trong dân gian có sự khác biệt, nhạc cung đình do các bộ đồng văn và nhã nhạc trình tấu, còn nhạc lễ trong dân gian do các Giáo phường quản lý Với sự suy tàn của các triều đại về sau đặc biệt là dưới thời Pháp thuộc, nhạc cung đình đã bị phân hóa mạnh mẽ, bộ phận gần gũi với đời sống nhân dân đồng hóa luôn với nhạc lễ dân gian
Âm nhạc Rõi bóng (ở miền trung còn được gọi là hát chầu văn), là thành phần âm nhạc dựa trên cơ sở chính là nhạc đàn, hát chầu văn dược diễn xướng trong nghi lễ của tôn giáo cổ sơ dân gian, thường để làm nền cho các vũ điệu chầu hầu thánh mẫu và các vị thần tháp tùng thánh mẫu
Trang 15Nhạc lễ và nhạc Rõi bóng có hai hình thức thể hiện chủ yếu là Đại nhạc gồm chủ yếu bộ gõ và kèn và tiểu nhạc chủ yếu các loại nhạc dây, các bản nhạc lễ sắp xếp theo hệ thống chặt chẽ, tùy theo mỗi nghi thức lễ lạc mà có những bài hòa tấu nhạc lễ khác nhau
- Dân ca Huế
Dân ca là dòng sữa tâm hồn nuôi lớn bao thế hệ người Việt, dân ca Huế
ra đời gắn liền với quá trình lao động, sản xuất của con người nơi đây Huế cuộn mình trong những bãi biển thơ mộng, với sông Hương núi Ngự dễ khiến con người tức cảnh sinh tình nhất là trong cuộc sống lao động sinh tồn Để giảm bớt những khó khăn vất vả trong lao động sản xuất, những điệu hò, câu
ví và các loại hình nghệ thuật dân gian dần được hình thành và ngày càng phát triển phong phú
Dân ca nói chúng và dân ca của Huế nói riêng trước hết bao gồm những điệu hay là “giọng” hò, có những điệu hò lao động như “hò khoan”, “hò sắp mái”… có tiết tấu nhẹ nhàng, linh hoạt với những khúc thức điển hình của nó Huế là nơi sản sinh ra những điệu hò nổi tiếng như “hò mái nhì”, “hò mái đẩy”, có âm điệu vấn vương, khúc thức phóng khoáng nói lên tâm tình của con ngưới sống giữa thiên nhiên thơ mộng Chịu ảnh hưởng của tiếng nói miền Trung cùng với đó là sự ảnh hưởng của các nhân tố âm nhạc chính vì vậy dân ca Huế có những biến âm rất đặc sắc Bên cạnh những phong tục tập quán in đậm truyền thống bản địa, là cả một kho tàng nghệ thuật dân gian, đặc biệt là sự nở rộ của loại hình dân ca Huế
Trang 16Mặc dù được hình thành và phát triển từ lâu đời, tuy nhiên để xác định chính xác mốc thời gian phát sinh cụ thể ca Huế thì chưa có tài liệu xác đáng nhất, do trong giai đoạn đầu hình thành thiếu thốn và mất mát
Tác giả Ưng Bình Thúc Giạ (1877-1961) viết: “gọi là ca Huế vì âm thanh người Huế hợp với giọng ca này, mà xứ Huế như người quãng Bình, Quãng Trị cũng ca được, còn từ Linh Giang dĩ Bắc, Hải Vân quan dĩ Nam đều có người ca, điệu ca khởi điểm từ thời nào, thời khởi điểm từ thời Hiếu Minh” (chúa Nguyễn, về hệ 7,thế kỷ XVII)
Giáo sư.tiến sỹ Trần Văn Khê cũng bàn về thời điểm hình thành ca Huế:
“không có sử liệu nào nói ca Huế có từ bao giờ, chỉ biết rằng ca Huế không phải là loại nhạc dân gian, vì nói chỉ được giới quyền quý trong cung đình sử dụng Vậy có thể nói rằng đây là loại quan nhạc chứ không phải dân nhạc” (Dẫn theo bài viết Dương Bích Hà “Âm nhạc cổ truyền xứ Huế trong mối quan hệ bác học và dân gian”, (7/1999) Tạp chí Sông hương )
Cùng với các điệu lý, hò, ca Huế đã góp phần tạo nên bộ mặt của âm nhạc truyền thống Huế, tạo nên chỗ đứng vừng chắc cho âm nhạc Huế trong lòng âm nhạc truyền thống nước nhà
1.1.3 Nét đặc sắc trong âm nhạc truyền thống Huế
Âm nhạc truyền thống Huế có những đặc điểm, sắc thái riêng, vừa hài hòa giữa điệu bắc, điệu nam vừa có tính khoa học trong cấu trúc bài bản và các thể loại âm nhạc
Âm nhạc truyền thống Huế có những mối tương quan ảnh hưởng với âm nhạc truyền thống của các tỉnh Bắc Trung Bộ như Nghệ An, Hà tĩnh, Quãng Bình, Quãng trị như lề lối trong sinh hoạt hò hát Ví dụ tiến trình một cuộc hò giã gạo ở Huế giống như tiến trình hát ví phường Vải xứ Nghệ, có một số lượng lớn câu hò giống nhau hoặc tương tự nhau giữa hò Huế với dân ca Nghệ Tĩnh
Từ những nét giống nhau đó cho ta thấy có một sự tương quan ảnh hưởng về âm nhạc truyền thổng ở các vùng lân cận với nhau Tuy nhiêm âm
Trang 17nhạc truyền thống Huế vẫn mang những sắc thái rất riêng biệt mà chỉ vùng đất và con người nơi đây mới làm nên
Về thể loại thì âm nhạc truyền thống Huế có phần phong phú với các vùng khác trong cả nước với các điệu Hò, Vè, Ca Huế, Nhã nhạc, Ca dao… Trong mối tương quan với Dân ca Việt Nam, nếu trong làn điệu hò ở Bắc, yếu tố tình cảm chưa có cơ hội nhiều để phát triển thì trong các làn điệu Huế yếu tố tình cảm giãn nở dần theo tiến trình thời gian của một cuộc hò Nội dung phản ánh trong các tác phẩm âm nhạc truyền thống ở Huế là tiếng nói thắm thiết, giàu tình nghĩa, kín đáo, thương cảm và hướng nội Tình cảm dễ bộc lộ nhất là ấn tượng đẹp về phong cảnh, con người ở quê hương Khi so sánh về loại hình Ca dao giữa Huế và vùng Nghệ Tĩnh thì Ca dao Huế có những nét gần gũi hơn Ca dao Nghệ Tĩnh thể hiện được sự rắn rỏi, mạnh mẽ của tính cách con người vùng ấy
Trong Ca dao trữ tình Huế, lời nói bớt đanh thép cứng rắn mà dịu dàng hơn Cái thầm lặng cũng không đến mức lạnh lùng Đó là những nét dung hòa, gọt bớt cái sắc cạnh, cứng cáp
Âm nhạc truyền thống Huế còn đậm tính chất khôi hài trào phúng, nhất
là đối với loại hình Ca Huế,lối trào phúng ở Huế ngoài sự nhẹ nhàng, kín đáo còn có chiều sâu của tư tưởng, ẩn chứa một triết lý nhân sinh thâm trầm sâu sắc
Về hình thức nghệ thuật, đa số các loại hình nghệ thuật âm nhạc truyền thống ở Huế thể thơ lục bát vẫn được dùng phổ biến nhất.Về số lượng, thể thơ lục bát biến thể chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất
Các sáng tác âm nhạc truyền thống Huế thường biến thể chứng tỏ sự phóng khoáng hơn trong ngôn ngữ so với sáng tác dân ca ở Bắc Bộ Đó là dấu hiệu phản ánh tâm hồn đầy tính chất sống động của cư dân ở vùng đất mới Xét kết cấu thi ca, về mặt cấu ý, mỗi câu trong các tác phẩm nghệ thuật truyền thống Huế bất kỳ dài ngắn đều gởi gắm ít ra cũng một ý tình trọn vẹn
Về cách sử dụng từ ngữ, ở đây từ ngữ địa phương được dùng khá phổ biến và
Trang 18nhuần nhuyễn, nhiều câu Hán tự xen vào các câu hò mộc mạc, dân dã mà vẫn
tự nhiên Trong lối hò đối đáp nam nữ, những tri thức ngôn ngữ được thể hiện thật phong phú
Về không gian nghệ thuật trong các tác phẩm âm nhạc truyền thống ở Huế, ngoài loại hình âm nhạc truyền thống là Nhã nhạc cung đình (phục vụ cho tầng lớp vua chúa, quan lại) thì hầu hết các loại hình âm nhạc còn lại lấy không gian gần gũi với từng cá nhân trong cuộc sống đời thường như: Bến nước, cây đa, cánh đồng, mái đình, ngôi chùa, đường xóm
Đặc biệt nhất là mưa Huế cũng được đưa vào các nghệ thuật âm nhạc truyền thống nơi đây nhưu là một nét riêng biệt của Huế Những dạng mưa mang sắc thái Huế: mưa dầm, mưa lâm thâm, mưa xối xả, mưa bay bay, mưa sa
Sắc thái địa phương này được thể hiện một cách đậm nét qua những câu
hò đầy tính trữ tình
Do ảnh hưởng của các giọng nói địa phương nên giọng điệu trong các tác phẩm âm nhạc truyền thống Huế mang một nét riêng, không thể lẫn với bất cứ vùng nào
Cũng như các các vùng khác trên đất nước ta, âm nhạc truyền thống xứ Huế, đã trải qua những bước thăng trầm, phát triển cùng với mảnh đất và con người nơi đây, thế nhưng vẫn giữ được những nét đẹp vốn có của nó Khi Huế được công nhận là di sản văn hóa của nhân loại, khi lòng người Thừa Thiên Huế vẫn yêu thích văn nghệ truyền thống thì chúng ta có cơ sở và điều kiện
để hy vọng dù thời gian có thay đổi, nghệ thuật âm nhạc truyền thống Huế vẫn mang đầy tính dân tộc
1.2 Nghệ thuật âm nhạc cung đình Huế
1.2.1 Bối cảnh ra đời và phát triển
Nhã nhạc cung đình Huế nằm trong tổng thể âm nhạc truyền thống Thừa -Thiên Huế Sự hình thành, tồn tại và phát triền của thể loại Nhã nhạc cung đình gắn liền với những thắng trầm trong tiến trình lịch sử của mảnh đất này
Trang 19Nhã nhạc xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới thời nhà Chu (thế kỷ VI – III TCN) về sau Nhã nhạc được lan tỏa sang các nước lang giềng gồm có : Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam Nhã nhạc (âm nhạc cung đình) là loại hình âm nhạc chính thống, được xem là quốc nhạc, sử dụng trong các cuộc tế
lễ của triều đình Theo sử sách ghi chép vào thời nhà Lý (1010 – 1225) các vua Lý Thánh Tông, Lý Thái Tông, Lý Cao Tông đều có sáng tác nhạc để thưởng thức Trên nhiều bệ đá kê các cột chùa Vạn Phúc (còn gọi là chùa Phật Tích vùng kinh bắc – Bắc Ninh) thấy chạm nổi một dàn nhạc mười người chơi gồm tám nhạc khí thổi tiêu, sanh (ống sáo), đánh phách, trống cơm, nhị, gảy đàn cầm, đnà tam, tỳ bà Dàn nhạc gồm bốn nhạc khí dây, hai nhạc khí thổi, hai nhạc khí gõ, đây đều là những nhạc khí thuần Việt hoặc có nguồn gốc từ Trung quốc, Ấn Độ, Chăm Pa Sử sách còn ghi lại sự gần gũi giữa các ông vua với thể loại Nhã nhạc cung đình Vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) là người giỏi thơ văn, thích múa nhạc đích thân ông phiên dịch một khúc nhạc Chăm Pa, ghi chép một điệu trống Chăm Pa rồi sai nhạc công tập luyện, biểu diễn
Sự ra đời của âm nhạc cung đình còn có sự giao thoa với âm nhạc và văn hóa của vương quốc Chăm Pa Năm 1069 vua Lý Thánh Tông đánh chiếm
Chăm Pa thu về ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh ( tức Quãng Bình và bắc
Quãng Trị ngày nay) Chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho một bộ phận người Việt tiến hành công cuộc nam tiến, tại đây người Việt và người Chăm bắt đầu chung sống với nhau Đây là điều kiện thuận lợi để Đại Việt có
cơ hội tiếp thu nền văn hóa Chăm Pa nhất là nền âm nhạc cung đình của vương quốc này
Nền văn minh Đại Việt của thời đại nhà Lý là giai đoạn huy hoàng của văn hóa Việt, trong đó nghệ thuật âm nhạc cung đình có những bước tiến đáng kể Năm 1060 vua Lý Thánh Tông sai người dịch các khúc nhạc Chăm
Pa rồi cho nhạc công ca hát, Đại Việt Sử Ký có chép “ ở triều Lý vua khiến nhạc công đặt khúc nhạc gọi là điệu Chiêm Thành, tiếng trong trẻo mà ai oán
Trang 20than thương, ngâm nghe phải khóc” [1:47] Đây có thể xem là thời kỳ phát
triển vượt bậc của âm nhạc cung đình , khi hầu hết tất cả các ông vua đều thông thạo về âm nhạc
Đến thời kỳ nhà Trần âm nhạc cung đình phát triển thêm một bước tiến mới
Khi xây dựng nên hai hình thức dàn nhạc là Đại nhạc và Tiểu nhạc, năm
1307 Lê Tắc trong An Nam Chí Lược có viết “nhạc cung đình đời Trần có Đại nhạc, dân gian có Tiểu nhạc với cả thảy 12 nhạc khí: đàn gáo, đàn cầm, tỳ
bà, thất, huyền, tranh, tam, kèn tất lật, sáo dọc, sáo ngang, phách, tiêu bạt và trống cơm”, (trống này Lê Tắc nói rõ là có nguồn gốc từ Chăm Pa)
Nhiều bản như “Nam Thiên Lạc” (lạc thú dưới trời nam), “Ngọc Lâu Xuân” (xuân trên lầu ngọc), “Mộng Du Tiên” (mơ chơi cõi tiên)… cùng lối hát ả đào – một thể loại âm nhạc thính phòng đã ra đời từ thời đại này
Bước sang thế kỷ XV âm nhạc cung đình Việt có nững bước chuyển biến đáng kể Thời đại nhà Hồ (1400 – 1407) mặc dù tồn tại trong thời gian rất ngắn nhưng cũng đã tiến hành nhiều cuộc cải cách về văn hóa, kinh tế, xã hội Đối với âm nhạc cung đình nhà Hồ chính thức cho du nhập Nhã nhạc cùng một số nguyên tắc của nó từ Trung Hoa Nhã nhạc thời kỳ này có sử dụng múa văn và múa võ
Đến thời đại nhà Lê (1427 – 1788), sau khi đánh bại nhà Minh giành lại độc lập dân tộc, đưa nền văn hóa Việt Nam ra khỏi họa diệt vong của nhà Minh, nhà Lê sơ đã đưa chế độ phong kiến Việt Nam lên một giai đoạn mới, hoàn thiện bộ máy chuyên chế tập quyền Thời kỳ này Nhã nhạc được phát triển như một thể loại nhạc chính thống, một thứ tài sản riêng của triều đình,
âm nhạc dân gian thời kỳ này cũng được hoàn thiện, xuất hiện nhiều trung tâm dân ca với những làn điệu, thể loại phong phú
Thời kỳ này âm nhạc cung đình cùng song song tồn tại và phát triển với dòng âm nhạc dân gian Về quy mô, tổ chức âm nhạc cung đình Việt dưới thời nhà Lê đã trở nên hoàn thiện và chặt chẽ, các tổ chức âm nhạc được
Trang 21thành lập dưới sự cai quản của các nhạc quan Thời kỳ này triều đình nhà Lê định ra 8 loại nhạc, gồm: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Cứu nhật nguyệt trùng giao nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Đại yến nhạc, Cung trung nhạc phỏng theo nguyên tắc Nhã nhạc của nhà Minh Trung Quốc Tuy nhiên bước sang thế kỷ XVI – XVII đặc biệt là cuối triều Lê, âm nhạc cung đình dần đi vào suy thoái, các dàn nhạc dần bị thu hẹp, Nhã nhạc
và Tục nhạc (nhạc dân gian) không còn phân biệt rõ ràng như trước nữa Một
số dàn nhạc dân gian còn được đưa vào chơi trong cung đình
Sau khi triều đại nhà Nguyễn (1802 – 1945) lên kế vị, tình hình kinh tế
xã hội dần ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn hóa nghệ thuật phát triển, đặc biệt dưới triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức Âm nhạc thời
kỳ này được nhà vua voi trọng và giao cho Bộ Lễ tổ chức nhiều thể loại âm nhạc cung đình Dưới triều Nguyễn Nhã nhạc được quy định thành 7 thể loại, gồm: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung nhạc Cũng trong thời kỳ này số lượng nhạc chương phong phú, đây được xem là thời điểm nở rộ của các dàn nhạc cung đình So với các triều đại trước, triều đình Nguyễn đã bổ sung, mở rộng thêm nhiều dàn nhạc với quy mô lớn
Năm 1858 thực dân pháp gây hấn và bắt đầu công cuộc xâm lược Đại Nam, triều đình nhà Nguyễn thất thủ, đời sống cung đình tẻ nhạt chính vì vậy
âm nhạc cung đình cũng ngày càng sa sút Cuối thời Nguyễn, triều đình chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là đại nhạc và tiểu nhạc, bên cạnh đó cùng với sự ảnh hưởng ngày càn mạnh mẽ của văn hóa phương tây, đặc biệt là văn hóa Pháp Triều đình nhà Nguyễn đã cho du nhập dàn quân nhạc của phương tây Đến những năm 1945 khi chế độ quân chủ Việt Nam chấm dứt, âm nhạc cung đình dần mất dần vị trí, đi vào thời kỳ suy thoái và có nguy cơ thất truyền
Sau khi vua Bảo Đại thoái vị, cựu Hoàng thái hậu Đức Từ Cung ( hay Đức Từ) đã là người có công rất lớn trong việc cứu Nhã nhạc cung đình thoát
Trang 22khỏi nguy cơ thất truyền Bà tiến hành công cuộc triệu hồi các nhạc công thất nghiệp, lập lại một số ban lễ nhạc nhằm phục vụ các buổi tế cũng như nhu cầu thưởng thức âm nhạc cung đình của một số bộ phận quan lại cũ và người dân lúc bấy giờ
Như vậy về mặt lịch sử Nhã nhạc cung đình hôm nay đã có tuổi đời gần
1000 năm, từ lúc manh nha khi được tạc trên bia đá của thời Lý, đến khi định hình ở thời Trần, phát triển ở thời Lê, đạt độ chín muồi ở thời Nguyễn rồi lại tàn tạ theo sự suy vong của thời đại
Mặc dù trải qua không ít thăng trầm, khó khăn của thời cuộc, chiến tranh loạn lạc đã làm cho không ít lần giá trị nghệ thuật của loại hình âm nhạc này
bị mai một, thế nhưng với sức sống bến bỉ cùng với đó là ý thức bảo tồn giá trị dân tộc của những người yêu âm nhạc Nhã nhạc cung đình vẫn được bảo lưu và gìn giữ cho đến ngày nay Trong những năm gần đây nước ta rất chú trọng đến công tác phục hồi Nhã nhạc nhất là từ sau 1993 – 1995 sau khi di sản kiến trúc Huế được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa thế giới
1.2.2 Các thể loại âm nhạc cung đình Huế
Âm nhạc cung đình theo nghĩa thông thường được hiểu là các thể loại ca nhạc kể cả các thể loại ca nhạc đi kèm với múa và kịch hát, dùng trong các lễ nghi cúng tế và triều chính, các ngày quốc lễ do triều đình tổ chức, sinh hoạt giải trí của vua và hoàng tộc Tên gọi Nhã nhạc được các triều đại phong kiến Việt Nam dùng với các nội hàm như: chỉ âm nhạc cung đình nói chung, lễ nhạc cung đình nói riêng, khi để chỉ một tổ chức âm nhạc , thậm chí một dàn nhạc cụ thể
Các thể loại âm nhạc cung đình Huế bao gồm: nhạc lễ (nhạc lễ nghi thờ cúng và nhạc lễ nghi triều chính), múa cung đình, ca nhạc thính phòng và kịch hát (tuồng cung đình)
- Nhạc lễ: Nhạc Lễ là nhạc sử dụng trong các nghi lễ đời sống phong kiến ngày trước Thời Lê sơ, nhạc Cung đình và nhạc Lễ trong dân gian có sự khác biệt,loại thứ nhất do các bộ Đồng văn và Nhã nhạc trình tấu, loại thứ hai
Trang 23do ty Giáo phường quản lý Với sự suy tàn của các triều đại về sau, đặc biệt dưới thời Pháp thuộc, nhạc Cung đình đã bị phân hóa mạnh mẽ bộ phận gần gũi với lễ nghi đời sống nhân dân thì đồng hoá luôn với nhạc lễ dân gian Nhạc lễ cũng chia làm hai thành phần gồm nhạc lễ ngi triều chính và nhạc lễ nghi thờ cúng
Nhạc lễ nghi triều chính là loại nhạc dùng trong các đại lễ tại triều đình -
lễ Đại triều, để phân biệt với các loại nhạc dùng trong các Miếu thờ, Đàn tế Cũng như các triều đại trước, lễ Đại triều của triều đình nhà Nguyễn mang tính nghi thức nhiều hơn là tín ngưỡng, và không gian thường gắn với sân triều - sân điện Thái Hòa, Ngọ Môn Ngoài những lễ Đại triều được tổ chức thường kỳ hàng tháng vào các ngày sóc, vọng (ngày mồng một và ngày rằm)
là những cuộc Đại triều nghi không thường kỳ như lễ Đăng quang, lễ Vạn thọ, Thánh thọ, Tiên thọ (sinh nhật của Vua và Hoàng Thái hậu, Hoàng Thái phi ), lễ Tiếp sứ, và các đại lễ hàng năm như lễ Hưng quốc khánh niệm(Quốc khánh), Tết Nguyên đán…
Còn nhạc lễ nghi thờ cũng được dùng trong các ngày tế lễ của triều đình, như ngày tế lễ trời đất, trong ngày băng hà của các nhà vua và người thân cận triều đình
- Múa cung đình: Múa hát cung đình Huế vốn có nguồn gốc và lịch sử từ lâu đời Múa bao giờ cũng gắn kết với âm nhạc (nhạc đàn và nhạc hát), vì thế, người ta thường gọi tên là "Múa hát cung đình" Múa hát cung đình của vua chúa Việt Nam không giống như hình thức vũ hội phương Tây Nó chủ yếu phục vụ cho vua chúa, lễ lạc trong triều đình, mang hình thức lễ nghi phong kiến vương triều Múa hát cung đình chịu sự vay mượn từ đề tài nội dung có hình tượng nghệ thuật độc đáo mang rõ nét tâm hồn và truyền thống Việt Nam
Qua nhiều thời kỳ thay đổi tổ chức và tên gọi, nhưng chức năng chủ yếu vẫn là múa hát cung đình phục vụ cho những khánh lễ, đại lễ khác nhau ở cung đình Huế Hiện nay trong số 11 ca khúc của triều Nguyễn để lại, nhà hát
Trang 24nghệ thuật truyền thống đang dần từng bước dàn dựng, khôi phục lại nguyên dạng những múa khúc Đó là Bát dật, Lục cúng, Song quang, Phiến vũ, Nữ tướng xuất quan, Tam tinh chúc thọ, Bát tiên hiến thọ, Trình tường lập khánh, Tam quốc Tây du Lục triệt hoa mã đáng và Tứ linh
Phần lớn các múa khúc trên diễn viên vừa múa, vừa hát, múa minh họa cho lời hát Các bài hát toàn bằng Hán tự, chỉ có khúc múa Tứ linh là chỉ có
âm nhạc phụ họa không có lời ca
Vào các ngày lễ lớn và trọng đại như Vạn thọ (sinh nhật vua), Thánh thọ (sinh nhật hoàng thái hậu); Tiên thọ (sinh nhật hoàng thái phi); Thiên xuân (sinh nhật hoàng thái tử); Thiên thu (sinh nhật hoàng hậu) mười một vũ khúc
kể trên luôn được trình diễn trong triều nội
- Tuồng cung đình: Tuồng là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền đặc sắc của Việt Nam được hình thành trên cơ sở ca vũ nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam Sân khấu tuồng Huế được hình thành và phát triển rực rỡ ở chốn lầu son, gác tía của triều đình nhà Nguyễn Và dù “sinh sau đẻ muộn” nhưng sân khấu
ca kịch Huế cũng đã vang bóng một thời trong các phủ đệ của quan lại triều Nguyễn cũng như trong các gia đình danh giá có mang dòng máu hoàng thất Đây chính là môi trường diễn xướng nguyên thủy của hai loại hình nghệ thuật sân khấu, và những người dân của Huế xưa luôn tự hào về những gì mà hai loại hình nghệ thuật này có
Tuồng cung đình mang âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của Tuồng Có thể nói Tuồng là sân khấu của những người anh hùng Trong những hoàn cảnh đầy mâu thuẫn và xung đột bạo liệt
bi ai các nhân vật chính diện của Tuồng đã vươn lên thoát khỏi sự chế ngự của hoàn cảnh hành động một cách dũng cảm anh hùng, trở thành một tấm gương, một bài học cho người đời ngưỡng mộ noi theo
Trang 25Có thể nói, triều Nguyễn là thời đại hoàng kim của nghệ thuật tuồng Thời kỳ này xuất hiện các vở tuồng có qui mô lớn như: Vạn bửu trình tường, Quần phương Hiến thụy… Những tác giả nổi tiếng thời kỳ này có: Đào Tấn, Nguyễn Hiển Dĩnh, Nguyễn Gia Ngoạn, Nguyễn Văn Diêu… Các vở tuồng khuyết danh như: Tam nữ đồ vương, Sơn hậu… đến nay vẫn được xem là những vở tuồng kinh điển Đào Duy Từ là người đã có công lớn trong việc xây dựng ngành hát bội ở cung đình chúa Nguyễn và là người sáng tác vở tuồng “Sơn hậu”
Trang 26CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGHỆ THUẬT NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ GẮN VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG
DU LỊCH
2.1 Khái quát về du lịch Thừa Thiên – Huế
Thừa Thiên – Huế từ lâu được xác định là một trong những trung tâm du lịch, văn hóa của nước ta Tài nguyên du lịch của Thừa Thiên – Huế đa dạng
và phong phú, nổi bật và có giá trị hơn cả là các tài nguyên văn hóa đặc sắc trong đó có không ít những di sản văn hóa vật thể tầm cỡ quốc gia và quốc tế
có sức hút rất lớn đối với khách du lịch Các di sản văn hóa Huế vừa hội tụ những đặc trưng tinh hoa của văn hóa dân tộc vừa thể hiên những nét riêng của vùng văn hóa cố đô Di sản Huế không chỉ mang ý nghĩa về mặt lịch sử - văn hóa, mà nhiều di tích còn mang trong mình kiến trúc nghệ thuật vô giá Khai thác tốt những lợi thế có sẵn trong những năm qua Thừa Thiên – Huế đã có những bước chuyển mình rõ rệt, tốc độ phát triển nền kinh tế nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng đạt mức cao, “GDP đầu người tăng dần qua các năm từ 3.934.037 triệu đồng năm 2006 lên đến 6.142.030 triệu đồng năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,5%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp – xây dựng, nông – lâm – ngư nghiệp trong đó dịch vụ chiếm 45,2% , công nghiệp xây dựng chiếm 39,7%, nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 15,1%” [34] Trong giai đoạn từ 2008 – 2013 Thừa Thiên – Huế cũng đã thu hút được một lượng vốn đầu tư lớn từ trong nước và nước ngoài điều này góp phần không nhỏ vào việc đầu tư thúc đẩy nền kinh tế Thừa Thiên – Huế phát triển
Cùng với nền kinh tế trong những năm qua ngành du lịch Thừa Thiên - Huế cũng có những bước chuyển mình ấn tượng, với hệ thống các di sản vật thể có giá trị đồng thời đây cũng là nơi duy nhất ở nước ta hiện còn lưu giữ được những di sản phi vật thể phong phú, đa dạng, độc đáo như các loại hình nghệ thuật âm nhạc ca múa cung đình, ẩm thực, các hoạt động lễ hội và hàng
Trang 27thủ công mỹ nghệ… trong mỗi loại hình đều có sự gắn bó, hòa nhập giữa văn hóa cung đình và văn hóa dân gian Tất cả những yếu tố trên là nguồn tài nguyên du lịch vô giá, tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa – thế mạnh của du lịch Thừa Thiên - Huế
Trong ba năm gần đây từ 2011 – 2013 ngành du lịch Thừa Thiên – Huế
có những bước phát triển đáng kể Năm 2011 du lịch Thừa Thiên – Huế đón 1,7 triệu lượt khách đến năm 2012 tăng lên 2,544 triệu lượt khách tăng 23,8%
so với năm trước đến năm 2013 mặc dù tình hình du lịch gặp nhiều khó khăn nhất là với du lịch Thừa Thiên – Huế khi Cảng Hàng không Quốc tế Phú Bài đóng cửa sửa chữa nâng cấp, thiên tai bão lũ liên tiếp xảy ra nhưng bằng sự
nổ lực của ngành và các doanh nghiệp du lịch địa phương, du lịch Thừa Thiên – Huế vẫn đảm bảo sự tăng trưởng mặc dù không cao Lượt khách du lịch đến Thừa Thiên – Huế đạt 2,6 triệu lượt, tăng 2,3% so với năm 2012, thời gian khác ở lại lưu trú cũng tăng lên, doanh thu du lịch ước đạt 2.469 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2012 Doanh thu xã hội từ du lịch cũng đạt trên 6.100 tỷ đồng Đây cũng là năm chương trình phát triển du lịch đã thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, lần đầu tiên du lịch dịch vụ Thừa Thiên – Huế vượt
trên 50% (54,8%) [34]
Ngoài ra năm 2013, Thừa Thiên – Huế đã đón và phục vụ trên 29.998 lượt khách du lịch tàu biển của 11 hãng tàu với 27 chuyến chủ yếu là khách đến từ các nước Trung Quốc, Hồng Kông, Ý, Tây Ban Nha… đón 8 đoàn Carnnaval với 79 phương tiện là mô tô , ô tô tham gia suốt tuyến ở khu vực miền Trung, chủ yếu là khách du lịch Trung Quốc và Thái Lan
Thị trường khách quốc tế đến Thừa Thiên – Huế năm 2013 với tỷ lệ: châu Âu chiếm 44,8%,châu Á chiếm 35,4%, châu Úc chiếm 8,9%, châu Mỹ chiếm 8,8%, châu Phi chiếm 0,3%, Việt Kiều chiếm 1,3% trong đó thị trường khách quốc tế một số nước có thị phần đến Thừa Thiên – Huế trong năm chue yếu là Thái Lan, Pháp, Úc, Đức [34]
Trang 28Cơ sở vật chất của ngành cũng được cải thiện đáng kể , nhiều khu vui chơi giải trí được quy hoạch và xây dựng, các sản phẩm du lịch mới mang tính độc đáo và hấp dẫn du khách như: du lịch cộng đồng tại Cầu ngói Thanh Toàn, trải nghiệm gốm truyền thống làng Phước Tích, du lịch “Hương xưa làng cổ”, du lịch sinh thái đầm phá Tam Giang, du lịch sinh thái cộng đồng Nam Đông…
Sự phát triển cùa ngành du lịch Thừa Thiên – Huế đã góp phần thúc đẩy
sự gia tăng , mở rộng của các ngành khác, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ của hàng nông phẩm thủy sản, từng bước phục hồi các ngành thủ công
mỹ nghệ , góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Huế, tạo thêm việc làm cho người lao động
Mặc dù du lịch Thừa Thiên – Huế đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế chung của tỉnh nhà, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế như: sản phẩm du lịch còn chưa phong phú
đa dạng, tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng nhưng chỉ mới khai thác được một phần nhỏ phục vụ du lịch chủ yếu là các điểm tham quan thuộc quần thể
di tích Cố đô Huế còn một phần lớn các di tích lịch sử cách mạng các di tích tầm cỡ quốc gia đã được xếp hạng nhưng chưa được khoanh vùng bảo vệ đầu
tư tôn tạo thõa đáng để thực sự trở thành điểm du lịch hấp dẫn, mối quan hệ giữa ngành du lịch và văn hóa trong việc bảo vệ , khai thác các tài nguyên phục vụ du lịch chưa chặt chẽ, sự phát triển du lịch quá nhanh đã bắt đầu bộc
lộ một số tác động tiêu cực như hiện tượng chèo kéo khách, bu bám khách tại các khu – điểm du lịch nhất là trong mùa lễ hội đông khách như festival Huế được tổ chức hai năm một lần
Khép lại năm 2013, với những kết quả đã đạt được du lịch Thừa Thiên – Huế tiếp tục khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời tạo tiền
đề vững chắc để tiếp tục tăng trưởng bên vững trong năm 2014 Để làm được điều đòi hỏi du lịch Huế phải xác định được hướng đi đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch
Trang 29Trong chiến lược phát triển du lịch Thừa Thiên – Huế lựa chọn định hướng phát triển du lịch bền vững , phát huy thế mạnh du lịch văn hóa kết hợp với
du lịch sinh thái trên cơ sở khôi phục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Bên cạnh đó du lịch Thừa Thiên - Huế chủ trương phát triển phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương , trong đó phải tính đến mối liên hệ giữa phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường và văn hóa xã hội Phát triển du lịch chú trọng chất lượng hơn là số lượng
Với những thành tựu đã đạt được cũng như định hướng cho chiến lược phát triển du lịch trong năm 2014, hy vọng trong tương lai không xa du lịch Thừa Thiên – Huế sẽ đạt được những thành tựu to lớn hơn, thực sự trở thành biểu tượng của ngành du lịch Việt Nam
2.2 Kinh nghiệm đưa nghệ thuật truyền thống vào việc phục vụ du lịch ở nước ta và trên thế giới
- Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới
Việc khai thác âm nhạc truyền thống vào du lịch không phải là việc làm mới mẻ mà từ nhiều thập nên trước ngành du lịch của một số nước trên thế giới đã chú ý đến vấn đề khai thác loại hình nghệ thuật truyền thống của đất nước mình vào trong du lịch để phục vụ du khách Đây là việc làm không chỉ
có ý nghĩa trong việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tạo thêm ấn tượng mới cho du lịch mà phần lớn còn góp phần quãng bá, giới thiệu văn hóa dân tộc đến bạn bè thế giới
Việc đưa nghệ thuật âm nhạc truyền thống vào phục vụ du lịch đầu tiên phải kể đến các quốc gia có nền văn hóa lâu đời như: Trung Quốc, Nhật Bản,
Ấn Độ, đây là những quốc gia sớm ý thức được tầm quan trọng của âm nhạc truyền thống trong du lịch
Tại Trung Quốc hầu hết khi du khách trải nghiệm các tour du lịch văn hóa đên nước này đều được thưởng thức nghệ thuật Kinh kịch nổi tiếng, đây
là loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc của Trung Quốc , sỡ dĩ có tên là
Trang 30Kinh kịch bởi loại hình nghệ thuật này được hình thành tại Bắc Kinh Đây là loại hình nghệ thuật tổng hợp, bằng cả quá trình thể hiện hợp nhất giữa ca, nói, biễu diễn, đấu võ, múa nhằm thuật lại cốt truyện, khắc họa nhân vật Kinh kịch của Trung Quốc được xem như là loại hình “ca kịch phương đông”, là tinh hoa nghệ thuật truyền thống dân tộc Hiện nay khi đến với Trung Quốc
du khách sẽ dễ dàng được thưởng thức loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc này, nhà hát lớn Trường An quanh năm đều diễn nhiều vở kinh kịch, các quộc thi biễu diễn Kinh kịch quốc tế thu hút nhiều người hâm mô Kinh kịch trến thế giới tham gia Kinh kịch là chương trình bảo lưu trong giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với nước ngoài
Khi du khách tham gia các chuyến du lịch tại Thượng Hải, Bắc Kinh… đều được bố trí thưởng thức nghệ thuật Kinh kịch, bên cạnh đó nhiều loại hình nghệ thuật đặc sắc khác của đất nước Trung Quốc cũng được đưa vào phục vụ du lịch, du lịch Trung Quốc còn kết hợp âm nhạc truyền thống phục
vụ du lịch với việc bày bán các sản phẩm du lịch có liên quan đến loại hình nghệ thuật như: nhạc cụ, trang phục, mặt nạ đây là việc làm có tính sáng tạo cao nhằm mang lại cảm giác trải nghiệm thú vị cho du khách
Đến với Nhật Bản đây không chỉ là xứ sở hoa Anh Đào nổi tiếng mà đây còn là nơi sản sinh ra bộ môn nghệ thuật nổi tiếng kịch Nô, kịch Nô được xem
là nghệ thuật biểu diễn mang đậm bản sắc dân tộc và kịch nghệ Nhật Bản Lọai hình nghệ thuật này xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XV gắn liền với tên tuổi Zeami Motokyzo, nhưng phải đến thế kỷ XVII khi Sogun Tokugawa lên trị vì hình thái kịch nghệ này mới trở nên hưng thịnh và phát triển Trong kịch Nô diễn viên thường đeo mặt nạ được cột lên đầu, trang phục mang tính chất lịch sử ước lệ, kịch nô dàn dựng trên 2 nguyên tắc chính “mô phỏng, diễn như thật” và “chiều sâu nội tại, kín đáo, hàm ẩn”
Năm 1974 chỉnh phủ Nhật Bản có chính sách chấn hưng các ngành nghề truyền thống nhằm bảo tồn các tài sản truyền thống hữu hình và vô hình Những sản phẩm như mặt nạ, nhạc cụ, trang phục đạt yêu cầu đều được cấp
Trang 31giấy chứng nhận cũng như được hỗ trợ tích cực, những người hoạt động trong lĩnh vực kịch Nô cũng được cấp danh hiệu là nghệ nhân
Nhật Bản là một trong những dân tộc mà người dân có tinh thần tự tôn rất cao, việc bảo vệ và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc mình được người dân hết sức quan tâm chính vì vậy du khách có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh về chương trình biểu diễn kịch Nô tại hầu hết các địa điểm công cộng như: quãng trường, khu trung tâm, nhà ga…
Bên cạnh đó nhằm quảng bá văn hóa truyền thống của đất nước mình đến gần hơn với du khách, ngành du lịch Nhật Bản còn tạo thêm những tour
du lịch trọn gói trong đó có hoạt động xem kịch Nô hoặc xem đấu Samurai… Nhằm gây sự tò mò chú ý cho du khách các nhà hát kịch Nô còn chú trọng vào việc biểu diễn, diễu hành trong các lễ hội, các diễn viên có những hành động gây sự chú ý cho du khách như vẫy tay chào, diễn kịch, kích thích trí tò
mò của du khách, điều này khiến du khách có mong muốn tìm hiểu họ sẽ tìm đến các nhà hát kịch Nô, tại đây du khách không chỉ được xem kịch mà còn được mời mua các sản phẩm liên quan như mặt nạ kịch, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ…
Bên cạnh 2 nền văn hóa lâu đời Trung Quốc và Nhật Bản, âm nhạc truyền thống của đất nước Ấn Độ cũng được quan tâm khai thác trong chiến lược phát triển du lịch tại đây Ấn Độ là một đất nước có nền văn hóa phong phú, đan xen với nhiều nền văn hoá khu vực nhưng vẫn lưu giữ được những giá trị truyền thống của dân tộc Ấn Độ có một nền văn hoá - nghệ thuật phong phú Có rất nhiều hình thức thể hiện của âm nhạc Ấn Carnatic, Hindustani, Filmi và các hình thức âm nhạc dân gian Những điệu múa của
Ấn Độ thường chứa những yếu tố sùng đạo và tinh thần, có giai điệu sôi động rộn rã, có khả năng thu hút được sự chú ý chủa du khách Tại Ấn Độ du khách
dễ dàng thấy rõ được quan điểm đưa nghệ thuật âm nhạc vào phục vụ hoạt động du lịch ngay từ khi du khách bắt dầu bước lên máy bay của một hãng hàng không nào đó tại Ấn Du khách được các cô tiếp viên mặc áo sari truyền
Trang 32thống màu đỏ nhạt chắp hai tay kính cẩn theo phong cách Ấn, sau khi ngồi lên máy bay trên thành máy bay gần cửa sổ có vẽ hình những vũ nữ múa theo điệu cổ điển Bharata Natyam của miền Nam Ấn Độ mặc dù đó chỉ là hình ảnh đơn giản nhưng sẽ khiến du khách có cảm giác đã đặt chân đến Ấn Độ Trên máy bay phục vụ du khách của các hãng hàng không Ấn Độ thường có tai nghe phục vụ nhu cầu giải trí cho du khách, đa phần đều phát nhạc truyền thống của Ấn Độ
Để cảm nhận rõ hơn nền âm nhạc truyền thống của Ấn Độ du khách có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh các nghệ sĩ, vũ công của Ấn Độ biễu diễn âm nhạc, cac múa truyền thống trến hầu hết các địa điểm công cộng, nhất là trong các lễ hội, âm nhạc Ấn Độ có sức lôi cuốn mạnh mẽ, đa phần là các vũ điệu
có tính sôi động chính vì vậy rất dễ dàng gây được sự tò mò và chú ý của du khách
- Kinh nghiệm tại một số địa phương trong nước ta
Dân tộc ta có nền âm nhạc truyền thống lâu đời, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, mang trong mình nhiều giá trị quý báu Chính vì vậy việc đưa âm nhạc truyền thống của nước ta vào việc phát triển du lịch là việc làm hoàn toàn đúng đắn và có tính khả thi, điều này đã được một số địa phương ở nước ta thực hiện và bước đầu mang lại một số kết quả nhất định Ngày 14/12/2012, tại Hà Nội, Viện Âm nhạc Việt Nam đã tổ chức hội
thảo “Đưa di sản Âm nhạc truyền thống Việt Nam vào phục vụ du lịch – Thực trạng và giải pháp”
Hội thảo xách định rõ Di sản âm nhạc truyền thống cần được khai thác
để quảng bá nét đẹp văn hóa truyền thống tới du khách quốc tế chủ trương đưa di sản âm nhạc truyền thống vào phục vụ hoạt động du lịch ở Việt Nam không chỉ làm phong phú, hấp dẫn hơn các tour du lịch, khắc họa đậm nét, hoàn thiện hình ảnh Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế, tăng thu nhập cho ngành Du lịch… mà quan trọng hơn, còn giúp Việt Nam quảng bá, tuyên
Trang 33truyền, giới thiệu với du khách trong và ngoài nước những nét đẹp còn tiềm
ẩn của văn hóa Việt
Hiện nay khắp đất nước ta mỗi vùng du lịch đều có những sản phẩm âm nhạc truyền thống đặc trưng để mang ra phục vụ khách du lịch, mỗi thể loại
âm nhạc đều mang tính độc đáo riêng, là biểu tượng cho con người và vùng đất nơi du khách đặt chân đến, nói đến Bắc Ninh du khách sẽ ngĩ ngay đến những làn điệu dân ca quan họ, vùng Nghệ Tĩnh có ví dặm, tới Đà Nẵng – Quảng Nam có hát bài chòi, hát bả trạo, hò đưa linh, xuôi về vùng đất Nam
Bộ có đờn ca tài tử Tất cả các loại hình nghệ thuật âm nhạc truyền thống kể trên đều có giá trị và ý nghĩa vô cùng to lớn, góp phần không nhỏ trong việc quãng bá, giới thiệu hình ảnh của địa phương đến với bạn bè muôn nơi
Dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa
phi vật thể đại diện của nhân loại Hiện nay các công ty du lịch ở Bắc Ninh đã khai thác văn hóa quan họ, dân ca quan trong du lịch, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ các nghệ nhân trình diễn quan họ, xây dựng đội ngũ nghệ nhân trẻ, hằng năm chính quyền Bắc Ninh có chủ trương cho các nghệ nhân về các làng
cổ tìm hiểu thêm các làn điệu quan họ nhằm làm phong phú thêm hệ thống các tác phẩm các nghệ nhân tổ chức hát tại khu vực trung tâm công cộng, tại các lễ hội để phục vụ khách Với sự giao tiếp thanh lịch, nhã nhặn và giọng hát mượt mà, đằm thắm các nghệ nhân hát quan họ đã chinh phục nhiều khách trong nước và quốc tế Chính vì vậy khách trong nước và nước ngoài đến nghỉ và đi các tour du lịch tại Bắc Ninh có biến chuyển ngày càng đông Hầu hết du khách khi đến với vùng đất Bắc Ninh đều có nhu cầu được thưởng thực loại hình nghệ thuật âm nhạc truyền thống này, đến đây du khách không chỉ được nghe mà còn có cơ hội tham gia biểu diễn với các liền anh, liền chị, đây cũng là mô hình giao lưu giữa nghệ nhân với du khách nhằm tạo ra không khí thân thiện, góp phần tạo hứng thu cho du khách khi đến với Bắc Ninh
Bài chòi sinh ra ở vùng Nam Trung bộ là sản phẩm văn hóa quý giá, độc
đáo, hát Bài chòi giữ vị trí quan trọng đối với đời sống tinh thần của người
Trang 34dân Quãng Nam nói riêng và người dân vùng Nam Trung Bộ nói chung Đến với Hội An – Quãng Nam du khách không chỉ có cơ hội khám phá phố cổ , thưởng thức các món ăn truyền thống của người dân xứ quãng mà còn được hòa mình vào không gian của những lời ca tiếng hát mang đặc trưng của xứ Quảng
Những buổi biểu diễn nghệ thuật định kỳ hàng ngày của đội Đội nghệ thuật cổ truyền Hội An trực thuộc Trung tâm Văn hóa -Thể thao Hội An
từ lâu trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của nhiều du khách đến Hội
An, góp phần tạo nên một sản phẩm văn hóa - du lịch đặc sắc, quảng bá văn hóa Hội An nói chung, Quảng Nam nói riêng
Trung bình mỗi ngày, các nghệ sĩ hát tại đây biểu diễn từ 2 đến 3 lượt phục vụ
du khách tại các điểm tham quan và Nhà biểu diễn nghệ thuật cổ truyền Đây
là phương tiện hữu hiệu để Hội An quãng bá hình ảnh bình dị, dân giã của vùng đất và con người nơi đây, ngoài ra ban quản lý phố cổ Hội An cũng có nhiểu chính sách ưu đã chiêu mộ các nghệ sỹ có tên tuổi, yêu nghề đến đây để biểu diễn phục vụ cho du khách, các sân khấu biểu diễn hát bài chòi chủ yếu
là sân khấu ngoài trời tuy nhiên hiện nay cũng được các cấp ngành quan tâm
và đầu tư, vào buổi tồi hệ thống âm thanh, ánh sáng được cải thiện hơn nhằm thu hút sự chú ý đông đảo của du khách khi đến tham quan phố cổ Việc đưa loại hình nghệ thuật âm nhạc bài chòi vào việc phục vụ du lịch không chỉ thu hút đông đảo hơn lượng khách đến tham quan, nghiên cứu về loại hình nghệ thuật này mà hơn hết còn góp phần tạo nên không khí sôi động cho khu phố
cổ, tạo tâm lý thoải mái, hứng khởi cho du khách trong hành trình tham quan phố cổ
Theo ông Đinh Hài, Giám đốc Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Quảng nam thì Ngay từ năm 1990, ngành Văn hóa và Du lịch ở Hội An ý thức rất rõ về việc đào tạo và xây dựng đội ngũ nhân lực văn hóa để biểu diễn dân
ca, nghệ thuật cổ truyền và xây dựng những chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc để thành những sản phẩm du lịch giữ chân du khách khi đến Hội An:
Trang 35"Trong những năm vừa qua, hàng năm có lượng khách du lịch rất đông đảo
về phố cổ Hội An Với tư cách là di sản kiến trúc, du khách đến tham quan nhà cổ, chùa chiền, hội quán Nếu chỉ dừng ở lại việc đó thì không có hồn của phố cổ cho nên hoạt động văn hóa phục vụ cho việc bảo tồn văn hóa phi vật thể cũng như tạo nên sự phong phú mang tính thiên văn hóa hết sức quan
trọng" [17]
Nhằm bảo tồn và phát triển nét văn hóa đặc sắc của trò chơi hát bài chòi, hiện nay hầu khắp các địa phương trong tỉnh Quảng Nam đã thành lập các câu lạc bộ hát bài chòi sinh hoạt hết sức sôi nổi, điển hình như các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Điện Bàn, Đại Lộc Núi Thành, Tiên Phước, Phước Sơn, Đông Giang, Hiệp Đức, Hội An, Tam Kỳ Tỉnh Quảng Nam cũng đã thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, đưa vào chương trình đào tạo chính quy bộ môn hát dân ca bài chòi cho học sinh, sinh viên và những người yêu thích bộ môn nghệ thuật độc đáo của quê hương xứ Quảng
Tại đồng bằng sông Cửu Long, trong các tour sông nước miệt vườn đều
không thể thiểu loại hình nghệ thuật âm nhạc truyền thống mạng đậm bản sắc của người dân nam bộ đó là đờn ca tài tử Nhiều năm qua, một số tỉnh ở ĐBSCL đưa loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử phục vụ khách du lịch Ở tỉnh Tiền Giang, từ năm 1990, trong chương trình du lịch, du khách đến với Tiền Giang (đặc biệt là đến với khu du lịch cù lao Thới Sơn - TP Mỹ Tho và khu
du lịch Xẻo Mây - huyện Cái Bè) được du thuyền trên sông Tiền, tham quan vườn cây ăn trái, đi xuồng chèo trên kênh rạch, thưởng thức trái cây, uống trà, nghe đờn ca tài tử và loại hình đờn ca tài tử được nhiều du khách trong và ngoài nước yêu thích
Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL), thì hiện nay ở khu du lịch Thới Sơn (Mỹ Tho) và Xẻo Mây (Cái Bè) có 12 ban đờn ca tài tử với trên 100 diễn viên - nhạc công hàng ngày biểu diễn phục vụ
du khách ở 9 điểm du lịch
Trang 36Nhận thức rõ tầm quan trọng của chất lượng nghệ thuật đờn ca tài tử, vào đầu tháng 4/2014 sở văn hóa – thể thao – du lịch Tiền Giang cho biết, Sở sẽ
mở các lớp bồi dưỡng về kĩ năng đàn, hát (hoàn toàn miễn phí, liên tục trong
4 tháng) cho tất cả các nghệ sĩ biểu diễn Đờn ca tài tử đang hoạt động tại các điểm phục vụ khách du lịch của tỉnh với sự tham gia giảng dạy của các nghệ nhân có tên tuổi.Đây là hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cho các nghệ sĩ Đờn ca tài tử, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của cha ông đến du khách gần xa
Cũng trong thời gian này tỉnh Bạc Liêu đã tổ chức thành công Festival Đơn ca tài tử quốc gia lần thứ I - Bạc Liêu 2014, diễn ra từ ngày 20/4 đến 25/4/2014, đây là hoạt động có ý nghĩa vô cùng to lớn góp phần bảo tồn cũng như quảng bá hình ảnh của đờn ca tài tử đến rộng rãi với một số bộ phận du khách
Ngoài ra tại nhiều địa phương khách như phú thọ, hà nội cũng đã khai thác có hiệu quả loại hình âm nhạc truyền thống vào việc phục vụ du lịch Như vậy việc đưa âm nhạc truyền thống vào du lịch tại nước ta đã được nhiều địa phương triển khai thành công, kết quả của nó là điều không thể phủ nhận Huế là mảnh đất có truyền thống văn hóa lâu đời, với hệ thống các giá trị âm nhạc truyền thống đặc sắc, nhất là loại hình Nhã cung đình – Di sản văn hóa thể giới phi vật thể, nếu kết hợp loại hình nghệ thuật này vào du lịch có hiệu quả hứa hẹn sẽ mang đến những kết quả bất ngờ cho ngành du lịch Huế
2.3 Giá trị nghệ thuật của Nhã nhạc cung đình Huế
Nhã nhạc mang bản sắc văn hoá đậm nét, mang âm điệu đặc trưng, thể hiện phong cách, tâm hồn, bản sắc Việt nói chung và Huế nói riêng Nhã nhạc
là một trong những đại diện của văn hoá cung đình Huế Về mặt âm nhạc học, Nhã nhạc có mối liên hệ gần gũi với âm nhạc dân gian Huế, như việc cùng áp dụng một số loại hơi nhạc đặc trưng như hơi Khách, hơi Dựng
Trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, hơi nhạc được cấu thành bởi yếu
tố thang âm và các hình thức trang điểm chữ nhạc phù hợp với ngữ điệu giọng