Có thể nói, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch là điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch, và trong một chừng mực nào đó, nó quyết định chất lượng phục vụ của điểm đến.. Bài viết đã
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch hiện đang là một ngành kinh tế mũi nhọn, đem lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gia Chúng ta đã và đang phấn đấu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới Làm cho du lịch thật sự trở thành “chiếc đòn bẩy” để đất nước thẳng tiến vào
kỉ nguyên của công nghiệp hóa, toàn cầu hóa
Để làm được điều đó thì song song với quá trình khai thác hợp lý tài nguyên du lịch, đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao thì việc đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch
là một vấn đề vô cùng quan trọng và không thể thiếu Có thể nói, cơ sở vật chất kĩ thuật
du lịch là điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch, và trong một chừng mực nào đó,
nó quyết định chất lượng phục vụ của điểm đến Như vậy, có thể thấy rõ, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch có vai trò to lớn đến sự phát triển du lịch
Đất nước Việt Nam trải dài theo hình chữ “S”, và Đà Nẵng nằm trong “khúc ruột” của dải đất ấy Tọa lạc tại vùng đất miền Trung thân thương, giàu đẹp, Đà Nẵng mang trong mình nhiều lợi thế phát triển du lịch Để khai thác hiệu quả thế mạnh đó, trong thời gian qua và cả hiện nay, chính quyền Đà Nẵng đã “trang bị” cơ sở vật chất kĩ thuật cho ngành du lịch và do vậy du lịch nơi đây đã có những bước phát triển mạnh mẽ Kết quả mang lại cho du lịch Đà Nẵng từ trước đến nay đã cho thấy cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch
có tác động rất lớn đến sự phát triển du lịch nơi đây Và đó là lý do mà chúng tôi chọn đề tài “Tác động của cơ sở kĩ thuật phục vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở thành phố Đà Nẵng” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
Đầu tiên phải kể đến Giáo trình kinh tế du lịch của GS.TS Nguyễn Văn Đính, PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hòa đồng chủ biên tái bản năm 2009 của Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân Giáo trình đã có một chương khái quát về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch Việt Nam dưới dạng song hành cùng cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch thế giới chứ chưa thật sự đi
Trang 3sâu nghiên cứu về Việt Nam, cụ thể là tác giả đã đưa ra những khái niệm, nhận định, phân loại, đánh giá… sau đó là đưa những ví dụ ở Việt Nam vào để làm sáng tỏ hoặc bổ sung thêm Tác giả đã cho chúng ta có một cái nhìn tổng quát về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch
ở mức độ lý luận
Trong khi đó, Nguyễn Văn Lưu với quyển sách Thị trường du lịch do Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội phát hành năm 2009 đã đánh giá thực trạng của cơ sở vật chất kĩ thuật
du lịch được gói gọn trong một chương về thị trường du lịch Việt Nam Vì là một trong bốn nhân tố tạo nên cung du lịch, do vậy thực trạng của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch cũng được đánh giá trong phạm vi của cung du lịch Đó là sự thống kê, đánh giá về số lượng, chất lượng, quy mô cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch trong khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách Như vậy, nhìn chung bức tranh về thực trạng cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch
đã được vẽ ra khá chi tiết
Thêm vào đó, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch đã được nghiên cứu ở phạm vi địa phương qua tiểu luận của Khoa Quản trị du lịch, trường Đại học dân lập Phương Đông với tên đề tài là: Thực trạng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch Phong Nha, Quảng Bình
Đề tài đã nêu rõ được thực trạng của cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch nơi đây và đã đưa ra được những định hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng, khai thác
Đà Nẵng được biết đến là một thành phố trẻ, với sự vươn lên vượt bậc trong thời gian gần đây Thành phố đã có sự phát triển về nhiều mặt, đặc biệt là về du lịch Nơi đây
đã biết khai thác thế mạnh của mình để trở thành “điểm sáng” về du lịch của miền Trung
Đà Nẵng là cửa ngõ, là điểm kết nối các di sản miền Trung với bốn di sản văn hóa của nhân loại là Quần thể di tích cố đô Huế, Phong Nha – Kẻ Bàng, phố cổ Hội An, thánh địa
Mỹ Sơn Thành phố “đầu biển cuối sông” này trở thành trạm dừng chân lý tưởng cho những chặng hành trình trên “con đường” này Không chỉ có vậy, Đà Nẵng còn được thiên nhiên ưu đãi cho những cảnh sắc tuyệt đẹp mang dấu ấn của riêng mình như “Nam thiên danh thắng” Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà tựa hình cây nấm vươn ra biển, bãi biển quyến rũ Mỹ Khê… Song hành với đó, con người nơi đây cũng tạo ra những “tuyệt tác” về du lịch, trở thành điểm nhấn cho hình ảnh của mình, trong đó phải kể đến “Thiên đường nghỉ dưỡng” Bà Nà với cáp treo lập hai kỉ lục thế giới
Du lịch Đà Nẵng đã và đang phát triển với tư cách là điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước và quốc tế, và không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch Để nói đến sự phát triển rầm rộ của việc đầu tư du lịch vào Đà
Trang 4Nẵng, Th.s Bùi Thanh Luân, Đại học kinh tế Đà Nẵng đã có một bài viết trên tạp chí của
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng số 12 ra tháng 9 năm 2011 với tựa đề: “Vận dụng Marketing địa phương trong thu hút đầu tư phát triển du lịch Đà Nẵng” Bài viết đã làm rõ được thực trạng phát triển của du lịch Đà Nẵng cũng như sự phát triển của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch ở bộ phận cơ sở lưu trú với việc số vốn và số lượng đầu tư trong giai đoạn 2006 - 2010, chủ yếu là ở lĩnh vực khách sạn và nhà hàng Qua đó nêu ra những tác động tích cực đến du lịch, kinh tế, xã hội và đề xuất giải pháp để thu hút mạnh mẽ hơn nữa đầu tư vào du lịch Như vậy, nhìn chung cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch ở Đà Nẵng đã được chú ý ở mặt cơ sở lưu trú, chưa có cái nhìn tổng quát về hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch nơi đây
Nói tóm lại, cơ sở vật chất kĩ thuật đã được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chưa thật sự cụ thể và đầy đủ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Tác động của cơ sở kĩ thuật phục vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở thành phố Đà Nẵng” nhằm mục đích phân tích một cách cụ thể tác động của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch đến hoạt động du lịch ở thành phố Đà Nẵng Thông qua quá trình nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch tại Đà Nẵng, đề tài đưa ra định hướng và giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả sử dụng, khai thác cơ sở vật chất phục vụ du lịch nơi đây Để khẳng định vai trò của cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch đối với hoạt
động du lịch của thành phố Đà Nẵng
Để đạt được những mục đích đó, thì các nhiệm vụ cần thực hiện tốt là:
- Đánh giá thực trạng của cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch ở Đà Nẵng
- Phân tích tình hình phát triển của du lịch nơi đây và chủ động đề xuất các biện pháp để thúc đẩy du lịch ngày càng phát triển tương xứng với sự đầu tư ngày càng tăng về
du lịch của thành phố trong tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính đề tài hướng đến là cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch và tác
động của cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch đến hoạt động du lịch của Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Trang 5Do điều kiện thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế, chúng tôi chỉ xin đi sâu tìm
nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng
4.2.2 Phạm vi không gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch đến hoạt
động du lịch của thành phố Đà Nẵng
4.2.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch đến hoạt động du lịch của thành phố Đà Nẵng từ khi phát triển du lịch đến nay và tập trung chủ yếu trong vài
năm gần đây
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi khai thác nguồn tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau Trên cơ sở tài liệu đã tham khảo, chúng tôi chia thành các nguồn tư liệu
sau: tư liệu thành văn, tư liệu thực địa, tư liệu mạng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tư liệu; phương pháp thực địa;
phương pháp so sánh đối chiếu
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài sau khi được nghiên cứu hoàn chỉnh trước hết sẽ góp phần khẳng định vai trò quan trọng của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch đối với việc phát triển du lịch của thành
phố Đà Nẵng
Ngoài ra đề tài còn làm rõ được thực trạng của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch ở Đà
Nẵng, đóng góp vào kho tư liệu về du lịch của thành phố
Mặc khác, đề tài cũng đưa ra giải pháp và định hướng nhằm nâng cao hơn nữa vai trò đặc biệt quan trọng của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch để thúc đẩy du lịch Đà Nẵng thật
sự mạnh cả “tiềm” và “lực”
Trang 67 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài bao gồm phần
nội dung với 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung
- Chương 2: Tác động của cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch đối với hoạt động
du lịch
- Chương 3: Giải pháp và định hướng nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả sử
dụng, khai thác cơ sở vật chất phục vụ du lịch tại Đà Nẵng
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Các điều kiện phát triển du lịch
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch
Tài nguyên du lịch: là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn
hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được
sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
Chất lượng dịch vụ du lịch: là mức phù hợp của dịch vụ của các nhà cung ứng du
lịch thỏa mãn các yêu cầu của khách du lịch thuộc thị trường mục tiêu
Sản phẩm du lich: là sự kết hợp những dịch vụ, phương tiện vật chất trên cơ sở
khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng
Loại hình du lịch: được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc
điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó
Cầu du lịch: là một bộ phận nhu cầu của xã hội có khả năng thanh toán về hàng
hóa, vật chất và dịch vụ du lịch đảm bảo sự đi lại, lưu trú tạm thời, giải trí của con người ngoài nơi ở thường xuyên của họ, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu văn hóa, chữa bệnh, tham gia vào các chương trình đặc biệt và các mục đích khác
Cung du lịch: là một thành phần cơ bản của thị trừơng du lịch, bao gồm toàn bộ
hàng hóa du lịch (cả hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch) mà các chủ thể thị trường bên bán có khả năng đưa ra thị trường và sẵn sàng bán trong một thời điểm xác định để đáp ứng các nhu cầu du lịch nhằm mục đích sinh lợi
Thị trường du lịch: là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và
lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh tế, kĩ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch
Trang 8Doanh nghiệp du lịch là một đơn vị cung ứng trên thị trường du lịch, đồng thời là
một đơn vị tiêu thụ
Nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và
gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch Do đó, khi đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực ngành du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản lý, lao động làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch
Xúc tiến du lịch: là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm,
thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch
1.1.2 Các điều kiện phát triển du lịch
1.1.2.1 Điều kiện chung
* Những điều kiện chung đối với sự phát triển của hoạt động đi du lịch
Thời gian rỗi của nhân dân
Muốn thực hiện được một cuộc hành trình du lịch đòi hỏi con người phải có thời gian Do vậy, thời gian rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con người tham gia vào hoạt động du lịch Số thời gian rỗi của nhân dân càng nhiều thì các tổ chức
du lịch có cơ hội để thu hút nhiều lượt khách từ đó tăng doanh thu và ngược lại Do đó, các cơ sở du lịch sẽ trở thành nguồn tiết kiệm thời gian rỗi và là tiền đề vật chất cho việc kéo dài thời gian rỗi của nhân dân lao động Các cơ sở ấy đóng vai trò trung tâm kích thích việc sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thỏa mãn nhu cầu thể chất và tinh thần cho toàn dân
Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa chung của người dân cao
Mức sống vật chất cao: hoạt động du lịch chỉ được phát sinh khi con người có
điều kiện về kinh tế Hay nói cách khác, thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng
và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch Vì khi đi du lịch, khách thực hiện các nhu cầu của mình như nhu cầu cơ bản (nhu cầu đi lại, ăn uống, lưu trú), nhu cầu đặc trưng (nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, thăm viếng, tìm hiểu…), nhu cầu
bổ sung (nhu cầu thẩm mỹ, làm đẹp, giặt là…) Và xu hướng của con người khi đi du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn
Trang 9Trình độ văn hóa chung của người dân cao: trình độ văn hóa chung của một
dân tộc được nâng cao thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết và mong muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ rệt Mặt khác, nếu trình độ văn hóa chung của một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển
du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng khách
đi du lịch đến đó
Giao thông vận tải phát triển
Từ xưa, giao thông vận tải là tiền đề phát triển du lịch Ngày nay, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông, đặc biệt là giao thông trong du lịch phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng
* Những điều kiện có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh du lịch Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước
Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước quyết định đến khả năng
và xu hướng phát triển du lịch Sức mạnh, tốc độ phát triển kinh tế cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế như công nghiệp nhẹ, nông nghiệp, công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch
Tình hình chính trị hòa bình, ổn định của đất nước và các điều kiện an toàn đối với du khách
Tình hình chính trị, hòa bình ổn định của đất nước là tiền đề cho sự phát triển
về mọi lĩnh vực của đất nước Nếu một đất nước hòa bình, ổn định thì sẽ thu hút được nhiều khách du lịch Ngược lại, nếu bất ổn thì sự phát triển của du lịch sẽ bị hạn chế
Các điều kiện an toàn đối với du khách, bao gồm: tình hình an ninh, trật tự xã hội, sự thù hằn dân tộc, các bệnh dịch nguy hiểm…
1.1.2.2 Các điều kiện đặc trưng
* Điều kiện về tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là một điều kiện quan trọng để phát triển du lịch của mỗi cùng, mỗi quốc gia, bao gồm:
Trang 10Tài nguyên thiên nhiên: các điều kiện về môi trường tự nhiên như địa hình đa
dạng, khí hậu ôn hòa, thực vật phong phú, giàu tài nguyên nước và vị trí đia lý thuận lợi đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên về du lịch
Tài nguyên nhân văn: các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và
kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch Đó là các giá trị lịch sử (tượng đài, bảo tàng, trường đại học, các trung tâm triễn lãm…), các giá trị văn hóa (phong tục tập quán, lễ hội…)…
* Điều kiện về sự sẵn sàng phục vụ
Các điều kiện về tổ chức: bao gồm những nhóm điều kiện sau
Sự có mặt của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch (đó là bộ máy quản lý vĩ mô
về du lịch) Bộ máy đó bao gồm: các chủ thể quản lý (cấp trung ương và cấp địa phương); hệ thống các chủ thể quản lý (bao gồm một số đạo luật và các văn bản pháp quy dưới luật); các chính sách (ví dụ các chính sách lớn về kinh tế như tỉ giá hối đoái, giá cả, chính sách lớn về xã hội như thanh toán các tệ nạn xã hội, trong du lịch bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ…) và cơ chế quản lý
Sự có mặt của các tổ chức và doanh nghiệp và chuyên trách về du lịch (đó là bộ máy quản lý vi mô về du lịch) Các tổ chức này có nhiệm vụ chăm lo đến việc đảm bảo sự đi lại và phục vụ trong thời gian lưu trú của khách du lịch Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp bao gồm: kinh doanh khách sạn; kinh doanh lữ hành; kinh doanh vận chuyển khách du lich; kinh doanh các dịch vụ du lịch khác
Các điều kiện về kĩ thuật
Các điều kiện về kĩ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch
trước tiên là cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch (của một cơ sở, một vùng hay một đất
nước) và sau đó là cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của tổ chức du
lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của cơ sở du lịch (có thể là của một cơ sở du lịch, có thể là của một khu du lich) Thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn bao gồm tất cả những công trình mà tổ chức du lịch xây dựng bằng vốn đầu tư của mình (rạp chiếu phim, sân thể thao…) Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản
Trang 11xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch Sự tận dụng có hiệu quả các tài nguyên du lịch và việc thỏa mãn các nhu cầu của du khách phụ thuộc một phần lớn vào cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội: Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội là
những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng mà là của toàn
xã hội Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, các rạp chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng…
Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội là đòn xeo thúc đẩy mọi hoạt động kinh
tế - xã hội của một đất nước Đối với ngành du lịch thì cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng
xã hội là yếu tố cơ sở nhằm khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Mặt khác, phát triển du lịch cũng là một yếu tố tích cực thúc đẩy, nâng cao và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng của một vùng hay của một đất nước
Trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã hội phục vụ đắc lực nhất và có tầm quan trọng nhất đối với du lịch là hệ thống giao thông vận tải (đường không, đường bộ, đường thủy) Hệ thống thông tin viễn thông; hệ thống cấp, thoát nước; hệ thống cung cấp điện Đây chính là cơ sở vật chất kỹ thuật bậc hai đối với du lịch Nó được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương và sau nữa là phục vụ cả khách du lich đến thăm đất nước hoặc vùng du lịch Đây là cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong chừng mực nào
đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch
Các điều kiện về kinh tế
Các điều kiện về kinh tế liên quan đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch phải
kể đến:
Việc đảm bảo các nguồn vốn để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh du lịch (bởi vì ngành du lịch là ngành luôn đi đầu về phương diện tiện nghi hiện đại và là ngành liên tục đổi mới)
Việc thiết lập các mối quan hệ kinh tế với các bạn hàng
Trong việc cung ứng vật tư cho các tổ chức du lịch, việc cung ứng phải đảm bảo thường xuyên và có chất lượng tốt Việc cung ứng thường xuyên có ý nghĩa hai mặt Thứ nhất, thỏa mãn đầy đủ hàng hóa cho các nhu cầu du lịch Thứ hai, tăng thu nhập ngoại tệ (hàng hóa và dịch vụ phong phú hơn dẫn đến khách du lịch tiêu tiền
Trang 12nhiều hơn) Song song với việc cung ứng đầy đủ và đều đặn vật tư hàng hóa cho tổ chức du lịch, cần phải quan tâm đến chất lượng và giá cả của hàng hóa vật tư để đảm bảo cho tổ chức du lịch có đủ sức cạnh tranh trên thương trường
* Một số tình hình và sự kiện đặc biệt
Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt có thể thu hút khách du lịch và là điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch Đó là các hội nghị, đại hội, các cuộc hội đàm dân tộc hoặc quốc tế, các cuộc thi Ôlympic, các cuộc kỉ niệm tín ngưỡng hoặc chính trị, các dạ hội liên hoan Tất cả những hình thức đó đều ngắn ngủi, nhưng đóng vai trò có ích trong sự phát triển du lịch Vai trò và ý nghĩa của những sự kiện đó thể hiện ở 2 hướng:
• Tuyên truyền, quảng cáo cho những giá trị văn hóa và lịch sử của đất nước đón khách
• Khắc phục tính không đồng đều trong việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Mặt khác điều cũng có lợi cho tổ chức du lịch, vì đó là hình thức kéo dài thời vụ
du lịch, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hợp lý hơn
1.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật ngành du lịch
1.2.1 Khái niệm
Nghĩa rộng: “Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kĩ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của khách trong các chuyến hành trình của họ.” [3:168]
Nghĩa hẹp: “Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kĩ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du l ịch, tạo ra các dịch vụ, sản phẩm và hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của du khách Chúng bao gồm hệ thống các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển… và đặc biệt nó bao gồm cả các công trình kiến trúc bổ trợ.”
Trang 13phù hợp với đặc trưng của dịch vụ du lịch, đồng thời phải phù hợp với đặc thù của tài nguyên du lịch tại đó
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được tạo ra lại là yếu tố quan trọng tác động đến mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch bởi năng lực và tính tiện ích của
nó Có 3 yếu tố cấu thành để tạo nên sản phẩm và dịch vụ du lịch thỏa mãn nhu cầu của du khách là tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, lao động trong du lịch
Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là yếu tố quan trọng, không thể thiếu Con người bằng sức lao động của mình sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật để khai thác các giá trị của tài nguyên du lịch tạo ra dịch vụ, hàng hóa cung ứng cho du khách Ngoài yếu tố tài nguyên thì tính đa dạng, phong phú, hiện đại, hấp dẫn của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng tạo nên tính đa dạng, phong phú và hấp dẫn của dịch vụ du lịch Một quốc gia, một doanh nghiệp muốn phát triển du lịch tốt phải có một hệ thống
cơ sở vật chất kĩ thuật tốt Cho nên, có thể nói rằng trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là điều kiện, đồng thời cũng là sự thể hiện trình độ phát triển du lịch của một đất nước
1.2.3 Phân loại
1.2.3.1 Phân loại theo chức năng tham gia vào quá trình lao động
Theo tiêu thức này, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được chia thành hai loại là:
tư liệu lao động và đối tượng lao động
Các điều kiện vật chất đảm bảo cho quá trình lao động như nhà cửa, đường sá,
hệ thống cấp thoát nước, phương tiện liên lạc, thông tin… là thành phần chính tạo ra môi trường thực hiện mục đích chuyến đi du lịch lại chiếm một tỉ trọng lớn trong tư liệu lao động và trong giá thành dịch vụ, hàng hóa
Yếu tố thuộc về đối tượng lao động trong cấu thành cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có thể là nguyên liệu, bán thành phẩm tham gia vào quá trình sản xuất các sản phẩm ăn uống hay các hàng hóa khác Chúng cũng có thể là các vật tư phục vụ cho quá trình lao động nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ chính và dịch vụ bổ sung
Trang 141.2.3.2 Phân loại theo quá trình tạo ra dịch vụ và hàng hóa du lịch
Theo tiêu thức này, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được chia thành các nhóm sau: Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ các hoạt động trung gian; các cơ sở lưu trú; nhà hàng; các khu vực dịch vụ bổ sung và vui chơi giải trí; phục vụ giao thông vận tải
Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ các hoạt động trung gian: Đây chính là hệ thống
cơ sở vật chất kĩ thuật của các đại lý, văn phòng và công ty lữ hành du lịch Đảm bảo chức năng chủ yếu là tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch; làm cầu nối giữa khách du lịch với các nhà cung cấp sản phẩm du lịch khác hay với các điểm du lịch Theo đó, hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật của bộ phận này chủ yếu là các văn phòng và các trang thiết bị văn phòng, các phương tiện thông tin liên lạc Ở góc độ
kế toán tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật của bộ phận này còn bao gồm cả các yếu tố tài sản như các phần mềm hệ thống liên quan đến việc hỗ trợ thực hiện các tác nghiệp kinh doanh và quản lý
Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ vận chuyển du lịch: Đây chính là hệ thống của các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển khách du lịch Chức năng chính là đảm bảo nhận công tác vận chuyển khách du lịch Thành phần chính trong hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật này là các phương tiện vận chuyển, các cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ quản lý, điều hành, bán vé và các hoạt động tác nghiệp khác
Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ lưu trú: Đây chính là thành phần đặc trưng nhất trong hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật của bộ phận này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: khách sạn, motel, nhà trọ, biệt thự, Bungglow… Thành phần chính của bộ phận này là hệ thống các tòa nhà với các phòng nghỉ và các trang thiết bị tiện nghi đảm bảo cho điều kiện sinh hoạt hàng ngày của du khách Ngoài ra nó cũng bao gồm các công trình đặc biệt bổ trợ tham gia vào việc tạo khung cảnh môi trường như hệ thống giao thông nội bộ, các khuôn viên Trong số các loại hình trên, khách sạn là loại phổ biến hơn cả và cũng có nhiều mức độ quy mô khác nhau và hình thức cũng hết sức đa dạng
Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ ăn uống: Cùng với hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ lưu trú, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ ăn uống là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ ăn uống (nhà hàng) có thể tồn tại độc lập hoặc đi kèm với bộ phận lưu trú
Trang 15trong tổng thể của hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật khách sạn Cơ sở vật chất kĩ thuật của bộ phận này bao gồm các yếu tố đảm bảo điều kiện tiện nghi cho hoạt động ăn uống của du khách Do đó, cơ sở vật chất kĩ thuật của bộ phận này có hai thành phần nổi bật đó là cơ sở vật chất kĩ thuật của khu chế biến và bảo quản thức ăn (bếp) và cơ
sở vật chất kĩ thuật của khu vực phục vụ ăn (phòng tiệc, quầy Bar)
Cơ sở vật chất kĩ thuật của dịch vụ bổ sung: Cơ sở vật chất kĩ thuật của dịch vụ
bổ sung chủ yếu là các công trình, thiết bị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách trong việc tiêu dùng các dịch vụ và sử dụng triệt để các yếu tố tài nguyên Hệ thống này bao gồm các khu vực giặt là, cắt tóc, vật lý trị liệu, bể bơi, sân tenis Cơ sở vật chất kĩ thuật của bộ phận này thường gắn liền với các cơ sở lưu trú Quy mô của hệ thống này phụ thuộc vào quy mô của bộ phận lưu trú
Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ vui chơi, giải trí: Bộ phận này chủ yếu là các công trình nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong vui chơi, rèn luyện sức khỏe nhằm mang lại sự thích thú hơn về kì nghỉ hoặc thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng Cơ sở vật chất kĩ thuật của bộ phận này bao gồm các trung tâm thể thao, phòng tập, bể bơi, sân tenis, các công viên, khu vui chơi giải trí Cũng tương tự như bộ phận dịch vụ bổ sung, một số của bộ phận này thường gắn liền với các cơ sở lưu trú, số khác tồn tại độc lập với các cơ sở này nhưng thường vẫn nằm trong các trung tâm du lịch
1.2.3.3 Phân loại theo chức năng quản lý và kinh doanh
Theo tiêu thức này, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được chia thành hai loại là:
cơ sở vật chất kĩ thuật thuộc các cơ quan quản lý ngành du lịch quản lý và cơ sở vật chất kĩ thuật thuộc các doanh nghiệp du lịch quản lý
Cơ sở vật chất kĩ thuật thuộc các cơ quan quản lý ngành du lịch quản lý: mặc dù không trực tiếp tạo ra sản phẩm du lịch song bộ phận này lại rất quan trọng vì nó có nhiệm vụ giúp cho các cơ quan quản lý du lịch có thể làm việc, đề ra các chính sách, các giải pháp phát triển du lịch quốc gia Bộ phận này bao gồm nhà cửa, các phòng làm việc và trang thiết bị trong đó và các phương tiện khác
Cơ sở vật chất kĩ thuật thuộc các doanh nghiệp du lịch quản lý: bộ phận này là yếu tố quan trọng trực tiếp tạo nên dịch vụ, hàng hóa du lịch ở các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, nhà hàng, vui chơi, giải trí
Trang 161.2.4 Đặc điểm
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có mối quan hệ mật thiết với tài nguyên du lịch
Khách đi du lịch dù với mục đích như thế nào thì đều sử dụng các tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch và các yếu tố đảm bảo điều kiện tiện nghi: cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Như vậy, tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Nó vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn với nhau
Mối quan hệ thống nhất: Điều này thể hiện rằng ở đâu có tài nguyên du lịch
muốn được khai thác thì ở đó phải có cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đi kèm Ngược lại, không thể xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch ở những nơi không có tài nguyên du lịch
Mối quan hệ mâu thuẫn: Điều này thể hiện ở những tác động tiêu cực từ phía hệ
thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đối với tài nguyên du lịch Đó là những vấn đề về
ý tưởng dự án; quy hoạch giải phóng mặt bằng; quá trình xây dựng, vận hành và sử dụng công trình Những tác động tiêu cực đó thường kéo theo những hậu quả làm giảm sức hấp dẫn của tài nguyên và những hậu quả khác về môi trường Và song song với điều đó là công việc khắc phục với những chi phí không nhỏ
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có tính đồng bộ trong xây dựng và sử dụng cao
Đặc điểm này xuất phát từ tính tổng hợp của nhu cầu du lịch bao gồm cả nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đặc trưng và nhu cầu bổ sung Khách du lịch luôn đòi hỏi phải được thỏa mãn đồng thời tất các nhu cầu đó Do vậy, cần có sự đồng bộ các yếu tố về
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch để phục vụ tốt nhất cho khách du lịch Đó là sự đồng bộ về: sự đầy đủ các thành phần theo quy định của một hệ thống; sự hài hòa cân đối giữa các khu vực trong một tổng thể theo một yếu tố trung tâm; sự hợp lý về mặt thiết kế và xây dựng
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có giá trị một đợn vị công suất sử dụng cao
Xuất phát từ các nguyên nhân sau đây:
Nhu cầu du lịch là nhu cầu tổng hợp, đa dạng Khách du lịch luôn có đòi hỏi cao về mức độ tiện nghi trong thời gian đi du lịch Do đó, cần có vốn để đầu tư trang thiết bị sang trọng, hiện đại và tiện nghi
Trang 17Trong du lịch, xu hướng mới lạ và khác biệt luôn được chú ý và trở thành yếu
tố cạnh tranh của các doanh nghiệp, địa phương cũng như mỗi đất nước Điều này thể hiện ở sự đầu tư về cảnh quan môi trường, sản phẩm du lịch, kiến trúc công trình…
Tính đồng bộ chất lượng cao trong xây dựng và sử dụng, đảm bảo sự cân đối, hài hòa và thống nhất
Tác động của tính thời vụ trong du lịch Khoảng thời gian không phục vụ khách
và công tác duy tu, bảo dưỡng là những tổn hao chi phí khá lớn
Thời gian hao mòn thành phần chính của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương đối lâu
Các thành phần chính của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là các công trình kiến trúc như khách sạn, nhà hàng… Đôi khi những công trình này với tính mới
lạ và độc đáo thì có thể trở thành điểm cuốn hút nhiều du khách Đi du lịch là để trải nghiệm những khoảng thời gian thú vị và những dịch vụ đó không mang tính sở hữu
Do vậy, việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cần đảm bảo tính lâu dài và tránh tình trạng phải thường xuyên cải tạo nâng cấp để không làm mất uy tín trong kinh doanh, tổn hao kinh phí và tạo ra sự thiếu đồng bộ
Một số thành phần của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được sử dụng không cân đối
Do ảnh hưởng của tính thời vụ trong du lịch và tùy thuộc vào đối tượng khách
đi du lịch Cho nên cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chỉ được sử dụng vào một số thời điểm nhất định mà không phải là toàn bộ thời gian
Trang 18CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT PHỤC VỤ DU LỊCH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
2.1 Khái quát về Đà Nẵng và tình hình phát triển du lịch ở Đà Nẵng
2.1.1 Khái quát về Đà Nẵng
2.1.1.1 Khái quát về tự nhiên
Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ đất nước, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông Địa hình Đà Nẵng khá đa dạng: phía bắc là đèo Hải Vân hùng vĩ; vùng núi cao thuộc huyện Hòa Vang (phía tây bắc của tỉnh) với núi Mang 1 708m, núi Bà Nà 1 487m; phía đông là bán đảo Sơn Trà hoang sơ và một loạt các bãi tắm biển đẹp trải dài từ bán đảo Sơn Trà đến bãi biển Non Nước; phía nam có núi Ngũ Hành Sơn; ngoài khơi có quần đảo
Hoàng Sa với ngư trường rộng lớn
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chia 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình năm từ 28ºC - 29ºC, bão thường đổ bộ trực tiếp vào thành phố các tháng 9, 10 hàng năm
2.1.1.2 Khái quát về kinh tế - xã hội
Đà Nẵng là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong cả nước, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1997 - 2010 (theo giá
cố định 1994) đạt 11,30 %/năm so với mức bình quân 7,27 %/năm của cả nước Qua các năm, giá trị sản xuất công nghiệp, nông - lâm - thủy sản, tổng mức bán hàng hóa
và dịch vụ xã hội đều có xu hướng tăng lên Điều quan trọng là mức tăng trưởng này khá phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Thu nhập bình quân đầu người của Đà Nẵng những năm qua được nâng lên rõ rệt, năm sau cao hơn năm trước Nếu GDP bình quân đầu người tính theo giá hiện hành năm
1997 là 4,8 triệu/người, đến năm 2000 là 6,9 triệu/người, năm 2005 là 14,8 triệu/người thì năm 2010 đã đạt mức 35,8 triệu/người/năm (tăng gấp 7,4 lần so với năm 1997)
2.1.2 Tình hình phát triển du lịch ở Đà Nẵng
Đà Nẵng đang phấn đấu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có
vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố; xây dựng Đà Nẵng trở thành trung
Trang 19tâm du lịch, gắn với tổng thể du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Tây Nguyên, trong mối quan hệ quốc gia và khu vực Đông Nam Á
Để đạt được mục tiêu đó, Đà Nẵng tiếp tục đầu tư xây dựng, phát triển hạ tầng
du lịch một cách đồng bộ, kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế; phát triển các dịch vụ giải trí, ưu tiên giải trí cao cấp như: golf, thể thao giải trí trên biển (thuyền buồm, lướt sóng, lặn biển, xây dựng các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tắm khoáng nóng, du lịch văn hóa, lịch sử, tham quan hội chợ, triển lãm… và một số khu vực vui chơi có thưởng dành riêng cho người nước
lịch từng bước đi vào trọng tâm, trọng điểm và có tính chuyên nghiệp hơn; việc xúc
tiến mở các đường bay quốc tế trực tiếp đến thành phố được quan tâm, một số đường bay quốc tế trực tiếp bước đầu được định hình góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị khai thác khách quốc tế trực tiếp đến với Đà Nẵng; hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường được tập trung tăng cường, xây dựng điểm đến an ninh, an toàn, văn minh, thân thiện và mến khách, từng bước xây dựng Đà Nẵng trở thành điểm đến hấp dẫn du khách
Năm 2011, đã có 57 dự án đầu tư vào du lịch với tổng số vốn là 65 163 tỉ đồng; thành phố đã đón tiếp và phục vụ 2 350 000 lượt khách, với tổng thu nhập du lịch là 2
000 tỉ đồng Đây có thể xem là năm thành công của du lịch Đà Nẵng Dự đoán trong thời gian tới, du lịch Đà Nẵng sẽ phát triển vượt bậc hơn nữa Những tín hiệu vui của
du lịch trong hiện tại và cả những triển vọng trong tương lai đã phần nào hoàn thành
Trang 20được những mục tiêu mà thành phố đã đề ra Nỗ lực đưa Đà Nẵng thành trung tâm du lịch của miền Trung – Tây Nguyên đã có nền tảng vững chắc
2.2 Thực trạng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch tại thành phố Đà Nẵng
2.2.1 Kết cấu hạ tầng đô thị phục vụ du lịch
2.2.1.1 Kết cấu hạ tầng kinh tế
Mạng lưới giao thông
Hiện nay, Đà Nẵng là đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, với sự đầu tư và phát triển đồng bộ hệ thống mạng lưới giao thông, Đà Nẵng đã trở thành đầu mối giao thông quan trọng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và của cả nước Mạng lưới này bao gồm hệ thống đường không với sân bay quốc tế, đường thủy với cảng biển nước sâu, các tuyến đường bộ, đường sắt Bắc Nam đã phát triển hoàn chỉnh và ngày càng trở nên thông suốt Có thể nói, mạng lưới giao thông ở Đà Nẵng thuộc vào loại tốt và hợp lý ở nước ta Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Đà Nẵng trong công tác vận chuyển du khách nhằm phục vụ mạnh mẽ cho ngành du lịch nơi đây
Đường bộ: thành phố Đà Nẵng có hệ thống giao thông đường bộ rất phát triển
với tổng (không kể đến các hẻm, kiệt và đường đất) là 382 583 km Trong đó có hai quốc lộ chạy qua là quốc lộ 1A và quốc lộ 14B với chiều dài là 70 865m Hệ thống đường sá trong nội thành được xây dựng, nâng cấp với các con đường nội thị chính với làn đường rộng, lòng đường chất lượng cũng như cảnh quan đẹp đã đưa vào sử dụng như Bạch Đằng, Điện Biên Phủ, Nguyễn Tất Thành, Hoàng Sa - Trường Sa (Sơn Trà - Điện Ngọc cũ), Phạm Văn Đồng ; xây dựng thêm hệ thống cầu hiện đại bắc qua sông Hàn gồm có cầu Thuận Phước, cầu sông Hàn, cầu Tuyên Sơn, cầu Cẩm Lệ, cầu Hòa Xuân
Trang 21Đường sắt: thành phố Đà Nẵng có hệ thống đường sắt huyết mạch Bắc - Nam
đi ngang qua với tổng chiều dài khoảng 30 km Trên địa bàn thành phố có năm ga: Đà Nẵng, Thanh Khê, Kim Liên, Hải Vân Nam và Lệ Trạch Hiện nay, ga Đà Nẵng thuộc vào loại lớn và tốt nhất khu vực miền Trung và Tây Nguyên
Đường hàng không: sân bay quốc tế Đà Nẵng nằm ngay giữa lòng thành phố,
đây là một trong ba sân bay lớn nhất cả nước, được hiện đại hơn vào năm 2011, có khả năng cho hạ cánh và cất cánh các loại máy bay hiện đại như: B747, B767, A320, A321 trong mọi điều kiện thời tiết Ngoài các chuyến bay nội địa, hàng tuần còn có các chuyến bay quốc tế trực tiếp từ Đà Nẵng đi Singapor, Băng Cốc, Đài Bắc, Hồng Kông, Nhật Bản và Hàn Quốc… Tuy nhiên, bên cạnh các đường bay nội địa đến các thành phố lớn của Việt Nam, sân bay quốc tế Đà Nẵng chỉ có một số ít các đường bay quốc tế
Điều hết sức đặc biệt trong tháng 12/2011 lại có thêm sự kiện là Nhà ga mới của sân bay quốc tế Đà Nẵng bắt đầu đưa vào khai thác Nhà ga gồm có 3 tầng phục vụ
và 1 tầng hầm, với tổng diện tích sử dụng 36 600m² trên diện tích 14 400m², nằm liền
kề nhà ga cũ, với 36 quầy thủ tục, khu vực check-in, siêu thị mini, dịch vụ ăn uống cùng nhiều dịch vụ phụ trợ khác Nhà ga mới có công suất phục vụ khoảng 4,5 - 5 triệu lượt khách/năm và tiếp nhận từ 400 000 đến 1 triệu tấn hàng hóa/năm Theo kế hoạch, từ năm 2015 trở đi Nhà ga sân bay quốc tế Đà Nẵng là Nhà ga lớn thứ ba của
cả nước sau Nội Bài và Tân Sơn Nhất, sẽ đạt công suất 6 - 8 triệu hành khách/năm
Trong khi đó mạng lưới giao thông luôn được cải tạo và nâng cấp ngày càng hiện đại hơn Trong những năm tiếp theo, thành phố Đà Nẵng đang hoạch định tầm nhìn chiến lược quy hoạch, đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải công cộng Hàng loạt chương trình, dự án nhằm nâng cấp hệ thống vận tải công cộng hiện đại đang được xúc tiến triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại, vận tải cho người dân, phục vụ yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội của thành phố Theo
đó, thành phố sẽ xây dựng 4 tuyến tàu điện ngầm với tổng chiều dài 90km, sử dụng hệ thống xe buýt nhanh, đường sắt nhẹ với kết cấu trên mặt đất, trên cao và đi ngầm dưới lòng đất; bãi xe ngầm ở nhiều điểm trong thành phố Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi về giao thông và phát triển du lịch mà còn tạo cảnh quan, làm thay đổi diện mạo của một thành phố văn minh, lịch sự và sầm uất nhất ở miền Trung Việt Nam
Trang 22Hệ thống thông tin truyền thông
Cùng với mạng lưới giao thông phát triển, Đà Nẵng có hệ thống thông tin truyền thông được đầu tư rất đồng bộ Có thể nói hệ thống thông tin truyền thông đã được hiện đại hóa và phát triển mạnh, đảm bảo nhu cầu trong nước và quốc tế Thành phố Đà Nẵng là một trong ba trung tâm lớn về bưu chính - viễn thông của cả nước (cùng với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) Đà Nẵng nằm trên đường cáp quang quốc tế với trạm cáp quang SE - ME - WE3 và có đài cáp biển quốc tế nằm trên địa bàn phường Hòa Hải (quận Ngũ Hành Sơn) có đường truyền quốc tế tốc độ 355Mbp/s với chất lượng hàng đầu các nước Đông Nam Á Bưu điện Đà Nẵng hiện đang cung cấp các dịch vụ viễn thông mới đa dạng và hiện đại, làm thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng với chất lượng và phương thức phục vụ hoàn thiện hơn Với hệ thống thông tin mạnh như vậy, Đà Nẵng đủ khả năng đáp ứng một cách đầy đủ nhất các yêu cầu của mọi tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố và khu vực miền Trung - Tây Nguyên Hiện nay, hệ thống cáp quang ngầm cũng đã được đầu tư tại các tuyến đường trọng yếu trên thành phố
Hệ thống điện, nước
Hệ thống cấp nước và cấp điện cho sinh hoạt cũng như sản xuất đang dần được
nâng cấp, xây dựng mới để phục vụ ngày càng tốt hơn cho đời sống của người dân cũng như cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Nguồn điện dùng cho sinh hoạt và sản xuất của thành phố Đà Nẵng đảm bảo cung cấp từ lưới điện quốc gia thông qua đường dây 500 KV Bắc - Nam từ nhà máy thủy điện Hòa Bình Lượng điện này đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Tất cả các xã vùng sâu vùng xa đều đã có điện sản xuất và sinh hoạt Hiện tại, thành phố đang đầu tư thêm cho việc mở rộng và đổi mới hệ thống lưới dẫn điện này Đặc biệt, các bãi biển được đầu tư hệ thống ánh sáng hiện đại
Nhà máy cấp nước Đà Nẵng hiện có công suất hơn 210 000m³/ngày đêm Đà Nẵng có 4 nhà máy cung cấp nước là nhà máy nước Cầu Đỏ, Sân Bay, Sơn Trà và Hải Vân với tổng công suất thiết kế 90 000m³/ngày đêm, đang khai thác 105 000m³/ngày đêm Trong đó: nhà máy nước Cầu Đỏ là nhà máy nước lớn với dây chuyền xử lý nước công suất đạt 120 000 m³/ngày đêm; nhà máy nước Sân Bay là nhà máy nước vừa với
Trang 23công suất xử lý nước đạt 30 000 m³/ngày đêm; trạm cấp nước Sơn Trà có công suất xử
lý nước đạt 5 000 m³/ngày đêm Hải Vân có công suất là 5 000 m³/ngày đêm
2.2.1.2 Kết cấu hạ tầng xã hội
Các cơ sở văn hóa
Hiện nay, thành phố có sáu Bảo tàng: Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc
Chăm, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Khu V và Bảo tàng tư nhân Đồng Đình, Bảo tàng Hoàng Sa Tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức tiến hành, sưu tầm hiện vật, nâng cao đời sống văn hoá và phát triển du lịch, kinh tế của thành phố Bên cạnh đó, trên địa bàn có hệ thống Nhà Truyền thống như: Nhà Truyền thống xã Hòa Hải, Nhà Truyền thống Công An Đà Nẵng, nhà Truyền thống K.20, Nhà Truyền thống quận Thanh Khê… Tuy nhiên, phần lớn đều đang trong tình trạng bị xuống cấp, cần đầu tư sửa
chữa, nâng cấp
Các khu vui chơi giải trí
Với hệ thống các thiết chế văn hóa - thể thao như nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển
Dĩnh, nhà hát Trưng Vương, nhà biểu diễn đa năng, cung thể thao Tiên Sơn những nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động ca múa nhạc, xiếc tạp kỹ và các môn thi đấu thể thao trong nhà như cầu lông, bóng đá mini… phục vụ một phần nhu cầu vui chơi giải trí của người dân thành phố Bên cạnh đó, hoạt động vui chơi giải trí của người dân, đặc biệt của giới trẻ sẽ còn được đáp ứng thông qua hệ thống các cở sở chiếu phim như rạp Lê Độ, MegaStar Ngoài công viên 29/3 thì hệ thống các công viên, các khu vui chơi giải trí tập trung dành cho người dân và du khách trên địa bàn thành phố khá khiêm tốn Cần phát triển hơn nữa các công viên, khu vui chơi để đảm bảo đời
sống tinh thần lành mạnh và bổ ích cho nhân dân đia phương cũng như du khách
Các cơ sở đào tạo du lịch
Hệ thống cơ sở đào tạo du lịch của thành phố có bước phát triển tích cực, với
nhiều trường đào tạo hệ đại học ngành quản trị kinh doanh du lịch và hệ cao đẳng ngành quản trị kinh doanh khách sạn, lữ hành, nhà hàng Ngoài ra, còn có hệ thống trường trung cấp và trường nghề đào tạo các ngành về du lịch, đặc biệt là trường dạy nghề Việt - Úc chuyên đào tạo lao động ngành du lịch được đánh giá khá cao Thành phố cũng đang tích cực phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tập trung xây dựng trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Nẵng trở thành trường Đại học Du lịch Đà Nẵng
Trang 242.2.1.3 Các cơ sở dịch vụ khác
Các dịch vụ hỗ trợ đầu tư khác (tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, y tế ) cũng được đầu tư khá hoàn thiện Hầu hết các ngân hàng và các công ty tài chính lớn của Việt Nam đều có chi nhánh tại Đà Nẵng Một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài và công ty bảo hiểm quốc tế cũng đang hoạt động có hiệu quả tại thành phố Các dịch vụ này ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư lẫn khách tiêu
dùng
Hiện nay, Đà Nẵng là trung tâm tài chính lớn nhất của khu vực Miền Trung - Tây Nguyên với khoảng 60 chi nhánh ngân hàng cấp I, 1 ngân hàng chính sách xã hội,
1 ngân hàng phát triển, 1 công ty tài chính, 3 công ty cho thuê tài chính, 01 Quỹ Đầu
tư Phát triển địa phương và hơn 200 phòng, điểm giao dịch, Quỹ tiết kiệm, 09 công ty bảo hiểm và 04 công ty kiểm toán đang hoạt động Trên địa bàn thành phố có hơn 12
000 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang hoạt động Công nghệ thông tin,
đặc biệt là công nghệ phần mềm, hiện đang được tập trung phát triển trở thành một trong những ngành kinh tế chủ lực với hiệu quả kinh tế cao và đóng góp đáng kể vào
sự tăng trưởng GDP của Đà Nẵng
Mặc dù, số lượng ngân hàng và mạng lưới chi nhánh phát triển mạnh, nhưng dịch vụ ngân hàng vẫn chưa phong phú, sản phẩm chưa đa dạng, các chi nhánh ngân hàng chủ yếu tập trung khai thác các sản phẩm của hai dịch vụ căn bản và truyền thống: dịch vụ cho vay và dịch vụ nhận tiền gửi
Trong những năm qua, hệ thống y tế ngoài công lập tại thành phố Đà Nẵng tiếp tục phát triển mạnh, nhiều cơ sở y tế tư nhân được thành lập dưới nhiều hình thức khác nhau như trung tâm bác sĩ gia đình, bệnh viện tư nhân, các cơ sở hành nghề y dược… nhằm giảm tình trạng quá tải ở hệ thống y tế công lập
Trang 25
Bảng 1 Số lượng doanh nghiệp kinh doanh lưu trú ở thành phố
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng)
Qua bảng 1 ta thấy số lượng cơ sở lưu trú chiếm số lượng lớn trong các doanh nghiệp du lịch ở Đà Nẵng và cũng có thay đổi rõ rệt trong thời kì 2006 - 2011 Tốc độ tăng trưởng bình quân là 20,6 % Trong đó tăng cao nhất là thời kì 2010 - 2011 là gần
54 % Tiếp đó là 2009 - 2010 với 24,8 % Thấp nhất là 2007 - 2008 với tỉ lệ giảm 3,5
% Như vậy, số lượng doanh nghiệp lưu trú đã tăng lên nhanh chóng và có vai trò rất lớn trong việc duy trì nguồn khách ổn định của Đà Nẵng theo từng năm
Theo số liệu thống kê hiện nay, Đà nẵng có tổng cộng 278 khách sạn và resort với 8 663 phòng, trong đó: 07 khách sạn 5 sao và tương đương với 1 735 phòng; 03 khách sạn 4 sao và tương đương với 496 phòng; 27 khách sạn 3 sao và tương đương với 1 453 phòng; 241 khách sạn 2 sao trở xuống (gồm 1-2 sao và tương đương 1,2 sao) với 4 979 phòng
Theo ước tính, từ năm 2010 - 2012, nguồn cung khách sạn tại Đà Nẵng sẽ có thêm khoảng 45 dự án mới, cung cấp khoảng 7 000 phòng từ khách sạn 3 sao đến 5sao, trong đó 2/3 số dự án mới nằm ở quận Ngũ Hành Sơn với khoảng 4 300 phòng Riêng trong năm 2011, nhiều khu du lịch từ 4-5 sao đã đi vào hoạt động như Fusion Maia Resort, Vinpearl Luxury, Hyatt Regency… cũng là dấu hiệu đáng mừng để phục
vụ một cách tốt nhất nhu cầu của khách du lịch khi số lượng buồng phòng ngày càng hiếm vào thời điểm Đà Nẵng tổ chức các sự kiện mang tầm cỡ quốc tế Theo đó đến năm 2012 dự tính sẽ có thêm 12 khách sạn với hơn 2 000 phòng nghỉ được đưa vào hoạt động
Mặc dù đang trong thời kỳ kinh tế suy thoái, nhưng hoạt động mua bán biệt thự, căn hộ du lịch tại thành phố Đà Nẵng diễn ra khá sôi động, hiện tại đã chào bán được một biệt thự du lịch với giá khá cao, đối tượng mua chủ yếu là ở Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh Các dự án xây dựng biệt thự, căn hộ du lịch tập trung tai các quận Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn
Trang 26Song song với những khách sạn và resort cao cấp, tại Đà Nẵng loại hình làng du lịch đang là đề án được quan tâm và thực hiện trong tương lai, nhưng ở hiện tại, loại hình du lịch này đang chưa phát triển phổ biến
Nhà nghỉ cho khách du lịch thuê là loại hình khá phổ biến ở nước ta, Đà Nẵng cũng không nằm ngoại lệ Với những ưu thế vượt trội, nó là sự lựa chọn hoàn hảo cho những du khách có khả năng chi trả mức độ trung bình hoặc dành cho những người có thu nhập thấp Số lượng nhà nghỉ khá nhiều và được “mọc” lên khắp nơi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Như vậy, ta có thể thấy thực trạng phát triển các loại hình lưu trú ở Đà Nẵng chưa được phong phú, do vậy chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch đến tham quan và lưu trú Sự chưa phong phú đó thể hiện ở hệ thống lưu trú mà Đà Nẵng có hiện nay chưa nhiều, chủ yếu là khách sạn và resort, biệt thự du lịch, nhà nghỉ… các loại hình khác thì chưa phát triển hoặc số lượng chưa nhiều
Chất lượng
Với sự đầu tư về số lượng cũng như chú trọng đến các dự án cao cấp, nhìn chung chất lượng của cơ sở lưu trú ở Đà Nẵng là khá tốt, có nhiều cơ sở đạt chuẩn phục vụ tốt, làm hài lòng du khách, đặc biệt là các cơ sở phục vụ cho du lịch MICE Hiện Đà Nẵng có 7 khách sạn 5 sao đã được chính thức công nhận Cuối năm vừa qua,
Đà Nẵng đã đưa vào hoạt động các khách sạn tương đương 5 sao của các thương hiệu quốc tế nổi tiếng về khách sạn như Vinpearl Luxury Đà Nẵng, Hyatt Regency Đà Nẵng, Mercue, Inter Continental DaNang Resort càng làm tăng thêm chất lượng hoạt động và phục vụ của cơ sở lưu trú Đà Nẵng
Tuy vậy, phần lớn các khách sạn chỉ mới đáp ứng các yêu cầu nghỉ ngơi của du khách, còn rất thiếu các dịch vụ bổ sung, hỗ trợ cho du khách Theo đó, lượng khách sạn từ 2 sao trở xuống chiếm số lượng lớn (241 khách sạn trong tổng số 278 khách sạn của Đà Nẵng) Điều đáng nói là chỉ sau một năm, lượng khách sạn tiêu chuẩn này đã tăng gần 100 khách sạn, có mặt ở nhiều nơi trong thành phố, kể cả trung tâm và ven biển, chiếm hơn phân nửa số phòng mà Đà Nẵng hiện có Số này còn tăng chóng mặt vào năm sau Chất lượng chưa cao ở những khách sạn này đang dần chiếm vị trí lớn trong toàn bộ hệ thống của cơ sở lưu trú ở Đà Nẵng, ảnh hưởng không nhỏ đến thương hiệu du lịch của thành phố Trên thực tế, nhiều cơ sở lưu trú chưa được kiểm tra, đánh giá về chất lượng cơ sở vật chất cũng như thái độ phục vụ Tình trạng nâng giá một
Trang 27cách bất hợp lý, đặc biệt là vào các dịp đông khách, làm cho khách cảm thấy không hài lòng và làm giảm sức thu hút của các sự kiện đó Khiến cho khả năng quay lại lần thứ hai của du khách càng hiếm Như vậy tình trạng này đã phần nào cho thấy, chất lượng lưu trú ở Đà Nẵng vẫn còn nhiều vấn đề nan giải cần được sự can thiệp và giải quyết kịp thời của chính quyền thành phố và các ban ngành liên quan
Tình hình đầu tư
Thời gian qua, thành phố đã nỗ lực huy động vốn và thu hút đầu tư, đa dạng hóa các kênh huy động vốn đầu tư cho du lịch, không còn lệ thuộc vào nguồn vốn ngân sách; các nhà đầu tư tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài được mời gọi và khuyến khích đầu tư
Số lượng các dự án đã tăng trong các năm từ 2006 đến 2011 với tổng số vốn đầu tư cũng tăng Qua bảng 2 dưới ta thấy, từ năm 2006 đến năm 2011, số lượng dự án
đã tăng lên rõ rệt, năm 2011 tăng lên 57 dự án Cũng như vậy, tổng số vốn cũng tăng đáng kể Từ năm 2006 với số vốn là khoảng 2 000 tỉ đồng, đến năm 2011 đã tăng lên khoảng 65 000 tỉ đồng (tăng gấp gần 32,5 lần) Trong đó, số vốn nước ngoài tăng liên tục và nhanh chóng, có lúc tăng đến 132 lần như năm 2010 so với năm 2009 Điều đó cho thấy khả năng hấp dẫn của thị trường du lịch thành phố Đà Nẵng là rất lớn, đặc biệt là sự ổn định các nhà đầu tư nước ngoài
Bảng 2 Nguồn vốn đầu tư vào Đà Nẵng
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng)
Tuy các dự án đầu tư về du lịch - dịch vụ đăng ký nhiều, nhưng công tác triển khai còn chậm Với những nỗ lực của các doanh nghiệp đã tích cực đầu tư xây dựng và
Sở đã đôn đốc các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ Bắt đầu năm 2010 hình thành nhiều khu du lịch lớn như: Hyatt, Ariyana, Azura, Vinpearl, Bãi Bắc, Sunrise resort, Silver Shores… với cấp hạng 4 đến 5 sao Năm 2011, bắt đầu có tín hiệu khởi sắc, góp phần vào việc phát triển và nâng cao chất lượng của sản phẩm du lịch Hàng loạt các dự án
có chất lượng cao đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như Life Style Resort, Fusion
Trang 28Maia Resort, Vinpearl Luxury Đà Nẵng (vượt chuẩn 5 sao), Hyatt Regency Đà Nẵng, khu du lịch Xuân Thiều với chất lượng phục vụ cao cho các hội nghị quốc gia và quốc tế, rất hấp dẫn cho du khách tham quan, nghỉ ngơi
Tuy nhiên, tính từ năm 2006 vốn đầu tư vào du lịch vào thành phố có tăng nhưng tốc độ tăng không cao; nguồn vốn đầu tư trong nước là chủ yếu; vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng thấp nhưng đang có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với nguồn vốn trong nước (tập trung vào lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu nghỉ dưỡng và biệt thự cao cấp) dù kinh tế thế giới đang có khủng hoảng trong những năm qua Thành phố cũng rất chú ý thu hút các nhà đầu tư trong nước và đã có một số dự
án đầu tư vào du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí có tầm cỡ
Mặc dầu vậy, số dự án đầu tư vào du lịch chưa tương xứng với tiềm năng và chủ trương phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Đa số dự án
là xây dựng các các khu nghỉ dưỡng cao cấp ven biển, các khu giải trí, mua sắm, các nhà hàng cao cấp, một vài dự án xây dựng các khu hội nghị, sân golf, sòng bạc Các nhà đầu tư chưa quan tâm nhiều đến các dịch vụ du lịch giải trí, dịch vụ bổ sung; bảo tồn, phát triển các di tích văn hóa, lịch sử cũng như phát triển một số loại điểm đến hấp dẫn du khách Tình trạng này là vấn đề đáng quan tâm bởi sẽ tạo ra sự đơn điệu về sản phẩm du lịch trong hiện tại và tương lai, rất khó để giữ chân du khách Một số dự án chiếm diện tích đất lớn nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội không cao Ngoài ra, các dự án đầu tư đã tạo nên một số vấn đề mới như quyền sử dụng đất, tái định cư, ảnh hưởng tiêu cực đến sinh thái, cảnh quan môi trường
Tình hình hoạt động và doanh thu
Với những dự án chất lượng cao đi vào hoạt động bên cạnh số lượng lớn cơ sở lưu trú đang có trên địa bàn, cùng với sự phát triển sôi động của thị trường du lịch Đà Nẵng đã có những tín hiệu khả quan trong việc thu hút và níu chân du khách ở lại lưu trú trong chuyến hành trình du lịch của mình Đồng nghĩa với sự gia tăng lượng khách
du lịch chính là lượng khách lưu trú cũng tăng
Theo bảng 3 dưới đây, số lượng khách đến lưu trú đã tăng lên qua các năm với
tỉ lệ tăng trung bình là 38,3 % Trong đó, năm 2011 là năm có nhiều đột phá của du lịch thành phố Đà Nẵng, lĩnh vực lưu trú cũng vậy, lượng khách dừng chân tăng gấp gần 1,6 lần với tỉ lệ là 54 % so với năm 2010 và tăng gấp 1,9 lần với tỉ lệ là 89 % so với năm 2009
Trang 29Bảng 3 Lượng khách đến cơ sở lưu trú
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng)
Như vậy, có thể thấy, lượng khách đến cơ sở lưu trú tăng trưởng đáng kể trong công tác tăng doanh thu và duy trì nguồn cung ổn định Trong đó, lượng khách nội địa luôn chiếm tỉ lệ cao (trên 80%) và gia tăng mạnh về số lượng (năm 2011 tăng 1,5 lần
so với năm 2010) nhưng lại sụt giảm về tỉ lệ (từ 82,9 % năm 2010 xuống 81,4 % năm 2011) Khách quốc tế cũng có sự chuyển biến khi năm sau cao hơn năm trước và tăng
tỉ lệ hơn trong tổng lượng khách lưu trú Theo đó, năm 2011 tăng 1,7 lần so với năm
2010 và tỉ lệ cũng tăng từ 17,1 % năm 2010 lên 18,6 % năm 2011 Xu hướng đó cho thấy rằng Đà Nẵng đang có những tín hiệu vui về lượng khách quốc tế đến du lịch trong hiện tại và cả tương lai
Về doanh thu, có thể nói, với số lượng ngày càng tăng về cơ sở và lượng khách tiếp đón, doanh thu của lĩnh vực lưu trú cũng có những đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng của du lịch thành phố Trong những năm qua, lĩnh vực lưu trú đã tăng trưởng
ổn định và năm sau cao hơn năm trước
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng)
Theo bảng 4, doanh thu du lịch của lưu trú tăng về lượng và chất Theo đó, doanh thu năm 2011 tăng gấp 4,4 lần năm 2006 và gấp 1,9 lần năm 2010 Tỉ lệ % theo
đó cũng tăng lên và luôn chiếm trên 60 % doanh thu chung của toàn ngành du lịch thành phố Đặc biệt, năm 2011, doanh thu lưu trú chiếm tỉ lệ khá lớn (trên ¾) Đó là kết quả của những dự án, nhất là các dự án chất lượng cao đã đi vào hoạt động, tăng
Trang 30thêm sự dồi dào cho lưu trú thành phố Thêm vào đó, các hoạt động, sự kiện quan trọng liên tiếp diễn ra đã tạo nên doanh thu lớn cho lĩnh vực lưu trú Đà Nẵng
Tuy nhiên sự phát triển nhanh về số lượng các khách sạn, trong đó có các khách sạn mini, khách sạn nhỏ một mặt đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách, mặt khác cũng làm gia tăng mức độ cạnh tranh, chia sẻ lượng khách khiến cho hiệu quả kinh doanh khách sạn giảm đi Đồng thời, năm 2011 với tình hình lạm phát chung, giá cả biến động, chi phí đầu vào tăng, lượng khách tăng nhưng doanh thu không tăng đáng kể tại một số khách sạn
Đường bộ: Hệ thống vận chuyển hành khách đường bộ nội thành rất phong phú,
rất an toàn, thuận lợi bao gồm: xích lô, taxi, xe buýt
Về vận chuyển hành khách du lịch, đến năm 2011 Đà Nẵng có trên 40 đơn vị và hàng trăm tư nhân tham gia hoạt động vận chuyển du lịch với 969 xe được trang bị đầy
đủ tiện nghi và đạt tiêu chuẩn về thẩm mỹ cũng như về kỹ thuật, trong đó có hơn 50%
xe được đầu tư mới có chất lượng cao; về vận chuyển hành khách công có ba bến xe tại số 31-33-35, đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, có các tuyến xe đi khắp nội - ngoại thành và các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt có tuyến
Trang 31nay thành phố có đội xe xích lô du lịch phục vụ du khách, xe có kiểu dáng đẹp, khung sườn bằng inox, nệm và trần màu đỏ; người lái xe mặc đồng phục quần xanh, áo vàng
và mũ vàng Các loại xe này thường đậu trước khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan
và các đường phố chính
Lần đầu tiên tại Đà Nẵng khai trương dịch vụ vận tải khách du lịch bằng ô-tô
điện: “Ngày 29-3, Công ty TNHH TM DL Thịnh Hùng khai trương dịch vụ vận tải khách du lịch bằng xe điện Theo kế hoạch, trong năm nay công ty đưa vào hoạt động
15 ô-tô điện, sẽ phục vụ khách du lịch theo hai tuyến chính: từ đường Phạm Văn Đồng
đi dọc theo đường Hoàng Sa để đến các điểm du lịch trên bán đảo Sơn Trà; từ đường Phạm Văn Đồng đi dọc theo đường Trường Sa để đến Danh thắng Ngũ Hành Sơn Giai đoạn 2013-2015 sẽ đầu tư tiếp 85 xe nhằm mở rộng việc phục vụ du khách đi đến tất cả điểm du lịch tại thành phố Đà Nẵng Mỗi ô-tô điện trừ tài xế ra, có thể chở 5 hành khách và tốc độ cao nhất là 20km/giờ, giá thuê được tính như sau: 10 phút là 70 ngàn đồng/xe, nếu thời gian thuê trên một giờ thì được tính 10 phút là 50 ngàn đồng/xe.” [29]
Ngoài ra, có 06 hãng xe taxi tham gia dịch vụ vận chuyển khách du lịch khi có yêu cầu Tuy nhiên, đến mùa du lịch cao điểm và mùa du lịch tàu biển, các loại xe từ
24 đến 45 chỗ ngồi không đủ đáp ứng nhu cầu của khách Để giải quyết tình trạng trên, các đơn vị kinh doanh vận chuyển khách phải liên kết với đơn vị vận chuyển địa phương bạn như Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi Tình hình đó dẫn đến tình trạng đẩy giá thành dịch vụ lên cao, ảnh hưởng tới uy tín của các đơn vị
Đường hàng không: Với lợi thế là sân bay quốc tế, lại vừa được nâng cấp và
xây dựng thêm nhà ga mới và hiện đại, sân bay Đà Nẵng đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong công tác vận chuyển hành khách trong nước và quốc tế Các đường bay trong nước và quốc tế liên tục được khai thác và sử dụng, tạo nên sự nhộn nhịp
cho ngành hàng không: “Tính đến cuối năm 2011, có 07 đường bay quốc tế trực tiếp đến Đà Nẵng, trong đó có 03 đường bay thường kì Sing apore - Đà Nẵng, Kuala Lumpur - Đà Nẵng và Incheon - Đà Nẵng và 04 đường bay thuê chuyến do các đơn vị
lữ hành phối hợp với các hãng hàng không khai thác gồm Qu ảng Châu - Đà Nẵng, Thượng Hải - Đà Nẵng, Côn Minh - Đà Nẵng và Đài Bắc - Đà Nẵng, góp phần làm sôi nổi thị trường khách du lịch đến Đà Nẵng.”[24:9] Trong khi đó, việc xúc tiến mở
các đường bay mới từ Nga, Nhật… đã được lên kế hoạch
Trang 32Cùng với sự kiện này thì vào đầu năm 2012, ngành hàng không đã bắt đầu mở thêm hai tuyến bay quốc tế mới: Đà Nẵng - Icheon (Hàn Quốc) và Đà Nẵng - Kuala Lumpur (Malaysia) ngày 2/2012, Pakse - Savannakhet - Đà Nẵng ngày 29/03/2012 với tần suất khá lớn trong tuần, mang theo hàng trăm du khách nước ngoài đến thành phố tham quan, nghỉ dưỡng trên mỗi chuyến Hai đường bay khởi động cách đây khá lâu đến từ Thượng Hải và Quảng Châu, dù bay theo kiểu thuê bao (charter) nhưng lại rất
ổn định với tần suất 2 chuyến/tuần, thường xuyên đưa khách đến khu nghỉ mát cao cấp Silver Shores
Thêm vào đó, ngày càng có nhiều hãng hàng không khác khai thác các chuyến bay quốc tế trực tiếp đến Đà Nẵng Hiện nay, ngoài Vietnam Airlines, Air Mekong, Jetstar Pacific Airlines thì tại thành phố còn có các hãng hàng không khác khai thác
các chuyến bay quốc tế trực tiếp đến Đà Nẵng: AirAsia, Asiana Airlines, Lao Airlines,
Silk Air (Singapore), PB Air (Thái Lan), Korean… Sân bay quốc tế Đà Nẵng có quy
mô quá nhỏ nên không thể khai thác nhiều đường bay quốc tế đến thẳng Đà Nẵng
Những điều này sẽ tạo nên sự hấp dẫn cho du khách có nhiều lựa chọn khi đến trực tiếp Đà Nẵng để thăm quan, du lịch hay làm ăn với các tỉnh ở khu vực miền Trung
- Tây Nguyên thay vì phải bay đến Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh Đà Nẵng hiện đang làm việc với các đối tác nhằm mở thêm các đường bay mới tới Moscow, Bangkok, Tokyo, Bắc Kinh
Đường biển: Xu hướng đi du lịch bằng đường biển của du khách quốc tế đang
phát triển Đà Nẵng với nhiều lợi thế đang trở thành điểm dừng chân hấp dẫn của các tàu vận chuyển du lịch lớn trên thế giới Trong thời gian qua, hàng loạt tàu đã cập cảng
Đà Nẵng với lượng khách lớn
Đường sông: Triển khai xây dựng bến tàu du lịch, hình thành đội tàu du lịch
đường sông và các dịch vụ bơi thuyền kayak, canoeing trên sông Hàn…
Đường sắt: Ga Đà Nẵng được xem là một ga lớn và tốt nhất miền Trung Hàng
ngày có nhiều chuyến tàu ra Bắc vào Nam đều dừng lại tại đây với thời gian khá lâu để đảm bảo cho lượng khách lên xuống tàu lớn Nằm trong nội thị thành phố, đây là một trong những ga quan trọng nhất trên tuyến đường sắt Bắc - Nam
Trong những năm qua, đặc biệt năm 2010 và 2011, thị trường khách của du lịch
Đà Nẵng đã có những sự thay đổi đáng kể Thay vì trước kia, lượng khách đến bằng
Trang 33đường bộ và hàng không là chủ yếu thì nay, đường biển cũng đã trở thành con đường chủ lực để thu hút khách đến với thành phố Đà Nẵng xinh đẹp này
Bảng 5 Tình hình thu hút khách chia theo phương tiện đến
Đơn vị: Lượt khách
Trong năm 2011, đã có 42 chuyến tàu cập cảng Đà Nẵng mang theo hàng nghìn lượt khách đến với nơi đây, đặc biệt sự trở lại của hãng tàu Star Cruises vào cuối năm
2011 (tần suất 01 tuần/01 chuyến với lượng khách bình quân từ 1000 - 1500 khách)
Điều này cho thấy Đà Nẵng đã có những chuyển biến rõ rệt trong việc thu hút
và đón tiếp khách đến du lịch bằng đường biển Những tín hiệu vui về những con số ấn tượng đầu năm 2012 đã tiếp thêm niềm vui và sự lạc quan về lượng khách đường biển
sẽ tăng trong năm 2012 là đều đã được đoán trước
2.2.2.3 Các cơ sở phục vụ ăn uống
Số lượng
Đà Nẵng không chỉ được biết đến với những bãi biển quyến rũ, mà nơi đây còn
nổi tiếng với những món ăn ngon, hấp dẫn Với lợi thế là một thành phố biển giàu tài nguyên thủy hải sản, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch, Đà Nẵng đã xây dựng cho mình một thương hiệu riêng về ẩm thực với những nhà hàng sang trọng nhưng cũng không kém phần gần gũi Có thể thấy rằng, nhà hàng ẩm thực với nhiều phong cách và mức độ có mặt ngày càng nhiều ở thành phố để sẵn sàng phục vụ những thực khách muốn thưởng thức đặc sản địa phương hoặc những món ăn ngon, lạ trong chuyến hành trình của mình
Trang 34Hệ thống các nhà hàng tại Đà Nẵng phát triển khá nhanh, đa dạng và phong phú Bao gồm cả nhà hàng, quán ăn riêng lẻ và nhà hàng thuộc tổng thể của khách sạn hoặc resort Theo bảng 6, số lượng nhà hàng tăng theo từng năm Cụ thể: tốc độ tăng bình quân là 16,4 % Trong đó, tăng mạnh nhất là 2006 - 2007 với tỉ lệ là 35 %, tăng chậm nhất là 2008 - 2009 với tỉ lệ là 5,7 % Giai đoạn 2006 - 2010, số lượng nhà hàng
đã tăng gấp gần 1,8 lần Tuy có sự gia tăng về số lượng nhưng nhà hàng ở Đà Nẵng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều của du khách
Bên cạnh lĩnh vực nhà hàng thì còn phải kể đến các quán bar, quán cà phê… phục vụ nhu cầu giải khát của du khách Đà Nẵng có số lượng lớn quán cà phê khá nhiều và ngày càng tăng Tuy vậy, những quán có thể phục vụ cho khách du lịch thì còn quá ít Quán bar thì chủ yếu là của các cơ sở lưu trú hạng cao cấp, ngoài ra còn có một số quán bar của thành phố có khả năng phục vụ tốt Ngoài ra, các vũ trường cũng được xem là nơi phục vụ “uống” cho khách bên cạnh các hoạt động giải trí Bên cạnh
đó còn có các lều quán tại các bãi biển đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân thành phố
Trong thời gian tới, chính quyền thành phố sẽ triển khai đề án quy hoạch khu
ẩm thực Công viên Biển Đông Thành phố đang tiến hành lắp đặt 2 cụm khu ẩm thực tại đây và sẽ đi vào hoạt động từ giữa tháng 4 để phục vụ du khách trong những ngày
lễ hội lớn sắp tới Trong đó, một cụm tại khu vực Bắc Công viên Biển Đông (phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà), một cụm tại khu vực nút giao thông ngã ba đường Nguyễn Công Trứ và nhà hàng Mỹ Hạnh (phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà) Thời gian hoạt động từ 6 giờ đến 20 giờ hằng ngày Khu ẩm thực sẽ phục vụ các món ăn nhanh như hamburger, sandwich, khoai tây chiên, gà chiên, chả viên chiên, bánh bao, thịt nướng, hải sản nướng và giải khát Việc xây dựng khu ẩm thực phục vụ du lịch nhằm tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm phục vụ nhu cầu ăn uống của du khách khi tắm biển và tham gia các hoạt động du lịch trên bãi biển; góp phần bảo vệ cảnh quan môi trường biển; hạn chế nạn chèo kéo đối với du khách; đồng thời xây dựng hình ảnh thành phố Đà Nẵng ngày càng văn minh, lịch sự trong mắt du khách trong và ngoài nước Đó là những gì mà Đà Nẵng hướng đến vì mục tiêu phát triển du lịch bền vững
Chất lượng
Song hành cùng sự gia tăng của các nhà hàng thì chất lượng về vệ sinh an toàn thực phẩm, thái độ và phong cách phục vụ cũng như sự độc đáo của thực đơn cũng có
Trang 35những dấu hiệu tốt, đặc biệt là các nhà hàng lớn, có uy tín và đã định vị lâu, có chỗ đứng vững chắc trong lòng du khách Khi đến đây, du khách có thể thưởng, trải nghiệm ở những nhà hàng, quán ăn khác nhau tùy theo khả năng thanh toán và sở thích Cũng như sẽ được thưởng thức những món ăn đậm đà hương vị quê hương và cả những món “sơn hào hải vị” từ khắp bốn phương trên thế giới hội tụ về
Với các nhà hàng có quy mô lớn, đạt tiêu chuẩn đã đáp ứng được nhu cầu ẩm thực của nhiều đối tượng du khách khi đến Đà Nẵng Trong đó, phải kể đến các nhà hàng chất lượng phục vụ tốt như: chuỗi nhà hàng đặc sản Trần, các nhà hàng hải sản ven biển Mỹ Khê… Những nơi này luôn được các nhà lữ hành đưa vào lịch trình chi tiết trong chuyến du lịch của các “thượng đế” Ngoài ra, những nhà hàng lớn, có thương hiệu trong ngành kinh doanh ẩm thực của Đà Nẵng như: Apsara, Phì Lũ, Trúc Lâm Viên… luôn chu đáo trong việc tân trang không gian, phong cách phục vụ, thực đơn phục vụ thực khách và công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
Kế đến là các quán ăn bình dân, vỉa hè cũng đã góp phần khẳng định sự đa dạng của ẩm thực nơi đây khi đã có chất lượng phục vụ nhìn chung là khá tốt, thân thiện và hiếu khách
Để đáp lại sự chuyên nghiệp đó, chính quyền thành phố đã thường xuyên công nhân danh hiệu “Đạt tiêu chuẩn phục phục khách du lịch” cho các đơn vị Năm 2011,
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng đã Quyết định công nhận danh hiệu “Đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch” cho các cơ sở phục vụ ăn uống Theo đó các đơn vị trong đợt này chủ yếu được tái công nhận danh hiệu bao gồm Nhà hàng Phố Biển, Nhà hàng Phì Lũ 3, Nhà hàng Apsara, Nhà hàng Phước Mỹ 2, Quán cà phê Bảo Nam Trân Thành phố cũng đã vừa ban hành quy định về mức giá phục vụ du khách tại các điểm kinh doanh dịch vụ trên biển nhằm tránh tình trạng chặt chém, nhất là mùa cao điểm
du lịch đã đến rất gần
Tuy nhiên, dịch vụ ăn uống vẫn chưa thỏa mãn trọn vẹn nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách Biểu hiện là vào mùa cao điểm, khách phải đợi rất lâu và tình trạng nâng giá bất hợp lý
2.2.2.4 Các cơ sở phục vụ mua sắm
Một trong những sở thích của du khách khi đi du lịch chính là mua sắm những món quà giá trị, mang đậm nét đẹp và đặc trưng của điểm đến, mà khi thưởng thức hoặc nhìn ngắm nó thì có thể nhớ lại những khoảnh khắc thú vị khi đã trải nghiệm
Trang 36chuyến đi du lịch Qùa lưu niệm có thể là món ăn đặc sản; các mặt hàng thủ công… Những món quà này có thể đem tặng, biếu hoặc là vật lưu niệm cho bản thân
Tuy chủng loại hàng lưu niệm đặc sắc của địa phương không nhiều, nhưng cũng như nhiều địa phương là du lịch khác, dịch vụ mua sắm tại Đà Nẵng khá phát triển, khu trung tâm thành phố có rất nhiều dãy phố mua sắm và chợ, tạo thuận lợi cho du khách trong việc mua sắm được những món hàng yêu thích Các sản phẩm thường được chia theo khu vực để phục vụ khách hàng, sản phẩm đá thường được bán tại khu
di tích Ngũ Hành Sơn; tranh ảnh, vải vóc thường được bày bán tại đường Hùng Vương, đường Bạch Đằng
Hiện nay, ở Đà Nẵng đã hình thành nhiều quầy hàng trưng bày và bán đặc sản của các địa phương khác như mè xửng, tôm chua, mắm ruốt Huế…; gốm Bát Tràng; cơm cháy Thái Bình Tạo điều kiện thuận lợi cho du khách và người dân địa phương không phải đi xa mà cũng có thể thưởng thức hết đặc sản của các vùng miền trong cả nước, đồng thời góp phần tạo nên sự đa dạng về hàng mua sắm Du khách có thể tham quan mua sắm tập trung tại các siêu thị, các chợ trung tâm như siêu thị Metro, siêu thị Big C, siêu thị Coop mart, cao ốc Indochina, chợ Hàn, chợ Cồn… mang đến cho du khách nhiều lựa chọn hơn trong mua sắm tại Đà Nẵng
Ở Đà Nẵng có một mặt hàng chủ lực và được du khách ưa chuộng nhiều nhất
đó là các sản phẩm của làng đá Non Nước ở quận Ngũ Hành Sơn với sự phong phú về màu sắc, đa dạng về chủng loại, đẹp về mẫu mã , giá cả hợp lý, trở thành sản phẩm đặc trưng nổi tiếng cả trong và ngoài nước, đồng thời góp phần làm đa dạng thêm cho sản phẩm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Các sản phẩm của Làng đá này được bày bán tập trung tại khu vực danh thắng Ngũ Hành Sơn Ngoài ra, vào các dịp triển lãm, hội nghị, đặc biệt là vào các Lễ hội bắn pháo hoa, sản phẩm đá mỹ nghệ Non Nước được dành một không gian riêng để trưng bày với nhiều mẫu mã lạ mắt và có giá trị nghệ thuật cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thăm quan và mua sắm của du khách Ngoài ra, còn có các sản phẩm lưu niệm khác như tranh (sơn mài, vẽ, màu nước, thêu…), vải, hải sản khô
Tuy nhiên, việc kinh doanh các mặt hàng này thường mang tính tự phát, thiếu
sự quản lí của các cơ quan có chức năng Nguyên nhân là do trình độ quản trị kinh doanh chưa phát triển Việc chưa niêm yết giá cả công khai, chính sách hai giá đã ảnh hưởng không tốt tới tâm lý của khách hàng và uy tín của du lịch Đà Nẵng Do vậy, để
Trang 37có thể cạnh tranh và khẳng định thế mạnh so với các địa phương khác thì Đà Nẵng cần phải đa dạng hơn nữa mặt hàng lưu niệm Bởi vì thực tế thì mặt hàng sản phẩm lưu niệm còn chưa phong phú chứ chưa nói là khá nghèo nàn Để đa dạng hơn nữa các mặt hàng lưu niệm và làm cho khách “chịu chi” Đà Nẵng đang tập trung biến mình thành trung tâm mua sắm lớn thông qua việc quy hoạch, huy động cộng đồng doanh nghiệp, người dân tham gia đầu tư mở rộng các khu phố mua sắm đặc trưng, các làng nghề truyền thống, hàng hoá, hải sản dọc các tuyến đường du lịch Hùng Vương, Bạch Đằng, hay còn gọi là chợ đêm sông Hàn Mục đích của dự án là phục vụ nhu cầu mua sắm, tham quan du lịch của nhân dân thành phố và du khách Vị trí xây dựng chợ đêm thuộc phía bờ đông sông Hàn
2.2.2.5 Các cơ sở phục vụ vui chơi, giải trí
Số lượng
Cơ sở vui chơi, giải trí ở Đà Nẵng đa dạng và phong phú về loại hình cũng như mức độ hoạt động Các khu vui chơi, giải trí, nhà thi đấu lần lượt được ra đời như: nhà hát Trưng Vương, trung tâm triển lãm, nhà biểu diễn đa năng, cung thể thao Tiên Sơn, Khu vui chơi Fantasy với các hoạt động giải trí, thể thao cho người dân địa phương
và du khách
Tuy nhiên, cơ sở vui chơi giải trí của Đà Nẵng còn hạn chế về số lượng và chất lượng Trên địa bàn thành phố có một số điểm vui chơi như công viên 29/3, các bãi biển, một số vũ trường như Phương Đông, Trống Đồng Kèm theo đó, chất lượng và chủng loại các loại hình giải trí nghèo nàn, hoạt động vui chơi giải trí thường mang tính riêng lẻ, tự phát không có nhiều hoạt động mang tính tập thể nên không thu hút được sự chú ý của nhiều người
Trong năm 2012, thành phố sẽ quy hoạch và xây dựng Khu Công viên Văn hóa Ngũ Hành Sơn với các hạng mục:
“+ Quy hoạch và đầu tư xây dựng khu danh thắng Ngũ Hành Sơn thành khu du lịch đặc trưng có giá trị đặc biệt, hội tụ các yếu tố bảo tồn văn hóa di tích, cảnh quan của thành phố, hình thành một số điểm tham quan mới; khai thác phía Tây và khu vực sông Cổ Cò, hang Âm phủ, đưa thang máy hòn Thủy Sơn vào phục vụ khách;
+ Hình thành làng đá thành một khu liên hoàn, có không gian riêng cho từng khu vực, 1 điểm tham quan có thuyết minh, chiếu phim giới thiệu, bán sản phẩm, trưng bày, mua sắm;
Trang 38+ Đầu tư và hình thành các điểm tham quan du lịch mới, lễ hội, bảo tàng, tâm
linh, nghỉ dưỡng và điêu khắc mua bán đá mỹ nghệ.” [25]
Thêm vào đó, năm 2012, du lịch Đà Nẵng sẽ quy hoạch và xây dựng khu Làng Vân, đèo Hải Vân, các khu vui chơi giải trí với các dịch vụ giải trí về đêm, phát triển các shows diễn phục vụ du khách, bán hàng lưu niệm, khu mua sắm, phố du lịch Bạch Đằng… Đặc biệt, tháng 4 vừa qua, 1 sản phẩm du lịch mới của Đà Nẵng đã ra đời, đó
là âm nhạc đường phố trên đường Bạch Đằng Đây là một sự sáng tạo trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch của thành phố
2.2.2.6 Các cơ sở lữ hành
Hoạt động kinh doanh lữ hành tại Đà Nẵng khá ổn định và phát triển nhanh cả
về số lượng lẫn chất lượng Nhiều doanh nghiệp lữ hành ra đời và hoạt động hiệu quả
Bảng 7 Số doanh nghiệp lữ hành tại Đà Nẵng giai đoạn 2006 - 2011
Đơn vị: Doanh nghiệp
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng)
Theo bảng 7, số lượng doanh nghiệp lữ hành trên đia bàn thành phố Đà Nẵng khá nhiều và có tăng theo từng năm tuy tỉ lệ tăng không cao Bình quân tăng 11,3 % Trong đó, tăng cao nhất là 2009 - 2010 với tỉ lệ là 31,2 %, tăng chậm nhất là 2008 -
2009 với tỉ lệ là 1,3 % Như vậy, trong vòng 5 năm, các doanh nghiệp lữ hành cũng chỉ tăng 1,5 lần Con số còn khá khiêm tốn so với sự phát triển du lịch của thành phố hiện tại và tương lai
Các doanh nghiệp lữ hành đã có nhiều hoạt động tích cực và sáng tạo trong công tác chào mời, đón và phục vụ khách
Các tour, tuyến mới lạ và độc đáo được xây dựng và đưa vào phục vụ khách : dã
ngoại câu cá ở bán đảo Sơn Trà, nghỉ mát kết hợp du lịch sinh thái Bà Nà, City tour
bằng xích lô, du thuyền trên sông Hàn Bước đầu các dịch vụ của các sản phẩm này
đã phát huy hiệu quả tốt, gia tăng được sự lựa chọn của du khách và để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng mỗi người
Có một số doanh nghiệp đã có hoạt động tốt và khẳng định thương hiệu của mình trên lĩnh vực lữ hành như: công ty Vitour, chi nhánh Saigontourist, Xuyên Á, chi
Trang 39nhánh công ty Tân Hồng, công ty Huy Khánh… Các doanh nghiệp này đã khai thác tốt tiềm năng du lịch Đà Nẵng và các thị trường khách trong nước cũng như quốc tế Đặc biệt, trong việc phát triển du lịch đường biển đã tổ chức đón khách an toàn, thuận lợi, nhanh chóng, tạo ấn tượng tốt đối với hàng loạt tàu cập cảng Đà Nẵng
Phương tịên vận chuyển cũng được các hãng lữ hành đầu tư phát triển nhằm phục vụ tốt nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của du khách : phương tiện vận chuyển
khá đa dạng từ xích lô, ô tô đến các du thuyền đảm bảo tốt nhu cầu đi lại của du khách Hiện nay, trên địa bàn thành phố có khoảng 970 xe du lịch từ 05 đến 50 chỗ ngồi, trong đó có hơn 50% xe được đầu tư mới có chất lượng cao Ngoài ra, có 06 hãng xe taxi tham gia dịch vụ vận chuyển khách du lịch khi có yêu cầu Mới đây, ô tô điện đã đưa vào phục vụ khách
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được đó, các doanh nghiệp lữ hành trong nhiều hoạt động của mình vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phục vụ du khách
Hoạt động lữ hành còn có những biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh: giảm giá tour, giảm giá các dịch vụ để thu hút khách, nên không đảm bảo chất lượng dịch
vụ, đặc biệt là vào mùa cao điểm du lịch Do vậy, các doanh nghiệp lữ hành được cho
là yếu về khả năng khai thác nguồn khách quốc tế và hạn chế về khả năng tài chính Thiếu cán bộ giỏi làm công tác thị trường, tham gia hội chợ quốc tế, tổ chức Fam tour, chưa tạo được nhiều nguồn khách trực tiếp từ các thị trường trọng điểm có sức chi trả cao Việc phối hợp, hợp tác giữa lữ hành và khách sạn vẫn còn hạn chế, chưa tạo được mối quan hệ gắn kết khai thác có hiệu quả, vẫn còn tình trạng “mạnh ai nấy làm” Đây không chỉ là vấn đề của Đà Nẵng mà cũng là của các địa phương khác trong cả nước
Các dịch vụ bán hàng, tour tuyến mới chưa đựơc cải tiến; chất lượng vận chuyển, hướng dẫn cũng còn là vấn đề cần quan tâm Khách còn phàn nàn khá nhiều
về thái độ phục vụ của các tài xế Chất lượng hướng dẫn viên cũng là vấn đề đáng bàn, khi mà khả năng truyền đạt và kiến thức về các lĩnh vực còn hạn chế đã làm cho nhiều
du khách hụt hẫng và thất vọng
Đến mùa cao điểm du lịch và mùa du lịch tàu biển của Đà Nẵng: tình trạng đẩy giá thành dịch vụ lên cao, ảnh hưởng tới uy tín cũng như chất lượng của các doanh nghiệp
Trang 40Công tác quảng bá, tuyên truyền, quảng cáo của các doanh nghiệp còn chưa được đầu tư thỏa đáng Do đó, khả năng cạnh tranh trong việc thu hút khách còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm lực vốn có của mình
2.2.2.7 Các cơ sở phục vụ trung gian, bổ sung
Ở Đà Nẵng hầu như hiếm các cơ sở phục cụ dịch vụ trung gian, bổ sung độc lập, chủ yếu là gắn liền với các cơ sở lưu trú Các dịch vụ đó bao gồm giặt là, cắt tóc,
bể bơi, sân tenis… chiếm tỉ lệ khá nhiều Hiện nay, một số cơ sở lưu trú đã hình thành nhiều dịch vụ mới, tốt cho sức khỏe của du khách Đó là dịch vụ tắm suối nước nóng, vật lý trị liệu…
Các cơ sở phục vụ trung gian, bổ sung ở Đà Nẵng đa phần là khá độc lập với nhau và chưa thật sự thu hút du khách Vì các dịch vụ còn khá nghèo nàn và còn trùng lặp khá nhiều, chưa có những dịch vụ có sức hấp dẫn cao và lạ lẫm đối với du khách
2.2.2.8 Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp
Đà Nẵng với sự phát triển năng động về kinh tế đã xây dựng được một mạng lưới cửa hàng thương nghiệp lớn với nhiều doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng tham gia Mạng lưới đó ngày càng được mở rộng về quy mô và số lượng các mặt hàng Các gian hàng trưng bày sản phẩm là sự phổ biến của hoạt động kinh doanh nơi đây Các mặt hàng của các cửa hàng thương nghiệp đã đáp ứng nhu cầu mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch
Cửa hàng thương nghiệp phát triển như vậy, nhưng đa số vẫn còn phân tán, thiếu tập trung và hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh vẫn luôn diễn ra
2.2.2.9 Sở và các ban ngành hữu quan
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng Đà Nẵng đã chính thức đi vào hoạt
động từ ngày 06/3/2008 Cơ quan này chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Sở là cơ quan trực tiếp tham mưu công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đào tạo hạt nhân văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tổ chức các hoạt
động văn hóa, lễ hội, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố
Hoạt động du lịch của Sở đã có nhiều khởi sắc, lượng khách đến Đà Nẵng năm sau luôn cao hơn năm trước (năm 2009 đón 1 250 000 lượt khách, năm 2010 đón 1
770 000 lượt khách, tăng 33% so với năm 2009, năm 2011 đón 2 350 000 lượt, tăng