- Tất cả các khái niệm về Du lịch cộng đồng của các tổ chức và các nhà nghiên cứu nêu ra ở trên mới chú ý đến vai trò của cộng đồng du lịch , thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào du
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Ở Đ U
Đ t v n ề nghiên c u
Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ nhằm phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường cảnh quan thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (về tự nhiên, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo…) Hiện nay, du lịch cộng đồng được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi thế cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội, nhất là nhằm chuyển đổi sinh kế cho cộng đồng cư dân bản địa Du lịch cộng đồng còn là cơ hội trong bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá đặc trưng của địa phương
Phú Thọ là vùng lõi của không gian văn hóa Đất Tổ, hiện đang lưu giữ nhiều
di sản văn hóa có giá trị Đặc trưng có tính trội và tính khu biệt của văn hóa ở tỉnh
Phú Thọ là khẳng định tính chất cội nguồn, phát tích quốc gia, dân tộc Trong cơ cấu thành phần dân tộc của tỉnh Phú Thọ, người Dao chiếm một vị trí rất quan trọng cùng với 2 dân tộc Kinh và Mường Theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Phú Thọ, vào năm 2015 có hơn 13.000 người Dao sinh sống, chiếm trên 0,9% dân số toàn tỉnh Tại 3 huyện Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập, đồng bào người Dao sinh sống tập trung thành xóm, bản, chủ yếu xen kẽ với các bản của người Mường Dựa theo các tiêu chí ngôn ngữ tộc người, đặc điểm văn hoá và ý thức xã hội, các nhà nghiên cứu đã khẳng định: người Dao ở Phú Thọ hiện chỉ có mặt 2 nhóm nhỏ trong một nhóm lớn Đó là người Dao tiền thuộc nhóm Tiểu Bản và người Dao Quần Chẹt thuộc nhóm Đại Bản Mặc dù trải qua nhiều biến cố thiên di và cuộc sống du canh du cư, nhưng người Dao ở Phú Thọ vẫn lưu giữ được những phong tục, tập quán đặc trưng
Mặc dù có vị trí đặc biệt quan trọng như vậy nhưng hiện nay việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa của người Dao còn gặp nhiều khó khăn Đời sống người dân bản địa còn đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản
lý Việc nghiên cứu, khai thác văn hóa người Dao ở tỉnh Phú Thọ sẽ góp phần làm cho loại hình du lịch ở địa phương trở nên đa dạng hơn, hấp dẫn hơn, tạo ra lợi thế
Trang 4khu biệt so với các điểm du lịch cộng đồng khác Tạo điều kiện thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh Phú Thọ nói riêng, trong cả nước nói chung, phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có
Từ những lí do có tính chất lí luận và thực tiễn như vậy, chúng tôi lựa chọn
đề tài Nghiên cứu, khai thác giá trị văn hóa của người Dao ở tỉnh Phú Thọ phục
vụ phát triển du lịch cộng đồng để thực hiện bản luận văn thạc sĩ của mình thuộc
mã ngành đào tạo Việt Nam học, nhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của người Dao, đưa những nét đẹp văn hóa đó đến gần hơn với cộng đồng Quan trọng và cơ bản hơn, việc gắn với phát triển du lịch cộng đồng sẽ là luận cứ khoa học để chính quyền địa phương tham khảo, hoạch định những chính sách để chuyển đổi sinh kế, cải thiện đời sống của người Dao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
2 Lịch sử nghiên c u v n ề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về du lịch cộng đồng
Lịch sử nghiên cứu du lịch cộng đồng trên thế giới gắn với các khái niệm về tài nguyên, tổ chức các đơn vị hành chính, dân cư, dân tộc, nguồn lao động xuất hiện từ rất sớm vào khoảng thế kỉ XIX gắn liền với sự phát triển củ du lịch hiện đại
từ khoảng những năm 1970 đến nay Trên thế giới nghiên cứu về du lịch cộng đồng chia ra làm 2 giai đoạn cụ thể: từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX và giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay
Từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX thì du lịch cộng đồng gắn với các dự án quy hoạch du lịch tại các khu vực có nhiều cảnh đẹp ở vùng núi, vùng biển với nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn Những người làm du lịch gắng du lịch với các điểm dân cư nhằm tạo ra sự thúc đẩy, hỗ trợ cho việc thực hiện các dự
án quy hoạch Ví dụ: các dự án dọc bờ biển Azure (Pháp); dọc bờ biển Riviera (Italia), Tây Ban Nha, Hy Lạp, Anh… ; các dự án quy hoạch tại vùng núi như: núi Bad Gastein (Áo), Bal – Reichenball (Đức), Genève (Thụy Sĩ)…
Trong thời gian này các nghiên cứu về du lịch chưa được coi là một hoạt động kinh tế, mà chủ yếu để thỏa mãn các nhu cầu ăn chơi của giới thượng lưu Các
Trang 5cơ sở nghiên cứu lâu dài, cơ sở hạ tầng đảm bảo để phục vụ giới quý tộc, thượng lưu
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay du lịch nói chung được nghiên cứu nhiều hơn, người đi du lịch trên thế giới cũng nhiều hơn Du lịch bắt đầu được coi là một ngành kinh tế, được quan tâm nghiên cứu và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới
Từ năm 1950 đến nay các quốc gia có tiềm lực kinh tế, nguồn lực du lịch đều thống kê, lập hồ sơ xếp hạng các tài nguyên du lịch, đề nghị UNESSCO công nhận xếp hạng di sản thế giới Tiến hành quy hoạch du lịch, xây dựng các mô hình du lịch sinh thái, du lịch dựa vào cộng đồng Đến năm 1960 các công trình nghiên cứu
về du lịch với mục đích chuyển nhượng đất, cung ứng nông sản, các loại hình liên quan tới phát triển nguồn nhân lực giá rẻ chứ chưa có đề cập tới mục đích làm lợi cho cộng đồng địa phương Đến năm 1970 khủng hoảng dầu lửa lúc này du lịch được nghiên cứu với vai trò như một ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng phát triển lâu dài và là ngành công nghiệp cứu cánh cho các quốc gia có tài nguyên thiên nhiên hạn chế Từ khi du lịch phát triển ở nhiều quốc gia nhìn nhận du lịch với một vai trò nhân văn hơn hường du lịch gắn với cộng đồng địa phương như: Bucley R.C., “prespectives in inviromental management” (Spimger – Verlao, Berlin Press, 1991); Pagdin C., “Assesing Tourism impact the third world” (A Nepal Case Study, Proress in Planning, 1995); Lea J., “Tourism and development in the third world” (Routledge New York, 1998); … Còn rất nhiều công trình nghiên cứu mang ý nghĩa to lớn đóng vai trò nền tảng cho nghiên cứu sau này về du lịch nói chung và
về du lịch cộng đông nói riêng Tất cả đều là những tri thứ đánh dấu sự khai sinh ra một loại hình du lịch vừa đảm bảo sự bền vững, vừa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong nghiên cứu và bảo tồn văn hóa
Ở Việt Nam, du lịch được coi là bắt đầu phát triển khoảng năm 1990, với sự kiện tổ chức “năm du lịch Việt Nam” Từ đó đến nay Đảng, Nhà nước và Chính phủ, các bộ ngành liên quan đã có những văn bản, luật, văn kiện chỉ đạo thực hiện các chiến lược phát triển, quy hoạch du lịch Ngày 12/12/1992, Nghị định về việc
Trang 6thành lập Tổng cục Du lịch đã được Thủ tướng Chính phủ ký; ngày 22/12/1993 Chính phủ ra Nghị quyết về việc “Đổi mới quản lí và phát triển ngành du lịch”… có thể thế bắt đầu từ năm 1992 Đảng, Chính phủ đã xác định được vai trò của ngành du lịch, là ngành kinh tế mũi nhọn của đấy nước Năm 1945 Chính phủ đã đưa ra các
kế hoạch quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam năm 1995 – 2010 Năm 2000 Pháp lệnh du lịch được công bố Từ năm 1995 đến nay du lịch nước ta đã có những bước đầu đạt được nhiều kết quả tốt Lượt khách đến với Việt Nam tăng dần theo các năm Năm 1990 đón 250.000 lượt khách quốc tế; năm 2011 đón 6 triệu lượt khách quốc tế, 35 triệu lượt khách nội địa và tạo ra 440.000 việc làm trực tiếp và gần 1 triệu việc làm dán tiếp Trong thời gian này khoa học du lịch đã thực sự phát triển
và có những đóng góp cho sự phát triển của du lịch nói riêng và nền kinh tế nói chung Trong các nghiên cứu khoa học có nhiều nghiên cứu chú trọng tới lợi ý của cộng đồng địa phương trong đó phải kể đến như: Võ Trí Trung, “Kiến thức bản địa làm phong phú các giá trị du lịch sinh thái ở Việt Nam”; Lê Văn Lanh và Macnril, O.J, “Du lịch sinh thái ở Việt Nam đến nay cho việc bảo tồn và sự tham gia của cộng đồng địa phương”; Lê Văn Lanh, “Các bước chuẩn bị cho sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các dự án du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn thiên nhiên sinh thái và quản lí môi trường du lịch ở các vườn quốc gia Việt Nam”; “Sự tham gia của cộng đồng và phát triển du lịch – thực trạng và giải pháp” (Kỷ yếu hội thảo khoa học “Bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng”, Hà Nội, 2006) Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu của giảng viên, sinh viên các trường đại học như: Khoa Du lịch học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, ngành Văn hóa Du lịch – Đại học Dân lập Hải Phòng, khoa Du lịch – Đại học Mở Hà Nội… Các nghiên cứu này đều là nền tảng tri thức, thúc đẩy
sự phát triển của du lịch Cộng đồng với vai trò là một hoạt động du lịch mang tính bền vững
2.2 Lịch sử nghiên cứu về văn hóa người Dao
Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc dù quá trình tộc người khác nhau nhưng
Trang 7luôn luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xuất phát truyền thống dân tộc Đảng và Nhà nước đã thực thi nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trước yêu cầu phát triển quốc gia, đặc biệt là trong thời cổ trung đại và di sản về vấn đề dân tộc trong lịch sử đã để lại nhiều bài học quý giá cho hôm nay khi giải quyết vấn đề dân tộc Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta
Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc Có thể khẳng định chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước
Từ Đại hội IV đến Đại hội X của Đảng, chính sách dân tộc đã được Đảng ta
đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể Các nội dung cơ bản trên đây
đã được thể chế hóa và triển khai thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Thấm nhuần những tư tưởng và đường lối của Đảng các nhà nghiên cứu đã bắt tay vào nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Người Dao cũng là 1 trong 54 dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả nghiên cứu về văn hóa tộc người Dao, trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu như: GS.TS Hoàng Nam, “ Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam”, Hà Nội, 2001; PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở miền Bắc”, Thái Nguyên, 2010; PGS.TS Trần Thi Việt Trung, PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh, “Văn học dân tộc thiểu
số ơ Việt Nam truyền thống và hiện đại”, Thái Nguyên, 2014; Lý Hành Sơn (1999),
Trang 8Lễ cưới của người Dao Tiền ở Ba Bể (Bắc Cạn), Tạp chí Dân tộc học, số 3 – 1999;
Lý Hành Sơn (2003), Các nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Cạn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Trần Hữu Sơn, Trần Thùy Dương (2009), Sách cổ người Dao - nguồn tư liệu quan trọng tìm hiểu lịch sử tộc người Dao, Tạp chí Dân tộc học, số 3 – 2009; Lê Ngọc Thắng (2005), Một số vấn
đề về dân tộc và phát triển, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội… đó là những nghiên cứu tạo định hướng cho quá trình bảo tồn và phát huy truyền thống người Dao trong thời kỳ phát triển của đất nước
2.3 Lịch sử nghiên cứu, khai thác giá trị văn hóa của người Dao phục vụ phát triển du lịch cộng đồng
Đã có nhiều nghiên cứu giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số phục vụ phát triển du lịch cộng đồng trong thời gian gần đây, khi văn hóa được coi như một “mỏ vàng lộ thiên”, đảm bảo tính bền vững cho du lịch Nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến những giải pháp vừa lấy du lịch để thúc đẩy văn hóa, vừa lấy văn hóa làm nguyên liệu cho du lịch, tuy nhiên ở mỗi khu vực khác nhau lại có những dân tộc thiểu số khác nhau, nên nghiên cứu du lịch cộng đồng gắn với văn hóa thường mang tính địa phương Nhiều dự án phát triển du lịch cộng đồng ở Sa Pa, ở Hà Giang, Cao Bằng đã có những bước đánh giá tiềm năng văn hóa của các dân tộc ở đây, hình thành các giải pháp cụ thể đảm bảo sự phát triển lâu dài của du lịch cộng đồng
Nghiên cứu, khai thác giá trị văn hóa của người Dao phục vụ phát triển du lịch cộng đồng có thể thấy ở các vùng như Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang đã có nhiều nghiên cứu đề cập, do ở đây là những khu vực đông người Dao sinh sống Ở Phú Thọ nghiên cứu về văn hóa Dao còn khá hạn chế, chưa có nghiên cứu nổi bật
để đánh giá cụ thể những giá trị văn hóa có thể khai thác, đảm bảo tính khả thi cho các dự án du lịch Cũng chính vì lẽ đó các nghiên cứu chưa phục vụ được thực tế
Do đó khi lựa chọn vấn đề nghiên cứu tác giả mong muốn sẽ đóng góp thêm cơ sở
lý luận trong nghiên cứu văn hóa người Dao ở tỉnh Phú Thọ, đồng thời có thể đưa ra thực tế nhằm xây dựng một khu du lịch cộng đồng ở tỉnh Phú Thọ
Trang 9sinh kế người dân ở tỉnh Phú Thọ
4 Đối tư ng và phạ vi nghiên c u
4.1 i tư ng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn hóa của người Dao ở tỉnh Phú Thọ và việc bảo tồn, khai thác phục vụ những giá trị văn hóa đó để phát triển du lịch cộng
đồng
4.2 h m vi nghiên cứu
- Tỉnh Phú Thọ (tập trung vào 3 huyện có đông
người Dao sinh sống là Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập)
- Tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2010
đến nay
- ộ Tập trung nghiên cứu, khai thác những đặc trưng văn
hóa của người Dao ở tỉnh Phú Thọ phục vụ phát triển du lịch cộng đồng
5 Phư ng ph p nghiên c u
5.1 hương pháp nghiên cứu liên ngành
Chọn đối tượng nghiên cứu là văn hóa người Dao – đối tượng thu nạp rất nhiều giá trị văn hóa – lịch sử, tín ngưỡng – tôn giáo,… việc vận dụng phương pháp liên ngành mang đến những ưu thế vượt trội Phương pháp này giúp chúng tôi có thể kết hợp sử dụng đồng thời, thực sự khách quan và bình đẳng nhiều phương pháp chuyên ngành để có được những nhận thức toàn diện và tổng thể về văn hóa người Dao gắn với không gian văn hóa tỉnh Phú Thọ, đồng thời gắn với phát triển du lịch cộng đồng
Trang 105.2 hương pháp hệ th ng hóa kết h p so sánh, phân tích, tổng h p
Văn hóa người Dao hết sức phong phú và đa dạng, phân loại và thành hệ thống hóa là rất quan trọng để có được một cái nhìn bao quát, toàn diện Việc áp dụng phương pháp hệ thống hóa và là rất cần thiết Nó giúp vừa bao quát được các nghiên cứu đi trước vừa kế thừa và khảo cứu sâu hơn vấn đề trọng tâm của đề tài Hơn hết, sử dụng phương pháp hệ thống hóa sẽ giúp nhận diện được những yếu tố
là trung tâm, chi phối văn hóa người Dao trên cùng địa bàn
Văn hóa tộc người có vừa mang tính phổ quát, vừa gắn với tư duy tộc người Giá trị văn hóa của tộc người thể hiện trên những bình diện và hệ giá trị khác nhau Điều đó phụ thuộc vào tính “nội sinh”, bản địa và sự chiếm lĩnh, đồng hóa những nét văn hóa ngoại nhập Gắn với mỗi địa vực cư trú nhất định, người dân sẽ có các cách ứng xử tương ứng với các điều kiện tự nhiên và xã hội Những điều đó thể hiện
rõ dấu ấn trong lễ hội, đình đám, phong tục, đời sống tâm linh,…, kiến trúc, điêu khắc, hội họa… Thậm chí ở một địa bàn cư trú, mỗi thời đoạn lịch sử cụ thể lại có những biến đổi không dễ nhận ra Vì vậy, một cái nhìn dưới góc độ tương đồng và
dị biệt, so sánh đồng đại và lịch đại là cần thiết
có hệ thống về vấn đề nghiên cứu Tác giả đã đi thực tế tại Huyện Yên Lập, Phỏng vấn 10 hộ dân người Dao tại Nga Hoàng – Yên Lập, chủ yếu ở đây là Dao quần chẹt, trong 10 hộ dân có 5 hộ đang kinh doanh du lịch 5 hộ không kinh doanh du lịch do điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn
Trang 115.4 hương pháp chuyên gia
Các chuyên gia ở đây bao gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm đối với các vấn đề liên quan đến đề tài Qua phỏng vấn, tham khảo ý kiến của các chuyên gia thuộc những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, tác giả có điều kiện học hỏi thêm kinh nghiệm, lĩnh hội tri thức và kiểm nghiệm các nhận thức của mình Các chuyên gia còn bao gồm cả đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là quản lý trực tiếp các di sản văn hóa trên Đất Tổ Qua trao đổi, phỏng vấn tác giả có điều kiện để nắm bắt tốt hơn các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, nhất là các vấn đề liên quan đến giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, những vấn đề về cơ chế, chính sách và tổ chức các hoạt động văn hóa tại địa phương
Trong đó tác giả đã phỏng vấn ông Trần Việt Hùng – Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Yên Lập để nắm được tình hình kinh tế địa phương, đồng thời tìm hiểu thêm những chính sách hỗ trợ về kinh tế tại khu vực người Dao sinh sống Ngoài ra tác giả cũng phỏng vấn các cán bộ văn hóa, trực tiếp nghiên cứu và thực hiện các chính sách văn hóa tại khu vực người Dao sinh sống
Các phương pháp trên được sử dụng kết hợp và linh hoạt trong quá trình nghiên cứu đối tượng Bên cạnh đó, tùy vào tính chất của từng vấn đề nghiên cứu chúng tôi sẽ lựa chọn các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác
Trang 12NỘI UNG NGHI N CỨU Chư ng : C SỞ UẬN VÀ THỰC TIỄN
C sở uận
1.1.1 Văn hóa tộc người và văn hóa người Dao
Việt Nam - dải đất hình chữ S là tổng hòa của 54 dân tộc anh em, từ ngàn đời nay đã chung sống gắn bó, keo sơn Trong đó, dân tộc Dao nằm trong nhóm các dân tộc thuộcnhóm ngôn ngữ Mông-Dao, với chữ viết riêng là nôm Dao Hiện nay, người Dao ước tính có hơn 750.000 người, sống ở vùng lưng chừng núi hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta Từ khi di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam người Dao đã sinh sống, gắng bó người Dao đã trở thành một bộ phận máu thịt của dân tộc Việt Nam, những giá trị văn hóa của người Dao trước khi họ di cư vào Việt Nam vẫn được họ lưu giữ trong luận văn này tôi sẽ nói rõ về các giá trị văn hóa cốt lõi này
Về hoạt động sản xuất, người Dao phổ biến là làm nương, thổ canh trên hốc
đá và canh tác ruộng Cây lương thực chính của họ là lúa, ngô và các loại rau màu như bầu, bí, khoai Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao và họ ưa dùng vải nhuộm chàm Hầu hết các xóm tộc người Dao đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ, nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang Người Dao cũng có nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài, yếm, váy hoặc quần, y phục thêu sặc sỡ Bộ y phục của người phụ nữ Dao là chiếc áo được thiết kế dài đến gần đầu gối Cổ áo được thiết kế theo hình chữ V có thêu hoa văn, lưng áo cũng thêu hoa văn Theo quan niệm của đồng bào Dao, nhìn vào cách thêu hoa văn ở phần đuôi áo của người phụ nữ sẽ biết được người phụ nữ khéo hay không, có đảm đang hay không Còn đàn ông Dao, trước đây để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn
Người Dao ở Phú Thọ thuộc 2 nhóm Dao khác nhau là Dao tiền và Dao quần chẹt, về cơ bản hai nhóm Dao này tương đối giống nhau nhưng đặc điểm về tiếng
Trang 13nói và trang phục là đặc điểm dễ phân biệt nhất Trang phục nữ giới chính là đặc điểu để phân biệt giữa hai nhóm này Phụ nữ Dao quần chẹt đặc điểm là quần họ có phần gấu bó lại và được trang trí hoa văn, người Dao quần chẹt chỉ mặc quần không mặc váy Người Dao tiền có trang sức là họ đeo trang sức là các đồng xu tiền to bản trước ngực Về phong tục tập quán 2 nhóm Dao này gần giống nhau
Mặc dù sống ở khu vực núi và địa bàn riêng biệt, nhưng phương tiện vận chuyển của đồng bào Dao vẫn có nhiều nét tương đồng với các dân tộc khác về chủng loại, cách thức chế tác và chức năng sử dụng Để chuyển hàng họ thường dùng địu, quẩy tấu (một loại sọt) hay lù cở (giống gùi) có hai quai đeo phía sau, để lên rừng hái quả hoặc thu hoạch nông sản Ở những vùng thấp hơn, người Dao thường dùng đôi dậu để gánh lúa, ngô và những vật dụng khác
Dù sinh sống ở nhiều vùng miền, nhưng sinh hoạt cộng đồng của đồng bào dân tộc Dao vẫn mang tính chất khép kín, thể hiện qua phong tục tập quán, qua hôn nhân Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, đồng bào Dao chỉ mong gả trong cộng đồng dân tộc mình
Tục th cúng: Đối với người Dao, việc thờ cúng đặc biệt được chú trọng, vì
vậy các nghi lễ liên quan đến thờ cúng tổ tiên luôn được đồng bào duy trì, thể hiện với những nghi lễ độc đáo, đặc sắc Nghi lễ thờ cúng nói chung của người Dao mang đậm tính nhân văn, hướng con người nhớ đến nguồn cội, xua đuổi cái ác và là sợi dây liên kết cộng đồng sâu sắc Trong nghi lễ thờ cúng, người Dao sử dụng nhiều tranh cúng và mỗi dịp lễ, Tết, lại có những loại tranh cúng riêng; trong đó phổ biến là bộ tranh Tam Tượng (hay còn gọi là Tam Thanh) và bộ Đại Đường Quân Tranh thờ không chỉ là tín ngưỡng mà còn thể hiện niềm tin của người Dao với cuộc sống Đồng bào quan niệm, các vị thần linh luôn nhìn thấu mọi việc và sẵn sàng phạt người nào định làm điều ác Chỉ cần nhìn ngắm bức tranh có các vị thần được khắc họa oai nghiêm là những ai có ý định làm việc xấu sẽ phải dừng lại
Lễ cấp sắc: là một trong những nét văn hóa truyền thống đặc sắc nhất của
dân tộc Dao Theo quan niệm của đồng bào, lễ cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu của người đàn ông dân tộc Dao, được cấp sắc mới được coi là người đàn ông
Trang 14đã trưởng thành và có đủ quyền tham gia các công việc của cộng đồng Lễ cấp sắc của người Dao thường được tổ chức vào tháng 11, 12 hoặc tháng Giêng hàng năm, với rất nhiều nghi lễ đa dạng và độc đáo của các ngành đồng bào Dao Mỗi ngành Dao đều có không gian hành lễ, mang đặc trưng riêng Với những giá trị đặc sắc, nghi lễ cấp sắc của người Dao ở Tuyên Quang đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Hát Páo Dung: được coi là như một trong những báu vật văn hóa của dân tộc
Dao Hát Páo Dung thể hiện những tâm tư, tình cảm và ước muốn của người Dao trong cuộc sống thường ngày Ở mỗi ngành Dao, Páo Dung lại được biểu diễn khác nhau, có vùng thì với âm điệu trầm kéo dài, có vùng âm điệu lại cao, bay bổng Tuy
có sự khác nhau về cách thể hiện giữa các ngành Dao, nhưng những làn điệu Páo Dung của đồng bào Dao đều có nét chung là đề cao lẽ sống, cách ứng xử, ca ngợi thiên nhiên và tinh thần lao động sáng tạo Với những nét độc đáo, nghệ thuật hát Páo Dung cũng đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
1.1.2 Du lịch cộng đồng
“Du lịch cộng đồng” hay “Du lịch dựa vào cộng đồng” thực chất là đối
tượng nghiên cứu và triển khai các loại hình du lịch Đó là các cộng đồng địa phương như làng (bản, buôn, sóc…), xã, huyện, tỉnh thành Du lịch cộng đồng đã được biết đến như những quan điểm, giải pháp, nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Ngày nay, Du lịch cộng đồng được hiểu là cộng đồng địa phương cùng tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch mang tính tự phát hoặc có tổ chức tại địa phương có phân bổ các nguồn tài nguyên du lịch
Trong trường hợp cộng đồng địa phương tham gia một cách tự phát vào hoạt động du lịch, hoặc trong trường hợp có tổ chức, song quy hoạch phát triển du lịch thiếu khoa học, không đúng đắn thì thường cộng đồng địa phương trở thành những người làm thuê và thu nhập thấp Sản phẩm du lịch họ cung cấp thường đơn điệu, chất lượng thấp, quyền lợi của họ bị xâm hại bởi những tổ chức, những công ty từ nơi khác đến kinh doanh, quản lí nguồn tài nguyên du lịch Đồng thời tài nguyên,
Trang 15môi trường du lịch và kinh tế xã hội thường có xu hướng bị suy giảm, bị tác động tiêu cực và kết quả là phát triển du lịch không đáp ứng được nhu cầu hợp lí và giảm sức hấp dẫn du khách, hiệu quả kinh doanh du lịch thấp, không thực hiện được các mục tiêu: phát triển du lịch đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển cộng đồng
Đến nay đã có một số nhà nghiên cứu cũng như một số tổ chức thế giới đưa
ra các khái niệm và “Du lịch cộng đồng”:
Theo quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới WWF: “Du lịch cộng đồng là loại hình
du lịch mà ở đó cộng đồng địa phương có sự kiểm soát vào sự phát triển và quản lí hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại cho cộng đồng”1
“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương nhằm phát triển kinh tế địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn văn hóa, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận thức và tăng cường quyền lực cho cộng đồng, cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận sự hợp tác, hỗ trợ của chính quyền địa phương, của chính phủ và từ hoạt động hỗ trợ quốc tế, nhằm mục đích khai thác bền vững các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn tại địa phương để giới thiệu tới du khách du lịch”2
Theo tác giả Nguyễn Văn Thanh thì “Du lịch cộng đồng là phương thức phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia vào du lịch, đồng thời được hường quyền lợi mà du lịch mang lại”3
Theo Bùi Thị Hải Yến thì các khái niệm về Du lịch cộng đồng trên có thể khác nhau về cách diễn đạt song về nghĩa có một số những đặc điểm chung có thể tổng kết lại:
1 Du lịch cộng đồng - Bùi Thị Hải Yến (chủ biên)
2 Du lịch cộng đồng - Bùi Thị Hải Yến (chủ biên)
3
Đào tạo du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái với bảo vệ môi trường - Tạo chí du lịch Việt Nam số 1
Trang 16- Du lịch cộng đồng là “loại hình, hình thái, phương thức phát triển du lịch” có
sự tham gia trực tiếp, chủ yếu của cộng đồng địa phương vào các giai đoạn các khâu trong quá trình phát triển du lịch, nhằm bảo tồn và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên môi trường, cộng đồng được hưởng lợi nhuận từ hoạt động du lịch
- Các khái niệm về Du lịch cộng đồng nêu trên mới chú ý đến vai trò của du lịch, cộng đồng địa phương và việc hưởng lợi ích từ du lịch của cộng đồng địa phương, khái niệm về Du lịch cộng đồng của WWF, của Nicole Hauler và của Wolfang Strasdas đã nhấn mạnh phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du lịch cộng đồng được giữ lại cho cộng đồng
- Tất cả các khái niệm về Du lịch cộng đồng của các tổ chức và các nhà nghiên cứu nêu ra ở trên mới chú ý đến vai trò của cộng đồng du lịch , thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào du lịch và quyền lợi họ được hưởng từ hoạt động du lịch, chưa quan tâm tới cộng đồng địa phương trong trong vai trò cầu du lịch, quyền lợi các đặc điểm của khách du lịch sử dụng trong sản phẩm du lịch của cộng đồng địa phương4
Vì vậy, theo Nguyễn Văn “khi nghiên cứu, quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng cần tính đến vai trò của cộng đồng trong tất cả cung và cầu du lịch: “Tính cộng đồng trong tạo cung du lịch có thể hiểu là sự liên kết nhiều quá trình, hoạt động du lịch riêng biệt thành quá trình Kinh tế - xã hội, tồn tại, hoạt động và phát triển liên tục với tư cách là một ngành kinh tế như một hệ thống hữu cơ” Đó là quá trình kinh tế khách quan phù hợp với quá trình phát triển cao của lực lượng sản xuất
xã hội trong và ngoài ngành du lịch5”
Vai trò của cộng đồng dưới góc độ cầu du lịch: “Dưới góc độ cầu du lịch thì cộng đồng hóa du lịch, du lịch đại chúng là quá trình chuyển đổi nhu cầu du lịch từ nhu cầu đơn lẻ cao cấp của một số ít người thuộc tầng lớp nhiều tiền trở thành phổ biến, thiết yếu quảng đại chúng nhân dân”
Trang 17Theo cơ sở lí luận được nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu đúc rút cũng như từ thực tiễn phát triển của du lịch cộng đồng trên thế giới và ở Việt Nam, du lịch cộng đồng có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chinh phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn, khai thác tài nguyên môi trường bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú
có chất lượng cao và hợp lí của du khách, để mọi tầng lớp dên cư đều có thể được
sử dụng, tiêu dùng các sản phẩm du lịch
1.1.3 M i quan hệ giữa văn hóa tộc người với du lịch cộng đồng
Văn hóa tộc người bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần do tộc người đó sáng tạo ra trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội Theo đó có thể thấy giữa văn hóa tộc người và du lịch cộng đồng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau Tuy nhiên ở một mức độ nào đó cả văn hóa và du lịch cộng đồng cần có biên giới nhất định
Du lịch cộng đồng phát triển theo hướng phát huy bản sắc văn hóa các tộc người nhằm tạo ra lợi nhuận cho cộng đồng địa phương đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa, tuy nhiên có thể nói có những yếu tố của văn hóa dân tộc bảo tồn phải là bảo tồn nguyên vẹn, không bảo tồn phát triển, trong đó có các lễ gọi là lễ mật, những lễ này để đảm bảo tính linh thiêng thì không thể mang ra để làm mô hình, hay trình diễn liên tục cho du khách xem Hơn nữa trong quá trình xem nhiều du khách có những hành động phát tán thông qua quay phim chụp ảnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cộng đồng địa phương Trong văn hóa của các dân tộc, những lễ mật bao gồm các lễ cúng, đám tang vv… bởi vì họ quan niệm những nghi thức này là sự gắn kết giữa người âm và người dương, giữa thần linh và con người nên không thể tùy tiện tổ chức các nghi lễ này Điều này là người nghiên cứu văn hóa phải nắm chắc nếu muốn sử dụng các nghi lễ này phục vụ phát triển du lịch cộng đồng có những giải pháp cụ thể như nếu như muốn xem các nghi lễ này người xem phải tuân
Trang 18theo các quy tắc trong nghi lễ, chấp hành nghi lễ như một người dân địa phương Ngoài ra có thể sân khấu hóa các nghi thức này, trình diễn thông qua hình thức mô phỏng, không trình diễn thực, nghệ thuật hóa các hoạt động tín ngưỡng tâm linh trong lễ mật Các lễ mật phải được bảo tồn nguyên vẹn mới đảm bảo tính linh thiêng, đó cũng là cách những người làm du lịch thể hiện sự tôn trọng với cộng đồng dân cư địa phương
Mặt khác du lịch cộng đồng được hiểu đùng nghĩa nhất là một quá trình, chứ không phải một loại hình sản phẩm du lịch đặc biệt Quá trình này đảm bảo sao cho các cộng đồng địa phương có thể vừa trực tiếp tham gia vừa có thể trực tiếp quản lí, quy hoạch và tạo ra những sản phẩm du lịch và những dịch vụ thu hút khách hàng mang đặc trưng cơ bản của cộng đồng địa phương đó
1.1.4 Cơ sở đề xuất giải pháp
Những nghiên cứu và tìm hiểu thực tế có thể thấy việc đưa ra những giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng ở Phú Thọ gắn với văn hóa tộc người Dao cần có những cơ sở khoa học và thực tiễn mang tính quyết định làm định hướng mới có thể đảm bảo tính khả thi cho đề tài này
Cơ sở khoa học
Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch mới ở Việt Nam, nó mang lại lợi ích không chỉ về kinh tế, xã hội cho cộng đồng mà còn góp phần vào công tác bảo tồn các nét văn hóa bản địa và giữ gìn cảnh quan tự nhiên của vùng Do đó, các sáng kiến về du lịch cộng đồng nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện mang lại thu nhập thay thế và giảm nghèo cho cộng đồng Các sáng kiến còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên Du lịch cộng đồng dựa trên sự tò mò, mong muốn của khách
du lịch để tìm hiểu thêm và có được các trải nghiệm về cuộc sống hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa khác nhau, khám phá thiên nhiên, tình nguyện, nhân đạo giúp đỡ cộng đồng
Trang 19Các loại hình du lịch phù hợp với du lịch cộng đồng như: Du lịch sinh thái;
du lịch nông nghiệp, nông thôn; du lịch làng nghề; du lịch dân tộc hay bản địa và du lịch văn hóa Ngoài ra việc thúc đẩy nghệ thuật và hàng thủ công địa phương có thể
là một thành phần quan trọng trong các dự án du lịch cộng đồng và trong các hình thức chủ đạo của ngành du lịch
Đặc trưng của loại hình du lịch này chính là thành phần tham gia đa dạng:
Từ chính quyền địa phương, cơ quan quản lý du lịch, các cơ quan bảo tồn, công ty
du lịch, hãng lữ hành, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng địa phương và khách
du lịch tới cộng đồng dân cư, các đối tác liên quan và du khách có trách nhiệm bảo
vệ tài nguyên văn hóa, thiên nhiên địa phương Các thành viên của cộng đồng đều được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch Tuy nhiên quy mô hoạt động của loại hình
du lịch này thường không lớn, thị trường khách khá hẹp về đối tượng và ít về số lượng; các sản phẩm, dịch vụ - du lịch được phát triển phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa địa phương
Đối tượng chính của loại hình du lịch cộng đồng thường có các đặc điểm như tôn trọng các giá trị tự nhiên, lịch sử, văn hóa và các điểm tham quan Quan tâm đến tác động của du lịch đối với môi trường và các giá trị bền vững khác Thích chỗ ở
có quy mô nhỏ của người dân địa phương; tìm kiếm những khía cạnh chân thực của cuộc sống như: Đặc sản địa phương, những thiết kế mộc mạc và tự nhiên, các yếu tố mang đậm tính truyền thống bản địa Tìm kiếm sự tương tác với con người, lối sống
và các nền văn hóa riêng biệt của chính họ Không bị thu hút bởi cách tiếp thị hàng loạt Khách thường có học vấn và thu nhập cao Họ không có con cái hoặc có con
đủ tuổi để ở nhà một mình Khách du lịch bụi và khách du lịch trẻ có ngân sách đi
du lịch nhỏ cũng có thể tham gia được du lịch cộng đồng vì các dịch vụ ăn ở, đi lại của loại hình du lịch này thường rẻ hơn so với các dịch vụ của loại hình du lịch khác
Cơ sở pháp lý
Du lịch cộng đồng hiện nay được chú trọng phát triển, với những tiềm năng
về tài nguyên văn hóa, lịch sử, điều kiện cảnh quan, tự nhiên đa dạng “Nguyên tắc
Trang 20“phát triển du lịch bền vững” đã được xác định từ Luật Du lịch 2015 Theo đó, phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh
tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”6
Đây cũng là một trong những nguyên tắc xuyên suốt của Luật Du lịch
2017, thể hiện dưới những góc độ sau:
Phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, do vậy Luật Du lịch 2017 đã có nhiều điều chỉnh nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch tuân thủ các quy luật của thị trường, hạn chế sự can thiệp mang tính hành chính của nhà nước thông qua việc tôn trọng quyền của các chủ thể trong quan hệ kinh tế (Điều 11, Điều 37, Điều 47, Điều 53…) , thực hiện xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch trên cơ sở đăng ký tự nguyện của tổ chức, cá nhân (Điều 50); phát triển du lịch phải gắn liền với phát triển các dịch vụ khác nhằm bảo đảm tính bền vững chung của nền kinh tế (Điều 55) Bên cạnh đó, luật nghiêm cấm các hành vi làm phương hại đến chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và môi trường kinh doanh du lịch (Điều 9), đồng thời quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường du lịch (Điều 8), giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Điều 6, Điều 9, Điều 13, điểm d khoản 2 Điều 25, điểm d khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 49…) Việc lập quy hoạch
về du lịch phải đảm bảo phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; chiến lược phát triển ngành Du lịch và các quy hoạch khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo từng thời
kỳ (khoản 1 Điều 20)
Phát triển du lịch phải bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của khách du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch, luật còn ghi nhận quyền
6 Luật Du lịch 2017
Trang 21tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch của cộng đồng dân cư; phát triển đa dạng các ngành, nghề và các loại hình dịch vụ, văn hóa, nghệ thuật phục vụ khách du lịch (Điều 6, Điều 55); thu hút tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, phát triển du lịch cộng đồng và chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch với cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương (Điều 19)
Phát triển du lịch không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai Phương diện này thể hiện ở việc tài nguyên du lịch (gồm tài nguyên
du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa) phải được bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo, phát huy, khai thác và sử dụng một cách hợp lý Luật quy định Nhà nước ưu tiên bố trí kinh phí cho hoạt động điều tra, đánh giá, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch (điểm a khoản 3 Điều 5); xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc; bảo vệ, giữ gìn, khai thác hợp lý và phát huy giá trị tài nguyên du lịch (khoản 1 Điều 6; Điều 8; khoản 1 Điều 12; Điều 17); nghiêm cấm các hành vi xâm hại tài nguyên du lịch (khoản 3 Điều 9); tổ chức điều tra, đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch để làm quản lý, khai thác, phát huy giá trị tài nguyên du lịch (khoản 1 Điều 16); việc lập quy hoạch về du lịch phải đảm bảo khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên du lịch (khoản 2 Điều 20)
Để Luật Du lịch 2017 phát huy hiệu quả, mang lại những tác động tích cực cho du lịch Việt Nam thì cần có sự tham gia chủ động, tích cực của tất cả các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực du lịch cũng như của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng liên quan Cụthể:
Cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch, khẩn trương xây dựng các văn bản quy định chi tiết được luật giao để sớm đưa Luật
Du lịch vào thực tiễn và đề xuất để chỉnh sửa các văn bản pháp luật có liên quan để tạo điều kiện cho du lịch phát triển; phối hợp với các bộ, ngành, hiệp hội du lịch Việt Nam và các cơ quan, tổ chức liên quan để triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về du lịch đến các doanh nghiệp du lịch, người lao động trong lĩnh
Trang 22vực du lịch, khách du lịch và cộng đồng xã hội; thực hiện nghiêm công tác quản lý nhà nước về du lịch theo quy định của luật
Sau khi Luật Du lịch 2017 được thông qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
đã phối hợp với Bộ Tư pháp để lập danh mục văn bản quy định chi tiết Luật Du lịch Dự kiến, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ được phân công chủ trì xây dựng các văn bản sau: Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật
Du lịch; Nghị định quy định chi tiết Luật Du lịch về việc lập, quản lý và thực hiện quy hoạch về du lịch; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch; Thông tư của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số điều của Luật
Du lịch Thời gian hoàn thành trong tháng 10/2017
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch cần chủ động tìm hiểu, cập nhật Luật Du lịch và các văn bản quy định chi tiết; tự giác tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật về du lịch nói riêng; đảm bảo đáp ứng, duy trì đầy đủ các điều kiện kinh doanh và thực hiện nghiêm nghĩa vụ theo quy định của luật
Người lao động trong lĩnh vực du lịch cần chủ động học tập, rèn luyện, nâng cao kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ; tuân thủ pháp luật và luôn có ý thức giữ gìn hình ảnh quốc gia phục vụ khách du lịch
Khách du lịch cần nâng cao ý thức trách nhiệm, văn hóa ứng xử, cũng như hiểu biết về quyền, nghĩa vụ của mình khi đi du lịch.”
Có thể thấy trên cơ sở Luật Du lịch đã tạo ra một khung pháp lí và tạo môi trường cho phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú thọ lần thứ XVI cũng khẳng định: “Phát triển mạnh mẽ dịch vụ du lịch, từng bước xây dựng du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh”; đến Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ tỉnh định hướng phát triển du lịch là một trong ba khâu đột phá trong phát triển KT-XH giai đoạn 2011 – 2015 Hơn 10 năm qua, tỉnh đã tập trung khai thác, đầu tư và phát triển du lịch trên nhiều phương diện: Cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng, văn hóa - xã hội, nguồn nhân lực, môi trường…và đã đạt
Trang 23được một số kết quả Từ năm 2000 đến năm 2012, lượt khách du lịch đến Phú Thọ
đã tăng gần 6 lần, từ 1 triệu lên khoảng 6,1 triệu lượt Khách lưu trú tăng gần 8 lần,
từ 63,8 ngàn lượt tăng lên 500 ngàn lượt Doanh thu có tốc độ tăng trưởng là 9,25%/năm (năm 2006 là 403 tỷ đồng, ước năm 2012 là 700 tỷ đồng, đến 6 tháng đầu năm 2012 là 501 tỷ đồng) GDP du lịch đạt tốc độ tăng trưởng là 13,3% (năm
2006 là 138,9 tỷ đồng, năm 2012 là 295 tỷ đồng); ước năm 2012 thực hiện là 354 tỷ đồng Cơ sở lưu trú du lịch từ 75 cơ sở (23 khách sạn, 52 nhà nghỉ) với tổng số 1.292 phòng (năm 2006) lên 190 cơ sở (32 khách sạn và 168 nhà nghỉ) với 2.900 phòng Lao động ngành du lịch năm 2006 là 6.700 người (tại cơ sở lưu trú là 756 người, tại nhà hàng là 455, dịch vụ khác là 5.489 người); đến năm 2012 ước đạt 15.500 người (tại cơ sở lưu trú 3.000 người, tại nhà hàng là 2.086 người, dịch vụ khác là 10.414 người)”7
C sở th c ti n
1.2.1 Phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới
Trên thế giới, loại hình du lịch cộng đồng được coi là một chiến lược, một giải pháp mang tính nhân văn sâu sắc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng Trên thế giới du lịch cộng đồng được phát triển từ rất sớm với các mô hình tiêu biểu ở các quốc gia như:
“Mô hình du lịch cộng đồng ở Mỹ, tại làng da đỏ ở bang Massachusetts, cộng đồng địa phương trực tiếp tham gia vào các hoạt động trình diễn văn hóa bản địa, kinh doanh lưu trú tại các gia đình họ cung cấp các dịch vụ ăn uống, hướng dẫn
du lịch, vận chuyển hành khách Ở đó người dân địa phương được lợi từ du lịch họ được sống trong các ngôi nhà tiện nghi, còn khách du lịch được tận hưởng cuộc sống, môi trường văn hóa bản địa trong ngôi làng mô hình truyền thống Khi có đoàn thăm quan thì người dân địa phương được báo trước 24 giờ họ sẽ có thời gian chuẩn bị Du khách sẽ được trải nghiệm những hoạt động sinh hoạt văn hóa, họ còn tái hiện lại những cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, du khách cũng được chia sẻ
7 http://thanhthuy.phutho.gov.vn/bao-cao-de-an-phat-trien-du-lich-cong-dong-vuon-quoc-gia-xuan-son.htm
Trang 24những cảm nhận của mình, được ăn những món ăn truyền thống của người da đỏ Trong đó có cả các hoạt động sinh hoạt sản xuất kinh tế… mặc dù chi phí cho hoạt động du lịch ở ngôi làng này khá cao nhưng vẫn thu hút khách du lịch vì những trải nghiệm này mang lại cho họ cảm giác mới lạ”8
Từ lâu, khái niệm “du lịch cộng đồng” đã được đề cập rộng rãi tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, cụ thể:
Ở Thái Lan khái niệm Community-Based Tourism - Du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa: “du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được quản lý và có bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội Thông qua du lịch cộng đồng du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương” (REST, 1997)
Khái niệm này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu của nhiều
tổ chức xã hội trên thế giới Pachamama (Tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về Community-Based Tourism như sau: “du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh
kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương” Còn Istituto Oikos (Tổ chức hướng đến việc hỗ trợ các nghiên cứu, huy động nguồn lực tài chính trong công tác bảo tồn về mặt sinh thái tự nhiên và nhân văn cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới, ra đời tại Ý, 1996) lại đề cập đến nội dung của du lịch cộng đồng theo hướng: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến và có lưu trú qua đêm tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương (thường là các cộng đồng ở nông thôn hoặc các cộng đồng nghèo hoặc sinh sống ở những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn) Thông qua đó du khách có cơ hội khám phá môi trường thiên nhiên hoang dã hoặc tìm hiểu các giá trị về văn hóa truyền thống, tôn trọng tư
8 Du lịch cộng đồng - Bùi Thị Hải Yến (chủ biên)
Trang 25duy văn hóa bản địa Cộng đồng địa phương có cơ hội thụ hưởng các lợi ích kinh tế
từ việc tham gia vào các hoạt động khám phá dựa trên các giá trị về tự nhiên và văn hóa xã hội tại khu vực cộng đồng địa phương sinh sống” Trong khi Tổ chức mạng lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo cho rằng : “du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên.”
1.2.2 Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
Ở Việt Nam với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có những bản sắc riêng biệt,
ẩn chứa trong đó những đặc điểm mang tính đặc trưng là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng Từ khoảng những năm cuối thế kỉ XIX du lịch cộng đồng ở Việt Nam đã có sự phát triển ban đầu, những nhà nghiên cứu đã hướng tới việc nghiên cứu về tiềm năng văn hóa của các tộc người, ở các địa phương khác nhau để phát triển du lịch Thông qua việc nghiên cứu các mô hình du lịch cộng đồng trên thê giới để tìm kiếm một mô hình phù hợp, đảm bảo phát huy tối đa tiềm năng du lịch ở Việt Nam
Hàng loạt khái niệm về du lịch cộng đồng đã được đề cập Tác giả Trần Thị Mai (2005) đã xây dựng nội dung cho khái niệm này như sau: “du lịch cộng đồng là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án.” Cùng có quan điểm nhấn mạnh vai trò của phương thức phát triển du lịch cộng đồng trong công tác bảo tồn môi trường tự nhiên và nhân văn, tác giả Võ Quế (2006) đã nhìn nhận: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển
du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời
Trang 26cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên.” Bên cạnh nội dung xem xét phát triển du lịch cộng đồng là phương thức góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn, tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn đề cập đến việc tham gia của cộng đồng địa phương, với cách nhìn về du lịch cộng đồng: “du lịch cộng đồng có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động
du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của
du khách.”
Những năm 1980 những du khách đầu tiên đến từ khối Đông Âu cũ Vào đầu những năm 1990 thị trường du lịch đón thêm các khách phương Tây và dần đến khách nội địa Hòa Bình (Bản Lác – Lai Châu) là những nơi đầu tiên ở Bắc Bộ họa động du lịch cộng đồng Ở miền Nam, đảo Thoi Sơn ở Tiền Giang và Vĩnh Long đã đón tiếp khách du lịch của Đông Âu ngay từ năm 1985 Cuối những năm 1990, theo dòng phát triển của khách quốc tế từ Tây Âu và Bắc Mỹ Du lịch cộng đồng được khởi xướng ở miền Bắc tại Sapa, một điểm du lịch hội tụ nhiều dân tộc ít người với những đặc sản về văn hóa Sau đó loại hình du lịch này dần lan đến các vùng miền Trung, Huế, Hội An và các tỉnh miền Tây, là khu vực có nhiều đặc sản văn hóa, là nguồn tài nguyên để phát triển du lịch cộng đồng Trong nhiều nghiên cứu của các tác giả đi trước thì khái niệm du lịch cộng đồng nhiều khi được hiểu là du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm bởi sự bao hàm và kết hợp các tài nguyên du lịch trong hoạt động du lịch cộng đồng Tuy nhiên để nói về du lịch cộng đồng ở Việt Nam có lẽ cần có những kiểm nghiệm lí luận sâu sắc dựa trên tổng kết và đánh giá thực tiễn đầy đủ hơn
Với sự đa dạng về văn hóa và những nét đẹp của thiên nhiên, khí hậu và sự
ổn định về môi trường chính trị Việt Nam đang là điểm đến được chú ý ở Đông
Trang 27Nam Á Lượt khách đến Việt Nam liên tục tăng Theo Báo cáo của Tổng cục Du lịch lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 7/2018 ước đạt 1.188.817 lượt, tăng 0,5% so với tháng 06/2018 và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2017 Tính chung 7 tháng năm 2018 ước đạt 9.080.347 lượt khách, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 20179
Hơn mười năm trở lại đây, loại hình du lịch Cộng đồng đã xuất hiện tại nhiều địa phương trong cả nước Với lợi thế về tự nhiên và sự đa dạng về văn hóa của các dân tộc bản địa, Sa Pa được xem như là một điển hình cho sự thành công của mô hình du lịch Cộng đồng tại Việt Nam Mặc dù phát triển sau so các địa phương khác, song việc khai thác du lịch homestay tại làng chài Cửa Vạn (Quảng Ninh) cũng đã mang lại một số thành công nhất định, góp phần nâng cao đời sống hàng ngày cho người dân tại đây Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến Thừa Thiên - Huế và Hội An Hai địa phương đang dành được nhiều sự quan tâm của du khách bởi vẻ dân dã của nó Chỉ trong một khoảng thời ngắn tại các homestay, du khách vừa có cơ hội thưởng ngoạn vẻ đẹp của di sản văn hóa thế giới, vừa có thể hiểu thêm về nếp ăn ở, sinh hoạt cũng như nét văn hóa của cư dân địa phương
Qua đó có thể thấy, du lịch Cộng đồng là một loại hình du lịch gắn với cộng đồng theo xu hướng tích cực khám phá, tìm hiểu văn hóa bản địa, cùng làm, cùng sống và trao đổi trực tiếp với người dân bản xứ Loại hình du lịch Cộng đồng
9 Báo cáo của Tổng cục Du lịch Việt Nam 6 tháng đầu năm 2018
Trang 28không chỉ có tác động tích cực đến sự phát triển chung của du lịch mà còn đang có tác động sâu sắc đến xã hội như: tăng cường giáo dục ý thức về bảo vệ môi trường, bảo tồn các di tích văn hóa, lịch sử của người dân bản địa và du khách; tạo ra sự giao lưu văn hóa, phong tục tập quán giữa các dân tộc và các quốc gia khác nhau; tăng cường các mối quan hệ trong cộng đồng người dân; sự gắn bó của chính quyền địa phương và người dân bản xứ; giáo dục ý thức về phong cách ứng xử trong cộng đồng người dân Đồng thời, loại hình du lịch này cũng có tác động đến kinh tế như: thu hút các nhà đầu tư vào du lịch và các lĩnh vực khác như: hệ thống giao thông, trường học, mở rộng và nâng cấp các làng nghề truyền thống, trùng tu các di tích lịch sử… tạo ra nguồn thu nhập cho người dân, tạo cơ hội việc làm cho nhiều hộ gia đình nghèo; góp phần vào chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương
Nhìn rộng hơn ở tầm kinh tế vĩ mô, loại hình du lịch cộng đồng cũng là cách thức tạo nên tính độc đáo trong bức tranh kinh tế du lịch của địa phương Hay nói cách khác, homestay hứa hẹn tạo nên diện mạo riêng để dần hình thành nên sản phẩm du lịch đặc thù Đồng thời khi xây dựng và triển khai loại hình du lịch homestay cũng là cách thức có tính khả thi và đem lại hiệu quả từ việc nhận thức homestay là một hình thái tích cực của du lịch cộng đồng
Trong những năm qua du lịch cộng đồng đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của kinh tế và xã hội của Việt Nam
Ở nước ta hiện nay các hình thức du lịch cộng đồng thường thấy như: du lịch homestay, tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ cùng người dân bản địa, tham quan các bản làng dân tộc, tìm hiểu lối sống, văn hoá của người dân bản địa, tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học,… diễn ra một số nơi như bản Lác - Mai Châu, Chiềng Yên - Sơn La, vườn quốc gia Cát Bà, Khu bảo tồn Cù Lao Chàm - Hội An, v.v Trong những năm gần đây, số du khách đến thăm các điểm du lịch tự nhiên, tìm hiểu cuộc sống của cộng đồng dân cư ở Việt Nam ngày càng tăng, nhưng vẫn thường mang tính tự phát, chưa được tổ chức bài bản và chưa đi vào thực chất Các hình thức hoạt động của loại hình du lịch này mới chỉ mang ý nghĩa tham quan, hưởng thụ môi trường, ít đạt được mục đích nâng cao nhận thức, giáo dục môi
Trang 29trường và cảm nhận nét đặc sắc, cái hay, cái đẹp trong văn hoá của cộng đồng bản địạ
Bên cạnh đó, một vài địa phương lại quan niệm phát triển Du lịch Cộng đồng gắn với phát triển kinh tế địa phương dựa trên lợi thế vùng miền, địa phương của mình Như ở Đồng Tháp, tận dụng cảnh quan nguyên sơ với những cánh đồng sen bạt ngàn tại huyện Tháp Mười để phát triển mô hình du lịch sinh thái gắn với sen: như chụp ảnh với đồng sen, tham gia thu hoạch chế biến sản phẩm từ sen, dệt lụa tơ sen, Hay như tại làng rau Trà Quế, Hội An, Quảng Nam lại cho du khách trải nghiệm nông nghiệp bằng cách tham gia trồng rau, làm đồng, thu hoạch sản phẩm nông nghiệp Qua đó tìm hiểu nếp sống, tập quán và du khách được trực tiếp tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế đặc thù của địa phương
Có thể thấy việc tận dụng các tài nguyên sẵn có trong phát triển du lịch cộng đồng là một lợi thế, hơn thế nữa nếu tận dụng tài nguyên về văn hóa, dạng tài nguyên bất tận được ví như “mỏ vàng lộ thiên” sẽ đảm bảo hơn nữa tính bền vững
về kinh tế và trong việc bảo tồn văn hóa
1.2.3 Thực tr ng phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa người Dao ở Phú Thọ
Ở Phú Thọ du lịch cộng đồng phát triển khá muộn, phải đến khi các mô hình
du lịch cộng đồng như ở Sa Pa phát triển và mô hình du lịch này được nhân rộng ở các địa phương khác ở miền Bắc thì Phú Thọ mới bắt đầu có sự hình thành các làng
du lịch cộng đồng Trong đó trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thì các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn là nơi phát triển sớm nhất, cùng với nét đặc sắc của văn hóa tộc người là người Dao, người Mường là sự hùng vĩ và nét đẹp của thiên nhiên – Vườn Quốc gia Xuân Sơn là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của loại hình du lịch này
Với những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội là một lợi thế cho
sự phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng ở tỉnh Phú Thọ Trong những năm gần đây với sự hỗ trợ của chính quyền trong quy hoạch phát triển
du lịch tại các điểm có tiềm năng về du lịch văn hóa, lễ hội, thiên nhiên và thắng cảnh Ngoài di tích lịch sử Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ còn có nhiều di tích lịch sử và
Trang 30các danh thắng đẹp: Đền Mẫu Âu Cơ, chùa Tam Giang, Ao Giời - Suối Tiên, đầm
Ao Châu và rất nhiều loại hình văn hóa phi vật thể độc đáo như hát Xoan, hát ghẹo, cùng các lễ hội: Hội Phết - Hiền Quan, hội bơi chải - Bạch Hạc, hội rước voi - Đào Xá…
Những điểm du lịch cộng đồng gắn với văn hóa người Dao đang được tập trung phát huy thế mạnh, được đầu tư bao gồm:
Vư n Quốc X â Sơ
Vườn Xuân Sơn nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, có hệ sinh thái phong phú với nhiều loài động, thực vật quý hiếm có giá trị trong nghiên cứu khoa học cũng như bảo tồn nguồn gien Thiên nhiên ở đây vẫn giữ được nguyên vẻ hoang sơ, hoang dã, khí hậu quanh năm mát mẻ là điểm đến lý tưởng của du khách
ưa khám phá, nghỉ dưỡng và tìm hiểu nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số Tại Xuân Sơn, các hộ gia đình kinh doanh du lịch cộng đồng chủ yếu là người Dao Được sự tư vấn của chính quyền địa phương và sự đầu tư về cơ sở vật chất là một trong những điều kiện để phát triển du lịch Hiện nay trên cơ sở phát huy và bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế ở Phú Thọ còn phát triển một loại hình du lịch là du lịch có trách nhiệm nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững
Ao Gi i - Suối Tiên
Ao Giời suối tiên Phú Thọ được mệnh danh là mảnh đất tiên cảnh của tỉnh Phú Thọ, tọa lạc trên Núi Nả thuộc xã Quân Khê - huyện Hạ Hoà, cách thành phố Việt Trì 80 km về phía Tây Bắc, cách Ao Châu 15 km Nơi đây hiện là một địa điểm du lịch hấp dẫn đối với nhiều du khách bởi nét đẹp tuyệt tác của thiên nhiên
Khu du lịc ước khoáng nóng Thanh Thuỷ
Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là một trong những khu du lịch
có nguồn suối khoáng nóng tự nhiên Đến với Thanh Thủy du khách sẽ được ngâm mình trong những bồn nước khoáng nóng tự nhiên từ trong lòng đất và tận hưởng những giây phút thư thái, hòa mình vào thiên nhiên trong lành Trên đỉnh núi có một ao nhỏ gọi là ao Tiên, nước luôn trong xanh và không bao giờ cạn Xung quanh núi Thắm là hàng trăm ngọn đồi thoai thoải nằm gần kề nhau, nhấp nhô như hình
Trang 31bát úp Núi Thắm hiện vừa là một thắng cảnh đẹp, vừa là một trung tâm kinh tế của
vùng trung du Phú Thọ
Hang L ng
Hang Lạng là hang lớn và dài nhất trong số hang động thạch nhũ ở Xuân Sơn, Thanh Sơn, Phú Thọ Ðến với vùng Xuân Sơn, du khách không thể không đến hang Lạng, một kỳ tích thiên nhiên làm say đắm bao lòng người Hang Lạng ăn sâu trong lòng núi Ten, có cửa vào hang nhìn thẳng ra cánh đồng Mường Lạng
Đầm Ao Châu
Đầm Ao Châu được coi là một Hạ Long ở trên đất Phú Thọ Đây là một tiềm năng du lịch hấp dẫn và có nhiều triển vọng của vùng đất tổ Vua Hùng Ao Châu có những điều kiện thuận lợi để phát triển khu du lịch sinh thái với các loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, bơi thuyền, câu cá, hay leo núi… đáp ứng được nhu cầu của
du khách trong và ngoài nước
Trên đây là một số các địa danh có thế mạnh có thể khai thác du lịch sinh thái kết hợp du lịch cộng đồng, tuy nhiên hiện nay các địa danh này được khai thác vẫn chưa tận dụng được tối đa tiềm năng vốn có, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, hoạt động kinh doanh du lịch còn mang tính tự phát, chưa có sự quản lí chặt chẽ và chủ yếu khai thác vẫn còn nhỏ lẻ chưa có sự kết hợp chặt chẽ Dựa vào những gì tác giả thực tế là đã điền dã trên các khu vực có người Dao sinh sống, thấy rằng hoạt động du lịch cộng đồng ở các bản người Da ở Phú Thọ còn rất hạn chế, những người kinh doanh chủ yếu là người dân địa phương, mang tính tự phát Do
đó thông qua những nghiên cứu của mình tác giả muốn đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm phát triển du lịch cộng đồng khai thác tối đa tiềm năng của tài nguyên văn hóa cũng như tự nhiên của những khu vực này
Mặc dù đã có định hướng cho hoạt động phát triển sản phẩm du lịch đặc thù theo từng địa phương nhằm góp phần nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm du lịch, tuy nhiên trong thực tế việc phát triển các sản phẩm du lịch tỉnh Phú Thọ còn gặp nhiều khó khăn hạn chế Các điểm du lịch cộng đồng còn thiếu tính đầu tư của Nhà nước, trong khi hoạt động người Dao ở các khu vực này chưa thấy được lợi ích
Trang 32từ kinh doanh du lịch, các sản phẩm du lịch đặc biệt thiếu tính đặc thù, tính khác biệt của sản phẩm (tính khác biệt, đặc thù của sản phẩm có thể là một trong những yếu tố cấu thành nên sản phẩm có những nét độc đáo riêng, cũng có thể là cách thức xây dựng, quản lý, khai thác sản phẩm có những nét độc đáo riêng biệt tạo sự thỏa mãn mong đợi của khách… cũng tạo nên yếu tố đặc thù của sản phẩm) do vậy sản phẩm du lịch cộng đồng Phú Thọ chưa có lợi thế cạnh tranh cao để có thể thu hút hấp dẫn khách du lịch hi xây dựng sản phẩm du lịch các nhà đầu tư cần nghiên cứu
kỹ tài nguyên du lịch của địa phương nhằm xác định được một cách cụ thể tính độc đáo, duy nhất, nguyên bản và tính đại diện của tài nguyên du lịch để lựa chọn xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù Chưa có sự khảo sát học tập kinh nghiệm xây dựng sản phẩm những điểm đến hoạt động du lịch hiệu quả để vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với điều kiện tự nhiên tài nguyên du lịch văn hóa – xã hội của địa phương cũng như thị hiếu, nhu cầu của thị trường khách du lịch để có được một sản phẩm du lịch đặc thù phát triển bền vững không trùng lặp, rập khuôn với sản phẩm khác sẽ tạo được sức thu hút, hấp dẫn khách du lịch Trong xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù đặc biệt là các sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch sinh thái cần đặt mục tiêu bảo tồn, gìn giữ phát huy tài nguyên du lịch xây dựng môi trường sinh thái môi trường du lịch có tính bền vững có trách nhiệm với môi trường và xã hội có sự tham gia tích cực của cộng đồng
Tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn: Đề xuất tập trung kinh phí đầu tư xây dựng thiết chế nhà văn hoá cộng đồng cùng với sân tổ chức sự kiện như: Mô hình nhà văn hoá cộng đồng xã Nghĩa An (Thị xã Nghĩa lộ, tỉnh Yên Bái), hỗ trợ các hộ dân các trang thiết bị phục vụ, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ, tuyên truyền thu hút khách
du lịch cho 3 - 5 hộ dân mỗi năm xây dựng mô hình hoạt động du lịch cộng đồng homestay, du lịch sinh thái trải nghiệm tại Vườn quốc gia Xuân Sơn phục vụ nhu cầu ăn, nghỉ, các dịch vụ ngâm chân, tắm lá thuốc người Dao, sinh hoạt cùng người dân, trải nghiệm một ngày làm nông dân… phục vụ khách du lịch Ngoài việc đầu
tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật du lịch của điểm đến; mô hình quản lý khai thác các tài nguyên thiên nhiên rừng, hang động, thác nước; môi trường du lịch xanh sạch
Trang 33đẹp… để tạo tính đặc thù của sản phẩm, nét đặc trưng khác biệt so với sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng các địa phương đề xuất tạo môi trường tài nguyên du lịch rừng nguyên sinh với cảnh quan đẹp, nghiên cứu trồng các loại hoa đặc trưng phù hợp với thổ nhưỡng nở theo mùa trong năm, xây dựng mô hình biểu tượng đặc trưng của Vườn Quốc gia tạo hình ảnh đẹp cho khách đến thăm quan và ghi hình lưu niệm là một kênh tuyên truyền quảng bá điểm đến để thu hút khách rất hữu hiệu; nghiên cứu xây dựng hệ thống cọn nước, cối giã gạo có quy mô tạo nét đặc thù riêng biệt của sản phẩm, những món ăn ẩm thực đặc sản địa phương như gà nhiều cựa, cá suối, vịt suối với cách chế biến đặc trưng vùng miền cũng tạo nên nét riêng biệt của sản phẩm sẽ có sức hấp dẫn thu hút khách du lịch
Trong xu thế hiện nay, du khách thường kết hợp nhiều loại hình du lịch trong một chuyến tham quan du lịch của họ Sẽ không có một đối tượng du khách nào thuần túy lựa chọn sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch sinh thái hay du lịch nghỉ dưỡng trong một kỳ nghỉ của mình Vì thế, đa dạng hóa loại hình sản phẩm du lịch của một điểm đến là hết sức cần thiết đáp ứng nhu cầu thị hiếu của thị trường khách
du lịch Mặt khác, du lịch hiện đại không đơn thuần chỉ đi tham quan, ngắm cảnh,
mà còn có các hoạt động bổ sung như mua sắm, thưởng thức đặc sản địa phương, trải nghiệm những điều mới lạ tại điểm đến Vì thế, nếu chỉ đơn thuần tạo thêm điểm đến cho du khách mà không làm mới nội dung hoạt động tại các điểm đến, có những sản phẩm mới, sản phẩm du lịch đặc thù có sức cạnh tranh với các dịch vụ bổ trợ phong phú nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách thì sẽ rất khó hấp dẫn
du khách, khó kéo dài thời gian lưu trú của họ và đặc biệt là khó lôi kéo thu hút du khách trở lại thêm những lần sau
Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù chính là việc xây dựng “thương hiệu điểm đến du lịch”, xây dựng được các sản phẩm du lịch đặc thù theo vùng miền sẽ tạo nên chuỗi du lịch hấp dẫn, không chỉ hạn chế được tình trạng nhàm chán về hoạt động du lịch mà còn tạo thành khu du lịch mạnh về điểm đến hấp dẫn, dịch vụ, cơ
sở hạ tầng hoàn thiện, từ đó giảm được giá tour và du khách có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn điểm đến tạo ấn tượng thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú của
Trang 34khách du lịch, tăng mức chi tiêu bình quân của khách tại điểm đến sẽ thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển Sự liên kết xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù cần nỗ lực chung và quyết tâm từ các nhà quản lý, chính quyền, người dân địa phương, đặc biệt sự vào cuộc tích cực của các doanh nghiệp du lịch có tiềm lực đầu tư là động lực phát triển du lịch mỗi địa phương và góp phần tích cực phát triển thương hiệu
du lịch Phú Thọ
1.2.4 Cơ sở thực tiễn trong việc đề xuất giải pháp
Đề cao vai trò của cộng đồng: cộng đồng người Dao ở các điểm du lịch phải được xây dựng trở thành chủ nhân của điểm du lịch đó Các doanh nghiệp muốn chào bán các sản phẩm du lịch ở vùng người Dao phải quan tâm chia sẻ lợi ích cho cộng đồng Lợi ích của người dân càng được đề cao, quan tâm thì điểm du lịch đó càng hấp dẫn, thu hút được đông du khách đến thăm Nguyên tắc này đòi hòi có sự quản lý của chính quyền địa phương bằng các chế tài yêu cầu các doanh nghiệp phải
chia lợi nhuận bình đẳng với người dân
Phát triển du lịch cộng đồng ở vùng người Dao phải theo định hướng phát triển du lịch bền vững Vấn đề này liên quan đến cả việc quy hoạch du lịch, chính sách phát triển du lịch, gắn vấn đề phát triển du lịch với bảo vệ môi trường Đặc biệt trong vấn đề phát huy giá trị văn hóa truyền thống để tạo ra các sản phẩm du lịch, các dịch vụ du lịch đòi hỏi phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc cụ thể như sau:
Các sản phẩm du lịch đều phải thấm đẫm các yếu tố văn hóa truyền thống của cộng đồng người Dao Nhờ các yếu tố văn hoá truyền thống này mới đảm bảo tính độc đáo và hấp dẫn, sức hút đối với du khách của điểm du lịch cộng đồng người Dao Với quan điểm bảo tồn và phát triển trong nghiên cứu văn hóa có thể xây dựng các chương trình du lịch thu hút khách, hướng khách du lịch đến các trải nghiệm thực tế Điều này sẽ thực sự thu hút khách du lịch, hướng khách du lịch tới việc khám phá các giá trị trong đời sống sinh hoạt của người Dao Tuy nhiên để đảm bảo tính bảo tồn với các di sản văn hóa, không bị pha tạp các yếu tố ngoại lai
Trang 35cần phải nắm rõ, chia các di sản văn hóa ra những hoạt động nào có thể cho khách tham dự và những hoạt động nào khách không được tham dự để tránh làm ảnh hưởng tới cộng đồng cư dân địa phương với vai trò là chủ thể văn hóa Khảo sát, thống kê các ngày lễ, ngày tết, các sinh hoạt cộng đồng của người Dao trong một năm để thông báo cho du khách, đồng thời quảng bá, giới thiệu cho du khách để du khách đến tham quan trong khung cảnh thật
Các điểm du lịch cộng đồng của người Dao ở Sapa chủ yếu nhằm mục đích bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy những giá trị truyền thống Bên cạnh đó thu hút khách du lịch nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương, tuy nhiên đều trong tình trạng quá tải
Như vậy, vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc người Dao với việc phát triển du lịch có mối quan hệ khăng khít với nhau:
Muốn phát triển du lịch theo hướng bền vững đòi hỏi cộng đồng người Dao ở các điểm du lịch phải bảo vệ được bản sắc văn hóa dân tộc Vì bản sắc văn hóa không chỉ là tài nguyên mà còn là tài sản sản xuất ra các sản phẩm du lịch Đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc thì điểm du lịch đó sẽ lụi tàn không còn sức hấp dẫn du khách Nhưng muốn giữ gìn phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi phải có
hệ thống chính sách đồng bộ, như chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của người dân, chính sách tôn vinh các nghệ nhân và các di sản văn hóa độc đáo, chính sách khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm du lịch phát triển, chính sách đào tạo trao truyền di sản văn hóa dân tộc qua các thế hệ (đặc biệt đưa việc thực hành vốn dân ca dân vũ, trò chơi trở thành môn học ngoại khoá ở các trường học)
Hiện nay ở Việt Nam, nhiều tỉnh thành đã áp dụng loại hình du lịch cộng đồng vào địa phương và bước đầu đã đạt được những thành công và có doanh thu
ổn định như: Lào Cai, Hà Giang, Hòa Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam
Du lịch phát triển tạo thêm thu nhập cho người dân, giúp cho người dân càng nhận thức rõ về vai trò của di sản văn hóa truyền thống với vấn đề sản xuất các sản
Trang 36phẩm du lịch, tạo thêm nguồn thu cho người dân có điều kiện để giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Tổng số vốn đầu tư giai đoạn 2006 - 2012 là 798,63 tỷ đồng Trong đó, nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ 198 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách địa phương 27,1 tỷ đồng, nguồn vốn xã hội hóa 573,53 tỷ đồng Tổng số vốn đầu tư cơ
sở hạ tầng du lịch giai đoạn 2006 - 2012 là 210 tỷ đồng Trong đó các khu du lịch
đã có dự án đầu tư của các doanh nghiệp gồm: Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy với Dự án khu du lịch sinh thái cao cấp bãi nổi La Phù (Công ty cổ phần Ao Vua), dự án xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng (Công ty TNHH Sông Thao), dự án khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy (Công ty cổ phần Tập đoàn Hà Đô)…Dự án của doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường đầu tư vào khu du lịch, dịch vụ Nam Đền Hùng và khu du lịch Vườn quốc gia Xuân Sơn (đã xây dựng
2 nhà sàn, đường vào hang và cải tạo hang Thổ Thần); Khu đô thị sinh thái - du lịch nghỉ dưỡng - thể thao Tam Nông tuy đã có dự án nhưng chủ đầu tư đang khó khăn Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến đầu tư du lịch được đẩy mạnh; đã kết nối với các tỉnh trong khu vực thực hiện các chương trình du lịch gắn với văn hóa, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng du khách.”
Trong Đề án phát triển du lịch cộng đồng Vườn quốc gia Xuân Sơn đến năm
2020, định hướng đến năm 2025 của sở Văn hóa thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ báo cáo ngày 1/8/2018 có ghi “Đề án phát triển du lịch cộng đồng Vườn quốc gia Xuân Sơn đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 được thực hiện tại xã Xuân Sơn và 2 xã vệ tinh Kim Thượng và Xuân Đài của huyện Tân Sơn Đề án sẽ tư vấn
hỗ trợ trang thiết bị xây dựng từ 3- 5 hộ dân/năm tham gia hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng đạt tiêu chuẩn theo quy định phục vụ khách du lịch; phấn đấu đến năm 2020 đón và phục vụ 50.000 lượt khách tham quan; 25.000 lượt khách lưu trú, trong đó khách quốc tế là 4.000 lượt; doanh thu du lịch dịch vụ đạt 15 tỷ đồng; giải quyết việc làm cho 2000 lao động; phấn đấu đến năm 2025 hình thành điểm đến du lịch sinh thái cộng đồng Vườn quốc gia Xuân Sơn đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật dịch
vụ với sản phẩm du lịch đặc trưng, chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ khách
Trang 37chuyên nghiệp tạo sức thu hút hấp dẫn khách du lịch, mang đến cho khách một sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi trường xã hội Được công nhận điểm du lịch quốc gia Thảo luận tại hội nghị, đa số các đại biểu cho rằng, để triển khai đề án đạt hiệu quả, cần đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể theo từng giai đoạn Trong
đó, phải tập trung xây dựng cơ sở vật chất, đường giao thông để thuận tiện đi lại cho người dân và du khách; tiếp tục khôi phục các giá trị, bản sắc văn hóa bản địa các dân tộc tại Vườn quốc gia Xuân Sơn phục vụ phát triển du lịch cộng đồng; bảo tồn, xây dựng và phát huy tài nguyên thiên nhiên rừng sinh thái, môi trường xanh sạch đẹp có tính hấp dẫn khách du lịch đến tham quan; đào tạo nguồn nhân lực du lịch phục vụ hoạt động du lịch cộng đồng… Dự kiến, tổng nguồn kinh phí thực hiện Đề
án là 60 tỷ đồng
Đề án phát triển du lịch cộng đồng Vườn quốc gia Xuân Sơn đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 sẽ gồm có 3 phần: Sự cần thiết và căn cứ xây dựng đề án; nội dung đề án phát triển du lịch cộng đồng Vườn quốc gia Xuân Sơn và công tác tổ chức thực hiện Riêng sự cần thiết, ngoài việc phân tích đặc điểm, đặc thù thì cần bổ xung thêm phần thuận lợi, khó khăn và thách thức khi triển khai Đề án Tính toán điều chỉnh phần mục tiêu, phạm vi cho phù hợp, trọng tâm là phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân ở khu vực Trong đó, cần cụ thể và chi tiết 5 nội dung: Xây dựng từng sản phẩm du lịch cộng đồng ở Xuân Sơn; xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ việc triển khai đề án; khôi phục các giá trị bản sắc dân tộc của đồng bào các dân tộc thiểu số; xây dựng môi trường vệ sinh và thu gom rác thải; nâng cao nhận thức, đào tạo nguồn nhân lực
Trang 38Chư ng : GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DAO Ở TỈNH PHÚ THỌ 2.1 Khái quát chung về người Dao ở tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam Phía bắc giáp tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Sơn La, phía nam giáp tỉnh Hòa Bình Phú Thọ là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Thành phố Việt Trì là trung tâm hành chính, kinh tế chính trị văn hoá giáo dục của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80 km và sân bay quốc tế Nội Bài 50 km về phía tây bắc Thành phố Việt Trì nằm đối diện với huyện
Ba Vì, Hà Nội qua sông Hồng
Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía tây và phía nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi Địa hình của tỉnh chủ yếu là đồi núi, những vùng đất bằng phẳng rải rác trong tỉnh Thành phố Việt Trì là điểm đầu của tam giác châu Bắc Bộ Vùng núi chiếm 79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; vùng trung du chiếm 14,35% diện tích; vùng đồng bằng chiếm 6,65% diện tích Ðiểm cao nhất có độ cao 1.200m so với mực nước biển, điểm thấp nhất cao 30m; độ cao trung bình là 250m
so với mực nước biển
Ở Phú Thọ, hai huyện Yên Lập và Thanh Sơn là nơi tập trung người Dao đông nhất trong đó chủ yếu là người Dao quần chẹt, và số ít trong đó là người Dao Tiền Cả hai huyện này vốn là vùng đất cổ, nhiều hiện vật khảo cổ bằng đá (rìu, bôn, cuốc, vòng, khuyên ) được phát hiện, thể hiện sự có mặt của con người từ thời
kỳ đầu Đồ đá mới Nằm trong bộ Văn Lang - trung tâm của người Việt thời kỳ dựng nước - vùng đất Thanh Sơn được người Việt khai phá và định cư từ rất sớm Nhiều
Trang 39hiện vật từ gốm thô đến gốm có hoa văn và men đẹp thời nhà Lý - Trần, có niên đại hàng trăm năm đã phát lộ Đặc biệt, nhiều nơi trên địa bàn huyện như: Tất Thắng, Sơn Hùng, Võ Miếu, Lương Nha đã phát hiện hàng chục chiếc trống đồng có niên đại từ hơn 200 năm đến trên 2.500 năm, chứng tỏ sự có mặt liên tục của các thế hệ người Việt trên vùng đất này
Là vùng tiếp giáp với Văn hóa Mường Hòa Bình, Văn hóa Thái Sơn La và Nghĩa Lộ nổi tiếng, đồng thời là một trong những chiếc cầu nối chuyển tiếp giữa hai nền Văn hóa Việt - Mường, nên Thanh Sơn có nhiều sắc thái văn hóa đặc trưng, đan xen và giao thoa rõ nét
2.1.2 iều kiện kinh tế – ã hội
Người Dao cũng giống như nhiều tộc người khác ở Việt Nam, hoạt động kinh tế chủ đạo của người Dao là nông nghiệp, ngành nông nghiệp trồng lúa nước của người Dao phát triển khá muộn, do tập quán du canh du cư, không cố định ở một nơi, mà trồng lúa nước đòi hỏi định cư lâu dài Ngoài ra người Dao còn trồng các loại hoa màu như khoai, sắn, bí, các loại rau củ, quả theo mùa vụ và chủ yếu trồng trên nương rẫy Người Dao có xu hướng khai thác các tiềm năng có sẵn của tự nhiện như núi rừng, sông, suối Người Dao Phú Thọ chủ yếu tập trung tại các huyện Yên Lập, Tân Sơn, Thanh Sơn là 3 huyện có điều kiện tự nhiên và xã hội tương đối tương đồng Trong đó đại bộ phận người Dao sống tại huyện Yên Lập, Thanh Sơn
Đặc điểm địa hình: Địa hình của huyện rất phức tạp, xen lẫn núi đá, đồi đất, nhiều khe suối chia cắt, bao quanh huyện là dãy núi đá vôi và đồi đất trẻ, huyện nằm trong thung lũng có chiều dài hơn 60 km, chiều rộng khoảng 8 km Độ cao trung bình 200m, nơi cao nhất là 900 m so với mực nước biển
Khí hậu: thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Nhiệt độ trung bình 22,50C; lượng mưa trung bình 1800 mm; độ ẩm trung bình 85%, thấp nhất 40% Thường xuất hiện mưa đá vào mùa hè, sương mù vào mùa đông
Đời sống kinh tế của người Dao ở Thanh Sơn và Yên Lập canh tác chủ yếu ở các ruộng nước thung lũng hay những doi đất nhỏ hẹp dưới chân các dãy núi, ven
Trang 40các đồi gò thấp với hệ thống mương phai rất đặc trưng Lúa nước là cây lương thực chính Đời sống kinh tế của người Dao ngày xưa cũng rất khó khăn, thấp kém bởi với phương tiện, công cụ sản xuất lạc hậu, lối làm ăn manh mún, tự túc tự cấp Bên cạnh làm lúa nước, người Dao còn làm nương rẫy để gieo lúa cạn và trồng các thứ hoa màu khác góp phần nâng cao đời sống kinh tế
Về vị trí định canh, định cư: người Dao ở Phú Thọ cư trú tập trung ở vùng thung lũng chân núi, nơi có độ cao không lớn
Về tính đặc thù trong sản xuất kinh tế: Người Dao sống định canh, định cư nên trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là canh tác lúa nước, sản xuất nhỏ theo kiểu tự túc, tự cấp; ngoài việc cấy lúa nước họ còn phát nương trồng lúa Sau năm
1999, dự án 135 hỗ trợ phát triển kinh tế cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn, đã tạo ra những bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của đồng bào nhờ đó mà mức sống và thu nhập của người dân được cải thiện Cơ chế thị trường đã tác động rất lớn đến tập quán canh tác và chăn nuôi của người Dao việc trao đổi, mua bán hàng hoá diễn ra phong phú và nhộn nhịp không khác gì các chợ miền xuôi; đây là điều kiện thuận lợi để người dân thoát dần ra khỏi tập quán canh tác cũ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào
Nghề thủ công truyền thống chủ yếu là nghề mộc, đan lát, dệt vải Trước đây, gia đình nào cũng có khung cửi, họ tự trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải; người phụ nữ làm ra những vuông vải cho mình, cho những người trong gia đình và làm của hồi môn đem đến nhà chồng Sự khéo léo thể hiện trang phục trở thành một trong những tiêu chuẩn về giá trị của người phụ nữ Mặc dù rất khéo léo nhưng nghề mộc chỉ dừng lại ở phạm vi tương trợ, giúp nhau dựng nhà, làm khung cửi, làm đuống, cối giã gạo hoặc phục vụ cho sản xuất vui chơi chứ không chuyên mộc, không làm hàng hoá; việc đóng các đồ gia dụng, làm gạch, xây nhà chỉ phổ biến trong thời gian gần đây Nghề làm giấy là nghề phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu
số, như Mông, Nùng, Sán Dìu… nghề làm giấy về cơ bản giống nhau mang chất liệu chủ yếu là rơm rạ, cỏ cây, được làm thủ công qua bàn tay của người dân Cũng như người nhiều dân tộc thiểu số khác với người Dao, nghệ nhân làm giấy còn có