1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác giá trị nghệ thuật hát trống quân dạ trạch với phát triển du lịch huyện khoái châu tỉnh hưng yên

99 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một thiếu nữ ngày xưa thách cưới thế này: “Cưới em chín hũ mật ong Mười cót xôi trắng mười nong xôi vò Cưới em một vạn trâu bò Hai vạn dê, lợn chín vò rượu tăm” Chàng trai đáp lại: “Nghè

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DU LỊCH - -

KHAI THÁC GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT HÁT TRỐNG QUÂN DẠ TRẠCH VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hướng dẫn khoa học: ThS Lê Tuyết Mai Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Phượng

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khai thác giá trị nghệ thuật hát trống quân Dạ Trạch với phát triển du lịch huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên” Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và rèn luyện tại Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ThS Lê Tuyết Mai là người

đã định hướng, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn nghệ sĩ dân gian Nguyễn Hữu Bổn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài khóa luận

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Sở Văn hóa Thể thao và Du Lịch tỉnh Hưng Yên và ủy ban nhân dân xã Dạ Trạch đã tạo điều kiện tôi trong quá trình khảo sát, tìm hiểu thực trạng bảo tồn nghệ thuật hát trống quân Dạ Trạch Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài khóa luận một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng trong đề tài vẫn có những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Phượng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN MỞ ĐẦU 1

Phần nội dung Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH HUYỆN KHOÁI CHÂU 5

1.1 Vùng đất và con người huyện Khoái Châu 5

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 5

1.1.2 Lịch sử 8

1.1.3 Con người 11

1.2 Những di sản văn hóa tiêu biểu 13

1.2.1 Di sản văn hóa vật thể 13

1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể 19

Tiểu kết chương 1 Chương 2: HÁT TRỐNG QUÂN DẠ TRẠCH VÀ GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN 27

2.1 Hát trống quân Dạ Trạch 27

2.1.1 Nguồn gốc, tên gọi và quá trình phát triển 27

2.1.2 Ca từ 32

21.3 Âm nhạc 34

2.1.4.Diễn xướng 42

Trang 4

2.2 Giá trị của di sản văn hóa hát trống quân Dạ Trạch 55

2.2.1.Đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân địa phương 55

2.2.2 Đối với du lịch huyện Khoái Châu 56

Tiểu kết chương 2 Chương 3: KHAI THÁC GIÁ TRỊ CỦA HÁT TRỐNG QUÂN DẠ TRẠCH PHỤC VỤ DU LỊCH HUYỆN KHOÁI CHÂU 63

3.1 Thực trạng việc khai thác giá trị của hát trống quân Dạ Trạch phục vụ du lịch huyện Khoái Châu 63

3.1.1 Công tác phục dựng và bảo tồn hát trống quân Dạ Trạch 63

3.1.2 Hoạt động của các câu lạc bộ hát trống quân Dạ Trạch 65

3.1.3 Hát trống quân Dạ Trạch trong hoạt động du lịch 70

3.2 Giải pháp khai thác giá trị của hát trống quân Dạ Trạch phục vụ du lịch huyện Khoái Châu 71

3.2.1 Bảo tồn di sản văn hóa hát trống quân Dạ Trạch 71

3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá cho di sản 73

3.2.3 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 75

Trang 5

3.2.4 Đưa hát trống quân Dạ Trạch vào hoạt động du lịch

huyện Khoái Châu 76

Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xưa kia cứ đến dịp Tết Trung Thu, vào những đêm trăng thanh gió mát của tháng 7, tháng 8 âm lịch các cuộc thi tài hát trống quân lại sôi nổi diễn ra ở khắp các làng quê vùng Đồng Bằng Bắc Bộ Đó là một nét sinh hoạt văn hóa vô cùng độc đáo nơi làng quê Bắc Bộ xưa, bên lũy tre làng những làn điệu trống quân ngân vang mượt mà, đằm thắm Hát trống quân Dạ Trạch là lối hát đối đáp giao duyên nam nữ, trong mỗi chặng hát một bên nam hát đối với một bên nữ Một thiếu nữ ngày xưa thách cưới thế này:

“Cưới em chín hũ mật ong Mười cót xôi trắng mười nong xôi vò

Cưới em một vạn trâu bò Hai vạn dê, lợn chín vò rượu tăm”

Chàng trai đáp lại:

“Nghèo thì bán núi bán sông Lấy tiền mà cưới chứ không chịu về

Anh đây có cái nhà tre

Đố làm bằng sậy dui mè bằng lau”

Hát trống quân Dạ Trạch là một di sản dân ca có từ lâu đời song do hoàn cảnh lịch sử đất nước qua các cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc mà loại hình này không có điều kiện phát triển

Trang 7

Trong những năm gần đây ngành du lịch Việt Nam đã và đang có những bước phát triển vượt bậc và từng bước vươn lên trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Có được những bước tiến đó là do chúng ta đã biết cách khai thác hợp lý và triệt để hơn các nguồn tài nguyên tự nhiên và nguồn tài nguyên nhân văn để tạo nên những sản phẩm độc đáo Sức hấp dẫn và độc đáo nhất của những sản phẩm này đó là các giá trị văn hóa truyền thống bởi lẽ trong xu thế hiện đại hóa ngày nay khi đời sống con người ngày càng đi lên thì những giá trị văn hóa truyền thống ngày càng có nguy cơ mai một Chính vì thế mà các du khách trong và ngoài nước khi đến với Việt Nam thì đều mong muốn được tìm đến những giá trị xưa, những nét giá trị đặc trưng của mỗi vùng miền như lễ hội,

ẩm thực, tôn giáo, lịch sử, phong tục tập quán hay các di sản nghệ thuật truyền thống… Nắm bắt được nhu cầu của du khách, ngành du lịch nước ta đã đưa vào bảo tồn và khai thác một số loại hình di sản dân ca như hát quan họ, hát xẩm, ca trù… đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Hát trống quân một di sản của cha ông ta vô cùng độc đáo nhưng còn ở dạng tiềm năng du lịch Đưa hát trống quân vào khai thác trong lĩnh vực du lịch đó và việc vô cùng thiết yếu nó không chỉ nhằm gìn giữ, bảo tồn và quảng bá về một di sản dân ca của dân tộc mà còn nhằm phát triển những giá trị kinh tế song hành Trên cơ sở nhận thức trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Khai thác giá trị nghệ thuật hát trống quân Dạ Trạch với phát triển du lịch huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên” để nghiên cứu nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào việc phát triển du lịch huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên

2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu

2.1 Mục đích

Trang 8

Nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu di sản hát trống quân Dạ Trạch để phục vụ du lịch Đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác giá trị của di sản phát triển du lịch huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên

- Hát trống quân Dạ Trạch và giá trị của di sản

- Đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp để khai thác giá trị nghệ thuật của hát trống quân Dạ Trạch phục vụ du lịch

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng cho bài viết này là phương pháp tổng hợp, bao gồm:

- Phương pháp khảo sát thực địa, nghiên cứu các tài liệu có liên quan từ nhiều nguồn khác nhau sau đó phân tích, so sánh và tổng hợp, đưa ra các

Trang 9

giải pháp nhằm khai thác giá trị nghệ thuật hát trống quân Dạ Trạch phục

vụ du lịch

- Phương pháp khảo sát điền dã để tiếp cận, quan sát, miêu tả, phỏng vấn

5 Bố cục đề tài

Bài khóa luận bao gồm: Mở đầu, Kết luận và ba chương:

Chương 1: Khái quát về tiềm năng du lịch huyện Khoái Châu

Chương 2: Hát trống quân Dạ Trạch và giá trị của di sản

Chương 3: Thực trạng và giải pháp khai thác giá trị độc đáo của hát trống quân phục vụ du lịch

Ngoài ra còn các phần: Tài liệu tham khảo và Phụ lục

Trang 10

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH HUYỆN KHOÁI CHÂU

1.1 Vùng đất và con người huyện Khoái Châu

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Khoái Châu nằm ở phía Tây của tỉnh Hưng Yên, phía Bắc giáp huyện Văn Giang và Yên Mỹ, phía Đông giáp huyện Ân Thi, phía Nam giáp huyện Kim Động, phía Tây giáp Hà Tây (nay là Hà Nội, được ngăn cách bởi con sông Hồng) Huyện Khoái Châu là một vùng đất cổ, được hình thành từ thời các vua Hùng dựng nước với nhà nước sơ khai đầu tiên là Văn Lang chia làm 15 bộ thì vùng đất này thuộc bộ Giao Chỉ Từ thuở các vua Hùng dựng nước, người Việt cổ đã đến nơi đây khai hoang mở đất, dẫn thủy nhập điền, lấn biển, ngăn sông tạo nên vùng đồng bằng đất đai màu mỡ Vùng đất này cùng với diễn trình phát triển của lịch sử nước ta đã qua nhiều lần thay đổi về địa danh và địa giới hành chính khác nhau như Khoái Lộ, Phủ Khoái…Ngày 1/9/1999 Huyện Khoái Châu chính thức tái thành lập gồm 25 đơn vị hành chính trong đó có 24 xã và 1 thị trấn Sở dĩ nơi đây có tên Khoái Châu là từ sau 3 lần đại phá quân Nguyên, tướng Nguyễn Khoái là một trong những người có công lớn trong cuộc kháng chiến nên được vua phong vùng đất rộng lớn lập làm thái ấp, từ đó có tên là phủ Khoái Châu hay Khoái Châu Lộ

Địa hình huyện Khoái Châu khá phức tạp, cao thấp xen kẽ nhau, vùng ngoài bãi có địa hình bán lòng chảo dốc, vùng trong đê có hướng dốc từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Trên địa bàn huyện có dòng sông Bần chảy xuôi từ Bần Yên Nhân qua Yên Mỹ, Khoái Châu sang Kim Động nằm tại các xã Bình

Trang 11

Minh, Dạ Trạch, Hàm Tử, Tứ Dân, Đông Kết Đây vốn là một khúc của sông Hồng trước kia, sau khi đổi dòng sang hướng Tây đã tạo thành

Nhìn chung địa hình của Khoái Châu đơn giản, thoáng đãng trong lành của cảnh quan đồng quê và cảnh quan tự nhiên, đặc biệt là cảnh quan bãi bồi sông Hồng mênh mông, phong cảnh độc đáo, trên đó có thể diễn ra các hoạt động du lịch Địa hình bằng phẳng là điều kiện thuận lợi trong việc đi lại, thăm quan của

du khách khi muốn đến tham quan nơi đây

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Khoái Châu có diện tích đất tự nhiên là 130,86 km2, với địa hình đặc trưng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ được bồi tích bởi phù sa sông Hồng nơi đây có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 với đặc trưng là nóng ẩm mưa nhiều Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường lạnh, đầu mùa khí hậu tương đối khô, nửa cuối ẩm ướt và có mưa phùn, nhiệt độ trung bình năm của Khoái Châu khoảng 23OC, cao nhất 38 – 39OC, thấp nhất không dưới 5OC Khoái Châu quanh năm có mặt trời, thời gian chiếu sáng dài, độ ẩm trung bình năm là 86% Khí hậu của huyện Khoái Châu so với đặc điểm của nhiều vùng trong cả nước là tương đối thuận lợi cho mọi hoạt động sản xuất kinh tế cũng như hoạt động du lịch, tham quan nghỉ dưỡng Điều kiện tự nhiên thuận lợi là yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển du lịch bởi với khí hậu nhiệt đới gió mùa có thể thu hút du khách đến tham quan hơn các vùng có khí hậu hàn đới hay nhiệt đới

Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện khí hậu huyện Khoái Châu nằm trên

bờ tả ngạn của sông Hồng, đây là hệ thống sông lớn nhất ở miền Bắc từ đó hàng năm có nguồn phù sa bồi đắp rất lớn đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh tế và dân sinh của huyện Từ độ sâu 50 – 110 m, huyện có nguồn nước ngầm khá tốt

Trang 12

Đây là điều kiện thuận lợi cho việc đảm bảo nhu cầu phát triển các ngành nghề kinh tế của huyện

Khoáng sản chính của huyện Khoái Châu chỉ có nguồn cát ven sông Hồng

và một số đất sét sản xuất gạch ngói có thể phát triển khai thác phục vụ nhu cầu xây dựng Theo các tài liệu thăm dò địa chất, tại vùng đồng bằng sông Hồng trong đó có Khoái Châu tồn tại trong lòng đất một mỏ than nâu rất lớn nằm trong lớp trầm tích Nioxen với trữ lượng dự báo hàng trăm tỷ tấn ở độ sâu 300 – 1.700m Hiện nay các nhà địa chất đã bắt đầu đi vào khai thác

1.1.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Trong những năm gần đây nền kinh tế huyện Khoái Châu đạt mức tăng trưởng khá với tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 8.2% Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng - thương mại, dịch vụ năm 2012 tương ứng là: 24.75% - 40.64% - 34.61% Thu nhập bình quân đầu người đạt 28.5 triệu đồng/năm Thu ngân sách năm 2012 đạt 95 tỷ 412 triệu đồng Tỷ lệ phát triển dân số 1.01% Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7.2%

Nét nổi bật là huyện tập trung phát triển nông nghiệp theo 3 vùng và sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế Năng suất lúa luôn đứng đầu tỉnh, bình quân đạt 13.45 tấn/ha/năm diện tích lúa chất lượng cao chiếm 25%; mở rộng diện tích cây ăn quả có múi (cam, bưởi, quýt …) đạt gần 400 ha; diện tích trồng màu 7.500 ha; diện tích trồng chuối tiêu hồng đạt trên 500 ha, doanh thu ước đạt 180 tỷ đồng/năm; diện tích trồng nhãn muộn trên 700 ha, ước thu 200 tỷ đồng/năm Kinh tế trang trại, chăn nuôi gia súc, gia cầm ổn định, đàn bò sữa có 548 con, cho sản lượng sữa và hiệu quả kinh tế cao

Trang 13

Tuy cơ cấu sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu, song toàn huyện hiện đã thu hút được 49 dự án gồm 36 dự án sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, 13 dự án thương mại, dịch vụ, trong đó đã có 36 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho 2000 lao động Bên cạnh đó, bằng các nguồn vốn khác nhau, nhiều công trình trên địa bàn đã được thi công, trong đó một số công trình đã đưa vào sử dụng

Không chỉ coi trọng phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế cũng được quan tâm đầu tư Từ năm 2010 đến nay, toàn huyện đã xây dựng thêm

5 trường đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số lên 29 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia Do có được môi trường học tập tốt, số học sinh giỏi, học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng

Với điều kiện kinh tế xã hội có mức tăng trưởng khá càng là điều kiện thúc đẩy phát triển du lịch củ huyện, với diện tích nông nghiệp và cây ăn quả nhiều

đó là điều kiện góp phần phục vụ cho du khách đến đây có thể thưởng thức những sản vật của quê hương Bên cạnh đó việc đẩy mạnh phát triển du lịch tại huyện cũng sẽ góp phần tăng cường các mối quan hệ trong sản xuất, đẩy mạnh kinh tế huyện đồng thời nâng cao mức sống của người dân

Trang 14

Vào thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang (2879 – 258 TCN) chia nước

ta thành 15 bộ Dựa vào ranh giới của 15 bộ đó thì huyện Khoái Châu thuộc bộ Giao Chỉ Theo tiến trình lịch sử của dân tộc ta trong thời kỳ Bắc thuộc trải hơn 1000 năm, ranh giới huyện Khoái Châu lúc thuộc về quận Giao chỉ ( Bắc Bộ), lúc thuộc về quận Cửu Chân (Thanh Hoá), nằm trong địa giới huyện Vũ Bình

Đến thời kỳ phong kiến độc lập, cùng với những thăng trầm lịch sử của đất nước qua các lần thay đổi triều đại huyện Khoái Châu cũng đã có nhiều thay đổi về địa giới hành chính với những tên gọi khách nhau Dưới thời nhà Ngô (939-968) Khoái Châu được gọi là Đằng Châu Vào thế kỷ XI-XI dưới thời nhà

Lý (1010 – 1225) vùng đất Khoái Châu thuộc huyện Đông Kết lộ Khoái

Thời nhà Trần gắn liền với vị danh tướng Nguyễn Khoái, là tướng chỉ huy quân Thánh Dực dưới thời vua Trần Nhân Tông (1278-1293) và từng dũng cảm lập công lớn trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc chống quân Nguyên xâm lược lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288) Sau khi thắng trận tháng 4-1289, vua Trần định công ban thưởng cho các tướng lĩnh, danh tướng Nguyễn Khoái được ban tước “Liệt Hầu” là tước chỉ giành cho hoàng tộc Ông còn được cấp đất một quận

ở Hồng Châu, vùng Khoái Lộ nay là huyện Khoái Châu (Hưng Yên) Địa danh trên là quê hương và tên của Nguyễn Khoái được ghép lại Có thể coi đó như một ngoại lệ hiếm hoi, bởi lúc bấy giờ, Nguyễn Khoái là một trong số rất ít người không thuộc hàng quý tộc được hưởng đặc ân này Địa danh Khoái Châu còn đến ngày nay để ghi nhớ vị tướng kiệt xuất họ Nguyễn đã có công lao góp phần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông, góp phần mang lại tự do cho dân tộc, độc lập cho Tổ quốc

Trang 15

Cuối thế kỷ XIX dưới cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của phong trào Cần Vương

do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nước ta Vào tháng 12/1890 Toàn quyền Piquet ký nghị định thành lập đạo Bãi Sậy, đây là một đợn vị hành chính mang tính chất quân quản

để đối phó với cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo có 4 huyện mới: Yên Mỹ, Mỹ Hào, Cẩm Lương, Văn Lâm Thủ phủ đạo đặt tại Yên Nhân (Mỹ Hào) đã cắt của huyện Đông Yên 3 tổng: Tử Dương, Khoá Nhu, Yên Phú cùng một số tổng của huyện Văn Giang (Phủ Thuận An), huyện Đường Hào (Phủ Thượng Hồng) Huyện Thiên Thi (Phủ Khoái Châu) để thành lập huyện Yên

Mỹ

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 chính phủ quyết định bỏ cấp phủ, vì vậy phủ Khoái Châu đổi thành huyện Khoái Châu Ngày 14/4/1946 Chính Phủ ra sắc lệnh số 63 bầu cử hội đồng nhân cấp tỉnh và xã cũng tiến hành hợp nhất 76 xã thành 22 xã lớn và sau lần điều chỉnh này điều chỉnh địa giới hành chính huyện Khoái Châu có 25 xã như hiện nay

Ngày 26/01/1968 UB Thường vụ Quốc hội ra nghị định số 504 – NQ/TVQH phê chuẩn hợp nhất 2 tỉnh Hưng Yên và Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hải Dương Huyện Khoái Châu cũng từ đó được sát nhập vào địa phận của tỉnh Hải Hưng

Tại kỳ họp 10 quốc hội Khoá IX, ngày 6/11/1996, Quốc hội phê duyệt tách Hải Hưng thành Hưng Yên và Hải Dương Ngày 1/1/1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập Huyện Châu Giang thuộc Hưng Yên

Trong suốt một cuộc hành trình gần hai thiên niên kỷ, người dân Khoái Châu đã luôn phát huy bản chất cần cù, sáng tạo, chung sức đồng lòng chế ngự

Trang 16

thiên nhiên, bám làng giữ đất, xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp Vào ngày 1/9/1999, thực hiện Nghị định số 60/CP ngày 24/7/1999 của Chính phủ về việc điều hành địa giới hành chính, huyện Khoái Châu chính thức được tái lập có

25 đơn vị hành chính trực thuộc (24 xã, 1 Thị trấn)

Có thể nói, Khoái Châu có lịch sử của một vùng đất anh hùng, giàu truyền thống Đó là lịch sử dựng nước và giữ nước, lúc vẻ vang, rực rỡ, lúc trận địa cùng cả nước đấu tranh với những thế lực xâm lược, bên cạnh đó mảnh đất này cũng là lưu truyền những giá trị văn hóa, âm thầm đóng góp sức mình làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc

1.1.3 Con người

Với địa hình khá bằng phẳng nằm trong hệ thống sông Hồng có nguồn nước phù xa bồi đắp quanh năm từ đó tạo cho nơi đây vị thế của một vùng "địa lợi, nhân hòa" Cư dân Việt cổ đã sớm đến đây khai sơn phá thạch, tạo dựng quê hương, phát triển nền sản xuất nông nghiệp lúa nước và chài lưới để sinh sống và phát triển Cũng từ đặc điểm này đã ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nơi đây trong suốt diễn trình của lịch sử Bên cạnh đó những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán cũng đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống nhân dân Nhưng dù hoàn cảnh nào, người dân Khoái Châu vẫn luôn phát huy được bản chất cần cù, sáng tạo, chung sức chung lòng chế ngự thiên nhiên, bám đất giữ làng, xây dựng quê hương Và không ngừng sáng tạo, giữ gìn bảo lưu các giá trị văn hoá truyền thống quê hương

Trang 17

Đặc biệt người dân nơi đây đã phát huy khả năng khéo léo của đôi bàn tay và trí tuệ của mình tạo nên nhiều nghề thủ công lâu đời, nổi tiếng nghề mây tre đan, đóng thuyền, đan giọ tôm, nghề mộc, nghề rèn, đúc đồng…Qua một số nghề tiêu biểu, chúng ta có thể nhận thấy nét văn hoá sông nước đặc trưng của vùng đất này

Mảnh đất Khoái Châu đã sản sinh ra những người con tuấn kiệt Người dân nơi đây từ lâu luôn tự hào về truyển thống lịch sử văn hóa gắn liền với Thánh Chử một trong bốn vị thánh tứ bất tử của người Việt (Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh) Chử Đồng Tử còn được coi là ông tổ của ngành ngoại thương Việt Nam, mang đến cho người dân sự phồn vinh hạnh phúc, và đó là lý

do mà được tôn thánh là một trong tứ bất tử Bên cạnh đó còn một truyền thuyết tình yêu bất tử và lãng mạn giữa Chử Đồng Tử với nàng công chúa Tiên Dung, con gái thứ hai của Hùng Vương thứ 18 Chử Đồng Tử - Tiên Dung, những con người không tham danh vọng, không màng phú quý vinh hoa, suốt đời chỉ tìm đến với những cái đẹp trong thiên nhiên, giúp người dân khai phá tạo dựng những bãi bồi phù sa dạy nhân dân biết trống lúa, ươm tơ, dệt vải và còn cả những làn điệu hát trống quân Dạ Trạch

Nơi đây còn là quê gốc Bà Hoàng Thị Loan thân mẫu Bác Hồ, là con gái cả của cụ Hoàng Xuân Đường ở làng Hoàng Trù (Nghệ An) Theo gia phả họ Hoàng ở đây, cụ tổ của dòng họ Hoàng ở Nghệ An là Hoàng Nghĩa Kiều người làng Vân Nội, xã Hồng Tiến, Hưng Yên, vốn là quan võ của nhà Lê (đời Lê Chiêu Tông) Bà là người công- dung- ngôn- hạnh vẹn toàn, người con vĩ đại, niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam Dòng họ Hoàng đã đi tứ phương lập nghiệp, nhưng dù miền xuôi hay miền ngược thì đời nối đời đều có những người

Trang 18

con ưu tú, có truyền thống hiếu học, có chí khí Hiện nay họ Hoàng tại thôn Vân Nội có khoảng 30 hộ, 100% các hộ có kinh tế khá, không có hộ đói nghèo Điều đáng quý là con cháu trong dòng họ đều có tinh thần ham học, hằng năm đều có người đỗ đạt, thành tài

Huyện Khoái Châu xưa cũng là đất học, chỉ tính từ năm 1075 đến 1919 Khoái Châu có 23 người đỗ đại khoa, tiêu biểu như: Nguyễn Kỳ quê ở xã Tân Dân đỗ trạng Nguyên khoa Tân Sửu Hiệu Quảng Hòa 1 năm 1541 Khoái Châu xưa cũng là đất học Toàn huyện có 21 nhà khoa bảng Ngày nay truyền thống hiếu học của cha ông xưa vẫn được lớp lớp con cháu hôm nay giữ gìn và phát huy nhiều người con của Khoái Châu đã trở thành kỹ sư, bác sỹ, nhiều người là nhà khao học, nhà báo, nhà văn, là sỹ quan cao cấp trong quân đội…

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Đảng bộ và nhân dân huyện Khoái Châu đã góp sức người, sức của cho tiền tuyến, hàng vạn thanh niên lên đường tòng quân cứu nước, hàng ngàn người con của Khoái Châu đã anh dũng hy sinh để bảo vệ tổ quốc

Truyền thống yêu nước, sự cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất là nét nổi bật nhất và cũng là giá trị tinh thần vô giá của nhân dân huyện Khoái Châu trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Truyền thống quý báu đó được gìn giữ, kế tục và phát huy từ đời này sang đời khác

1.2 Những di sản văn hóa tiêu biểu

1.2.1 Di sản văn hóa vật thể

Trang 19

Khoái Châu là huyện có nhiều di tích lịch sử - văn hoá của tỉnh Hưng Yên Toàn huyện có 33 di tích lịch sử được xếp hạng, trong đó có 24 di tích cấp quốc gia, 9 di tích cấp tỉnh Những di sản văn hóa vật thể của huyện đó chính là yếu tố tiên quyết cho việc phát triển du lịch di sản về với huyện.Trong đó có cụm di tích Đền Dạ Trạch - Đền Đa Hòa đang là một trong những điểm du trọng điểm của huyện

1.2.1.1 Di tích đền Đa Hoà

Đã từ lâu thiên tình sử đẹp nhất trong văn học dân gian về Chử Đồng Tử - Tiên Dung đã không còn xa lạ trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, chính dòng sông bến nước nơi đây đac lưu truyền về mối tình mãnh liệt, linh

Trang 20

- Khu ngoài: Có diện tích rộng 7200m2 có hệ thống tường bao quanh chắc chắn Phía ngoài cùng sát bờ kè đá với sông Hồng là nhà Bia Đây là ngôi nhà lầu tứ giác, có bốn cửa lớn thông ra bốn hướng, lầu cao hai tầng 8 mái tương ứng với tám quẻ trong bát quái Ở cửa phía tây có đề ba chữ đại tự là “Trấn giang lâu” do chính tay tiến sĩ Chu Mạnh Trinh viết Trong nhà lầu có đặt tấm bia đá lớn: “Trùng tu Đa Hoà chính từ bi ký”, ghi lại tóm tắt sự tích về Chử Đồng Tử

và Tiên Dung

- Khu giữa: có diện tích rộng 4.300m2 với cổng đền lớn Từ nhà Bia, giữa hai hàng cây gạo là con đường lát gạch rộng 6m dẫn tới cổng chính vào khuôn viên đền Tại đây có hai cây cột trụ vút cao trên đỉnh là hai con lân chầu hai bên quay mặt vào lối đi Trên cột trụ có hai câu đối:

“Phượng giá hồng sơn kim đỉnh đan thành phong vũ dạ Hạc quy hoa liễu ngọc tuyết linh bí thuỷ vân gia”

- Khu trong: đền có nhà Ngọ môn cao to và rộng ba gian với ba cửa chính Cửa chính của đền chỉ mở trong những ngày lễ hội chính Ở trên cao giữa cổng Ngọ môn treo bức đại tự sơn son thếp vàng “Bồng lai cung khuyết” Phía bên trong là cung điện thờ đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân Toàn bộ cung điện gồm 18 nóc nhà liên hoàn tượng trưng cho 18 đời vua Hùng Vương Cũng

có giả thuyết cho rằng đây là kiến trúc đặc biệt nhằm tái hiện hoạt cảnh đoàn thuyền của công chúa Tiên Dung đang giăng buồm du ngoạn trên bến sông thuở nào

Trong đền còn có phối thờ, ngai vàng và ảnh của tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, bên cạnh có cây đàn thập lục, biểu trưng về một con người hào hoa, tài tử, phong lưu, gồm cả cầm, kỳ, thi, họa Trong đền chính Đa Hoà còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ quí hiếm như: Hai chiếc lọ gốm thời Lý ( thế kỷ XI), vân hoa nổi có 100

Trang 21

chữ “thọ”; hai câu đối của Trần Ngô Lương và Trần Dư sống ở thế kỷ XIII đời nhà Trần cung tiến Ngoài ra các ngai đền thờ đều được chạm trổ điêu khắc rất công phu mang phong cách nghệ thuật của thế kỷ XVII – XVIII

Hàng năm cứ đến ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch, nhân dân địa phương lại

tổ chức lễ hội tưởng nhớ công lao của ba vị Năm 1962, Bộ văn hoá thể thao và

du lịch ra quyết định xếp hạng khu di tích đền Đa Hoà và đền hoá Dạ Trạch là di tích lịch sử văn hoá quốc gia

1.2.1.2 Đền Dạ Trạch

Nếu như đền Đa Hòa là minh chứng cho tình yêu thiêng liêng của Chử Đồng Tử và Tiên Dung thì đền Dạ Trạch lại là nơi lưu giữ những giá trị nhân văn cao đẹp nhất của Đức thánh và nhị vị phu nhân

Đền Dạ Trạch hay còn gọi là đền Hóa thuộc thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, Hưng Yên Đền được gắn liền với truyền thuyết “Nhất Dạ Trạch”.Tương truyền, tại vị trí Chử Đồng Tử và hai người vợ là công chúa Tiên Dung và Hồng Vân “hóa” về trời vào đêm 17/11 âm lịch, đã sụt xuống thành một đầm lớn, đầm Dạ Trạch (đầm được hình thành chỉ sau một đêm) Cho là thần linh ứng, người dân địa phương đã lập đền thờ 3 vị trong khu vực đầm Dạ Trạch

và đặt tên là đền Dạ Trạch hay còn gọi là đền Hóa Đền Dạ Trạch đã được trùng

tu nhiều lần, tuy nhiên, kiến trúc hiện nay là kết quả lần trùng tu vào năm 1890 với kiểu chữ Công (工), mặt hướng chính đông, ra hồ bán nguyệt, mái khắc nhiều hình long, phượng rất đẹp, gồm ba gian Từ ngoài vào, bên phải, đầu tiên

là ban thờ thổ công miếu đình, tượng quan võ, rồi đến ban thờ các vị thân sinh của Đức thánh Chử Đồng Tử; bên trái là ban thờ Bế ngư thuyền quan (tượng một con cá chép bằng gỗ sơn son thếp vàng óng ánh), kế đến là ban thờ Triệu Việt Vương (548 - 571) Ở chính giữa hậu cung là 3 khám thờ: Đức Thánh Chử Đồng

Trang 22

Tử (ở giữa), Hoàng hậu Tiên Dung công chúa (bên trái), thứ phi Hồng Vân (bên phải) Tại đây còn đặt tượng thờ hai con ngựa, một tượng đỏ, một tượng trắng Tương truyền, đó là hai con ngựa mà Đức Thánh Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân đã cưỡi để đi chữa bệnh cho dân

Ngoài kiến trúc chính, trong khu vực đền còn có lầu chuông, bên trong đặt một chuông Dạ Trạch từ chung (chuông đền Dạ Trạch) được đúc năm Thành Thái thứ 14 (1902), dài 1,5m, rộng 0,8m; hai dãy nhà chín gian, trước kia, đây là nơi để chín chiếc kiệu; hai bia đá dựng đối diện nhau (một bia đã vỡ), được dựng năm Gia Long thứ 17 (1819), cao 1,6m, rộng 0,8m, dày 0,17m; một hồ bán nguyệt; nhiều hoành phi, câu đối ghi lại sự tích Chử Đồng Tử - Tiên Dung - Tây Sa; đặc biệt là hình ảnh chiếc nón và cây gậy - hai vật mà Đức Thánh Chử Đồng

Tử đã dùng để cứu nhân độ thế.Một nét riêng của đền Dạ Trạch đó là sự xuất hiện của Ông Bế - Bế ngư thuyền quan - Đây là một biểu tượng tín ngưỡng thời

cá nguyên thủy của cư dân chinh phục đầm lầy Đền Dạ Trạch đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1989

1.2.1.3 Đền Hàm Tử

Đền Hàm Tử nằm ở phía đông nam thôn Hàm Tử (còn gọi là trang Hàm Tử) thuộc tổng Vĩnh Hưng huyện Đông An, phủ Khoái Châu, trấn sơn nam thượng xưa, nay thuộc xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Đền Hàm Tử thờ ba anh em họ Trần là Trần Phúc, Trần Nghiêm và Trần Quang, có công giúp vua Lý Thái Tổ đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc Căn cứ vào sử sách và truyền thuyết, sự tích được tóm tắt như sau: Dưới triều vua Lý Thái Tổ (1009 – 1027) ở trang Hàm Tử có một hào trưởng tên

là Trần Thuân, vợ là Lê Trân sinh được ba người con trai là Trần Phúc, Trần Nghiêm và Trần Quang, gia đình sống hoà thuận, được dân trong làng, ngoài xã

Trang 23

rất mực quý trọng Cha mất sớm, ba anh em Phúc, Nghiêm, Quang được mẹ nuôi dậy ngày một khôn lớn Thời gian này giặc chiêm thành thường xuyên quấy nhiễu các châu, quận phía nam nước ta Triều đình nhà Lý lập đồn luỹ ở khắp các châu, huyện và Hàm Tử được coi là một trong những đồn luỹ quan trọng trong tuyến phòng ngự của quân ta Tại đây, vua Lý đã ra yết chiêu mộ nhân tài

và ba anh em họ Trần đã có mặt Nhờ tài thao lược và dũng cảm ba anh em được vua giao làm tướng tiên phong chống kẻ thù, mở những cuộc thuỷ chiến trên sông Hồng làm cho giặc không kịp trở tay, hàng vạn tên bị tiêu diệt, những tên sống sót dẫm đạp lên nhau mà chạy Tin thắng trận vang rộng khắp mọi nơi Trong niềm vui chiến thắng, vua Lý đã triệu ba anh em họ Trần và quân lính về trang Hàm Tử mở tiệc ăn mừng Yến tiệc xong, vua xuống thuyền trở về kinh thành Thăng Long Thần tích viết: “Khi đất nước trở lại thanh bình, ba anh em

họ Trần ở lại trang Hàm Tử và qua đời tại đây” Nhà vua biết tin vô cùng tiếc thương đã cấp cho vàng bạc để nhân dân Hàm Tử xây dựng đền và phong thần cho ba vị: Vị thứ nhất là Đông hải uy mãnh, vị thứ hai là Hoàng hổ báo uyên bác, vị thứ ba là Phúc thần đại vương

Tiếp nối dòng sử vẻ vang của dân tộc, đến thế kỷ XIII, cũng tại bến Hàm

Tử này Quân dân Đại Việt dưới triều Trần đã đập tan ý đồ xâm lược của quân Nguyên - Mông lần thứ hai

Đền Hàm Tử xây dựng từ thời Lý (thế kỷ XI), sơ khai chỉ là một ngôi miếu nhỏ Trải qua các triều đại Trần, Lê, Nguyễn, đền được tu sửa và mở rộng thêm Đến nay, di tích vẫn giữ được vẻ cổ kính với đầy đủ các hạng mục công trình như: Tiền đế, hậu cung và hai dãy tả hữu vu Qua cổng tam quan là một khoảng sân rộng được những cây cổ thụ toả bóng mát quanh năm Tiếp đến là khu đền chính xây dựng theo kiểu chữ Đinh Toà tiền tế mái lợp ngói vẩy rồng, trên bờ

Trang 24

nóc trang trí một đôi rồng lớn theo kiểu “Lưỡng long chầu nguyệt” Liên kết bộ

vì toà tiền tế theo kiểu “chồng giường đấu sen” Các cấu kiện đều chạm khắc rất công phu theo những đề tài trong kiến trúc cổ truyền: Long quần tụ, tứ linh, tứ quý… Nối tiếp với ba gian trung tâm toà tiền tế là ba gian hậu cung Gian trung tâm hậu cung đặt ban thờ ba anh em họ Trần Tại đây đặt ba cỗ ngai vàng và bài

vị sơn son thếp vàng, chạm khắc kênh bong hoa cỏ một cách mềm mại Ngoài giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật, đền Hàm Tử còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và mỹ thuật như: Cuốn Thần Tích được biên soạn vào thời Lê, niên hiệu Vĩnh Hựu tam niên, ba cỗ ngai vàng và bài vị, một chuông đồng thời Nguyễn, một án thư và rất nhiều câu đối ca ngợi tài đức của ba anh em họ Trần Với ý nghĩa lịch sử - văn hoá và nghệ thuật trên, đền Hàm Tử được Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng di tích quốc gia ngày 21/1/1992

1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể

1.2.2.1 Các lễ hội truyền thống tiêu biểu

- Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung

Từ xa xưa người dân nơi đây vẫn lưu truyền truyền thuyết về Chử Đồng Tử

- Tiên Dung công chúa:Tại làng Chử Xá, xã Văn Đức trước kia thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, có một gia đình ngư dân nghèo, vợ chồng thành gia thất từ lâu nhưng chưa có con, đó là gia đình ông Chử Vi Vân và bà Bùi Thị Gia Một đêm bà Bùi Thị Gia nằm mộng thấy tiên ông từ thiên đình giáng thế cho bà một tiên đồng, bà giơ tay đón nhận rồi giật mình tỉnh dậy Từ đó bà thụ thai, đến ngày mãn nguyệt khai hoa, bà sinh

hạ được người con trai diện mạo khôi ngô tuấn tú khác thường, ông bà đặt tên là Chử Đồng Tử Từ thủa hàn vi Chử Đồng Tử đã gặp nhiều nỗi gian truân Năm Đồng Tử 13 tuổi thân mẫu lâm bệnh rồi qua đời, ít lâu sau nhà cửa bị hoả hoạn,

Trang 25

gia đình khánh kiệt đến nỗi chỉ có một cái khố, hai bố con thay nhau mặc mỗi khi ra khỏi nhà Được một thời gian phụ thân lại qua đời.Chàng thương cha, lại sẵn lòng hiếu thảo không lỡ chôn trần cho cha, chàng đã cởi khố mặc cho cha Chôn bố xong Đồng Tử đi tha hương cầu thực, ngày ngâm nửa người dưới nước

để kiếm cá và xin ăn các thuyền qua lại, dần dà xuống đến huyện Chu Diên( tức Khoái Châu bây giờ) Thời đó vua Duệ Vương – Hùng Vương thứ 18 không có con trai, chỉ có một nàng công chúa Tiên Dung xinh đẹp Vào một buổi sáng mùa xuân những đoàn thuyền rộng lộng lẫy cùng cờ quạt đi du ngoạn trên sông Nhị Hà, trên thuyền rồng là nàng công chúa Tiên Dung

Chử Đồng Tử sợ quá, vội chạy lên bãi cát Tự Nhiên thuộc Màn Chầu ẩn mình nào ngờ nơi Chử Đồng Tử ẩn mình là nơi Tiên Dung chọn làm nơi tắm gội

Có ai ngờ đó là cuộc gặp gỡ định mệnh Chử Đồng Tử định bỏ chạy nhưng Tiên Dung đã nắm lấy tay nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay gặp chàng, thânthể đều không có gì che đậy, thực là duyên trời đã định như vậy, chàng hãy cùng ta tắm gội, ban cho quần áo rồi xuống thuyền mở tiệc, kết duyên vợ chồng Vua cha nghe tin rất giận cho rằng, thiếu chi những người dòng dõi cao sang, hào hoa phong nhã mà lại lấy một kẻ ăn mày, bèn không cho công chúa về cung nữa Đồng Tử và Tiên Dung cũng sợ không dám ở đất Đa Hoà nữa mà đi chu du khắp nơi Chử Đồng Tử gặp được Tiên ông, Tiên ông đã dậy cho chàng rất nhiều phép thuật, sau một thời gian tu luyện Chử Đồng Tử đã trở thành tiên Chử Đồng

Tử lấy phép tiên truyền cho Tiên Dung rồi hai người đi chu du giúp đỡ dân nghèo Một hôm đến địa đầu Ông Đình thuộc địa phận Đông An bỗng gặp một người con gái khoảng 18, 19 tuổi, có sắc đẹp tuyệt trần Tiên Dung bảo Chử Đồng Tử: có phải người con gái đó chàng muốn lấy làm vợ bé chăng? Đồng Tử mỉm cười, Tiên Dung hiểu ý đến nói chuyện với người con gái đó chính là nàng tiên nữ Tây Cung, thấy tâm đầu ý hợp đã kết duyên vợ chồng với Chử Đồng Tử

Trang 26

Ba người cùng đi chu du thiên hạ chữa bệnh, cứu khổ cho dân nghèo sau đó ba người cùng bay về trời

Hàng năm, từ ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch, nhân dân trong tỉnh Hưng Yên và khách thập phương lại háo hức tiến về Đền Dạ Trạch (thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên) để tham dự lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một trong lễ hội lớn ở nước ta

Lễ hội Chử Đồng Tử được tổ chức tại hai ngôi đền: Đền ở thôn Đa Hòa và đền ở thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch với nhiều nghi lễ truyền thống, biểu thị những tín ngưỡng của văn hóa dân gian Cứ 3 năm, hai xã lại tổ chức lễ rước tổng, 9 xã rước bộ về đến Đa Hòa, 8 xã khác tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng về đến Dạ Trạch

Mở màn lễ hội là các làng thuộc tổng Mễ tổ chức đội hình rước kiệu thánh

từ đình làng về đền Đa Hoà Đi đầu đoàn rước là con rồng dài trên 20 mét được

ba chục thanh niên khoẻ mạnh thay nhau múa theo điệu trống thúc liên hồi khiến cuộc rước thật tưng bừng Tiếp theo sau là hai hàng các bà, các chị, các cô trang phục đủ sắc màu rực rỡ tay cầm cờ hội, chống chiêng, cùng ngựa hồng, ngựa bạch, gươm trường bát bửu, phường đồng văn, đội múa sinh tiền, đội múa nón, đội nhạc lễ Tiếp đến là nghi thức rước nước từ sông Hồng về lễ thánh Đám rước uy nghi, rồng vàng dẫn đầu; hội rước cờ, trống, phường bát âm, múa sinh tiền, kiệu long đình, kiệu choé nước, kiệu đặt nón gậy, kiệu “Bế ngư thần quan”,

ba kiệu rước Chử Đồng Tử, Tiên Dung công chúa, Tây Sa công chúa đi sau Sau khi lấy nước ở sông Hồng về, các kiệu trở về đền Hoá lễ thánh Đi đầu là hai bô lão cùng hai nam, hai nữ dâng nước vào đền Theo tục lệ, nước được dùng để cúng phải là nước lấy ở giữa sông Hồng Người đại diện cho dân làng lấy nước

Trang 27

là cụ già có đức độ trong làng Dâng nước là hình thức tâm linh cầu nguyện một năm mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt bội thu

Trong những ngày lễ hội, tại Đa Hoà và Dạ Trạch diễn ra nhiều hoạt động sinh hoạt văn nghệ và trò chơi dân gian, nổi tiếng là múa rồng, múa lân, múa sênh tiền, múa “ con đĩ đánh bồng”, hát chèo, hát trống quân…Những sinh hoạt văn hoá này càng tăng thêm sức hút của lễ hội Trong lễ hội có các trò chơi dân gian như đi cầu kiều, bịt mắt đập chum, chọi gà, chơi đu, đặc biệt là trò “cờ người”

Và cứ năm này qua năm khác, lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung đã trở thành tập tục lưu truyền qua nhiều đời và trở thành một nét đẹp truyền thống, mang đậm văn hóa và tín ngưỡng dân gian

- Lễ hội Đình Quan Xuyên

Làng Quan Xuyên nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, cách thành phố Hưng Yên hơn 20km, thuộc tổng Đại Quan, huyện Đông An, phủ Khoái Châu ( Ngày nay thuộc xã Thành Công, huyện Khoái Châu) Nơi đây, còn lưu giữ được một quần thể di tích lịch sử - văn hoá phong phú, gồm có Đình Quan Xuyên (thờ Ngũ vị đẳng thần); Miếu Thượng ( thờ Tam vị thượng đẳng thần Chử Đồng Tử

và nhị vị phu nhân); Miếu Trung ( thờ linh ứng đại vương Phạm Công Nghi); Miếu Hạ ( thờ thành hoàng làng đại vương Vũ Quang Chiếu); chùa Quan Xuyên; nhà sắc hay nhà Hội đồng; Văn chỉ Quan Xuyên và lăng mộ Vũ Quang Chiếu Tất cả những di tích trên đều có quan hệ mật thiết tới lễ hội làng Quan Xuyên, tạo thành một lễ hội hoàn chỉnh Theo thần tích, thần sắc tại đình Quan Xuyên thì cả “ Ngũ vị đẳng thần” đều có công lao rất lớn đối với dân, với nước Tam vị đức thánh tiên đại diện cho quá trình khai phá vùng đất hoang vu thành những làng mạc trù phú, có công cứu nhân độ thế, mở mang nghề buôn… Và đặc biệt là

Trang 28

lòng thuỷ chung son sắt trong gia đình, xã hội Do có công lao to lớn, đời vua Lê Trang Tông (1533 – 1548, niên hiệu Nguyên Hoà) đã sắc phong cho Đức Thánh Ông làm “Chử công Đồng Tử thượng đẳng đại vương chi thánh tôn thần”, cho Tiên Dung công chúa là “Tiên Dung công chúa thượng đẳng phù tiên tôn thần”

và cho Tây Sa công chúa làm “Nội giáp Tây cung công chúa huyền diệc tôn thần” Các đời vua về sau đều ban phong cho ba vị làm “Thượng đẳng thần” Do vậy, Quan Xuyên là một trong 72 làng ven sông Hồng thờ Chử Đồng Tử - Nhị vị phu nhân làm Đức Thành Hoàng Còn về Vũ Công chiếu và Phạm Quang Nghi

là bạn quan đồng liêu Tuy quê quán khác nhau nhưng cả hai đều là những công hầu khanh tướng, phụ giúp nhà Lê Hai ông kết nghĩa làm anh em Sau đó nhà Mạc chiếm ngôi, hai ông hiệp lực “phù Lê diệt Mạc” có nhiều công lao Khi mất, Phạm Công Nghi được truy phong làm Thái Bảo Nghi Công - Linh ứng đại vương, còn Vũ Quang Chiếu làm thái phó - Quang Chiếu đại vương Cả hai về sau được phong làm “Trung đẳng thần” Trước đây, lễ hội truyền thống đình Quan Xuyên được tổ chức từ ngày mồng 9 đến ngày 16 tháng 2 Âm lịch, nhưng sau này vào năm 1938 cụ Cao Văn Linh ( làm thông phán ở Hưng Yên) đã quy định lịch tổ chức lễ hội vào các năm “Thìn, Tuất, Sửu, Mùi” Lễ hội đình Quan Xuyên cũng mang những nét đặc trưng chung của lễ hội vùng đồng bằng Bắc

Bộ Lễ hội cũng gồm có hai phần quan trọng là Lễ và Hội Phần Lễ có nhiều lễ khác nhau như lễ “Khai quang tẩy uế”, lễ “yết cáo”, “dâng vàng hương”, lễ chay,

lễ mặn…Phần hội trở lên vui nhộn hơn, sôi động hơn bởi những đám rước như đám rước nước ở sông Hồng Đặc biệt, lễ hội còn diễn lại hai trò chơi tục “Hèm” (diễn lại sự tích liên quan đến vị thần thánh được thờ) của vị Thành hoàng làng

là Vật lầu và tục rước quân đèn Những cảnh giành giật, giằng co quyết liệt trên một sân rộng 75 vật thủ tham gia, ta sẽ hình dung ra cảnh lênh đênh sông nước của hai người bạn tâm giao đã từng trải qua… đám rước vừa uy nghi, vừa trang

Trang 29

nghiêm vừa vui tươi, lành mạnh của 51 quân đèn từ nhà sắc ra đình, cũng tái hiện cảnh đang đêm dân làng Quan Xuyên ra sông vớt ngai và tàn của Phạm Công Nghi về thờ tại miếu Trung Trò chơi này đã thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân các xã trong huyện, các huyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Hà Tây, Thái Bình, Hà Nam đến dự, đưa lễ hội đình Quan Xuyên vượt khỏi làng khỏi xã, huyện trở thành một lễ hội đặc thù của Hưng Yên nói riêng và của cả vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nói chung

1.2.2.2 Văn hóa ẩm thực

- Chả gà Tiểu Quan

Làng Tiểu Quan thuộc xã Phùng Hưng, huyện Khoái Châu từ lâu đã lưu truyền một món ăn lạ, độc đáo, hấp dẫn đó là món chả gà Cách làm chả gà rất công phu, lấy thịt nạc, bỏ hết gân, xương rồi chặt nhỏ cho vào cối giã, khi gần được trộn với lòng đỏ trứng gà, nước mắm ngon, hạt tiêu, gừng, mỡ lợn thái hạt lựu rồi giã tiếp, giã xong lấy mo cau xúc và phết thịt lên phên tre để nướng, việc phết thịt cũng không phải dễ dàng, nếu mỏng quá thịt cháy và chảy sệ xuống lò, nếu dày quá thịt không chín đều, nướng chả phải bằng than hoa, nếu là than nhãn thì càng tốt, đặc biệt nếu có quả thông khô cho vào thì càng đượm, càng thơm

Ăn chả gà đúng hơn là thưởng thức một món ăn độc đáo, không ăn bỗ bã như những thứ khác Vào dịp Tết trời se lạnh bạn hữu quây quần nâng chén rượu Trương Xá với chả gà, chiều xuân vào tối lúc nào không hay Đây là một món ăn

vô cùng độc đáo của người dân nơi đây và nó cũng góp phần làm tăng thêm nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của huyện Khoái Châu

- Bánh lá Tứ Dân

Bánh lá còn gọi là bánh răng bừa hay bánh tẻ, trong những ngày Tết nguyên đán, Tết Đoan ngọ, rằm tháng Bảy, các lễ tục, ngày giỗ … trong dịp lễ

Trang 30

hội làng rằm tháng 2 âm lịch, liên hoan trong nhà mỗi gia đình ở làng Mạn Xuyên không thể thiếu bánh lá Bên mâm cỗ đầy nhiều thức ăn ngon, có thêm đĩa bánh lá chưa bóc lá, bốc khói nóng sốt, dậy mùi thơm của hành mỡ Và sau khi cúng xong, hạ cỗ xuống ăn, vừa ăn vừa bóc lá, thật không gì thú vị hơn Bánh lá được người dân ở làng Mạn Xuyên, xã Tứ Dân thường gọi như vậy vì bánh gói bằng lá dong Bánh này còn gọi là bánh tẻ vì được làm từ gạo tẻ ngâm mục rồi xay Nhân bánh gồm thịt, hành khô, mộc nhĩ Bánh được gói trong lá dong rồi hấp hoặc luộc Để làm bánh lá Mạn Xuyên, bột cho vào nồi quấy chín 50% rồi lại cho vào máy đánh nhuyễn thêm cho mẻ bột vừa sánh, vừa dẻo lại dai tấm bánh Khâu làm bột này quyết định chất lượng bánh có ngon hay không Người ta bảo rằng cách pha chế và đánh bột được coi là bí quyết riêng của từng gia đình trong làng Nhân bánh từ hành khô phi thơm lừng, thả thịt ba chỉ băm nhỏ rồi nước mắm ngon, hạt tiêu, mộc nhĩ thái mịn đảo đều tay, khi thịt hơi săn, tỏa mùi thơm là được Gói bánh hay còn gọi là lấy bột cũng là khâu quan trọng, đòi hỏi phải khéo tay, bột phết đều, gọn trong lòng lá, nhân đặt chính giữa Bánh

Lá gói bằng lá dong trồng ở vườn, mềm, dai và có mầu xanh rất riêng Bánh gói xong rồi là bánh sống, muốn ăn phải nấu chín bằng cách đồ giống như đồ xôi hoặc luộc chín

- Gà Đông Tảo

Gà Đông Tảo hay gà Đông Cảo là một giống gà đặc hữu và quý hiếm của Việt Nam, không nơi nào trên thế giới có Đặc điểm nổi bật của loại gà này là cặp chân xấu xí, đôi chân to và thô, khi trưởng thành có thể nặng trên 4,5kg (gà trống) và trên 3,5 kg (gà mái) Đây là loài gà nuôi cổ truyền của xã Đông Tảo thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, người dân trước đây thường dùng để cúng tế hội hè, hay tiến Vua Gà Đông Tảo thuộc danh sách các

Trang 31

giống gia cầm quí hiếm của Việt Nam hiện đang được bảo tồn nguồn gen Gà thuộc giống gà to con, dáng hình bệ vệ, với thân hình to, da đỏ, đầu oai vệ, cặp chân vững chãi Gà Đông Tảo trống có hai mã lông cơ bản gồm mã mận (màu tím pha đen) và màu của trái mận

Tiểu kết chương 1

Vùng đất Khoái Châu như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và những di sản văn hóa tiêu biểu Qua đó có thể đánh giá sơ bộ về tiềm năng cũng như khảnăng phát triển du lịch của huyện Nơi đây có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

và tài nguyên thiên nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch Là nơi có lịch

sử hình thành lâu đời gắn liền với quá trình phát triển của đất nước đã hum đúc cho người dân nơi đây những đức tính đáng quý Người dân nơi đây luôn đề cao truyền thống yêu nước, hiếu học Đây là vùng đồng bằng tiêu biểu của vùng Bắc

Bộ hơn thế nữa còn có thương cảng trên bên dưới thuyền vào ra tấp nập, với cảnh quan sinh thái hấp dẫn của vùng ven đê, không khí trong lành và còn có những làng vườn, trang trại rộng rất thuận lợi để phát triển du lịch Nơi đây có nhiều di tích lịch sử văn hóa gắn liền với các truyền thuyết linh thiêng rất phù hợp để xây dựng thành một điểm du lịch văn hóa lịch sử hấp dẫn.Truyền thuyết lịch sử và lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung công chúa gắn liền với đó là đền Đa Hòa và đền hóa Dạ Trạch tạo thành một cụm di sản văn hóa tiêu biểu của huyện Khoái Châu nói riêng và tỉnh Hưng Yên nói chung Có thể nói tất cả những yếu

tố nêu trên đã góp phần tạo nên nét đặc trưng cho nghệ thuật hát trống quân Dạ Trạch Huyện Khoái Châu còn là vùng đất có nét ẩm thực rất riêng, điều này cũng góp phần làm tăng sức thu hút du khách khi đến tham quan

Trang 32

Chương 2 HÁT TRỐNG QUÂN DẠ TRẠCH VÀ GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN

2.1 Hát trống quân Dạ Trạch

2.1.1.Nguồn gốc, tên gọi và quá trình phát triển

2.1.1.1 Nguồn gốc và tên gọi

Hát Trống Quân là hình thức sinh hoạt ca hát giao duyênrất phổ biến ở các tỉnh đồng bằng và trung du của Việt Nam, kể từ Thanh Hóa trở ra Hát trống quân đã hình thành và phát triển từ lâu đời trong đời sống cư dân đồng bằng Bắc

Bộ nhưng vẫn chưa có một công trình khoa học nào khẳng định được hát trống quân có từ bao giờ Người dân vùng Dạ Trạch đều cho rằng hát trống quân Dạ Trạch nơi đây do Chử Đồng Tử - Tiên Dung truyền dạy cho trong quá trình sinh sống tại đây.Đó là từ khi Chử Đồng Tử cùng Công chúa Tiên Dung nên duyên

vợ chồng đã cùng nhân dân Dạ Trạch cải tạo cả vùng lau sậy bạt ngàn và những bãi cát hoang sơ thành làng quê trù phú Bên cạnh đó Công chúa Tiên Dung còn dạy dân cách trồng lúa, ươm tơ, dệt vải và đặc biệt còn dạy cả điệu hát trống quân Sau này khi tướng Triệu Quang Phục khi đánh thắng Trần Bá Tiên đã cho binh sĩ của mình ăn mừng bằng cách hát và gõ nhịp ngay trên thuyền, trong những bụi lau sậy tại vùng đầm lầy Dạ Trạch Điều đó có nghĩa là hát trống quân

Dạ Trạch có từ thời Hùng Vương

Hát trống quân đã hình thành từ lâu đời và rất phổ ở vùng Đồng bằng Bắc

Bộ, để rõ hơn về nguồn gốc và sự hình thành của Hát trống quân Dạ Trạch cần tìm hiểu về nguồn gốc hình thành của hát trống quân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ

Trang 33

Một số nhà nghiên cứu đã giải thích về nguồn gốc và tên gọi của hát trống quân như sau:

Theo G.Cordler: “tên gọi hát trống quân ra đời từ câu chuyện về một ông quan khi dời tỉnh đi làm việc ở nơi khác, được bạn bè đưa tiễn một quãng đường Lúc chia tay họ đặt trống xuống mà cùng nhau hát tiễn Trong lời hát tiễn có câu:“Tống quân nam phó thương như chi hà” có thể hiểu là“Khi tiễn bạn về phương nam Lòng đau đớn thế nào ai rõ được” [16, tr.15] Lối hát tiễn bạn của

giới nhà quan sau lan ra dân gian và đọc chệch tống quân thành trống quân Theo giả thuyết của Phạm Duy: “Hát Trống quân có nguồn gốc từ lối hát

“trung quân”, một điệu hát của quân lính đi theo nhịp trống Mà quân đây là quân được tuyển chọn ở Nghệ Tĩnh của đạo binh Nguyễn Huệ kéo ra bắc đánh giặc Thanh xâm lăng, cõng nhau rong ruổi ngày đêm không nghỉ.” Trống quân là đọc trệch từ trung quân Trung quân là điệu hát giải trí của đội trung quân Sau chiến tranh, nhân dân đem lối hát này vào những buổi hội hè gọi là “Hát Trống quân”

Theo nhà nghiên cứu Phan Kế Bính hát trống quân ra đời từ thế kỷ 18 và tên gọi cũng được hình thành do cách gõ vào trống làm nhịp để hát.(3 trang 23)

Tác giả Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng: “loại hát này phát xuất từ những điều kiện lịch sử gần giống như hai thuyết vừa kể, chỉ khác về mặt thời gian, là Trống quân có từ đời Trần lúc chống giặc Nguyên xâm lược (thế kỷ thứ 13) Tục truyền rằng: những lúc đóng quân để nghỉ ngơi, muốn giải trí, binh sĩ Việt Nam ngồi thành hai hàng đối diện nhau, gõ vào tang trống mà hát Cứ một bên "hát xướng" vừa dứt thì bên kia lại "hát đối" Sau khi đuổi được quân xâm lăng khỏi

bờ cõi, hòa bình được lập lại, điệu hát Trống quân được phổ biến trong dân

Trang 34

gian Có nơi gõ nhịp vào tang trống, có nơi căng một dây thép thật thẳng để đánh nhịp [15, tr.581]

Như vậy, hầu hết các giả thuyết của các nhà nghiên cứu đều dựa vào từ trống (nhạc cụ) và từ quân (binh lính) để giải thích cho tên gọi củalối hát giao duyên, song cũng còn những cách giải thích khác:

Nhà sử học Lê Kim Thuyên cho rằng: “Tên gọi trống quân bắt nguồn từ việc sử dụng trống đệm cho hát Chữ trống ở đây là âm Nôm Chữ quân thì có nghĩa là bình quân Trống quân có nghĩa là lấy tiếng trống để giữ nhịp bình quân cho hát.” [18, tr 45]

Tác giả Phạm Minh Hương khi nghiên cứu về trống quân Đức Bác đã đưa

ra cách lý giải của chính tác giả: “Về tên gọi của hát trống quân dựa trên những suy đoán về sự từng có mặt của nhạc khí trống cơm trong hình thức ca hát này,

đó phải chăng trống quân là cách đọc chệch từ trống cơm” [18, tr.45]

Có thể thấy rằng về nguồn gốc, tên gọi của hát trống quân đã có nhiều nhận định khác nhau song dù điệu hát trống quân có từ bao giờ và tại sao lại có tên gọi như vậy thì vẫn là di sản dân ca của người dân đồng bằng Bắc Bộ, tồn tại và hiện hữu trong đời sống tinh thần của người dân Dạ Trạch - huyện Khoái Châu

2.1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển hát trống quân

Hát trống quân Dạ Trạch có những nét đặc sắc riêng vốn có song để nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của loại hình này cần đặt nó trong bối cảnh ủa xã hội xưa và trong quá trình hình thành, phát triển của loại hình hát trống quân vùng đồng bằng Bắc Bộ

Loại hình hát trống quân hình thành từ lâu đời nhưng quá trình hình thành

và phát triển của hát trống quân đến triều nhà Lý thế kỷ XVII mới có ghi chép

Trang 35

lại Sử chép: “ Từ mấy tháng trước, Chúa (Tinh Đô Vương) phát gấm trong cung để làm hàng nghìn đèn lồng rất tinh xảo Đến ngày, Chúa ngự ra chơi ở ao Long Trì rộng hàng nửa dậm, trồng hoa sen hoa súng.Ven ao, đắp đất chống đá làm núi cao thấp theo hình thế, có chỗ khuỷu cho nhạc công ngồi đàn sáo Bờ ao trồng hàng trăm cây phù dung, trên treo đèn Sáng trăng dập dờn trông xa tựa hàng vạn ngôi sao lấp lánh Các quan nội thị từ tam phẩm trở lên chít khăn mặc

áo như đàn bà, bày hàng ở ria đường, bán đử các đồ hoa quả chả rượu.Cung nhân qua lại lũ lượt, vừa mua vừa cướp không cần hỏi giá, đua nhau đem những câu hát quê ra đối đáp với nhau,cười đùa vang cả trong ngoài.” [7, tr19-20] Tư

liệu trên đã cho biết những câu hát quê đối đáp được hình thành từ đây và thời gian ở đây vào những đêm trăng sáng đã định hình cho sự tồn tại của loại hình

âm nhạc dân gian này

Khoảng thế kỷ XIX, đất nước ta bị thực dân Pháp đô hộ có mấy học giả phương Tây sang tìm hiểu về văn hóa cổ truyền ở nước ta, có một số tài liệu có

đề cập đến loại hát đối đáp giao duyên dân dã phổ biến trên xứ Bắc nhưng còn rất sơ sài.Như G.Knosp đã miêu tả: “Trống đất là một đoạn hóp (hoặc thanh tre)dài 4-5 métđặt ngang trên chạc hai đầu cọc tre khoảng 1 mét, một đầu cọc đóng chắc xuống đất, dưới đất đào một hố vuông mỗi cạnh chừng 40 phân mét, lấy ván mỏng làm nắp đậy ghịt lại làm thành thùng vang (caisse résonnance), lấy dây mây (dây móc hay lạt tre) buộc vít từ giữa thanh hóp kéo xuống giữa nắp hố đất.” Đây là những miêu tả về cách dựng nhạc cụ trống quân trong các cuộc hát đối đáp xưa Sau đó A.Schaeffner cũng đã miêu tả trống đất là hố đất che nắp, có que chống thay ngựa, đội lên quãng giữa dây mây (dây tre) vít chặt hai đầu” [18, tr.15]

Trang 36

Đến năm 1934, Nguyễn Văn Huyên du học tại Pháp, qua luận văn tiến sĩ viết về “Những khúc hát đối đáp giữa trai gái ở nước Nam đã nói về các mặt dân tộc và phong tục của hát trống quân” cũng đã việt về hát trống quân như sau:“ Vùng Bắc Ninh những 30, 40 dùng vỏ thùng dầu hỏa (bằng sắt dát mỏng gọi là sắt tây), có que chống dài khoảng 50 phân mét làm ngựa, đội dây đồng( hoặc dây thép) dài chừng 4-5 mét, néo ghịt hai đầu vào cọc cắm chắc xuống đất cho căng lên.Vùng Hải Dương cũng dùng vỏ thùng dầu hỏa, nhưng úp lên ngay mặt nền đất (hoặc sân gạch) và không dùng que chống mà căng thẳng dây đồng( dây thép) ngang qua mặt thùng [6, tr.78]

Những năm 1960 hát trống quân phát triển rộng rãi khắp các tỉnh ở Đồng Bằng Bắc Bộ như Hưng Yên, Thanh Hóa, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Ở Hà Nội một số làng ven Sông Hồng,Sông Tô Lịch, Sông Kim Ngưu đều có hát trống quân, giới giải trí Hà thành thường tổ chức hát trống quân cùng với hát ả đào trên thuyền bơi Hồ Tây có đông đảo quan lại tham dự Đây là thời kỳ phát triển nhất của di sản dân ca này ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên, đến những năm 1942 -1943, Nhật bắt nông dân phá lúa trồng đay, thu gom tận kiệt thóc gạo, máy bay Đồng Minh bắn phá nên hầu hết các hoạt động hát xướng đều bị đình trệ và dần rơi vào quên lãng.Các đám trống quân không còn giữ nổi đội ngũ và lề lối diễn hát như trước nữa.Còn chăng chỉ

là hát lẻ giữa đôi ba người cho đỡ nhớ bạn nhớ bè Ngày nay hát trống quân gần như đã không còn chỉ có hát trống quân Dạ Trạch vẫn còn lưu giữ được những làn điệu theo lối hát cũ với cách ngắt nhịp, bẻ vần, nắn điệu như xưa

2.1.2.Ca từ

Trang 37

Điểm đặc sắc nhất của hát trống quân Dạ Trạch là về lối hát vì hát ở đây là hát đối đáp giao duyên nhưng không giống với hát quan họ vì ở đây các nghệ nhân không có lời bài hát cố định, mà khi hát đòi hỏi khả năng ứng tác nhanh

Trong mỗi hội hát để gây khó cho đối phương, người hát không chỉ vận dụng vốn liếng thơ ca đã có, mà từ cảm xúc của mình có thể ứng tác thêm nhiều bài mới Do đó cùng một chức năng, mục đích, cùng một chủ đề nội dung nhưng

có thể có vô số lời ca khác nhau Thậm chí mỗi lúc, mỗi nơi, mỗi hoàn cảnh, mỗi tâm trạng người hát lại sáng tạo ra các lời hátmới của cùng một điệu hát, điều này đã đem lại cho lời ca hát trống quân sự dồi dào, phong phú cả về số lượng lẫn nội dung

Lời ca hát trống quân chủ yếu xoay quanh cuộc sống sinh hoạt đời thường của người nông dân với một số chủ đề như ca ngợi non sông đất nước, cảnh lao động làm ăn của người dân lao động Đó là tiếng nói tâm tình, là ước vọng về một cuộc sống tươi đẹp của nhân dân, là sự thể hiện trí tuệ của người lao động trước những hiện tượng của tự nhiên và xã hội Tuy nhiên vốn là một thể loại hát đối đáp giao duyên nên tình yêu nan nữ vẫn là chủ đề lớn nhất của hát trống quân

Dạ Trạch Nghệ nhân Nguyễn Hữu Bổn cho biết: “Có rất nhiều loại hình hát giao duyên đối đáp, nhưng chỉ có hát trống quân là người hát có thể nên vợ nên chồng”

Trong hát trống quân Dạ Trạch chủ đề ngợi ca non sông đất nước có nội dung vô cùng phong phú và độc đáo Trong mỗi người dân nơi đây đều có một tình yêu quê hương đất nước nồng nàn và niềm tự hào về truyền thống anh hùng dân tộc, có rất nhiều những cảnh đẹp quê hương được đưa vào trong câu hát trống quân Dạ Trạch

Trang 38

Chủ đề về cuộc sống sinh hoạt,lao động của người dân khá nổi bật trong những lời ca hát trống quân Dạ Trạch Những cảnh sinh hoạt ngày thường rất gần gũi quen thuộc với người dân từ việc làm ruộng, việc học hành, đến những kinh nghiệm làm ăn buôn bán đều đưa vào trong câu hát Đây cũng là một yếu tố đặc sắc trong hát trống quân Dạ Trạch khi phát triển du lịch, đây sẽ là một công

cụ giáo dục và quảng bá hình ảnh quê hương đất nước đến với du khách trong và ngoài nước

Cũng như các di sản dân ca khác ở đồng bằng Bắc Bộ như hát quan họ, hát xoan, hát ghẹo, hát ví, hát đò đưa, hát đúm , hát trống quân là lối hát giao duyên ứng tác giữa nam và nữ Thuở xa xưa với quan niệm nam nữ thụ thụ bất thân nên sợi dây đàn là đường ranh giới của đôi trai gái hoặc của tốp nam, tốp nữ Họ ngồi gần nhau đấy nhưng không dễ vượt qua được sợi dây của lễ giáo bấy giờ nên họ

đã mượn những lời ca để thể hiện những cung bậc tình cảm của mình Bởi lẽ khi hát đó là sự bộc lộ các trạng thái cảm xúc của mỗi con người vào từng lời ca điệu nhạc để có thể bộc lộ những cảm xúc chân thật nhất trong mỗi người Đặc biệt là trong tình yêu những cảm xúc, những cung bậc tình yêu: chờ đợi, nhớ thương, thẹn thùng, giận hờn, rồi những lời ướm hỏi, tỏ tình, những lời thề non hẹn biển đều được đưa vào trong câu hát trống quân một cách nhẹ nhàng đầy ý nhị Bên cạnh đó khi hát những đôi trai gái cũng bộc lộ những mơ ước khát khao về một cuộc sống hạnh phúc với người mình yêu thương Hội trống quân không chỉ là nơi bày tỏ tình cảm với người mình thương mà còn là nơi giao lưu giữa các đôi nam thanh nữ tú để có điều kiện tìm hiểu, lựa chọn bạn đời cho mình.Hơn nữa đây cũng là một sân chơi giải trí vô cùng lành mạnh và bổ ích

Lối hát giao duyên nam nữ còn được thấy rất rõ trong cách xưng hô giữa các cặp hát đó là: chàng - nàng, anh - em, thiếp - chàng… xuyên suốt trong các

Trang 39

chặng hát Mỗi cách xưng hô đều thể hiện được sắc thái tình cảm của các chàng trai cô gái, thể hiện mức độ thân quen hay mới chỉ gặp lần đầu

Bên cạnh đó trong nội dung của hát trống quân còn sử dụng rất nhiều các điển tích, điển cố văn học trong lời hát như Chinh Phụ Ngâm, Nhị Độ Mai, Truyện Kiều,… Từ đó cho thấy người thi hát trống quân muốn ứng tài đối giỏi thì phải có tầm hiểu biết rất rộng và cũng cần phải nhanh trí mới có thể vận dụng những điển tích cổ vào trong lời đối đáp của mình sao cho đúng và hay Những điển tích điển cố được đưa vào trong hát trống quân Dạ Trạch nhẹ nhàng mà sâu lắng khiến cho những người đi xem không ngừng trầm trồ bởi tài ứng vận của các nghệ nhân

Trong lịch sử âm nhạc nước nhà có rất nhiều thể loại âm nhạc đặc sắc, nhưng chưa có một thể loại âm nhạc nào mà việc hát dựa trên cảm hứng mà ứng đối chứ không phải dựa trên những bài nhạc đã có sẵn Nội dung của hát trống quân Dạ Trạch khá phong phú trong đó chủ đề về tình yêu đôi lứa là độc đáo hơn

cả Đó là những cung bậc tình cảm trong cuộc sống thường nhật đã được nghệ thuật hóa bằng những lời hát giao duyên mượt mà đằm thắm

2.1.3.Âm nhạc

2.1.3.1 Nhạc khí

Nếu ta vẫn thường nhắc đến chiếc đàn bầu bằng cả sự tự hào và khâm phục sức sáng tạo của cha ông thì ngày nay ta còn thấy một loại nhạc cụ cũng vô cùng độc đáo đó chính là trống thùng

Hát trống quân có thể có hoặc không có nhạc cụ đệm (như trong trường

hợp hát trống quân ngoài đồng của xã Dạ Trạch) Và ngay cả nhạc cụ (trống) ở đây cũng không phải chỉ có một dạng duy nhất mà có nhiều loại trống cùng dạng

Trang 40

với trống quân có các tên gọi và cách chế tác khác nhau như: trống nằm chìm dưới đất có que chống hoặc không có que chống, có đặt chum sành hay không đặt chum sành trong hố đất hay trống nằm nổi trên mặt đất có dây căng trực tiếp trên chum sành hay trên thùng dầu hỏa, cũng có thể là một trống con như

trong Hát trống quân Đức Bác hay là một trống quân như ở Dạ Trạch.v.v Nhạc

khí trong trống quân Dạ Trạch là chiếc “trống thùng” Nhạc cụ này độc đáo từ cách dựng trống đến âm hưởng “thình thùng thình” khi gõ vào làm lôi cuốn người nghe Quy trình dựng trống như sau:

Khâu chuẩn bị:

Trước khi đến hội thi hát, đám hát sẽ cử một số nghệ nhân chỉ đạo việc lựa chọn địa điểm để đặt trốngthường là vùng đất trống và bằng phẳng để âm thanh của trống khi gõ phải vang, phải gọn, tròn và ấm tiếng

Sau khi công việc chọn địa điểm đặt trống rồi cắt đặt một nghệ nhân đóng một chiếc thùng gỗ hình tròn, thùng rộng khoảng 35 cm và cao khoảng 45 cm Một mặt thùng bịt lại và chiếc thùng có 3 đai tre quấn lại.Tiếp đó cần chuẩn bị một nạng gỗ nhỏ cao khoảng 15cm hình chữ V,chiếc nạng thường được làm từ chạc cành gỗ ổi và có tác dụng để kích dây mây lên thật căng.Một chiếc dây mây dài 4 - 5m được ngâm cho mềm sau đó đập dập hai đầu.Hai chiếc dùi được làm bằng gỗ vót nhẵn như kiểu dùi “trống ếch” để người ngồi gõ nhịp trống khi hát

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w