Đối với vườn quốc gia Xuân Sơn việc nghiên cứu về vấn đề phát triển du lịch còn rất hạn chế chỉ dừng lại ở các bài báo cáo, bài viết ở quy mô nhỏ như bài viết “Vườn quốc gia Xuân Sơn - t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
- -
NGUYỄN HẢI YẾN
Tình hình hoạt động du lịch vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ, định hướng và giải pháp phát triển
du lịch theo hướng bền vững
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay khi thế giới đang ngày càng phát triển về cả mặt kinh thế và xã hội, nhu cầu của con người cũng ngày càng tăng theo, trong đó du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa - xã hội Hoạt động du lịch đang ngày càng phát triển mạnh mẽ đối với nhiều quốc gia thậm chí được coi là ngành
kinh tế quan trọng nhất
Phát triển của ngành du lịch không những đem lại nguồn lợi lớn về cả kinh tế
và xã hội cho các quốc gia đồng thời tạo nên sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, làm cho thế giới xích lại gần nhau hơn, hiểu biết về nhau hơn
Hòa chung vào xu hướng của Thế giới, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm phát triển ngành du lịch và coi đây là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành liên vùng và xã hội hóa cao Nhà nước ta
đã đề ra mục tiêu để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn mang tính chiến lược quan trọng trong đuờng lối phát triển kinh tế nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nằm ở phía đông bắc của Việt Nam, Phú Thọ được coi là vùng đất Tổ cội nguồn của Việt Nam Với một bề dày lịch sử bốn ngàn năm dựng nước, tương truyền tại nơi đây các vua Hùng đã lập nên kinh đô Văn Lang - nhà nước đầu tiên của Việt Nam Ngày nay Phú Thọ là địa danh được rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến bởi các điểm du lịch nổi tiếng Trong thời gian qua, du lịch Phú Thọ đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp với số lượng khách đến tăng hằng năm tăng trên 36% trong giai đoạn 2006 - 2010 với nhiều điểm tham quan nổi tiếng như đầm
Ao Châu, khu di tích Đền Hùng, đền quốc mẫu Âu Cơ, núi Thắm,… Và đặc biệt vườn quốc gia Xuân Sơn đã và đang trở thành điểm du lịch yêu thích của du khách khi đến Phú Thọ
Vườn quốc gia Xuân Sơn với những giá trị độc đáo về địa chất, địa hình, địa mạo và tính đa dạng sinh học với quần thể động thực vật quý hiếm, những cảnh quan thiên nhiên còn hoang sơ, hệ thống hang động độc đáo Chính vì vậy năm
2002 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn
Trang 3được chuyển hạng thành vườn quốc gia Xuân Sơn
Trong thời gian gần đây UBND tỉnh Phú Thọ đã tập trung đầu tư cho du lịch Xuân Sơn và coi đây là một trong năm mũi phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Chính điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tiềm năng du lịch nơi đây.Tuy nhiên phát triển du lịch Xuân Sơn vẫn chưa xứng đáng với tiềm năng của mình, còn bộc lộ một số hạn chế: Cơ sở vật chất hạ tầng còn yếu kém, đội ngũ nhân viên còn mỏng, thiếu kinh nghiệm, khách du lịch chỉ đến tham quan hang Lạng là chủ yếu Chính vì vậy việc cấp thiết của Tỉnh nói chung và VQG nói riêng là làm sao để vừa thúc đẩy phát triển du lịch vừa giữ được nét hoang sơ vốn có và phát huy các giá trị nhân văn, phải làm sao để giữ gìn tài nguyên cho hôm nay và mai sau
Xuất phát từ yêu cầu đó đã thúc đẩy tôi chọn đề tài: “Tình hình hoạt động du
lịch vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ, định hướng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững.” để làm khoá luận tốt nghiệp
Đối với vườn quốc gia Xuân Sơn việc nghiên cứu về vấn đề phát triển du lịch còn rất hạn chế chỉ dừng lại ở các bài báo cáo, bài viết ở quy mô nhỏ như bài viết “Vườn quốc gia Xuân Sơn - tiềm năng phát triển du lịch” của trung tâm thông tin du lịch, “Đa dạng sinh học vườn quốc gia Xuân Sơn” (Báo nhân dân), “ khu du lịch vườn quốc gia Xuân Sơn”, “Dự án Cải thiện đời sống người dân địa phương trong và ngoài vườn quốc gia Xuân Sơn - tỉnh Phú Thọ góp phần quản lý rừng bền vững” của viện đào tạo quản lý kinh doanh và quốc tế phối hợp với quốc gia Xuân Sơn được Vương quốc Đan Mạch tài trợ không hoàn lại Vì vậy nghiên cứu du lịch VQG Xuân Sơn luôn là một quá trình liên tục, mới mẻ và có tính kế thừa
Trang 43 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu, phân tích tình hình hoạt động du lịch ở vườn quốc gia Xuân Sơn
- Đề ra các giải pháp để phát triển du lịch của địa bàn theo hướng bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu tiềm năng và hoạt động du lịch của vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Đề ra một số định hướng và các giải pháp cơ bản để phát triển du lịch bền vững ở vườn quốc gia Xuân Sơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về tình hình hoạt động du lịch và những giải pháp để phát triển du lịch bền vững ở vườn quốc gia Xuân Sơn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi lãnh thổ: Đề tài chỉ thực hiện tại khu vực vườn quốc gia Xuân Sơn
huyện Tân Sơn, Tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi thời gian: Từ 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020
- Phạm vi nội dung: Hoạt động du lịch ở vườn quốc gia Xuân Sơn
5 Quan điểm nghiên cứu
5.1 Quan điểm hệ thống
Du lịch có nhiều loại hình đa dạng và bao gồm nhiều thành phần có mối liên
hệ mật thiết với nhau, các điều kiện và các nhân tố du lịch tồn tại và phát triển trong
sự thống nhất giữa các thành phần: tự nhiên, kinh tế - xã hội và các quy luật cơ bản Quan điểm này được coi là cơ sở hình thành hệ thống du lịch bảo đảm cho tính khách quan, khoa học trong nghiên cứu Do vậy nó được quán triệt như là một quan điểm chủ đạo trong quá trình nghiên cứu
5.2 Quan điểm kinh tế - sinh thái
Du lịch cũng như các ngành kinh tế khác, tiêu chuẩn để đánh giá ngành du lịch chính là hiệu quả kinh tế của nó Đồng thời phải gắn với công tác bảo vệ môi
Trang 5trường, bảo tồn và đóng góp lợi ích cộng đồng địa phương Làm thế nào để vừa đưa ngành du lịch phát triển, thu được lợi nhuận kinh tế cao vừa đảm bảo có môi trường sinh thái được bền vững thì đó là câu hỏi mà một khu du lịch, một vùng hay một quốc gia phát triển du lịch phải trả lời được Do vậy quan điểm kinh tế - sinh thái cũng là một quan điểm đặc thù trong nghiên cứu nhằm tạo ra giải pháp phát triển du lịch bền vững cho vườn quốc gia Xuân Sơn
5.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Du lịch cũng có quá trình phát sinh và phát triển vì vậy quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích, tổng hợp các quá trình hình thành phát triển trong hệ thống du lịch và xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ Qua đó biết được giá trị của tài nguyên du lịch trong quá khứ cũng như dự báo được hướng phát triển của chúng trong tương lai
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập, phân tích xử lý số liệu
Việc tiến hành nghiên cứu đề tài cần rất nhiều tài liệu, số liệu từ các cơ quan ban ngành có liên quan, vì vậy cần phải thu thập, tổng hợp, lựa chọn cho phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở phân tích nguồn tài liệu để tìm ra được tính toàn vẹn, phát hiện được mối quan hệ giữa các vấn đề có liên quan tới nội dung đề tài
rõ được tình hình hoạt động du lịch của địa phương
Trang 6Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Tình hình hoạt động du lịch của vườn quốc gia Xuân Sơn giai đoạn 2006
- 2010
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch ở vườn quốc gia Xuân Sơn đến năm 2012
Trang 7và khái niệm du lịch được biết đến từ đó Thuật ngữ du lịch (tourism) được tìm thấy lần đầu tiên trong cuốn từ điển Oxford xuất bản vào năm 1811 ở nước Anh nghĩa là
đi xa Đối với các thứ tiếng khác tuy cách viết khác nhau nhưng đều có âm tương
tự Trong tiếng Việt “du lịch” được phiên âm từ tiếng Hán, dịch ra như sau: Du - đi chơi, lịch - từng trải, từng biết
Theo tiến trình lịch sử, quan niệm về du lịch rất khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội loài người Đầu tiên người ta quan niệm du lịch là đi nghỉ ở biển trên những bãi cát sạch và tắm nắng, nên du lịch lúc đó thường được hiểu bằng ba chữ S : Sea (biển), Sand (cát), Sun (mặt trời) Sau đó các nhà kinh doanh đưa vấn đề tình dục vào du lịch nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách nên có thêm một chữ S là Sextour Thời gian gần đây khi tình hình khủng bố, bị tấn công ở các khu du lịch nên du lịch cần phải đảm bào an toàn và một chữ S nữa ra đời là Safety hoặc Security (an ninh) Tuy nhiên, du lịch hiện đại không những phát triển ở biển mà ở những nơi có môi trường tự nhiên và xã hội trong sạch, quan niệm
về du lịch 4S được thay đổi bằng 4T: Travel (di chuyển), Transport (phương tiện di chuyển), Tranquillity (yên tĩnh, thanh bình), Transparenty (môi trường tự nhiên và
xã hội trong sạch) Ý tưởng này nhằm mục đích xoá bỏ tư tưởng không lành mạnh trong hoạt động du lịch của khách và nhà cung ứng du lịch
1.1.1.1 Trên thế giới
Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức lữ hành chính thức (Internation Union of Offical Travel Oragnization - IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình
Trang 8nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.”
Tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại Rome Italia (21/08 05/09/1963), các chuyên gia đã đưa ra các định nghĩa về du lịch “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”
-1.1.1.2 Ở Việt Nam
Các học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội dung cơ
bản của du lịch thành hai phần riêng biệt, nghĩa thứ nhất “Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật…” Theo nghĩa thứ hai, “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: Nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu hàng hóa tại chỗ.”
Theo luật du lịch Việt Nam (2005), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định” Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp vì hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội
1.1.2 Du khách
Địa bàn diễn ra hoạt động du lịch thường là nơi hấp dẫn, lối cuốn trí tò mò, tìm kiếm học hỏi những kiến thức về giá trị tự nhiên, văn hoá, lịch sử, thoả mãn những nhu cầu khác của con người Từ đó xuất hiện khái niệm là du khách, du khách là chủ thể của hoạt động du lịch, có vai trò quan trọng trong hoạt động du lịch
Trang 9Thị trường khách du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu ngành du lịch cũng như cơ cấu các sản phẩm dịch vụ du lịch Người ta thường phân biệt khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Về sau có nhiều học giả đưa ra những khái niệm mới về du khách:
- Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Áo Jozepstander: “Khách du lịch
là loại khách đi lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp không đuổi theo mục tiêu kinh tế.”
- Hiệp hội du lịch quốc tế lại đưa ra định nghĩa:“ Khách du lịch quốc tế là những người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h trở lên.”
1.1.3 Phát triển du lịch bền vững
Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển du lịch bền vững
Theo A.Machado (2003) đã định nghĩa du lịch bền vững là “Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau
Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương.”
Theo hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), năm 1996 thì “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”
Tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, tổ chức du lịch thế giới (WTO) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch bền vững
là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có
kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa,
đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người.”
Trang 10Như vậy, du lịch bền vững không phải là một loại hình hay một trào lưu du lịch mà là một quan niệm hay đúng hơn là một cương lĩnh phát triển du lịch của thời đại
Mục tiêu của du lịch bền vững là:
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường
- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển
- Cải thiện chất lượng sống của cộng đồng bản địa
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của khách du lịch
- Duy trì chất lượng môi trường
1.2 Ý nghĩa của hoạt động du lịch
1.2.1 Ý nghĩa kinh tế
Ngành du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế đất nước và của vùng thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch Ngoài ra du lịch cũng tác động mạnh lên lĩnh vực lưu thông và gây ảnh hưởng lớn lên những lĩnh vực khác của các quá trình tái sản xuất xã hội
1.2.1.1 Du lịch ảnh hưởng đến cán cân thu chi
Kinh tế du lịch gây biến đổi lớn trong cơ cấu của cán cân thu chi của đất nước, của vùng du lịch
Đối với du lịch quốc tế, việc du khách quốc tế mang ngoại tệ đến đổi và tiêu ở khu du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước Đối với du lịch nội địa, việc tiêu tiền của người dân ở vùng du lịch cũng gây biến động trong cơ cấu cán cân thu chi của nhân dân theo vùng
Trong quá trình hoạt động, du lịch đòi hỏi số lượng lớn vật tư và hàng hóa đa dạng Ngoài ra việc khách mang tiền kiếm được từ nơi khác đến tiêu ở vùng du lịch góp phần làm sống động kinh tế ở vùng du lịch và ở đất nước du lịch Du lịch góp phần huy động nguồn vốn rỗi rãi trong nhân dân vào vòng trung chuyển vì chi phí cho hành trình du lịch là từ tiết kiệm của dân
1.2.1.2 Du lịch ảnh hưởng đến các ngành kinh tế
Thông qua lĩnh vực lưu thông mà du lịch có ảnh hưởng tích cực lên sự phát triển của ngành công nghiệp và nông nghiệp Du lịch luôn đòi hỏi hàng hóa có chất
Trang 11lượng cao, phong phú về chủng loại, mỹ thuật và hình thức
Do vậy du lịch góp phần định hướng cho sự phát triển của các ngành ấy trên các mặt: số lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm và việc chuyên môn hóa của các
xí nghiệp trong sản xuất
Du lịch còn có tác động đến sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân như: thông tin, xây dựng, y tế, thương nghiệp, điều này còn được thể hiện
ở chỗ :
- Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch của một vùng không chỉ thể hiện ở những chỗ có tài nguyên du lịch mà bên cạnh chúng phải có cả cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống đường xá, nhà ga, bưu điện, sân bay, ngân hàng, mạng lưới thương nghiệp…
- Việc tận dụng đưa những nơi có tài nguyên du lịch vào sử dụng, kinh doanh đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống đường xá, mạng lưới thương nghiệp,… qua đó cũng kích thích sự phát triển tương ứng của các ngành có liên quan
Ngoài ra, du lịch phát triển còn đánh thức một số ngành sản xuất thủ công cổ truyền
1.2.1.3 Du lịch ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân
Kinh tế du lịch góp phần làm tăng thu nhập quốc dân :
a Đối với khách du lịch quốc tế
Hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước Ở các nước du lịch phát triển thu nhập ngoại tệ từ du lịch chiếm 20% hoặc hơn thu nhập ngoại tệ của đất nước Ngoại tệ thu nhập từ du lịch quốc tế làm sống động cán cân thanh toán của đất nước du lịch và thường được sử dụng để mua sắm máy móc, thiết bị cần thiết cho quá trình tái sản xuất xã hội Do vậy, du lịch quốc tế góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước
Du lịch quốc tế còn là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho đất nước du lịch Khi khách đến khu du lịch, khách du lịch có điều kiện làm quen với một số mặt hàng ở đó Khi trở về đất nước của mình, khách bắt đầu tìm kiếm những thứ đó ở thị trường địa phương và nếu không tìm được khách có thể yêu cầu cơ quan ngoại thương nhập khẩu mặt hàng ấy Theo cách này du lịch quốc
tế góp phần tuyên truyền cho nền sản xuất của nước du lịch chủ nhà
Trang 12Sự phát triển của du lịch quốc tế còn có ý nghĩa quan trọng đến việc mở rộng
và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế theo các hướng: ký kết các hợp đồng trao đổi khách giữa các nước, các tổ chức và các hãng tổ chức du lịch, tham gia vào các tổ chức quốc tế về du lịch
b Đối với khách du lịch nội địa
Du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội Ngoài ra du lịch nội địa còn giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất của du lịch quốc tế được hợp lý hơn.Vào trước và sau thời vụ du lịch, khi khách quốc tế vắng có thể sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật ấy vào phục vụ khách du lịch nội địa
Việc phát triển du lịch nội địa sẽ tạo ra nhiều công ăn, việc làm và tạo điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương
1.2.2 Ý nghĩa xã hội
Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, thoả mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết, do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sáng tạo, trong kế hoạch cho tương lai của con người- khách du lịch
Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hóa và thường xuyên tiếp xúc với dân địa phương Thông qua các cuộc giao tiếp đó văn hóa của cả khách du lịch và của người bản xứ được trau dồi và nâng cao Du lịch tạo khả năng cho con người mở mang hiểu biết lẫn nhau, hiểu biết về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, chế độ xã hội, kinh tế… Du lịch còn làm giàu và phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của một đất nước
Thông thường tài nguyên du lịch thiên nhiên thường có nhiều ở những vùng núi xa xôi, vùng ven biển hay nhiều vùng hẻo lánh khác Việc khai thác đưa những tài nguyên này vào sử dụng đòi hỏi phải có đầu tư về nhiều mặt: giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hóa xã hội… Do vậy việc phát triển du lịch làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó và cũng vì vậy mà góp phần làm giảm sự tập trung dân cư ở những vùng trung tâm
Trang 13Ngoài ra sự phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc góp phần khai thác bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên xã hội
1.2.3 Ý nghĩa tư tưởng - chính trị
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, gìn giữ và nâng cao truyền thống dân tộc Thông qua những chuyến đi tham quan, nghỉ mát, vãn cảnh… Người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc qua
đó thêm yêu đất nước mình
Du lịch có vai trò như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau
Du lịch là giấy thông hành của hòa bình, là phương tiện giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc
Trang 14CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA VƯỜN QUỐC
GIA XUÂN SƠN GIAI ĐOẠN 2006- 2010 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch ở vườn quốc gia Xuân Sơn 2.1.1 Vị trí địa lý
VQG Xuân Sơn nằm về phía tây của huyện Tân Sơn (được tách ra từ huyện Thanh Sơn), tỉnh Phú Thọ, nằm trong vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và Sơn La Toạ độ địa lý: 21003’ đến 21012’ vĩ độ Bắc, 104051’ đến
105001’ kinh độ Đông, tổng diện tích của VQG là 15.048ha, trong đó khu bảo vệ nghiêm ngặt (còn gọi là vùng lõi) có diện tích 9.099ha Phía bắc giáp xã Thu Cúc, phía Nam giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình, phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn
La, phía Đông giáp các xã: Tân Phú, Mỹ Thuận, Long Cốc và Vinh Tiền, phía Tây Nam giáp khu BTTN Phu Canh và hồ thuỷ điện Hoà Bình, phía Tây Bắc giáp khu BTTN Tà Xùa và hồ thuỷ điện Sơn La
VQG Xuân Sơn nằm trong một vùng đồi núi thấp và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạn sông Đà bao gồm cả huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ Sông Bứa và các chi lưu của nó toả nhiều nhánh ra gần như khắp vùng Nhìn toàn cảnh các dãy đồi núi chỉ cao chừng 600 - 700m, hình dáng khá mềm mại vì chúng được cấu tạo bởi các loại đá phiến biến chất quen thuộc Cao nhất là đỉnh núi Voi 1386 m, tiếp đến là núi Ten 1.244m, núi Cẩn 1.144m
Các thung lũng trong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Sự chia cắt theo chiều sâu cũng khá lớn, các sườn núi khá dốc, bình quân 200
2.1.2 Tài nguyên du lịch
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch thiên nhiên
VQG nằm trên hệ thống núi đá vôi có độ cao từ 700 đến 1.300m, rất thích hợp phát triển du lịch thiên nhiên, trong VQG có rất nhiều hang động đá với thạch nhũ đẹp, kỳ thú… và đa dạng sinh học cao Có thể nhận thấy VQG có tiềm năng phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch kết hợp với nghiên cứu khoa học, du lịch hang động,…
Trang 15a Cảnh quan thiên nhiên
VQG Xuân Sơn nằm trên địa hình có lịch sử hình thành và phát triển rất phức tạp và lâu dài Mỗi giai đoạn được đánh dấu bởi những quá trình thành tạo đặc trưng cho các hoạt động kiến tạo đứt gãy, chuyển động nâng trồi, uốn nếp tạo núi và chuyển động sụt lún tạo các bồn trũng trầm tích Các bối cảnh kiến tạo là nguyên nhân tạo ra tính đa dạng địa chất, địa hình, địa mạo, mạng lưới thủy văn, tạo ra những cảnh quan huyền bí, những cánh rừng hoang sơ nguyên thủy như một bảo tàng thiên nhiên khổng lồ
Trong diện tích của Vườn với kiểu địa hình núi đá vôi là chủ yếu, có 3 đỉnh núi cao trên 1000m đó là các đỉnh: Núi Voi, núi Ten và núi Cẩn Ba đỉnh nối với nhau tạo thành tam giác liền kề mỗi cạnh gần 5km là địa điểm hấp dẫn với môn thể thao leo núi Trên núi có nhiều cánh rừng nguyên sinh đẹp với nhiều cây cổ thụ và các loại chim thú Đứng trên các đỉnh núi này có thể ngắm toàn cảnh của VQG Xuân Sơn và xa hơn là hồ thủy điện Hòa Bình và Sơn La Bao phủ xung quanh là kiểu rừng kín lá rộng thường xanh còn ở trạng thái nguyên sinh rất hấp dẫn đối với khách du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học
VQG nằm trong hệ thống sông Bứa, hệ thống thác nước trong khu vực được tạo bởi các con suối đổ từ trên núi xuống rất đẹp đó là: Thác Xoan, Thác Lưng Trời,
Hình 2.1 Một góc VQG Xuân Sơn
Trang 16Hình 2.2 :Hang Thiên Nga - VQG Xuân Sơn
Thác Kẹm, Thác 99 tầng, Thác Tô Anh, Thác Tô Em, Thác nước Mọc
b Hệ thống hang động:
Hệ thống hang động đá vôi rất phong phú và đa dạng Quá trình karst do hòa tan và ngưng đọng cacbonat hình thành nên nhũ đá, cột đá, măng đá đa dạng và hấp dẫn Hiện nay đã phát hiện khoảng 30 hang động có các kích thước lớn nhỏ khác nhau: Hang Lun, Hang Lạng, Hang Thổ Thần, Hang Na, Hang Dơi, Hang Sơn Dương, Hang Thiên Nga, Hang Chồn Trắng, Hang Trăng Tròn Hang Lạng là hang lớn nhất và dài nhất ăn sâu vào núi Ten, vòm hang có chỗ cao tới 20m rộng 20m
c Tính đa dạng sinh học
Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn, đất đai đã tạo cho Xuân Sơn trở thành trung tâm đa dạng sinh học về động thực vật
- Đa dạng về thảm thực vật:
Trang 17Theo kết quả đầu tiên đã xác định các hệ sinh thái VQG Xuân Sơn có 7 hệ sinh thái chính: rừng trên núi đá vôi; rừng trên núi đất; trảng cỏ cây bụi, tre nứa; nông nghiệp; khu dân cư; rừng trồng và hệ sinh thái các thủy vực Trong số 7 hệ sinh thái thì hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi có nhiều nét độc đáo
Tuy có bị tác động nhưng nó vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sinh, với diện tích khoảng 1.661ha, trải dài theo các sườn núi từ phía Bắc xuống phía Nam, xứng đáng
là đại diện cho vùng địa lý sinh vật Tây Bắc Với độ cao tối đa so với mặt biển là 1.386m (đỉnh núi Voi), vùng núi đá vôi Xuân Sơn ở độ cao dưới 700m được che phủ bởi kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh cây lá rộng, ẩm, nhiệt đới, cấu trúc 5 tầng, trong đó tầng vượt tán gồm những cây gỗ lớn, đường kính hàng mét, cao tới 30 - 35m như chò chỉ, sâng, trai, nghiến v.v…
Ở độ cao từ 700m trở lên là kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh, cây lá rộng á nhiệt đới Ngoài một số loại thường xanh hay rụng lá thuộc các họ long não, dẻ, hồ đào v.v… còn gặp một số loại thuộc ngành hạt trần như dẻ tùng sọc trắng hẹp, kim giao núi đá, thông tre lá dài Cấu trúc của kiểu rừng này có 4 tầng, không có tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái cao tối đa không vượt quá 25m Cả hai kiểu thảm thực vật vừa nêu hiện không có nhiều ở nước ta
Sự đa dạng của các hệ sinh thái làm nền tảng cho sự hình thành các kiểu thảm thực
Hình 2.3: Sự ẩm ướt tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều
loại cây lá nhỏ phát triển
Trang 18vật khác nhau, không chỉ tạo ra sự phong phú về thành phần loài của hệ thực vật mà cho cả hệ động vật vì các hệ sinh thái là nơi cư trú, cung cấp thức ăn cho các loài động vật
Nguồn: Số liệu thống kê của Sở Văn Hoá, Thể Thao và Du Lịch Phú Thọ năm 2010
Hình 2.4: Chuối cô đơn
Trang 19Bảng 2.2: So sánh khu hệ thực vật Xuân Sơn với một số VQG, khu bảo tồn
thiên nhiên miền Bắc năm 2009 Vườn quốc gia Diện tích(ha) Số họ Số chi Số loài
Nguồn: Số liệu thống kê của Sở Văn Hoá, Thể Thao và Du Lịch Phú Thọ năm 2010
Theo hai bảng thống kê trên kết hợp với điều tra bước đầu và tập hợp tài liệu,
đã thống kê được 726 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 475 chi và 134 họ Đứng thứ nhất so với các vườn quốc gia và khu BTTN miền Bắc Trong các ngành thực vật đã ghi nhận được thì ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm đa số với 111 họ, sau đó là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) với 15 họ, ngành Thông (Pinophyta) với 4 họ rồi đến ngành Thông đất (Lycopodiophyta) với 2 họ và ít loài nhất là 2 ngành Khuyết lá thông và ngành Quản bút với 1 họ
Từ kết quả sơ bộ trên, có thể nói rằng hệ thực vật VQG Xuân Sơn khá giàu về thành phần loài so với các vườn quốc gia và khu BTTN trong cả nước Với một thời gian ngắn, những phát hiện về hệ thực vật VQG Xuân Sơn phần nào cũng tự thể hiện được tính đa dạng cao của chúng Nếu tiến hành điều tra tỷ mỉ hơn nữa thì số loài thực vật sẽ còn cao hơn nhiều
Trong thành phần thực vật ở Xuân Sơn thấy đầy đủ các yếu tố thực vật có liên quan đến khu hệ thực vật Việt Nam Trước hết là khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa gồm các đại diện tiêu biểu là các cây trong họ Dẻ
(Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Óc chó (Juglandaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Đậu, họ Ngọc lan (Magnoliaceae), Đây là yếu tố chiếm ưu thế trong hệ thực vật
Xuân Sơn Ngoài ra còn có các luồng thực vật di cư khác:
Trang 20Luồng di cư thứ nhất, từ phía Nam đi lên là luồng các yếu tố Malaixia - Indonexia trong đó họ Dầu (Dipterocarpaceae) là họ tiêu biểu với 6 loài: Chò nâu
(Dipterocarpus retusus), Chò chỉ (Shorea chinensis), Sao trung hoa (Hopea chinensis), Táu nước (Vatica glabrata), Táu lá ruối (Vatica odorata subsp Odorata) và Táu muối (Vatica diospyroides) đều là những loài trong họ Dầu di cư
lên phía bắc xa hơn cả
Luồng di cư thứ hai, từ phía Tây Bắc đi xuống bao gồm các yếu tố vùng ôn đới theo độ vĩ Vân Nam - Quí Châu và chân dãy núi Himalaya, trong đó có các loài cây ngành Thông (Pinophyta), họ Đỗ quyên (Ericaceae) và các loài cây lá rộng rụng lá thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Thích (Aceraceae)
Luồng di cư thứ ba, từ phía Tây và Tây Nam lại, là luồng các yếu tố Indonexia
- Malaixia của vùng khô hạn Ấn Độ - Miến Điện, tiêu biểu là một số loài rụng lá
như Sâng (Pometia pinnata), họ Bàng (Combretaceae)
Ngoài ra Xuân Sơn cũng là kho giống bản địa, kho cây thuốc khổng lồ, hiện đã thống kê được 665 loài thuốc Một số cây thuốc tiêu biểu như: Ngũ gia bì, Kim tiền thảo, Hoằng đăng, Thạch xương bồ, Thiên niên kiện, Thổ phục linh, Ba gạc… Ngoài ra cũng phát hiện trên 300 loại thực vật tự nhiên làm rau ăn và không thể không nhắc tới rau Sắng tự nhiên của VQG Xuân Sơn là một loại rau ngon, bổ có hàm lượng dưỡng chất cao là đặc sản của VQG hiện đang được nhân giống để phát triển
Số loài quan sát
Số loài phỏng đoán
Trang 21Bảng 2.4: So sánh thành phần động vật Xuân Sơn với các Vườn quốc gia và
các Khu bảo tồn thiên nhiên năm 2009 Vườn quốc gia Thú (số loài) Chim (số loài)
Nguồn: Số liệu thống kê của Sở Văn Hoá, Thể Thao và Du Lịch Phú Thọ năm 2010
Qua bảng số liệu cho thấy hệ động vật của vườn quốc gia Xuân Sơn rất phong phú, đa dạng và có nhiều loài quí hiếm Tại đây hiện có 365 loài động vật trong đó
46 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam và 18 loài được ghi trong sách đỏ Thế giới Các loài động vật đặc trưng như: Voọc xám, vượn Chó, Cầy bạc má, Sóc bụng đỏ đuôi trắng, Gấu, Báo, Sơn dương… về chim có: gà Lôi, gà Tiền, Đại bàng đất… Một số loài đặc hữu mới được phát hiện như cá Cóc bụng đỏ, cá Anh vũ, cá Rầm xanh… càng làm cho Xuân Sơn trở nên hấp dẫn, quyến rũ hơn Động vật có xương sống ở cạn Xuân Sơn đã được khảo sát từ 1991 Từ khi xây dựng dự án đầu tư khu Bảo tồn thiên nhiên cho tới nay đã có nhiều đợt khảo sát nghiên cứu cộng với kết quả khảo sát của các đoàn lập dự án đầu tư (2003), đã thống kê được 365 loài Cụ thể là: Thú
69 loài, Chim 240 loài, Bò sát 32 loài, và Lưỡng thê 24 loài So với các kết qủa khảo sát cũ thì đợt khảo sát vừa qua đã bổ sung 70 loài Chim, 8 loài Thú và một số loài Lưỡng thê, Bò sát
Hệ động vật có 46 loài động vật quí hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (chiếm 12,6% tổng số loài của Xuân Sơn), 18 loài có tên trong Sách Đỏ thế giới IUCN 1996 (chiếm 4,9% số loài của Xuân Sơn)
Trang 22Trong Vườn quốc gia đã ghi nhận được một số loài đặc hữu sau: Vượn đen
tuyền (Hylobates concolor), Voọc xám (Trachypithecus phayrei), Sóc bay lớn (Petaurista pentaurista), Các loài Khỉ (Macaca sp), Niệc nâu (Anorrlinus tickelli),
Cú lợn rừng (Phodilus badius)
Trong số các loài bị đe doạ toàn cầu ghi nhận cho Vườn quốc gia, nhiều loài động
vật có giá trị bảo tồn cao như: Hổ (Panthera tigris), Báo hoa mai (Panthera pardus), báo gấm (neofelis neebulosa), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Sơn dương (Capricornis sumatraensis), Vượn đen (Hylopathes concolor)
2.1.2.2 Tiềm năng du lịch nhân văn
Sức lôi cuốn của VQG Xuân Sơn ngoài cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng phong phú… còn là những giá trị văn hóa độc đáo của đồng bào Dao và Mường đang sống trong vùng lõi của vườn Trong VQG có 10 xóm (đơn vị tính tương đương thôn) gồm: Cỏi, Lấp, Dù, Lạng, Lùng Mằng (xã Xuân Sơn), Thân (xã Đồng Sơn), Nước Thang (xã Xuân Đài), Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng (xã Kim Thượng)
Các xóm này phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200 - 400 m so với mực nước biển, tập trung ở phía đông, một phần phía bắc
và nam của VQG
Dân cư của các xóm này chủ yếu là 2 dân tộc chính: Dao (Mán) chiếm 69,24%
Hình 2.7: Gà nhiều cựa
Trang 23và Mường chiếm 27,65% dân số, chỉ có 4 khẩu người Kinh sinh sống tại đây
Người Dao hay còn gọi là người Mán là một trong những người có dân số và phân bố rộng ở miền Bắc nước ta Tại VQG, người Dao phân bố ở các xóm Dù, Cỏi, Lùng Mằng, Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng và Thân Người Dao ở đây còn giữ được nhiều phong tục tập quán và truyền thống đặc trưng cho người Dao ở Việt Nam
Phụ nữ Dao vẫn giữ được nghề in hoa văn trên váy và khăn Họ thường in nhiều loại hoa văn với nhiều loại váy và khăn khác nhau Ngày thường, phụ nữ Dao vẫn mặc váy truyền thống
Đàn ông Dao từ 9 tuổi trở lên phải làm một thủ tục quan trọng nhất trong đời,
đó là lễ lập tỉnh Khi làm xong thủ tục này, họ mới được coi là người đàn ông thực thụ để có thể đàng hoàng cưới vợ và tham gia những việc quan trọng của cộng đồng Nếu không làm thủ tục này, người đàn ông vẫn được lấy vợ và tham gia những công việc khác của xóm, nhưng chỉ giữ vai trò như người chưa trưởng thành Điệu múa truyền thống ở đây là múa xoè đặc biệt được ưu tiên trong ngày lễ này Trong sản xuất và sinh hoạt, người Dao còn mang tính cộng đồng rõ nét Khi một gia đình làm nhà, hoặc làm ruộng, nương rẫy, thường những người thân hoặc một nhóm hộ gia đình cùng tham gia hỗ trợ Trước đây người Dao sống du canh du
cư Từ những năm 1970 trở lại đây, người Dao đã định cư ổn định theo chủ trương của Nhà nước Tuy nhiên, họ vẫn du canh bằng hình thức sản xuất lương thực trên nương rẫy không cố định
Dân tộc Mường là nhóm dân tộc thiểu số có dân số lớn nhất và vùng phân bố rộng nhất trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Người Mường sinh sống hầu hết ở các tỉnh trung du và miền núi từ Thanh Hoá trở ra Tại VQG Xuân Sơn, người Mường sống thành từng xóm riêng biệt tại các xóm Lấp, Lạng và Nước Thang và một số ít sinh sống trong các xóm Dù
Người Mường ở đây vẫn còn giữ được bản sắc đặc trưng của mình Tại các xóm người Mường, hầu hết họ vẫn làm nhà sát nhau và là nhà sàn Nhà sàn của họ thể hiện rõ những nét kiến trúc, hoa văn độc đáo Nhà sàn thường rộng, có nhà rộng tới 100m2
Ngày nay, vào các xóm người Mường, rất ít gặp họ mặc trang phục truyền
Trang 24thống, mà họ thường mặc âu phục Chỉ trong những ngày lễ hội, tết cổ truyền họ mới vận trang phục truyền thống Tuy nhiên, người dân vẫn giữ được nghề dệt vải
cổ truyền dùng may váy áo và khăn Trong sinh hoạt văn hoá, người Mường thường
tổ chức các lễ hội vào dịp cưới hỏi, tết cổ truyền với nhiều trò chơi giải trí như hát
ví, kể truyện người Mường, múa đâm đuống
Trong sản xuất người Mường vẫn giữ được tính cộng đồng Họ thường hỗ trợ lẫn nhau trong các công việc cần nhiều sức lực như làm ruộng, nương rẫy, săn bắt, hái lượm Người Mường có truyền thống làm ruộng nước lâu đời, vì vậy ruộng nước của họ thường rất ổn định và bền vững Trong VQG có 10 xóm người dân sinh sống, hầu hết là đồng bào dân tộc Mường và Dao Cộng đồng dân cư ở đây đã nhiều năm tham gia quản lý bảo vệ rừng trong công cuộc bảo tồn của khu bảo tồn thiên nhiên trước đây và VQG hiện nay
Cộng đồng các dân tộc thiểu số hiện vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện trong trang phục, uống rượu hoẵng, cơm lam, múa xoè, đan lát đồ dùng thủ công, dệt thêu, in thổ cẩm, các phương thức canh tác cổ truyền Đây cũng là một trong những tiềm năng của du lịch sinh thái - nhân văn
Xuân Sơn đang nổi tiếng với những đặc sản của rừng hết sức bình dị nhưng cũng rất hấp dẫn: bát canh rau sắng ngọt bổ, đĩa măng tre luộc ngăm đắng chấm muối vừng thơm và béo, các loại cá suối thơm ngon; đặc biệt loài gà nhiều cựa gắn với truyền thuyết gà 9 cựa trong lễ vật thách cưới của vua Hùng đối với Sơn Tinh
và Thủy Tinh là một trong các đặc sản quí hiếm và ngon; và cả món thịt chua đặc sắc có hơn chục năm tuổi với hương vị độc đáo không mấy ai dễ gì đã được thưởng thức
Với những giá trị về cảnh quan thiên nhiên, địa chất, địa mạo, hệ thống động thực vật đa dạng phong phú và nhiều loài đặc hữu, quí hiếm cùng với những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Dao, Mường… hiện đang được bảo tồn, lưu giữ và phát triển, VQG Xuân Sơn thực sự là một danh thắng tuyệt đẹp và điểm đến kỳ thú, hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế
Trang 252.1.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Dân cư và nguồn lao động
Bảng 2.5: Thành phần dân số và lao động tại Xuân Sơn năm 2009
Số liệu điều tra của Sở VHTTDL tháng 9/2010
Qua bảng số liệu cho thấy nguồn lao động từ phía đồng bào các dân tộc địa phương hiện nay rất lớn trong đó lao động nữ chiếm đa số với 386 người Tuy nhiên phụ nữ phần lớn không được tham gia vào quá trình ra quyết định về các hoạt động quản lý và bảo vệ rừng, họ dẫn đầu các bên tham gia thu hái các sản phẩm rừng từ VQG để sử dụng và để bán Phụ nữ phải làm các công việc vất vả, ít có các cơ hội tham gia các hoạt động xã hội như nam giới đặc biệt phụ nữ dân tộc thiểu số Công việc được thực hiện bởi phụ nữ và nam giới chia theo sự sản xuất, tái sản xuất và sử dụng tài nguyên Phụ nữ tham gia vào cả ba phạm trù trong khi đó nam giới gần như tham gia vào các công việc quản lý gia đình, không kể đám ma, đám cưới và các cuộc họp và phần lớn tập trung vào săn bắt và các hoạt động khai thác gỗ trái phép
Trang 26Đối tượng này nếu được huấn luyện về kỹ năng giao tiếp du lịch và đào tạo về ngoại ngữ có thể trở thành lực lượng hướng dẫn viên du lịch quan trọng tại khu vực này vì họ là những người hiểu biết rất rõ về thiên nhiên, núi rừng cũng như về bản sắc văn hóa truyền thống về dân tộc mình
2.1.3.2 Đời sống kinh tế - xã hội của dân cư
Dân cư vùng lõi và vùng đệm của VQG Xuân Sơn thuộc các xã vùng cao của Tỉnh Phú Thọ cũng như của Việt Nam, đời sống kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn
Sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, tuy nhiên nền nông nghiệp còn lạc hậu, ít được chú trọng đầu tư, năng suất thấp Sản xuất manh mún chủ là chủ yếu để phục vụ nhu cầu bản thân chứ không mang ý nghĩa phát triển kinh tế
Chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn, gia cầm Hiện nay theo chương trình phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Xuân Sơn do chính phủ Đan Mạch tài trợ bà con ở đây đã được hỗ trợ vốn đề mua và phát triển giống gà nhiều cựa đem lại sự phát triển kinh tế không nhỏ trong vùng
Về lâm nghiệp, các hoạt động chủ yếu là tham gia nhận khoán bảo vệ rừng Các hoạt động thường xuyên là khai thác các sản phẩm từ rừng điển hình là thu hoạch rau sắng, củi, cây thuốc
Cơ sở hạ tầng về giao thông, điện, y tế, giáo dục đang từng bước được cải thiện bởi dự án 135 của Chính phủ và doanh nghiệp Xuân Trường đầu tư đã đem lại
sự thuận tiện cho nhân dân trong vùng phát triển và giao lưu với bên ngoài
Có thể nói rằng trong thời gian qua, Đảng và tỉnh Phú Thọ đã có nhiều chương trình ưu tiên đầu tư, hỗ trợ kinh phí cho huyện Tân Sơn nói chung và các xã nằm trong VQG nói riêng vì vậy đời sống kinh tế - xã hội của dân cư ở đây đã từng bước phát triển, nhà nào cũng có trâu bò, ti vi, đáng mừng hơn nữa là đã có nhiều hộ làm
ăn phát đạt xây được nhà của khang trang và còn hỗ trợ bà con trong vùng vốn để phát triển kinh tế trang trại hơn Ngoài ra khoảng 70% con em đến tuổi đi học biết chữ và đến trường đúng tuổi
Trang 272.1.3.3 Cơ sở hạ tầng chủ yếu phục vụ du lịch
a Giao thông
Trước khi thành lập Vườn Quốc gia đường ô tô mới được mở đến trung tâm xã Xuân Sơn nhưng cũng chỉ đi lại được vào mùa khô, ngày nắng ráo Từ năm 2002, Mặc dù còn rất nhiều khó khăn thiếu thốn nhưng BQL vườn đã tranh thủ sự đầu tư, giúp đỡ của Tỉnh, Trung ương và các xã trong khu vực lập qui hoạch phát triển vườn trước mắt và lâu dài Đồng thời chủ trì quản lý các dự án hạ tầng phục vụ cho yêu cầu phát triển Trong đó đáng kể nhất là dự án giao thông nâng cấp tuyến đường 30km nối từ quốc lộ 32 vào đến trung tâm xã Xuân Sơn với trị giá trên 50 tỷ đồng, xây dựng trụ sở làm việc BQL dự án và nhiều hạng mục công trình khác để khắc phục ngay tình trạng nguyên sơtỉnh đã đầu tư xây dựng đường cấp phối từ Minh Đài đến xóm Dù (Xuân Sơn) Dự án này do ban quản lý VQG làm chủ đầu tư Con đường này đã khai thông khu vực với bên ngoài tạo điều kiện để phát triển kinh tế
xã hội và giao lưu văn hóa cũng như công tác phát triển phát triển du lịch sinh thái Hiện dự án này tiếp tục làm đường tới xóm Lạng, xóm Lấp, xóm Cỏi
Bảng 2.6: Tình hình giao thông tại Xuân Sơn năm 2009
tới các bản (km)
Đường dân sinh tới các bản (km)
Đường nội bản (km)
Trang 28b Nước
Trong thập kỷ vừa qua,nhiều chương trình, dự án của nhà nước và của Tỉnh đã được triển khai nhằm đáp ứng một phần nhu cầu cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nười dân địa phương Hiện nay theo chương trình 135 của Chính phủ tất cả các thôn, xóm đều có nước sạch để sinh hoạt và sản xuất
Bảng 2.7: Các xã được cung cấp nước sạch trong vườn quốc gia Xuân Sơn năm
Số liệu điều tra của Sở VHTTDL tháng 9/2010
Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, Tỉnh chủ trương đầu tư nâng cấp hệ thống cấp nước ở các vùng nông thôn để đế năm 2015 đảm bảo cung cấp nước sạch cho
95 - 100% tổng số dân trong huyện
c Điện
Mạng lưới điện quốc gia đã kéo đến trung tâm của tất cả các xã và cùng thuộc phạm vi quản lý của VQG Tỉnh hiện nay đang có chủ trương khuyến khích các nhà đầu tư thay mới các trạm biến áp, trạm hạ thế và hệ thống lưới điện tại tất cả các xã
Trang 29để đảm bảo đến năm 2015 tất cả các xóm đều có điện cho sản xuất và sinh hoạt
d Các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch khác
Các cơ sở vật chất kỹ thuật khác phục vụ du lịch tại VQG Xuân Sơn hiện nay còn quá nghèo nàn Khu vui chơi, giải trí, các cơ sở nghỉ dưỡng, giải trí về đêm, siêu thị, trung tâm thương mại chưa có, các dịch vụ bưu điện, y tế chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân
e Phương tiện vận chuyển khách du lịch
Du khách đến với VQG Xuân Sơn chủ yếu bằng đường bộ Du khách từ trung tâm đón khách đi bằng ô tô từ cầu Trung Hà, địa phận nối giữa Hà Nội và Phú Thọ rồi theo quốc lộ số 32 đi đến Huyện Tân Sơn - Phú Thọ
2.2 Tình hình hoạt động du lịch của vườn quốc gia Xuân Sơn giai đoạn
VQG Xuân Sơn có nhiều tiềm năng lớn để phát triển loại hình du lịch này
Du khách đến đây sẽ cảm nhận được vẻ tự nhiên hoang sơ với thời tiết thay đổi 4
Hình 2.14: Hang Na