1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn tài nguyên du lịch vật thể ở hà nam ninh và việc khai thác cho hoạt động du lịch

79 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 39,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu, đánh giá các lĩnh vực ấy và trên cơ sở hiện có của tài nguyên, điều kiện cụ thể của địa phương và hướng tới tương lai, trước yêu cầu ngày một cao của hoạt động du lịch đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN■ ■

NGUỒN TÀI NGUYÊN DU LỊCH VẬT THỂ ở HÀ ■ NAM - NINH

VÀ VIỆC KHAI THÁC CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

Mã số: QX 9 8 - 0 1

Họ và tên chủ trì: TS Đinh Trung Kiên

Cán bộ phối hợp NC: Nguyễn Quang Vinh

OAi f c c Q U Ò C G i a h á U Ó I ỉ

TRỈỈH3TÃM THÕNGTIN.THƯ ViẺN

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

A LỜ I MỞ ĐẨU: 4

B NỘI DUNG CHÍNH 7 I Hà - Nam - Ninh và nguồn tài nguyên du lịch vật th ể: 7

1.1 Đất và người ở Hà - Nam - Ninh: 7

1.2 Tài nguyên du lỉch vật thể ở Hà Nam Ninh: 9

1.2.1 Tài nguyên du lịch vật thểỞHà'Nam: 9

1.2.2 Tài nguyên du lịch vật thể ỏ Nam Định: 17

1.2.3 Tài nguyền du lịch vật thể ỏ Ninh Bình: 29

II Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch ở Hà - Nam - Ninh 45 11.1 Hiện trạng khai thác tài nguyên du lich vật thể ở Hà Nam 45 11.2 Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch vật thể ở Nam Định 48 11.3 Hiện trạng khai thác tài nguyên du lich vật thể ở Ninh Bình 50 11.4 Những dich vụ du lịch tại Hà - Nam - Ninh 54

III Định hướng và giải pháp khai thác tài nguyên du lịch vật thể ở H à - Nam - N inh 58

111.1 Định hướng khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch vật thể ở Hà - Nam - Ninh 58

111.2 Những giải pháp nhằm khai thác tài nguyên du lịch vật thể ở Hà - Nam - Ninh có hiệu quả: 62

c K ẾT LUẬN 75

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 3

A LỜ I MỞ ĐẦU:

Tài nguyên du lịch - vốn quý giá của đất nước, của các địa phương - vừa là “tặng phẩm” của tự nhiên với các danh thắng, với thời tiết, khí hậu, cảnh quan thuận lợi, vừa là sản phẩm của trí tuệ, sức sáng tạo, sức lao động bền bỉ của con người qua các thế hệ được bảo tồn, phát triển, tổn tạo Nguồn tài nguyên ấy phân bố không đều ở các vùng, các địa phương Song, dầu có được nguồn tài nguyên này (cả hữu thể và vô thể) việc khai thác nó cho các hoạt động kinh doanh du lịch là rất quan trọng Đánh giá nguồn tài nguyên, đầu tư để khai thác có hiệu quả luôn là một đòi hỏi lớn của các địa phương có tài nguyên ấy và cũng là của các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch

Ba tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình thường được gọi vắn tắt là vùng Hà - Nam - Ninh ở trung tâm đổng bằng Bắc Bộ là một trong những vùng có nguồn tài nguyên du lịch khá phong phú Là vùng đất có núi rừng, đồng bằng và cả bờ biển, có sông suối, thung lũng, hang động, có cảnh quan khá đa dạng, Hà - Nam - Ninh còn có một lịch sử văn hoá truyền thống lâu đòi Điều đó được thể hiện các di sản văn hoá hiện được lưu giữ cho tới nay, từ các lễ hội truyền thống, các lĩnh vực của văn hoá dân gian cho tới các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam

Nhưng, cho tới nay, việc nghiên cứu để khai thác nguồn tài nguyên quý giá ấy, nói chung, vẫn thiếu một sự đánh giá tổng thể và đầy đủ cả về giá trị tài nguyên, cả về hiện trạng của các hoạt động kinh doanh du lịch trên phạm vi cả 3 tỉnh cận kề nhau 'và từng là một tỉnh hợp nhất Việc nghiên cứu, đánh giá các lĩnh vực ấy và trên cơ sở hiện có của tài nguyên, điều kiện cụ thể của địa phương và hướng tới tương lai, trước yêu cầu ngày một cao của hoạt động du lịch để đặt ra những giải pháp tổng thể và khả thi cho hoạt động du lịch trở nên rất cần thiết Các để tài nghiên cứu khoa học vế lĩnh vực này còn chưa có hoặc chỉ mới nghiên cứu một địa phương

cụ thể, một lĩnh vực nhất định như quản lý tài nguyên, loại hình dịch vụ du lịch Đó là những lý do chủ yếu cho thấy tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu khoa học này

Trang 4

Đề tài nghiên cứu khoa học này chưa thể có điều kiện nghiên cứu toàn diện nguồn tài nguyên du lịch của Hà - Nam - Ninh (điều này đòi hỏi một đề tài khác có quy mô, thời gian lớn hơn) mà trong giói hạn chỉ nghiên cứu những tài nguyên du lịch hữu thể nổi bật Đó là các tài nguyên

tự nhiên: hang động, thắng cảnh và quan trọng hơn là các di tích lịch sử văn hoá như danh lam, đền miếu, lăng tẩm, nhà thời, tháp mộ từ quá khứ đến hiện trạng của nó ở 3 tỉnh này V iệc nghiên cứu, đánh giá giá trị của tài nguyên du lịch để từ đó tìm hiểu thực trạng của nguồn tài nguyên này trong quá trình khai thác cho hoạt động du lịch ở các địa phương là giới hạn của đề tài Cũng từ kết quả nghiên cứu này, tác giả đề xuất những giải pháp trước mắt và những giải pháp lâụ dài nhằm khai thác có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên này và còn nhằm khai thác các tiềm năng khác vốn có của các địa phương trên vào hoạt động du lịch

Thực hiện đề tài này, tác giả có may mắn được kế thừa nguồn tư liệu, tài liệu khá phong phú của các cơ quan nghiên cứu văn hoá, du lịch của các tác giả xưa và nay Nguồn tư liệu, tài liệu này sau khi chọn lựa được sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu đề tài, đặc biệt là việc đánh giá các giá trị văn hoá - lịch sử của các di tích và khả năng khai thác các giá trị ấy Tác giả cũng đã dành thời gian, công sức thực hiện các chuyến khảo sát thực tế tại các địa phương nhằm đối chiếu tài liệu và thực trạng của tài nguyên, thực trạng của việc khai thác, tạo sản phẩm du lịch ở các địa phương này, tức là khảo sát cả các dịch vụ du lịch hiện có tại Hà - Nam - Ninh, từ cơ sở vật chất, kỹ thuật cho tới dội ngũ cán bộ công nhân viên đang hoạt động kinh doanh Như vậy, phương pháp nghiên cứu là sự kết hợp của các phương pháp thống kê, khảo tả, định lượng, định tính, so sánh, đối chiếu Các phương pháp này bổ sung cho nhau để có thể đánh giá, phân tích rút ra những kết luận chính xác, có cơ sở khoa học và thực tiễn

Đề tài nghiên cứu khoa học này trước hết nhằm cung cấp cho Hà - Nam - Ninh những cứ liệu có sức thuyết phục để có cơ sở đầu tư cho các hoạt động khai thác tài nguyên du lịch vốn có

Trang 5

B NỘI DUNG CHÍNH

I Hà - Nam - Ninh và nguồn tài nguyên du lịch vật thể:

1.1 Đất và người ở Hà - Nam - Ninh:

Ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình nằm sát nhau bên hữu ngạn sông Hồng, đồng bằng Bắc Bộ, gọi chung là vùng Hà - Nam - Ninh Với diện tích 3864 km2 vùng đất này trải dài từ Bắc xuống Nam theo trục Quốc lộ 1A, giáp với Hà Tây (phía Bắc) và Thanh Hoá (phía Nam) từ Đông sang Tây (bờ biển Nam Đinh - Ninh Bình) kề cận với Hoà Bình, Thanh Hoá Dải núi, rừng, đồi ở phía Tây Hà Nam, Ninh Bình vói những dãy riúi đá vôi chạy dọc kéo từ Hà Tâ.y, Hoà Bình và vào miền Tây Thanh Hoá cùng với những thung lũng, đổi thấp đã tạo cho vùng này địa hình tự nhiên khá ngoặn mục Nhiều suối, thác nước bắt nguồn từ dải núi rừng này

đổ về các sông, cùng với các hang động lớn nhỏ tạo cho cảnh quan sự kỳ thú Đây cũng là nơi hình thành và tồn tại nhiều nông trường trồng cây ăn quả, cây công nghiệp Vườn Quốc gia Cúc Phương với diện tích hơn 22.000 ha có tới 2/3 diện tích nằm trên đất Nho Quan - Ninh Bình

Những dòng sông chảy qua Hà - Nam - Ninh là sông Hồng, sông Đáy, sông Châu, sông Ninh Cơ, sông Hoàng Long, sông Vân bao đòi đã bồi đắp những đồng bằng khá rộng và phì nhiêu Hà - Nam - Ninh là một trong những vùng có sự phát triển nông nghiệp như một mũi nhọn kinh tế của đồng bằng Bắc bộ Trên vùng đồng bằng ấy là những xóm làng lâu đời, nơi quần tụ của cả cộng đồng người Việt (Kinh) trải bao biến động, thăng trầm của lịch sử nay vẫn bình yên và ngày một khởi sắc Những làng quê ấy còn lưu giữ bao giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc như những tài nguyên du lịch đang đợi được đánh thức phục vụ cho con người Đây cũng

là vùng có hình thành đường giao thông ổn định và khá vững chắc, từ Quốc lộ 1A, Quốc lộ 21, Quốc lộ 10 cho tới các đường liên huyện, liên xã tới từng thôn xóm Lợi thế ấy đã làm thay đổi cuộc sống, thay đổi bộ mặt vùng quê Hà - Nam - Ninh Thành phố Nam Định cùng các thị xã Phủ Lý,

Trang 6

Ninh Bình, Tam Điệp là những trung tâm hành chính kinh tế, văn hoá quan trọng và cũng tập trung cơ sở hạ tầng cho kinh tế - xã hội nói chung và cho

du lịch nói riêng Hà - Nam - Ninh còn có dải bờ biển khá dài từ Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam Định) tới Kim Sơn (Ninh Bình) và bao thế hệ ngư dân đã sinh tồn, phát triển

Nhìn tổng quát, Hà - Nam - Ninh là vùng đất có địa lý cảnh quan đa dạng với núi rừng, đồng bằng và bờ biển Địa lý cảnh quan ấy là điều kiện rất quan trọng cho Hà - Nam - Ninh phát triển kinh tế đa ngành Tuy nhiên, đến nay những ngành kinh tế chính của Hà - Nam - Ninh vẫn là nông nghiệp và ngư nghiệp Công nghiệp và lâm nghiệp chưa phải là thế mạnh của Hà - Nam - Ninh dù ở đó có Liên hiệp dệt - sợi Nam Định, Nhiệt điện Ninh Bình, X i măng Bút Sơn

Tiềm năng kinh tế khá lớn, Hà - Nam - Ninh còn có lợi thế quan trọng là con người qua bao thế hệ cùng bề dày truyền thống lịch sử vẻ vang

Hà - Nam - Ninh xưa từng là nơi quần cư, tụ cư của người Việt cổ Những hiện vật khảo cổ học tìm được ở Lạt Sơn (Kim Bảng - Hà Nam) Động Người xưa (rừng Cúc Phương - Ninh Bình) còn chứng tỏ người nguyên thuỷ đã có mặt trên mảnh đất này

Trong suốt chiều dài lịch sử từ thời Văn Lang - Âu Lạc cho tới hàng chục thế kỷ sau, trải qua bao thăng trầm, lịch sử đã ghi nhận bề dày văn hoá truyền thống ở mảnh đất này v ố n là vùng văn hoá xứ Nam xưa, Hà - Nam - Ninh đã trở thành một trong những chiếc nôi lớn của những thành tựu văn hoá được hình thành, phát triển và bảo tồn qua chiều dài của thời gian Những chiến công của dân tộc trong xây dựng, mở mang đất nước, trong các cuộc đấu tranh kiên cường chống ngoại xâm đều có đóng góp của các thế hệ người dân nơi đây *

Chiều dài lịch sử, bề dày văn hoá truyền thống chính là lợi thế, là nền tảng quan trọng cho Hà - Nam - Ninh trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá của hiện tại và tương lai

Trang 7

Cũng từ điều kiện địa lý cảnh quan, con người, lịch sử và văn hoá,

Hà - Nam - Ninh có nguồn tài nguyên du lịch khá phong phú Có thể thấy

ở đây tài nguyên du lịch tự nhiên đa dạng: núi rừng, hổ đầm, sông suối, đồng bằng và bờ biển với khí hậu theo mùa vụ cho khai thác Có thể thấy ở đây tài nguyên du lịch nhân văn cả vật thể và phi vật thể (hữu thể và vô thể): Các di tích lịch sử văn hoá còn tồn tại khá nhiều ở cả ba tỉnh, các làng quê, làng nghề truyền thống, các món đặc sản, các công trình kiến trúc - mỹ thuật khá nổi tiếng, các làn điệu dân ca, sân khấu truyền thống lưu truyển trong dân gian, các phong tục tập quán đặc sắc mang dấu ấn của địa phương Nguồn tài nguyên đó không phải tổn tại mãi mãi mà đang hoặc hư hại, biến đổi, hoặc mất mát dần trong khi việc khai thác chúng chưa nhiều và thậm chí có tài nguyên du lịch chưa được khai thác

1.2 Tài nguyên du lich vật thể ở Hà Nam Ninh:

1.2.1 Tài nguyên du lịch vật thể ở Hà Nam:

Địa lý cảnh quan đa dạng đã tạo cho Hà - Nam - Ninh những tài nguyên du lịch có giá trị, từng nổi tiếng qua thời gian

Nếu lấy Hà Nội làm điểm xuất phát của các đoàn khách nói chung theo tuyến Hà - Nam - Ninh, điểm đến đầu tiên là Hà Nam Là một tỉnh đồng bằng có một phần núi rừng ở’ Kim Bảng, Thanh Liêm, Hà Nam không có nhiều danh thắng nổi tiếng như Ninh Bình, Nam Định Song, ở đây cũng có thể tìm thấy những tài nguyên tự nhiên hoặc đang được khai thác hoặc còn là tiềm năng Và, hầu hết các tài nguyên này đều gắn với tài nguyên nhân văn làm tăng sức hấp dẫn với khách, mở ra khả năng khai thác du lịch khá hiệu quả

Có thể kể đến những tài nguyên du lịch vật thể như sau:

© Chùa và núi Đọi Sơn :

Theo Quốc lộ 1A từ Hà Nội tới thị trấn Đổng Văn cách Hà Nội 46

km rẽ trái 14 km, chúng ta sẽ tới được danh thắng này

Trang 8

Đọi Sem là một núi đất cao 80m nổi lên giữa vùng đồng ruộng, làng mạc trù phú của xã Đọi Sơn (Duy Tiên, Hà Nam) Ở phía Đông, dòng Châu giang êm ả góp vào bức tranh làng thanh bình càng tạo cho Đọi Sơn

vẻ uỷ nghi, độc đáo Đọi Sơn, xét theo thế đất, các nhà địa lý xưa cho là nằm trong thế đất Rồng, đất sinh thành của các bậc đế vương Ở đây đã lưu truyền câu thơ:

“Đầu gối núi Đọi chân dọi Tuần Vường phát tích đế vương lưu truyền vạn đại”

Đọi Son cũng là nơi nhiều vua chúa, quân tử, thi nhân từng đến du ngoạn Dải đồng bằng ven núi được vua Lê Đại Hành, gần nghìn năm trước, chọn làm nơi làm lễ cày ruộng ¿ịch điền - mở đầu cho một năm sản xuất nông nghiệp của cả nước Thế kỷ X V , ông vua nổi tiếng Lê Thánh Tông - người đứng đầu phái “tao đàn nhị thập bát tú” đã đến đây và đã viết:

“Lên cao tầm mắt nhìn bao quát Muôn dặm cây xanh mịt dải mờ” Đọi Sơn cũng từng được đón tiếp Nguyễn Phi Khanh (thân phụ Nguyễn Trãi), Nguyễn Khuyến sau này Nhiều thế kỷ trước, các vua nhà

Lý, nhà Trần, nhà Lê từng có mặt, ỉên núi ngắm cảnh và lễ chùa

■ V ị trí độc đáo của Đọi Sơn đã được vua tôi nhà Lý cùng với cư dân địa phương cho xây nên một ngôi chùa nổi tiếng vào đầu thế kỷ x n Tên chữ của chùa là Diên Linh tự nhưng thường được gọi theo tên núi: Chùa Đọi Sơn Toạ lạc trên đỉnh núi, có bậc xây rộng rãi từ dưới lên lại kề cận trục giao thông thuỷ bộ, chùa Đọi Sơn cùng núi Đọi Sơn dễ dàng và thuận tiện cho bao người hành hương, thăm viếng Vua Lý Nhân Tông cho xây chùa và cả tháp Sùng Thiện Diên Linh (cầu thiện, cầu thọ) trong 4 năm (1118 - 1121) Xưa kia, cây tháp làm trung tâm, các công trình như cung

tứ giác, khám vuông, nhà bái đường, chùa chính với hậu cung, tam bảo, tả

Trang 9

vu, hữu vu Riêng cây tháp được xây cao 13 tầng theo hình vuông 4 mặt, trừ tầng đế và hai tầng trên cùng không trổ cửa, còn tất cả các tầng đểu có cửa “nghinh phong” và có treo chuông trong các tầng tháp để gió thổi va vào nhau tạo nên âm thanh réo rắt Thân tháp được trang trí mỹ thuật công phu hình tượng các tiên đồng, ngọc nữ, thần điểu, rồng phượng hoặc kết hợp tượng người và rồng, người và chim thần Vì vậy, cây tháp cao trên đỉnh núi này như một nhóm tượng đài sừng sững theo phong cách đương thời.

Sừng sữrig vươn cao cùng núi Đọi hơn 300 năm, chùa - tháp Đọi Sơn

là nơi du ngoạn, hành lễ của vua quan, dân chúng Đại Việt Đầu thế kỷ

X V , giặc Minh đô hộ nước ta, chúng đã phá huỷ hoàn toàn chùa - tháp, chỉ còn trơ nền trên núi hoang Mãi tới 170 năm sau, nhân dân mới quyên góp tiền của xây lại chùa trên nền cũ Thời Nguyễn, chùa được mở rộng, tôn tạo nhiều lần cả trong kiến trúc và điêu khắc Lúc có quy mô bề thế, chùa Đọi có hon 100 gian

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bọn phản động lại đốt phá chùa làm nó bị hư hại nặng Sau hoà bình lập lại, nhân dân địa phương đã sửa chữa, tôn tạo lại và đến năm 1958, những công trình chính của chùa đã hoàn thành Ngôi chùa lại uy nghi trên Đọi sơn lộng gió

Hiện nay, chùa được dựng theo kiểu chữ đinh (kiểu chuôi vồ) gồm 7 gian bái đường và 3 gian thượng điện (hậu cung) với các vì kèo theo kiểu chổng đấu giá chiêng, hệ thống cột có đường kính trung bình 30cm chân được kê đá cổ bồng Các vì kèo, xà, hoành được đẽo bào vuông Các cánh cửa theo kiểu hốc bàn bằng gỗ lim lắp kín mặt tiền bái đường Mái chùa lợp ngói vẩy cá Ngoài ra còn có nhà tổ gồm 5 gian, cột đá vuông; tăng phòng, nhà khách Các công trình này được kết nối nhau theo hình chữ u

Phía -sau chùa có nhiều mộ tháp của các vị sư trụ trì đã nhập diệt niết bàn Gần đó còn có nơi thờ mẫu

Chùa Đọi Sơn dù bị tàn phá qua bao biến động trong một thời gian dài nhưng đến nay vẫn còn lưu giữ những hiện vật có giá trị:

Trang 10

Tấm bia “Sùng Thiện Diên Lĩnh’' (tên đầy đủ là “Đại Việt Quốc dương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh”) cao 2,88m , rộng l,40m Chân bia đá chạm hình sóng nước, ở giữa là hình chạm của hai đôi rồng đội lên

Ở hai mặt bia đều khắc hình rồng chẩu, lá để Diềm bia chạm 18 ô quả chấm và tong từng ô có chạm rồng Những hình rồng mềm mại uốn lượn đặc trưng cho mỹ thuật thời Lý Bệ bia hình chữ nhật dài 2,4m , rộng 1,8m cao 0,5m tạo hình con rùa Đáy bệ hình chữ nhật, phía trên chạm hai lớp sóng thuỷ ba Hình hai rồng chạm đuôi xoắn nhau thành 4 khúc khép kín

Cổ rồng đã bị vỡ c ả hai mặt bia đều được khắc chữ Hán Một mặt là bài của Hình bộ Thượng thư Nguyễn Công Bật soạn năm 1121 nội dung phản ánh sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Lý Nhân Tông - Lý Thường Kiệt

và đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc ta thời đó Lời văn hùng tráng, sinh động Đến nay, chữ còn khá rõ Mặt sau bia được khắc bài thơ Lê Thánh Tông viết (năm 1586 mới khắc) và việc sửa chữa chùa vào thời Mạc (1591) Đây là tấm bia quý còn giữ được từ thời Lý đến nay Tấm bia có giá trị nhiều mặt và có sức hấp dẫn khách - nhất là những khách có học vấn cao

Sáu pho tượng Kim Cương (trong tổng số 8 pho) còn giữ được dù có pho tượng không hoàn chỉnh, cũng là di vật hiếm quý Bởi lẽ trong tất cả các chùa thời Lý có tạc tượng Kim Cương thì số tượng Kim Cương giữ được ở chùa Đọi Sơn là nhiều nhất ,và hoàn chỉnh hơn cả Theo truyền thuyết đãy là các thần tượng trên tròi theo hộ vệ đức Phật Các tượng có chiều cao l,6m được mặc võ phục, gươm chống trước bụng Tất cả đều bằng đá khối, các hoa văn trên tượng, áo giáp, gươm đều đặc trưng cho điêu khắc thời Lý

Tượng đầu người mình chim (chim thần Kinair) có nguồn gốc từ tượng thần của Champa còn được giữ lại ở chùa Tượng đá cao 40cm có hình mặt người và nửa thân trên, nửa thân dưới hình chim với chân có móng, các ỉông đuôi, lông cánh rất sinh động Trên đầu tượng có tóc tết thành hình cầu, có một vành khăn từ trán rủ xuống ngang vai ở hai cánh chim có khắc chìm những đường cong và bện trong là những đường xoáy trôn ốc cách điệu hình hoa lá chạm nổi, hai tay tượng đang đánh vào bịt

Trang 11

phía trước Loại tượng này thường được dùng làm vật trang trí trên các đầu cột trong kiến trúc thời Lý.

Ngoài ra, những di vật còn lại từ thời Lý như các viên gạch nung có hình vũ nữ, hình rồng còn đây đó.’ Tượng đổng Phạt Di Lặc được đúc năm 1864 Tất cả các hiện vật này đã làm tăng giá trị của di tích và giá trị tài nguyên đu lịch nhân văn

© Đ ền T rú c và N gũ Đ ộ n g So n :

Đến thị xã Phủ Lý, có 2 con đường: thuỷ (theo sông Đáy ngược Bắc), bộ (theo Quốc lộ 21) chừng 9 km là tới một quả núi độc lập, đơn lẻ nhô ra sát bờ sông và cũng sát Quốc lộ Đó là núi Cuốn (Cuốn Sơn) thuộc thôn Quyển Sơn (Thi Sơn - Kim Bảng - Hà Nam) Thủa xưa, núi có tên Canh Dịch, cùng tên với làng Canh Dịch ở đó Theo truyền thuyết năm

1069, Lý Thường Kiệt đưa quân thuỷ theo sông Đáy đi chinh chiến phương Nam, qua đây gặp gió phải ghé núi tránh Một cơn cuồng phong

đã cuốn lá cờ đại lên đỉnh núi Lý Thường Kiệt cho quân lên bờ làm lễ tế trời đất và đặt tên núi là Cuốn Sơn và làng Cuốn Sơn Sau chiến thắng, ông cho khao thưởng quân sĩ và chọn các cô gái làng có thanh, sắc đến hát múa

ca mừng thắng lợi và cuộc sống thanh bình tại đây Điệu múa hát ấy sau này được gọi là “hát dậm” Đến cuối thời Trần, dân địa phương đã lập đền thờ Lý Thường Kiệt nơi này, có rừng Trúc bạt ngàn Vì vậy đền được gọi nôm na là Đền Trúc, núi được giữ gìn và gọi luôn là núi Cấm, làng Cuốn Sơn được gọi chệch thành Quyển Sơn Qua thời gian và biến động, đền được tu sửa nhiều lần cho tới đầu thế kỷ này và giữ nguyên trạng kiến trúc cho đến nay Đền được xây theo kiểu, chữ Đinh (chuôi vồ) gồm bái đường

5 gian với hậu cung Hệ thống cột, kèo, rui, mè đều bằng gỗ lim Các vì kèo có mô tip biến thể của kiểu giá chiêng, chổng rường con nhị - xuất hiện từ cuối thế kỷ X V II trong xu hướng mở rộng lòng công trình bằng việc đưa mái lên cao và dần dần trở thành phổ biến vào những năm cuối thế kỷ X IX Hệ thống cánh cửa đều có chạm thuỷ với để tài tứ quí khá tinh xảo Mái đền lợp ngói vẩy cá Đền mở hướng ra sông Đáy, có sân, có tam quan, trụ biểu Quanh đển vẫn còn những cây trúc xanh óng ả vàng bạc Tất cả tạo nên bức tranh thuỷ mặc trữ tình

Trang 12

Đền Trúc gắn với Núi Cấm từ bao thế kỷ Nhờ huyển thoại và ý thức nhân dân nên núi còn giữ được thảm thực vật phong phú Trên đỉnh núi còn 1 tảng đá lớn, phẳng được gọi là bàn cờ tiên, cạnh đó có hố trũng gọi

là huyệt đế vương Từ đỉnh Cấm Sơn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vùng lai sơn địa với núi, đồi, ruộng đồng, sông nước

Các tao nhân mặc khách cũng từng du lãm nơi đây và để lại nhiều áng văn thơ: Tiến sĩ Nguyễn Thứ Yên (1775), Tiến sĩ Ngô Thế Vinh (1829), Tĩnh Đô Vương Trinh Sâm, Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác

Trong lòng núi, người ta phát hiện (từ 1990) hệ thống 5 hang động nối liền nhau với chiều sâu hơn trăm mét được đặt tên là Ngũ Động Sơn cửa động hướng ra sông Đáy ở phía Đông - Nam Đây là loại hang động Kast đá vôi điển hình Ở tất cả các động đều có những khối thanh nhũ kỳ

ảo tạo những dáng hình dễ cho con người liên tưởng tơí huyền thoại, cổ tích: con rùa, sư tử, đại bàng, bầu sữa mẹ, các trống đá, mõ đá Trong các động, động số 4 rộng rãi, có sức chứa hàng trăm người và một giếng nước trong vắt, độ sâu vừa phải

Ngũ Động Sơn cùng với Núi Cấm, Đền Trúc, Sông Đáy tạo sức cuốn hút mạnh với du khách khi được quầng cáo, được tổ chức khai thác tốt hơn Đây là tài nguyên tự nhiên kết hợp với tài nguyên nhân văn quí Hà Nam

(D Từ đường nhà thơ Nguyễn Khuyến:

Cũng từ thị xã Phủ Lý theo Quốc lộ 21 về phía Nam Định, cách thị

xã 13 km rẽ trái lkm , khách tới làng V ị Hạ (Trung Lương - Bình Lục - Hà Nam) quanh co theo đường làng lát gạch, khóm trúc hai bên cùng với các

ao bèo xanh trong, tới cổng gạch cổ kính có 3 chữ Hán “Môn tử môn” (cửa

ra vào của học trò) bên trong là khuộn viên, có từ đường nhà thơ Nguyễn Khuyến Ông sống 25 năm cuối đời tại đây Sinh ngày 15 tháng 2 năm

1835 tại Ý Yên (Nam Định) quê mẹ, dạy học và học, tới năm 1871 ông đỗ đầu cả thi hội và thi đình nên được gọi là “tam nguyên” (tính cả khoa thi

1864 ông đỗ cử nhân đầu trường Hà Nội) Sau khi bị giáng quan (1878)

Trang 13

ông về Yên Đổ (Trương Lương ngày nay) sinh sống cho tới ngày 5 tháng 2 năm 1909 Tại đây, ông dựng nên ngôi nhà và tận dụng khung, cột của ngôi nhà ở Cửa quán mà nhân dân và học trò trước đây đã dựng cho ông.

Ngôi nhà tranh 5 gian, phên nứa nằm giữa vườn cây, rau, ao cá và dậu tre trúc Sau đó con trai cả ông là Nguyễn Hoan đã mua thêm đất, vượt thổ dựng nhà tế đường với 7 gian tiến đề, 3 gian hậu bằng gỗ lim Sau khi nhà thơ qua đời một thời gian, 7 gian tiền đề bị bán đi nay chỉ còn lại 3 gian từ đường thờ Nguyễn Khuyến

Đó là 3 gian nhà ngói nhỏ xinh đon giản và bình dị như cuộc đời nhà thơ Trong từ đường đặt hương án thờ cùng với những đồ vật quý gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cuả nhà thơ: tấm ảnh chân dung với áo dài đen, khăn lượt trên đầu, tay mang chén hạt mít; hai hòm sách và một ống quyển chứa những bài văn lúc trẻ nhà thơ đã dùi mài sớm hôm; hai biểu

“ân tứ vinh qui” do vua Tự Đức ban; bức cuốn thư ghi bài thơ của tién sĩ Dương Khuê mừng Nguyễn Khuyến; đôi câu đối của tổng đốc Ninh Thái làm năm nhâm thân (1872); chiếc sập gụ mà nhà thơ thường cùng bạn bè dùng trà, ngâm vịnh Điều quan trọng là những di vật cùng với từ đường, cùng với ngõ trúc, ao làng, cánh bèo lay động trong làng quê ấy đã trở nên thiêng liêng với người Việt Nam và trỏ thành tài nguyên du lịch nhân văn

có giá trị

@ Kẽm Trống:

Được gọi cho khoảng trống giữa hai dãy núi đá vôi mà dòng sông Đáy chảy qua, tạo nên cảnh trời nước, núi non thơ mộng Những ngọn núi được gọi tên theo trí tưởng tượng của con người: Núi Bài Thơ, Núi Bồng, Núi Vọng, Núi Thòng Lọng, Núi Rồng, núi Rùa, núi c ổ Động, núi Động Xuyên, núi Trinh Tiết cận kề hai bờ sồng đã tăng vẻ đẹp cho Kẽm Trống,

ở đây còn nhiều hang động đẹp hình thành từ núi đá kiểu địa hình Kast (đá vôi thẩm thấu nước) như hang Dơi, hang Luồn, hang Nứt Chính sông, nước, hang động này đã được các thi nhân mặc khách ngợi ca từ những thế

kỷ trước

Trang 14

Kẽm Trống nổi tiếng với vẻ đẹp kỳ ảo của nó theo mỗi mùa mà đẹp nhất là cuối hạ, đầu thu ở đây còn lưu truyền huyền thoại về người phụ nữ trinh tiết đã để đời sau lập đền thờ, về ý tứ hóm hỉnh của bài thơ Hồ Xuân Hương mô tả Kẽm Trống mà vua Minh Mạng cho đào đoạn sông bên cạnh cùng các huyền thoại khác .

Kẽm Trống còn là nơi trú quân, cất giữ binh lương của ta trong kháng chiến chống Pháp

Kẽm Trống, nơi dòng sông Đáy chảy qua cầu Đoan VT, gianh giới của 3 huyện thuộc 3 tỉnh Hà - Nam - Ninh vẫn có giá trị tài nguyên tự nhiên và cả nhân văn cần được khai thác trong hoạt động du lịch Danh thắng này thuộc xã Thanh Hải (Thanh Liêm - Hà Nam)

(D Đền Trần Thương:

Tên đền cũng là tên làng Trần Thương ở xã Nhân Đạo (Lý Nhân -

Hà Nam) Tên làng gắn với huyền thoại về danh tướng Trần Quốc Tuấn chống quân Nguyên Mông ở thế kỷ X III Thấy thế đất đẹp ông cho đặt kho lương, do đó làng có tên Trần Thương (kho lương nhà Trần) Khi trở lại nơi đây Trần Quốc Tuấn cho cắm “sinh phần” (phần mộ lúc còn sống) Sau khi ông qua đời, dân địa phương dựng đền ngay trên nền kho lương cũ để ghi công và tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Trải qua thời gian, đền được tôn tạo nhiều lần Thời Nguyễn, đền được xây lại nhưng vẫn còn giữ lại được mái ngói toà hậu cung là loại ngói ống của thời Trần

Đền Trần Thương hiện nay có kiểu kiến trúc chữ tam ( ĩ ) toà giải

vũ hai bên đều có tới 19 gian Đền được dựng bằng những hàng cột lim to chắc, Các đầu bẩy của xà ngang, xà dọc được chạm khắc hình “cúc hoá rồng” bằng nghệ thuật chạm bong kênh của nghệ nhân xưa

Trong đền chú ý nhất là bộ khám lớn được chạm khắc công phu thể hiện chân dung Trần Quốc Tuấn và pho tượng đồng tạc chữ: “Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương” Tượng được tạc tư thế ngồi có tỷ lệ cân đối, gương mặt uy nghiêm lẫm liệt Ngoài ra các bức hoành phi, câu đối, đại tự còn giữ được đều có niên đại trên dưới 100 năm nay Trên tam quan chùa còn có chuông đồng được đúc vào thời Lê

Trang 15

Toạ lạc trong khung cảnh ngoạn mục hài hoà của thiên nhiên và làng quê với cây đa, giếng nước, ở đền Trần Thương có tới 5 giếng nước tạo thế “hình nhân bái tướng” Tất cả đã tạo nến một di tích lịch sử văn hoá quan trọng của Hà Nam và là một tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị ở

Hà Nam, ở vùng Hà Nam Ninh

Ngoài những tài nguyên du lịch nổi bật ở Hà Nam như trên còn những tài nguyên du lịch khác có thể khai thác cho du lịch như đình Phương Thượng, đình Cao (Kim Bảng), đình Cao Đài, đình An Thái, đình Triểu Hội (Bình Lục), đình Văn X á, đển Bà Vũ, đình Đồng Lư (Lý Nhân), chùa Bạch Liên, chùa Khánh Long (Duy Tiên) là những di tích được xếp hạng và còn khá toàn vẹn

Những di tích khác như chùa Tiên, đền Thánh ở Núi Non với văn hoá Liễu Đôi, đền Trinh Tiết (còn gọi là chùa), khu mộ tổ của Lê Đại Hành Thanh Liêm cùng với các làng nghề truyền thống: dệt lụa Nha Xá, trống Đọi Tam, thêu ren Thanh Hà vẫn đang nổi tiếng đều được coi là tài nguyên du lịch có khả năng khai thác ở Hà Nam

Các tài nguyên khác như sông nước, núi non, hang động, hồ đầm

Hà Nam dù không phải đặc sắc như một số vùng quê khác ở V iệt Nam nhưng nếu được khai thác chắc chắrrhiệu quả của du lịch sẽ không nhỏ, đặc biệt là khi được kết hợp với các tài nguyên du lịch có giá trị khác

7.2.2 Tài nguyên du lịch vật thể ở Nam Định.

Vùng đổng bằng cận kề Thái Bình quê lúa, Ninh Bình núi non và bên bờ biẻn Đông này có địa hình khá bằng phẳng, cảnh quan không thật độc đáo, kỳ vĩ như nhiều nơi khác, Nam Định được biết đến như một miền quê mà các huyện nông nghiệp, ngư nghiệp với nhiều sông nước, bãi biển bao bọc lấy thành phố công nghiệp có ngành nổi nhất là dệt may Chính vì vậy, tài nguyên du lịch tự nhiên của Nam Định không nhiều và không thật hấp dẫn để khai thác du lịch, để tổ chức các loại hình du lịch khác nhau Song đây được coi là vùng đất khoa bảng, vùng đất ván hiến truyền thống, vùng đất có truyển thống lịch sử xây đựng và đấu tranh lâu dài kiên cường

Ị T ^ C T â M Ỉ K Ò K r ; t i n ì > i õ ' v i ệ n

Trang 16

và để lại những di tích lịch sử văn hoá, những làng nghề truyền thống như những tài nguyên du lịch nhân văn vật thể quý báu Những di tích ấy vừa

là chứng tích cho truyền thống vẻ vang của vùng đất, vừa góp phần làm giàu có cho Nam Đinh trong nhiều vị thế, trong đó có khả năng khai thác các hoạt động du lịch

Có thể kể đến các tài nguyên chủ yếu sau:

Đền Trần được xây dựng vào thời Lê trên nền cũ của điện Trùng Quang và Trùng Hoa Cho đến nay, khu đền có 2 công trình chính là đền Thiên Trường (đền Thượng) và đền Cố Tranh (đền Hạ) được xây dựng sát nhau Gần đó còn có nền cũ của chùa Trùng Quang (chùa bị dỡ đi chừng

40 năm trước) Đền Trần có diện tích khuôn viên chừng 8 ha, cao ráo theo hình “ngoạ long” (rồng nằm) xung quanh còn nhiều cây đại thụ Từ ngoài cửa ngũ môn, trên cổng chính có hai chữ “Trần miếu” bên trong, hồ nước trong có sen nở theo mùa gợi khung cảnh tĩnh lặng Qua hồ là một sân rộng có hai dãy giải vũ bao hai bên sân và đôi voi đá nằm phủ phục Tại

Trang 17

sân này đã diễn ra bao cuộc tế tự nghiêm trang và sôi động theo thời gian lịch sử.

Đển Thiên Trường thờ 14 bài vị của các vua Trần được xây dựng gổm nhà đại bái thiên hương cung đệ nhị và cung đệ nhất Đển Cố Trạch dựng, cạnh đó cũng có cách xây dựng mô phỏng đền Thiên Trường để thờ riêng Trần Quốc Tuấn và các con trai con rể của ông Hàng năm lễ hội đền Trần được tổ chức trọng thể từ 13 đến 16 tháng Giêng âm lịch Lễ hội thu hút rất đông khách hành hương trong và ngoài Nam Định

Cách khuôn viên đền Trần chừng 300 m về phía Tây, chùa Phổ Minh (còn gọi là chùa Tháp) được xây dựng khá bề thế từ thời Lý và được

mở rộng vào thời Trần Quy mô của chùa cho đến thế kỷ X V vẫn rất bề thế

và được coi là đại danh lam Chùa Phổ Minh hồi đó có lưu giữ một vạc đồng nặng trên 7 tấn, một trong “tứ đại khí” của Đại Việt xưa (cùng với Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng đồng chùa Quỳnh Lâm) Vạc đồng này đã bị quân Minh phá huỷ cùng các “đại khí” khác

Với thời gian, sự tàn phá, cho đến nay chùa được tu sửa nhiều lần và quy mô hẹp lại Nhưng, các di vật của chùa ở thòi Trần còn khá nhiều Chẳng hạn, trong khuôn viên của chùa còn tới 96 chân cột bằng đá tảng chạm hoa sen, nhiều đôi sóc tạc bằng đá ở trước nhà bái đường có hai đôi rồng đá thời Trần dù đôi rồng lớn ở đây đã bị cưa cổ phải thay vào 2 đầu rồng thời Nguyễn Điêu khắc gỗ đáng kể còn lại qua 7 thế kỷ là hai cánh cửa ở gian chính giữa với hình rồng điển hình của thời Trần và hoa văn sóng nước cùng hoa lá để, biểu tượng sự kết hợp quyền lực nhà vua và đạo phật, giữa vương quyền với thần quyền Chùa Phổ Minh hiện còn lưu giữ khoảng 50 trong tổng số 120 pho tượng mà chùa từng có Tấm bia đá lớn được khắc năm 1668 ghi lại khá chi tfết lịch sử của chùa đồng thời cũng là một công trình nghệ thuật có giá trị Kiến trúc kiểu “nội công ngoại quốc” của chùa hiện nay với tam quan, nhà bia bái đường, thiên hương, thượng điện, hành lang, nhà tổ đều hoà nhập khéo léo với toàn bộ cảnh quan và trở thành di tích có kiến trúc xưa còn giữ tương đối nguyên vẹn đến ngày nay

Trang 18

Song đáng kể nhất phải kể đến là tháp Phổ Minh, hiện có chiều cao 19,51m xây trên sân có cạnh 8,6m Toàn bộ cây tháp vươn cao như từ một bông sen đá Bệ tháp xây bằng đá, phần trên là một kiệu đá Mười ba tầng tháp xây chổng phái trên kiệu hoàn toàn bằng gạch thành nhị cấp uốn cong, thu nhỏ dần và kết thúc bằng một quả hồ lô ở tất cả các tầng đều có cửa ở 4 mặt theo kiểu cuốn tò vò Tổng cộng có tới 52 cửa tò vò Tất cả các phần bệ, cửa đều được chạm khắc khá tinh vi mà phổ biến là hoa cúc, hoa sen cách điệu sóng nước mây trời Một số cạnh ngoài cửa được trang trí hình -rồng hoặc hàng chữ “Hưng long thập tam niên” (năm Hưng long thứ mười ba 1305) Theo truyền thuyết, tháp được xây dựng có đặt 7 viên xá lỵ trong tổng số 21 viên sau khi thi hài Trần Nhân Tông được hoả táng (7 viên táng ở chùa Y ên tử, 7 viên táng ở chùa Phả Lại) So với nhiểu tháp chùa được xây dựng trước đây thì tháp Phổ Minh vừa cao hơn vừa nguyên vẹn hơn Do được xây dựng với kỹ thuật cao nên dù tháp có trọng lượng khoảng 700 tấn, đứng trên một tiết diện nhỏ khoảng 30 m2 trong vùng đồng bằng chiêm trũng nhưng vẫn sừng sững suốt 700 năm qua Đây là một di vật quý, một đối tượng chiêm ngưỡng quan trọng bậc nhất cho khách gần xa.

Đền Trần và chùa Phổ Minh là di tích lịch sử - văn hoá có giá trị nhất Nam Định và là tài nguyên du lịch đang và cần được khai thác cho

Trang 19

Phủ quay hướng Tây Nam nhìn về dãy núi Tiên Hương Qua cầu đá

có hổ sen rộng là tới sân và k ế đó là Phương Du Đó là toà nhà dàn hàng ngang hai tầng thấp, tách mái Các rưảng chạm khắc trên các cấu kiện rất hài hoà, thanh thoát thể hiện hình rồng, hình phượng Hồ sen kế tiếp được bao bọc bằng đá lục lăng Phủ chính có 4 cung: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ

tứ Ở cung đệ tứ tập trung các nghệ thuật chạm khắc tinh vi với các hình tượng: hổ phù, lân hỷ cầu, rồng phượng, vân án ở các bức cổn, mễ nách được chạm khắc hình tứ linh, tứ quý, ngũ phúc Trên các cuốn thư, câu đối, đại tự do các tiến sĩ, đốc học cúng tiến, có giá trị văn học, sử học Cung đệ nhị cũng được chạm trổ, trang hoàng khá lộng lẫy là nơi thờ bố, mẹ và chồng Mẫu Liễu Hạnh

Cung đệ nhất được coi là chính cung có một khám thờ lớn được khảm trai bề thế ở trong khám đặt 5 pho tượng được tạc từ thế kỷ X IX , tượng “Thánh phụ, thánh mẫu, tam toà thánh mẫu”

Các công trình bao quanh phủ còn có nhà bia, nhà khách, nhà kho tạo cho phủ kiểu kiến trúc “nội trùng thiền, ngoại chữ quốc” Tổng số các công trình ở phủ tới 19 toà nhà với 81 gian Đây thường được coi là phủ chính thu hút khách và nơi diễn ra lễ hội lớn hơn so với phủ Vân Cát

Phủ Vân Cát quay hướng Tây Bắc, cũng theo kiểu kiến trúc “nội trùng thiền, ngoài chữ quốc” và mặt trước là Ngọ Môn Do bị hư hại nhiều, hiện nay phủ Vân Cát còn lại 7 toà nhà với 30 gian lớn nhỏ Nhưng các hoa văn được thể hiện trên các cấu kiện gỗ vẫn là tứ linh, tứ quý rất tài nghệ Riêng Ngọ Môn được xây dựng'theo kiểu chồng diên ba tầng với các cột trụ, gác lâu, tường hoa bao quanh nhiều văn bia đặt dưới cổng Ngọ Môn

Cũng như phủ Tiên Hương, phủ Vân cát cũng có 4 lớp thờ được gọi

là 4 cung

Ngoài 2 phủ được coi là 2 di tích quan trọng nhất của Phủ Giày, còn các di tích khác cũng góp phần làm nên sự phong phú, hấp dẫn trong quần thể được coi là tài nguyên du lịch quý, điểm đến của du lịch Nam Định, du lịch Hà Nam Ninh và đồng bằng Bắc Bộ

Trang 20

Có thể kể đến lăng Bà Chúa Liễu được xây dựng vào năm 1938, bằng đá xanh Diện tích lăng là 625m 2 với 5 vòng vuông vắn, vòng ngoài cũng có độ dài 2 gian Các vòng trong ở những độ cao nông dần, tạo những mảng sân bậc thang bao quanh phần mộ Ở các vòng tường bao đền có cửa

từ 4 hướng Đông - Tây - Nam Bắc, trụ cổng bằng đá, trên đầu tạc hình nụ sen ở các vòng bao này, các mảng tường đều có chạm khắc công phu theo từng chủ đề, từng vị trí: chữ Thọ, chữ Vạn, cẩm quy, chấn song con tiện

Mộ bà chúa Liễu đặt trang trọng ở chính giữa, có hình bát giác với đường chỉ viền quanh có 88 núm như 88 bông hoa được coi như những

“bầu sữa mẹ” Đây cũng là nơi khách đến thường vào chiêm bái Trong lăng còn có 2 toà phương đăng cũng bằng đá, được xây cất công phu để đặt bàn thờ Bà Chúa Liễu cùng với văn hoa ngợi ca công đức của bà

Gần gũi với các di tích này, khách gần xa đến đây còn có thể vượt hàng trăm bậc đá lên đỉnh núi Tiên Hương để chiêm bái đền Thượng (còn được gọi là đền Mẫu Thượng Ngàn), ở từ đền có thể nhìn bao quát quần thể Phủ Giày và cảnh quan ngoại mục quanh vùng Ở gần đó, trên quả đồi nhỏ có ngôi chùa, cây tháp 14 tầng (dù không cao lắm) và cây Hương bằng

(D Chùa Cổ Lễ:

. Từ trung tâm thành phố Nam Định, qua sông Đáy theo Quốc lộ 21 chừng 15 km về phía Đông - Nam sẽ tới thị trấn c ổ Lễ - huyện lỵ của huyện Nam Trực Chùa c ổ Lễ đặt ở nơi này Đây là một di tích văn hoá ỉớn của Nam Định của xứ Nam xưa Tên chính của chùa là “Thần Quang tự” (chùa Thần Quang) nhưng do được xây dựng tại c ổ Lễ nên nhân dân thường gọi một cách rất quen thuộc là chùa c ổ Lễ

Trang 21

Chùa được hoà thượng Phạm Quang Trung cho xây dựng vào tháng

11 năm 1920 trên nền xưa của những ngôi chùa nhỏ được xây dựng lâu đời Khuôn viên của chùa khá vuông vức, có sông nhỏ và hồ bao quanh tạo nên cảnh quan hài hoà với vùng quê c ổ Lễ mà vẫn nổi bật lẽn, lôi cuốn khách hành hương

Chùa Cổ Lễ là một quần thể chùa, tháp hội quán, núi giả, sân gạch, cầu cổng và tường bao khép kín

Ngay trước cửa chùa là cây tháp rất cao và đổ sộ Tháp cao 32 m với

12 tầng và một tầng đế xây tám mặt ở tất cả các mặt đều đắp chữ Hán những câu kinh Phật Các cạnh tháp được đắp rồng Tầng 2 và tầng 3 của tháp được xây mái cong giả ngói ống Ở các tầng trên có đế đắp cánh sen Toàn bộ tháp đặt trên lưng rùa mà đầu rùa hướng thẳng vào chùa Trong lòng tháp có cột trụ lớn xung quanh xây vườn cuốn Bậc thang trong lòng tháp kéo dài tới đỉnh tháp có trổ các cửa ra ngoài Khách tham quan có thể đứng trên đó ngắm toàn bộ cảnh chùa và xung quanh

Qua chiếc cầu xây nhỏ, tới khu “Phật Giáo hội quán” Đó là hai đình lớn xây gạch từ 1936, trong phong trào “chấn hưng phật giáo” Kiến trúc hội quán có mái vòm cao, nóc mái đắp đầu đao và 4 góc mái đắp mặt

hổ phù Bên trong hội quán có ngôi đềri nhỏ 3 gian để thờ Trần Quốc Tuấn

và hai cha con Đào Sư Tích và Đào Toàn Phú đỗ bảng nhãn và đỗ tiến sĩ thế kỷ thứ X IV Hai cha con đều người làng c ổ Lễ Đó là niềm tự hào lớn của ngưòi dân địa phương nên năm 1856 tiến sĩ Ngô Thế Vinh đã soạn văn bia ghi lại văn nghiệp của cha con họ Đào Văn bia được dựng trước đền

Từ hội quán vào Chùa Chính (Thượng Điện) phải qua hai chiếc cầu xây hình quả núi nhỏ có mái che Trong chùa có quả chuông lớn cao 4,2

m, đường kính 2,2 m và nặng 9000 cân ía Trên chuông có hoạ tiết cánh sen, sóng nước tinh tế Hai bên giải vũ đều đắp rồng Thượng điện có cấu trúc mái vòm, trần được trang trí bằng các hoạ tiết cây hoa lá với màu sắc rực rỡ trông như tấm thảm treo Ở chính giữa Thượng điện, trên bệ cao

có tượng Phật Thích Ca ngồi thuyết pháp Tượng cao tới 4 m, rộng 3,5 m bằng gỗ sơn son thiếp vàng Các tượng khác nhỏ hơn

Trang 22

Có điều khá độc đáo là ở Nhà Tổ của chùa có tượng thần sư Nguyễn Minh Không, tượng hoà thượng Phạm Quang Tuyên là tác giả thiết kế của quần, thể chùa c ổ Lễ Nhiều hiện vật cỏ giá trị khác cũng được lưu giữ tại chùa như trống đồng thời Lý, túi đựng đồng theo huyền thoại là của Nguyễn Minh Không sang Trung Quốc lấy đổng, 4 thuyền bơi chải để thi trong các dịp lễ hội giữa tháng 9 âm lịch hàng năm.

Chùa CỔ Lễ thực sự là tài nguyên du lịch nhân văn của Nam Định, của Hà Nam Ninh với những giá trị lớn cần được khai thác có hiệu quả, lâu dài

© Chùa Keo Hành Thiện:

Đây là sự trùng hợp khá thú vị vì ở hai bờ sông Hồng ranh giới giữa Thái Binh và Nam Định đều có 2 ngồi chùa cùng có tên chữ là “Thần Quang tự” và tên Nôm là “Chùa K eo”, được dựng cùng thời và ngoài thờ phật còn cùng thờ đức thiền SƯ Không Lộ thời Lý

Chùa Keo Hành Thiện (chùa Keo hạ) nằm ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường Từ Nam Định, đi khoảng 20 km đến Lạc Quần, qua sồng Ninh Cơ rẽ phải chừng 20 km là tới chùa Keo

Cũng như chùa Keo Thái Bình, chùa Keo Hành Thiện ban đầu được xây dựng vào thời Lý vùng Quán Các (Nam Hồng, Nam Trực, Nam Định ngày nay) Theo sử sách, đó là một quần thể đền chùa, cung điện nguy nga lộng lẫy Sau trên 500 năm tồn tại, năm 1611 trận lụt lớn trong vùng đã chôn vùi quẩn thể đền chùa đã huy hoàng suốt 5 thế kỷ Sau sự kiện này, dân ấp K eo (vì thế chùa được gọi nôm na là chùa Keo) phải dời di hai nơi Dân ở làng Dũng Nhuệ dời sang nơi ngày nay gọi là Duy Nhất, Vũ Thư, Thái Bình Dân ở làng Hạnh Cung (sau đổi là Hành Thiện thời Minh Mạng) chuyển về vị trí như hiện nay Cả 2 làng đều xây lại chùa Keo Chùa K eo Hành Thiện được gọi theo tên làng để phân biệt với chùa Keo ở Thái Bình

Chùa Keo Hành Thiện toạ lạc trong khuôn viên rộng chừng 5 mẫu Bắc Bộ, bên bờ sông Hồng, nổi bật lên giữa cảnh quan sông hồ, làng mạc

Trang 23

và cánh đồng trải rộng Qua cổng chùa tới một hổ bán nguyệt trồng sen, nước xanh soi bóng những công trình kiến trúc vừa cổ kính, vừa thơ mộng.

G ác chuông trước chùa được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm theo kiểu tam quan nội 5 gian Toàn bộ gác chuông cao7,5 m với dáng thanh thoát: mũi cong, bờ cánh kẻ bẩy uốn lượn ở phía trên, gác chuông được đỡ bằng 8 cột trụ lớn và 16 cột trụ nhỏ đứng trên các chân cột bằng

đá tảng được chạm khắc hình đoá sen nở Những mảng cuốn các vì kèo, cài then ngang, đố dọc để thể hiện mô tip điêu khắc gỗ thời Lê.Toàn bộ gác chuông hơi mở ra ở phía trên theo kiểu “thượng gia hạ trừ” tạo cảnh như toả rộng cùng tiếng chuông ngân nga Gác chuông soi bóng xuống hổ càng làm ngôi chùa thêm kỳ ảo Từ ngoài vào, vói 2 đường kiệu lát gạch,

2 bên là 2 dãy tả vu và hữu vu gồm 40 gian nhỏ, cân xứng, ở đây, các cụm kiến trúc, điêu khắc được thể hiện khá tài tình

Từ hai bên trụ thần đao, các công trình kiến trúc được xây dựng một cách đăng đối Chùa được kết cấu theo kiểu nội công ngoại quốc phức hợp trong đó đáng chú ý nhất là cụm kiến trúc chính Năm gian tiền đường thoáng rộng với mái cong điển hình ỗủa thời Lê, kế đến là 3 gian đệ nhị, thượng điện thò Phật trên bệ cao đã được thể hiện rất tài khéo qua các mảng chạm khắc gổ Các mảng đố lụa, khung bạo, , con sơn, kẻ bẩy trong kiến trúc chùa rất đặc sắc Nổi bật nhất trong nghệ thuật điêu khắc gỗ

chùa là 3 bộ cánh cửa với tổng số 10 cánh được chạm khắc thể hiện 10 chủ

để khác nhau Kỹ thuật chạm bong kênh đã đạt tới trình độ điêu luyện vói hình: long cuốn thuỷ, ly ngậm ngọc, phượng ngậm hoa, tứ linh, tứ quí, nghê đội nóc đao, lá hoa, đao mác, may uốn lượn Hình tượng rồng khá

đa dạng, từ cách điệu đến ẩn dụ trong các trạng thái sống động vừa thể hiện nét đặc trưng của rồng thời Hậu Lê vừa pha yếu tố điêu khắc dân gian vùng châu thổ sông Hổng

Sau chùa chính thờ phật với các bức tượng được tạc bề thế đặt trên

và thượng điện, còn một công trình khách rất đáng chú ý là đền Thánh thờ Thiền sư Không Lộ với 3 toà quy mô Kiểu kiến trúc của đền là “thượng

bò cuốn, hạ kẻ bẩy” một cách hài hoà Trong đền, các hốc liền, cuốn thư, y

Trang 24

môn, cửa võng đều được chạm khắc hoa văn khá công phu Bức tượng Thiền sư Không Lộ trên cao trông uy nghiêm với vẻ mặt siêu thoát.

Ở sau cùng là 10 gian nhà tổ nối với tường hậu, tạo cho chùa khuôn viên trang nghiêm u tịch

Chùa Keo Hành Thiện cũng còn lưu giữ được những hiện vật có giá trị có niên đại từ thế kỷ x v n như án thư, sập thờ, tượng pháp, nhiều chuông, khánh, văn bia, câu đối, hoành phi

Cho dù được tôn tạo nhiều lần, chùa Keo Hành Thiện vẫn giữ được nét kiến trúc, điêu khắc truyền thống Ngoài các ngày sóc, vọng, các ngày tuần, hàng năm chùa Keo Hành Thiệri có hai lễ hội lớn là lễ hội Xuân mở vào tết Nguyên đán và hội lễ tháng chín mở vào các ngày 13, 14 và 15 âm lịch để kỷ niệm Thánh tổ Không Lộ Sau các nghi lễ chính thức, các trò chơi, diễn xướng thưòng gắn với các sinh hoạt văn hoá dân gian của cư dân nông nghiệp Lễ hội thu hút rất đông khách hành hương gần xa

Chùa Keo Hành Thiện còn được biết đến như một tài nguyên du lịch

có giá trị vì toạ lạc ở một làng cũng rất nổi tiếng: làng Hành Thiện Đây là một làng có rất nhiều nghề truyền thống và sự sáng tạo của cư dân đã có từ lâu, thể hiện trên các sản phẩm in đậm dấu ấn nông nghiệp lúa nước mà các thế hệ dân cư đã thể hiện Hành Thiện cũng là nơi sinh của một nhà cách mang, một lãnh tụ xuất sắc của'Đảng và Nhà nước Việt Nam: Đồng chí Trường Chinh Nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh không xa chùa Keo cũng là di tích lịch sử quý giá và là tài nguyên du lịch của Nam Định, của Hà - Nam - Ninh

© Chùa Lương - cầu Ngói:

Chùa Lương và cầu Ngói đều năm trên đất của làng Quần Anh, xã Hải Anh, huyện Hải Hậu cách thành phố Nam Định khoảng 50m về phía Đông Nam Cách đây 5 thế kỷ, người dân v iệ t đã đến đây khai hoang, lấn biển (bốn người có công đầu là Trần Vu, Hoàng Gia, Vũ Chi, Phạm Lập)

mở rộng làng xã Lúc đầu xã có tên là ấp Quần Cường, sau đổi là Quần Phương, xã Thượng, Quần Anh, nay'đổi là Hải Anh X ã ở ven biển nên dân cư ở đây vừa thạo nghề ngư, vừa giỏi nghề nông

Trang 25

Chùa Lương được xây dựng vào đầu thế kỷ X V I thờ vua Lê Hồng Thuận cùng vói việc khai hoang lấn biển đạt kết quả tốt Tên chữ của chùa

là Phúc lâm tự Ban đầu chùa có quy mô nhỏ, qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, mở rộng, đến đầu thế kỷ X X chùà có quy mô lớn như ngày nay Hiện nay chùa có quy mô lớn tói gần trăm gian (nến chùa còn có tên là chùa Trăm gian) được xây dựng theo thế chữ “nội công ngoại quốc” phức hợp Song điều đáng chú ý nhất là chùa in dấu ấn của nhiều phong cách kiến trúc các thế kỷ mà đậm nét nhất là của thế kỷ X V II; x v i n Trên thế đất đẹp, ngôi chùa nổi bật lên hoành tráng và hài hoà với cảnh quan làng xã xung quanh Ở phía trước chùa có hồ nước xanh trong soi bóng Tam quan

và chiếc trụ biểu lớn mang tên “Thiên thạch đài trụ”, soi bóng hàng cây cổ thụ cả trăm tuổi Ở khu vực chính của chùa tập trung các công trình kiến trúc tiêu biểu nhất: Tiền đường, Tam bảo, gác chuông, Thượng điện cùng với hai dãy Tả vu, Hữu vu được gắn Jcết bằng kiểu giang mái, bắt vần để tạo nên một sự nối liền nhau của tổng thể công trình

Tiền đường của chùa có năm gian lớn, in đậm nét phong cách kiến trúc thời Hậu Lê với sự phát triển bề thế của chiều ngang các gian, tạo cho công trình dáng thấp, chắc và mái cong mềm mại Khuôn thước kiến trúc theo lối: kẻ bẩy, câu đầu, trụ non vốn điển hình của thế kỷ X V II Tam bảo, Thượng điện đặt tượng Phật khá đẹp nhưng chủ yếu mang phong cách điêu khắc thế kỷ xvm và X IX Các đầu đao, con kiền, trụ, con sơn, đấu, giá chiêng trong chùa đều tinh tế, thể hiện sự tài hoa của cha ông ta xưa Hầu hết các khung gỗ trong kết cấu công trình vẫn chắc, khoẻ, thanh thoát dù

đã qua mấy thế kỷ Các hình tượng lọng, ly, quy, phượng, tùng, cúc, trúc, mai được thể hiện hoa văn trên cuốn thư, đại tự, y môn, cửa võng, đẩu đao rất đặc sắc, đặc biệt là hình tượng rồng ở nhiều tư thế khác nhau: rồng chầu mặt nguyệt, rồng cuốn thuỷ, rồng vuốt râu, rồng ngậm ngọc, rồng bay, trúc hoá rồng cùng với hình hổ phù oai phong Các vật liệu xây chùa ngoài gỗ là gạch Bát Tràng vuông cỡ 30 X 30cm và ngói vẩy vốn rất quen thuộc trong các kiến trúc đền chùa, đình miếu Việt Nam Tổng số có 49 gian ở khu chính

Trang 26

Phía sau khu vực chính là nhà tổ, tăng phòng, nhà khách cũng có tổng số 4 9 gian cũng được xây dựng theo phong cách kiến trúc truyền thống và đậm dấu ấn của các thế kỷ xvn, xvm, X IX Ngoài ra ở phía Bắc có hàng chục mộ tháp gắn liền với tổng thể kiến trúc chùa và tạo cho cảnh quan chùa một vẻ thâm nghiêm, cổ kính, ở khu vực nhà tổ còn có một công trình rất độc đáo là chiếc giếng nước Thành giếng được ghép bằng nhiểu chiếc cối đá xếp chồng lên nhau từ trên miệng xuống dưới đáy.

Ở hai dãy tả vu, hữu vu có gần 40 bia đá với hai loại: “bia vuông tác tượng, bia tròn ghi công” Nội dung văn bia phong phú như ca tụng công lao những người khai phá vùng đất quê hương, những người xây dựng, tôn tạo chùa, cuộc sống của dân cư qua các thời kỳ Các nhà nghiên cứu thường chia theo thời đại của các vị vua để xác đinh nhóm bia được tạc là: nhóm bia Hồng Thuận, nhóm bia Chính Hoà và nhóm bia Cảnh Hưng

Gắn liền với chùa Lương là Cầu Ngói Cầu cách chùa khoảng 100m trên đường vào chùa, vắt ngang sông Hoành, con sông nhỏ chảy dọc theo

xã Hải Anh Cầu Ngói còn được gọi là “cầu Ngói chợ Lương” vì cầu ngay cạnh.chợ Đây là công trình kiến trúc đặc sắc của xứ Nam xưa, sánh ngang với những ngôi chùa xứ Bắc và ngôi đình xứ Đoài (cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài) Thủa ban đầu, cầu còn đơn sơ, mái cầu lợp rạ, sau đó được tôn tạo bề thế cho tương xứng với chùa Lương Song, lần trùng tu lớn năm

1922 đã làm thay đổi kiểu dáng kiến trúc của cầu khác với kiểu dáng có từ thế kỷ xvn Đây là loại cầu “thượng gia, hạ kiều” (trên là nhà, dưới là cầu) hoặc “thượng gia, hạ trì” (trên là nhà, dưới là sông nước) Cầu đứng vững trên 18 chiếc cột đá xanh vuông vức, mỗi cạnh cột là 35cm 18 cột đá được xếp 6 hàng , đỡ 6 vì và 9 gian nhà cầu Sàn cầu được dựng bằng gỗ lim to để đỡ dầm, nâng sàn Lòng cầu rộng 2m cong lên duyên dáng thanh thoát Toàn bộ sàn, hành lang cầu được ghép ván Lan can cầu cũng bằng

gỗ được ghép với các đố thượng, đố hạ, con son Chúi gian nhà trên cầu có

10 vì xà cột đỡ theo phong cách thiết kế nhà ở truyền thống của đổng bằng Bắc Bộ Hệ thống xà, dầm được nâng đỡ bởi 40 cột cái, cột quân Tất cả các cấu kiện gỗ trên nhà cầu đểu được gia công tỷ mỷ, đạt yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật cao Mái nhà trên cầu nửa lợp, nửa xây tạo dáng hình con

Trang 27

rồng đang vươn lên Trên nhà có bức cuốn thư tạo dáng đẹp, để 4 chữ lớn

“Quần Phương xã kiều” (cầu xã Quần Phương) Mỗi đầu cầu đặt 2 con nghê đá ngồi chầu, hình ảnh khá quen thuộc ở đền miếu Bắc Bộ Việt Nam

Chùa Lương - Cầu Ngói, di tích lịch sử văn hoá đặc sắc không chỉ của Hải Hậu, của Nam Định Đây cũng là điểm hành hương, tham quan, nghiên cứu của nhiều khách du lịch Chùa Lương - Cầu Ngói là tài nguyên

du lịch nhân văn vật thể có giá trị như những tài nguyên nổi bật ở Hà - Nam - Ninh

© Các tài nguyên du lịch khác:

Nam Định còn có những tài nguyên vật thể khác có thể khai thác cho hoạt động du lịch Ở ngay thành phố Nam Định có những di tích cách mạng - kháng chiến được xếp hạng cấp quốc gia Đó là cột cờ phường Ngô Quyền; nhà số 7 phố Bến Ngự; khu chỉ huy sở Thành uỷ ở phường Quang Trung; khu chỉ huy sở nhà máy dệt ở phường Cửa Bắc; cửa hàng ăn uống dưới hầm ở phường Bà Triệu; cửa hàng cắt tóc dưói hầm ở phường Nguyễn

Du và khu di tích tội ác phố Hàng Thao Tuy dấu ấn di tích không nhiều nhưng cũng đủ để tổ chức city tour ở Nam Định Ở hầu hết các huyện của Nam Định cũng còn nhiều di tích lịch sử - văn hoá được xếp hạng quốc gia

vì giá trị đặc sắc hay độc đáo của chúng Phần lớn trong số các di tích này

là các đền chùa, đình được xây dựng tứ thời Lê đến thời Nguyễn, khá tiêu biểu cho nền văn hoá truyền thống ở vùng đồng bằng Bắc Bộ

Tất cả các di tích ấy thật sự là tài nguyên du lịch nhân văn của Nam Định Những tài nguyên này cần được khai thác cho du lịch Nam Định

và cả Hà - Nam - Ninh

1.2.3 Tài nguyên du lịch vật thể ở Ninh Bình:

ở vùng Hà - Nam - Ninh, Ninh Bình được biết đến với nhiều tài nơuyên du lịch vật thể nổi tiếng từ xa xưa Vốn là vùng đất bán sơn địa, có núi non thung lũng, sông suối, đổng bằng và bờ biển, cảnh quan Ninh Bình, khá ngoạn mục với những tài nguyên du lịch tự nhiên nổi tiếng

Không những thế, Ninh Bình còn là vùng đất của những triều vua dựng

Trang 28

nghiệp nổi danh và của văn hoá truyền thống V ì thế, mảnh đất này cũng lưu giữ nhiều di tích lịch sử - văn hoá rất đặc sắc, có giá trị lớn Những di tích ấy là những tài nguyên du lịch nhân văn không chỉ của Ninh Bình.

0 Cố đô Hoa Lư:

Hoa Lư được chọn làm kinh đô của Đại Cồ v iệ t vào thế kỷ X Từ thị

xã Ninh Bình theo Quốc lộ 1 ngược phía Bắc 6km rẽ trái 5km về phía Tây

là tới cố đô Hoa Lư Trung tâm cố đô hiện nay là khu vực đển vua Đinh, đền vua Lê ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

Vùng Hoa Lư gắn liển với 2 triều vua Đinh và Tiền Lê, với 2 vị vua nổi tiếng là Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành

Theo sử sách, Đinh Tiên Hoàng quê động Hoa Lư, thủa nhỏ chăn trâu thường tụ tập trẻ chăn trâu dùng hoa lau làm cờ tập trận Khi xảy ra loạn 12 xứ quân, Đinh Bộ Lĩnh (tên của Đinh Tiên Hoàng) đã lần lượt thu phục các sứ quân, thu non sông về một mối Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế, lấy Kinh đô ở Trường Yên hiện nay Năm 970, Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu “Thái Bình” Kinh đô Hoa Lư được bao bọc bởi các núi đá vôi thành vòng cung án ngữ, có đường thuỷ bộ vào ra thuận lợi Đây còn được gọi là Thành Ngoại, có núi Mã Yên làm tiền án Ngoài đền đài, cung điện còn có các chùa chiền thờ Phật Sau khi Lê Hoàn lên thay năm

9 8 0 lập ra triều tiền Lê, Hoa Lư vẫn được chon làm kinh đô của Đại Cổ Việt Năm 1009, Lý Công u ẩn lên ngôi vua lập ra triều Lý Năm 1010, ông cho dời đô về Tháng Long Hoa Lư trở thành cố đô và sau này được xây dựng đền thờ 2 vị vua đứng đầu 2 triều đại, là những di tích lịch sử đặc biệt có giá trị gắn liền với cảnh quan của Trường Yên hôm nay

Đền vua Đinh được xây dựng trên nền xưa của cung điện Các khai quật khảo cổ từ 1960 đến 1998 đã khẳng định điều này qua các hiện vật khai quật được như nền cung điện, những viên gạch lát có niên hiệu

“Giang Tây Quân” “Đại v iệ t quốc quân thành chuyên”, các viên ngói hoa sen các đồ gốm đặc trưng Nhiều hiện vật của thời Đinh cũng được lưu giữ đến nay trong đó có những cột kinh phật bằng đá

Trang 29

Theo truyền thuyết đền vua Đinh (và cả đền vua Lê) được nhân dân xây dựng để thờ hai vị vua sau khi nơi đây thành cố đô Trải qua thời gian, hai đền thò cũng bị hư hỏng hoàn toàn Tới đầu thế kỷ xvn, sau khi rời nhà M ạc về với nhà Lê, Phương Quận Công Bùi Thời Trung đã cho xây dựng lại hai ngôi đền trên nền cũ đều quay theo hướng Đồng, c ả đẻn vua Đmh và đền vua Lê đều có 2 lần tu sửa lớn là năm 1676 và năm 1898, mới

có ngưỡng cửa đá và nâng cao đền bằng chân cột đá tảng cổ bồng còn đến nay

Đền vua Đinh được xây theo kiểu “nội công ngoại quốc”, đường đi trong khuôn viên lát gạch hình chữ vương, các công trình được xây dựng đăng đối theo trục thần đạo Điều lý thú là tên gọi các công trình kiến trúc của đền đều phỏng theo tên gọi các công trình của cung điện xưa Ngoài cùng là “Ngọ môn quan” quay hướng Bắc Vào phía trong có 1 sập đá (long sàng) hai bên có hai nghê đá đứng chầu cũng bằng đá xanh nguyên khối khá đẹp Những hiện vật này được chạm khắc đơn giản nhưng mang dáng khoẻ khoắn và thể hiện sự chính trực, sùng kính với vị vua anh linh xưa Nghi môn ngoại và tiếp theo là Nghi môn nội được xây dựng thẳng trên trục thần đạo, mở về hướng Đông Đây là kiểu kiến trúc ba hàng chân cột sớm nhất nước ta Tiếp đến là hai công trình ở hai bên trục Bên phải là nhà Khải Thánh để thờ cha mẹ vua Đinh Bên trái là nhà Vọng để các bậc phụ lão bàn việc tế lễ ở trước hai công trình này đều có vườn hoa và hòn non bộ Hai cột trụ biểu vươn cao hai bên với ẩn ý nối âm dương, trời đất giống như chiếc cổng dẫn tới sân đền, được gọi là sân rồng Chính giữa sân

có lư hương bằng đã khá to và sập đá được gọi là Long Sàng Đây là một công trình điêu khắc đá rất tinh xảo Toàn bộ Long Sàng có hình chữ nhật kích thước 1 8 mx l ,4 m, cao 0,95m (kể cả bệ), ở chính giữa sập đá chạm hình rổnơ với thân mập mạp, phủ vảy quanh thân, đầu vươn cao ngạo nghễ có hai cum lông đầu dựng ngược và những dải râu thả xuống phía dưới, hai bên má cũng có những sợi râu kiểu cánh phượng, các móng trước của rồng nắm lấy sừng chẻ chạc Toàn bộ hình rồng vừa tượng trưng cho quyền uy của vua vừa thể hiện sự vận động của vũ trụ, cầu ban phước lành, ở xung quanh thành của long sang chạm hình tôm, cá, chuột - những con vật rất

Trang 30

bình thường trong đời sống dân chúng, thể hiện sự phóng khoáng của nghệ

sĩ, của nhân dân khi chạm trên long sàng ở thế kỷ xvn Long sàng ở đển vua Đinh được coi là đẹp nhất trong điêu khắc sập đá ở Việt Nam Hai bên sập đá có các chân cột để cắm cỏ bát biến, vũ khí và mười thanh long đao tượng trưng cho mười đạo quân (thập đạo quân) Hai bên sập rồng còn

có hai con rồng đá bán thân kiểu yên ngựa cũng được tạc vào đầu thế kỷ

X V II khi đền được xây dựng lại Thế rồng như đang vươn mình về phía trước

Hai bên sân trước đền còn hai con con nghê chầu được tác bằng đá nguyên khối, tạo nên vẻ vương giả cho sân rồng

Đền chính có ba toà gắn kết nhà là Bái đường, Thiên Hương và Chính Cung Do bao tường kín của nên đền khá tối tạo nên sự huyền bí trong việc thờ cúng, chiêm nghiệm Cửa đến lùi sâu so với mép đền hơn

l m, cùng với các cột cái, trên có các mảng điêu khắc gỗ trang trí kiểu chồng giường Đôi xà cổ ngỗng khá đẹp, là kẻ góc khó trong kiến trúc cổ

V iệt Nam Giữa bái đường có bức đại tự với 3 chữ thiếp vàng: “Chính thống thuỷ” (mở nền chính thống) Đôi liền ở hai bên khắc chữ:

“Cờ Việt quốc đường Tống khai Bảo Hoa Lư đô thị Hán Tràng An”

Toà Thiên Hương thờ các bậc khai quốc công thần của nhà Đinh

M ột hương án gỗ có tuổi 3 thế kỷ khá trang trọng vói mũ “Bình Thiên” ở trên biểu tượng của “đế quyền”

Chính cúng đặt tượng Đinh Tiên Hoàng ngồi uy nghiêm đội mũ Bình Thiên, mặc áo Long cổ n , bên trái có tượng Đinh Liễu, con cả và bên phải có tượng Đinh Hạng Lang và Đinh Toản là hai con thứ ở hai bên bệ thờ có hai con rồng đá giống như hai rồng chầu ngoài long sàng nhưng đẹp hơn Tượng cá đớp tôm được tạc ngay dưới bụng con rồng bên trái thể hiện

tư tưởng nghệ sĩ dân gian coi vua Đinh là vị vua của dân chúng

Các hoa văn trong đền còn giữ được một số mảng điêu khắc của thời Hãu Lê Hình rồng được thể hiện nhiều và nổi bật nhất trong các bức chạm bonơ- chạm lộng, con người cũng được xuất hiện trong các công trình này

Trang 31

bình thường trong đời sống dân chúng, thể hiện sự phóng khoáng của nghệ

sĩ, của nhân dân khi chạm trên long sàng thế kỷ xvn Long sàng ở đền vua Đmh được coi là đẹp nhất trong điêu khắc sập đá Việt Nam Hai bên sập đá có các chân cột để cắm cỏ bát biến, vũ khí và mười thanh long đao tượng trưng cho mười đạo quân (thập đạo quân) Hai bên sập rồng còn

có hai con rồng đá bán thân kiểu yên ngựa cũng được tạc vào đầu thế kỷ

X V II khi đền được xây dựng lại Thế rồng như đang vươn mình về phía trước

Hai bên sân trước đền còn hai con con nghê chầu được tác bằng đá nguyên khối, tạo nên vẻ vương giả cho sần rồng

Đền chính có ba toà gắn kết nhà là Bái đường, Thiên Hương và Chính Cung Do bao tường kín của nên đền khá tối tạo nên sự huyền bí trong việc thờ cúng, chiêm nghiệm Cửa đền lùi sâu so với mép đền hơn

l m, cùng với các cột cái, trên có các mảng điêu khắc gỗ trang trí kiểu chồng giường Đôi xà cổ ngỗng khá đẹp, là kẻ góc khó trong kiến trúc cổ

V iệt Nam Giữa bái đường có bức đại tự với 3 chữ thiếp vàng: “Chính thống thuỷ” (mở nền chính thống) Đôi liền ở hai bên khắc chữ:

“Cờ Việt quốc đường Tống khai Bảo Hoa Lư đô thị Hán Tràng An”

Toà Thiên Hương thờ các bậc khai quốc công thần của nhà Đinh

M ột hương án gỗ có tuổi 3 thế kỷ khá trang trọng với mũ “Bình Thiên” ở trên biểu tượng của “đế quyền”

Chính cung đặt tượng Đinh Tiên Hoàng ngồi uy nghiêm đội mũ Bình Thiên, mặc áo Long cổ n , bên trái có tượng Đinh Liễu, con cả và bên phải có tượng Đinh Hạng Lang và Đinh Toản là hai con thứ Ở hai bên bệ thờ có hai con rồng đá giống như hai rồng chầu ngoài long sàng nhưng đẹp hơn Tượng cá đớp tôm được tạc ngay dưới bụng con rồng bên trái thể hiện

tư tưởng nghệ sĩ dân gian coi vua Đinh là vị vua của dân chúng

Các hoa văn trong đền còn giữ được một số mảng điêu khắc của thời Hậu Lê Hình rồng được thể hiện nhiều và nổi bật nhất trong các bức chạm bong; chạm lộng, con ngưòi cũng được xuất hiện trong các công trình này

Trang 32

Đền vua Lê vể đại thể cùng mô tip kiến trúc như đền vua Đinhnhưng khác vể chi tiết Sập đá ở phía ngoài, tiếp đến là Nghi môn ngoại.Theo trục chính vào, bên phải đền là Từ Vũ của làng Yên Hạ, xưa thờ Khổng Tử, bên trái đền là một ao sen lớn Phía trong, theo trục chính là Nghi môn nội ơ hai bên trục chính có hai nhà Vọng để dùng vào việc bàn bạc, chuẩn bị tế lễ Tiếp đến là hai rihà bia Qua 2 trụ biểu tới sân rồng Sân rồng cũng có sập đá (long sàng) như đền vua Đinh nhưng nét điêu khắc không bằng sập đá đền vua Đinh Ba toà: Bái Đường, Thiên Hương

và Chính Cung được xây dựng giống như ở đền vua Đinh Điều đáng chú ý

là giữa Bái Đường có một tấm biển sơn son thiếp vàng lộng lẫy có 4 chữ :

“Trường Xuân linh tích” (dấu tích điện Trường Xuân) Đôi liền cũng ghi công đức của Lê Đại Hành, trong đó có đôi ca ngợi lễ tịch điển do vua Lê khởi xướng:

“Thuỵ vân, cam vũ thiên hữu ngưỡng Tạc tỉnh, canh điển đế lực chi”

(Mây lành, mưa ngọt ơn tiên đế Đào giếng , cày ruộng là ý vua)

Ở chính cung có tượng vua Lê, tượng Dương Vân Nga và tượng Lê Long Đĩnh, con thứ năm của vua Lê và là vua thứ ba của triều Tiền Lê Điều đáng chú ý là tượng Dương Vân Nga (Bảo Quang Hoàng Thái hậu) được đặt quay về phía đền vua Đinh với ý nghĩa là Thái Hậu vẫn có tình nghĩa với vua Đinh Tượng Dương Vân Nga được tạc khá đẹp, khuôn mặt phúc hậu, thanh tú, nếp áo mềm mại

Đền vua Lê còn giữ được nhiều mảng điêu khắc thời Hậu Lê hơn đền vua Đinh vì ít bị tu sửa Hình tượng rồng cũng nhiều dáng vẻ, độc đáo nhất Ở đền vua Lê, nghệ thuật chạm lộng đã đạt tới trình độ tinh xảo Cảnh các cô tiên cưỡi rồng cũng khá độc đáo Hình tượng hổ được thể hiện tới chín lần các điêu khắc của đền Hoa sen được thể hiện nhiều lần gắn với truyển thuyết về sự ra đời của vua Lê

Những ngọn núi, thung lũng ở Trường Yên, Hoa Lư gắn liền với di tích C ố Đô, trong số đó phải kể đến núi Mã Yên Tên núi gắn với dáng

Trang 33

hình núi như chiếc yên ngựa khổng lồ Mã Yên sơn có 2 đỉnh ở 2 phía nhô cao (khoảng 200m so với mặt nước biển) phần võng xuống giữa có độ cao khoảng 150m, tạo nên “yên ngựa chon von” trên cao Lăng mộ vua Đinh được xây trên phần yên ngựa của núi Trước lăng là tấm bia ghi niên hiệu tôn tạo lai (năm Minh Mênh thứ mười hai -1 8 3 1 ) đầu lăng mộ quay hướng phía đền vua Đinh được đắp hình “lưỡng long chầu nguyệt” Từ chân núi phải leo 265 bậc đá mới tới nơi Dịp lễ hội ở cố đô Hoa Lư (tháng 3 âm lịch) có lễ rước lửa từ lăng vua Đinh xuống đền được thực hiện một cách trang nghiêm.

Các núi Phi Vân, Du, Cột cờ, Ghềnh, Tháp góp phần làm nên danh thắng cho Hoa Lư hôm nay cùng với sông Trường Yên, ngòi Sào Khê

Động Am Tiêm (hay chùa Am Tiêm) trên núi Am Tiêm (núi Ngũ Phong Sơn) vì có năm ngọn chầu về lăng Đinh Tiên Hoàng Núi đối diện với M ã Y ên san qua sông Trường Yên Sau khai qua cây cầu nhỏ, theo hướng Nam, leo lên chừng hơn 60 bậc đá lên am Sơn thần Thung lũng trải

ra chừng 10 mẫu Bắc Bộ Men theo thung lũng thơ mộng với trúc cảnh mọc xanh tốt rồi leo hơn 200 bậc đá là tới động Am Tiêm Trong động được lát gạch đá bằng phẳng như trải chiếu, có thể chứa được hàng trăm người Những nhũ đá kỳ ảo rủ xuống từ trần động tạo nên vẻ đẹp vừa tráng

lệ vừa huyển bí Trong động có những bệ thờ với các tượng Phật, tượng Thánh Thiền sư Nguyễn Minh Không, ở bên trái động có hai tấm bia đá tạc từ thời Nguyễn nói về việc tu sửa chùa và lịch sử chùa - động Động

Am Tiêm hội tụ cả yếu tố tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn vật thể Động - chùa gắn vói cố đô Hoa Lư tạo nên quần thể di tích - danh thắng nổi tiếng từ lâu và là tài nguyên du lịch có giá trị lâu nhất

Trang 34

Từ thị xã Ninh Bình theo Quốc lộ 1A về phía Nam 4km rẽ phải về phía Tây 4km sẽ đến bên đò Cây Đa của thôn Văn Lâm xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, nơi bắt đầu của hành trình tham quan chiêm bái quần thể di tích - danh thắng nổi tiếng: Tam Cốc - Bích Động

Địa danh này chỉ 2 cụm di tích - danh thắng nổi tiếng ở hai thôn của

xã Ninh Hải và cùng với nó là các di tích có giá trị khác, tạo nên một quần thể lớn di tích - danh thắng, tài nguyên du lịch đang được khai thác cho hoạt động du lịch ở Ninh Bình

Từ bến đò, khách có thể theo đường bộ đi hơn lkm qua Cống Rồng vào tới đền Thái V i, cũng có thể ngồi thuyền theo dòng Ngô Giang vào đền rồi đi thẳng tới Tam Cốc

Đền Thái Vi. Toạ lạc trên nền xưa của hành cung Vũ Lâm, đền Thái

V i trước kia là am Thái Vi Hành cung Vũ Lâm được các vua Trần cho xây dựng với cung điện, đền đài nguy nga Đến nay, tất cả đểu không còn nữa, nhưng các núi non, thung lũng vẫn còn đây với cảnh sắc tuyệt vời với những tên gọi gợi nhớ một thời sau chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông Núi Phi Vân (mây bay), núi Hòn Sách, núi Văn, núi Võ, núi Con Voi, Tam Cốc, Bích động, Xuyên Thuỷ Động vẫn tô đẹp cảnh quan, tạo cho di tích vẻ huyền ảo

Đền Thái Vi là nơi thờ Trần Thánh Tông và các vị vua Trần, các vị tiên thánh Qua 700 năm biến động và theo dòng lịch sử, đền Thái Vi bị phá huỷ rồi lại được tu sửa nhiều lần ’

Nằm trên mảnh đất bằng phẳng giữa sông nước và núi non bao quanh, đền Thái V i có khuôn viên không lớn lắm theo trục thần đạo hướng Đông Nam

Ngoài cửa tam quan có đôi ngựa đá đứng hai bên Qua tam quan theo trục chính tới Ngũ đại vu bằng đá chạm khá đẹp với sáu chiếc cột đá

có hình rồng quấn chầu vào chính điện Sân đền không rộng lắm ở bên phải trục thần đạo có gác chuông bằng gỗ kết cấu kiểu “chồng diêm” với 8 mái đăng đối và các đầu đao cong mềm mại Đền được xây theo kiểu chữ

“nội công ngoại quốc”

Trang 35

Ngoài cùng là 5 gian bái đường có các hàng cột đá được chạm khắc cồng phu theo đề tài “từ linh, tứ quý” Ở các cột này đều có treo các câu đối M ột trong các câu đối đó là:

“Nhất thống sơn hà, Thiên trường phủ Vương Hầu đệ trạch.Thiên thu hương hoả, Thái Vi cung văn võ y chầu ”(Thu phục giang sơn, phủ Thiên trường dựng vương hầu cung thất Ngàn năm hương lửa, cung Thái Vi quan văn võ về chầu)Tiếp nối là toà Trung Đường có đặt hương án long trọng Toà Chính Cung 5 gian được xem là long trọng nhất Trước kia có các pho tượng đổng Trần Thái Tông, Hiền từ Hoàng Thái Hậu và các tượng thánh Đến nay các tượng nay không còn nữa mà được thay bằng tượng gỗ sơn son, thiếp vàng và các bài vị trong khám thờ Điều đáng quý là ngoài việc thờ Hoàng Thái Hậu, Trần Thái Tông và phối thờ Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Thánh Tản Viên, Thần Đông Hải Đại Vương ở đây còn đặt bài vị thờ thày dạy vua Trần Thái Tông thủa nhổ

Lễ hội đền Thái Vi được tổ chức quy mô trong những ngày 14 - 17/3

âm lịch hàng năm Nét đặc sắc nhất là lễ rước 29 cỗ kiệu từ các làng xã trong vùng đền Vừa tham gia lễ hội, vừa chiêm ngưỡng phong cảnh, du khách gần xa tham gia rất đồng đảo

Theo dòng Ngô Giang vào thẳng Tam Cốc hoặc ghé thăm đền Thái

V i xong, xuống bên thuyển đi tiếp vào trong, đến với Tam Cốc

Tam Cốc có nghĩa là Ba Hang Đó là tên gọi của ba hang đá thông thuỷ trên cùng một trục, phía dòng thuyền qua Đây là thắng cảnh rất nổi tiếng' từ xa xưa của cụm di tích - danh,thắng này Hoa Lư, Ninh Bình

Dọc hai bờ sông nhỏ là những ruộng lúa xanh quen thuộc Những dãy núi đá dựng đứng như bao bọc lấy sông Vào những buổi ban mai, những làn sương mỏng giăng giăng thấp thoáng trên sườn non, trên mặt sông tạo nên vẻ huyền ảo nên thơ của Tam Cốc Những chiếc thuyền nan với mái chèo đưa nhịp chở khách để khách có thể thư thái chiêm ngưỡng một vùng non nước

Trang 36

Gần tới Tam Cốc có hai quả núi như nằm độc lập ở bên trái dòng sông Theo huyền thoại, đó là hai quả núi mà một vị Sơn Thần gánh bay ngang qua đây, đòn gánh bị gãy, hai quả núi rơi xuống ở vị trí hiện nay Hai quả núi có hình dạng như hai chiếc mũ của quan văn và quan võ Vì thế, có tên gọi là núi Văn, núi Võ Trên đỉnh núi Võ còn có hình đá giống như hòn Vọng Phu quen thuộc ở Việt Nam.

Sau núi Văn, núi Võ, thuyền đến trước hai quả núi nhỏ hơn dường như cổng chào đón khách Phía trong cũng có hai ngọn núi hai bên Cả hai cảnh quan thơ mộng này được ông cha gọi tên là Nghi môn nội và Nghi môn ngoại

Sau hơn 2km ngồi thuyền theo mái chèo khoan nhặt, khách tới Hang

Cả, hang đầu tiên của Tam Cốc Hang dài 127m, dòng sông chảy trong hang luồn qua phía bên kia núi cửa hang rộng 20m Trên mái hang thấp

có nhiều nhũ đá đẹp rủ xuống gợi nhiều dáng vẻ động vật, thực vật khác nhau Nhiều chỗ khách có thể đứng dậy với tay lên vòm hang thạch nhũ Nước xanh trong hay mờ tối, thuyển lướt nhẹ thật huyền ảo, gợi chút liêu trai

Xuyên qua hang, ở phía cửa, trên vách đá có hình ông tiên, cô tiên theo cách gọi của người dân địa phường Tiếp tục theo dòng Ngô Giang chừng lkm nữa sẽ tới hang Hai Hang Hai dài 60m Trên trẩn hang có khá nhiều nhũ đá hình đám mây bay Nước chảy qua hang vẫn trong xanh và mát lạnh Ra khỏi hang Hai, núi non như vây bọc dòng sông và một thung lũng chật hẹp

Hang Ba chỉ cách cửa sau của hang Hai chừng 150m Hang Ba dài 50m và thấp hơn so với hai hang đã qua, trần bằng phẳng hơn và cũng vì vậy, hang mát hơn hai hang đầu

Từ hang Ba, có thể tiếp tục theo dòng sông nhỏ chừng 4km sẽ gặp suối tiên Nước trong, chảy róc rách qua những phiến đá to bằng phẳng, theo truyền thuyết là nơi tiên đứng, tiến ngồi

Nếu đi thuyền từ bến Văn Lâm, tham quan hết ba hang trở ra mất khoảng 3 tiếng đổng hồ Lên bờ, theo đường bộ về phía Tây Nam chừng

Trang 37

1,5km sẽ tới Bích Động Đây là nơi quy tụ cả Chùa và Động, chân núi Ngũ Nhạc ở thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, Hoa Lư.

Chùa Bích Động: Theo truyền thuyết, chùa được xây đựng từ thời

Lý nhưng rất đơn sơ Đến thời Lê, thế kỷ X V II gắn với công lao của hai nhà sư Chí Kiên và Chí Thể, chùa được xây dựng một cách độc đáo theo kiểu tam cấp dọc sườn núi, gắn liền với động đá, được gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng

Qua Thạch Kiều (cầu đá) cong cong dài 8m bên đầm sen ngát hương, men theo chân núi một đoạn ngắn, tới sân chùa Đó là một sân rộng rãi, cây cao toả bóng khắp sân Hai bên sân có hai dãy trai phòng dành cho các nhà sư ăn nghỉ, học tập, làm việc Bức bình phong ngăn cách sân với chùa Hạ qua chừng 10 bậc thềm đá Ngay trước chùa là một chiếc kiệu rồng bằng đá xanh Điều độc đáo là hai chiếc đòn khiêng kiệu được chạm trổ thành hình hai con rổng với những đường nét tinh xảo, giống với phong cách điêu khắc đá của các con rồng trước long sàng đền vua Đinh

Chùa Hạ gồm năm gian Ở gian chính giữa là các tượng Phật, từ Tam T hế tới toà Cửu Long Ở các gian bên là tượng các vị sư đã trụ trì và tịch ở chùa Chùa được xây bằng đá phiến xanh Bên trái có tấm bia được khắc từ thời Nguyễn ghi tên những người có công xây dựng chùa, phía đầu hồi có 5 tháp mộ của các nhà sư đã tịch

M en theo đương lên núi ở phía bên phải chùa Hạ, qua 60 bậc đã sẽ tới chùa Trung Độ cao từ chùa Hạ lện chùa Trung khoảng 30m, tạo cho chùa Trung thế độc đáo

Chùa Trung có kiến trúc một nửa gắn vào động núi, một nửa vươn mái ra phía ngoài theo kiểu bán mái Cửa động như ôm gọn mái chùa Ở phía trên có hai chữ Hán “Bích Động” tạc vào vách núi Chùa Trung có 3 gian cũng được xếp các tượng Phật, ở bên trái theo của hậu vào trong động đá Cửa động có hình cái võng nên có tên gọi là cầu giải Oan ở đó

có treo một chiếc chuông đổng rất lớn được hai nhà sư là Chí Kiên và Chí Thể cho đúc vào năm Đinh Hợi (1707) Được thắp sáng bởi đèn, nến, đuốc, Bích Động hiện ra với vẻ kỳ ảo.

Trang 38

Bích Động có nghĩa là Động Xanh do thân phụ của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm đặt và cho khắc chữ trên vách núi vào năm 1773 Được tạo thành bởi quá trình thẩm thấu nước của núi đá vôi, Bích Động khá rộng với nhiều nhũ đã mang các dáng hình tiên cô, tiểu đồng, rồng lượn, hổ chầu Trần động đôi chỗ rất phẳng như được mài giữa công phu.

Trên nền động có nhũ đá hình eon rùa lớn và cạnh đó là hai khối đá

có âm thanh kỳ lạ khi gõ vào: một khối có tiếng trầm, một khối có tiếng thanh Gần cửa sau của động có 3 pho tượng phật tạc thế đứng, bằng đá trông uy nghiêm Sát cửa động có một hang nhỏ đặt tượng Quan Âm Bồ Tát

Chùa Thượng cách cửa sau của động chứng 30 bậc đá khá cheo leo theo kiểu “níu đá, vin cây tới cửa chùa” như câu thơ của Nguyễn Nghiễm

Đó là ngôi chùa nhỏ, quay hưáng Đông Đứng từ đây có thể nhìn bao quát cánh đồng Trường Thi, núi Ngũ Nhạc và cả con đường chạy ra Văn Lâm

Tam Cốc - Bích Động từ lâu đã được du khách đến lễ hội, chiêm bái, tham quan và là tài nguyên du lịôh phức hợp cả tự nhiên và nhân văn

có giá trị cao cho hoạt động của du lịch ở Ninh Bình - ở Hà - Nam - Ninh

Điều đáng chú ý nhất là trên vách núi còn lại rất nhiều dấu tích những bài thơ, câu đối của các bậc chính nhân quân tử Bài “Dục Thuý Sơn linh T ế tháp ký” của Trương Hán Siêu được khắc từ thế kỷ X IV nay vẫn

Trang 39

còn dù bao nắng mưa, bao thời gian Một bài khác: “”Dục Thuý Sơn” cũng được khắc và lưu giữ đến nay.

Vua Lê Thanh Tông khi từ Lam Kinh trở ra đã đến thăm và làm thơ cho khắc trên vách núi bài “Đề Dục Thuý Sơn” Ông cũng cho dựng hành cung chân Dục Thuý Sơn Vua Lê Hiển Tông cũng cho dựng Ly cung ở nơi đây vào thế kỷ xvm Vua Minh Mạng khi tuần du Bắc Hà qua đây đã lên thăm núi Vua Thiệu Trị cũng đến đây đề thơ

Cho đến nay, Dục Thuý sơn như một chứng nhân lịch sử, chứng kiến

sự có mặt của hầu hết các đại diện vua chúa các triều đại phong kiến v iệt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ X IX Theo thống kê ở núi Dục Thuý có tới 42 bản văn bia khắc qua các triều đại bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngừ với nhiều nội dung khác nhau: Thánh chỉ của Trần Minh Tông, thơ đề, ký,

mở hội, vãn bản về ruộng đất Các thi sĩ nổi danh thời Lê hầu như đều có lưu thơ tại đây, chưa kể tới những bài thơ viết về Dục Thuý sơn từ cổ tới kim

Theo 100 bậc đá lên đỉnh núi, vào Nghênh phong các, có thể thả hồn về quá khứ với những bài thơ của cố nhân, có thể phóng tấm mắt tới những dãy núi xa, tới chân trời của biển và những cánh đồng, dòng sông cận kề.♦

Kim Sơn là vùng đất bồi, mới được lập thành các đơn vị hành chính hơn 200 năm trước đây khi Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ vâng mệnh triều đình đến đây châu tập dân chúng khẩn hoang, lấn biển

40

Ngày đăng: 11/05/2020, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm