ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH ĐỖ MINH HIỀN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI DI SẢN THIÊN NHIÊN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
ĐỖ MINH HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI DI SẢN
THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI VỊNH HẠ LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
ĐỖ MINH HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI DI SẢN
THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI VỊNH HẠ LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành : BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: 8900201.01QTD
Người hướng dẫn khoa học: TS Dư Văn Toán
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Dư Văn Toán, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Học viên
Đỗ Minh Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới TS Dư Văn Toán – người đã dành nhiều thời gian, nhiệt tình và tâm huyết hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văm nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô trong Khoa Các hoa học liên ngành, thầy (cô) là giảng viên tại các trường đại học khác đã tham gia giảng dạy lớp cao học Biến đổi khí hậu khóa 6, Khoa Các khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp làm việc tại Ban quản
lý vịnh Hạ Long đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin, số liệu, điều tra, phỏng vấn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể học viên lớp cao học Biến đổi khí hậu khóa 6, Khoa Các khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội đã góp ý và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, tháng 3/2019
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
ĐỖ MINH HIỀN
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan tài liệu 7
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 10
1.2 Cơ sở lý luận 12
1.2.1 Một số khái niệm về biến đổi khí hậu 12
1.2.2 Một số khái niệm về du lịch 14
1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến hoạt động phát triển du lịch 17
CHƯƠNG 2 KHU VỰC NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Khu vực nghiên cứu 19
2.1.1 Vị trí địa lý 19
2.1.2 Địa hình 20
2.1.3 Đặc điểm khí tượng hải văn 20
2.1.4 Các giá trị tự nhiên của Vịnh Hạ Long 23
2.1.5 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực vịnh Hạ Long 24
2.2 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Cách tiếp cận 26
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3 ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH ĐẾN TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI VỊNH HẠ LONG, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG 30
Trang 63.1 Một số biểu hiện của BĐKH tại vịnh Hạ Long 30
3.1.1 Biểu hiện về nhiệt độ 30
3.1.2 Biểu hiện về tổng lượng mưa 33
3.1.3 Biểu hiện của nước biển dâng 35
3.1.4 Biểu hiện của bão tại khu vực vịnh Hạ Long 39
3.3 Kịch bản Biến đổi khí hậu cho khu vực Quảng Ninh và vịnh Hạ Long 42
3.3.1 Về nhiệt độ trung bình 42
3.3.2 Về lượng mưa 42
3.3.3 Về mực nước biển dâng 42
3.4 Ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên du lịch tự nhiên tại vịnh Hạ Long 45
3.4.1 Hệ thống đảo đá, hang động 45
3.4.2 Các hệ sinh thái tự nhiên 52
3.4.3 Các bãi tắm trên vịnh Hạ Long 59
3.5 Ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động du lịch trên vịnh Hạ Long 65
3.5.1 Ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng, vật chất và kỹ thuật phục vụ du lịch 65
3.5.2 Ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động lữ hành du lịch tại vịnh Hạ Long 72
3.6 Đề xuất giải pháp thích ứng với Biến đổi khí hậu nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi đến phát triển du lịch tại vịnh Hạ Long 79
3.6.1 Giải pháp về quy hoạch, quản lý 79
3.6.2 Giải pháp về quy hoạch, quản lý………79
3.6.3 Giải pháp tuyên truyền 80
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu (Climate change)
DSTNTG Di sản thiên nhiên thế giới
ICOMOS Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế (International Council
on Monuments and Sites)
ICCROM
Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Phục hồi các di sản văn hóa (International Centre for the Study of the Preservation and Restoration of Cultural Property)
IPCC
Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (Intergovernmental panel
on climate change)
IUCN Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (The International
Union for Conservation of Nature)
TTKTTVQG Trung tâm Khí tượng - Thủy văn Quốc gia
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc ( United nations Educational Scientific and Cultural
Organization) UNWTO Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization)
WB Ngân hàng thế giới (World bank)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phương trình xu thế của nhiệt độ trung bình năm tại các trạm Bãi Cháy, Hòn Dáu, Cửa Ông giai đoạn 1987 – 2017 31 Bảng 3.2 Phương trình xu thế tổng lượng mưa năm tại các trạm Bãi Cháy, Hòn Dáu, Cửa Ông giai đoạn 1987 – 2017 33 Bảng 3.3 Đánh giá và kiểm nghiệm xu thế biến đổi mực nước biển trung bình theo kịch bản BĐKH 2016 36 Bảng 3.4 Mực nước biển dâng quan trắc tại trạm Hòn Dáu từ năm 1987 – 2017 37 Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn về các hiện tượng thời tiết thường xuyên xuất hiện trên vịnh Hạ Long 40 Bảng 3.6 Đánh giá của người dân về tác động của thiên tai đối với hoạt động khai thác du lịch của doanh nghiệp những năm gần đây 41 Bảng 3.7 Biến đổi nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ cơ sở 42 Bảng 3.8 Diện tích dự báo có nguy cơ ngập đối với tỉnh Quảng Ninh 44 Bảng 3.9 Tổng hợp thiệt hại về người và phương tiện trên vịnh Hạ Long do thiên tai gây ra từ 1999 - 2017 71 Bảng 3.10 Số liệu hủy vé tham quan vịnh Hạ Long do thời tiết năm 2016, 2017 78
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu 5
Hình 1.1 Tác động của BĐKH đến phát triển du lịch 18
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 19
Hình 3.1 Diễn biến nhiệt độ quan trắc tại trạm Bãi Cháy từ 1987 - 2017 31
Hình 3.2 Diễn biến nhiệt độ quan trắc tại trạm Hòn Dáu từ 1987 - 2017 32
Hình 3.3 Diễn biến nhiệt độ quan trắc tại trạm Cửa Ông từ 1987 - 2017 32
Hình 3.4 Diễn biến tổng lượng mưa quan trắc tại trạm Bãi Cháy từ 1987 - 2017 34
Hình 3.5 Diễn biến tổng lượng mưa quan trắc tại trạm Hòn Dáu từ 1987 – 2017 34 Hình 3.6 Diễn biến tổng lượng mưa quan trắc tại trạm Cửa Ông từ 1987 – 2017 35
Hình 3.7 Diễn biến mực nước biển dâng quan trắc tại trạm Hòn Dáu từ năm 1987 - 2017 35
Hình 3.8 Số cơn bão hàng năm đổ bộ vào khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh quan trắc tại trạm Hòn Dáu từ năm 1987 - 2017 38
Hình 3.9 Kết quả phỏng vấn về một số hiện tượng thời tiết thường xuyên xuất hiện trên vịnh Hạ Long 38
Hình 3.10 Bản đồ ngập lụt tại Quảng Ninh ứng với mực NBD 100cm 43
Hình 3.11 Các kiểu địa hình và hang động karst ở vịnh Hạ Long 46
Hình 3.12 Mô tả sự phá hoại của sóng biển ở giai đoạn đầu 47
Hình 3.13 Sự hình thành mặt cân bằng xâm thực của biển 47
Hình 3.14 Cửa hang trên vịnh Hạ Long so với mực nước biển hiện tại 48
Hình 3.15 Sạt lở tại hòn Bề Hẹn trên vịnh Hạ Long 49
Hình 3.16 Đổ lở, sạt lở tại hòn 649 trên vịnh Hạ Long 50
Hình 3.17 Đổ lở, sạt lở tại đảo Soi Sim trên vịnh Hạ Long 51
Hình 3.18 Hiện tượng San hô bị chết ở Vịnh Hạ Long 56
Hình 3.19 Sự biến động độ phủ san hô tại một số rạn qua các năm tại vịnh Hạ Long 56
Hình 3.20 Bản đồ phân bố Thạch sùng mí cát bà ở thời điểm khảo sát năm 2017 58 Hình 3.21 Bản đồ phân bố Thạch sùng mí cát bà ở thời điểm năm 2050 theo dự báo của kịch bản BĐKH 59
Trang 10Hình 3.22 Diện tích bãi cát trên vịnh Hạ Long 60
Hình 3.23 Bãi cát tại khu vực Trăng lưỡi liềm trên vịnh Hạ Long 61
Hình 3.24 Bãi cát tại khu vực Soi Ván trên vịnh Hạ Long 61
Hình 3.25 Bãi tắm Ti top tại vịnh Hạ Long 62
Hình 3.26 Bãi tắm Titop lúc thủy triều xuống thấp 63
Hình 3.27 Bãi tắm Titop lúc thủy triều lên làm ngập toàn bộ bãi tắm 64
Hình 3.28 Ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên du lịch tự nhiên 65
Hình 3.29 Ảnh hưởng của BĐKH đến hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 72 Hình 3.30 Số lượng khách tham quan vịnh Hạ Long từ năm 1996-2017 76
Hình 3.31 Tổng thu phí tham quan vịnh Hạ Long từ 1996 - 2017 76
Hình 3.32 Lượng khách tham quan vịnh Hạ Long theo các tháng trong năm từ 2013 – 2017 77
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), Việt Nam đứng thứ 3 trong top 10 nước có tốc độ tăng trưởng khách quốc tế (29%) nhanh nhất thế giới trong năm 2017 chỉ đứng sau 2 quốc gia là Ai Cập (55%) và Togo (+47%) Sự tăng trưởng khách du lịch định hướng 2020 sẽ đạt 20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, đóng góp hơn 10% GDP của cả nước Điều đó cho thấy những đóng góp không nhỏ của ngành Du lịch vào nền kinh tế của nước nhà Do đó, phát triển du lịch hiện nay được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước
Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long là khu du lịch biển nổi tiếng của Việt Nam, hàng năm đón hàng triệu lượt khách đến tham quan, đóng góp cho ngân sách hàng trăm tỉ đồng, góp phần phát triển kinh tế địa phương Chính vì tầm quan trọng
đó, trong chiến lược phát triển sản phẩm Du lịch Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn
đến 2030 đã đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là: “Hình thành các dòng sản
phẩm mang tính hệ thống… Hình ảnh biểu tượng cho du lịch Việt Nam với những giá trị nổi bật toàn cầu là di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng” [9]
Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra trên toàn cầu, các hiện tượng thiên tai và khí hậu cực đoan gia tăng là mối lo ngại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Đây là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21, nó không còn là vấn đề của một ngành riêng lẻ mà tác động đến mọi vấn đề phát triển có liên quan đến con người, ảnh hưởng đến các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế, trong đó có ngành du lịch [36] Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam cũng là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH, đặc biệt là các tỉnh ven biển Trong chiến lược phát triển du lịch Việt
Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 đã xác định “tính thời vụ, thời tiết khắc
nghiệt, tác động của BĐKH là những thách thức lớn đối với phát triển du lịch”[9]
Các nghiên cứu cũng cho thấy mỗi năm biến đổi khí hậu có thể làm kinh tế thế giới tổn thất 1,2 nghìn tỷ USD; khiến hơn 4,5 tỷ người (khoảng 64% dân số toàn cầu)
Trang 12phải sống tại các khu vực có nguy cơ cao chịu hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, mưa lớn, lũ lụt, bão, lốc xoáy Ở Việt Nam, tác động của BĐKH và NBD
đã hiện diện trong mọi mặt của cuộc sống xã hội, trong đó có hoạt động phát triển
du lịch Những biến đổi bất thường, không theo quy luật của các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày một gia tăng Sự xuất hiện và tác động trực tiếp của cơn bão số 8 (có tên quốc tế là Sơn Tinh) với sức gió lên đến trên cấp 12 đến các tỉnh ven biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa vào những ngày cuối tháng 10/2012 và sự xuất hiện, tác động của cơn bão số 1 ở khu vực phía Nam vào những ngày đầu năm
2013 là một minh chứng rõ rệt Theo các chuyên gia, BĐKH đã khiến một số bãi biển, khu du lịch như ở Hội An, Kiên Giang bị thu hẹp và có thể biến mất trong tương lai Đây là kết quả phân tích và nghiên cứu của các nhà khoa học trong khuôn khổ Dự án Chương trình Phát triển năng lực Du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án EU-ESRT, do Liên minh châu Âu tài trợ), được đề cập tại Hội nghị Việt Nam hướng đến du lịch bền vững trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu, ngày 17/8/2016 tại Hà Nội Các chuyên gia nhấn mạnh xói lở sâu vào đất liền còn làm hư hại các di sản văn hóa, khu bảo tồn, khu du lịch sinh thái Một số cơ sở hạ tầng du lịch có thể bị ngập, buộc phải di chuyển hoặc bị đình trệ kinh doanh, làm tăng chi phí cho việc cải tạo, di chuyển và bảo trì Ví dụ điển hình về tác động này
là sự “ra đi” của khu du lịch Khai Long (Cà Mau), trong vòng 5 năm sau ngày khai trương vào năm 2005; Ảnh hưởng nặng nề làm mất đi một phần khu du lịch Ana Mandara – Huế bởi xói lở bờ biển do nước biển dâng; Do tác động của đợt mưa lụt lịch sử năm 2015 đã làm cho ngành Du lịch Quảng Ninh bị thiệt hại hơn 20 tỷ đồng (thống kê của Sở Du lịch Quảng Ninh) Đây là một trong những minh chứng rõ nét nhất cho tác động tiêu cực của BĐKH đến phát triển du lịch Tại hội thảo khoa học đánh giá việc biến đổi khí hậu đối với hoạt động quản lý, phát triển các hoạt động du lịch Việt Nam do Tạp chí Du lịch (Tổng cục Du lịch) tổ chức chiều 9/11/2009 tại Hà Nội, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Mạnh Cường khẳng định: "Du lịch là ngành kinh tế nhạy cảm với điều kiện môi trường tự nhiên do đó là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tác động của biến đổi khí hậu dẫn đến nước biển dâng cao" [16] Chính vì thế, ngành Du lịch
Trang 13cần có các giải pháp cụ thể để ngăn chặn ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, góp phần phát triển bền vững
Là một khu du lịch ven biển, vịnh Hạ Long có điều kiện tự nhiên phong phú,
hệ thống đảo đá, hang động đẹp, các bãi tắm tự nhiên phân bố xung quanh các chân đảo đá, hệ sinh thái thảm thực vật trên núi đá vôi và các hệ sinh thái biển đây là những điều kiện tự nhiên quan trọng tạo nên cảnh quan đặc sắc cho khu vực Chính
vì thế, vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận 2 lần là Di sản thiên nhiên của thế giới với giá trị thẩm mỹ và địa chất địa mạo Điều này càng làm cho vịnh Hạ Long trở nên nổi tiếng và là một trong những khu du lịch đặc sắc không những của Việt Nam và trên thế giới Tuy nhiên, trong bối cảnh BĐKH, các giá trị tài nguyên
và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch của vịnh Hạ Long cũng phải chịu tác động từ sự
thay đổi này Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu đến tài nguyên du lịch tự nhiên và hoạt động du lịch tại di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long” nhằm nghiên cứu ảnh hưởng và dự báo xu hướng tác động
của Biến đổi khí hậu đối với phát triển du lịch tại vịnh Hạ Long, qua đó, đề xuất các giải pháp thích ứng kịp thời nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại của hoạt động phát triển du lịch do biến đổi khí hậu, góp phần duy trì và phát triển mục tiêu đưa ngành
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Quảng Ninh
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu và đề xuất giải pháp hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tài nguyên du lịch tự nhiên và hoạt động du lịch tại di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập số liệu quan trắc một số yếu tố khí hậu tại các trạm quan trắc thuộc khu vực vịnh Hạ Long (Trạm Bãi Cháy, Cửa Ông, Hòn Dáu) để nghiên cứu biểu hiện và diễn biến khí hậu tại khu vực vịnh Hạ Long
- Thu thập số liệu, dữ liệu ghi lại những thiệt hại do các hiện tượng thiên tai (bão, triều cường, dông, lốc), điều tra phỏng vấn để nghiên cứu về những ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến tài nguyên du lịch tự nhiên (hệ thống đảo đá, các
hệ sinh thái biển, hệ thống bãi tắm) và hoạt động du lịch tại Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
Trang 14- Đề xuất giải pháp thích ứng nhằm giảm thiểu thiệt hại do BĐKH trong phát
triển du lịch tại khu vực vịnh Hạ Long
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là tài nguyên du lịch tự
nhiên (đảo đá, bãi tắm, hệ sinh thái tự nhiên) và hoạt động du lịch tại Di sản thiên
nhiên thế giới vịnh Hạ Long
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Khu vực vùng lõi của vịnh Hạ Long đã được UNESCO công
nhận là Di sản thiên nhiên thế giới
- Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2018 đến tháng
10/2018 Các số liệu khí tượng phục vụ nghiên cứu được thu thập trong vòng 30
năm trở lại đây (từ năm 1987 đến năm 2017)
5 Phân tích vấn đề nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Những thiệt hại chủ yếu do BĐKH đối với tài nguyên du lịch tự nhiên và
hoạt động du lịch như thế nào?
- Những giải pháp thích ứng gì phục vụ cho công tác phát triển du lịch của
vịnh Hạ Long trong bối cảnh BĐKH?
5.2 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là: Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên
du lịch tự nhiên, cơ sở hạ tầng và hoạt động du lịch tại vịnh Hạ Long Từ kết quả
nghiên cứu đó sẽ đề xuất các giải pháp thích ứng, phát triển du lịch bền vững cho
khu di sản vịnh Hạ Long trong bối cảnh BĐKH Trên cơ sở lý luận của vấn đề
nghiên cứu, Luận văn xây dựng hệ thống của các vấn đề nghiên cứu qua khung
phân tích vấn đề nghiên cứu sau (Hình 1).
Trang 15Hình 1 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu 5.3 Những đóng góp của Luận văn
- Về mặt khoa học: Để tài tổng hợp các số liệu về diễn biến khí hậu tại khu vực, thu thập thông tin liên quan để nghiên cứu, làm rõ những ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên du lịch tự nhiên, cơ sở hạ tầng du lịch và hoạt động du lịch tại Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo để đưa ra những
đề xuất, giải pháp thích ứng nhằm giảm thiểu những tác động tiềm tàng của Biến đổi khí hậu đối với tài nguyên du lịch và hoạt động du lịch tại vịnh Hạ Long, Qua
đó, góp phần hiệu quả trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
- Tính mới của nghiên cứu: Đây là nghiên cứu về ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến tài nguyên du lịch tự nhiên và hoạt động du lịch đầu tiên tại Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
Trang 166 Kết cấu của Luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Khu vực nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên du lịch tự nhiên và hoạt động du lịch tại vịnh Hạ Long, đề xuất một số giải pháp thích ứng
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tài liệu
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Năm 1988, IPCC ra đời với nhiệm vụ tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH gây ra bởi con người, đánh dấu bước quan trọng về nhận thức và hành động của toàn thế giới Các báo cáo chuyên ngành của IPCC phân tích những nguyên nhân, hậu quả gây ra do BĐKH, là cơ sở lý thuyết quan trọng được đưa ra thảo luận và làm căn cứ tại các hội nghị toàn cầu về BĐKH Theo đó, xu thế chung là nhiệt độ trung bình trên toàn thế giới tăng lên 0,60
C (+/- 0,20C), nhiệt độ trên đất liền tăng nhiều hơn trên biển, thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua”
Năm 2007, Trung tâm Di sản Thế giới của UNESCO, hướng dẫn của Ủy ban
Di sản thế giới và trong hợp tác với các đối tác khác nhau và các cơ quan tư vấn (Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế, ICOMOS; Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên, IUCN và Trung tâm quốc tế về nghiên cứu bảo tồn và phục hồi các tài sản văn hóa, ICCROM), đã đưa ra nhiều sáng kiến đáng chú ý, dẫn đến sự phát triển của một chiến lược tổng thể về quản lý di sản khi đối mặt với biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, một tài liệu chính sách chung về tác động của thay đổi khí hậu đối với Di sản Thế giới thuộc tính đã được thông qua bởi Đại hội đồng quốc gia thành viên tại phiên họp lần thứ 16 của mình và công nhận biến đổi khí hậu đã được công nhận là một mối đe dọa cho di sản thiên nhiên và văn hóa Theo đó, UNESCO đã xác định một số Di sản thế giới bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu, trong đó có khu du lịch lớn như Venice, Ý; Vườn quốc gia Kilimanjaro, Tanzania; Vườn quốc gia Sagarmatha, Nepal; và các trung tâm lịch sử của CEsky Krumlov và Prague tại Cộng hòa Séc (UNESCO, 2007b)[45] Trong năm 2014, một phân tích toàn cầu bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Innsbruck và Viện Potsdam đã nghiên cứu tác động khí hậu đến các Di sản văn hóa thế giới và xác định hơn 130 Di sản có nguy cơ dài hạn từ mực nước biển dâng, trong đó có các hang động Elephanta của Ấn Độ, vịnh Mont-Saint-Michel của Pháp và Khu Khảo cổ của Carthage ở Tunisia (Marzeion và
Trang 18Levermann 2014) Hiện nay có hơn 1000 Di sản thế giới ở 163 quốc gia và một rất nhiều trong số đó là các điểm du lịch quan trọng
Năm 2014, nghiên cứu của UNESCO về 22 loại tác động được báo cáo hầu hết tại các địa điểm di sản thế giới thống kê từ năm 1979-2013 cho thấy thiệt hại %
do ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến các di sản như sau: Châu phi 21-30%, A rập (31-40%), Châu Á - Thái Bình Dương (41-60%), Châu Âu và Châu Mỹ (61- 75%), Mỹ La tinh và Caribbean (76-100%) Trong đó, chủ yếu thiệt hại về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, nhà ở, hoạt động du lịch, giải trí Cũng trong năm 2014, liên minh Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (IUCN) và Di sản thế giới đã tuyên bố biến đổi khí hậu là mối đe dọa tiềm năng nghiêm trọng nhất đối tự nhiên các Di sản thế giới trên toàn thế giới (Osipova et al 2014a) Các tác động trực tiếp và gián tiếp của biến đổi khí hậu có thể biểu hiện một mối đe dọa đến giá trị nổi bật toàn cầu, tính toàn vẹn và xác thực của các Di sản BĐKH có thể sẽ làm trầm trọng thêm căng thẳng hiện có và mang lại tác động trực tiếp của riêng nó Mực nước biển dâng, nhiệt độ cao hơn, thay đổi môi trường sống và thường xuyên hơn các sự kiện thời tiết khắc nghiệt như bão, lũ lụt và hạn hán, làm thay đổi hoặc suy giảm các thuộc tính tự nhiên vốn có của các di sản thế giới, cũng là những khu du lịch nổi tiếng [47]
Năm 2014, UNESCO cũng công bố Báo cáo số 37 hướng dẫn cho các Di sản thế giới phân tích các mối đe dọa biến đổi khí hậu và lựa chọn những giải pháp thích ứng cho mục tiêu quản lý của mình Hướng dẫn cho phép các nhà quản lý di sản chú ý đến yếu tố biến đổi khí hậu vào quản lý và lập kế hoạch hành động quản
Trang 19- Đối với du lịch sinh thái: các đơn vị tổ chức du lịch và người du lịch có thể gặp nhiều trở ngại, rủi ro hơn và chi phí chắc chắn sẽ tăng lên
Các yếu tố khí hậu được xác định là có ảnh hưởng lớn nhất đối với ngành du lịch là nhiệt độ, ánh nắng mặt trời, bức xạ, lượng mưa, gió, độ ẩm và s ương mù [42] Các yếu tố này cần được đo lường và đánh giá vì nó có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của con người và là nguồn lực quan trọng đối với ngành du lịch Một trong những nghiên cứu đầu tiên về BĐKH và ngành du lịch là “Dự báo các ảnh hưởng của thay đổi nhiệt độ đối với ngành công nghiệp trượt tuyết ở Thụy Sỹ” [42] Nghiên cứu cho thấy rằng, trong điều kiện nhiệt độ hiện tại và chiều dài đường tuyết là 1200m thì có đến 85% cơ hội để phục vụ cho ngành công nghiệp trượt tuyết Tuy nhiên, nếu nhiệt độ tăng 20
C, khả năng này chỉ còn 65% Điều này cho thấy nhiệt độ tăng có tác động nghiêm trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp trượt tuyết của khu vực
Năm 2016, UNESCO cũng công bố báo cáo nghiên cứu của Liên hiệp hội các nhà khoa học vì một hành tinh khỏe và thế giới an toàn hơn (Union of concerned scientist-Science for a healthy planet and safer world) về chủ đề Di sản thế giới và
du lịch trong BĐKH, trong đó có nghiên cứu điển hình tại Hội An của Việt Nam Báo cáo đã khẳng định rằng: “Biến đổi khí hậu nhanh chóng trở thành một trong những rủi ro quan trọng nhất đối với các di sản thế giới trên toàn cầu” [45] Bây giờ biển đang tăng, nhiệt độ cao hơn, tăng cường các sự kiện thời tiết và các tác động khí hậu khác đe doạ nhiều địa điểm này và các nền kinh tế địa phương phụ thuộc vào chúng Báo cáo này cung cấp tổng quan về sự gia tăng tính dễ tổn thương của các di sản thế giới đến khí hậu thay đổi tác động và những hàm ý tiềm ẩn cho và của du lịch toàn cầu Nó cũng kiểm tra mối quan hệ chặt chẽ giữa di sản thế giới và
du lịch, và sự thay đổi khí hậu có khả năng như thế nào làm trầm trọng thêm các vấn đề gây ra bởi du lịch không theo kế hoạch phát triển và không kiểm soát được hoặc quản lý kém, cũng như các mối đe dọa và căng thẳng khác Du lịch cũng có thể đóng một vai trò tích cực trong việc giúp đỡ đảm bảo tương lai của nhiều Di sản thế giới trong một khí hậu thay đổi Mục tiêu của báo cáo là cung cấp, cập nhật thông tin và cơ sở cho hành động BĐKH với du lịch và di sản thế giới sau khi Hiệp định Paris được thông qua bởi Hội nghị của các bên tham gia Công ước khung của
Trang 20Liên hợp quốc về BĐKH vào tháng 12/2015 và Chương trình nghị sự 2030 cho phát triển bền vững, được thông qua bởi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 10/2015
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Một số công trình nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của BĐKH đến du lịch đã được thực hiện như:
Công trình nghiên cứu “Những hậu quả của biến đổi khí hậu với phát triển du lịch ở Việt Nam” do PGS.TS Phạm Trung Lương, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, thực hiện Kết quả nghiên cứu đã đưa ra một số nhận định về ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động du lịch và giải pháp ứng phó tại Việt Nam Nghiên cứu được trình bày tại diễn đàn Phát triển Mê Kông “Biến đổi khí hậu: Hậu quả và thách thức với các quốc gia” do Ngân Hàng Châu Á phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tư tổ chức tháng 5/2007 [20] Theo kết quả nghiên cứu đã đưa ra, BĐKH tác động trực tiếp đến cơ sở hạ tầng du lịch, hoạt động lữ hành và đặc biệt là tài nguyên du lịch, yếu
tố nền tảng cho phát triển du lịch
Năm 2010, tác giả Nguyễn Việt, Viện khí tượng và thủy văn Trung ương đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về Tác động của biến đổi khí hậu với ngành
du lịch miền Trung và biện pháp ứng phó [37] Trong nghiên cứu của mình, tác giả
đã đưa ra một số đánh giá về tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành du lịch miền Trung như sau: Do nước biển dâng cao, một số vùng ven biển của các tỉnh miền Trung bị ngập, trong đó có các cơ sở du lịch, nếu không kịp thời điều chỉnh Một số nhà nghỉ gần biển sẽ bị hư hại do sạt lở, các bãi tắm bị xâm thực mạnh Các tour du lịch sinh thái trong vùng đầm phá không thực hiện được do bị ngập sâu, một số điểm du lịch sinh thái rừng ngập mặn như Rú Chá, cửa sông Bu Lu, dọc sông Ô Lâu có khả năng biến mất Xu thế tăng lượng mưa trong thời kỳ mưa lũ và giảm lượng mưa trong thời kỳ ít mưa đặt ra vấn đề tính toán cấp thoát nước trong khu du lịch Cao độ nền móng, khẩu độ cống rãnh thoát nước phải điều chỉnh cho phù hợp Tình trạng hạn hán sẽ gay gắt hơn Nguồn cấp nước trong mùa khô phải được tính đến, nhất là vùng Nam Trung Bộ, nơi mà tình trạng sa mạc hóa đang đe dọa Các sân golf liền kề cả trăm héc ta đất ven biển sẽ tác động đến môi trường khi
Trang 21các khu rừng dương phòng hộ bị chặt bỏ, các cồn cát được san lấp không còn tác dụng ngăn chặn sóng thần, nước dâng, hóa chất được sử dụng để duy trì những đồi
cỏ sẽ tác động đến mạch nước ngầm Nhiệt độ tăng làm cho đa dạng sinh học giảm, một số loài sinh vật đặc hữu tại một số địa điểm du lịch sinh thái có thể bị biến mất, các rạn san hô có thể bị thoái hóa làm giảm sự hấp dẫn Các món ăn truyền thống cũng bị ảnh hưởng Ngoài ra, biến đổi khí hậu có thể làm cho môi trường du lịch bị suy giảm, ô nhiễm nước biển tại các bãi tắm tăng lên Tác động lâu dài của BĐKH
sẽ gây ra dịch bệnh, đói nghèo, mất an ninh lương thực, mất ổn định chính trị thu nhập của người du lịch sẽ giảm, tất yếu sẽ làm giảm lượng khách du lịch Kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đề ra một số biện pháp thích ứng phó nhằm giảm thiểu những tác động của BĐKH cho ngành du lịch tại khu vực miền Trung [37]
Cũng trong năm 2010, Nguyễn Văn Thắng và cộng sự đã thực hiện nghiên
cứu “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” đã xác định các tác động của
BĐKH đến ngành du lịch gồm: 1) BĐKH gây ra nhiều trở ngại cho ngành du lịch: Một số công trình trên các bãi biển đều phải dần dần nâng cấp để thích ứng với mực nước biển dâng; Một số bãi biển sâu hơn và sóng biển cao hơn; Nhiều chuyến
du lịch biển có thể gặp nhiều rủi ro hơn; Gia tăng cả bức xạ tử ngoại lẫn bức xạ nhìn thấy 2) BĐKH tác động đến một số hoạt động du lịch sinh thái 3) BĐKH tác động nhiều đến hoạt động du lịch núi cao: Thu hẹp vùng có nhiệt độ lý tưởng; Gia tăng rủi ro trong suốt hành trình 4) BĐKH gây nhiều khó khăn cho phát triển du lịch bền vững [27]
Năm 2014, học viên cao học Nguyễn Thị Thùy Linh đã nghiên cứu tác động BĐKH đối với hoạt động phát triển du lịch biển tại địa bàn Thừa Thiên Huế và Quảng Nam làm đề tài bảo vệ luận văn thạc sỹ [18] Kết quả đã nghiên cứu và chỉ
ra một số kết quả sau: 1) Tổng hợp hệ thống cơ sở lý luận về BĐKH, Du lịch biển, nêu rõ cơ chế tác động của BĐKH đôi với hoạt động du lịch biển trên 03 nhóm chính là: tài nguyên du lịch; hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và hoạt động
lữ hành; các yếu tố về mức độ ảnh hưởng do tác động BĐKH đến khu, điểm du lịch với các ngưỡng để đánh giá mức ảnh hưởng do tác động của BĐKH; đưa ra cái nhìn tổng quan về BĐKH trên thế giới và Việt Nam hiện nay 2) Nghiên cứu về tác động của BĐKH đến hoạt động phát triển du lịch biển; đánh giá hiện trạng tác động
Trang 22của BĐKH đối với hoạt động phát triển du lịch biển tại Huế - Quảng Nam trên 02 phương diện đó là: tác động tích cực và tác động tiêu cực Kết quả khảo sát, điều tra xã hội học tại một số địa bàn trọng điểm du lịch kết hợp với những kết quả nghiên cứu có liên quan đã xác nhận cho thấy khả năng nhận thức về BĐKH còn thấp, chưa đầy đủ và ứng phó với BĐKH chưa có được sự hiểu biết Đồng thời xây dựng kịch bản mực NBD cho các mốc gia đoạn của thế kỷ 21 3) Qua nghiên cứu tác động của BĐKH đối với hoạt động phát triển du lịch biển và căn cứ vào kịch bản mực NBD dâng của thế kỷ 21 với kịch bản mực NBD cao 1m
Từ đó, đề xuất một số giải pháp trong thích ứng và ứng phó với BĐKH tại địa bàn Huế - Quảng Nam
Như vậy, bước đầu tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu đánh giá về ảnh hưởng của BĐKH đến các tài nguyên tự nhiên và du lịch Qua đó, các nghiên cứu cũng đưa ra những dự báo và giải pháp để ứng phó với BĐKH trong tương lai Tuy nhiên, các nghiên cứu đang đánh giá ở mức độ tổng thể trên toàn lãnh thổ Việt Nam và đại diện cho một số khu vực có giá trị tự nhiên tiêu biểu, nhạy cảm, phần lớn mang tính định hướng, chưa có đánh giá cụ thể cho một địa điểm, đặc biệt, chưa có nghiên cứu tại vịnh Hạ Long
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm về biến đổi khí hậu
a Biến đổi khí hậu
Theo IPCC: “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ 7 hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển” [36]
BĐKH và biểu hiện của nó cũng có liên quan chặc chẽ đến hiện tượng Elino
và La Nina “El Nino” là từ được dùng để chỉ hiện tượng nóng lên dị thường của lớp nước biển bề mặt ở khu vực xích đạo trung tâm và Đông Thái Bình Dương, kéo
Trang 23hơn hoặc thưa hơn “La Nina” là hiện tượng lớp nước biển bề mặt ở khu vực nói trên lạnh đi dị thường, xảy ra với chu kỳ tương tự hoặc thưa hơn El Nino ENSO là
từ để chỉ cả 2 hiện tượng El Nino và La Nina và có liên quan với dao động của khí
áp giữa 2 bờ phía Đông Thái Bình Dương với phía Tây Thái Bình Dương – Đông
Ấn Độ Dương (được gọi là Dao động Nam) để phân biệt với (dao động khí áp ở Bắc Đại Tây Dương) Hiện tượng El Nino và La Nina có ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu toàn cầu với mức độ khác nhau và rất đa dạng Tuy nhiên, đối với từng khu vực cụ thể, vẫn có thể xác định được những ảnh hưởng chủ yếu có tính đặc trưng cảu mỗi hiện tượng nói trên Hiện tượng El nino và La Nina thể hiện sự biến động dị thường trong hệ thống khí quyển – Đại dương với quy mô thời gian giữa các năm, có tính chu kỳ hoặc chuẩn chu kỳ Trong tình hình biến đổi khí hậu – sự nóng lên toàn cầu, hiện tượng ENSO cũng có những biểu hiện dị thường về cường độ Nghiên cứu hiện tượng ENSO để hiểu biết về cơ chế vật lý, đặc điểm và quy luật diễn biến cũng như những hậu quả tác động của chúng, chúng ta có thể cảnh báo trước sự xuất hiện của ENSO, những ảnh hưởng
có thể xảy ra đối với thời tiết, khí hậu và kinh tế - xã hội để có những biện pháp phòng, tránh hiệu quả, hạn chế và giảm nhẹ thiệt hại do ENSO gây ra [7]
b Nước biển dâng
Nước biển dâng (NBD): Là sự dâng mực nước biển của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm thủy triều, nước dâng do bão,…Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ đại dương và các yếu tố khác Biến đổi khí hậu đang làm cho các đại dương ấm lên Nhiệt độ tăng làm tăng dung tích nước vốn có của các đại dương đồng thời làm cho băng tan từ các vùng Bắc cực và Nam cực, từ các khối
băng trên núi cao Hệ quả của các hiện tượng này là quá trình nước biển dâng [7]
c Những biểu hiện của Biến đổi khí hậu
Theo báo cáo khí hậu của IPCC (2007), những biểu hiện của BĐKH có thể quan sát được như: nhiệt độ của hệ thống khí quyển tăng lên, những ngày nóng trở nên nóng hơn, những ngày lạnh trở nên lạnh hơn; những cơn bão trở nên mạnh hơn, nguy hiểm hơn, lốc xoáy, mưa lớn và lũ lụt diễn ra ở diện rộng hơn; sự tan chảy
Trang 24của băng tuyết làm gia tăng mực nước biển dâng [35] Những trận mưa đá dữ dội hoặc mưa trút nước tăng lên ở hầu hết các khu vực và trở nên thường xuyên Cường
độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển thay đổi, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác cũng thay đổi dẫn tới sự xuất hiện ngày một tăng những hiện tượng khí hậu dị thường, tai biến thiên nhiên, các hiện tượng thời tiết cực đoan như lốc xoáy, lũ lụt…
d Thích ứng với Biến đổi khí hậu
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc kinh tế - xã hội đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội
do nó mang lại [7]
1.2.2 Một số khái niệm về du lịch
a Du lịch
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới của Liên Hợp Quốc (UNWTO):
“Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục không qua một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”
Luật Du lịch do Quốc hội nước Cộng hòa xã h ội chủ nghĩa Vi ệt Nam khóa XIV, kỳ họp lần thứ 3 thông qua ngày 19/6/2017 đã đưa ra định nghĩa “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp mục đích hợp pháp khác” [21]
“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch” [21]
Trang 25b Tài nguyên du lịch
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa” [21]
Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn lớn đối với du khách; tài nguyên du lịch là những tài nguyên gồm hai giá trị: giá trị hữu hình và giá trị vô hình; tài nguyên du lịch thường dễ khai thác; tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau; tài nguyên
du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch; tài nguyên du lịch có thể sử dụng được nhiều lần Một số dấu hiệu nhận biết khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch: Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo, bảo vệ; số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch; áp lực môi trường tại các khu, điểm du lịch được quản lý; cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch được quản lý; mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho nỗ lực bảo tồn phát triển tài nguyên, bảo vệ môi trường
● Đặc điểm của tài nguyên du lịch
- Tính phong phú và đa dạng: Đặc điểm này là cơ sở để tạo nên sự phong phú của sản phẩm du lịch, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch
- Sự kết hợp giữa giá trị hữu hình và vô hình: Tài nguyên du lịch không chỉ
có giá trị vật chất là phương tiện hữu hình, hình thành nên các sản phẩm du l ịch,
mà còn ch ứa đựng những giá trị vô hình Giá trị này được thể hiện qua sự cảm nhận, cảm xúc tâm lý và sự thỏa mãn nhu cầu của du khách, đồng thời còn được thể hiện qua kênh thông tinmà khách du lịch nhận được về sản phẩm
- Tính dễ khai thác: hầu hết các tài nguyên du lịch vốn đã có sẵn trong tự nhiên hoặc do con người tạo nên Do đó, chỉ cần đầu tư không lớn đã có thể tôn tạo, tăng thêm vẻ đẹp và tạo ra điều kiện thuận lợi nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên này
Trang 26- Tính thời vụ: Thời gian có thể khai thác và thời điểm khai thác các loại tài nguyên thường không giống nhau và thay đổi trong năm tùy thuộc chủ yếu bởi yếu
tố khí hậu và tập quán dân gian Điều này đã chi phối và quyết định tính mùa trong
du lịch
- Tính bất biến về mặt lãnh thổ: đối với sản phẩm đư ợc tạo ra từ loại tài nguyên du lịch này thì du khách phải đến tận nơi để tận hưởng và thưởng thức; tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng, dòng du l ịch tập trung đến loại tài nguyên đó và là thế mạnh đặc trưng của từng địa phương
- Khả năng sử dụng nhiều lần: nếu tuân theo các quy luật tự nhiên, sử dụng hợp lý và áp dụng những biện pháp bảo vệ chung thì tài nguyên du lịch là một loại tài nguyên có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài
● Phân loại tài nguyên du lịch
Tổ chức du lịch Thế giới (UNWTO,1997) đã xây dựng hệ thống phân loại tài nguyên du lịch thành 3 loại, 9 nhóm gồm: loại cung cấp tiềm tàng (gồm 3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện đại (gồm 3 nhóm: đường sá, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kĩ thu ật (gồm 3 nhóm tính năng: hoạt động du lịch, cách thức và tiềm lực khu vực)
Ở nước ta, cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, tác giả Lê Thông và một số tác giả khác trong quá trình đánh giá tài nguyên du lịch Việt Nam
đã phân chúng thành hai nhóm: 1) Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật; 2) Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm: các di tích văn hóa lịch sử, các lễ hội, các đối tượng gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác Để khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển du lịch bền vững chúng ta cần thực hiện một số giải pháp: Một là: khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch một cách hợp lý và giảm thiểu chất thải ra môi trường
Hai là: phát triển du lịch phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng của tài nguyên
Trang 27Ba là: phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội
vì du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng cao nên mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương
Bốn là: nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm, sự tham gia, ý kiến đóng góp của các đối tượng tham gia du lịch trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch Năm là: tăng cường tính có trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng bá
du lịch
- Tài nguyên tự nhiên: Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch [21]
1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến hoạt động phát triển
du lịch
Theo Chương IV, Luật du lịch (2017), điều kiện để công nhận một điểm du lịch bao gồm: có tài nguyên du lịch, có kết cấu hạ tầng, dịch vụ cần thiết đảm bảo phục vụ khách du lịch, đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Như vậy, trên cơ sở lý luận các khái niệm
về hoạt động du lịch và tài nguyên du lịch cho thấy: du lịch phát triển trên nền tảng của tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch và có liên quan đến hoạt động du lịch
lữ hành Do đó, khi thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động phát triển du lịch cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH tác động trực tiếp đến 3 nhóm đối tượng chủ yếu bao gồm: tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch và hoạt động lữ hành (Hình 1.1)
Trang 28Hình 1.1 Tác động của BĐKH đến phát triển du lịch
Tài nguyên du lịch được xem là yếu tố nền tảng cơ bản cho hoạt động phát triển du lịch Những sự thay đổi về chất lượng và số lượng các dạng tài nguyên du lịch chính sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển du lịch BĐKH sẽ làm thay đổi các điều kiện sinh khí hậu do đó cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh trưởng, phát triển và sinh tồn của nhiều hệ sinh thái, các loài sinh vật quý hiếm, đặc hữu có giá trị cho du lịch sinh thái BĐKH sẽ xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan với cường độ cũng như quy mô ở tầng suất cao Tác động của bão, lũ lụt, ngập úng kéo dài sẽ làm hư hại, xuống cấp và thậm chí làm mất đi nhiều di tích lịch sử văn hóa được xem là tài nguyên du lịch đặc thù phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa, cộng đồng nói riêng Tình trạng suy giảm hoặc mất đi tài nguyên du lịch
sẽ ảnh hưởng đến việc duy trì chất lượng các sản phẩm du lịch đã có hoặc ảnh hưởng đến việc xây dựng phát triển các sản phẩm du lịch mới Như vậy, nhìn từ gốc độc tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn, BĐKH đều có những tác động trực tiếp làm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tài nguyên, chính điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn cho phát triển du lịch
Trang 29CHƯƠNG 2 KHU VỰC NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khu vực nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Vịnh Hạ Long là khu vực nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 165km, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh Vịnh Hạ Long có diện tích là 1.553km2 bao gồm 1.969 hòn đảo, trong đó trên 90% là đảo đá vôi [2]
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu
Khu vực bảo vệ tuyệt đối được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới có diện tích 434km2, gồm 775 hòn đảo trong đó 411 đảo có tên, được giới hạn bởi 3 điểm: Đảo Đầu Gỗ (phía Tây), đảo Đầu Bê (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông) Bao quanh khu vực bảo vệ tuyệt đối là vùng đệm, có chiều rộng từ 5- 7km, phạm vi xê dịch từ 1-2km [2]
Trang 302.1.2 Địa hình
Địa hình của Hạ Long chủ yếu được tạo thành bởi các đảo đá vôi Nền đáy Vịnh được bao phủ bởi lớp trầm tích hạt mịn, khu vực ven bờ đặc trưng bởi các bãi triều lầy, các đồi và núi đá tuổi Mesozoic sớm Các bãi triều thường lớn, được che phủ bởi rừng ngập mặn và đặc trưng bởi hệ thống các kênh và lạch triều Bên cạnh các bãi triều và đồi núi đá còn có một số các bãi cát dọc ven bờ Vịnh Vịnh Hạ Long
có độ sâu không lớn, phổ biến từ 5-7m, những nơi có luồng lạch có độ sâu 10-15m, nơi sâu nhất 25-30m và sâu dần về phía biển Tuy nhiên cũng có một số nơi do ảnh hưởng của các đảo nên độ sâu thay đổi bất thường Đáy biển tương đối bằng phẳng,
có khuynh hướng hơi dốc theo hướng Bắc Nam và từ Tây sang Đông [6]
Vịnh Hạ Long là dạng địa hình đảo xen lẫn các trũng biển, các vùng bãi triều
có sú vẹt mọc và các đảo đá vôi vách dựng đứng rất tương phản nhau Các đảo của vịnh Hạ Long có độ cao khác nhau (phổ biến từ 50 đến 200 m), chủ yếu là các đảo
đá vôi (trên 90%) tập trung ở khu vực Hạ Long và các đảo phiến thạch tập trung ở khu vực Cẩm Phả Một số đảo đất của vịnh Hạ Long có người và động vật sinh sống, có thảm thực vật trù phú
Địa hình đáy biển vịnh Hạ Long tương đối bằng phẳng với độ sâu trung bình 5 -10m, một số luồng lạch có độ sâu trung bình từ 15 - 29m như: vùng trũng Cửa Lục sâu 20 m, lạch Thẻ Vàng sâu 22 - 27m, các lạch có độ sâu trung bình 9 - 10m
2.1.3 Đặc điểm khí tượng hải văn
- Nhiệt độ: Vịnh Hạ Long nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa về cơ
bản có thể phân chia thành 2 mùa: Mùa đông (từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau), có đặc điểm lạnh và khô Về mùa đông, khu vực Hạ Long chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên thời tiết lạnh, nhiệt độ trung bình dao động từ 16-21oC, số ngày có nhiệt độ không khí trung bình dưới 10oC chỉ còn xuất hiện vào tháng 1 và tháng 2, trung bình 0,5-2,5 ngày/năm Mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 10)
có đặc điểm nóng và ẩm Mùa hè có nhiệt độ trung bình từ 260
C - 27oC, nhiệt độ cao đạt tới 36,6oC vào tháng 7, số ngày có nhiệt độ không khí trung bình trên 30o
C (thời tiết “oi bức”) xuất hiện nhiều hơn, trung bình tăng 4-6 ngày/năm [2]
Trang 31- Mưa: Vịnh Hạ Long có tổng lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn dao
động từ 2.000-2.200mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, phân hoá theo mùa tạo thành hai mùa trái ngược nhau: Mùa mưa nhiều: Từ tháng 5 đến tháng 10 lượng mưa chiếm 70-85% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7 Mùa mưa ít: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình thấp, lượng mưa ít nhất nằm trong tháng 12 [2]
- Gió, bão: Về mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 8, thường có gió Đông Nam, hay
xuất hiện áp thấp nhiệt đới, ảnh hưởng đến thời tiết vùng vịnh Bắc Bộ và vùng biển Quảng Ninh, vào tháng 7 có gió Nam hoạt động, với tốc độ gió lớn nhất 2-3m/s Về mùa đông gió thịnh hành là gió Đông Bắc, hoạt động từ tháng 9 tới tháng 4 năm sau Trung bình mỗi năm, có 5-6 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào vùng biển Hạ Long, thường vào tháng 8, 9 Bão và áp thấp kết hợp với gió mùa đông bắc thường gây ra những cơn gió mạnh cấp 8, 9, có khi cấp 10, 11 rất nguy hiểm, đặc biệt đối với tàu thuyền và các hoạt động kinh tế xã hội trên vịnh [2]
- Thủy văn: Khu vực ven bờ vịnh Hạ Long có nhiều sông, suối, hồ và moong
chứa nước hiện đang được sử dụng cho các mục đích khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, thu nhận chất thải Những sông suối này tạo ra các lưu vực sông có diện tích hàng trăm km2 Trong đó sông Diễn Vọng và hồ Yên Lập là sông
và hồ lớn nhất trong khu vực Hệ thống sông ngòi trong vùng thường có độ dốc khá lớn nên mỗi khi có mưa lũ, lượng đất đá bị bào mòn từ vùng đất nông nghiệp, rừng
và các khu khai thác than trên thượng nguồn theo các dòng chảy sông thoát xuống biển, làm gia tăng các chất ô nhiễm vào vùng nước biển ven bờ [2]
- Hải văn:
+ Sóng: Trong mùa đông không có những biến động thời tiết lớn và nguy
hiểm như bão, dông Trong điều kiện vùng vịnh Hạ Long sóng không cao như ở ngoài khơi, do có rất nhiều hòn đảo như bức rào thưa cản không cho sóng phát triển Độ cao của sóng cao nhất chỉ ở mức 0,50 - 0,75m với tần suất rất nhỏ 0,48% xuất hiện vào tháng 12 Hầu hết các tháng trong mùa, sóng cao nhất thường ở cấp 0,25 - 0,50m
+ Hướng sóng: chủ yếu là hướng Bắc với tần suất khoảng 30 - 38%, sau đó là
Trang 32hướng Đông Bắc chiếm khoảng 15 - 20% Tần suất của hướng Đông, Đông Nam
và Nam cũng đáng kể khoảng 10 - 15% Sóng hướng tâm có xuất hiện ít nhất chỉ ở mức 1 - 3% Cấp độ cao sóng từ 0,25 - 0,50m chiếm 4 - 9% Hướng sóng thịnh hành trong mùa hè chủ yếu hướng Đông Nam với tần suất khoảng từ 20 - 40% Tần suất sóng hướng Nam cũng khá cao 15 - 25% Tần suất sóng hướng Tây nhỏ không đáng kể Tháng 4 là tháng chuyển tiếp giữa mùa đông và mùa hè, độ cao, hướng sóng và tần suất của chúng đã chuyển từ mùa đông sang mùa hè một cách khá rõ rệt Đặc trưng rõ nhất là hướng sóng với tần suất hướng Đông Nam và Nam cao Ngược lại, tháng 10, độ cao, hướng sóng cũng như tần suất của chúng đã chuyển từ mùa hè sang mùa đông với tần suất hướng Bắc và Đông Bắc là chủ yếu Tóm lại, sóng ở vịnh Hạ Long có cấp độ cao thấp, sóng cao nhất chỉ xuất hiện ở hướng Nam
và Tây Nam với tần suất rất bé
+ Thủy triều: Tỉnh Quảng Ninh có chế độ nhật triều thuần nhất, thời gian nước lên và nước xuống gần đều nhau Về mùa hè, nước thường lên vào buổi chiều và về mùa đông nước thường lên vào buổi sáng Các đỉnh triều (nước lớn) thường cách nhau 25 giờ Triều thấp vào các tháng 3, 4,8 và 9, triều cao vào các tháng 1, 6 ,7 và
12 Có khoảng 25 ngày trong tháng có thủy triều lên xuống trong ngày Vùng vịnh
Hạ Long có thủy triều vào loại lớn nhất ở nước ta, khoảng 3,5 - 4,0m Con nước triều lớn nhất xuất hiện từng nửa tháng một Đó là thời kỳ nước triều cường, nước triều lên đầy và xuống kiệt, mực nước biến thiên nhanh hàng giờ, có khi trên 0,5m/h Sau thời kỳ này là thời kỳ con nước triều nhỏ và không thuần nhất Trong thời kỳ này mực nước lên xuống không đáng kể, hầu như con nước đứng Thời kỳ này kéo dài 1-3 ngày trong tháng và hàng tháng có 2-3 ngày nước lên và xuống 2 lần (bán nhật triều) Trong năm, thủy triều trong vịnh Hạ Long mạnh nhất vào các tháng I, VI, VII và XII Trong những tháng này mực nước thực tế lên đến hơn 4m
so với 0m sâu hải đồ Thủy triều yếu nhất vào các tháng III, IV, VIII và IX, mực nước ở mức 3m Mực nước thay đổi trong các năm theo chu kỳ 19 năm Triều mạnh nhất xuất hiện vào các năm 1948-1951, 1968-1971, 1986-1990 và triều yếu vào các năm 1958-1961, 1977-1980
+ Dòng triều: Vận tốc dòng đo được ở Cái Lân là 0,20 - 0,68 m/s, dòng thuỷ
Trang 33tại eo biển Cửa Lục đi theo hướng Bắc đồng thời có xu hướng đi về phía Tây Khi triều cường xuống, dòng chảy hướng về phía Đông, sau đó đổi sang hướng Nam và cuối cùng là hướng Đông Nam trong khoảng thời gian 3 giờ Nước triều xuống cũng theo hướng đó nhưng với tốc độ chậm hơn [3]
2.1.4 Các giá trị tự nhiên của Vịnh Hạ Long
- Giá trị thẩm mỹ: Vịnh Hạ Long được ví như là một tác phẩm điêu khắc hùng
vĩ và độc đáo của thiên nhiên Hàng ngàn đảo đá lớn nhỏ trên vịnh Hạ Long tạo nên một thế giới sống động với nhiều hình dáng khác nhau: đảo giống như đôi gà hướng mỏ vào nhau (hòn Gà Chọi), đảo giống chú đại bàng đậu trên mỏm đá rình mồi (hòn Đại Bàng) hay ông già đang ngồi trầm ngâm câu cá (hòn Lã Vọng) Cảnh đẹp vịnh Hạ Long không chỉ thể hiện ở dáng núi, sắc nước mây trời, mà ẩn giấu trong lòng các đảo đá còn là hệ thống hang động vô cùng phong phú, mỗi hang động có một vẻ đẹp khác nhau tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn lạ lùng [6]
- Giá trị địa chất địa mạo: Vịnh Hạ Long và vùng ven bờ bao gồm nhiều hệ tầng trầm tích lục nguyên và cacbonat có tuổi từ nguyên đại Cổ sinh đến Tân sinh Nhiều hệ tầng trầm tích chứa đựng các vết tích cổ sinh vật dưới các dạng hoá thạch khác nhau, trong đó có những loài đã bị tuyệt chủng Đây là kho báu tìm hiểu về quá trình phát triển và tiến hoá của sự sống trên trái đất Dưới góc độ giá trị địa chất biển ven bờ, vịnh Hạ Long được ghi nhận như một bồn tích tụ hiện đại, một vịnh biển được tạo nên không phải từ những mũi nhô của lục địa, mà từ sự tồn tại của hệ thống đảo chắn phía ngoài Vịnh Hạ Long có hoàn lưu nước khá mạnh, chủ yếu do dòng triều và nằm ở vùng nhật triều đều có biên độ lớn điển hình của thế giới Tại đây, quá trình ăn mòn hoá học đá cacbonat rất phát triển trong môi trường nước biển kiềm tạo nên các ngấn hàm ếch sâu rộng, làm tăng thêm dáng vẻ kỳ diệu cho các đảo đá vôi Vịnh Hạ Long có một địa hình tuyệt vời về phong cảnh Karst
đá vôi trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới ẩm và biển xâm thực với đầy đủ các cấp bậc cơ bản của địa hình Karst: chóp, tháp (kiểu Phong Tùng và Phong Linh) rất phổ biến trên vịnh Hạ Long; Kiểu mẫu Phong Tùng gồm các cụm đồi đá vôi hình chóp nằm kề nhau, điển hình là ở khu đảo Bồ Hòn và Đầu Bê Các đảo hình chóp, tháp tách rời nhau bị nước biển tràn ngập một phần tạo nên cảnh quan vô cùng đặc
Trang 34sắc được gọi là Phong Linh Biển còn làm chìm các phễu Karst, biến chúng thành những hồ nước mặn, như cụm hồ Ba Hầm nằm sâu trong lòng đảo Đầu Bê [6] Giá trị địa chất - địa mạo vịnh Hạ Long còn được thể hiện qua hệ thống hang động phong phú, được hình thành từ 2.000.000 - 11.000 năm cách ngày nay, có 3 nhóm hang động chính, đó là nhóm Hang ngầm cổ (tiêu biểu là: Sửng Sốt, Tam Cung, Lâu Đài, Thiên Cung, Đầu Gỗ, Thiên Long), nhóm Hang nền Karst (tiêu biểu là: Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống) và nhóm Hang hàm ếch biển (tiêu biểu là: Hồ Ba Hầm, Hang Luồn) [26]
- Giá trị đa dạng sinh học: Vịnh Hạ Long là nơi có sự đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình của vùng biển đảo nhiệt đới như: Rừng thường xanh nhiệt đới, Rừng ngập mặn, Bãi triều không có rừng ngập mặn, Bãi triều cát, Rong, Cỏ biển, Rạn san hô, Hang động và Tùng áng, Rạn đá quanh chân đảo Đến nay các nhà khoa học đã thống kê được ở vịnh Hạ Long có trên 500 loài thực vật bậc cao, 22 loài thú trên đảo, 76 loài chim, 28 loài cây ngập mặn, 5 loài cỏ biển,
315 loài cá, 545 loài động vật không xương sống đáy, 150 loài san hô, 411 loài sinh vật phù du, 139 loài rong biển [4]
Nhờ có những điều kiện tự nhiên đặc sắc, năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích danh thắng quốc gia Tổ chức UNESCO đã hai lần công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới, lần thứ nhất vào năm 1994 bởi giá trị ngoại hạng mang tính toàn cầu về cảnh quan thiên nhiên, lần thứ 2 vào năm 2000 với giá trị đặc biệt về địa chất - địa mạo Ngày 12/8/2009, vịnh
Hạ Long được Chính phủ quyết định xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt [6]
2.1.5 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long nằm trên địa bàn quản lý của Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Ngoài những giá trị ngoại hạng mang tính toàn cầu đã được UNESCO công nhận, vịnh Hạ Long với địa thế và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo nên những tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 352.1.5.1 Phát triển du lịch
Thành phố Hạ Long là một trong những đô thị quan trọng nhất của tỉnh Quảng Ninh, cũng như hệ thống đô thị của toàn quốc được nêu tại Quyết định 865/QĐ-
TTg ngày 10/07/2008 về phê duyệt “Quy hoạch xây dựng Vùng Duyên hải Bắc Bộ
đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050” Trong phát triển hệ thống dân cư, đô thị
và dịch vụ hạ tầng xã hội, Hạ Long được đánh giá là trung tâm tổng hợp dịch vụ hoạt động kinh tế biển của Bắc Bộ, đồng thời là cửa ngõ chính hướng ra biển của 2 hành lang kinh tế với phía Nam Trung Quốc, là đô thị hướng biển gắn với công nghiệp – dịch vụ cảng biển, dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, dịch vụ du lịch, trung tâm y tế, giáo dục và đào tạo Với những lợi thế vốn có về tài nguyên du lịch tự nhiên (cảnh quan đặc sắc với hệ thống đảo đá, hang động phong phú, những bãi cát trắng, giá trị địa chất, địa mạo nổi bật, giá trị đa dạng sinh học phong phú), vịnh Hạ Long là nơi có thể phát triển ngành du lịch với nhiều loại hình du lịch khác nhau Số lượng các điểm, khu, vùng tham quan du lịch ngày càng tăng và chất lượng không ngừng được hoàn thiện và nâng cao [6]
2.1.5.2 Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản
Với những điều kiện thuận lợi về khí hậu, thuỷ văn, vịnh Hạ Long là một trong những vùng biển nổi tiếng về hải sản Đây là nơi quần tụ, sinh sống và phát triển của nhiều loại hải sản có giá trị dinh dưỡng cao như: cá Nhụ, cá Song, Mực, Tôm, Cua, Bào ngư, Hải sâm Hơn nữa, sự quần tụ của các dãy núi đá trên biển còn tạo nên hệ thống các Tùng, Áng đặc trưng, là nơi sinh cư rất tốt của một số loài hải sản quí như: ốc Đụn, Sò huyết, Tu hài, Vẹm xanh, Trai ngọc Chính vì vậy, nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản từ lâu đã là phương thức sinh sống, đồng thời là một nét văn hoá truyền thống của ngư dân Hạ Long Người dân trên vịnh Hạ Long thường nuôi các loài hải sản có giá trị kinh tế như: Cá Song, cá Sủ,
Tu hài, Trai, Ngao hai cùi, Hàu đại dương… Theo số liệu thống kê của Ban quản
lý vịnh Hạ Long, hiện nay trên vịnh Hạ Long có 53 hộ nuôi trồng thủy sản tại 06 khu vực được phê duyệt theo Quyết định số 1360/QĐ-UBND ngày 14/10/2009 của UBND thành phố Hạ Long v/v phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển nuôi
Trang 36trồng thủy sản trên vịnh Hạ Long giai đoạn 2008 – 2015 và định hướng đến năm
2020 [6]
2.1.5.3 Phát triển giao thông thuỷ và cảng biển
Vịnh Hạ Long là một vùng biển kín, ít sóng, an toàn cho việc neo đậu tàu thuyền, hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi lắng, vùng vịnh
Hạ Long có nền kinh tế giao thông vận tải, cảng biển, kho bãi rất phát triển với nhiều cảng lớn nhỏ Khu vực này có tiềm năng phát triển kinh tế rất lớn, đặc biệt là hoạt động cảng biển và du lịch Trong những năm gần đây, với chủ trương đầu tư nâng cấp các hệ thống cảng để phục vụ phát triển kinh tế xã hội Đây là một trong những thế mạnh đóng góp vào sự phát triển kinh tế, nối liền tuyến vận tải thủy trong nước và thế giới [6]
2.1.5.4 Một số hoạt động kinh tế - xã hội khác đang hoạt động trên vịnh
Ngoài những tiềm năng phát triển kinh tế, một số hoạt động khác đang diễn
ra trên vịnh nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên vịnh Hạ Long và thành phố Hạ Long là: hoạt động kinh doanh xăng dầu, hoạt động chèo đò vận chuyển khách tham quan, hoạt động bán hàng tại các điểm du lịch, hoạt động xuồng cao tốc [6]
2.2 Cách tiếp cận và hương pháp nghiên cứu
2.2.1 Cách tiếp cận
2.2.1.1 Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái
Tiếp cận dựa trên hệ sinh thái - hệ thống và liên ngành là cách tiếp cận đặc trưng cho những nghiên cứu về BĐKH và phát triển bền vững hiện nay Biến đổi khí hậu mang tính hệ thống vùng, quốc gia, khu vực và toàn cầu những nghiên cứu
về phát triển bền vững và BĐKH hiện nay Mối quan hệ giữa các yếu tố BĐKH với các lĩnh vực khác nhau, các thành phần môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
mà nó tác động và khả năng thích ứng của hệ thống này trong một vùng địa lý cụ thể là một thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong từng hệ thống: hệ thống tự nhiên, hệ thống xã hội và tổng hòa là hệ thống sinh thái – xã hội Theo quan niệm hiện đại, con người đã trở thành trung tâm của HST (hệ sinh thái -
Trang 37xã hội), với hai nghĩa: 1) Con người là nhân tố tác động vào HST một cách mạnh
mẽ nhất, và 2) Các hoạt động bảo tồn HST cuối cùng vẫn phải hướng tới và đem lại phúc lợi cho con người (MEA, 2005) [44] Tiếp cận hệ sinh thái là một chiến lược
để quản lý tổng hợp đất, nước và các tài nguyên sống nhằm tăng cường bảo vệ và
sử dụng bền vững theo hướng công bằng Nó là khung cơ bản cho hành động của Hiệp định về Đa dạng sinh học (CBD) Đây là một cách tiếp cận trực tiếp, theo
đó, các nhân tố tự nhiên ngoài khí hậu (địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học…) được coi là bất biến Tác động của BĐKH được quan niệm là kết quả tất yếu của điều kiện tự nhiên trước các biến đổi về điều kiện khí hậu đã được ấn định theo kịch bản BĐKH
Vịnh Hạ Long được đánh giá là khu vực rất đa dạng với 10 hệ sinh thái khác nhau trong vùng biển đá vôi Chính điều kiện tự nhiên này đã tạo ra sự đa dạng và phong phú về thành phần loài động thực vật phát triển trong khu vực Những tài nguyên tự nhiên này chính là những điều kiện đầu tiên tạo nên giá trị cảnh quan, sự hấp dẫn để phát triển du lịch cho di sản Trước tác động của BĐKH, những tài nguyên tự nhiên này sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên Khi tài nguyên tự nhiên bị ảnh hưởng, giá trị cảnh quan của di sản vịnh Hạ Long sẽ mất đi sức hấp dẫn Do đó, luận văn đã sử dụng cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái để nghiên cứu về những ảnh hưởng của BĐKH đối với các tài nguyên tự nhiên và hoạt động du lịch trên vịnh
Hạ Long, từ đó, đề xuất hướng giải pháp thích ứng phù hợp trên quan điểm quản lý tổng hợp và phát triển bền vững
2.2.1.2 Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng
Ảnh hưởng của BĐKH vừa mang tính liên ngành nhưng lại gắn với tri thức bản địa, không thể bỏ qua các đặc thù của địa phương Cộng đồng địa phương tại khu vực nghiên cứu là người chịu ảnh hưởng do BĐKH gây nên Do đó, khi nghiên cứu, luận văn sử dụng cách tiếp cận dựa vào cộng đồng Đây là một cách tiếp cận phổ biến và bền vững trong nghiên cứu BĐKH nhằm khai thác tối đa thông tin và những hiểu biểt qua trải nghiệm hoặc cảm nhận từ những sinh hoạt hàng ngày Qua
đó, vừa nâng cao nhận thức cộng đồng, vừa đưa ra những đề xuất mang tính thực tiễn cao Qua cách tiếp cận này, luận văn đã xác định 2 nhóm cộng đồng chịu ảnh
Trang 38hưởng trực tiếp nếu tài nguyên tự nhiên và hoạt động du lịch bị ảnh hưởng do BĐKH và NBD gây nên Do đó, luận văn đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp 2 nhóm đối tượng này về những cảm nhận của họ với những thay đổi bất thường của khí hậu và nước biển dâng Bằng những trải nghiệm thực tế hàng ngày trong khu vực nghiên cứu, những cảm nhận của cộng đồng sẽ giúp luận văn kiểm chứng lại những
kết quả quan trắc trên cơ sở xử lý, phân tích số liệu thu thập được
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH
Luận văn sử dụng phương pháp đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực, ngành, môi trường tự nhiên và xã hội theo hướng dẫn của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2011) [35] để triển khai nghiên cứu Trong luận văn này, với số liệu thứ cấp thu thập được về nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng
từ năm 1987 đến năm 2017, các dữ liệu ghi nhận biểu hiện của thời tiết cực đoan (bão, áp thấp nhiệt đới, giông, lốc ) dùng để phân tích những ảnh hưởng của BĐKH đến phát triển du lịch tại vịnh Hạ Long Đánh giá các tác động của BĐKH thông qua các biểu hiện của bằng phương pháp hồi cứu dữ liệu thứ cấp; tổng hợp
và phân tích Do hạn chế về thời gian và số liệu, trong luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu sơ bộ ảnh hưởng của BĐKH đến phát triển du lịch vịnh Hạ Long
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các báo cáo của địa phương và các cơ quan có liên quan (Ban quản lý vịnh Hạ Long, Sở Du lịch Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Ninh ); Các số liệu sơ cấp được thu thập thông qua số liệu quan trắc của các trạm khí tượng, thủy văn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; điều tra, phỏng
vấn trực tiếp
2.2.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Luận văn thực hiện 60 phiếu điều tra, chia làm 3 nhóm đối tượng: cán bộ làm công tác quản lý di sản, người dân sống trong khu di sản và cộng đồng doanh nghiệp trong khu di sản về những cảm nhận và nhận thức đối với những biểu hiện của BĐKH Điều này rất quan trọng cho việc định hướng đề xuất giải pháp ứng phó
Trang 39thông tin dựa trên việc thiết kế hệ thống câu hỏi có thể thực hiện để phân tích thống
kê (Bảng hỏi - Phụ lục 1) Kết quả của phương pháp này cũng là kết quả định lượng của luận văn Trên cơ sở liên hệ với địa phương, tác giả thực hiện việc phỏng vấn điều tra thực địa đối với các hộ dân cư trong khoảng thời gian từ ngày 25/05/2018 đến 30/05/2018
2.2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel, lập phương trình
xu thế hồi quy y= ax + b (y là biến phụ thuộc, x là biến độc lập) Dựa trên số liệu khí hậu (nhiệt độ, tổng lượng mưa, nước biển dâng) của trạm khí tượng Bãi Cháy, Cửa Ông và Hòn Dấu thời kỳ (1987- 2017) và sử dụng hàm TREND để đánh giá xu thế thay đổi của các yếu tố khí hậu Hàm TREND - Trả về giá trị dọc theo đường hồi quy (theo phương pháp bình phương nhỏ nhất) Cú pháp: = TREND (known_y’s, known_x’s, new_x’s, const) Trong đó: known_y’s, known_x’s, new_x’s là các giá trị hoặc vùng địa chỉ chứa giá trị đã biết của x, y tương ứng và giá trị mới của x; const là hằng số, ngầm định nếu const = 1 (True) thì hồi quy theo hàm y = ax + b, nếu const = 0 (False) thì hồi quy theo hàm y = ax
2.2.2.5 Phương pháp chuyên gia
Nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên và hoạt động du lịch mang tính liên ngành, liên quan đến lĩnh vực quản lý tài nguyên và các hoạt động kinh tế xã hội đang diễn ra trên vịnh Hạ Long Bản thân hoạt động phát triển du lịch trên vịnh Hạ Long cũng ảnh hưởng đến nhiều đối tượng, liên quan đến nhiều hoạt động kinh tế -
xã hội đang diễn ra Do đó, để kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp có được kết quả đáng tin cậy và sát với thực tế hơn thì cần có những tham vấn của các chuyên gia Sau khi thu thập, xử lý số liệu để có kết quả nghiên cứu, đề tài tham khảo thêm
ý kiến của một số chuyên gia trong lĩnh vực quản lý tổng hợp và bảo vệ môi trường, chuyên gia về phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu Phương pháp chuyên gia giúp củng cố lại các kết luận trong quá trình nghiên cứu luận văn, từ đó tăng mức độ tin cậy cho các kết luận này trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu, các nhận định của các chuyên gia về những ảnh hưởng của BĐKH đối
với hoạt động du lịch tại vịnh Hạ Long
Trang 40CHƯƠNG 3 ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH ĐẾN TÀI NGUYÊN DU LỊCH
TỰ NHIÊN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI VỊNH HẠ LONG,
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG
3.1 Một số biểu hiện của BĐKH tại vịnh Hạ Long
3.1.1 Biểu hiện về nhiệt độ
Phân tích và so sánh số liệu quan trắc về nhiệt độ được thu thập tại 3 trạm Bãi Cháy, Hòn Dáu, Cửa Ông từ năm 1987 đến năm 2017 cho thấy: Trong cùng một khoảng thời gian, ở 3 địa điểm quan trắc khác nhau (trạm Bãi Cháy ở phía Đông Bắc, trạm Cửa Ông nằm phía Đông và trạm Hòn Dáu nằm phía Tây Nam) nhưng số liệu nhiệt độ quan trắc được phản ánh có sự tương đồng Nhiệt độ trung bình 30 năm gần đây quan trắc được tại trạm Bãi Cháy là 23,30
C và có xu hướng tăng lên đáng kể, mức tăng nhiệt độ trung bình 0,50C trong vòng 30 năm qua (khoảng 0,020C/năm) Trong 10 năm trở lại đây, nhiệt độ trung bình thường xuyên được duy trì ở mức 22,60 C đến 24,40 C, nhiệt độ trung bình của những tháng cao điểm của mùa hè (tháng 6, tháng 7) lên đến 350C nhưng lại giảm sâu vào những tháng mùa đông, tháng thấp nhất có nhiệt độ là 16.50
C (tháng 1)
Phân tích bảng số liệu nhiệt độ quan trắc được tại các trạm Hòn Dáu và Cửa Ông cũng cho thấy xu hướng nêu trên Các giai đoạn có nhiệt độ trung bình tăng cao hoặc xuống thấp đều tương đồng tại cả 3 trạm Đây là các trạm nằm liền kề với khu vực vịnh Hạ Long, vì thế, số liệu so sánh nhiệt độ ở cả 3 trạm sẽ phản ánh một cách chính xác xu thế diễn biến nhiệt độ trung bình cho khu vực vịnh Hạ Long
Xem xét nhiệt độ tối cao tại vịnh Hạ Long trong giai đoạn 1987-2017 xuất hiện một số thời điểm nhiệt độ tối cao đo được là 36,7°C vào tháng 6/2014, tháng 7/2015
và 37,20C vào tháng 6/2016 Theo những ghi chép trong lịch sử, năm 2014 là năm bắt đầu diễn ra hiện tượng El Nino trên toàn thế giới, kéo dài đến năm 2016 Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng bởi hiện tượng này Kèm theo hiện tượng El Nino là các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện, nhiệt độ tăng cao và lượng mưa thiếu hụt
Xu thế biến đổi của nhiệt độ không khí trung bình năm được xác định thông qua phương trình xu thế: