1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại địa đạo củ chi theo phương pháp KAP

104 149 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Văn Thanh nhận định về du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia phát triển du lịch, bảo vệ tài nguyên m

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

3

MỤC LỤC

Danh mục từ viết tắt 3

Danh mục bảng biểu 4

Mở đầu 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài 14

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Bố cục của luận văn 15

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KAP 16

1.1 Du lịch cộng đồng 16

1.1.1 Khái niệm 16

1.1.2 Nội dung của du lịch cộng đồng 20

1.1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng 22

1.2 Phương pháp KAP 35

1.2.1 Khái niệm 35

1.2.2 Nội dung phương pháp KAP 36

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC – THÁI ĐỘ VÀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở CỦ CHI 41

2.1 Khái quát về khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 41

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển địa đạo Củ Chi 41

2.1.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 47

2.1.3 Doanh thu từ các hoạt động du lịch tại khu di tích năm 2012 49

2.2 Đặc điểm cư dân vùng ven khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 50

2.3 Cơ cấu đáp viên 52

2.4 Hiểu biết của cộng đồng 55

2.4.1 Hiểu biết về du lịch cộng đồng 55

Trang 4

4

2.4.2 Hiểu biết về khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 57

2.5 Thái độ của cộng đồng 60

2.6 Hoạt động của cộng đồng 64

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở CỦ CHI 67

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 67

3.2 Các giải pháp nâng cao hiểu biết của cộng đồng 68

3.2.1 Tuyên truyền về giá trị của khu di tích 68

3.2.2 Đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ du lịch 72

3.3 Các giải pháp nâng cao ý thức cho cộng đồng 75

3.3.1 Tăng cường giáo dục lòng yêu nước 75

3.3.2 Xây dựng và giám sát các quy định về văn hóa 77

3.4 Các giải pháp thu hút cộng đồng tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch 82

3.4.1 Vận động cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch 82

3.4.2 Khuyến khích và tạo điều kiện để cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch 85

3.4.3 Xúc tiến quảng bá du lịch Củ Chi 86

3.5 Kiến nghị 87

3.5.1 Một số kiến nghị với BQL khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 87

3.5.2 Một số kiến nghị với chính quyền huyện Củ Chi 89

3.5.3 Đối với ngành du lịch 94

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 103

Trang 5

5

Danh mục từ viết tắt

DLCĐ Du lịch cộng đồng

KAP Knowledge, Attitude, Practice

Sự hiểu biết, thái độ, hành động

UBND Ủy ban nhân dân

UNICEF United Nations International Children's Emergency Fund

Cơ quan Cứu trợ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

UNWTO World Tourism Organization

Tổ chức du lịch thế giới

TW Trung ương

Trang 6

6

Danh mục bảng biểu

Bảng 2.1: Lượng khách đến khu di tích địa đạo Củ Chi qua một số năm 46

Bảng 2.2: Cơ cấu nhân sự tại khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 48

Bảng 2.3: Doanh thu của các bộ phận tại khu di tích năm 2012 49

Bảng 2.4: Trình độ học vấn của đáp viên 54

Danh mục hình Tiêu đề Trang Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức nhân sự khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 47

Hình 2.2: Cơ cấu dân số ba xã (An Phú, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng) 50

Hình 2.3: Cơ cấu lao động ba xã (An Phú, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng) 51

Hình 2.4: Trình độ học vấn của dân cư ba xã (An Phú, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng) 52

Hình 2.5: Cơ cấu độ tuổi đáp viên tham gia phục vụ khách tại khu di tích 53

Hình 2.6: Tỷ lệ lao động nam, nữ tham gia phục vụ khách du lịch 53

Hình 2.7: Tỷ lệ đáp viên tham gia phục vụ khách đến tham quan di tích 55

Trang 7

có những bước tiến nhảy vọt Nếu như năm 1990 cả nước mới chỉ đón tiếp

và phục vụ có 250 ngàn khách quốc tế và 1 triệu khách nội địa thì đến năm

2012 đã tăng lên trên 6,848 triệu khách quốc tế và 23 triệu khách nội địa Nhiều danh thắng, di tích đã mở cửa đón khách du lịch Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước trong đó du lịch cộng đồng được xem như là một công cụ quan trọng trong việc tạo việc làm, tạo nguồn thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng, góp phần tích cực vào bảo vệ gìn giữa môi trường tư nhiên và giữ gìn các giá trị văn hóa Mặt khác, phát triển du lịch cộng đồng sẽ góp phần tạo nên sự đa dạng các loại hình và các sản phẩm du lịch thu hút du khách, đặc biệt là du khách quốc tế vốn thích sự khám phá và trải nghiệm những yếu tố văn hóa bản địa của cộng đồng dân cư

Tuy nhiên, cũng như nhiều ngành kinh tế khác, phát triển du lịch cũng đã bộc lộ những mặt trái của nó Tại Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janerio 1992, các nguyên thủ quốc gia đã nhất trí thông qua quan điểm phát triển bền vững Trên cơ sở đó, Tổ chức Du lịch thế giới cũng đã đưa ra yêu cầu phát triển du lịch bền vững, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cộng đồng Khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch cộng đồng ngày càng được sử dụng rộng rãi Ở nhiều nơi, mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch từ thụ động sang chủ động, tích cực Cộng đồng địa phương được hưởng lợi nhiều hơn từ hoạt động du lịch nên ngày càng có những đóng góp tích cực cho bảo vệ môi trường, gìn giữa và phát huy các

Trang 8

8

giá trị văn hóa truyền thống Từ thực tế trên, du lịch cộng đồng đã trở thành một cách tiếp cận phù hợp cho phát triển du lịch bền vững, đặc biệt ở những nước đang phát triển

Củ Chi là một vùng đất cách mạng Mọi người dân ở đây đều luôn tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng, quả cảm của các bậc cha anh Nói đến Củ Chi, mọi người dân Việt Nam liên tưởng ngay đến “đất thép thành đồng”, đến hệ một thống địa đạo đường hầm liên hoàn nối liền với các làng, các xã với chiều dài trên 200km âm sâu dưới lòng đất được xây dựng từ thời chống thực dân Pháp và phát triển từ những năm 60 của thế kỷ 20, trong thời kỳ chiến đấu chống Mỹ cứu nước Địa đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như một huyền thoại, một kỳ tích về

sự sáng tạo trong chiến đấu của quân và dân ở thế kỷ 20

Hiện nay, Địa đạo Củ Chi đã trở thành một khu du lịch hấp dẫn, thu hút hàng ngàn du khách trong nước và nước ngoài tham quan mỗi ngày Du khách sẽ nhìn thấy hình ảnh của vùng ấp chiến lược, đồn bót của địch, vành đai diệt Mỹ, vùng tranh chấp giữa ta và địch vào thời kỳ 1960 - 1964 của làng quê Củ Chi; hình ảnh sinh hoạt của quân và dân Củ Chi vào những năm 1964-1965, cảnh xây dựng chiến hào, quân dân du kích triển khai trận đánh, tập luyện quân sự, tải thương, bộ đội vượt sông, đoàn văn công biểu diễn văn nghệ tái hiện vùng giải phóng thời kỳ 1966-1973, quang cảnh trên mặt đất đã bị hủy diệt hoang tàn, cuộc sống sinh hoạt của quân và dân

Củ Chi được chuyển xuống lòng đất

Hàng năm Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi đón tiếp hàng triệu du khách đến tham quan Đặc biệt những dịp lễ tết, có ngày Củ Chi đón trên 50.000 khách Để đáp ứng các nhu cầu tham quan du lịch của khách, rất nhiều cư dân địa phương đã tham gia các hoạt động phục vụ khách du lịch

Trang 9

9

Tuy nhiên do trình độ nhận thức không đồng nhất nên việc phục vụ vẫn còn một vài bất cập Để góp phần đề xuất những giải pháp hợp lí trong việc phát triển du lịch cộng đồng một cách bền vững, rất cần nắm bắt được những thông tin về hiểu biết, thái độ và hành động của cộng đồng trong quá trình phục vụ khách đến tham quan khu Di tích này Chính vì vậy, nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng ở Khu Di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi theo phương pháp KAP là một việc làm cần thiết

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới: Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến du

lịch cộng đồng của các tác giả: Douglas Hainsworth - Walter Jamieson, Steve Noakes & Sheena Day [8]; Honey M [26]; Harol Goodwin – Rosa Santili [27]; S.Shing – D.J.Timothy and R.K Dowling [31]; Swarbrook J [32];…v.v Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề về cộng đồng, du lịch cộng đồng, du lịch dựa vào cồng đồng, những tác động cũng như những thay đổi ảnh hưởng đến cộng đồng và ảnh hưởng đến môi trường, các công cụ quản

lý giám sát du lịch cộng đồng, bảo tồn các nguồn tài nguyên, văn hóa và thiên nhiên, tạo ra các phúc lợi kinh tế và những phúc lợi khác cho cộng đồng cư dân địa phương, xây dựng quyền sở hữu các nguồn tài nguyên theo hướng bền vững

Thuật ngữ cộng đồng (community) là một khái niệm lý thuyết được

Liên hiệp quốc công nhận vào năm 1950 và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện trong các chương trình viện trợ

Keith và Ary (1988) cho rằng: “Cộng đồng trước hết là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc

về cùng một nhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan

Trang 10

10

hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [23, tr.30,31]

Theo Schuwuk (1999): “Cộng đồng là một tập hợp các nhóm người

có chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các tài nguyên ở địa phương” [23, tr.31]

Du lịch cộng đồng: Theo Qũy bảo tồn Thiên nhiên thế giới WWF:

“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà ở đó cộng đồng địa phương có

sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quan lý các hoạt động

du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại cho cộng đồng” [23, tr.34]

Theo quỹ phát triển Châu Á: “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương” [15, tr.3]

Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas cho rằng : “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân đi ̣a phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du li ̣ch sẽ

đo ̣ng la ̣i nền kinh tế đi ̣a phương” [16, tr.44]

Theo Handbook (2000), nhận định “Du lịch cộng đồng là loại hình có

sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương nhằm phát triển kinh tế địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn văn hóa, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận thức và tăng cường quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác hỗ trợ của chính quyền địa phương, của chính phủ và từ các hoạt động hỗ trợ quốc tế, nhằm mục đích khai thác các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn tại địa

Trang 11

Trong Báo cáo của Hội nghị Cấp cao về phát triển bền vững tại Johannesburg năm 2002 đã nhấn mạnh đến du lịch Hội nghị kêu gọi thúc đẩy phát triển du lịch để tăng phúc lợi cho người dân ở các cộng đồng địa phương và thu hút cộng đồng tham gia vào du lịch trong khi vẫn tiếp tục có thể giữ gìn bản sắc, di sản và môi trường

Việt Nam: Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Nhân về cộng đồng

cho rằng: “Cộng đồng là những cộng đồng được gọi tên như đơn vị làng, bản, xã, huyện,… những người chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội” Từ nhận định này thì cộng đồng có hai nghĩa:

- Là một nhóm dân cư cùng sinh sống trong cùng một địa phương nhất định, có cùng giá trị và tổ chức xã hội cơ bản

- Là một nhóm dân cư có cùng mối quan tâm” [23, tr.31]

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Thanh nhận định về du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia phát triển du lịch, bảo vệ tài nguyên môi trường cả về

tự nhiên và nhân văn tại các điểm, khu du lịch và đồng thời được hưởng quyền lợi từ hoạt động du lịch mang lại [23, tr.34]

Ngoài ra còn nhiều đề tài khác nghiên cứu về du lịch cộng đồng như

đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng

Trang 12

12

tại Chùa Hương - Hà Tây” của tiến sĩ Võ Quế (Viện nghiên cứu và phát triển du lịch); Đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng, góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát Bà - Hải Phòng” của PGS.TS Phạm Trung Lương (Viện nghiên cứu và phát triển du lịch); Đề tài “Nghiên cứu, đề xuất xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại Khu du lịch sinh thái Vân Long” của Thạc sĩ Nguyễn Văn Luyên (Sở văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình);…v.v Các nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới mới chỉ đánh giá về tài nguyên du lịch, phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, đề xuất các giải pháp phát triển mô hình du lịch dựa vào cộng đồng… nhằm mục đích bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên thông qua phát triển du lịch, xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn, vùng núi, khu bảo tồn, vườn quốc gia… mà chưa đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào các hoạt động du lịch nơi có tài nguyên du lịch

Phương pháp KAP: KAP (Knowledge, Attitude & Practice) là

phương pháp nghiên cứu, khảo sát về kiến thức, thái độ và hành vi của đối tượng nghiên cứu đối với một chủ đề nào đó [35]

Trên thế giới: Khảo sát KAP lần đầu tiên được thực hiện trong lĩnh

vực kế hoạch hóa gia đình và nghiên cứu dân số trong những năm 1950 Khảo sát KAP được thiết kế để đo mức độ thông tin về kiến thức, thái độ và thực hành trong kế hoạch hóa gia đình được sử dụng cho các mục đích về sức khỏe của cộng đồng trên thế giới Trong những năm 1960 và 1970, các cuộc điều tra KAP bắt đầu được sử dụng nhiều trong lĩnh vực về sự hiểu biết, quan điểm và việc kế hoạch hoá gia đình ở châu Phi

Một trong những nghiên cứu KAP điển hình trong y tế về: Kiến thức, thái độ và hành động của phụ nữ và nam giới đối với việc “Làm mẹ an toàn

Trang 13

13

ở nông thôn” trong khuôn khổ của dự án DISH năm 2000 Đây là một dự án hợp tác của Bộ Y tế Uganda và Hoa Kỳ Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Dự án được thực hiện trong 12 quận, huyện và thủ đô: Kampala, Mbarara, Ntungamo, Masaka, Masindi, Luwero, Nakasongola, Sembabule, Jinja, Kamuli, Rakai và Kasese để đánh giá thái độ và thực hành của phụ nữ

và nam giới có liên quan đến việc chăm sóc trước sinh, an toàn trong khi sinh, sau khi sinh của bà mẹ và các dịch vụ sức khỏe trẻ em được phổ biến rộng rãi và cải thiện thái độ y tế công cộng, kiến thức và hành vi thông qua các chương trình đào tạo, giám sát lâm sàng, quản lý sức khỏe và đảm bảo chất lượng, truyền thông thay đổi hành vi, hoạt động cộng đồng, nghiên cứu đánh giá cải thiện hoạt động làm mẹ an toàn ở Uganda bằng cách tập trung vào giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ trong khi sinh ở Uganda [28, tr5]

Nghiên cứu khác về KAP “Môi trường lành mạnh cho trẻ em Liên minh” của Bộ Y tế Mông Cổ, nhằm đưa các kết quả nghiên cứu các yếu tố chất lượng không khí trong nhà và mối quan hệ các triệu chứng về đường

hô hấp trong Ulaan Baatar, thủ đô của Mông Cổ, nơi mà tỉ lệ viêm phế quản

ở trẻ em ước tính là khoảng 20% [40] Dự án thực hiện và đánh giá các yếu

tố liên quan đến chất lượng không khí trong nhà, có khả năng được liên kết với các trường hợp viêm phế quản và rối loạn hô hấp khác ở trẻ em tại Mông Cổ Xác định những thay đổi trong kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) trước và sau khi can thiệp, thay đổi trong môi trường không khí trong nhà để giảm tỷ lệ mắc các triệu chứng hô hấp, tổn thương và rối loạn tiêu hóa Kết quả từ dự án dự kiến sẽ được thông tin để cải thiện chất lượng không khí trong nhà, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em trong các

hộ gia đình trong Ulaan Baatar Đặc biệt là thay đổi về kiến thức, thái độ và thực hành trong dân cư ở Ulaan Baatar

Trang 14

14

Việt Nam: UNICEF Việt Nam đã đề xuất Quỹ Ford về một chương

trình đa ngành gồm y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh, bảo vệ trẻ em và hòa nhập xã hội cho trẻ khuyết tật, bao gồm cả các nạn nhân chất độc màu

da cam tại Việt Nam Chương trình được bắt đầu thực hiện vào cuối năm

2008, dựa trên cơ sở những chương trình hiện tại của UNICEF và các mối quan hệ đối tác sẵn có để đẩy mạnh các chính sách, khung pháp lý và chương trình cho trẻ khuyết tật và gia đình của trẻ Chương trình nghiên cứu được thực hiện tại Đà Nẵng, Đồng Nai và An Giang Đà Nẵng là nơi đầu tiên được chọn trong ba tỉnh thành đề xuất cho dự án này Ước tính có khoảng hơn 1 triệu trẻ khuyết tật ở Việt Nam Mục đích của nghiên cứu này gồm ba phần: thứ nhất là tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi của trẻ khuyết tật và gia đình trẻ; thứ hai là tìm hiểu quan niệm của cộng đồng đối với trẻ khuyết tật và thứ ba là tìm hiểu vai trò của các ban ngành đoàn thể khối chính phủ và phi chính phủ trong lĩnh vực này [1]

Bộ Lao động và Thương binh Xã hội cùng với UNICEF kết hợp năm

2011 nghiên cứu về Kiến thức, Thái độ, và Thực hành (KAP) về vấn đề hòa nhập xã hội cho trẻ khuyết tật về hiện trạng trẻ khuyết tật tại các tỉnh An Giang và Đồng Nai [19] Nghiên cứu định tính về kiến thức, thái độ, hành

vi KAP này nhằm mục đích cung cấp bằng chứng để xây dựng các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấ đề hòa nhập xã hội cho trẻ khuyết tật ở tỉnh An Giang và Đồng Nai cũng như trên

cả nước Các mục tiêu chính của nghiên cứu này gồm: Phân tích tình hình chung về kiến thức, thái độ và hành vi của cộng đồng đối với trẻ khuyết tật

ở hai tỉnh Đồng Nai và An Giang; Thực hiện phân tích về truyền thông ở hai tỉnh bao gồm: phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong việc truyền thông, các kênh thông tin, thu thập và đánh giá các tài liệu truyền thông sẵn có,

Trang 15

Nhìn chung các nghiên cứu KAP trên thế giới và ở Việt Nam phần lớn là nghiên cứu trong lĩnh vực y tế, sức khỏe của cộng đồng, chưa có các nghiên cứu KAP về hiểu biết, thái độ và hành động của cộng đồng tham gia các hoạt động du lịch

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu: luận văn góp phần thu hút cộng đồng dân cư Củ Chi, đặc

biệt là dân ở 3 xã giáp ranh Khu di tích địa đạo Củ Chi là An Nhơn Tây, An Phú và Phú Mỹ Hưng tham gia vào hoạt động du lịch, nhằm nâng cao chất lượng sống của cư dân địa phương Cụ thể là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức và khả năng tham gia của cộng đồng vào các hoạt động du lịch

Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ

sau

- Thu thập và tổng hợp tài liệu lý thuyết về các vấn đề liên quan như các tài liệu, công trình nghiên cứu về du lịch cộng đồng, các tài liệu nghiên cứu về phương pháp KAP

- Khảo sát, thu thập thông tin về cư dân ba xã liền kề khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi

- Khảo sát bảng hỏi về hiểu biết, thái độ và hành vi của cư dân tham gia các hoạt động phục vụ khách xung quanh Khu di tích

Trang 16

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ tham gia

của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi

Phạm vi: Vì thời gian eo hẹp và khả năng có hạn nên đề tài chỉ

nghiên cứu khảo sát về tình hình nhân khẩu của 3 xã ven Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi: xã An Phú, xã Anh Nhơn Tây và xã Phú Mỹ Hưng và những người dân đang kinh doanh buôn bán, phục vụ khách đến tham quan khu di tích

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu, phân tích nguồn thông tin thứ cấp từ các công trình nghiên cứu, giảng dạy, giáo trình, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước Những thông tin thực tế liên quan đến cộng đồng khu vực nghiên cứu được thu thập thông qua từ UBND huyện Củ Chi, UBND các xã nằm kề khu di tích

- Phương pháp phỏng vấn Để có được những nhận định khách quan, tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn các nhà quản lý, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư và du khách tham quan khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi, một số người dân và một số du khách

Trang 17

17

- Khảo sát thực địa được tiến hành tại Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi và các xã An Nhơn Tây, xã An Phú, xã Phú Mỹ Hưng

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp KAP

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo bố cục gồm ba chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và phương pháp KAP

Chương 2 Thực trạng sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch ở

Củ Chi

Chương 3 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động

du lịch ở Củ Chi

Trang 18

18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP KAP 1.1 Du lịch cộng đồng

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Cộng đồng

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học và Kỹ thuật,

2000, tr.601, cộng đồng được hiểu là “Một tập đoàn người rộng lớn, có

những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [23, tr.31]

Như vậy Cộng đồng được hiểu là một nhóm người cùng chung sống trên một địa bàn được gọi tên như bản, làng, xã, huyện, thị, thành phố, tỉnh,

quốc gia và cùng chung những đặc điểm về kinh tế, truyền thống văn hóa

1.1.1.2 Du lịch cộng đồng

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế “Du lịch cộng đồng là loại hình du

lịch mà người dân địa phương (thường là nông dân, người nghèo và những người bị thiệt thòi về kinh tế) mời du khách đến thăm cộng đồng của họ, bằng cách đó cung cấp cơ sở vật chất và các hoạt động du lịch cho du khách”

[21, tr.14]

Du lịch cộng đồng được xem như là một loại hình và phương thức phát triển du lịch mà trong đó có sự tham gia trực tiếp chủ yếu của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch, nhằm bảo tồn và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên du lịch, môi trường, cộng đồng được hưởng lợi nhuận từ khách du lịch đem lại qua việc phục vụ khách du lịch và bán các sản phẩm và dịch vụ du lịch

Trang 19

19

Các loại hình tiếp cận hoạt động du lịch: có nhiều hình thức du lịch

mang nét đặc trưng phù hợp với du lịch cộng đồng như: Du lịch hòa nhập;

Du lịch bền vững; Du lịch có trách nhiệm; Du lịch thương mại công bằng;

Du lịch sinh thái; Du lịch văn hóa; Du lịch làng; Du lịch bản địa; Du lịch

nông nghiệp; Du lịch nghề thủ công mỹ nghệ

Du lịch hòa nhập khuyến khích các mối liên kết và tương tác giữa các

nhân tố trong ngành du lịch, quan hệ đối tác với các cơ sở tư nhân, kích thích kinh tế địa phương, sự hòa nhập của phụ nữ, và sự tham gia của cộng đồng địa phương để hiểu rõ hơn nhu cầu và mong muốn của họ [21, tr.14]

Du lịch bền vững cam kết tăng cường sự thịnh vượng của địa phương

thông qua tối ưu hóa sự đóng góp của du lịch vào sự thịnh vượng kinh tế của điểm du lịch Du lịch bền vững cần tạo ra thu nhập và việc làm bền vững cho người lao động mà không gây ảnh hưởng tới môi trường và văn hóa của điểm du lịch, đảm bảo tính khả thi và khả năng cạnh tranh của các điểm du lịch, các doanh nghiệp du lịch để họ có thể phát triển tốt và mang lại lợi ích lâu dài [21, tr.14]

Du lịch có trách nhiệm giảm thiểu các tác động tiêu cực về kinh tế,

môi trường và xã hội; tạo ra nhiều lợi ích kinh tế cho người dân địa phương

và nâng cao phúc lợi cho cộng đồng địa phương, cải thiện điều kiện làm việc và tiếp cận với ngành du lịch; sự tham gia của người dân địa phương vào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ; đóng góp tích cực vào bảo tồn di sản tự nhiên vàvăn hóa, và bảo tồn đa dạng sinh học; cung cấp những trải nghiệm thú vị cho khách du lịch thông qua các mối liên hệ thực

sự với người dân địa phương, và sự hiểu biết hơn các vấn đề văn hóa, xã hội

và môi trường tại địa bàn; sự nhạy cảm về văn hóa, tạo nên sự tôn trọng

Trang 20

20

giữa khách du lịch và người dân sở tại, xây dựng lòng tự hào và niềm tin của người dân địa phương [21, tr.14]

Du lịch vì người nghèo là loại hình du lịch làm gia tăng lợi ích cho

người nghèo Du lịch vì người nghèo không phải là một sản phẩm cụ thể hoặc một ngành biệt lập mà là cách tiếp cận tới công tác quản lý và phát triển du lịch Nó thúc đẩy sự liên hệ giữa các doanh nghiệp du lịch với người nghèo, gia tăng những đóng góp của du lịch vào việc xóa đói giảm nghèo và người nghèo có thể tham gia một cách hiệu quả hơn trong việc phát triển sản phẩm du lịch [21, tr.14]

Du lịch thương mại công bằng nhằm đảm bảo rằng người dân có đất

đai, tài nguyên, sức lao động, kiến thức và văn hóa sử dụng cho các hoạt động du lịch được hưởng lợi thực sự từ các hoạt động đó [21, tr.14]

Du lịch sinh thái là sự kết hợp bảo tồn, cộng đồng và du lịch bền vững

Điều này hàm ý đưa du lịch có trách nhiệm tới các địa bàn tự nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện phúc lợi cho cư dân địa phương [21, tr.14]

Du lịch văn hóa: du lịch văn hóa là một trong những thành phần quan

trọng nhất của du lịch dựa vào cộng đồng từ khi văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, là yếu tố thu hút khách chủ yếu của cộng đồng địa phương Ví dụ về du lịch dựa vào văn hóa bao gồm khám phá các di tích khảo cổ học, địa điểm tôn giáo nổi tiếng hay trải nghiệm cuộc sống địa phương tại một ngôi làng dân tộc thiểu số [15, tr.4]

Du lịch làng: Khách du lịch chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống

thôn bản, và các làng nông thôn thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch Dân làng cung cấp các dịch vụ ăn ở, nhà trọ cho khách nghỉ ngơi qua đêm Nhà trọ chính chính là các điểm kinh doanh du lịch, trong đó du khách

Trang 21

Du lịch bản địa: Du lịch bản địa hay Dân tộc đề cập đến một loại

hình du lịch, nơi đồng bào dân tộc thiểu số hoặc người dân bản địa tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, nền văn hóa vốn có của họ chính là yếu tố chính thu hút khách du lịch [15, tr.4]

Du lịch nông nghiệp: đây là một hình thức du lịch tại các khu vực

nông nghiệp như vườn cây ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp, trang trại thảo dược và các trang trại động vật, đã được chuẩn bị phục vụ cho khách

du lịch Khách du lịch xem hoặc tham gia vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp như làm việc với dụng cụ của nhà nông hoặc thu hoạch mùa mà không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng suất của gia đình chủ nhà Một sản phẩm mới đặc biệt là nghỉ ngơi ở các trang trại hữu cơ, nơi du khách có thể tìm hiểu thêm về thiên nhiên và học tập các phương pháp canh tác không dùng thuốc trừ sâu [15, tr.4]

Du lịch nghề thủ công mỹ nghệ: Nghệ thuật và sản xuất thủ công mỹ

nghệ ở địa phương có một lịch sử lâu dài Nó không phải là một hình thức độc lập của du lịch, mà chính là một thành phần của các loại hình khác nhau của du lịch Du lịch không chỉ mang lại cơ hội kinh doanh tốt hơn cho ngành công nghiệp thủ công mỹ nghệ của khu vực, doanh số bán hàng của hàng thủ công mỹ nghệ cũng có thể giúp người dân địa phương để tìm hiểu thêm về di sản văn hóa nghệ thuật phong phú và độc đáo của họ [15, tr.4]

Như vậy, các hoạt động Du li ̣ch cô ̣ng đ ồng là phương thức trong đó

cô ̣ng đồng dân cư địa phương tổ chức cung cấp cá c di ̣ch vu ̣ phục vụ khách

Trang 22

22

du li ̣ch, đồng thời tham gia bảo t ồn tài nguyên và môi trường , được hưởng quyền lợi về vâ ̣t chất và tinh thần từ việc tham gia các hoạt động du lịch

1.1.2 Nội dung của du lịch cộng đồng

Tại hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng Việt Nam năm 2003 được tổ chức tại Hà Nội Các chuyên gia trong nước và ngoài nước đã khái quát du lịch cộng đồng của Việt Nam như sau:

Du lịch cộng đồng đảm bảo văn hoá, thiên nhiên bền vững, cân bằng với các chỉ tiêu kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hoá được khai thác hợp lý Du lịch cộng đồng chính là cách tốt nhất vừa làm du lịch vừa giữ gìn bản sắc văn hoá, sử dụng dịch vụ tại chỗ, phát triển giá trị văn hoá, tôn trọng văn hoá địa phương Du lịch cộng đồng thúc đẩy nghề nghiệp truyền thống phát triển và giữ gìn bản sắc văn hoá, cần có người dân địa phương tham gia để dân có ý thức trong việc bảo

vệ tài nguyên môi trường, bản sắc văn hoá, vệ sinh cộng đồng Du lịch cộng đồng là những người quản lý di sản của dân tộc và có quyền tham gia vào các hoạt động du lịch Thu nhập giữ lại cho cộng đồng và để bảo vệ môi trường và tái đầu tư cho du lịch của địa phương

Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động từ bảo tồn, quản lý đến khai thác giá trị

du lịch từ các nguồn tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, giữ vai trò chủ đạo chính và duy trì các hoạt động kinh doanh du lịch như kinh doanh lưu trú, kinh doanh ăn uống, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, kinh doanh các dịch vụ, hàng hóa, vui chơi, giải trí, hướng dẫn, tư vấn các hoạt động kinh tế và xã hội liên quan đến du lịch và khách du lịch Cồng đồng dân cư phải là người dân làm ăn, sinh sống trong hoặc liền kề với các điểm tài nguyên du lịch, đồng thời cộng đồng dân cư phải có quyền lợi và trách

Trang 23

Du lịch cộng đồng giúp người nghèo có thể đi du lịch và hưởng thụ các sản phẩm du lịch, đồng thời là công cụ tham gia trong việc giảm nghèo trong cộng đồng, tạo việc làm cho cộng đồng địa phương, tạo điều kiện phát triển kinh tế địa phương thông qua bán các sản phẩm dịch vụ du lịch, tạo ra thị trường hàng hóa và dịch vụ địa phương, đóng góp để bảo tồn và phát triển du lịch, nâng cao hình ảnh địa phương và của quốc gia

Tựu chung lại, DLCĐ bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Bảo tồn các nguồn tài nguyên, văn hóa và thiên nhiên

- Tạo ra các phúc lợi kinh tế và những phúc lợi khác cho cư dân địa phương

- Thúc đẩy và trao quyền cho các cộng đồng nhằm xây dựng quyền sở hữu các nguồn tài nguyên

- Đảm bảo chất lượng, thỏa mãn nhu cầu cho du khách

- Đảm bảo sự quản lý thống nhất theo hướng bền vững

Như vậy, DLCĐ là một mô hình phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân cư là những người trực tiếp cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách du lịch, cộng đồng dân cư cũng chính là người có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên

du lịch và họ được chia sẻ các lợi kinh tế do phát triển DLCĐ tạo ra Phát

Trang 24

24

triển DLCĐ sẽ tạo ra công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư bản địa và góp phần phát triển kinh tế

xã hội của địa phương

1.1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng

Du lịch dựa vào cộng đồng đã phát triển tại các nước châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc từ những năm 80 của thế kỷ XX, châu Á khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng mới được đề cập rộng rãi ở các nước ASEAN thông qua hội thảo xây dựng khung cho phát triển du lịch dựa vào cộng đồng được

tổ chức tại Indonesia vào năm 1995

Những năm gần đây, một số nước trong khu vực Đông Nam Á có điều kiện kinh tế - xã hội khá tương đồng với Việt Nam, nhưng với những chính sách đầu tư, cơ chế quản lý thông thoáng cũng như các biện pháp phát triển DLCĐ thích hợp đã góp phần đưa hoạt động DLCĐ nói riêng và ngành

du lịch nói chung phát triển đạt nhiều kết quả Đúc kết lại những kinh nghiệm cả trên góc độ vĩ mô cũng như vi mô về xây dựng và quản lý thực hiện mô hình DLCĐ của các nước lận cận thuộc khối ASEAN trên một số vùng, miền cụ thể sẽ có giá trị tham khảo bổ ích cho nhiều vùng và nhiều điểm DLCĐ của Việt Nam nhất là vùng Đất thép thành đồng Củ Chi nơi mà đón hàng triệu lượt khách đến thăm quan mỗi năm

Trang 25

25

UNWTO tiếp tục thúc đẩy phát triển du lịch Hội nghị các nhà lãnh đạo thế giới tại hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng, Hội nghị Liên hợp quốc về Phát triển bền vững (Rio +20) và Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Mexico, đồng ý rằng du lịch là một ngành quan trọng và đóng góp nhiều nhất thế giới và cấp bách nhất những thách thức, từ tăng trưởng kinh tế tới biến đổi khí hậu Sự công nhận của du lịch như trụ cột của phát triển bền vững - kinh tế, môi trường và xã hội, của quốc gia thành viên, của hàng ngàn cộng đồng địa phương trên toàn thế giới [40]

Du lịch ngày càng được ghi nhận như là một nguồn lực cho phát triển kinh tế. Chuỗi giá trị và mối quan hệ của du lịch với các ngành kinh tế như nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ công ích và giao thông vận tải… Trong năm

2010, ngành du lịch trên toàn cầu tạo ra hơn 235 triệu việc làm, tương đương với khoảng 8% tổng số việc làm trực tiếp và gián tiếp, hoặc cứ 12,3 việc làm thì có một việc làm từ du lịch Trong năm 2010, ngành lữ hành và du lịch đóng góp khoảng 9,3% GDP toàn cầu, trong khi đó đầu tư du lịch ước tính đạt 9,2% tổng đầu tư toàn cầu Du lịch là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất tại các quốc gia trên thế giới, nó tạo ra rất nhiều việc làm và

là nguồn phát triển quan trọng cho dù có những trở ngại, nhưng lượng khách

du lịch quốc tế vẫn tăng bình quân 4,3% năm từ 1995 – 2010 [21]

Theo điều tra nghiên cứu thị trường khách du lịch sinh thái cộng đồng quy mô lớn của Hiê ̣p hô ̣i du li ̣ch sinh thái thế giới trong 3 năm từ 2008 đến

2010 đã cho thấy những xu hướng du li ̣ch mới của nền công nghiê ̣p du li ̣ch toàn cầu là du lịch cộng đồng Khách có nhu cầu ngày càng cao trong viê ̣c tìm kiếm thông tin và các vấn đề về văn hóa xã hội như , văn hóa bản đi ̣a, sự kiê ̣n nghê ̣ thuâ ̣t , tiếp xúc với người dân đi ̣a phương , ẩm thực địa phương

Trang 26

vụ, các sản phẩm du lịch tại các vùng, khu bảo tồn để thu hút khách du lịch

Năm 1995, Hội thảo đầu tiên về du lịch dựa vào cộng đồng được tổ chức tại Bali Indonesia do Tổ chức nghiên cứu thiên nhiên thế giới khởi xướng Hội thảo đã phổ biến kinh nghiệm phát triển du lịch dựa du lịch dựa vào cộng đồng của các nước châu Âu và đưa ra kế hoạch xây dựng phát triển

du lịch có sự tham gia của cộng đồng tại các khu bảo tồn của khu vực các nước Đông Nam Á Hội thảo lần thứ hai về du lịch dựa vào cộng đồng do tổ chức NOVIB là thành viên của Tổ chức quốc tế Oxfam Đông Nam Á tổ chức, hội thảo có sự tham gia của các Tổ chức phi chính phủ Philippine, Indonesia và Thái Lan Tại hội thảo này cũng đã đề cập đến phương pháp xây dựng du lịch dựa vào cộng đồng là chia sẻ lợi ích cho cộng đồng trong lợi ích phát triển du lịch để nâng cao điều kiện sống của cộng đồng dân cư Hội thảo cũng đề cao vai trò của chính phủ, chính quyền sở tại, các công ty

du lịch là những cơ quan góp phần vào thực hiện tốt chương trình Sau hội thảo, nhiều nước đã nhận được sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế nên đã bắt tay vào nghiên cứu xây dựng một số mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng như: Indonisia; Malaysia; Thái Lan

Trong chiến lược phát triển du lịh của Indonesia là tập trung phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho

Trang 27

du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia có sự tham gia của cộng đồng [45]

Như vậy, với chiến lược phát triển du lịh của Indonesia là tập trung phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, phát triển ngành tiểu thủ công nghiê ̣p thông qua các chương trình phát triển kinh tế xã hô ̣i 5 năm, khuyến khích viê ̣c xây dựng các cơ sở sản xuất và các Trung tâm bán sản phẩm làng nghề nông thôn đồng thời hướng dẫn phát triển công nghiê ̣p nhỏ gắn liền với truyền bá kiến thức về ngành nghề cho dân cư Các sản phẩm chính được định hướng vào 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển có sự tham gia của cộng đồng Đây cũng là một bài học kinh nghiệm trong phát triển DLCĐ mà Việt Nam nên tham khảo khi phát riển loại hình du lịch cộng đồng

 Ở Malaysia

Malaysia là một quốc gia đa dân tộc, với đa số là người Hoa, Ấn Độ

và người Mã Lai bản địa Sự pha trộn từ nhiều nền văn hóa khác nhau tạo

Trang 28

Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển mạnh Năm 2010, Malaysia đã đón được 24,6 triệu lượt khách du lịch quốc tế và thu nhập từ

du lịch đạt 17,93 tỷ USD, năm 2012 Malaysia đón 25 triệu lượt khách quốc

tế Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở thành nước phát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế Thông điệp chính của ngành du lịch thể hiện mục tiêu và quan điểm phát triển trên: “Định vị Malaysia là điểm đến du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xây dựng ngành du lịch thành ngành có đóng góp chính trong phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường, chú trọng tính cân bằng, tính bền vững và tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng” [45]

Theo thống kê của UNWTO trong vùng Châu Á Thái Bình Dương thì Malaysia là một quốc gia có ngành du lịch phát triển đứng thứ hai sau Trung Quốc về lượng khách quốc tế đến Hiện nay, trong các tour du khách chọn điểm đến Malaysia chủ yếu là các tour dạng du lịch văn hóa dựa vào cộng đồng – Homestay Với loại hình này, du khách sẽ được ở và sinh hoạt chung nhà với người dân bản địa như là thành viên trong gia đình để khám phá phong cách sống của người dân nơi dây, trải nghiệm cuộc sống hằng ngày để biết được tập tục của người dân nơi đó Homestay có tầm quan trọng đặc biệt đối với Malaysia, được xem là động lực cho phát triển nông thôn ở Malaysia Bắt đầu được triển khai từ những năm 1980, đến nay loại

Trang 29

29

hình du lịch homestay đã phát triển rộng rãi ở 13 bang trên toàn quốc với gần 3300 hộ dân từ 230 ngôi làng khắp cả nước Hàng năm đón hơn 160.000 lượt du khách trong đó có 30.000 khách quốc tế đến chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Úc mang lại nguồn thu trên 16 triệu USD cho các hộ tham gia [40]

Bên cạnh đó, du lịch Malaysia liên tục đổi mới, đa dạng hóa, nâng cấp các sản phẩm du lịch đạt đẳng cấp quốc tế với mức giá cạnh tranh Để đạt được mục tiêu này, du lịch Malaysia liên tục tổ chức các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch, trong đó chú trọng khai thác ba nét nổi bật của đất nước Malaysia, từ đó thu hút du khách Đó là, chú trọng khai thác những nét văn hóa đạo Hồi của đất nước, từ đó mang đến trải nghiệm thú vị cho du khách Tiếp đến, Malaysia còn có văn hóa ẩm thực đặc sắc, bởi đây là nơi giao thoa của nhiều nền ẩm thực hàng đầu thế giới

 Ở Thái Lan

Hội thảo Du lịch dựa vào cộng đồng năm 2002 tại Chiêng Mai - Thái Lan, các nước tham dự đã thống nhất quan điểm về khái niệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng và cộng đồng tham gia phát triển du lịch đồng thời nêu lên phương thức về phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Một trong những địa danh phát triển mạnh về du lịch cộng đồng phải kể đến là

Chiêng Mai

Chiêng Mai: Nằm ở vùng Đông Bắc Thái Lan là vùng miền núi, dân

cư thưa thớt và nghèo, nhưng vốn là cố đô cũ của Thái Lan nên có bề dày phát triển về di sản văn hóa di tích và các làng nghề truyền thống nổi tiếng lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc Trước thực trạng làng nghề dần mai một, thu nhập dân cư địa phương rất thấp, du lịch chưa phát triển Năm

1999, theo sáng kiến của Cục Xúc tiến xuất khẩu thuộc Bộ Thương mại

Trang 30

30

Thái Lan phối hợp với Bộ Du lịch và Thể thao đã phát động phong trào mỗi làng một nghề hay còn gọi là phong trào OTOP (one Tambon-one product) Chương trình triển khai đầu tiên tại vùng Đông Bắc Thái Lan ở hai tỉnh Chiêng Rai và Chiêng Mai nhưng tập trung chính tại Chiêng Mai Sau 5 năm triển khai thực hiện có hơn 70 làng nghề được khôi phục và phát triển trong đó có 19 làng nghề phát triển mạnh trở thành những điểm đến du lịch nổi tiếng thu hút du khách quốc tế đến tham quan mua sắm hàng lưu niệm thủ công mỹ nghệ theo loại hình du lịch cộng đồng ở Chiêng Mai có các làng: Baan Tawai, Baan Sri Pun-Krua, Baan Wua-Lai, Baan Muang Goong, Baan Roy Jaan, … Các chính sách được áp dụng tạo nên những thành công được tổ chức UNWTO ghi nhận và đúc kết đó là:

Chính quyền cấp tỉnh ngay từ đầu đã quan tâm hỗ trợ cho các làng nghề ở các khâu: hỗ trợ các nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ, tổ chức huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân, phối hợp với các Bộ ngành trung ương hỗ trợ khâu tiếp thị, xúc tiến bán hàng

Tổ chức phát triển các trung tâm nghiên cứu và đào tạo nghệ nhân trên địa bàn mỗi tỉnh, kinh phí do tỉnh hỗ trợ

Khuyến khích khôi phục và bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa địa phương, lưu giữ và chuyển hóa các kết tinh vào từng sản phẩm và việc phát huy tính sáng tạo của người thợ thủ công, các nghệ nhân để làm ra các sản phẩm Sau khi chương trình OTOP được áp dụng, trong vòng 2 năm chương trình đã đem lại 3,66 tỷ Bath ước khoảng 84,2 triệu USD lợi nhuận cho cộng đồng địa phương và thúc đẩy phát triển hoạt động du lịch cộng đồng ở

các vùng sâu của Thái Lan [42, TAT-Report 2005]

Chính phủ Thái Lan từ TW đến cấp tỉnh, có những chính sách khuyến khích các làng nghề sản xuất sản phẩm phục vụ du lịch chất lượng cao theo

Trang 31

31

bộ tiêu chuẩn được chính phủ công nhận trong đó phân chia chất lượng sản phẩm ra làm 5 cấp, từ cấp 1 sao đến 5 sao Chính quyền đặc biệt hỗ trợ cho các sản phẩm đạt từ cấp 3 sao trở lên, cấp 5 sao được ưu tiên nhất, nhờ vậy các làng nghề luôn phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm nhận được sự hỗ trợ lớn từ chính phủ trong đó Làng Baan Tawai, thuộc huyện Hang Dong, tỉnh Chiêng Mai là làng OTOP năm 2004 đạt giải thưởng sản phẩm cao cấp đầu tiên do Bộ Du lịch và Thể thao Thái Lan xét tặng [42, TAT-Report 2005]

Chính quyền các tỉnh còn khuyến khích việc tổ chức các hình thức chợ đường phố, chợ đêm, nhằm tạo điều kiện cho các làng nghề đem đến giới thiệu và bán các sản phẩm do mình làm ra cho du khách

Các sản phẩm mang nhãn OTOP được chính phủ Thái Lan ưu tiên trưng bày trong các hội chợ thương mại quốc tế, được hưởng chính sách miễn thuế hoặc giảm thuế

Các doanh nghiệp du lịch hỗ trợ cho các trường đại học, các viện nghiên cứu trong việc nghiên cứu thiết kế sản phẩm, ứng dụng công nghệ thông tin, nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch và xây dựng các trang thông tin của địa phương để quảng bá sản phẩm, giúp khách hàng nước ngoài và du khách trong nước có thể đặt mua hàng qua mạng

Ngoài ra Chính quyền còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp du lịch lữ hành tổ chức thường xuyên các chuyến du lịch đến các làng nghề để du khách nước ngoài có thể tận mắt thấy được sinh hoạt làng nghề, quy trình sản xuất các sản phẩm như thế nào, và có thể tham gia sản xuất ra các sản phẩm ấy Ngoài việc tạo ra những sản phẩm độc đáo từ các làng nghề để thu hút du khách, các doanh nghiệp du lịch Thái Lan và các địa phương còn biết cách thu hút và giữ chân du khách bằng cung cách phục vụ rất khéo léo

Trang 32

sử dụng kiến thức vốn có của mình về phương pháp canh tác nông nghiệp truyền thống để tự nuôi mình và giới thiệu cho khách du lịch về hoạt động của nông nghiệp, sản xuất những sản phẩm truyền thống trong đời sống sinh hoạt của họ… Bên cạnh đó, chính phủ Thái Lan kêu gọi các khu làng mạc ở vùng nông thôn hãy giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ của mình, bảo vệ cây cối

và giảm tiếng ồn, gìn giữ phong cách kiến trúc Thái Lan

Thái Lan là một thành viên trong khối Asean có những điều kiện kinh

tế xã hội khá tương đồng với Việt Nam đặc biệt là vùng Đông Bắc gồm hai tỉnh Chiêng Rai, Chiêng Mai nơi có tài nguyên phong phú đa dạng, về trình

độ quản lý, các tập quán văn hóa truyền thống, các làng nghề hiện có và các điều kiện dân sinh, kinh tế rất tương tự với Việt Nam Đặc biệt Thái Lan là quốc gia được quốc tế đánh giá cao vì có những bước đi hợp lý và hiệu quả trong việc khai thác phát triển các hoạt động du lịch và DLCĐ ở những vùng chậm phát triển Do đó những đúc kết quý báu về cách phát triển DLCĐ của Thái Lan sau đây cũng nên tham khảo là:

Thứ nhất, khi phát triển du lịch cộng đồng cần quan tâm đến mục tiêu

khôi phục các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống đã có sẵn, để các sản phẩm của các làng nghề không bị trùng nắp, mỗi làng nên có một sản

Trang 33

33

phẩm đặc trưng riêng; Thứ hai, cần có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các làng nghề để phục hồi sản xuất các sản phẩm; Thứ ba, đầu tư các trung

tâm nghiên cứu và đào tạo nghệ nhân trên địa bàn mỗi tỉnh có làng nghề;

Thứ tư, tổ chức huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân; Thứ năm, hỗ trợ quảng bá sản phẩm của các làng nghề; Thứ sáu, giảm thuế cho

Về mặt văn hóa - xã hội: tăng cường huy động nguồn lực xã hội đặc biệt là cộng đồng địa phương, người dân bản địa đối với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, góp phần phát triển xã hội bền vững Khơi dậy được niềm

tự hào của người dân trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ thấy được vai trò, trách nhiệm của mình đối với việc gìn giữ giá trị lịch

sử, văn hóa Nâng cao trình độ kiến thức văn hóa cộng đồng dân cư làng bản đồng thời tạo ra nhận thức vai trò của các các thành viên cộng đồng trong các hoạt động du lịch

Trang 34

34

Về tài nguyên và môi trường: Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng đối với bảo vệ, bảo tồn các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hoá bản địa, nâng cao được ý thức trách nhiệm đối với môi trường du lịch và các hiện tượng gây ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến môi trường

Về mặt kinh tế: Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là giải quyết được công ăn việc làm nâng cao đời sống mọi thành viên tham gia và góp phần vào giảm nghèo tại địa phương

1.1.3.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn

và chủ yếu làm nghề nông – lâm – ngư – nghiệp Cộng đồng dân cư chủ yếu sống ở làng và làm việc trên những cánh đồng, chân đồi, ven sông…Có thể nói, nơi sinh sống của cộng đồng dân cư ở rất giàu tài nguyên du lịch không chỉ về tự nhiên mà cả về nhân văn, nhưng phần lớn người dân ở đây vẫn nằm trong diện nghèo và ít việc làm Trong những năm qua, cùng với chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Chính phủ, ngành du lịch tập trung nghiên cứu và tổ chức thực hiện các loại hình du lịch cho cộng đồng ở nông thôn Đó là các loại hình du lịch sinh thái, du lịch làng nghề, du lịch làng cổ v.v Nhiều điểm đến du lịch được hình thành đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển du lịch của đất nước trong những năm qua Nhiều điểm đến du lịch đã nổi tiếng đối với khách du lịch trong nước và nước ngoài Điển hình là mô hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác - Mai Châu Hòa Bình là một trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới [37] hay ở Sa Pa một trong những địa phương phát triển mạnh về du lịch cộng đồng, một điểm đến yêu thích của nhiều du khách trong và ngoài nước với các bản làng như: Cát Cát, Sín Chảy, Lao Chải, Tả Van… năm 2012 đã thu hút 610.000 lượt

Trang 35

35

khách Sự phát triển du lịch cộng đồng ở Sa Pa đã góp phần nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc làng bản, cộng đồng tham gia vào hoạt động dịch vụ du lịch như: dệt thổ cẩm, hướng dẫn khách và biểu diễn văn nghệ…

Có thể nói, những địa điểm này khi phát triển du lịch cộng đồng đã giải quyết rất nhiều vấn đề về kinh tế và xã hội như: tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, tạo ra thu nhập cho người dân, khôi phục các nghề thủ công truyền thống làm ra các sản phẩm lưu niệm bán cho khách Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ, hải sản, tăng mật độ trồng trọt chuyên canh để tạo ra nhiều nông sản gạo, rau, củ, quả, hoa phục vụ đời sồng và phát triển du lịch Tuy nhiên, những mô hình phát triển du lịch cộng đồng đạt hiệu quả như trên chưa nhiều và còn nhiều khó khăn và trở ngại Khó khăn đầu tiên của việc phát triển du lịch cộng đồng ở nông thôn đồng bằng, miền núi và vùng biển đó là cơ sở hạ tầng kỹ thuật: đường xá, điện, nước sinh hoạt, thông tin liên lạc… Đây là khó khăn chung của đất nước, đặc biệt ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa Một trong những điều kiện quyết định để phát triển du lịch và khai thác các tài nguyên du lịch đó là cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà đầu tiên là hệ thống giao thông vận chuyển khách du lịch Phát triển du lịch cộng đồng tại làng gặp khó khăn về quy hoạch phát triển

Để đón khách du lịch cần phải có nơi đón tiếp, nơi đỗ xe, nơi nghỉ trọ, nơi

ăn, uống, nơi tham quan, nơi mua sắm hàng lưu niệm, nơi vệ sinh v.v Để đảm bảo những điều kiện trên, cần có quy hoạch nơi giãn dân, nơi sản xuất

và nuôi trồng, cây, con phục vụ cho sự phát triển du lịch Thực tế đã chứng minh, chúng ta phát triển du lịch cộng đồng một cách tự phát, chưa có chiến lược và quy hoạch phát triển cụ thể Nhiều làng, bản phát triển du lịch chưa

có quy hoạch nên còn nhiều khó khăn, vướng mắc Ví dụ: để gìn giữ những ngôi nhà cổ làm điểm tham quan cho khách cần phải có đất để giãn dân, cần

có các khu dịch vụ phục vụ khách du lịch Quy hoạch đất không chỉ cho cơ

Trang 36

36

sở dịch vụ mà cả các khu vệ sinh cho khách Vì không có quy hoạch chi tiết nên các làng phát triển du lịch thường bị ô nhiễm môi trường tự nhiên, khách du lịch cảm thấy mất vệ sinh Nhận thức của chính quyền các cấp và cộng đồng về vấn đề này vẫn còn hạn chế, điều này đòi hỏi các chuyên gia

về du lịch phải tư vấn thông qua các hình thức khác nhau phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của địa phương và cộng đồng để có những giải pháp mang tính chiến lược lâu dài

Một vấn đề khác cần được quan tâm là đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại cộng đồng Đây là một vấn đề lớn phải được xuất phát từ yêu cầu cụ thể Ví dụ, người hướng dẫn khách đến tham quan phải có kiến thức về lịch sử, văn hoá và đặc tính địa phương, con người tại điểm đến, phải biết ngoại ngữ của đối tượng khách đến tham quan, phải có

kỹ năng giao tiếp cơ bản theo phong tục, tập quán và đặc điểm tâm lý xã hội của khách v.v Điều quan trọng người phục vụ phải có kỹ năng giao tiếp, phải an toàn vệ sinh thực phẩm, còn cách phục vụ sẽ được hướng dẫn cụ thể trong từng cơ sở Thực tế, vấn đề bồi dưỡng nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc phát triển du lịch tại địa phương chưa được triển khai đồng bộ và cụ thể

Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch thì du lịch cộng đồng đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế thiết thực cho dân cư địa phương, du khách và các công ty lữ hành Chính vì vậy, một trong những quan điểm và mục tiêu quan trọng của dự thảo chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020 tầm nhìn 2030 là ưu tiên phát triển du lịch cộng đồng – đẩy mạnh loại hình du lịch có trách nhiệm Hơn nữa, Việt Nam được biết đến là quốc gia

đa sắc tộc với nhiều phong tục tập quán với nền văn hóa giàu bản sắc là cơ

sở và nền tảng cho phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam

Trang 37

37

Nhận định của Tiến sĩ Hà Văn Siêu – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch cho rằng: Phát triển du lịch cộng đồng rất phù hợp với đặc thù văn hóa của nước ta, nó không chỉ góp phần bảo tồn nền văn hóa bản địa còn mang đến lợi ích thiết thực cho kinh tế đất nước nói chung và

cư dân bản địa nói riêng Vì thế, những năm qua mô hình phát triển du lịch cộng đồng đã được triển khai ở nhiều địa phương, cụ thể là đi tham quan các làng nghề cổ ở Huế hay hòa mình vào núi rừng thiên nhiên vùng Tây Bắc cho đến du lịch nông nghiệp làm ngư dân phố Hội – Hội An và du lịch khám phá nét văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc… trong đó, được hưởng ứng và tham gia nhiều nhất vẫn là loại hình du lịch homestay – một hình thức du lịch cùng tham gia các hoạt động thường nhật, lưu trú và tìm hiểu phong tục tập quán của cư dân bản địa Các chương trình này tập trung nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long , du khách có thể trở thành những nông dân miệt vườn thứ thiệt ở các cồn trên sông Tiền và sông Hậu

Từ những minh họa trên, cho thấy mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam chủ yếu dựa vào cộng đồng cư dân bản địa, chính quyền,

du khách, các công ty lữ hành cùng tham gia vào các hoạt động du lịch và bảo vệ môi trường Tuy nhiên sự tham của cộng đồng vào các hoạt động du lịch trực tiếp và gián tiếp vẫn còn hạn chế

1.2 Phương pháp KAP

1.2.1 Khái niệm

KAP (Knowledge, Attitude & Practice) là một phương pháp nghiên cứu khảo sát về sự hiểu biết, thái độ và hành vi của đối tượng nghiên cứu đối với một chủ đề nào đó [41]

Từ khái niệm trên có thể hiểu mô hình KAP là đi tìm sự khác biệt giữa nhận thức - thái độ - hành vi của người tham gia nghiên cứu về một

Trang 38

38

vấn đề nghiên cứu cụ thể Thường KAP tập trung vào kiến thức ở chỗ xem xét sự thể hiện hiểu biết của người tham gia nghiên cứu về vấn đề nghiên cứu; KAP tập trung vào thái độ để xem xét những cảm xúc của người tham gia nghiên cứu cũng như những ý kiến của họ liên quan đến vấn đề nghiên cứu và KAP tập trung đến hành vi mà chính người tham gia nghiên cứu thể hiện hành vi của mình trong mối quan hệ với nhận thức và thái độ của họ về vấn đề nghiên cứu

1.2.2 Nội dung phương pháp KAP

Trong cuộc điều tra KAP, phần kiến thức thường chỉ được sử dụng để đánh giá mức độ hiểu biết của cộng đồng về một vấn đề hay một chủ thể cụ thể; Thái độ là phần thứ hai của câu hỏi điều tra KAP Hơn nữa, thái độ được liên kết với những kiến thức của người được hỏi về niềm tin, cảm xúc, các giá trị hành vi đo lường thái độ thông qua một cuộc điều tra Một phần thứ ba và không thể thiếu của cuộc điều tra KAP là việc điều tra sự tham gia của cộng đồng vào việc thực hiện các hoạt động liên quan đến việc khảo sát Trong luận văn này, phương pháp KAP là một nghiên cứu để thu thập thông tin về những gì được biết đến của cộng đồng, thái độ của cộng đồng

và sự tham của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại khu di tích lịch sử cách mạng Địa đạo Củ Chi cụ thể là: chính quyền địa phương, các mhà quản lý khu di tích, cộng đồng dân cư 3 xã quanh địa đạo Củ Chi như: xã An Nhơn Tây, xã An Phú, xã Phú Mỹ Hưng và du khách đến tham quan tại khu di tích lịch sử cách mạng địa đạo Củ Chi Dữ liệu được thu thập thông qua các phiếu khảo sát sử dụng một cấu trúc bảng câu hỏi được chọn lọc, những dữ liệu này sau đó được phân tích định lượng để phục vụ mục đích phát triển

du lịch cộng đồng tại Củ Chi

Trang 39

39

Phương pháp KAP được thực hiện qua các bước: Xác định các mục tiêu khảo sát; Xây dựng giao thức khảo sát; Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát; Tiến hành khảo sát KAP; Phân tích dữ liệu và sử dụng các dữ liệu

Bước 1: Xác định các mục tiêu khảo sát KAP:

- Xem xét thông tin hiện có trước khi phát triển các công cụ khảo sát, từ các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp

- Xác định mục đích của cuộc khảo sát, sau khi xem xét thông tin hiện có, xác định mục tiêu chính của cuộc khảo sát là khảo sát, những gì cần phải làm và làm thế nào để có được các kết quả cần thiết

- Xác định các lĩnh vực của cuộc điều tra, các chủ đề chính phải phù hợp với mục đích của cộc khảo sát và phù hợp với ý định sử dụng dữ liệu vào vấn đề nào

- Tạo một kế hoạch lấy mẫu điều tra, tập hợp những người trả lời, người được lựa chọn từ cộng đồng nhắm vào mục đích của cuộc khảo sát

Bước 2: Xây dựng cách thức khảo sát KAP:

Phát triển giao thức khảo sát là bước tiết theo sau khi đã xác định mục tiêu điều tra, tiến hành viết một cuộc khảo sát KAP để hướng dẫn thực hiện các mục tiêu và ghi lại các mục tiêu Giao thức khảo sát như là một quy hoạch tổng thể, một khuôn mẫu cung cấp các bước liên quan trong khảo sát, bao gồm cả những người và những gì sẽ được tìm kiếm, và làm thế nào, khi nào và nơi sẽ diễn ra Giao thức cần rõ ràng và chính xác giải thích mục đích của cuộc khảo sát và cho dù đó là thăm dò, hình thành, kiểm tra một giả thuyết, hoặc đánh giá kết quả công việc Giao thức là một công cụ cần thiết cung cấp cơ cấu và tổ chức tiến hành khảo sát KAP, các nội dung của giao thức khảo sát bao gồm một mô tả của các yếu tố sau:

Trang 40

40

- Tiêu đề của cuộc khảo sát KAP

- Mục tiêu khảo sát và câu hỏi nghiên cứu chính

- Khảo sát cộng đồng và kế hoạch lấy mẫu

- Khu vực khảo sát KAP

- Thu thập dữ liệu và quản lý

- Kế hoạch phân tích dữ liệu

- Kế hoạch bảo vệ và bảo mật thông tin

- Thời gian thực hiện

Bước 3: Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát KAP:

Phát triển danh sách các câu hỏi khảo sát phải được chuẩn bị đúng các mục tiêu của cuộc khảo sát, thu thập dữ liệu cần thiết để làm khung câu hỏi có hiệu quả: Đảm bảo rằng tất cả các câu hỏi phải hỗ trợ các mục tiêu của cuộc khảo sát Giữ cho câu hỏi đơn giản tập trung vào một khía cạnh chủ đề và rõ ràng, súc tích Câu hỏi khảo sát quan trọng sẽ phát triển trực tiếp từ các lĩnh vực của cuộc điều tra để tìm hiểu:

- Kiến thức để được đánh giá?

- Thái độ cần phải được đánh giá?

- Hoạt động cần phải được đánh giá?

Bước 4: Tiến hành khảo sát KAP:

Tiến hành khảo sát KAP, người phỏng vấn biết rõ các khu vực địa lý của cuộc khảo sát, giao tiếp tốt và biết lắng nghe, kỹ thuật phỏng vấn thích hợp, bao gồm cả kỹ năng và kỹ thuật thăm dò, đồng ý về thời gian và ngày

Ngày đăng: 19/03/2020, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w