Bởi vậy, trong quá trình phát triển cư dân Việt đã sáng tạo nên rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tư tình cảm, để có thêm sự phấn chấn và sức mạnh trong lao động,
Trang 1-SVTH: Nguyễn Anh Linh
Lớp 10CVNH, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
GVHD: ThS Nguyễn Duy Phương
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Trang 2LỜI CẢ Ơ
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Duy Phương – giáo viên hướng dẫn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
và động viên để em có thể hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử đã tận tình chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt 4 năm học qua Dưới
sự chỉ bảo tận tình của quý thầy cô đã giúp chúng em có được một nền tảng kiến thức và có được hành trang để vững bước trên con đường tương lai
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến phòng Văn hóa Thông tin, phòng Thương mại Du lịch, trung tâm Quản lý bảo tồn di tích Hội An, Nhà biểu diễn nghệ thuật cổ truyền Hội An đã tạo điều kiện thuận lợi cho em tìm kiếm, thu thập tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy cô và sự động viên hỏi tham của gia đình, bạn bè cùng với những nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp với đề tài “Khai thác giá trị nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát
triển du lịch ở thành phố Hội An” Tuy đã rất cố gắng nhưng do còn là một sinh
viên, khả năng nghiên cứu còn hạn hẹp nên đề tài không thể tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Anh Linh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10
5.1 Nguồn tư liệu 10
5.2 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của đề tài 11
7 Bố cục của đề tài 11
PHẦN NỘI DUNG 12
ƯƠ 1: Ơ Ở LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1 Nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam 12
1.1.1 Quan niệm về diễn xướng 12
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 14
1.1.3 Phân loại nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam 16
1.2 Nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Hội An 16
1.2.1 Các thể loại diễn xướng dân gian gắn với tín ngưỡng, lễ hội truyền thống 17
1.2.2 Các thể loại diễn xướng dân gian gắn với hoạt động vui chơi giải trí 24
1.3 Việc khai thác nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phục vụ du lịch trên thế giới và Việt Nam 32
1.3.1 Một số nước trên thế giới 32
1.3.2 Một số địa phương trong nước 36
ƯƠ 2: ỰC TR NG KHAI THÁC NGHỆ THUẬT DIỄ XƯỚNG DÂN GIAN VÀO PHÁT TRIỂN DU L CH Ở THÀNH PHỐ HỘI AN 42
2.1 Vài nét về du lịch Hội An 42
2.2 Cơ sở để khai thác nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển du lịch ở Hội An 44
Trang 42.2.1 Dựa vào sự đa dạng, đặc sắc của các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian
44
2.2.2 Dựa vào nhu cầu tìm hiểu, cảm thụ giá trị của các loại hình nghệ thuật truyền thống ở du khách 47
2.2.3 Dựa vào chủ trương bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của Quốc gia và địa phương 47
2.3 Thực trạng hoạt động khai thác nghệ thuật diễn xướng dân gian trong phát triển du lịch ở Hội An 49
2.3.1 Các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian được khai thác trong hoạt động du lịch 49
2.3.2 Số lượng, thành phần khách 51
2.3.3 Thời gian và nguồn nhân lực phục vụ 53
2.3.4 Một số chương trình tiêu biểu 55
2.3.5 Địa điểm diễn ra hoạt động biểu diễn nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Hội An 58
2.3.5.1 Nhà biểu diễn nghệ thuật cổ truyền Hội An 58
2.3.5.2 Xưởng thủ công mỹ nghệ Hội An 59
2.3.6 Các hoạt động văn hóa, lễ hội truyền thống 60
2.3.7 Hoạt động quảng cáo, tuyên truyền 62
2.3.8 Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển du lịch ở Hội An 64
2.4 Ý nghĩa của việc đưa nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển du lịch ở Hội An 66
2.4.1 Tạo thêm sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương 66
2.4.2 Tạo sân chơi lành mạnh và bổ ích không chỉ cho người dân địa phương mà cho cả du khách 67
2.4.3 Thúc đẩy cho các hoạt động bảo tồn và phát triển nghệ thuật diễn xướng dân gian 68
2.4.4 Tăng thu nhập cho người dân địa phương, các đoàn ca múa nhạc dân gian 69
ƯƠ 3: ỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT DIỄ XƯỚNG DÂN GIAN VÀO PHÁT TRIỂN DU L CH Ở HỘI AN 71
Trang 53.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 71
3.2 Giải pháp về tăng cường các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian gắn với du lịch 73
3.3 Giải pháp về thu hút vốn đầu tư, xây mới và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ biểu diễn 75
3.4 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 76
3.5 Giải pháp về kết hợp với các doanh nghiệp du lịch nhằm đưa nghệ thuật diễn xướng dân gian vào các tour tuyến du lịch 78
3.6 Giải pháp về tuyên truyền, quảng bá 80
PHẦN KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 89
Trang 6PHẦN MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở bất cứ một làng quê Việt Nam nào cũng có đôi ba làn điệu dân ca, điệu lý, lời ru, hò, vè mang dáng dấp và phong cách của nghệ thuật diễn xướng dân gian Những thể loại nghệ thuật diễn xướng này là một nhu cầu không thể thiếu đối với những người lao động Bởi vậy, trong quá trình phát triển cư dân Việt đã sáng tạo nên rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tư tình cảm, để có thêm
sự phấn chấn và sức mạnh trong lao động, trong chiến đấu, để giáo dục con cháu truyền thống của ông cha, đạo lý làm người, để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm tưởng và để bay lên với những ước mơ về cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai…
Nghệ thuật diễn xướng dân gian chính là khúc hát tâm tình của người dân quê Việt Nam được lưu truyền qua bao năm tháng Nó bồi đắp tâm hồn ta từ những ngày thơ bé qua lời ru êm đềm của bà của mẹ Nó rực rỡ, thơm ngát như bông sen trong đầm, gần gũi, quen thuộc như luỹ tre bao bọc xóm làng, như cánh cò bay lả trên ruộng đồng Các loại nghệ thuật diễn xướng dân gian đó đã đi vào tâm thức mỗi người dân Việt từ thuở ấu thơ qua lời ru của bà của mẹ, giúp ta cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp bình yên nơi thôn quê, nỗi nhọc nhằn cũng như vẻ đẹp khoẻ khoắn của người lao động, tình cảm gia đình thắm thiết, nghĩa vợ chồng tao khang của những con người quê chân chất, mộc mạc, những nét sinh hoạt cộng đồng gần gũi
và thân thương
Ngày nay, tại Việt Nam còn lưu giữ một kho tàng nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo và vô cùng đặc sắc với rất nhiều làn điệu dân ca Mỗi địa phương, vùng miền lại có những hình thức diễn xướng dân gian khác nhau, làm phong phú thêm cho kho tàng âm nhạc, dân ca cổ truyền của đất nước
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Hội An - dải lụa đào xinh đẹp của mảnh
đất Quảng Nam địa linh nhân kiệt, với sự bảo tồn gần như nguyên vẹn những
đường lối kiến trúc và nếp sống đô thị cổ xưa không chỉ tái hiện, mà đã trở thành một biểu tượng của quá khứ vẫn đang song hành cùng hiện tại Không chỉ vậy, Hội
An còn là nơi lưu giữ được nhiều loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo như: các điệu hò khoan, hát bả trạo, biểu diễn du hồ, múa Thiên cẩu, nghệ thuật tuồng, nghệ thuật bài chòi,… góp phần không nhỏ cho việc bảo tồn các loại hình
Trang 7nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng Cũng chính bản thân của các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian đó đã trở thành một tài nguyên du lịch hấp dẫn cho đô thị cổ Hội An, được nhiều du khách trong và ngoài nước ghé thăm, thưởng thức
Mặc dù mang trong mình nhiều loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian đặc sắc nhưng Hội An vẫn chưa khai thác hết tiềm năng mà nó mang lại, các hoạt động diễn xướng phục vụ cho du lịch chỉ mới dừng lại ở một số cơ sở, câu lạc bộ, tổ chức chỉ mới mang tính tự phát Với mong muốn tìm ra một hướng đi mới cho công cuộc bảo tồn và phát triển các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian gắn với du lịch
tại Hội An, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Khai thác giá trị nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển du lịch ở thành phố Hội An” làm khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghệ thuật diễn xướng dân gian là một loại hình của văn hóa phi vật thể, giá trị văn hóa của nó được bảo tồn và lưu truyền trong các hoạt động biểu diễn mang tính tập thể, vì vậy nó mang tính dân gian đặc thù Nghệ thuật diễn xướng dân gian
có thể được xem là một bộ phận của âm nhạc truyền thống và có thể được gọi với nhiều tên khác nhau như: nghệ thuật trình diễn dân gian, nghệ thuật truyền thống,
âm nhạc cổ truyền, văn nghệ dân gian,… nhưng cho đến nay chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra được sự phân biệt rõ ràng giữa các tên gọi này Tùy từng tác giả, nhà nghiên cứu mà có cách gọi, cách phân loại nghệ thuật diễn xướng dân gian khác nhau Nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam đã được các tác giả nghiên cứu từ khá sớm trong các sách, báo, tạp chí, các công trình, hội thảo khoa học,
Dưới đây, xin nêu ra một số công trình nghiên cứu về nghệ thuật diễn xướng dân gian nói chung và nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Hội An nói riêng đã được thực hiện:
GS.TS Trần Văn Khê – chuyên gia hàng đầu về âm nhạc truyền thống Việt
Nam với tác phẩm “Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam”, Nxb Trẻ
2005, đã trình bày rất thuyết phục về lịch sử hình thành, sức sống mãnh liệt và các giá trị đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam Cũng tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về các giá trị của nghệ thuật truyền thống, tác giả Tuấn Giang với tác
phẩm “Giá trị nghệ thuật của diễn xướng dân gian Việt Nam”, Nxb VHTT 2006,
Trang 8cũng đã phác họa được những nét riêng, nét độc đáo và giá trị nghệ thuật của các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam
Tác giả Tô Ngọc Thanh trong tác phẩm “Trình diễn sân khấu dân gian Việt
Nam” (2007), Nxb Khoa học Xã hội, đặt vấn đề sử dụng thuật ngữ trình diễn thay
cho thuật ngữ diễn xướng bởi theo ông Thuật ngữ diễn xướng dễ dẫn đến liên tưởng
về các loại hình nghệ thuật như âm nhạc, múa, sân khấu, trong đó bao gồm các yếu
tố diễn xuất và ca xướng, tức là các nghệ thuật biểu diễn Để có một hàm nghĩa rộng
hơn, thuật ngữ trình diễn tỏ ra thích hợp, theo đó, diễn xướng là một dạng của trình
diễn
TS Trần Hoàng Tiến trong bài viết “Diễn xướng dân ca – phương thức trao
truyền dân gian trong bối cảnh hiện nay” đăng trên website trường Đại học Sư
phạm Nghệ thuật Trung Ương, bài viết xác định rõ mục đích, ý nghĩa, vai trò của diễn xướng trong sinh hoạt hát dân gian, nhằm giữ gìn, phát huy vẻ đẹp đầy mỹ cảm
do cha ông sáng tạo nên Đồng thời đặt vấn đề diễn xướng như một phương pháp dạy dân ca trong trường tiểu học, trung học cơ sở
Tác giả Khánh Ly trong bài viết “Nghệ thuật truyền thống loay hoay “làm”du
lịch” đăng trên báo Gia đình ngày 16/9/2013 đã bày tỏ những trăn trở về thực trạng
đáng buồn của các loại hình nghệ thuật truyền thống hiện nay Tác giả cũng đã đưa
ra những giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các giá trị của nghệ thuật truyền thống vào phát triển du lịch ở nước ta
Nghệ thuật diễn xướng dân gian Quảng Nam đã được nhiều tác giả nghiên cứu với nhiều công trình tiêu biểu như nhóm tác giả Võ Văn Hòe, Hoàng Hương Việt,
Bùi Văn Tiếng với tác phẩm “Tổng tập văn hóa, văn nghệ dân gian đất Quảng” (2001), Nxb Đà Nẵng; tác phẩm“Văn nghệ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng”
(2008) của tác giả Võ Văn Hòe, Nxb Đà Nẵng đã khảo tả chi tiết về quá trình hình thành, phát triển, thể loại và đặc điểm của các loại hình nghệ thuật diễn xướng của
đất Quảng Tác phẩm “Tìm hiểu con người xứ Quảng” (2004) do Nguyên Ngọc chủ
biên, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam xuất bản, đã phản ảnh những nét cơ bản
về con người Quảng Nam trong hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, văn nghệ qua nhiều thế hệ
Phố cổ Hội An, cái tên dường như đã quá quen thuộc đối với không chỉ du khách trong và ngoài nước mà còn là một đối tượng nghiên cứu hấp dẫn đối với các
Trang 9học giả, các nhà khoa học, đặc biệt là mảng đề tài về văn hóa – văn nghệ dân gian
Hội An, với các công trình nghiên cứu tiêu biểu như “Di sản văn hóa văn nghệ dân
gian Hội An” (2005) của tác giả Trần Văn An; tác phẩm “Văn hóa phi vật thể ở Hội An” (2005) do Bùi Quang Thắng chủ biên, Nxb Thế giới; tác phẩm “Di sản văn hóa Hội An – nhìn lại một chặng đường” (2009) do Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di
tích Hội An phát hành
Mặc dù tiềm năng là rất lớn nhưng đối với vấn đề đưa nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển du lịch ở Hội An hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, bài bản Mới chỉ xuất hiện một vài bài báo giới thiệu đôi nét về việc khai thác nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển du lịch như
tác giả Lê Hiền với bài báo “Hội An - Bảo tồn nghệ thuật cổ truyền gắn kết với du
lịch”, đăng trên Bản tin Diễn đàn Nhân dân Quảng Nam – số 28 (2013) Tuy vậy,
những tài liệu trên đây chính là cơ sở, là nền tảng để tôi học tập, tham khảo hoàn thành tốt công trình nghiên cứu của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng chung của ngành du lịch Hội An hiện nay, thông qua
đó đánh giá được khả năng khai thác các giá trị của nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển du lịch Để làm được điều này, trước hết cần tìm hiểu về quá trình hình thành, sự đa dạng, phong phú và các giá trị của nghệ thuật diễn xướng dân gian
4 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 ối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Hội An, thông qua một số loại hình tiêu biểu như: nghệ thuật tuồng, nghệ thuật bài chòi, hát sắc bùa, múa Thiên cẩu, hát bả trạo, biểu diễn du hồ,… và loại hình nào có thể khai thác vào phát triển du lịch Đồng thời, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật diễn xướng dân gian gắn với phát triển du lịch ở Hội
An
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian
Giới hạn về mặt thời gian của đề tài là từ khi nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Hội An hình thành và phát triển cho đến ngày nay (vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đến ngày nay)
- Phạm vi không gian
Phạm vi không gian của đề tài là tìm hiểu các giá trị của nghệ thuật diễn xướng dân gian trên địa bàn thành phố Hội An
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Tư liệu thành văn: Đây là nguồn tư liệu cung cấp những kiến thức nền tảng, cơ
sở lý thuyết thông qua sách, báo, tạp lý, công trình nghiên cứu, khóa luận tốt
nghiệp, các báo cáo khoa học, các Website điện tử…
- Tư liệu điền dã: Thông qua những tư liệu điền dã giúp tôi có cái nhìn chính
xác và chân thực hơn, kiểm chứng được cơ sở lý thuyết có đúng với thực tế hay
không
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích
Phương pháp này được sử dụng nhằm tổng hợp, phân tích các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp chủ thể khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu đạt được mục tiêu đề ra Nguồn tư liệu sau khi được thu thập sẽ tiến hành phân tích, thống kê, đánh giá để tìm ra tính toàn vẹn, phát hiện ra các mối liên hệ giữa các vấn đề liên quan
- Phương pháp thực địa
Sử dụng phương pháp này để lấy được các số liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời kiểm nghiệm độ chính xác để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Từ đó, chọn lọc những thông tin chính xác, đầy đủ phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Phương pháp này đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác của đề tài
Trang 11- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Quá trình nghiên cứu đề tài rất cần những ý kiến đóng góp của người dân địa phương, khách du lịch, cơ quan quản lý,… chính vì vậy tôi chọn phương pháp điều tra nhằm mục đích tổng hợp ý kiến của mọi tầng lớp một cách khách quan nhất để
đề tài hoàn thiện hơn Hình thức: phỏng vấn trực tiếp hay thông qua phiếu điều tra
6 óng góp của đề tài
- Về mặt khoa học: Giúp người dân hiểu rõ hơn về ý nghĩa của nghệ thuật diễn
xướng dân gian trong cuộc sống cũng như đối với vấn đề phát triển du lịch địa
phương để từ đó có cái nhìn và hành động đúng đối với loại hình này
Đề tài hoàn thành sẽ là cơ sở để chính quyền địa phương, các nhà quản lý, các công ty lữ hành, du lịch đưa ra những chiến lược và giải pháp phát triển du lịch gắn với loại hình nghệ thuật này cho phù hợp
- Về thực tiễn
Thông qua đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy nghệ thuật diễn xướng dân gian cũng như gắn nghệ thuật diễn xướng dân gian với việc phát triển du lịch ở Hội An, góp phần quảng bá hình ảnh thành phố Hội An đến với bạn bè quốc tế Đồng thời, đề tài góp thêm tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm, muốn tìm hiểu đến vấn đề này
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng khai thác nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển
du lịch ở Hội An
Chương 3: Một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phát triển du lịch ở Hội An
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
ƯƠ 1: Ơ Ở LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam
1.1.1 Quan niệm v diễn xướng
Diễn xướng là thuật ngữ được dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn học nghệ thuật và đặc biệt là trong nghiên cứu văn học, văn hoá dân gian Song, trong quá trình nhận diện, nhiều vấn đề liên quan đến thuật ngữ này còn chưa thật sự thống nhất
Tác giả Lê Trung Vũ trong bài viết Từ diễn xướng truyền thống đến nghệ
thuật sân khấu đã xác định: “Diễn xướng vừa là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội định kỳ (như Hội Gióng, Hội Xoan, Hội chùa Keo, Lễ mở đường cày đầu năm…) quy mô làng xã; lại vừa là hình thái sinh hoạt văn hóa xã hội không định kỳ, nhưng định lệ (lễ làm nhà mới, đám cưới, đám tang, lễ thành niên, lễ thượng thọ…) quy
mô một gia đình hoặc việc của một người; lại cũng vừa là lối trình diễn rất tự nhiên không định kỳ cũng không định lệ mà do nhu cầu sinh hoạt, lao động (Ru con, hát trong lúc lao động, vì lao động hoặc để giải trí)…”[54, tr.35-36] Tác giả Lê Trung
Vũ còn lưu ý rằng đã gọi là diễn xướng thì thường phải có diễn (múa, động tác, âm nhạc) và xướng (nói, ngâm ngợi, ca hát)
Hội nghị khoa học chuyên đề Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian với nghệ
thuật sân khấu cũng đưa ra khái niệm: “Diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân gắn bó chặt chẽ với cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước Diễn xướng dân gian là cái nôi sinh thành của nền văn nghệ dân tộc, có quan hệ mật thiết với hầu hết các bộ môn nghệ thuật dân tộc trước cũng như sau khi chúng trở thành những bộ môn riêng biệt”[37, tr.120]
Bàn về khái niệm này, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu cho rằng: “Nói diễn
xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân…, là cái nôi sinh thành của nền văn nghệ dân tộc” là đúng nhưng chưa đủ và nhất là chưa rõ Bởi
nhân dân đã làm ra nhiều hình thức văn nghệ khác nhau Vậy thì diễn xướng dân gian là hình thức văn nghệ nào của nhân dân? Nghệ thuật sân khấu dân gian có thuộc phạm trù diễn xướng dân gian không hay thuộc về nghệ thuật sân khấu? Các hình thức sáng tác dân gian khác ít mang tính chất diễn xướng hơn như tục ngữ, câu
Trang 13đố, ca dao, truyện kể… có phải là thành phần của diễn xướng không hay diễn xướng dân gian chỉ bao gồm những hình thức văn nghệ đậm tính diễn xướng như các thể loại ca vũ và trò diễn dân gian? Theo ông, thuật ngữ diễn xướng dân gian có thể và cần được hiểu với hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau Với nghĩa rộng, diễn xướng dân gian là tất cả mọi hình thức biểu diễn (hay diễn xướng) và ít hoặc nhiều đều mang tính chất tổng hợp tự nhiên, (hay tính chất nguyên hợp) mà lâu nay ta quen gọi là văn học dân gian; còn nghĩa hẹp nó chỉ bao gồm các thể loại diễn (như trò diễn, trò
tế lễ dân gian )[48, tr.64-67]
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) đã định nghĩa diễn xướng một cách ngắn gọn là “Trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, nhịp
điệu”[38, tr.85]
Nhà nghiên cứu Richard Bauman trong công trình Nghệ thuật ngôn từ truyền
miệng như một hình thức diễn xướng đã khẳng định: “Về cơ bản, sự diễn xướng với
tư cách một phương thức thông tin bằng miệng bao gồm cả giả thiết về trách nhiệm trước thính giả về một sự thể hiện năng lực truyền đạt Năng lực này nằm ở chỗ kiến thức và khả năng nói theo những cách thích hợp về mặt xã hội ( ) Như vậy sự diễn xướng thu hút sự chú ý đặc biệt và nhận thức được nâng cao về hành động biểu đạt và cấp phép cho thính giả xem hành động biểu đạt và người thực hiện với một cường độ đặc biệt” Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của khái niệm diễn xướng
và cho rằng: “ Có vẻ đã đến lúc thích hợp cho những nỗ lực nhằm mở rộng nội
hàm khái niệm của sự diễn xướng mang tính Folklore như một hiện tượng thông tin,
771; 783]
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đã
đưa đến một sự thống nhất cơ bản về nội hàm khái niệm diễn xướng như sau: “Diễn
xướng là sự liên kết, gắn bó tất cả mọi người tham gia, hình thành nên cộng đồng bền vững với ý thức cùng chung sống” Như vậy, diễn xướng mang tính nguyên hợp
không phân tách, gồm hai thành tố cơ bản đặc hữu cùng tham gia:
- Diễn: Hành động xảy ra
- Xướng: Hát lên, ca lên
Trang 141.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Âm nhạc nói chung, nghệ thuật diễn xướng Việt Nam nói riêng đã được hình thành và phát triển từ rất xa xưa với nhiều thể loại đặc sắc và có giá trị như chính
tác giả Tô Vũ đã khẳng định: “Việt Nam ta có một nền văn hóa âm nhạc có bản sắc
độc đáo và có lịch sử lâu đời Đó không phải là một nhận xét mới lạ và cũng chẳng phải là điều chúng ta tự phong”[53, tr.14]
Theo những tài liệu thành văn và khảo cổ, nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam đã được định hình từ thời đại Hùng Vương gắn với nền văn minh Văn Lang – Âu lạc
Cư dân nước Văn Lang và sau này là Âu Lạc được biết đến như những người “yêu
nghệ thuật” và có “tài sáng tạo nghệ thuật” [21, tr.252-262] Nhiều hiện vật được
khai quật thời kỳ này đã chứng minh người Việt cổ đã biết chế tạo và sử dụng nhạc
cụ từ khá sớm Điểm thể hiện rõ nhất điều đó chính là chiếc trống đồng Trên trống đồng Đông Sơn ở Thanh Hóa, những người múa thường được phục trang bằng những bộ quần áo như: mũ lông chim cao hoặc mặt nạ, tay đôi khi cầm vũ khí Mỗi tốp người múa thường có từ 3, 4 hoặc 6 đến 7 người Trong tốp này có người thổi khèn còn những người còn lại biểu hiện theo một động tác thống nhất, chuyển động
từ trái sang phải, người sau nối tiếp người trước một quãng đều đặn, tất cả điều hành vòng quanh ngôi sao (mặt trời) Các hình ảnh miêu tả vũ hội hóa trang trên trống đồng Đông Sơn đã cho thấy thời điểm ra đời của diễn xướng dân gian nơi đây trên hai ngàn năm
Nhà bác học Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” đã khái quát các loại hình
diễn xướng dân gian vào thời Lý Trần – thời kỳ cực thịnh của văn hóa dân tộc – đây
là thời kỳ diễn xướng dân gian có điều kiện phát triển mạnh, tác phẩm cho biết: triều đình nhà Trần đã cho kể tên các trò diễn xướng dân gian (trò Ngô, mẹ Đĩ, đánh
vật, đá cầu,…) vào “Lễ Bộ chương” và trong thế kỷ XII – XIII diễn xướng văn hóa
dân gian rất phong phú Tác phẩm còn cho biết thời Tiền Lê, diễn xướng được triều đình sử dụng trong các nghi thức ngoại giao
Trong “Sứ giao tập”, Trần Đình Cương ghi rằng: vua Lê Hoàn đã cùng nhảy
múa với các nghệ nhân trong buổi tiếp sứ nhà Tống Thời Lê, có hai khúc vũ nhạc
ghi trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam là “Bình Ngô phá trận” và “Chư hầu
lai triều” được xem là có nghệ thuật diễn xướng độc đáo
Trang 15Thời kỳ Lý – Trần – Lê có thể được xem là thời kỳ phát triển huy hoàng của
âm nhạc truyền thống Việt Nam, trong đó có nghệ thuật diễn xướng dân gian Đây cũng là thời kỳ âm nhạc truyền thống nước ta chịu ảnh hưởng khá lớn của nền âm nhạc Chămpa Năm 1060, vua Lý Thánh Tông đã cho dịch các khúc nhạc Chămpa
cho nhạc công hát: “Đại Việt sử ký có chép rằng ở triều Lý vua khiến nhạc công đặt
nhạc khúc gọi là điệu Chiêm Thành, tiếng trong trẻo mà ai oán thảm thương, ngâm nghe phải khóc” [2, tr.314]
Sau này, đến thời nhà Nguyễn, khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam (1558),
sự giao lưu, hòa quyện giữa âm nhạc Việt – Chăm ngày càng rõ nét: “Âm nhạc ở
Bắc truyền vào đã chịu ngay ảnh hưởng của âm nhạc Chiêm Thành mà thành những khúc nhạc cung nam mà người ta hay đem đối với các cung bắc” [2, tr.317]
Âm nhạc xứ Đàng Trong phát triển khá mạnh, được nhiều nhà quý tộc, điền chủ ở Nam Bộ ưa thích
Thế kỷ XIX – thời kỳ đầy biến động của xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn, các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra ở khắp nơi cùng với cuộc xâm chiếm thuộc địa của thực dân Pháp vào cuối thế kỷ, âm nhạc truyền thống Việt Nam cũng vì vậy
mà đứng trước nhiều khó khăn, thử thách Tuy vậy, âm nhạc truyền thống nước ta cũng đạt được những thành tựu to lớn trong thời kỳ này với sự hình thành loại hình
âm nhạc cung đình Huế và nghệ thuật cải lương trên cơ sở kế thừa đờn ca tài tử, ca
ra bộ cùng với sự tiếp thu một số yếu tố âm nhạc Quảng Đông (Trung Quốc)
Đầu thế kỷ XX, chiến dịch bình định về tinh thần của thực dân Pháp được tiến hành với hy vọng đẩy lùi những ảnh hưởng của nho giáo và đẩy mạnh việc tuyên truyền văn hóa Pháp Từ đây, văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp bắt đầu xâm nhập vào nước ta mạnh mẽ dẫn tới sự ra đời của một loại hình ca nhạc mới, đó
là âm nhạc cải cách – tân nhạc nền tảng của âm nhạc Việt Nam đương đại
Trước sự thay đổi lớn lao và sâu sắc trong toàn bộ xã hội Việt Nam thì nền âm nhạc cổ truyền nhất là sân khấu Chèo, ả đào,… đã chịu sự biến đổi đáng kể Trong
xã hội cũng hình thành thêm một số loại ca kịch dân tộc mới dựa trên vốn nghệ thuật âm nhạc có sẵn của dân tộc kết hợp với phần nào những yếu tố mới của phương Tây
Tuy đứng trước những thay đổi to lớn về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội và những ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại lai, nhưng bản lĩnh của âm
Trang 16nhạc cổ truyền vẫn tiếp tục được phát huy như chính Giáo sư, nhạc sĩ Tô Vũ đã
khẳng định: “Cứ mỗi lần đọ sức với âm nhạc ngoại lai, âm nhạc truyền thống Việt
Nam lại tìm thấy sức mạnh tiềm tàng để tự bảo vệ, tự cải tạo và nâng cao trình độ của mình lên một bước” [53, tr.24]
Trải qua bao biến thiên cũng với những thăng trầm của lịch sử, âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung và nghệ thuật diễn xướng dân gian nói riêng vẫn chứng minh được sức sống tiềm tàng, mãnh liệt mặc cho chiến tranh loạn lạc cùng những chính sách đồng hóa của kẻ thù Ngày nay, đứng trước xu thế toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã có những đường lối đúng đắn nhằm khôi phục, phát huy và bảo tồn các giá trị của âm nhạc truyền thống trước những ảnh hưởng của các nền văn hóa khác
1.1.3 Phân loại nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam
Nghệ thuật diễn xướng Việt Nam không chỉ đa dạng về loại hình mà còn ở các lối diễn xướng, mỗi loại hình đều có những lối diễn xướng khác nhau Chính vì vậy, trong quá trình nhận diện, phân loại nghệ thuật diễn xướng còn chưa đạt được sự thống nhất
Theo Lê Trung Vũ, có thể phân loại diễn xướng dựa vào chủ đề và quy cách
Dựa vào chủ đề, diễn xướng được chia thành hai loại theo hai nội dung lớn của xã hội là dựng nước và giữ nước Diễn xướng theo chủ đề dựng nước lại có thể chia thành hai loại nhỏ là sản xuất và sinh hoạt Dựa vào quy cách tiến hành diễn xướng, có thể chia diễn xướng thành diễn xướng tự nhiên, tự do (Thường là hát không động tác hoặc động tác đơn giản, không kèm tập tục, nghi lễ) và diễn xướng định kỳ, định lệ (phức tạp về thành phần cấu tạo, đa dạng về nội dung, theo quy cách nhất định)[54, tr.35-36]
Hoàng Tiến Tựu lại chia diễn xướng dân gian thành 4 loại: nói, kể, hát, diễn
tương ứng với 4 phương thức phản ánh chủ yếu của văn học dân gian là suy lý, tự
sự, trữ tình, kịch [48, tr.64-67]
1.2 Nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Hội An
Người Hội An vốn giàu truyền thống văn hoá lại sớm giao lưu với thế giới bên ngoài, không biết tự bao giờ đã hình thành một bản sắc văn hoá độc đáo riêng và được giữ gìn, bảo tồn qua bao thế hệ cho đến hôm nay Cuộc sống của con người nơi đây thiên về nội tâm, phảng phất nét trầm lắng Với họ đô thị Hội An như một
Trang 17mái nhà lớn cổ kính mà trong đó đang chung sống một đại gia đình đông đúc con cháu với những người thị dân hiền hoà gần gũi và hiếu khách; những chủ gia đình
ân cần, thân thiện; những phụ nữ dịu dàng, khéo tay, nhân hậu; những trẻ em lễ độ, ngoan ngoãn tạo nên một cộng đồng cư dân hoà thuận, sống bình dị, êm đềm bên nhau qua bao thế hệ và cứ như vậy tiếp nối
Cuộc sống đã bao đổi thay qua năm tháng nhưng người Hội An không bị mất
đi những điệu hò quen thuộc, những hình thức diễn xướng, đó là kết tinh từ quá trình lao động của cư dân địa phương, ngày nay vẫn được gìn giữ và là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần nơi đây Nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Hội
An rất đa dạng, phong phú với nhiều thể loại, nhưng nhìn chung có hai nhóm chính
là các thể loại diễn xướng dân gian gắn với tín ngưỡng, lễ hội truyền thống và các thể loại diễn xướng dân gian gắn với hoạt động vui chơi giải trí
1.2.1 Các thể loại diễn xướng dân gian gắn với tín ngưỡng, lễ hội truy n thống
Nằm ở trung tâm duyên hải Miền Trung, với điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi, từ giữa cuối thế kỷ XV, đất Quảng Nam đã là nơi tụ hội, sinh cư lập nghiệp của người Việt với những làng quê trù phú, có bản sắc văn hóa riêng của vùng đất và con người xứ Quảng, trong đó nét đặc sắc được tập trung ở các giá trị văn hóa tín ngưỡng, lễ hội Đến với lễ hội Quảng Nam, cộng đồng vừa muốn gửi gắm, bộc lộ những ý nguyện cá nhân, giải tỏa về tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng và
để giao tiếp xã hội, thể hiện thái độ của trần thế với thần linh mà con người tin tưởng, phụng thờ nhân tố bảo trợ cuộc sống an bình của cá nhân và cộng đồng Trong các lễ hội, sinh hoạt đó, có một số loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian không thể thiếu, trở thành một phần quan trọng Hát bả trạo, hò đưa linh, hát sắc bùa và múa Thiên Cẩu là một trong số đó
- Hát bả trạo
Hát (hay Hò, Hát Múa…) Bả Trạo là hình thức diễn xướng dân gian được ngư dân làm nghề biển nước ta truyền bá, duy trì trong tâm thức, trong đời sống văn hoá tinh thần của họ cho đến ngày nay Hát Bả trạo ở Hội An cũng được hình thành từ bao đời và được gìn giữ cho đến nay còn khá nguyên vẹn
Theo cách lý giải của những ngư dân cao tuổi thì bả có nghĩa là bạn, còn trạo
có nghĩa là chèo, bả trạo có nghĩa là bạn chèo Cũng có cách lý giải khác, bả tức là cầm chắc, còn trạo có nghĩa là mái chèo, bả trạo có nghĩa là cầm chắc mái chèo
Trang 18Về xuất xứ của hát bả trạo, nhiều ý kiến thống nhất cho rằng hát bả trạo có liên quan về nguồn gốc với hát chèo ở miền Bắc, khi theo chân các đoàn người Việt về phương Nam đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng, biến đổi để trở thành hát bả trạo
Con thuyền chèo hát Bả Trạo được bố trí như con thuyền thật dưới nước, một
đội chèo gồm 3 Tổng chính: Tổng Tiền (Người ở phía trước mũi thuyền, đóng vai
trò một trưởng ban điều khiển con thuyền “Tổng Mũi”), Tổng Thương (Người ở dưới khoang thuyền lo bề củi, nước,…“Tổng Khoang”), Tổng Lái (Người ở phía sau đuôi để lái con thuyền, và là người có vai trò nhắc nhở các Tổng trong suốt cuộc hành trình đi biển), và một Tổng phụ còn gọi là Tổng Khậu (Người đóng vai trò đi chợ, cúng mẹ ) Đội chèo thuyền gồm có từ 12 đến 16 Con trạo đứng hai bên
mạng thuyền Ở Phước Hải (Cẩm An - Hội An) nhiều con trạo là nữ vị thành niên, theo tục lệ của người xưa để lại; nam, nữ trạo phải là những người chưa nếm mùi
tục luỵ, chưa lập gia đình, nghĩa là bảo đảm sự “vô nhiễm” trước đấng thần linh
Mở đầu là màn hát múa rước linh Ông, trong giai điệu Tán rất nghiêm trang
“Lò hương ngui(nghi) ngút/ cảnh vật thảnh thơi
Biển Đông minh giúp đỡ nơi nơi Thần Nam Hải oai phong lẫm lẫm Công tế độ đáng thêu bìa gấm Cõi vô thường còn động lòng vàng Cảnh án diên có vạn có làng Xin chúng đẳng chỉnh tề bái yết…”
Đội Bả Trạo làm nghi thức bái lạy, sau đó cuộc hát Bả Trạo được tiến hành
Các “Tổng” xướng, hát,… thông qua các làn điệu, các lối Nói - Hát, còn những con
trạo thì hò theo và đồng thời thể hiện động tác chèo thuyền theo nhịp hết sức rập ràng
“Chúng con một dạ kính thành Hát hò cho rập theo đường chèo bơi
Hò là hò hỡi lơ…”
Nội dung màn múa hát Bả Trạo mang đậm màu sắc tín ngưỡng Phật giáo, ca
ngợi thần, Phật đã có công “cứu khổ cứu nạn”, ca ngợi công đức thần Nam Hải Ngọc Lân, cầu cho sự “cứu hộ độ sinh” của Ngư Ông và cùng hò đưa âm linh của
Trang 19những linh hồn oan nghiệp, những người bạn cũ (Lái xưa) không may mắn bỏ mạng trên biển được về miền cực lạc
“Giúp người thật đã có công
Da đen/ lòng đỏ/ đức rồng/ tánh (tính) lân…”
Ngoài ra, lời ca còn thể hiện quá trình đấu tranh của con người trước sóng gió, tinh thần dũng cảm, lạc quan, tinh thần đoàn kết trong lao động của ngư dân làm nghề biển Màu sắc của màn diễn xướng tuy mang đậm yếu tố cúng bái, cầu khẩn tâm linh, nhưng lại chất chứa tinh thần nhân đạo cao cả, sâu rộng
“Thập loại chúng sinh
…những người nghĩa khí tài ba gặp cơn nước loạn đến ra liều mình những người truyền bá linh đinh gặp cơn sóng lớn hải lành rước thay…”
Một kịch bản hát Bả Trạo cũng có các phần như nghệ thuật sân khấu Tuồng chính thống, cũng có giáo đầu, có phát triển, và giải quyết kịch tính rồi về kết Yếu
tố kịch tính ở đây đơn giản hơn trong nghệ thuật sân khấu Tuồng, chỉ có một mâu thuẫn đó là giữa sự chống chọi giữa Con người với Bão tố Tái hiện cảnh thuyền gặp bão tố, ngư dân phải ra sức chống chọi để vượt qua gian nguy, đây là giai đoạn cao trào duy nhất trong màn diễn xướng Trong những lúc thuyền gặp nạn, khó khăn như vậy, tổng Thương là người đóng vai trò thường xuyên tạo nên kịch tính Để tạo
sự phong phú về hành động kịch, để không khí biểu diễn bớt nặng nề, căng thẳng, tổng Thương thường chen vào những câu nói hài hước, những hành động gây cười
“khi đi câu, khi tát nước, khi ngủ quên, khi đi chợ,…”, ở đâu, vai trò nào, tổng
Thương cũng thể hiện tính lạc quan, nghịch ngợm, linh hoạt và vui nhộn Đây cũng
là yếu tố mang sắc thái văn hoá riêng, thể hiện tinh thần lạc quan của ngư dân làm
nghề biển, mặc dầu nghề biển là cái nghề mà người ta hay gọi là “hồn treo cột
buồm”, nghề mà may ít rủi nhiều cho sinh mạng con người
- Hò đưa linh
Một trong những nét văn hóa mang tính truyền thống của nhân dân ta là những tập tục dành cho người chết Sự chia cắt vĩnh viễn giữa người sống với một người thân trong gia đình mất đi đã gây nên nỗi đau đớn không gì lấp được Thay bằng
quan niệm xa cách vĩnh viễn, người ta tiễn đưa người chết về nơi “cực lạc”
Trang 20“Sinh kí tử quy”, với người dân xứ Quảng, việc tang là việc quan trọng Khi
trong tộc, trong làng có người mất, mọi người cùng chung tay giúp đỡ Kẻ che rạp, người đi chợ, người sửa soạn trong nhà Việc buồn của một gia đình đã trở thành việc chung của cả làng xóm Tính cộng đồng tương trợ và sự đoàn kết yêu thương nhau đã được biểu hiện trong việc tang của người Quảng Nam Đà Nẵng
Trong lễ tang truyền thống ở Quảng Nam – Đà Nẵng, một điều không thể thiếu chính là đội âm công trình diện với nhiệm vụ khiêng cỗ áo quan và linh xa đến địa điểm chôn cất để làm lễ hạ rộng Đội âm công gồm trai tráng trong làng được nhóm họp khi có người chết Hiệu lệnh nhóm họp là tiếng thanh la, chỉ huy đội là
Tổng Sinh (ông Tổng) có 3 vị đầu roi giúp đỡ Trang phục của ông Tổng thường
nhiều màu sắc như trang phục hát bội, trang điểm khuôn mặt rất kỹ; trang phục của đội âm công thì tùy từng địa phương, thường thì đầu roi mặc áo vàng, những người còn lại mặc áo xanh Trong lễ trình diện, Tổng sinh biểu diễn điệu hò đưa linh nhằm tiễn đưa linh hồn người chết về cõi vĩnh hằng
Là xứ sở của đạo Phật nên giáo lý nhà Phật ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến đời sống nhân dân ta Giáo lý Phật giáo cho rằng khi chết đi, con người phải đi qua chuyến đò Bát Nhã để đi đến Bến Giác, vào cõi Niết Bàn Tập tục phạn hàm cho người chết cũng có xuất xứ từ điểm này khi cho tiền, vàng vào miệng người chết trước khi liệm để có tiền đi đường và qua đò Từ ý nghĩa đó, tục hò đưa linh ra đời
để đáp ứng nguyện vọng mong cầu cho người chết sớm vào cõi Niết Bàn, đưa vong linh người chết qua chuyến đò cuối cùng của cuộc đời Đó cũng chính là lý do ra đời của loại hình nghệ thuật âm nhạc cổ truyền độc đáo này
Những câu hò trong hò đưa linh có nội dung kể lại công cha nghĩa mẹ sinh thành, thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, kể nỗi lòng sầu bi của con cháu khi phải chia tay cha mẹ, ông bà Những câu hò nhằm tiễn đưa người
đã mất về nơi an nghỉ cuối cùng một cách suôn sẻ Trong bài hò có một đoạn nói về nỗi lòng của con cháu với người đã khuất:
“Chia tay kẻ ở người đi Lòng nào mà chẳng sầu bi não nề Nay sinh từ giã thân kỳ Đưa linh một khúc mà về tây phương ”
Trang 21Hò đưa linh là một lối hò rất độc đáo thể hiện tầm cao sinh hoạt văn hóa dân gian ở Quảng Nam, chứa đựng linh hồn của cuộc sống cư dân ven biển Tính độc đáo ấy toát ra từ sự tinh tế trong vận dụng một loại hình sinh hoạt văn hóa có tính lễ hội vào trong đám tang
- Hát sắc bùa
Mỗi khi Tết đến, xuân về, cũng như nhiều địa phương khác, người xứ Quảng lại tưng bừng đón năm mới Bên cạnh việc sắm sửa bánh, trái, thịt họ lại háo hức tham gia nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, vui chơi truyền thống như đánh bài chòi, xem hát bội, hát sắc bùa… Thế nên, ở nhiều làng quê xứ Quảng, hình ảnh đội sắc bùa ngày Tết với khăn đóng áo dài, đem theo trống cơm, sinh tiền, phách tre, phía trước có một người xách chiếc lồng đèn bằng giấy, hình tam giác, thắp bằng dầu phụng, dưới có bốn tua đủ màu sắc, đi chúc Tết khắp làng trên xóm dưới trở
thành quen thuộc với người dân ở mảnh đất nổi tiếng “chưa mưa đã thấm” này
“Sắc bùa là sắc bùa âu, Mong cho năm mới ăn xôi với chè Sắc bùa là sắc bùa hòe, Mong cho năm mới ăn chè với xôi!”
Giải thích tên gọi “Sắc bùa”, nhạc sĩ Trần Hồng trong tác phẩm “Hát sắc
bùa”, đã lý giải “sắc” là lệnh của nhà vua ban ra, như ban phước cho quân thần,
“bùa” là lá bùa để trừ ma quỷ, chúc mừng năm mới an khang thịnh vượng, “Sắc bùa” nghĩa là một sắc lệnh ban ra bằng lá bùa viết, vẽ trên giấy nhằm trừ ma yểm
quỷ, độ trì, hộ mạng cho con cháu, cầu chúc cho gia đình luôn mạnh khỏe, thịnh vượng
Qua các tài liệu từ gia phả của các dòng họ có truyền thống lâu đời về loại hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian ở Quảng Nam, có thể khẳng định hát sắc bùa xứ Quảng có nguồn gốc từ Bắc Trung Bộ, cụ thể từ vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh
và Thừa Thiên Huế
Một gánh hát sắc bùa thường cha truyền con nối Hát sắc bùa gồm rất nhiều bài chúc phù hợp với mỗi gia đình, từ nghề biển, nghề mộc, nghề nuôi tằm dệt vải đến nghề rèn, thầy thuốc, nghề nông,… làm vừa lòng tất cả gia chủ Đội hát sắc bùa thường được gia chủ thưởng tiền, bánh trái, đầu heo để chúc mừng
Trang 22Quy trình hát sắc bùa thường gồm các bước Đến ngõ, Mở cửa, Mở ngõ, Chúc
tết, Chúc mừng gia chủ, Mừng tuổi ông bà, Trừ tà, Trấn bùa, Cầu an chủ nhà, Giã
từ và Đi ra Không gian hát sắc bùa đầy màu sắc và âm thanh Những câu hát sắc
bùa ngoài ý nghĩa trừ tà, chúc tụng còn có tính khuyên răn, giáo dục rất ngắn gọn,
Ngày nay, sau bao vật đổi sao dời, cũng như hát bài chòi, hát bội… hát sắc bùa
xứ Quảng cũng đứng trước nguy cơ mai một Tuy nhiên, ở một vài nơi như Duy Xuyên, Hội An sắc bùa vẫn còn là loại hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian hấp dẫn với cư dân địa phương Nhờ vậy, mỗi lần Tết đến, xuân về, các đội sắc bùa lại háo hức luyện tập Để rồi, trong ba ngày Tết Nguyên đán, khi màn đêm bắt đầu buông xuống, trên các ngả đường quê, người ta lại thấy đội sắc bùa trong trang phục khăn đóng, áo dài vỗ trống, nổi nhịp sinh tiền… Từ xa, không khí bỗng trở nên sôi nổi, rộn ràng khi đội sắc bùa cất cao giọng hát
- Múa Thiên Cẩu
Múa Thiên cẩu là thể loại múa lân đặc thù của nhân dân Hội An, xuất hiện lần đầu tiên vào dịp Tết Trung thu khoảng năm 1940 của thế kỷ trước Đội thiên cẩu lúc bấy giờ được một võ sư người Hoa (người làng Minh Hương, Hội An thường gọi là Thầy Xú) thành lập và trực tiếp dạy kỹ thuật múa và kỹ thuật đánh trống Lúc bấy giờ hình dáng con thiên cẩu còn thô sơ, lối múa còn dung dị (với các thao tác của thiên cẩu gồm có: Đi, chạy, nhảy, lạy Tổ, ngủ, ăn lá cây, ăn giải thưởng) nhưng các thế tấn, dáng đi, kiểu nhảy vững chãi của con thiên cẩu được chọn lựa, khai thác từ
võ cổ truyền, đưa vào lối múa đã làm cho nghệ thuật múa thiên cẩu Hội An rất mạnh mẽ, hấp dẫn
Trang 23Về tên gọi, Thiên Cẩu có nghĩa là chó nhà trời, nhưng cũng như nhiều hiện tượng văn hóa dân gian khác, con vật này được tô điểm thành linh vật mang tính huyền thoại với những đặc điểm khác thường về hình dáng: đầu có sừng cong về phía trán, mắt lồi, hai bên mép có mang, miệng há đầy vẻ đe dọa Mình Thiên Cẩu
là một dải vải màu đỏ hoặc vàng, 2 bên có tua kiểu vi rồng, đằng sau buộc một túm
lá cây làm đuôi Thần thái của Thiên Cẩu được tập trung ở phần đầu với các màu sắc tượng trung cho ngũ hành và cách tô điểm theo quy định riêng nhằm gắn cho con vật này những chức năng linh thiêng như trừ ma quỷ, xua đuổi tà khí, chữa bệnh, cầu phúc Mặt Thiên Cẩu chỉ có hàm trên đầy răng, hàm dưới là một miếng bìa gắn thêm vào để tạo râu, thoạt trông giống mặt các Kala của người Chăm
Múa Thiên Cẩu ở Hội An được thực hiện theo những bài bản riêng khác với lối múa lân hoặc sư tử mới được du nhập sau này Cách đánh trống, xập xỏa cũng như vậy Một bài múa Thiên Cẩu gồm nhiều động tác, nhiều màn gồm đi, đứng, nhảy, ngủ, thức giấc, đớp trẻ trừ phong, liếm cổng trừ tà, vái lạy cầu phúc, ăn lá cây, uống nước, ăn giải thưởng, đăng thiên phun lửa, tranh tài với Hồng Hà Nhi… Cùng múa với Thiên Cẩu có ông Địa, được hóa trang với vẻ mặt hớn hở, phổng phao, bụng to, tay cầm quạt, lưng dắt cờ lệnh
Qua một số tư liệu dân gian sưu tầm được ở địa phương về việc mong cho rằm Trung Thu có mưa, tục đua trẻ nhỏ vào miệng cho Thiên Cầu liếm để trẻ mau lớn, không bị ghẻ sài, tục nuốt và nhả ra quả cam để chủ nhà ăn cầu phúc cùng những nghi thức linh thiêng khác liên quan đến việc chế tạo, biểu diễn Thiên Cẩu có thể thấy rằng đây là loại múa dân gian có nguồn gốc lâu đời, liên quan đến ước mơ trăng tròn, ước mơ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu của cư dân nông nghiệp Không phải ngẫu nhiên mà múa Thiên Cẩu lại đi liền với tết Trung Thu, một thời điểm quan trọng trong lịch mùa vụ nông nghiệp, đặc biệt là mùa vụ nông nghiệp lúa nước Cũng không phải ngẫu nhiên mà cư dân địa phương gọi con vật múa đón Trung Thu là Thiên Cẩu – con vật có mặt trong huyền tích của nhiều nước phương Đông cũng như phương Tây liên quan đến nhật thực, nguyệt thực, đến hiện tượng nuốt và nhả ra mặt trăng mang ý nghĩa báo hiệu sự tốt đẹp của mùa màng, của cuộc sống con người
Do phát triển ở một địa phương có hoạt động buôn bán phát triển mạnh nên trước đây, ngoài ý nghĩa cầu trăng, cầu mùa, múa Thiên Cẩu còn gắn thêm một số
Trang 24nghi thức, ý nghĩa về cầu phúc, cầu tài lộc, trừ tà tống ôn, ngăn ngừa hỏa hoạn… Càng về sau màu sắc tín ngưỡng mờ dần, thay vào đó, tính thi thố biểu diễn, vui chơi hội hè ngày càng lấn át và trở thành chủ đạo, nhất là những năm gần đây
1.2.2 Các thể loại diễn xướng dân gian gắn với hoạt động vui chơi giải trí
Người dân Hội An thật thà, chất phát, mang đậm tính cách hòa nhã, thân thiện, cần cù, chịu khó của những người con xứ Quảng Mặc dù cuộc sống có nhiều đổi thay, luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề, thế nhưng họ vẫn luôn lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống Và sự xuất hiện, lưu truyền các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian mang tính chất vui chơi, giải trí đã giúp họ quên đi những phiền muộn, lo toan của cuộc sống thường nhật, cộng đồng gắn kết với nhau hơn Có thể kể đến một số loại hình nghệ thuật diễn xướng gắn với hoạt động vui chơi giải trí như bài chòi, biểu diễn du hồ, hát bội, hát hò khoan, đồng dao
- Nghệ thuật bài chòi
Quảng Nam vốn là đất nông thôn dân dã, dân gian, người dân đã tạo cho mình thú chơi riêng nhưng hết sức độc đáo mang phong vị làng quê, đậm chất văn hóa nông nghiệp – chơi bài chòi Thú chơi bài chòi tương tự như chơi tổ tôm điếm ở miền Bắc Bộ bài chòi còn gọi là bộ bài tới, thoạt đầu dùng để chơi với 6 người trong nhà rồi dần dần mới lan ra và chuyển sang lối chơi nơi công cộng, nơi đình làng, sân bãi
Ở các làng quê miền Trung nói chung và Quảng Nam nói riêng, trong dịp lễ hội, trò chơi dân gian thường có các trò bắt vịt, bắt chạch, đập trum, leo cây chuối hoặc các trò diễn như sắc bùa, súc sắc xúc xẻ nhưng hấp dẫn nhất vẫn là bài chòi Vào dịp hội hè, trong làng rộn ràng không khí vui tươi, người làng dựng chòi kê ván hoặc nếu không có chòi thì ngồi ghế để chơi Theo một số nhà nghiên cứu, nếu đúng thể thức thì chơi bài chòi người ta dựng 11 chiếc chòi cao từ 2 đến 3 thước, bên trái có 5 chòi và bên phải có 5 chòi, gọi là chòi con và một chòi ở chính giữa là chòi trung tâm hay còn gọi là chòi cái Thông thường, dân gian chơi bài chòi cốt để giải trí, để nghe anh hiệu gõ mõ, hô bài chòi diễn xướng mang đậm tính chất nghệ thuật dân gian Ở đây, âm nhạc là nhịp gõ, nhịp trống, kết hợp nhuần nhuyễn với lời
hô hát Lời hô mang nghĩa văn chương bình dân mộc mạc, hình mỗi con bài thì mang dáng vẻ họa tiết cách điệu theo phong cách dân gian
Trang 25Chơi bài chòi thực hiện theo mỗi chòi con (10 chòi) được phát 3 con bài, trên thân bài có tên con bài, tất cả là 30 con bài Ở chòi trung tâm có một ống tre lớn dùng để đựng bài cái Khi trống thúc liên hồi báo hiệu hội bài chòi bắt đầu, những người đánh bài chòi vào chòi con, tay cầm 3 con bài do họ tự chọn lựa ngẫu nhiên Anh hiệu (người hô) bước ra ống thẻ cái, xóc đi xóc lại rồi chậm rãi rút ra từng con bài Mỗi lần rút bài anh hiệu hô tên con bài Chòi nào có đúng quân bài đó thì người
chơi cầm mõ gõ lên 3 tiếng cắc- cắc- cắc hoặc xướng to lên “ăn rồi” thì anh hiệu sẽ
nói lính phụ việc đến trao cho 1 cây cờ đuôi nheo nhỏ Đến lúc chòi con nào ăn đủ
ba con (được ba cờ) thì hô “tới” và gõ một hồi mõ kéo dài, lúc này trống tum, trống
cán ở chòi trung tâm đánh vang lên Thông thường cuộc chơi từ tám đến mười hiệp
là hết một ván bài chòi, lưu lại một hiệp/ván cho ban tổ chức dùng để chi phí và sau
đó tiếp tục kẻ bước xuống người bước lên chòi chơi ván khác
Bộ bài tới thường được in bán ở các chợ làng miền quê vào dịp trước tết Bài được in bằng bản khắc gỗ trên giấy dó Giấy bản lá bài phủ qua một lớp điệp rồi được bồi thêm một lớp giấy cứng, mặt sau lá bài được sơn phết màu đỏ huyết dụ, màu xanh lá chuối hay xanh xám Xưa kia bộ bài tới kia được in tại làng Sình, còn
có tên chữ là làng Lại Ân (huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế) Về sau, do số lượng ít không đủ cung cấp nên một số nhà buôn Hào kiều thấy bán chạy và có lời nên họ làm số lượng nhiều (in mộc bản) ở vùng Thanh Hà – Gia Hội ( Huế ) và Hội
An (Quảng Nam) Bộ bài tới có thể có nguồn gốc manh nha từ vùng Thanh - Nghệ Tĩnh, về sau khi cư dân Việt mở cõi tiến về Nam, kết hợp với yếu tố văn hóa Chămpa bản địa để tạo nên sản phẩm trò chơi giải trí này Dần dần dân gian đặt thêm câu hô và chuyển sang lối chơi tập thể của cộng đồng làng xã
Tên con bài là những tên gọi nôm na, tinh nghịch, tiếng Nôm có, tiếng Hán có… Tên gọi đã mang tính hài hước còn về hình vẽ con bài thì ẩn dụ nhiều ý nghĩa Người ta chơi bài chòi không chỉ tìm thú vui giải trí trong 3 ngày Tết mà còn muốn
nghe đến “nghiền” lối hô bài chòi độc đáo, là phần cốt lõi, thu hút người chơi và
hấp dẫn nhất Anh hiệu hô bài chòi phải là người thuộc hết các bài hô truyền khẩu trong dân gian, cộng với tài ứng tác, đôi lúc để tăng thêm sinh động thì phải biết
“chế thêm” cho hay nhưng phải đúng bài, đúng bản, cốt nội dung lời hô lúc nào
cũng đầy bất ngời, hợp với mạch cộng cảm của cuộc chơi Từ chỗ lẽ ra chỉ hô tên con bài, anh hiệu biến cách, phá thể bằng hô một hay nhiều câu lục bát ứng tác có
Trang 26mang tên con bài và để gây sự chú ý cho người chơi bao giờ cũng mở đầu bằng câu
dao “Quờ mà quớ quơ quớ quơ” và kết thúc là câu “Quơ là…” (tên con bài) mang
âm tiết đầy chất giọng Quảng
Lời hô hát bài chòi truyền khẩu trong dân gian từ đời này qua đời khác nó phản ánh tư duy thẩm mỹ bình dân của cư dân nông nghiệp Sau này, cũng chính từ dân gian đúc kết lại để ra đời các làn điệu dân ca Nam Trung Bộ như: xuân nữ, xàng
xê, cổ bản, hò Quảng… Cộng với ảnh hưởng của lối hát, lối nói tuồng mà hình thành bộ môn nghệ thuật sân khấu Kịch hát bài chòi rất độc đáo Đây chính là nét
đặc sắc nhất, là “phần hồn” trong tổng thể giá trị văn hóa phi vật thể ở đất Quảng
mà người dân quê đi đâu bao giờ cũng không quên được
- Biểu diễn du hồ
Biểu diễn du hồ là một trong những hoạt động văn hóa độc đáo của cộng đồng người Hoa, người Minh Hương ở Hội An trong nhiều trăm năm trước Trên thực tế biểu diễn du hồ đã phục vụ tích cực cho những hoạt động lễ hội của người Hoa như các đám rước cộ, rước kiệu, nghinh thỉnh, các đám du hành chúc phúc trong các dịp
lễ lớn như Quốc khánh, tết Nguyên đán, Nguyên tiêu, Trung thu…, tạo thêm không khí vui tươi, khí thế trong các dịp lễ hội
Theo nhiều vị cao niên, hoạt động biểu diễn du hồ có nguồn gốc xuất phát từ hoạt động du hồ bát bửu của người Triều Châu (Trung Quốc) Sau khi sang Hội An sinh sống, người Triều Châu không chỉ chú trọng thương nghiệp mà họ còn phát huy những nét văn hóa truyền thống, trong đó có du hồ Thực tế, hoạt động này đã phục vụ rất tích cực, làm tăng vẻ sôi động, khí thế cho các đám rước; lễ hội truyền thống… Trước đây người Hoa tại Hội An, mà cụ thể là Trung Hoa hội quán, có sự phân công cho các bang chịu trách nhiệm từng phần trong các đám rước lớn, trong các ngày đại lễ… Thông thường thì bang Phước Kiến chịu trách nhiệm phần kiệu, bang Quảng Đông lo múa Thiên Cẩu, bang Hải Nam múa chút chít còn bang Triều Châu thì phụ trách du hồ
Về nguồn gốc du hồ có người còn cho rằng, đây là một hoạt động xuất phát từ
việc biểu diễn, tuần du trên sông nước nên mới có tên như vậy Họ cho rằng “du”
có nghĩa là bơi, lội; “hồ” có nghĩa là hội nước, hai chữ du hồ có nghĩa là hoạt động
biểu diễn trên sông nước Nhưng theo thực tế thì hai từ này không có nghĩa như
Trang 27vậy, vài âm du hồ không phải đọc theo âm Hán Việt mà đọc theo tiếng Quảng Đông (Trung Quốc)
Về tổ chức: Hoạt động du hồ thường được bang Triều Châu, Minh Hương tụy tiên đường phụ trách tổ chức Vì vậy, Ban trị sự của các tổ chức này cử người phụ trách, quản lý và lo nhân sự cử đội để đảm bảo mọi mặt khi đội du hồ biểu diễn Riêng ở xã Minh Hương thường cử lý trưởng, hương kiểm phụ trách tổ chức Mỗi đội du hồ thường có khoảng từ 18 đến 22 người tham gia biểu diễn (không kể những người phụ trách và dự bị để thay đổi)
Về nhạc khí: để đội du hồ có thể biểu diễn được thì phải có các loại nhạc khí như sau: 1 trống lớn, 1 hoặc 2 phèng (chiêng, bu lu), 4 xập xỏa, 6 – 20 phèng la và các nhạc cụ của đội cổ nhạc như trống cơm, kèn, đàn cò, đàn nhị, sáo trúc, sênh tiền…
Về y phục: theo các nhân chứng từng tham gia đội du hồ cho biết đội du hồ của người Triều Châu có khi mặc đồ kiểu Tàu, thắt lưng bằng vải đỏ, đi giày vải; cũng có khi mặc áo may ô trắng, quần đen, thắt lưng bằng đai vải đỏ, choàng vai cũng màu đỏ Đội du hồ của người Minh Hương thì mặc đồng phục áo trắng, quần trắng, đội mũ tắng viền vàng hoặc xanh, thắt lưng đỏ, đi giày trắng, chân quấn xà cạp Các nhân chứng còn thông tin thêm những người tham gia vào đội du hồ của người Minh Hương thường là những người học võ, thợ may được làng vận động vào tham gia… Kinh phí của đội làng hạn hẹp nên việc mua sắm rất hạn chế, thậm chí áo quần trang phục cũng chỉ tạm bợ, quấn thêm xà cạp, thắt đai cho thêm màu sắc mà thôi
Hình thức biểu diễn: Thông thường dẫn đầu đội du hồ là long bãi dạng lồng
đèn, trên đề tên của đội du hồ như: “Đội du hồ Triều Châu”, “Đội du hồ Minh
Hương” Sau long bãi là đội du hồ xếp thành hai hàng dọc theo thứ tự: xập xỏa –
phèng la chiêng (bu lu, phèng) – đội cổ nhạc, còn trống thì đi giữa đội hình Nếu trong đám có rước kiệu thần và có thêm các hoạt động khác tham gia thì đội hình lại
bố trí như sau: Long bãi – kiệu thần – kèn – xập xỏa – phèng la – chiêng – đội cổ nhạc – đội thiên cẩu, trống vẫn đi trên đường, đội du hồ vừa đi vừa tấu nhạc hòa
âm, đôi khi những người chơi xập xỏa lại tung xập xỏa lên không, sau đó vừa tiếp xập xỏa vừa chập mạnh lại tạo thành âm thanh rất là ấn tượng Trong quá trình biểu
Trang 28diễn, trống luôn luôn đi giữa đội hình để điều khiển toàn bộ hoạt động của đội du
hồ Nếu đội du hồ biểu diễn vào ban đêm thì có thêm đội cầm đuốc soi đường Đôi khi đoàn du hồ không biểu diễn ngoài đường phố mà biểu diễn tại chỗ, tại các di tích tín ngưỡng để phục vụ lễ cúng hay hòa âm chúc mừng các nhân vật quan trọng đến thăm Trong trường hợp này, các thành viên của đoàn chủ yếu hòa âm tại chổ không biểu diễn tung hứng phèng la, trống vẫn giữ vai trò chủ đạo
Du hồ là một hoạt động văn hóa khá quan trọng không những đối với cộng đồng người Hoa, Minh Hương mà là một bộ phận của văn hóa Hội An Trước đây, hoạt động này đã góp phần tích cực trong các dịp lễ hội như tết Nguyên đán, Nguyên tiêu, khánh chúc… vì vậy, hiện nay cần thiết phải khôi phục lại hoạt động vốn có này, vừa nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc vừa khai thác để phục vụ phát triển du lịch nâng cao đời sống cho nhân dân địa phương
- Hát bội
Nếu các tỉnh miền Bắc tự hào có hát chèo, hát quan họ, miền Nam có cải lương, Hồ Quảng, kinh đô Phú Xuân có ca Huế, thì Quảng Nam tự hào có hát bội
“Hát bội” hay “hát bộ” nhiều người vẫn chưa thống nhất cách gọi và có
nhiều cách giải thích khác nhau Nhưng đa số cho là “hát bội”
Theo từ điển “Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị” của Huỳnh Tịnh Của giải thích:
“bội” là “hơn” là “bằng hai”, và hát bội là “con hát, kẻ làm nghề ca hát”
Hát bội do chữ “bội” mà ra Bởi lẽ xem hát bội ai cũng thấy rằng từ cách vẽ
mặt, điệu bộ, lời nói cái gì cũng làm gia bội thêm, cường điệu thêm rất nhiều Hát bội ở Quảng Nam có một huyền thoại như sau:
Làng Mỹ Lưu ở đầu nguồn sông Thu Bồn có một gánh hát nổi tiếng Mùa đông nọ có cơn lụt lớn tràn qua làng này và cuốn trôi cái trống nhạc của gánh hát
ấy Cái trống trôi dạt vào làng này rồi lại trôi dạt vào làng khác, cuối cùng dạt vào phố Hội An rồi ra biển Từ đó gánh hát ở Mỹ Lưu không tồn tại nữa và những nơi
mà chiếc trống ấy dạt vào chốc lát lại dần dần hình thành và phát triển phong trào biểu diễn nghệ thuật tuồng
Bóc cái vỏ huyền thoại đi, ta có thể nhận thức rằng nội dung câu chuyện đó phản ánh tình hình Hát Bội ở Quảng Nam xuất phát ở miền Trung Du, bán sơn địa rồi lan dần ra các huyện đồng bằng, trước hết là các vùng có thuận lợi về giao thông đường bộ
Trang 29Hát bội có thờ một ông tổ hát bội, đặt trên một trang thờ, luôn luôn có hoa quả, hương đèn, mà mỗi diễn viên đến cúi lạy trước khi bước ra sân khấu Nhưng diễn viên đóng vai các vị linh thiêng như Quan Công hay Phật Tổ, Quan Âm, đều
ăn chay, nằm đất, và tịnh khẩu trước khi ra diễn xuất trên sân khấu
Đặc điểm hát bội là khi hát có đánh chầu Trống chầu là một loại trống lớn, dùng trong các lễ hội, các đình chùa, đám rước, phát ra âm thanh ầm ĩ, lấn át cả tiếng các nhạc cụ khác Trong trường hát, trống chầu được đặt trên một giá gỗ ba chân Đặt phía trước sát sân khấu, và trên một chân, có treo một ống tre đựng các thẻ dùng để thưởng con hát Trống chầu là nhịp cầu thông cảm giữa nghệ sĩ và khán giả Trong những buổi trình diễn văn nghệ ngày nay, nếu nghệ sĩ diễn xuất hay thì khán giả vỗ tay, hoặc hát dở thì bị la ó, huýt sáo nhưng trong trình diễn hát bội,
người cầm chầu với “roi chầu” trong tay, đóng vai trò đại diện cho toàn thể khán
giả trong hội trường để thưởng hay phạt các nghệ sĩ trình diễn qua từng câu hát từng
bộ tịch hay cử chỉ và đi vào cả từng chi tiết khác của buổi diễn xuất Sự thẩm định này là một hình thức rất dân chủ, dân chủ hai chiều, chỉ có trong nghệ thuật hát bội
Về điệu bộ ca diễn Hát bội cái gì cũng được gia bội thêm trong đó có điệu bộ Tuy nhiên mọi động tác gia bội đều phải tuân thủ theo một quy tắc nhất định mà người nghệ sĩ phải biết Tất cả động tác của nghệ sĩ trên sân khấu đều mang ý nghĩa tượng trưng sao cho người coi hát tưởng tượng ra hay hình dung ra nhân vật, ra tình huống thật của câu chuyện Cho nên nói hát bội là một loại hình sân khấu mang tính
“nghệ thuật tượng trưng” là vậy
Về vẽ mặt, y trang Hát bội có lối “vẽ mặt” đặc thù xuất phát từ lịch sử lâu
đời Tương truyền rằng ngày xưa bên Tàu, các tướng ra trận thường đeo mặt nạ để tăng thêm vẻ oai nghi, làm cho đối phương sợ Chuyện kể rằng có tướng tên là Lan Lăng Vương thời Bắc Tề (479-501) đánh giặc giỏi nhưng nét mặt không oai, mỗi khi ra trận đều đeo mặt nạ nên trăm trận trăm thắng
Hát bội lúc đầu cũng đeo mặt nạ, sau thay vào bằng cách vẽ mặt cho tiện, và truyền mãi tới nay
- Hò khoan
Hò khoan là hình thức hát giao duyên trữ tình, nó đã hình thành và ăn sâu trong đời sống của người dân lao động trên vùng đất xứ Quảng từ bao đời
Trang 30Ở Quảng Nam, gọi là hò khoan vì đây là một dạng hò "lơi" Các nghệ nhân lợi
dụng câu hố (À ơ ơ ớ Khoan ơ hố hợi là hò khoan ) như một tiểu xảo, kéo dài ra để có thời gian mà tìm ý, lời đối đáp Hố thường đồng xướng tập thể, hoặc một người xướng, tập thể hò xô theo để tạo thêm khí thế, cho nên người xưa có câu
khoan xứ Quảng được vận dụng vào công tác binh địch vận và còn có tên là “hò
địch vận” Hát hò khoan thể hiện sâu sắc tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất
của bộ đội và nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà
Hò khoan xứ Quảng gồm có hò trên sông nước và hò trên cạn Hò trên sông nước có hò chèo thuyền, hò đua thuyền Hò trên cạn có hò giã gạo, hò đi cấy, hò xay lúa Một cuộc hát hò khoan thường có hai bên nam, nữ và trải qua 3 chặng: hát chào, hát vào cuộc và hát nhân ngãi
Hát chào là chặng mở đầu, nhạc điệu tưng bừng, nhộn nhịp và chứa chan bao tình cảm gọi mời Câu hát chào trong hò khoan xứ Quảng thường tự nhiên, vồn vã, chân thành Sau khi đã chào thì được bạn hát mời vào cuộc hát
Cuộc hát bước sang chặng thứ hai: hát vào cuộc Đây là chặng quan trọng nhất
và có nhiều bước như hát đố, hát đối Trong cuộc hát thường bên nam xướng trước, bên nữ họa lại sau, nhưng cũng có khi bên nam nhường cho bên nữ xướng trước
Họ hát đố về những kiến thức phổ thông hoặc những tên đất, tên làng, tên công cụ sản xuất, sản phẩm nông nghiệp hoặc tên công trình xây dựng trên quê hương Khi
đã qua thử thách và hiểu được lòng nhau thì tình cảm đôi bên bắt đầu nảy nở Lời hát trở nên đằm thắm, mặn nồng và cuộc hát hò khoan chuyển sang chặng hát nhân ngãi
Tiến trình một cuộc hát hò khoan xứ Quảng cũng diễn ra như một cuộc tình đôi lứa, tức là có đủ các cung bậc tình cảm từ ướm hỏi đến trao gởi yêu thương và thề non hẹn biển Cho tới khi đêm đã dần tàn, hai bên cùng chuyển sang hát tiễn với biết bao bùi ngùi, lưu luyến:
Trang 31Nữ: Bạn ra về, lòng ta khô héo
Bạn ra về, không lẽ ta réo ta kêu Nghiêng tai giữa gió ta bảo nhỏ một điều
Ai xa mặc họ, hai đứa mình nghèo đừng xa
Nam: Hai đứa mình nghĩa nặng tình thâm
Nắng buồn lá liễu, mưa dầm đọt lê
Thôi thôi đó ở đây về Đừng rưng rưng lệ ngọc, anh ủ ê gan vàng
Họ bịn rịn chia tay, nôn nao cho công việc đồng áng của một ngày mới và quyến luyến tiễn nhau trong ngổn ngang niềm thương nỗi nhớ
Ngày xưa, những làn điệu hò khoan xứ Quảng đã làm cho bao lứa đôi nên vợ nên chồng và có một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân sở tại Tiếc rằng, trong nhịp sống hiện đại hôm nay, hò khoan xứ Quảng không còn thịnh hành như xưa Lớp trẻ bây giờ không còn nặng lòng với các làn điệu hò khoan Những cuộc hát hò khoan ngày càng vắng dần, vắng dần trong thực
tế và có nguy cơ bị mờ nhạt Thiết nghĩ, ngành chức năng cần có những công trình nghiên cứu, bảo tồn và phát huy tác dụng của thể loại nghệ thuật diễn xướng đặc biệt này
- Đồng dao
Đồng dao là thể loại ca hát hồn nhiên, bình dị, mà em bé nào cũng biết và yêu thích Con nít yêu đồng dao như yêu cảnh thiên nhiên của đồng quê, yêu ánh nắng chan hoà làm rực rỡ thêm cảnh sắc thiên nhiên Đồng dao làm cho tâm hồn các em thêm đẹp, thêm tươi
Mỗi người chúng ta khi nhớ lại tuổi thơ của mình với bao kỷ niệm êm đẹp, chắc hẳn không ai quên được kỷ niệm về những câu hát ấy Ngày ấy, ta thường mượn câu hát, câu vè để diễn đạt suy nghĩ của mình Tại sao lại như vậy nhỉ? Có lẽ
vì những câu hát ấy thật dễ hiểu, thật ngộ nghĩnh đối với tuổi thơ
Có hai cô bé rủ nhau đi học cùng đường, ai cũng muốn cho là đi đường mình thì thích hơn Thế là có câu hát để doạ nhau:
Tau đi ngõ ni có hương có hoa
Mi đi ngõ nớ có ma đón đường !
Trang 32Cô bạn kia chẳng chịu thua kém, khi trả lời lại:
Tau đi ngõ ni có bụi tùm hum
Mi đi ngõ nớ có hùm chụp mi !
Hai đứa đi hai ngả Chẳng đứa nào gặp ma, gặp hùm Nhưng, nếu lần sau có diễn lại cảnh này, thì những câu hát trên vẫn được lặp lại một cách hào hứng như chưa từng hát bao giờ Có lẽ đây cũng chính là một đặc điểm của thể loại đồng dao Các em có thể hát đi hát lại hàng trăm lần chỉ một câu đó mà không thấy nhàm chán Cách ví von, lối nói có vần điệu đã gây được hứng thú khi các em hát những câu ấy
Điểm nổi bật của đồng dao là tính diễn xướng, cộng đồng rất cao, vừa hát vừa
vỗ tay theo nhịp Để phù hợp với tâm lý, tâm hồn của trẻ thơ, lời ca đồng dao thường ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thuộc Đồng dao thường gắn liền với những trò chơi dân gian như kéo cưa lừa xẻ, rồng rắn lên mây Nội dung của lời đồng dao khá đa dạng nhưng đơn giản, cung cấp những tri thức, thế giớ quan tự nhiên như cây cỏ, sông ngòi, vạn vật, phê phán thói hư tật xấu trong làng trong xóm, ca ngợi việc làm tốt đẹp
1.3 Việc khai thác nghệ thuật diễn xướng dân gian vào phục vụ du lịch trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Một số nước trên thế giới
Trên thực tế, nhu cầu hiện nay của hầu hết khách du lịch quốc tế chính là việc được tận hưởng các tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo mà chỉ có đi du lịch đến một quốc gia khác biệt về văn hóa mới có thể cảm nhận được Chính vì vậy, những loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc luôn nhận được sự quan tâm rất lớn của khách du lịch quốc tế Việc khai thác các loại hình nghệ thuật truyền thống vào phát triển du lịch không phải là việc làm mới mẻ mà đã được áp dụng từ nhiều thập niên trước ở một số quốc gia Việc làm đó, không chỉ góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mà còn có ý nghĩa lớn trong việc quảng bá, giới thiệu những nét đặc trưng trong văn hóa của đất nước mình đến bè bạn năm châu
Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,… là những quốc gia sớm ý thức được tầm quan trọng của các loại hình nghệ thuật truyền thống trong phát triển du lịch, hầu
hết các tour du lịch văn hóa đến các quốc gia này đều không thể thiếu đi “hương vị”
của các loại hình âm nhạc truyền thống Người ta vẫn nói ví von rằng, đến Bắc Kinh
Trang 33mà chưa nghe Kinh kịch thì chưa phải là đến Bắc Kinh Đến Nhật Bản mà chưa xem kịch Nô thì cũng chưa phải là đã đến Nhật Bản
Kinh kịch Trung Quốc được gọi là “Ca kịch phương Đông”, là quốc túy thuần
túy Trung Quốc, gọi là Kinh kịch bởi được hình thành tại Bắc Kinh Kinh kịch đã
có lịch sử hơn 200 năm
Kinh kịch cắm rễ sâu trong lớp đất màu mỡ của nền văn hóa phương Đông, hoàn toàn khác biệt với hí kịch của phương Tây Người nước ngoài lần đầu tiên xem Kinh kịch sẽ không khỏi ngạc nhiên: vì sao có một số diễn viên vẽ các hình mặt nạ màu đỏ, trắng, đen, vàng, xanh lá cây, xanh dương lên mặt? Chẳng lẽ đó là
mặt nạ? Nhưng “mặt nạ” thường được đeo trên mặt, và khi bỏ mặt nạ ra thì sẽ là
khuôn mặt của chính mình; nhưng kiểm phổ Kinh kịch lại không phải như vậy, kiểm phổ được vẽ thẳng lên mặt Rất nhiều du khách nước ngoài không những cảm thấy ngạc nhiên, mà còn đi ra tận hậu đài xem diễn viên tẩy trang bằng cách nào; sau khi xem qua diễn viên tẩy trang, lần sau trước khi xem Kinh kịch lại muốn ra hậu đài xem diễn viên hóa trang Pavarotti, ca sĩ giọng nam cao nổi tiếng thế giới quá cố đã từng nhờ các diễn viên Kinh kịch Trung Quốc vẽ kiểm phổ của nhân vật
Bá Vương Tây Sở kiêu hùng Hạng Vũ
Những năm gần đây Kinh kịch bắt đầu được đầu tư và cho ra đời hai bộ kinh
kịch gây tiếng vang lớn Một là “Bá Vương Biệt Cơ”, hai là “Forever Enthralled”
(Đời nô bộc) cùng của đạo diễn Trần Khải Ca và do Chương Tử Di đóng vai chính Các đạo diễn đã cải biên tác phẩm văn học sang kịch bản Kinh kịch Chính điều này tạo nên sự mới mẻ và thu hút cho loại hình nghệ thuật truyền thống này
Là tinh hoa nghệ thuật truyền thống dân tộc, Kinh kịch đã được chính phủ Trung Quốc ra sức nâng đỡ Ngày nay, Nhà hát lớn Trường An quanh năm đều diễn nhiều vở Kinh kịch, các cuộc thi biểu diễn Kinh kịch Quốc tế đã thu hút nhiều người hâm mộ Kinh kịch trên thế giới tham gia, Kinh kịch là chương trình bảo lưu trong giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với nước ngoài Bên cạnh Kinh kịch, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống khác cũng là nguồn tài nguyên vô giá đối với nền
du lịch Trung Quốc Đó là các loại hình nghệ thuật như: múa dân gian truyền thống,
âm nhạc dân gian với nhiều loại nhạc cụ dân tộc (đàn tam thập lục, sáo, nhị, đàn tì
bà, đàn nguyệt, trống )
Trang 34Đã từ lâu, âm nhạc đã trở thành một công cụ để lưu truyền và bảo tồn những nét văn hóa truyền thống của Hàn Quốc Nó kết tinh triết lý, văn hóa và đời sống qua một thời kỳ lịch sử hơn 5 ngàn năm Với ý nghĩa đó, âm nhạc đã thật sự trở thành một chiếc cửa sổ qua đó mọi người có thể hiểu được nền văn hóa và lịch sử lâu đời của đất nước này
Đất nước Hàn Quốc có nền âm nhạc truyền thống phát triển với nhiều làn điệu dân ca, nhiều thể loại âm nhạc dân tộc và trong đó phải kể đến nghệ thuật Pansori Thể loại âm nhạc này là một loại hình kể chuyện theo nhạc với sự tham gia của một nghệ sĩ hát kết hợp diễn xuất bằng những điệu bộ, cử chỉ và sự tham gia của một nghệ sĩ đánh trống Nghệ thuật Pansori độc đáo này đã được chính phủ Hàn Quốc công nhận là Tài sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia
Với lợi thế về lịch sử lâu đời và có nền âm nhạc truyền thống đặc sắc, chính quyền Hàn Quốc đang ngày càng thể hiện rõ quyết tâm đưa các loại hình nghệ thuật truyền thống vào phát triển du lịch, thể hiện rõ nét nhất qua việc xây dựng các trung tâm nghệ thuật, trung tâm biểu diễn quy mô lớn tại các thành phố Trong đó, trung tâm Gugak quốc gia là thiết chế hàng đầu trong hoạt động giới thiệu và quảng bá
âm nhạc truyền thống của Hàn Quốc có lịch sử hàng ngàn năm Xuất phát từ Nhạc viện Hoàng gia dưới triều đại Silla từ những năm đầu Công nguyên, Trung tâm Gugak Quốc gia ngày nay tiếp tục kế thừa và phát huy một cách sáng tạo các loại hình nghệ thuật truyền thống chất chứa triết lý dân tộc
Mới đây nhất, Chính quyền thành phố Seoul, Hàn Quốc đã thông báo kế hoạch
mở một khu vực đặc biệt ở trung tâm thành phố trong năm 2016 dành riêng cho hoạt động tôn vinh nhạc truyền thống Hàn Quốc Đây là một phần trong nỗ lực bảo tồn âm nhạc truyền thống và biến nơi này thành một điểm du lịch giá trị Ngoài tôn vinh âm nhạc truyền thống, khu vực trên còn có các cửa hàng và quần thể văn hóa khác liên quan đến âm nhạc truyền thống Hàn Quốc Thành phố Seoul cũng sẽ tổ chức nhiều tour du lịch đa dạng, các màn trình diễn, triển lãm ở khu vực này để người Hàn Quốc và khách nước ngoài có thể đắm mình trong không gian đậm truyền thống Hàn Quốc
Trong các bộ môn nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Nhật Bản, kịch Nô được đánh giá là nghệ thuật biểu diễn mang đậm bản sắc dân tộc và kịch nghệ Nhật Bản nhất Theo người Nhật, Nô hay còn gọi là Nogaku, là hình thái sân khấu truyền
Trang 35thống kinh điển nhất và thực chất, cũng phát triển toàn diện nhất của Nhật Bản Kịch Nô xuất hiện vào đầu thế kỉ XV và gắn chặt với tên tuổi của Zeami Motokiyo (1363-1433) Nhưng tới thế kỷ XVII, sau ngày Shogun Tokugawa lên trị vì, hình thái kịch nghệ này mới thực sự hưng thịnh
Do tính ước lệ cao của kịch nghệ, để khán giả không bị phân tâm, người diễn viên thường đeo những chiếc mặt nạ Nô phù hợp với từng vai diễn của mình nhằm che dấu những cảm xúc của bản thân Có hơn 250 loại mặt nạ nhưng có thể chia thành 5 loại mặt nạ chính là Thần, Nam, Nữ, Cuồng (kỳ lạ) và Quỷ Mặt nạ Nô phần lớn được chạm khắc từ loại gỗ Hinoki
Trong thời hiện đại ngày nay, việc lưu giữ và truyền bá những loại hình nghệ thuật truyền thống trở thành một vấn đề nan giải Năm 1974, Nhật Bản thông qua Luật chấn hưng các ngành nghề truyền thống nhằm bảo tồn các tài sản truyền thống hữu hình và vô hình Những sản phẩm như mặt nạ, nhạc cụ, trang phục đạt yêu cầu đều được cấp giấy chứng nhận và được hỗ trợ tích cực Các nghệ nhân kịch Nô cũng được công nhận là nghệ nhân quốc bảo Họ có trách nhiệm đào tạo thế hệ kế cận vì quá trình luyện tập của diễn viên rất khổ công bắt đầu từ khi còn nhỏ Những
em nhỏ 4, 5 tuổi cũng được chỉ bảo để hiểu biết và yêu thích các môn nghệ thuật truyền thống Đó cũng là những bộ môn bắt buộc trong các trường học, và học sinh
bị cuốn hút thực sự bởi mỗi thầy cô giáo đều am hiểu và say mê…
Bên cạnh đó, với thế giới có nhiều loại hình nghệ thuật, giải trí đa dạng như hiện nay, công tác quảng bá tuyên truyền để thu hút khán giả là vấn đề hết sức quan
trọng Ngành du lịch Nhật Bản quan niệm rằng “tâm lý của du khách bao giờ đến
một xứ sở xa lạ cũng đều có nhu cầu thưởng thức các loại hình nghệ thuật của địa phương, thành phố mà mình tới thăm và khám phá các vẻ đẹp của nó” Do đó, bạn
có thể bắt gặp hình ảnh về chương trình biểu diễn kịch Nô tại hầu hết các địa điểm công cộng như khu trung tâm, nhà ga, bến xe… Bản thân giới kịch Nô cũng cố gắng
để tìm cách thu hút khán giả trẻ nhiều hơn Một trong những cố gắng này là những
vở kịch lấy đề tài là những chuyện dễ gần đối với giới trẻ, áp dụng cách diễn xuất của kịch hiện đại Vì thế, sân khấu kịch Nô bao giờ cũng tồn tại hai dạng Một là được cải biên để phục vụ thanh niên Nhật, hai là kịch Nô truyền thống để phục vụ các nhà nghiên cứu và du khách quốc tế
Trang 36Các nhà hát của Nhật Bản được đầu tư theo hướng khai thác hoạt động đa năng, có thể phục vụ cho các loại hình nghệ thuật, từ nghệ thuật truyền thống như kịch Nô, kịch Kabuki, nhưng mặt khác lại cũng có thể phục vụ cho những loại hình nghệ thuật đương đại như hòa nhạc, Ballet, vì vậy đều đạt công suất sử dụng rạp
“đỏ đèn” tới 80%/năm, cá biệt có trung tâm là 90% Đa năng là thế, nhưng tính chất
bảo tồn sân khấu truyền thống cũng được thể hiện rất rõ ở các trung tâm nghệ thuật hiện đại cho sân khấu kịch, opera, ballet… vẫn song song có một không gian sân khấu riêng biệt, dành cho những đoàn nghệ thuật cổ truyền của Nhật Bản như kịch
Nô, kịch Kabui, rối bóng… với cấu trúc sân khấu hoàn toàn mang màu sắc dân tộc
Đó là một điều rất đặc biệt và ý nghĩa
Với những thành quả đạt được, các quốc gia trên ngày càng đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các loại hình âm nhạc truyền thống phục hồi và phát triển gắn với du lịch Đây chính là cơ sở, nền tảng cho Việt Nam nói chung và Hội An nói riêng trong việc khai thác các loại hình âm nhạc truyền thống vào phát triển du lịch
1.3.2 Một số địa phương trong nước
Ngày nay khi du lịch phát triển, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của người đi
du lịch ngày một cao thì âm nhạc truyền thống – cái tạo nên bản sắc văn hóa Việt đang góp phần quan trọng vào việc thu hút du khách Mỗi địa phương, vùng miền đều có những sản phẩm âm nhạc truyền thống đặc trưng mang sắc thái văn hóa của chính địa phương, vùng miền đó mà không lẫn lộn với bất cứ nơi nào khác, tạo sức hấp dẫn lớn đối với du khách, đặc biệt là khách quốc tế Có thể kể đến một số loại hình âm nhạc truyền thống đã và đang trở thành nguồn tài nguyên vô giá cho du lịch như dân ca quan họ Bắc Ninh – Bắc Giang, ca Huế, hát xoan ở Phú Thọ, bài chòi ở Hội An hay đờn ca tài tử Nam Bộ Trong các địa phương đó, có thể nói, Bắc Ninh, Huế và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là những điển hình trong việc khai thác
âm nhạc truyền thống vào du lịch ở nước ta
Bắc Ninh - một tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Với lợi thế là tỉnh nổi tiếng với dân ca quan họ và là trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, các cấp chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã và đang có những chiến lược hợp lý khai thác tối đa lợi thế của mình có
Trang 37được phục vụ phát triển du lịch, trong đó, dân ca quan họ luôn được chú trọng hàng đầu
Trong Năm du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng 2013 và định hướng phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Bắc Ninh chú trọng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù là du lịch gắn với văn hóa Quan họ - di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Theo thống kê của ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh 80% khách du lịch đến với Bắc Ninh để thưởng thức Quan họ Đây là cơ sở để Bắc Ninh xây dựng chiến lược phát triển du lịch và nhằm thực hiện cam kết với UNESCO về bảo tồn và lan tỏa văn hóa Quan họ Qua đó, tỉnh Bắc Ninh vừa có thể khai thác tốt thế mạnh của vùng vừa bảo tồn văn hóa truyền thống vốn có
Văn hóa Quan họ không chỉ đơn thuần là hát Quan họ mà là tổng hòa của nhiều yếu tố như hát Quan họ, trang phục, ẩm thực, các phong tục tập quán, không gian văn hóa Quan họ… Đến với Bắc Ninh du khách sẽ được đắm mình vào không gian văn hóa những làn điệu Quan họ mượt mà, đằm thắm, liền anh áo the khăn xếp, liền chị áo mớ ba mớ bẩy, nón thúng quai thao, tạo nên nét độc đáo mà không một nơi nào có
Theo ông Nguyễn Xuân Côn, để phát triển du lịch gắn với văn hóa Quan họ, tỉnh Bắc Ninh sẽ tập trung ưu tiên phát triển các điểm du lịch gắn với trải nghiệm khám phá các giá trị văn hóa, lịch sử làng quê miền Quan họ tại xã Hòa Long (thành phố Bắc Ninh), du lịch các làng Quan họ cổ gắn với du ngoạn sông Cầu, trảy hội Lim (Tiên Du)
Ngoài ra, ngành văn hóa tỉnh Bắc Ninh còn quy hoạch các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh hầu hết đều có hát Quan họ; khuyến khích các nghệ nhân hát Quan họ trong các lễ hội; phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù dựa trên hoạt động giới thiệu, quảng bá, phát huy giá trị của dân ca Quan họ Bắc Ninh - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; có chính sách đãi ngộ đối với các nghệ nhân Quan họ…
Bên cạnh đó, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và khuyến khích người dân gìn giữ các làn điệu dân ca, dân vũ và biểu diễn nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là hát Quan họ
Trang 38Đặc biệt, trong Năm du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng 2013, ngành Văn hóa tỉnh Bắc Ninh chủ yếu giới thiệu Quan họ đến với đông đảo du khách trong và ngoài nước với 18 hoạt động, bao gồm Hội chợ Thương mại - Du lịch Bắc Ninh
2013, chương trình nghệ thuật Về miền Quan họ; triển lãm ảnh nghệ thuật toàn
quốc và tham gia cuộc thi nhiếp ảnh toàn quốc chủ đề “Khám phá văn minh sông
Hồng” biểu diễn và quảng bá dân ca Quan họ Bắc Ninh, hội chợ du lịch Đồng bằng
sông Hồng; tham dự liên hoan nghệ thuật quần chúng đồng bằng sông Hồng; tham
gia hội thảo “Liên kết phát triển vùng du lịch đồng bằng sông Hồng”
Đến với Huế, chắc chắn du khách không thể cưỡng lại nổi sức hấp dẫn của
loại hình âm nhạc đặc sắc “ca Huế”, để rồi không thể không ghé lại bến thuyền nào
đó lắng nghe những giai điệu du dương, trầm bổng của ca Huế Có người nói rằng nếu chưa nghe ca Huế trên sông Hương thì xem như chưa một lần đến Huế Còn gì thú vị bằng buông thuyền trên dòng sông Hương thơ mộng để thả hồn vào những điệu hò mênh mông, những câu hát Nam Ai, Nam Bình sâu lắng đất Cố đô…
Khi thành phố bắt đầu lên đèn, cầu Trường Tiền lấp lánh trong đêm với đủ các màu sắc thì những chiếc thuyền rồng lần lượt rời bến, chầm chậm ngược dòng sông Hương, đêm ca Huế bắt đầu Thuyền rồng hững hờ trôi trong màn mưa, khán giả trên thuyền, kẻ háo hức ngắm thành phố Huế thơ mộng từ sông Hương, người thì chăm chú xem các đờn ca chuẩn bị biểu diễn Trong những bộ trang phục truyền thống, 5 ca sĩ và 3 nhạc công đều bước ra cúi đầu chào khán giả thì buổi biểu diễn bắt đầu
Tiếng đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà… hòa quyện vào nhau tạo thành những tiết
tấu du dương xóa đi không gian yên tĩnh Bốn bản nhạc lễ cung đình Huế “Lưu
Thủy”, “Kim Tiền”, “Xuân Phong”, “Lang hô”… đưa người xem ngược dòng thời
gian, về với những cung đình, những nét đẹp của một quá khứ vàng son đã khép lại
Ca sĩ và nhạc công say mê biểu diễn, du khách lặng lẽ, chìm đắm thưởng thức và chiêm nghiệm Dường như mọi khoảng cách bị xóa nhòa, chỉ còn lại những tri âm, tri kỷ cùng đồng điệu với nhau trong những câu ca, tiếng đàn
Tháng 11/2003, Nhã nhạc Cung đình Huế được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại tại cuộc họp Đại hội đồng thường niên Kể từ đó đến nay, Nhã nhạc Cung đình Huế luôn được các cấp, các ngành chức năng cùng nhân dân Huế quan tâm, bảo vệ và từng bước phát huy
Trang 39Theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, ngay sau khi Nhã nhạc Cung đình Huế được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại, Trung tâm đã từng bước đầu tư bảo tồn và phát huy, góp phần đưa Nhã nhạc Cung đình Huế đến với công chúng, nhất là khách du lịch trong nước và quốc
tế Một trong những hoạt động có ý nghĩa là Trung tâm đã đầu tư hơn 8 tỷ đồng để trùng tu và đưa Nhà hát Duyệt thị Đường ở Đại nội Huế vào hoạt động, phục vụ du khách tham quan, du lịch tại đây Nhã nhạc Cung đình Huế được đưa vào biểu diễn, giúp cho du khách hiểu hơn về những giá trị văn hóa độc đáo của Nhã nhạc, đồng thời cũng là cơ sở, nền tảng để các nhạc công Nhã nhạc trau dồi, phát huy
Cùng với việc trùng tu và đưa Nhà hát Duyệt Thị Đường vào hoạt động, trong thời gian qua, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã sưu tầm, bảo tồn và dàn dựng các nghi lễ tế; phục hồi gần 20 điệu múa cung đình; dựng một số vở tuồng cổ đáp ứng cho các lễ hội và giao lưu văn hóa Đặc biệt, Trung tâm đã phục chế bộ Biên chung - một loại nhạc cụ của Nhã nhạc Cung đình Việt Nam đã bị thất lạc hơn một trăm năm qua
Bên cạnh đó, hàng năm, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế luôn chú ý đến công tác mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn nghiệp vụ cho các thế hệ nghệ nhân, nghệ sỹ, nhạc công của Nhà hát nghệ thuật Cung đình Huế Đặc biệt, việc thí điểm giáo dục di sản cho giới trẻ tại các trường học cũng bước đầu mang lại hiệu quả Trong khi đó, tại các kỳ Festival Huế, Nhã nhạc đã được đưa vào chương trình trình diễn chính tại các lễ tế như: Lễ tế đình Nam Giao, Lễ tế Đàn Xã tắc…
Khẳng định những thành tựu đã đạt được trong công tác bảo tồn và phát huy
Nhã nhạc Cung đình Huế, tại Hội thảo “Bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế
giới ở Việt Nam - Nhìn lại chặng đường 20 năm qua và hướng đến tương lai của di sản Huế” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Thừa Thiên
- Huế tổ chức mới đây, rất nhiều ý kiến cho rằng nhờ làm tốt công tác bảo tồn mà Nhã nhạc đã được phục hồi, giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa Huế cũng như từng bước giới thiệu đến với bạn bè quốc tế
Tại đồng bằng sông Cửu Long, trong các tour du lịch sông nước, miệt vườn
đều không thể thiếu “món đặc sản” là đờn ca tài tử Theo thống kê của Sở VH,
TT&DL tỉnh Tiền Giang, hiện nay ở khu du lịch Thới Sơn (Mỹ Tho) và Xẻo Mây (Cái Bè) có 12 ban đờn ca tài tử với trên 100 diễn viên nhạc công hàng ngày biểu
Trang 40diễn phục vụ du khách ở 9 điểm du lịch Mỗi ngày, trung bình khu du lịch Thới Sơn – Cồn Phụng phục vụ khoảng 20 đoàn khách, chương trình đờn ca tài tử luôn là lựa chọn hàng đầu
Theo kết quả bước đầu trong đợt kiểm kê nghệ thuật Đờn ca tài tử tại 14/21 tỉnh, thành phố có Đờn ca tài tử, hiện có 2 nghìn câu lạc bộ, với hơn 22 nghìn thành viên tham gia; có 2 nghìn nhạc cụ trong các câu lạc bộ…
Những giá trị to lớn của Đờn ca tài tử đã được công nhận khi mới đây UNESCO đã chính thức vinh danh loại hình nghệ thuật này của Việt Nam trong danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Tại Bến Tre, từ lâu nay vẫn lưu giữ loại hình nghệ thuật văn hóa này Hiện tại, toàn tỉnh có gần 1.700 người tham gia với khoảng 100 câu lạc bộ, nhóm, đội đờn ca tài tử thường xuyên hoạt động tại các ấp, xã văn hóa, tạo thành một sân chơi bổ ích Đặc biệt là các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đều có đội đờn ca tài tử phục vụ những bài bản ngắn và những bài vọng cổ phục vụ du khách trong lúc dừng chân trong một không gian thoáng mát, uống tách trà mật ong ngọt ngào, thưởng thức những trái cây tươi, thơm ngát của địa phương,… làm cho du khách trong, ngoài nước đều say đắm và in đậm mãi những kỷ niệm chuyến ngao du, thưởng ngoạn trên sông nước miệt vườn của xứ dừa Bến Tre
Nhận thức rõ tầm quan trọng của chất lượng nghệ thuật đờn ca tài tử, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã tổ chức nhiều hội thảo nhằm nâng cao chất lượng của đờn ca tài tử, đặc biệt, để tôn vinh những giá trị tinh hoa của loại hình nghệ thuật đặc sắc Nam Bộ, Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ I - 2014 sẽ được UBND tỉnh Bạc Liêu đăng cai tổ chức vào cuối tháng 4/2014 Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014 là dịp để Bạc Liêu vinh danh các nghệ sĩ đờn ca tài
tử trong và ngoài tỉnh; đồng thời quảng bá văn hóa, lịch sử, con người nơi đây, góp phần xúc tiến thương mại, đầu tư du lịch, phát triển kinh tế bền vững
Sau Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất này, nhiều địa phương như Bình Dương, Tiền Giang… cũng đã đăng ký đăng cai kỳ Festival tiếp theo Dự kiến, Festival Đờn ca tài tử toàn quốc sẽ được tổ chức luân phiên tại các tỉnh, thành phố 3 năm/lần nhằm gìn giữ và phát triển nghệ thuật Đờn ca tài tử trong đời sống hiện đại, đồng thời tạo sức hút cho du lịch Nam bộ