Quyền hạn và nhiệm vụ các tổ chức bầu cử bổ sung và thể chức bỏ phiếu bầu cử giống như những nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức phụ trách bầu cử và các quy định về bầu cử trong Luật bầu
Trang 11
CHƯƠNG IV
QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN Vấn đề 1: Các nguyên tắc cơ bản về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân
1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật
2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong các trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng
3 Quyền công dân, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ
4 Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
5 Thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Vấn đề 2: Nội dung quyền con người
4.2.1 Nội dung nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”
1 Công dân Việt Nam bình đẳng về hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước đất nước, xã hội Việt Nam
2 Công dân Việt Nam được hưởng tất cả các quyền con người như nhau ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh
3 Bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm và bị xử
lý theo quy định pháp luật
4 Luật pháp phải được thượng tôn bất kể là giữa ai, bao gồm cả vị thế giữa người vi phạm và bị xâm phạm
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và pháp lý Với quan điểm mọi người bình đằng trước pháp luật, Hiến pháp Việt Nam yêu cầu một nhà nước Việt Nam phải tôn trọng và bảo vệ tất cả công dân Việt Nam
Trang 22
một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với mọi người trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ hợp pháp của con người
4.2.2 Nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân
Việc quy định một nguyên tắc cho việc giới hạn quyền trong Hiến pháp mang hai ý nghĩa sau: (1) xác lập tiêu chí để sự giới hạn quyền được chính đáng, tránh sự tuỳ tiện trong hoạt động của bộ máy nhà nước làm triệt tiêu, vô hiệu hoá hay giảm ý nghĩa của quyền; (2) bảo đảm tính hiện thực của quyền vì sự giới hạn đối với quyền con người, quyền công dân là một giải pháp được lựa chọn cuối cùng khi không có giải pháp nào khác phù hợp hơn Trên tinh thần đó, suy cho cùng, nguyên tắc giới hạn quyền cũng nhằm mục đích tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Ví dụ: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức
khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất
kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khoẻ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm: Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định (khoản 2 Điều 20) Những giới hạn của quyền này được Hiến pháp năm 2013 kế thừa, phát triển về cách thức quy định của các bản Hiến pháp trước đây Nếu Hiến pháp năm 1992 quy định “việc bắt, giam, giữ người được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật” thì nay Hiến pháp năm 2013 quy định việc bắt, giam, giữ người do luật định Như vậy, giới hạn quyền được quy định một chặt chặt chẽ hơn, phạm vi giới hạn được thu hẹp lại Tuy nhiên, đây là quyền con người, không phải quyền riêng của công dân (chủ thể quyền được mở rộng) Hơn nữa phạm vi quyền này cũng được mở rộng hơn ở chỗ mọi người có quyền không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm Thân thể của con người không chỉ là đối tượng vật chất (cơ thể) mà còn có cả các giá trị tinh thần như danh dự, nhân phẩm
Trang 33
Vấn đề 3 Nội dung quyền công dân
4.3.1 Quyền và nghĩa vụ của công dân trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa –
xã hội và tự do cá nhân
- Chính trị:
+ Quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội (Hình thức: Bầu cử, ứng cử, đóng góp ý kiến,… (Điều 28, 29)
+ Quyền bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước (Điều 27)
- Kinh tế, văn hóa – xã hội:
+ Quyền làm việc và hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi; quyền được đảm bảo an sinh xã hội (Điều 35,…)
+ Quyền bình đẳng nam nữ (Điều 26)
- Tự do dân chủ và tự do cá nhân:
+ Quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình (Điều 25)
+ Quyền tự do đi lại, tự do cư trú (Điều 23)
Vấn đề 4 Nội dung quyền con người
4.4.1 Quyền con người
Quyền được coi là vô tội (Điều 31)
Quyền được xét xử công khai (Khoản 2, Điều 31)
Quyền được bào chữa (Khoản 4, Điều 31)
Quyền được yêu cầu bồi thường (Khoản 5, Điều 34) + Quyền được bảo vệ đời tư (Điều 21)
Trang 44
+ Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 24)
+ Quyền kết hôn và lập gia đình, bình đẳng trong hôn nhân (Điều 36)
- Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa:
+ Nhóm quyền kinh tế: Quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu thu nhập hợp pháp, quyền thừa kế (Điều 32, 33)
+ Quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe (Điều 38)
+ Quyền được nghiên cứu và hưởng thụ các thành tựu khoa học; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa (Điều 40, 41, 44, 47, 48)
Vấn đề 5 Điểm mới về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992
Một là, đưa vị trí Chương "Quyền và Nghĩa vụ cơ bản của công dân" từ
Chương V (Hiến pháp 1992) về Chương II (Hiến pháp 2013) Việc thay đổi vị trí đề cao quyền Nhân dân trong Hiến pháp, coi Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, thì quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải được
xác định ở vị trí trang trọng hàng đầu trong một bản Hiến pháp
Hai là, Điều 14 Hiến pháp 2013 khẳng định “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Quy
định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp
Nếu như Hiến pháp năm 1992 đã thừa nhận thuật ngữ "quyền con người" thông qua quy định “quyền con người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền công dân” tại Điều 50 Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992
lại chưa phân biệt rạnh ròi được quyền con người với quyền cơ bản của công
dân Khắc phục thiếu sót đó, Hiến pháp 2013 đã có sự phân biệt giữa “quyền con người” và “quyền công dân” Hiến pháp 2013 còn quy định nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp
Trang 55
cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự án toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
Ba là, Hiến pháp mới bổ sung một số quyền mới: Quyền sống (Điều 19),
Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), Quyền bất khả xâm phạm
về đời sống riêng tư (Điều 21), Quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), Quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36), Quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41), Quyền xác định dân tộc (Điều 42), Quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43) Việc ghi nhận các quyền mới này hoàn toàn phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên, thể hiện nhận thức ngày càng rõ hơn về quyền con người và khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện quyền con người
Ngoài ra, Quyền con người không chỉ đề cập ở Chương II mà ở nhiều chương khác như chương về Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân Cụ thể, Chính phủ bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân (Khoản 6 Điều 96); Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân (Khoản 3 Điều 107); Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân (Khoản 3 Điều 102) Như vậy, bộ máy Nhà nước được lập ra để bảo vệ quyền con người Cách tiếp cận quyền con người này thể hiện sự kế thừa và tiếp thu quan điểm tiến bộ của các nước trên thế giới
Có thể nói, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã thể hiện được ý Đảng, lòng dân, là sự kết tinh của tinh thần dân chủ, đổi mới, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ mới Việc hiến định, hiện thực hóa quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp sửa đổi là sự tiếp nối, kế thừa các bản Hiến pháp trước đây, đồng thời, chuyển hóa sâu sắc nhiều nội dung, tinh thần các Công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự, quyền kinh tế, văn hóa, nhân quyền…; tạo nền tảng pháp lý cao
Trang 66
nhất bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được thực hiện, đáp ứng
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
CHƯƠNG VII
CHẾ ĐỘ BẦU CỬ Vấn đề 1 Nguyên tắc bầu cử
7.1.1 Nguyên tắc bầu cử phổ thông
Nguyên tắc bầu cử phổ thông là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong chế độ bầu cử Mức độ dân chủ của xã hội được thể hiện chủ yếu thông qua nguyên tắc này Nguyên tắc bầu cử phổ thông thể hiện tính toàn dân và toàn diện trong bầu cử, bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đều có quyền tham gia bầu cử và có quyền ứng cử theo quy định của pháp luật
Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên
có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Việc thực hiện các quyền này do luật định” Tuy khẳng định quyền
bầu cử và ứng cử là quyền của tất cả công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng pháp luật cũng có quy định các trường hợp đặc biệt không được tham gia bầu cử, ứng cử cụ thể: Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án; Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo; Người mất năng lực hành vi dân sự,…
7.1.2 Nguyên tắc bầu cử bình đẳng
Nguyên tắc bầu cử bình đẳng là một trong các nguyên tắc quan trọng của chế độ bầu cử ở Việt Nam, bảo đảm được tính khách quan, không thiên vị để mọi công dân có khả năng như nhau tham gia vào việc bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử dưới bất cứ hình thức nào Nguyên tắc bầu cử bình đẳng quy định số lượng dân như nhau thì sẽ được bầu số lượng đại biểu như nhau; mỗi cử tri được ghi
Trang 77
tên vào danh sách ở một nơi cư trú, mỗi người chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử, mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào dân tộc, tôn giáo, giới tính, địa vị xã hội, (Khoản 1, 2 Điều 29, Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015); Kết quả bầu
cử chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà cử tri đã bỏ phiếu cho mỗi ứng cử viên
7.1.3 Nguyên tắc bầu cử trực tiếp
Cử tri phải tự mình đi bầu, không được ủy quyền cũng không được bầu bằng cách gửi thư
Cử tri không biết chữ hay vì tàn tật không thể tự mình viết phiếu được, có thể tùy chọn người viết hộ, nhưng phải tự tay mình bỏ phiếu Chỉ trong trường hợp không thể tự mình bỏ phiếu được, cử tri có thể chọn người bỏ lá phiếu vào hòm phiếu, nhưng cử tri ấy phải thấy tận mắt lá phiếu của mình được bỏ vào hòm phiếu,…
Vấn đề 2 Tiến trình bầu cử
7.2.1 Công bố ngày bầu cử
Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử
Trang 88
7.2.2 Phân chia các đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu.
Nó xác định rõ các đơn vị bầu cử sẽ được bầu bao nhiêu Đại biểu Về nguyên tắc các đơn vị bầu cử được thành lập để đảm bảo sự cân bằng lá phiếu của cử tri, tức
là bảo đảm tôn trọng nguyên tắc bình đẳng
Mỗi đơn vị bầu cử được chia ra thành nhiều khu vực bỏ phiếu Các khu vực bỏ phiếu trong cùng một đơn vị bầu cử có chung một danh sách ứng cử Mỗi khu vực
bỏ phiếu có từ 300 đến 4000 cử tri
7.2.3 Thành lập tổ chức bầu cử ở đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu
Thành lập tổ chức phụ trách bầu cử từ trung ương đến địa phương Đồng thời, khi ra quyết định thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử thì ấn định luôn các chức danh cụ thể của các tổ chức này, để giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết Các chức danh này bao gồm: Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử,
Tổ bầu cử
7.2.4 Lập, niêm yết danh sách cử tri, danh sách ứng cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân
Lên danh sách ứng viên do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua những lần
Hội nghị hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử
Mặt trận Tổ quốc tổ chức và chủ trì Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất với mục đích là phát định cơ cấu thành phần và phân bổ số người ra ứng cử Ngoài ra còn giới thiệu người ra ứng cử hoặc tự ứng cử
Mặt trận Tổ quốc tiến hành Hội nghị hiệp thương lần hai với mục đích rút ra danh sách những người ra ứng cử
Mặt trận Tổ quốc tổ chức Hội nghị cử tri tại nơi họ làm việc, nơi họ sinh sống
để bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử
Mặt trận Tổ quốc tổ chức Hội nghị hiệp thương lần ba để rút ra danh sách chính thức những người ra ứng cử
Sau đó, đến công bố danh sách bầu cử: Danh sách người ứng cử Đại biểu
Quốc hội do Hội đồng bầu cử quốc gia lập và công bố chậm nhất là 25 ngày trước
Trang 99
ngày bầu cử, với số lượng Đại biểu ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng Đại biểu được bầu ít nhất 2 người, trường hợp khuyết vì lý do bất khả kháng thì Hội
đồng bầu cử quốc gia sẽ xem xét, quyết định
Danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân do Ủy ban bầu cử lập và công bố chậm nhất là 02 ngày trước ngày bầu cử, với số lượng Đại biểu được bầu
Tổ bầu cử niêm yết danh sách chính thức ở khu vực bỏ phiếu chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử
7.2.5 Tiến hành bỏ phiếu
Mỗi cử tri có một lá phiếu, cử tri tự mình đi bầu cử, khi bầu cử phải xuất trình
thẻ cử tri, khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nghiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri
Trường hợp không thể tự viết được thì nhờ người khác viết hộ nhưng phải tự mình bỏ phiếu, người viết hộ phải đảm bảo bí mật của lá phiếu, nếu cử tri bị khuyết tật không tử bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu
Cử tri ốm đau, già yếu, bị khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì
Tổ bầu cử mang hòm phiếu đến nơi để thực hiện bầu cử
Thời gian bỏ phiếu từ 07 giờ sáng đến 07 giờ tối cùng ngày, trường hợp đặc biệt có thể bắt đầu sớm hơn nhưng không được trước 5 giờ sáng và kết thúc muộn hơn nhưng không quá 09 giờ tối cùng ngày
7.2.6 Kiểm phiếu và công bố kết quả bầu cử
Kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu bầu không sử dụng đến và phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu
Trường hợp có phiếu bầu được cho là không hợp lệ thì Tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra để toàn tổ xem xét, quyết định không được gạch xóa sửa tên trên phiếu bầu
Nguyên tắc xác định người trúng cử là người có đủ hai điều kiện như sau: Có
số phiếu bầu đạt quá nửa tổng số phiếu hợp lệ; Được nhiều phiếu hơn Trong trường
Trang 1010
hợp nhiều người được số phiếu bằng nhau thì người nhiều tuổi hơn sẽ là người trúng
cử
Trường hợp bầu lại, bầu bổ sung, bầu thêm
Bầu thêm: Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử Đại biểu Quốc
hội chưa đủ số lượng Đại biểu được bầu, theo đề nghị của Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó Đối với bầu cử Hội đồng nhân dân, nếu số người chưa đủ 2/3 số Đại biểu đã quy định cho đơn vị bầu cử thì ban bầu cử phải ghi vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để quyết định ngày bầu thêm số Đại biểu còn thiếu
Bầu lại: Được tiến hành trong trường hợp ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bầu
chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách Ngày bầu cử lại phải được tiến hành chậm nhất là 15 ngày, sau cuộc bầu cử đầu tiên Pháp luật quy định trường hợp hủy bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, quyết định hủy bỏ bầu cử trước đó và ấn định ngày bầu lại cho các đơn vị bầu cử đó
Bầu bổ sung: Trong nhiệm kì có trường hợp khuyết Đại biểu ở một đơn vị nào
đó thì có thể tổ chức bầu bổ sung Ngày bầu cử bổ sung phải là ngày chủ nhật và phải được công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định bầu cử bổ sung Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đối với Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã và tương đương do thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố, trực thuộc trung ương quyết định Quyền hạn và nhiệm vụ các tổ chức bầu cử bổ sung và thể chức bỏ phiếu bầu cử giống như những nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức phụ trách bầu cử và các quy định về bầu cử trong Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015
Trang 1111
Vấn đề 3 Phân biệt miễn nhiệm, bãi nhiệm
Khái niệm
Cho thôi giữ chức vụ do không hoàn thành nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm, do yêu cầu của nhiệm vụ hoặc theo đề nghị của cán bộ, công chức vì lý do sức khỏe, lý do khác
Buộc thôi giữ chức vụ do bầu cử trước khi hết nhiệm kỳ do vi phạm pháp luật, vi phạm về phẩm chất, đạo đức, không còn xứng đáng giữ chức vụ được giao ở cơ quan nhà nước
- Vi phạm pháp luật
- Vi phạm về phẩm chất, đạo đức
- Không còn xứng đáng giữ chức vụ được giao ở cơ quan nhà nước
Bản chất Là hình thức giải quyết cho
việc thôi không giữ chức vụ
Là hình thức xử lý ký luật
Hình thức
- Người đang giữ chức vụ xin miễn nhiệm và cấp trên chấp thuận
- Cấp trên ra quyết định miễn nhiệm vì lý do không hoàn thành nhiệm vụ, yêu cầu nhiệm vụ…
- Cử tri, cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc bãi nhiệm
- Lưu ý: Việc bãi nhiệm chỉ được thực hiện khi có 2/3 tổng số phiếu biểu quyết tán thành
Trang 129.1.1 Vị trí của Quốc hội
Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”
Vị trí của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân Điều này xuất phát từ sự hình thành của Quốc hội, đó là cơ quan duy nhất do Nhân dân cả nước trực tiếp bầu ra Mặc dù trong hệ thống các cơ quan nhà nước, Nhân dân còn trực tiếp bầu ra đại biểu HĐND các cấp, song HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do cử tri ở các địa phương bầu ra, trong khi Quốc hội do toàn thể cử tri toàn quốc bầu ra
9.1.2 Các chức năng của Quốc hội
Quốc hội có 3 chức năng chính là: (1) thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; (2) quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và (3) giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước
Trang 1313
Vấn đề 2 Phân tích chức năng lập hiến, lập pháp của Quốc hội
- Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất như hình thức nhà nước, bản chất nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và nghĩa vụ công dân, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của cơ quan nhà nước
- Luật quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước thuộc các lĩnh vực đời sống, xã hội
- Hiến pháp và Luật là những văn bản có giá trị cao Các văn bản pháp luật khác gọi là cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, luật, không được trái mà phải phù hợp với nội dung và tinh thần Hiến pháp, luật, Vì:
+ Xuất phát từ vị trí của Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân,
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao
+ Xuất phát từ Hiến pháp và Luật là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nên chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền ban hành
+ Quyền lập hiến, lập pháp của Quốc hội gồm: Thông qua sửa đổi và bổ sung Hiến pháp và luật Việc này phả trải qua một trình tự thủ tục hết sức chặc chẽ và phức tạp
- Ưu điểm:
+ Đảm bảo tính chuyên môn sâu:
Ví dụ: Quốc hội muốn ban hành Luật Giáo dục thì giao Bộ trưởng Bộ Giáo
dục viết dự án rồi đưa ra thẩm tra, đại biểu Quốc hội thông qua Điều này đảm bảo tính chuyên sâu vì do chính cơ quan quản lý lĩnh vực đó viết dự án
+ Chính phủ có khả năng tài chính và nhân lực để làm luật
+ Chính phủ vừa là chủ thể xây dựng dự án vừa là chủ thể ban hành văn bản hướng dẫn thi hành sẽ thuận tiện hơn
- Hạn chế:
Trang 14+ Vô hiệu hóa chức năng làm Luật của Quốc hội Điều này xuất phát từ lý do Quốc hội có quyền ban hành văn bản luật nhưng đa phần các dự án luật do Chính phủ trình Nếu xu hướng này kéo dài thì thực chất việc làm luật của Quốc hội chỉ là thông qua các dự án luật của Chính phủ soạn thảo
Vấn đề 3 Phân tích chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước
Hiến pháp năm 2013 không quy định Quốc hội giám sát tối cao đối với “toàn
bộ hoạt động của Nhà nước” (đoạn 4 Điều 83) mà thu hẹp phạm vi của quyền giám
sát tối cao của Quốc hội
Theo Hiến pháp năm 1992, Quốc hội có quyền giám sát bất cứ hoạt động nào của các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, kể cả cấp cơ sở Tại Hiến pháp năm 2013, phạm vi đó đã được giới hạn trong các hoạt động của cơ quan nhà nước ở cấp cao nhất, những cơ quan do Quốc hội thành lập, phê chuẩn như Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (Điều 70 Hiến pháp năm 2013) Phạm vi này phù hợp với chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, đồng thời phù hợp với thực tiễn thực hiện chức năng giám sát này
Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao đối với các thiết chế độc lập như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội thành lập
Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 quy định về các chủ thể thuộc quyền giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng thêm phạm vi thực hiện quyền giám sát tối cao của
Trang 1515
Quốc hội đối với các thiết chế như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia
và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập Quy định này là phù hợp với tính chất hoạt động giám sát của Quốc hội Sở dĩ có sự thay đổi này là do Hiến pháp năm
2013 đã bổ sung hai thiết chế hiến định độc lập (cơ quan) là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước (Chương X) Vì các cơ quan này thuộc thẩm quyền thành lập của Quốc hội nên phải đưa vào nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội Hơn nữa, việc hiến định các cơ quan độc lập trên góp phần làm rõ chủ quyền nhân dân, làm rõ hơn cơ chế phân công, phối hợp trong việc kiểm soát quyền lực và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Vấn đề 4 Phân tích thẩm quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan Quốc hội,
Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội
9.4.1 Thẩm quyền giám sát của Quốc hội
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên
cơ sở hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội
Quốc hội giám sát hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
9.4.2 Thẩm quyền giám sát của các cơ quan Quốc hội
Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát văn bản quy phạm pháp luật
Trang 1616
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giúp Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Quốc hội;
Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Uỷ ban phụ trách; giúp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của các cơ quan này;
9.4.3 Thẩm quyền giám sát của Đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
9.4.4 Thẩm quyền giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội
Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn và tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban
của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu;
Vấn đề 5 Phân tích trách nhiệm giám sát của Quốc hội, các cơ quan Quốc hội,
Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội
Việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội phải bảo đảm công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy
Trang 1717
định của pháp luật và không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm về quyết định, yêu cầu, kiến nghị giám sát của mình
- Quốc hội xem xét, đánh giá và báo cáo về hoạt động giám sát của mình trước
- Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm và báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình trước cử tri tại địa phương
Vấn đề 6 Phân tích chức năng quyết định các vấn đề quan trọng trong lĩnh vực
tổ chức bộ máy Nhà nước của Quốc hội
Trong những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách ngắn gọn và bao quát, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các vấn đề thuộc về kinh tế - xã hội được quy định tại
Khoản 4 Điều 70: Quốc hội có thẩm quyền “Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế, quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước”.Với việc tập trung vào quyết định các chính sách cơ
bản, minh bạch, cụ thể một số nội dung nhất định đã thể hiện thẩm quyền của Quốc hội trong việc bảo đảm tính thống nhất về mặt nhà nước đối với các vấn đề tài chính,
Trang 1818
tiền tệ, kinh tế nói riêng và các vấn đề quan trọng khác của quốc gia nói chung Đó chính là cơ sở thực hiện việc phân cấp, phân quyền hợp lý hơn giữa các cơ quan ở trung ương và cơ quan địa phương, phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong những vấn đề có liên quan đến kinh tế - xã hội nói chung của quốc gia
Đối với các vấn đề liên quan tới đối ngoại, chủ quyền quốc gia, Hiến pháp năm 2013, tại Khoản 14 Điều 70, bên cạnh việc tiếp tục duy trì thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định các chính sách cơ bản về đối ngoại, đã có sự điều chỉnh cụ thể, hợp lý hơn thông qua việc quy định thẩm quyền của Quốc hội trong việc phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan tới chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội Sự minh bạch này là nền tảng hiến định cho việc tạo lập hành lang pháp lý theo hướng chuẩn mực, hoàn thiện hơn cho việc bảo đảm, thực thi chủ quyền quốc gia, thực thi chính sách đối ngoại trong thời gian tới
Vấn đề 7 Phân tích nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội trong tổ chức bộ máy
Nhà nước
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia (Khoản 7)
Trang 19Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập,
giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật (Khoản 9)
Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội (Khoản 10)
Quyết định đại xá (Khoản 11)
Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước (Khoản 12)
Vấn đề 8 Phân tích cơ cấu tổ chức của Quốc hội
9.8.1 Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội
Thành phần của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội gồm có: Chủ tịch Quốc Hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Uỷ viên Chủ tịch Quốc Hội làm Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc Hội và các Phó chủ tịch Quốc Hội làm các Phó Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc Hội (Điều 5, Luật tổ chức Quốc Hội)
Trong tổ chức thực hiện của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, Chủ tịch Quốc Hội giữ một vai trò vô cùng quan trọng Là người đứng đầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc Hội phải chủ trì điều hành hoạt động của Uỷ ban thường vụ, lãnh đạo công tác Uỷ ban thường vụ, chỉ đạo việc chuẩn bị, triệu tập, và chủ toạ các phiên họp của
Uỷ ban thường vụ Quốc Hội
9.8.2 Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc Hội
Trang 2020
Theo Luật tổ chức Quốc Hội, Quốc Hội được thành lập bảy Uỷ ban thường trực:
- Uỷ ban pháp luật;
- Uỷ ban kinh tế và ngân sách;
- Uỷ ban quốc phòng và an ninh;
- Uỷ ban giáo dục, thanh niên, thiếu niên, và nhi đồng;
- Uỷ ban các vấn đề xã hội;
- Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường;
- Và Uỷ ban đối ngoại
Thành phần của các Uỷ ban gồm có: Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, và các
uỷ viên do Quốc hội bầu ra tại kỳ họp thứ nhất mỗi khoá Quốc Hội, theo danh sách
đề cử chức vụ từng người của Chủ tịch Quốc Hội Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm hợp thành thường trực Uỷ ban Để các Uỷ ban có điều kiện hoạt động, Luật tổ chức Quốc Hội cho phép một số Chủ nhiệm, và Phó Chủ nhiệm và Uỷ viên Uỷ ban hoạt động chuyên trách
Khi xét thấy cần thiết, Quốc Hội thành lập ra Uỷ ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án điều tra về một vấn đề nhất định
9.8.3 Đại biểu Quốc Hội
Vấn đề 9 Nội dung cơ bản về kỳ họp Quốc hội
- Là một trong những hình thức hoạt động phổ biến nhất của Quốc hội
- Quốc hội họp mỗi năm 02 kỳ, trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường UBTVQH triệu tập kỳ họp Quốc hội
- Quốc hội họp công khai Trong trường hợp cần thiết thì họp kín
- Kỳ họp thứ nhất:
+ Triệu tập chậm nhất là 60 ngày kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, do Chủ tịch Quốc hội khóa trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi bầu ra Chủ tịch Quốc hội
+ Quốc hội bầu UB Thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội
+ Tiến hành bầu các chức danh lãnh đạo cao nhất của Nhà nước
Trang 2121
- Kỳ họp cuối cùng của mỗi khóa: Quốc hội xem xét, thảo luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ của Quốc hội, Chủ tịch nước, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các UB của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC
- Trong kỳ họp, Quốc hội xem xét, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng như chương tình xây dựng luật, pháp lệnh; các dự án luật; kế hoạch phát triển KT-XH,…
- Luật, Nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số Đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành
- Trường hợp làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội phải được ít nhất 2/3 tổng số Đại biểu Quốc hội tán thành
- Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH phải được quá nửa tổng số thành viên UBTVQH biểu quyết tán thành
- Đại biểu Quốc hội chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán NN
Vấn đề 10 Nhiệm vụ, quyền hạn và những bảo đảm cho Đại biểu Quốc hội
10.9.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội được nhân dân tín nhiệm bầu ra thông qua tổng tuyển cử tự
do, trực tiếp và bỏ phiếu kín Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước, là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội
Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri và trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình
Đại biểu Quốc hội bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội
Để thực hiện những nhiệm vụ nói trên, các đại biểu Quốc hội phải bảo đảm các tiêu chuẩn:
Trang 223 Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội
4 Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm
5 Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội
10.9.2 Những bảo đảm cho Đại biểu Quốc hội
- Đảm bảo về mặt tư pháp
“Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) thì không được bắt giam, truy tố ĐBQH và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của ĐBQH Việc
đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của ĐBQH thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Nếu vì phạm tội quả tang mà ĐBQH bị tạm giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc UBTVQH xét và quyết định”
Như vậy do tính chất quan trọng của những hoạt động do ĐBQH thực hiện và
có lẽ cũng chính vì ĐBQH là người mang quyền lực do chính nhân dân trao cho, nên những tác động của các cơ quan nhà nước khác đến cá nhân đại biểu cần phải được tiến hành theo trình tự đặc biệt, phải được sự đồng ý Quốc hội hoặc UBTVQH
- Đảm bảo về việc làm
Có hai đảm bảo khác nhau được áp dụng cho hai nhóm đại biểu khác nhau là đại biểu chuyên trách và đại biểu không chuyên trách
Trang 2323
Đại biểu chuyên trách là những người thoát ly hoàn toàn với công việc nghề
nghiệp trước khi được bầu làm ĐBQH và “phải được dành toàn bộ thời gian làm việc cho hoạt động của Quốc hội” Theo quy định hiện hành thì số lượng đại biểu
chuyên trách chiếm tối thiểu 25% tổng số ĐBQH Để tạo sự an tâm cho đại biểu có
thể tập trung vào các hoạt động của Quốc hội, Nhà nước đã đảm bảo rằng “khi ĐBQH hoạt động chuyên trách thôi làm nhiệm vụ đại biểu thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có trách nhiệm bố trí công tác cho ĐBQH” và “thời gian ĐBQH hoạt động chuyên trách được tính vào thời gian công tác liên tục”
Thứ hai là đảm bảo dành cho ĐBQH không chuyên trách Theo quy định, đại
biểu không chuyên trách là những đại biểu chỉ phải “dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ đại biểu” Điều này đồng nghĩa với việc là đại
biểu không chuyên trách phải làm hai công việc cùng lúc: công việc của ĐBQH (ít nhất một phần ba thời gian làm việc) và công việc nghề nghiệp của họ (nhiều nhất hai phần ba thời gian) Như vậy, khi một người trở thành ĐBQH thì chắc chắn là hiệu quả công việc gắn với nghề nghiệp của họ ít nhiều bị ảnh hưởng Mặc dù luật đã
quy định là “cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc có trách nhiệm tạo Điều kiện để đại biểu thực hiện nhiệm vụ” nhưng khó có thể nói rằng, họ không thể bị mất
việc từ sự ảnh hưởng trên Điều này sẽ là một mối bận tâm rất lớn đối với những ai trở thành đại biểu không chuyên trách Vì sợ mất việc làm, họ sẽ chỉ tập trung cho công việc nghề nghiệp và sẽ xao nhãng nhiệm vụ đại biểu Chính vì lý do đó, ĐBQH
không chuyên trách được đảm bảo rằng sẽ “không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc, nếu không được UBTVQH đồng ý”
- Những đảm bảo khác:
Ngoài ra ĐBQH còn được đảm bảo trong việc tiếp cận thông tin và tài liệu có liên quan đến Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh; được cung cấp Công báo, báo và tạp chí có liên quan đến hoạt động của đại biểu
ĐBQH được cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, ưu tiên trong việc đi lại, được đài thọ lương, phụ cấp và hoạt động phí