+ Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các tr
Trang 11
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN LUẬT DÂN SỰ I
Họ và tên: Hoàng Minh Thế - Lớp K5H
Câu 5 Phân tích nội dung và đặc điểm năng lực pháp luật dân sự
của cá nhân?
1 Khái niệm
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng có quyền dân sự và nghĩa
vụ dân sự Khả năng đó chỉ có thể trở thành hiện thực thông qua năng lực hành vi dân sự của cá nhân
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là bình đẳng
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bị hạn chế, trừ trường hợp
do pháp luật quy định
3 Bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Quy định tại Khoán 3, Điều 16, Luật Dân sự 2015
4 Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản (Từ Điều 25 đến 39)
- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản
- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó
Câu 6 Phân tích các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân Ý nghĩa
của việc phân biệt các mức độ năng lực hành vi?
1 Các mức độ năng lực hành vi dân sự
Trang 22
- Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ trừ trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Họ chỉ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự khi có quyết định của Tòa án về việc mất năng lực hành vi dân
sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
- Năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ: Là những người bắt đầu có sự nhận thức về
hành vi của mình, tuy nhiên sự nhận thức này vẫn còn có những hạn chế nhất định Người từ đủ 06 tuổi đến dưới 18 tuổi là người có năng lực hành vi dân sự một phần Đối với người chưa thành niên từ đủ 06 tuổi đến dưới 10 tuổi:
+ Người từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi
+ Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các trường hợp giao dịch liên quan đến động sản, bất động sản phải đăng ký vào giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý
- Năng lực hành vi dân sự của người chưa đủ 06 tuổi: Do người đại diện theo pháp
luật của người đó thực hiện, xác lập
Câu 7 Năng lực chủ thể của cá nhân? Mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành
năng lực chủ thể của cá nhân?
1 Thời điểm phát sinh và chấm dứt năng lực chủ thể
Năng lực chủ thể của cá nhân xuất hiện từ khi sinh ra Từ thời điểm này công dân được công nhận là chủ thể pháp luật nói chung, chủ thể pháp luật hành chính nói riêng (cuộc sống, sức khoẻ tự do, danh dự nhân phẩm, các giá trị xã hội của họ được pháp luật bảo vệ) Nhưng năng lực chủ thể đó phát triển tăng dần về khối lượng cùng với độ tuổi và đến một độ tuổi nhất định thì phát triển đầy đủ Năng lực pháp luật hành chính của công dân xuất hiện từ khi sinh ra còn năng lực hành vi
Trang 33
hành chính xuất hiện dần vì trẻ em chưa nhận thức đầy đủ về hành vi của mình nên chưa thể tự mình thực hiện các quyền và nghiã vụ do pháp luật hành chính quy định Như vậy đối với cá nhân thì thời điểm phát sinh năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính không giống nhau Năng lực hành vi hành chính của cá nhân không chỉ phụ thuộc vào cách thức nhà nước thừa nhận khả năng thực tế đó Theo quy định của pháp luật hành chính, năng lực pháp luật hành chính còn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá …có trường hợp năng lực hành vi pháp luật hành chính của mọi công dân còn bị hạn chế theo quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Thời điểm chấm dứt năng lực chủ thể của cá nhân trong quan hệ pháp luật hành chính là khi cá nhân đó chết hoặc cá nhân đó không đủ điều kiện để có năng lực hành vi nữa Ví dụ cá nhân đó bị tâm thần, mất năng lực hành vi…
2 Về nội dung
Năng lực chủ thể của cá nhân: Được xem xét trên hai phương diện là năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính
Năng lực pháp luật hành chính là khả năng cá nhân được hưởng các quyền
và phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý hành chính nhất định do nhà nước quy định
Năng lực hành vi hành chính là khả năng của cá nhân được Nhà nước thừa nhận mà với khả năng đó họ có quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính đồng thời phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi của mình mang lại, cá nhân phải đạt được những điều kiện nhất định thì mới có năng lực hành vi hành chính như tuổi, trình độ, sức khỏe… Ví dụ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên được phép đăng ký bằng lái xe máy
3 Các yếu tố tác động
Yếu tác động năng lực chủ thể của cá nhân là năng lực pháp luật hành chính
và năng lực hành vi hành chính của cá nhân Năng lực pháp luật hành chính của cá nhân hoàn toàn tùy thuộc vào những quy định cụ thể của pháp luật nên năng lực này sẽ thay đổi khi pháp luật thay đổi và có thể bị Nhà nước hạn chế Ngoài ra, việc
Trang 44
tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính của cá nhân không chỉ phụ thuộc vào quy định của pháp luật hành chính mà còn phụ thuộc nhiều vào khả năng thực tế của mỗi cá nhân như độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe, khả năng tài chính, sự thừa nhận của Nhà nước…
Câu 8 Hạn chế năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo quy định
của BLDS 2015
1 Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện
2 Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa
án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác
3 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
Câu 9 Mất năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo quy định
của BLDS 2015
1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần
Trang 55
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Câu 10 Phân biệt giữa mất năng lực hành vi dân sự với hạn chế năng lực
hành vi dân sự của cá nhân?
Tiêu chí Hạn chế năng lực hành vi
dân sự (Điều 24)
Mất năng lực hành vi dân sự
(Điều 22)
Thứ nhất, họ là những người từng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Thứ hai, việc họ bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự dựa trên quyết
định của Tòa án trên cở sở yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Thứ ba, họ không thể tự mình tham gia tất cả các giao dịch dân sự mà pháp luật
cho phép
Thứ tư, khi không còn căn cứ cho rằng họ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ có quyền được khôi phục lại năng lực hành
vi dân sự của mình
Đối tƣợng
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình…
- Người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành
vi
- Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan,…
Trang 6ra quyết định Theo yêu cầu của người có
quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan Kết luận giám định pháp y tâm thần
Hệ quả pháp lý
Giao dịch do người hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện, xác lập là không có hiệu lực pháp luật (bị vô hiệu), trừ trường hợp được
sự đồng ý của người đại diện hoặc giao dịch phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
Giao dịch do người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện, xác lập là không có hiệu lực pháp luật (bị vô hiệu)
Giao dịch phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện
Người đại diện
Người đại diện của người hạn chế năng lực hành vi dân sự do Tòa án chỉ định
Người đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự có thể
là cá nhân hoặc pháp nhân và được gọi là người giám hộ Người đại diện có thể được chỉ định hoặc đương nhiên trở thành người đại diện theo quy định của pháp luật
Trang 77
Câu 12 So sánh giữa người mất năng lực hành vi dân sự với người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?
Tiêu chí Người có khó khăn trong nhận
đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự
Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành
Người đại diện theo pháp luật do
Tòa án quyết định Người giám hộ
Trường hợp
chấm dứt
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
Trang 88
Câu 14 Điều kiện xác định lại giới tính của cá nhân? Từ đó hãy cho biết, việc xác định lại giới tính làm thay đổi các quyền nhân thân nào của cá nhân?
1 Điều kiện xác định lại giới tính của cá nhân
Một là, có khuyết tật bẩm sinh về giới tính: Có khuyết tật bẩm sinh về giới
tính được hiểu là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật
– Nữ lưỡng giới giả nam: Là một người có bộ nhiễm sắc thể giới tính kiểu nữ (46; XX), có 2 buồng trứng nhưng cơ quan sinh dục ngoài lại giống như nam, thường do trong thời kỳ phôi thai, thai nhi nữ bị phơi nhiễm quá nhiều với hormon nam ngay
từ khi chưa sinh ra Môi lớn và môi nhỏ của cơ quan sinh dục nữ dính vào nhau nên trông giống như bìu và âm vật phát triển to như dương vật Thường vẫn có tử cung
và 2 vòi trứng bình thường
– Nam lưỡng giới giả nữ: Là trường hợp một người có bộ nhiễm sắc thể giới tính kiểu nam (46; XY) nhưng cơ quan sinh dục ngoài lại không thành hình hoàn chỉnh, không rõ nam hay nữ hoặc rõ là con gái Bên trong cơ thể thì tinh hoàn có thể bình thường hoặc dị tật hoặc không có
– Lưỡng giới thật: Là trường hợp một người có cả 2 tuyến sinh dục (cả tinh hoàn
và buồng trứng) tồn tại trên một cá thể, từ sự cố về gen học và cũng rất hiếm Những người này có thể sống được nhưng không thể sinh sản và hạn chế về khả năng tình dục vì các hormon nam đã triệt tiêu tác dụng của các hormon nữ và ngược lại Hai loại mô buồng trứng và tinh hoàn có thể trên cùng tuyến sinh dục hoặc có một buồng trứng và một tinh hoàn riêng biệt Người bệnh có thể có nhiễm sắc thể giới XX hoặc XY hoặc cả hai
Hai là, giới tính chưa được hình thành, chính xác được hiểu là những trường
hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay là nữ xét về cả bộ phận sinh dục
và nhiễm sắc thể giới tính
Trang 99
Ngoài hai quy định trên thì còn có điều kiện về mặt tự nguyện của cá nhân được xác định lại giới tính, tức là người muốn xác định lại giới tính phải làm đơn gửi cơ sở y tế xin xác định lại giới tính, nếu trong trường hợp không có đơn thì cơ
sở y tế không được phép xác định lại giới tính cho cá nhân đó
2 Việc xác định lại giới tính làm thay đổi các quyền: Quyền nhân thân,…
Câu 15 Giám hộ là gì? Các loại giám hộ? Quyền và nghĩa vụ
của người giám hộ?
1 Khái niệm giám hộ
Khoản 1, Điều 46 BLDS 2015 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này…”
Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch làm tăng tính trách nhiệm, rõ ràng trong việc giám hộ và tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thể theo dõi trong thực tế
Nếu như việc giám hộ không ghi nhận rõ tư cách pháp lý của người được giám hộ và người giám hộ sẽ dẫn đến sự thiếu chính xác trong việc xác định trách nhiệm của người giám hộ đối với người được giám hộ
Ví dụ, trong trường hợp anh cả/chị cả là người giám hộ đương nhiên cho em chưa thành niên nhưng sau đó lại không đủ điều kiện làm người giám hộ nữa thì anh/chị ruột tiếp theo là người giám hộ Tuy nhiên theo quy định của Bộ luật dân
sự năm 2005, việc xác định thời điểm anh/chị ruột tiếp theo là người giám hộ cũng như các quan hệ dân sự mà người giám hộ trước đã tham gia đến đâu là rất khó xác định vì đây là những trường hợp giám hộ không cần đăng ký Quy định về việc đăng ký giám hộ là một điểm mới nổi bật trong BLDS 2015
2 Các loại giám hộ
Luật dân sự quy định có hai hình thức giám hộ đó là giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử
Trang 1010
Giám hộ đương nhiên: là hình thức do pháp luật quy định, người giám hộ
đương nhiên chỉ có thể là cá nhân Người giám hộ đương nhiên đối với người được giám hộ là những người thân thiết, gần gũi nhất đối với người được giám hộ, được xác định theo quan hệ hôn nhân hoặc tùy trường hợp cụ thể Đối với giám hộ đương nhiên pháp luật đã quy định trước ai sẽ thuộc đối tượng có quyền giám hộ
Giám hộ cử: là hình thức giám hộ theo trình tự do pháp luật quy định Nếu
không có người giám hộ đương nhiên thì UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ có trách nhiệm đề nghị một cá nhân của tổ chức làm giám hộ đều có thể trở thành người giám hộ cử Việc cử người giám hộ được thực hiện theo 2 trường hợp cụ thể: không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52
và Điều 53 của Bộ luật dân sự 2015
3 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
3.1 Quyền của người giám hộ
+ Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu cần thiết của người được giám hộ;
+ Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
+ Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
3.2 Nghĩa vụ của người giám hộ
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ 15 tuổi:
+ Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ;
+ Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
+ Quản lý tài sản của người được giám hộ;
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
Trang 11+ Quản lý tài sản của người được giám hộ;
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự:
+ Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
+ Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
+ Quản lý tài sản của người được giám hộ;
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
Câu 16 Phân tích điều kiện tuyên bố cá nhân mất tích? Cho ví dụ?
Theo quy định tại điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, một người bị tuyên bố là mất tích khi:
– Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố một người mất tích khi người đó đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy
đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết
– Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng
– Nếu vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình
Trang 1212
– So với Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung thêm quy định: Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị tuyên bố mất tích cư trú cuối cùng để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch
Câu 17 Phân tích điều kiện tuyên bố cá nhân chết? Cho ví dụ?
Thứ nhất, đã qua thời hạn quy định mà cá nhân đó vẫn không có tin tức
Trường hợp tuyên bố chết thông qua thủ tục tuyên bố mất tích là sau ba năm
kể từ thời điểm quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật mà không có tin tức xác thực là còn sống hoặc biệt tích trong chiến tranh sau năm năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà không có thông tin xác thực là còn sống Trong trường hợp tuyên bố một người là đã chết trong tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau hai năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống Nếu là tuyên bố chết đối với người biệt tích lâu ngày mà chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích thì phải qua thời hạn là năm năm kể từ ngày, tháng, năm biết được tin tức cuối cùng về sự sống còn của họ Trong trường hợp này thời điểm bắt đầu để tính thời hạn năm năm là ngày có tin tức cuối cùng về người đó Nếu không xác định được ngày thì tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày, tháng thì tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng
Thứ hai, phải thông qua thủ tục tìm kiếm
Việc thông báo tìm kiếm với mục đích xác định lần cuối cùng về tin tức sống còn của một người trước khi Tòa án quyết định về thân phận pháp lí của họ Vì vậy,
Trang 13“vẫn không có tin tức là còn sống”
Qua việc phân tích ở trên cho ta thấy rằng, việc thông báo tìm kiếm là thủ tục rất cần thiết để tuyên bố chết đối với một cá nhân khi chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích Vậy đối với người đã tuyên bố là mất tích, nay muốn tuyên bố là họ đã
chết vì đã “sau ba năm, kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức là còn sống” thì có cần thủ tục thông báo tìm kiếm
không?
Đối với trường hợp này, có trường hợp cho rằng đã được thực hiện trong thủ tục tố tụng trong khi tuyên bố người đó mất tích nên khi tuyên bố là họ đã chết thì không cần thực hiện lại nữa
Thứ ba, cần phải có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Người có quyền, lợi ích liên quan là những người có mối liên hệ nào đó (hôn nhân gia đình, quan hệ hành chính, quan hệ lao động, quan hệ dân sự ) với người vắng mặt mà sự vắng mặt của người đó ảnh hưởng đến quyền lợi của họ
- Về mặt thủ tục: người yêu cầu tuyên bố cá nhân chết phải thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
- Có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Người có quyền và lợi ích liên quan có yêu cầu gửi đến Tòa án, yêu cầu Tòa
án tuyên bố cá nhân chết
Mục đích của việc tuyên bố chết đối với một cá nhân là tạo ra cơ sở pháp lí
để những người nói trên có thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình Chẳng hạn một chủ nợ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người (vốn là một con nợ của mình) là đã chết
Trang 1414
khi họ đã biệt tích lâu ngày nhằm thu hồi khoản nợ từ tài sản mà người đó để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế
Mặt khác, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự thì Tòa án chỉ thụ lí
vụ việc khi có đơn khởi kiện của đương sự Vì vậy, Tòa án chỉ có thể ra quyết định tuyên bố một cá nhân chết khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
Thứ tư, chỉ tuyên bố một người là đã chết nếu không nằm trong tình trạng
bị truy nã theo lệnh truy nã của cơ quan điều tra
Trong thục tế, có nhiều trường hợp cá nhân bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi phạm tội nhằm trốn tránh sự trừng trị của pháp luật vì vậy cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã đối với họ Tình trạng trên sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của một
số ngời nhất định vì vậy họ sẽ yêu cầu Tòa án tuyên bố cá nhân đó đã chết để bảo
vệ và thực hiện quyền lợi của mình Nếu chỉ vì vậy mà Tòa án tuyên bố người đó
đã chết thì vụ án hình sự sẽ phải đình chỉ và cơ quan điều tra phải đình nã Kể từ khi quyết định của tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì mọi quan hệ nhân than, quan hệ tài sản của người đó sẽ được giải quyết đối với người
đã chết Chính vì vậy, việc tuyên bố chết đối với người bỏ trốn sẽ gây trở ngại đối với quá trình điều tra, khởi tố vụ án
Câu 18 So sánh tuyên bố mất tích với tuyên bố chết đối với cá nhân?
Tuyên bố chết là sự thừa nhận của Tòa án về cái chết đối với một cá nhân khi cá nhân đó đã biệt tích trong thời hạn theo luật định trên
cơ sở đơn yêu cầu của nguời có quyền và lợi ích liên quan
Điều kiện Căn cứ: Điều 68 BLDS 2015 Căn cứ: Điều 71 BLDS 2015
Trang 1515
tuyên bố - Theo yêu cầu của người có
quyền, lợi ích liên quan
- Một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết
Lưu ý: Thời hạn 02 năm được
có tin tức cuối cùng;
+ Không xác định được ngày, tháng thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng
- Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan; và
- Đáp ứng đủ điều kiện tại 1 trong
04 truờng hợp sau:
+ Sau 03 năm, kể từ ngày quyết
định tuyên bố mất tích của Tòa án
có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
+ Biệt tích trong chiến tranh sau
05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
+ Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên
tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai
nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
+ Biệt tích 05 năm liền trở lên và
không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tuyên bố mất tích
Trang 1616
làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ)
Tài sản nguời bị tuyên bố mất tích
sẽ đuợc chuyển sang quản lý tài sản của nguời bị tuyên bố mất tích (Đ65, 66, 67 và 69 BLDS 2015)
- Vợ/chồng của nguời bị mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án cho phép họ ly hôn (K2, Đ68 BLDS 2015)
pháp luật mà người đó tham gia với tư cách chủ thể
Tài sản của người tuyên bố chết đượ giải quyết theo pháp luật về thừa kế
(Điều 72 BLDS 2015)
Câu 19 Phân tích điều kiện để một tổ chức là pháp nhân? Từ đó giải thích tại sao Luật Doanh nghiệp 2014 lại quy định Doanh nghiệp tư nhân không có
tư cách pháp nhân?
1 Phân tích điều kiện để một tổ chức là pháp nhân
a Tổ chức phải được thành lập theo quy định của pháp luật
Theo như định nghĩa thì rõ ràng pháp nhân không phải là một người (một
cá nhân) mà phải là một tổ chức Tổ chức này được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thành lập hoặc cho phép thành lập Vì thế tổ chức đó được công nhận là có
tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận thành lập
Ví dụ: khi thành lập doanh nghiệp, công ty cổ phần hay công ty TNHH (các pháp nhân) đều phải được thành lập hợp pháp Tức là phải đăng ký và được Sở kế hoạch đầu tư tỉnh, thành phố mà nơi công ty đóng trụ sở cấp Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp
b Tổ chức phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
Theo Điều 83 BLDS 2015, pháp nhân phải là một tổ chức có cơ cấu quản lý chặt chẽ:
Trang 1717
“1 Pháp nhân phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân
2 Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.”
Như vậy một tổ chức muốn trở thành pháp nhân phải có điều lệ hoặc quyết định thành lập pháp nhân Trong điều lệ và quyết định thành lập phải có quy định
cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành pháp nhân
c Tổ chức có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
Pháp nhân là tổ chức độc lập để xác lập quyền và nghĩa vụ trong hoạt động của nó, nên bắt buộc phải có tài sản độc lập Có tài sản độc lập mới có thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với các giao dịch, quyền và nghĩa vụ mà nó xác lập
Ví dụ: Khi mở công ty cổ phần, các cổ đông mua cổ phần, góp vốn vào công
ty Thì tài sản này phải độc lập với tài sản của các cổ đông Công ty chịu trách nhiệm với tài sản của công ty
Hoặc một trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân dù được thành lập hợp pháp là Doanh nghiệp tư nhân Vì tài sản của doanh nghiệp tư nhân không tách biệt với tài sản cá nhân – chủ doanh nghiệp tư nhân đó
d Tổ chức có thể nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
Tổ chức có thể nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
là một trong những điều kiện quan trọng để có tư cách pháp nhân
Vì pháp nhân là một tổ chức độc lập, được quyền giao dịch, xác lập quyền và nghĩa vụ nên bắt buộc nó có thể tự nhân danh chính mình
Pháp nhân có quyền nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua người đại diện theo pháp luật
Trang 18cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập; phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và cuối cùng là nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Ta xét xem doanh nghiệp tư nhân có thỏa mãn bốn yếu tố trên hay không Thứ nhất là phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập dưới một hình thái xác định Doanh nghiệp tư nhân là một loại hình doanh nghiệp được ghi nhận trên thị trường kinh doanh, được quy định trong Luật Doanh nghiệp Việt Nam nên
nó được coi là thành lập hợp pháp theo quy định
Với yêu cầu về cơ cấu tổ chức, tức là cấu trúc bên trong, bao gồm các cơ quan lãnh đạo, bộ phận chuyên môn của tổ chức, đảm bảo cho tổ chức có khả năng hoạt động và điều hành, có tính nhất quán trong hoạt động pháp nhân thì DNTN không đáp ứng được, bởi nó chỉ do một cá nhân duy nhất làm chủ, không có các ban bệ, phòng cấp, tất cả mọi hoạt động đều do cá nhân đó điều hành, thường không có ai trợ giúp
Điều kiện về chế độ chịu trách nhiệm: pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm tài sản của mình và trong giới hạn tài sản của mình, nghĩa là trả nợ hết tài sản thì thôi, năng lực trách nhiệm pháp nhân gọi là trách nhiệm hữu hạn Còn DNTN lại chịu trách nhiệm vô hạn, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ số tài sản của mình, tài sản của công ty và cá nhân đó hoàn toàn không tách biệt với nhau Về thực tế, đây cũng là lý do khiến DNTN dễ dàng vay tiền ngân hàng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác
Trang 1919
Điều kiện cuối cùng là có khả năng nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Vì cá nhân sở hữu doanh nghiệp luôn đại diện cho doanh nghiệp trong các giao dịch trên thị trường, và quan trọng hơn là tài sản của chủ sở hữu và của công ty có liên quan với nhau nên DNTN không có khả năng độc lập tham gia các quan hệ kinh doanh
Như vậy, DNTN chỉ đáp ứng được một trên tổng số bốn điều kiện để một tổ chức có tư cách pháp nhân Đây là loại hình doanh nghiệp duy nhất hiện nay không
có tư cách pháp nhân
Câu 23 Phân tích khái niệm tài sản theo quy định của BLDS năm 2015?
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
a Vật
– Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Với ý nghĩa pham trù pháp lý, vật chỉ có ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người Không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật Ví dụ: Ô-xi còn ở dạng không khí trong tự nhiên thì chưa thể được coi là vật, vì chưa thể đưa vào giao dịch dân sự Chỉ khi được nén vào bình, tức là con người có thể nắm giữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và được coi là vật Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những điều kiệnsau: là bộ phận của thế giới vật chất; con người chiếm hữu được; mang lại lợi ích cho chủ thể;
có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai
– Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc
về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành: Vật chính là vật độc lập có
Trang 2020
thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hòa, máy ảnh…); vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính điều (khiển ti vi, điều hòa, vỏ máy ảnh,…) Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành nhiều phần nhỏ mà
Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không chia được Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi sử dụng thì chia thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà người ta phân loại vật thành vật thành vật cùng loại và vật đặc định Ngoài ra, người ta còn chia ra làm vật đồng
c Giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng tòan
bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu Ngoài ra, giấy
tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro Ngoài ra còn có
Trang 21Câu 24 Phân loại tài sản? Ý nghĩa của việc phân biệt động sản và
bất động sản?
Điều 107 BLDS 2015 quy định bất động sản và động sản như sau:
“1 Bất động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”
Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại tài sản dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được Bất động sản do đặc tính tự nhiên, được hiểu là các tài sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên cấu tạo nên tài sản đó, bao gồm:
+ Đất đai: đất đai trong giao lưu dân sự được xác định bằng diện tích đất cùng vị trí của mảnh đất đó Điều này được thể hiện trên bản đồ địa chính, được cơ
Trang 22+ Cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất : Khoáng sản, cây cối hoa màu trên đất cũng được coi là bất động sản chừng nào người ta chưa khai thác, chặt cây, hay hái lượm Nếu chúng được tách khỏi đất thì chúng trở thành động sản Giả
sử khoáng sản, cây cối, hoa màu tuy vẫn chưa được khai thác nhưng đã là đối tượng của hợp đồng mua bán trước, việc mua bán trước này có làm cho khoáng sản, cây cối hoa màu trở thành động sản hay không, cho dù nó vẫn còn ở trên đất? Luật pháp các nước đều cho rằng các tài sản này, trong trường hợp trên, đã trở thành động sản
+ Các động sản trở thành bất động sản vì mục đích sử dụng chúng : các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bất động sản Nhưng trong điều kiện nào thì động sản được coi là gắn liền với nhà, công trình xây dựng? Thông thường, việc gắn một động sản vào nhà, công trình xây dựng một mặt phải nhằm tạo một chỉnh thể thống nhất phục vụ cho mục đích sử dụng nhà, công trình
đó, mặt khác, việc gắn động sản vào nhà, công trình phải do người có quyền (quyền
sở hữu hoặc một quyền năng khác) đối với nhà, công trình xây dựng đó thực hiện Hơn nữa, việc gắn liền phải mang tính chất kiên cố, không thể tháo ra mà không làm hư hại hoặc mất vẻ mỹ quan của nhà, công trình Ví dụ như hệ thống điện, nước trong nhà, bức tượng, nếu được gắn vào hốc tường một cách kiên cố cũng có thể được coi là bất động sản
Bất động sản do pháp luật quy định: Ngoài những tài sản là bất động sản kể trên, khi cần thiết, bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể quy định
Trang 23đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó (nhà đã được xây,…) Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai ( nhà đang được xây dựng theo dự án, tiền lương sẽ được hưởng,…) Ngoài ra, tài sản hình thành trong tương lai có thể bao gồm tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên (tài sản mua bán, thừa kế nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao cho chủ sở hữu)
Ý nghĩa phân biệt bất động sản và động sản:
+ Xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản
+ Xác lập thủ tục đăng kí đối với tài sản
+ Xác định địa điểm xác lập GDDS khi không có thỏa thuận khác
+ Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có thời hiệu
+ Xác định thẩm quyền tòa án về giải quyết tranh chấp trong GDDS, hay là các quyền đối với bất động sản, động sản
+ Xác định đối tượng của các biện pháp bảo đảm, thông thường động sản là cầm cố, kí cược, đặt cọc Còn bất động sản là đối tượng của biện pháp bảo lãnh
Câu 25 Phân biệt vật cùng loại và vật đặc định? Cho ví dụ?
Ý nghĩa của việc phân loại?
1 Điểm tương đồng
– Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau
– Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó (Điều 289) Khi bên có nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu
Trang 24có cùng chất lượng có thể thay thế được cho nhau Nếu vật cùng loại bị tiêu hủy thì
có thể thay thế nó bằng vật cùng loại khác
– Vật đặc định là những vật có thể phân biệt với các vật khác bằng các dấu hiệu đặc trưng riêng biệt của vật đó về kí hiệu, hình dáng, mà sắc chất liệu, đặc tính, vị trí Trong vật đặc định, người ta xác định vật độc nhất (không có vật thứ hai) và vật đặc định hóa Khi vật đặc định độc nhất bị tiêu hủy, thì không thể thay thế bằng vật khác, quan hệ pháp luật về sở hữu đối với vật cũng chấm dứt như các loại đồ cổ quý hiếm, một quyển sách có chữ kí người nổi tiếng… Còn vật được đặc định hóa
là trong các vật cùng loại người ta tách nó ra bằng một dấu hiệu do con người đặt
ra, đánh dấu nó bằng các kí hiệu riêng biệt Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định, thì phải chuyển giao đúng vật đó, nếu giao vật khác mặc dù đúng số lượng, chất lượng vẫn bị coi là vi phạm nghĩa vụ và phải trịu trách nhiệm dân sự
3 Ý nghĩa
– Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau
– Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó (Điều 289) Khi bên có nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó, nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật (Điều 303 BLDS)
– Căn cứ vào mối liên hệ giữa các vật cho một chức năng chung: vật đồng bộ
– Trong giao lưu dân sự, việc phân loại tài sản thành vật cùng loại và vật đặc định
có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định có chuyển giao đúng vật hay không Nếu vật cùng loại có cùng chất lượng, thì có thể thay thế cho nhau trong giao lưu dân sự
Trang 2525
Còn đối với vật đặc định có những đặc điểm riêng biệt để có thể phân biệt vật đó với vật khác, thì khi chuyển giao vật đặc định, người có nghĩa vụ phải chuyển giao đúng vật đặc định đó cho người có quyền như đã thỏa thuận
Câu 26 Phân biệt vật chính, vật phụ? Cho ví dụ? Ý nghĩa của việc phân loại? Thứ nhất: Phân tích nội dung khái niệm: (Điều 110 Chương VII về Tài sản BLDS 2015)
- Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng VD: Máy ảnh
Thứ hai: Phân tích, làm rõ điểm tương đồng và khác biệt
Giống nhau: Đều là những vật có thể chuyển giao được Có tính năng riêng để phục
vụ lẫn nhau
Câu 29 So sánh hợp đồng với hành vi pháp lý đơn phương với tư cách là
những loại giao dịch dân sự cụ thể?
1 Cơ sở pháp lý
Điều 116 BLDS 2015 quy định về giao dịch dân sự: “ Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Điều 385 BLDS 2015 quy định về hợp đồng: “ Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Trang 26đồng thường có hai bên tham gia mà ở đó, mỗi bên được ví như những “ chú gấu” tham ăn, đói bụng đang cố dành cho mình những miếng ngon nhất của chiếc bánh mang tên “ hợp đồng” Do đó, không thể tránh khỏi sự mâu thuẫn về lợi ích
giữa các bên tham gia Vì vậy, tính bản chất tạo nên hợp đồng đó là sự thoả thuận Hay nói cách khác, trong hợp đồng ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia tạo thành hợp đồng Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận nhằm thống nhất ý chí chung của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự Trong mọi giai đoạn của quan hệ hợp đồng ( từ thời điểm giao kết đến thực hiện, chấm dứt,…) đều tuân theo nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc thoả thuận
Ví dụ: hợp đồng hợp tác, hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng dịch vụ, v.v…
b Hành vi pháp lý đơn phương
Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hành vi pháp lý đơn phương có điểm khác biệt cơ bản nhất với hợp đồng đó là cách thức thể hiện ý chí của chủ thể Nếu như trong hợp đồng dân sự đề cao sự thoả thuận, coi thoả thuận là một nguyên tắc cơ bản nhất thì hành vi pháp lý đơn phương lại chỉ thể hiện ý chí của một bên chủ thể trong giao dịch dân sự
Thông thường, hành vi pháp lý đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất, chủ thể này xác lập giao dịch dân sự nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự cho bên còn lại tham gia giao dịch Thực tế, do tính chất của loại giao dịch dân sự này đơn thuần là ý chí của một bên chủ thể vì vậy hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có
Trang 2727
những người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định do chủ thể xác lập giao dịch này đưa ra Bên tham gia này phải đáp ứng được các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch Ví dụ như hứa thưởng, thi có giải, v.v… Còn một số trường hợp hầu như không phải đáp ứng điều kiện gì để tham gia giao dịch dân sự có dạng hành vi pháp lý đơn phương như: lập di chúc, từ chối hưởng thừa kế, v.v…
Câu 30 Phân tích điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự?
Điều 117 BLDS quy định về 3 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:
- Chủ thể có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân
sự được xác lập;
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Trong một vài trường hợp cụ thể thì hình thức của giao dịch dân sự cũng là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Làm rõ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:
- Thứ nhất: Chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Chủ thể của
giao dịch là những người tham gia diao dịch là cá nhân và pháp nhân và các chủ thể khác Cá nhân tham gia giao dịch phải là người đã thành niên, người không bị mất năng lực hành vi dân sự, không phải là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, không pahri là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có quyền xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quân hệ giao dịch
do mình xác lập Những giao dịch dân sự do những người này xác lập có hiệu lực pháp luật
Những cá nhân chưa thành niên, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, cá nhân có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do người đại diện của người đó xác lập
Trang 2828
Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 125 BLDS cũng quy định một số trường hợp cá biệt khi xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch đó không bị xác định là vô hiệu
- Thứ hai: Về ý chí của chủ thể giao dịch: Theo quy định của BLDS thì chủ thể
tham gia giao dịch dân sự phải hoàn toàn tự nguyện
Sự tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Tự nguyện là tự do định đoạt ý chí, không bị ép buộc, dọa nạt, lừa dối, và không bị người khác áp đặt ý chí Chủ thể tham gia giao dịch tự ình lựa chọn chủ thể tham gia khác, đối tượng của giao dịch, lựa chọn giá cả, địa điểm và những vấn đề khác trong việc xác lập giao dịch dân sự
- Thứ ba: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Những giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội sẽ bị xác định là vô hiệu
Ví dụ: Buôn bán các chất cấm, …
- Thứ tƣ: Hình thức của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự sẽ không bị vô hiệu bởi hình thức trừ một số trường hợp yêu cầu hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Đối với quan hệ dân sự nói chung và quan hệ giao dịch nói riêng, quan trọng nhất là ý chí của chủ thể vào thời điểm xác lập giao dịch có tự nguyện hay không tự nguyện, chủ thể có đáp ứng được yêu cầu về chủ thể trong từng loại giao dịch không và nội dung của giao dịch do các bên thỏa thuận có vi phạm các điều cấm của pháp luật hay không Những điều kiện về chủ thể, ý chí cảu chủ thể, mục đích
và nội dung cần xác định để xác định một giao dịch dân sự có hiệu lực hay không
Ví dụ: trong một số giao dịch pháp luật yêu cầu phải có văn bản công chứng chứng thực cho giao dịch Tuy nhiên trong một số trường hợp giao dịch dân sự có thể thỏa thuận bằng miệng hoặc văn bản có chữ kí hai bên Do đó trong những trường hợp này hình thức trở thành một trong các Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Trang 2929
Tuy nhiên, quy định ở khoản 2 điều 117 BLDS về hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định Quy định này đã cởi mở và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự thực hiện đầy đủ các quyền dân sự của mình Trên thực tế có những giao dịch hòa ntoafn phản ánh trung thực và khách quan ý chí tự nguyện của các bên, nhưng các bên lại không tuân thủ các quy định về hình thức nào đó mà giao dịch bị tuyên vô hiệu Quy định về hình thức của giao dịch dân sự không rõ ràng là
cơ hội cho những chủ thể không trung thực lạm dụng để hủy một giao dịch dân sự bất lợi cho mình hoặc dựa vào đó để mang lại những lợi ích vật chất có lợi cho mình mà gây thiệt hại cho người khác Vì vậy, khoản 2 Điều 117 BLDS là một quy định không cứng nhắc và chỉ áp dụng trong một số trường hợp cụ thể
Câu 31 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự? Các loại giao dịch dân sự?
Cho ví dụ?
1 Khái niệm giao dịch dân sự
Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Từ khái niệm trên, giao dịch dân sự được hiểu là một dạng của quan hệ pháp luật dân sự được phát sinh trên cơ sở một sự kiện pháp lý, một hành vi có chủ định của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự như cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự
Từ những phân tích trên, giao dịch dân sự là sự thể hiện ý chí một cách tự nguyện của các chủ thể thông qua hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự
2 Đặc điểm của giao dịch dân sự
- Phải thể hiện được ý chí của các bên tham gia Khi tham gia giao dịch dân sự chủ thể muốn đạt được mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng
Trang 3030
- Chế tài giao dịch mang tính bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt nguyên tắc thỏa thuận, tự do cam kết và xây dựng chế tài Đây là nguyên tắc cơ bản của Luật Dân
sự nói chung, của giao dịch dân sự nói riêng
- Các bên tham gia phải giao dịch tự nguyện Đây là sự phản ánh thống nhất ý chí của các bên, là nguyên tắc quan trọng để thiết lập giao dịch
- Nội dung của giao dịch
Câu 32 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu? So sánh giao dịch dân sự vô hiệu
tương đối với giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối?
1 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu
Có nhiều cách để phân loại giao dịch dân sự vô hiệu:
Thứ nhất, theo khoa học pháp luật dân sự thì giao dịch bị vô hiệu có thể
được phân thành hai nhóm chính: Vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối
Thứ hai, căn cứ vào nội dung hiệu lực của giao dịch dân sự để phân loại
thành giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và giao dịch dân sự vô hiệu từng phần
Thứ ba, theo pháp luật dân sự hiện hành, các nhà làm luật chỉ ra các trường
hợp vô hiệu do vi phạm từng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, theo đó, giao dịch dân sự vô hiệu bao gồm:
a Giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015)
b Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sựnăm 2015)
c Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Quy định tại Điều 125 Bộ luật Dân sựnăm 2015)
d Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sựnăm 2015)
Trang 31Tóm lại, các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là một thể thống nhất
trong mối quan hệ biện chứng Bởi vậy xem xét một giao dịch phải đặt nó trong tổng thể của mối quan hệ biện chứng này Nếu giao dịch dân sự vô hiệu từng phần thì chỉ phần đó không có hiệu lực, các phần còn lại vẫn có hiệu lực thi hành
Câu 33 Giao dịch dân sự vô hiệu? Hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự
vô hiệu?
1 Giao dịch dân sự vô hiệu
Theo Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác
2 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Về nguyên tắc chung, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập
Các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu (hoàn nguyên) như khi chưa xác lập giao dịch, cho nên nếu giao dịch dân sự chưa được thực hiện thì các bên không được thực hiện giao dịch đó Nếu giao dịch đã được thực hiện toàn bộ hay một phần thì các bên không được tiếp tục thực hiện giao dịch và phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận của nhau
Trường hợp nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật hiện hành (Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015)
Trang 3232
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng nghi nhận việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do bộ luật này, luật khác có liên quan quy định (Chương VIII Bộ luật Dân sự năm 2015)
Câu 34 Phân tích giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện chủ thể? Phân tích các trường hợp giao dịch dân sự vi phạm điều kiện chủ thể (trường
hợp chủ thể là cá nhân) nhưng không bị vô hiệu?
1 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện chủ thể
Khi hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người
đó, Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật hợp đồng này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp:
Hợp đồng của người chưa đủ 06 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
Hợp đồng chỉ làm phát sịnh quyền hoăc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện hợp đồng với họ;
Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là
02 năm, kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng;
2 Các trường hợp giao dịch dân sự vi phạm điều kiện chủ thể (trường hợp chủ thể là cá nhân) nhưng không bị vô hiệu
Trang 3333
- Căn cứ theo khoản 2 Điều 117 và Điều 129 Bộ luật dân sự 2015 thì hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật định Điều này có nghĩa trong các trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự
phải tuân theo hình thức nhất định (Ví dụ: Lập thành văn bản có công chứng, chứng thực) thì nếu giao dịch không đáp ứng điều kiện về hình thức thì giao dịch
vô hiệu
Tuy nhiên, giao dịch dân sự được xác lập không phải để vô hiệu mà để thực hiện vì nó mang ý chí sự thỏa thuận, mong muốn của các bên trong giao dịch Chính vì vậy BLDS 2015 có quy định trường hợp ngoại lệ, khi giao dịch không tuân thủ về hình thức nhưng vẫn có hiệu lực (Điều 129):
1 Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó
2 Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực
Như vậy trong các trường hợp này nhằm đảm bảo thỏa thuận của các bên trong giao dịch, tôn trọng ý chí nguyện vọng các bên giao dịch vẫn có hiệu lực
Câu 35 Phân tích giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện tự nguyện? Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cƣỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng
ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó
Trang 3434
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình
Câu 36 Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu?
Cho ví dụ?
- Trường hợp thứ 1: Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của
giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ
trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này (khoản 1 Điều 133 BLDS năm 2015), tức là trừ trường hợp người chiếm hữu ngay tình hay người thứ ba ngay tình
có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản hoặc trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu
Trong trường hợp này pháp luật quy định để người thứ ba được xem là ngay tình thì người thứ ba không có cơ sở để biết mình tham gia vào giao dịch dân sự với người không có quyền định đoạt tài sản hoặc đối tượng tài sản của giao dịch liên quan đến giao dịch trước đó đã bị vô hiệu và người thứ ba có căn cứ tin rằng đối tượng tài sản và chủ thể giao dịch với mình có đủ điều kiện tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật Trường hợp này thường xảy ra đối với những tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu như: xe đạp, laptop, điện thoại di động…
Tuy nhiên, đối với trường hợp người thứ ba có được tài sản thông qua giao dịch dân sự không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản như: tặng cho, thừa kế… hoặc trong trường hợp giao dịch với những loại tài sản bị lấy cắp,
bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu và chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản đó
Trang 3535
Ví dụ: Để có tiền chơi điện tử A (13 tuổi) bán chiếc xe đạp của ba mẹ cho
anh B, sau đó anh B đã bán chiếc xe đạp này cho anh C, anh C đã trả tiền mua xe đạp cho A và nhận xe Trong trường hợp này, xét theo quy định của Điều 21 BLDS năm 2015 thì giao dịch giữa A và anh B bị vô hiệu do anh B giao dịch với người chưa đủ 15 tuổi và việc bán chiếc xe đạp này của A không nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, đồng thời chưa có sự đồng ý của ba mẹ A, còn đối với giao dịch giữa anh B và anh C không bị vô hiệu vì đủ điều kiện để giao dịch có hiệu lực, mặc dù giao dịch ban đầu đối với tài sản đem ra giao dịch là chiếc xe đạp đã bị
vô hiệu, vì theo Khoản 1 Điều 133 BLDS năm 2015 “Trường hợp giao dịch dân sự
vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực”
===> Như vậy chiếc xe đạp mà anh C mua theo quy định của pháp luật là tài sản
không phải đăng ký quyền sở hữu, do đó anh C không có cơ sở để biết rằng mình mua chiếc xe đạp là đối tượng tài sản giao dịch trước đó đã bị vô hiệu, trong trường hợp này anh C được coi là người thứ ba ngay tình và được pháp luật bảo vệ quyền lợi, lúc này chủ sở hữu tài sản là cha mẹ của A không có quyền đòi lại tài sản từ anh C Nhưng ngược lại nếu anh C có được chiếc xe đạp do được anh B tặng không phải là mua hoặc trong trường hợp anh C mua lại chiếc xe đạp từ anh B nhưng chiếc xe đạp này anh B trộm của gia đình A thì căn cứ theo quy định tại Điều 167 của BLDS năm 2015 thì chủ sở hữu của chiếc xe đạp là cha mẹ của A vẫn có quyền đòi lại chiếc xe đạp từ anh C vì anh C có được tài sản này do được ông B tặng cho
là hợp đồng không có đền bù hoặc anh C có được tài sản này mua lại chiếc xe đạp
do anh B trộm mặc dù anh C không biết được chiếc xe đạp mình mua do ông B trộm
- Trường hợp thứ 2: Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được
đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc
Trang 3636
đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu (đoạn
2 khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015)
Trong trường hợp này được hiểu là người thứ ba tham gia giao dịch dân sự đối với tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó mặc dù tài sản này là đối tượng giao dịch dân sự trước đó đã bị vô hiệu thì giao dịch dân sự vẫn phát sinh hiệu lực đối với người thứ ba vì người thứ ba đã căn cứ vào việc đăng
ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch, trường hợp này người thứ ba được xem là ngay tình và được pháp luật bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp
- Trường hợp thứ ba: Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa (đoạn 2 khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015)
Ví dụ: Do anh B là bạn bè thân thiết, nên anh A đã cho anh B mượn xe máy
sử dụng, tuy nhiên sau đó anh B đã bán chiếc xe máy này với giá rẻ cho anh C, vì ham rẻ và không am hiểu pháp luật anh C đồng ý mua mặc dù xe không có giấy tờ Xét theo quy định tại khoản 3 Điều 133 BLDS năm 2015 “Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu” Vậy trong trường hợp này anh C không là người thứ ba ngay tình vì đối với những loại tài sản cụ thể như xe máy pháp luật
quy định tài sản này phải được đăng ký theo quy định của Thông tư số 15/2014/TT-BCA của Bộ Công an ngày 04/4/2014 quy định về đăng ký xe, như
vậy trong trường hợp này xe không có các loại giấy tờ theo quy định thì sẽ không hoàn tất được thủ tục đăng ký, do đó anh C không được pháp luật bảo vệ quyền lợi
vì không ngay tình và phải trả lại tài sản nếu chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản
Trang 37
37
Tuy nhiên, trong trường hợp này pháp luật quy định nếu người thứ ba tham gia giao dịch dân sự đối với đối tượng tài sản chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng người thứ ba nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa, trong các trường hợp này người thứ ba sẽ được pháp luật công nhận là người thứ ba ngay tình
và được pháp luật bảo vệ, bởi lẽ trong trường hợp này người thứ ba đã căn cứ vào việc tài sản đã được thông qua bán đấu giá tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc căn cứ vào bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quyết định người giao dịch với mình có quyền sở hữu tài sản đó, do đó người thứ ba xác lập, thực hiện giao dịch đối với đối tượng tài sản này không bị vô hiệu, mặc dù tài sản
là đối tượng của giao dịch trước đã bị vô hiệu
Ví dụ: Anh A căn cứ vào Bản án hôn nhân và gia đình giữa anh B và chị C
để xác lập giao dịch với chị C đối với tài sản mà chị C được nhận là ngôi nhà Trong thời gian anh A làm thủ tục đăng ký theo quy định của pháp luật thì bản án
bị sửa theo kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, theo đó bản án sửa lại công nhận quyền sở hữu ngôi nhà này là của anh B chứ không phải của chị C, nhưng trong trường hợp này theo quy định của pháp luật giao dịch giữa anh A với chị C đối với tài sản là ngôi nhà này vẫn có hiệu lực pháp luật, mặc chị C không phải chủ sở hữu của ngôi nhà
Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền lợi chủ sở hữu thực sự của tài sản và của cả người thứ ba ngay tình khi tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến đối tượng giao dịch cùng là một tài sản, khoản 3 Điều 133 BLDS năm 2015 quy định chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại Như vậy, pháp luật quy định trong
Trang 3838
trường hợp chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình thì chủ sở hữu vẫn có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại
Câu 37 Khái niệm đại diện? Phân loại đại diện? Ý nghĩa pháp lý của đại diện
1 Khái niệm đại diện
Theo quy định tại Điều 134 BLDS 2015 đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
Người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện
2 Các trường hợp đại diện theo pháp luật
– Đại diện theo pháp luật của cá nhân được quy định tại Điều 136 BLDS 2015:
+ Trường hợp con chưa thành niên thì cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật
+ Đối với người được giám hộ thì người giám hộ là người đại diện theo pháp luật Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định
+ Đại diện theo pháp luật là người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại 2 trường hợp trên
+ Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật là người được Tòa án chỉ định
– Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định tại Điều 137 BLDS 2015:
+ Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ
+ Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật
+ Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án
Trang 3939
Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộ luật Dân sự 2015
3 Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện theo pháp luật
– Người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với người thứ
ba phải phù hợp với phạm vi đại diện Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện
– Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện
– Trường hợp người đại diện theo pháp luật biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối
Câu 38 So sánh đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền?
Đại diện theo pháp luật là đại
diện do pháp luật quy định
hoặc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định bao
gồm: Đại diện theo pháp luật
của cá nhân (Điều 136 BLDS
2015) và Đại diện theo pháp
luật của pháp nhân (Điều 137
BLDS 2015)
Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện
Trang 40Quyền đại diện được xác lập
theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, theo
điều lệ của pháp nhân hoặc
theo quy định của pháp
– Người đại diện theo pháp
luật của cá nhân bao gồm:
Cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Người giám hộ đối với người được giám hộ
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định
Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
– Người đại diện theo pháp
Người đại diện không nhất thiết phải
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện