Khái niệm về cơ giới hóa Cơ giới hoá là quá trình thay thế công cụ lao động thủ công bằng công cụ cơ giới, thay thế sức người và gia súc bằng động lực máy móc, thay thế phương pháp sản x
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, với hơn 70% dân số sống chủ yếu ở nông thôn, 76% dân số nước ta làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu là do ngành nông nghiệp đóng góp Ngành nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng gia tăng sản phẩm đã qua chế biến, giảm cung cấp sản phẩm thô, từ đó an ninh lương thực trong nước được đảm bảo, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế như gạo, thủy hải sản, cà phê, cao su Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nông dân được cải thiện, công bằng hơn trong tiếp cận các cơ hội phát triển
Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, hệ thống kết cấu hạ tầng cũng như mạng lưới các tổ chức kinh tế hoạt động nông thôn ngày càng phát triển
Song, cũng như các nước thực hiện quá trình công nghiệp hóa, ở nước
ta, quá trình này thường đi kèm những thay đổi không nhỏ về các mặt kinh
tế-xã hội; và nông nghiệp, nông dân, nông thôn thường bị thiệt thòi, chịu nhiều
hy sinh Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn là khu vực chậm phát triển nhất trong nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính chất của nền sản xuất nhỏ, manh mún, sử dụng không hiệu quả dẫn đến gây lãng phí các
nguồn lực quý giá cho phát triển nông nghiệp Cùng với việc đưa các loại
giống lúa, khoai, rau màu, cây công nghiệp cho chất lượng và năng suất cao vào sản xuất, người nông dân đã đầu tư thêm máy tuốt lúa, máy gặt đập góp phần đáng kể vào việc giảm thất thoát sản lượng, đồng thời giảm sức lao động
và nâng cao thu nhập trên một diện tích đất canh tác trong khi phần lớn đất
Trang 2nông nghiệp ngày càng thu hẹp cần áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới vào sản xuất thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao
Dân số Việt Nam trên 80 triệu người và sử dụng lúa gạo làm thực phẩm chính Lúa là cây trồng cổ truyền của Việt Nam và là cây trồng quan trọng nhất hiện nay vì diện tích gieo trồng lúa chiếm đến 61% diện tích trồng trọt cả nước và 80% nông dân Viêt Nam là nông dân trồng lúa Gạo là lương thực thiết yếu hàng đầu của người Việt Nam vì 100% của dân số trên 80 triệu người sử dụng hàng ngày từ người thu nhập thấp đến người thu nhập cao, từ nông thôn đến thành thị Chính vì tầm quan trọng của lúa gạo, thời gian qua Chính phủ luôn đặt phát triển lúa gạo là nhiệm vụ trung tâm của phát triển nông nghiệp và đã có những đầu tư thích đáng Hà Nội hiện có hơn 200.000ha đất sản xuất lúa, việc cơ giới hóa tập trung giúp cho các khâu từ gieo thẳng lúa, chăm sóc và thu hoạch lúa được tiến hành nhanh, đúng lịch thời vụ, giảm đáng kể chi phí sản xuất, sức lao động Tuy nhiên, hiện nay cơ giới hóa trong sản xuất lúa của Hà Nội mới tập trung ở khâu làm đất (đạt trên 80%), khâu cấy cơ bản vẫn theo phương pháp truyền thống Các khâu khác như thu hoạch, chế biến, bảo quản cũng chủ yếu theo hình thức thủ công, quy mô hộ gia đình Cơ giới hóa là xu thế tất yếu trong sản xuất nông nghiệp để tạo ra sản phẩm hàng hóa chất lượng cao và nâng cao thu nhập cho nông dân
Vậy làm thế nào để hiểu rõ hơn và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa một cách lâu dài? Xuất phát từ ý tưởng nêu trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“ Một số giải pháp đưa cơ giới hóa nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội" cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
a Mục tiêu tổng quát
- Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
b Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về thời gian: Số liệu sử dụng từ năm 2009 - 2011
+ Phạm vi về không gian: nghiên cứu tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, trong đó địa điểm nghiên cứu, khảo sát trực tiếp 2 xã: Xã An Mỹ và Xã Phùng Xá
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến việc đưa
cơ giới hóa vào sản xuất lúa tại địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu kết quả, hiệu quả áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa tại huyện Mỹ Đức và tại 2 xã: Xã An Mỹ và Xã Phùng Xá
- Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp đưa cơ giới hóa nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất tại huyện Mỹ Đức trong thời gian tới
Trang 4Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng
cơ giới hóa trong nông nghiệp 1.1 Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết áp dụng cơ giới hóa trong nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm về cơ giới hóa
Cơ giới hoá là quá trình thay thế công cụ lao động thủ công bằng công
cụ cơ giới, thay thế sức người và gia súc bằng động lực máy móc, thay thế phương pháp sản xuất thủ công lạc hậu bằng phương pháp sản xuất hiện đại, nghĩa là thay thế từng yếu tố của lực lượng sản xuất bằng toàn bộ lực lượng sản xuất phát triển phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
- Quá trình cơ giới hoá diễn ra theo 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn cơ giới hoá bộ phận: đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là những khâu, bộ phận nặng nhọc, tốn nhiều công sức, máy móc được áp dụng một cách đơn lẻ từng chiếc, từng cái
+ Giai đoạn cơ giới hoá tổng hợp: đặc trưng cơ bản là sự ra đời của hệ thống máy móc ở trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất, hệ thống máy móc được trang bị đồng bộ cả máy động lực đến máy công tác Từ đó, đã có
sự giải phóng lao động dẫn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+ Giai đoạn tự động hoá: đặc trưng cơ bản là chủ yếu sử dụng nguồn năng lượng động lực mới, vật liệu mới, quá trình sản xuất mang tính chất điều khiển, lao động chủ yếu là quá trình vận hành sản xuất dẫn đến chất lượng lao động tăng, số lượng lao động giảm
1.1.2 Đặc điểm về cơ giới hóa trong nông nghiệp
- Mỗi loại máy móc và công cụ sản xuất trong nông nghiệp có một công suất nhất định và bị hao mòn theo thời gian sử dụng Hoạt động của máy móc và công cụ sản xuất trong nông nghiệp mang tính không thể phân chia
Trang 5được trong việc sử dụng, điều này có nghĩa là mỗi kích cỡ máy móc nhất định
có một công suất nhất định Như vậy, chi phi cố định (xác định bằng tỷ lệ khấu hao hàng năm) cho một đơn vị công việc thực hiện giảm dần khi công suất sử dụng tăng lên
- Cơ giới hoá cho phép tiết kiệm được lao động, điều này rất phù hợp với những vùng thiếu lao động Một số công cụ cơ giới cho phép tiết kiệm lao động, đây là quan điểm khác so với các tiến bộ khoa học kỹ thuật về tưới nước phân bón và giống mới cho phép tiết kiệm đất Như vậy, động lực mạnh
mẽ thúc đẩy cơ giới hoá nông nghiệp trước hết ở những vùng thiếu lao động trong điều kiện thừa lao động, chính sách cơ giới hoá đòi hỏi việc lựa chọn các kỹ thuật tiết kiệm lao động và có chính sách taọ công ăn việc làm tương ứng trong nông thôn
- Công cụ cơ giới hoá chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dịch vụ sửa chữa, xăng dầu, dịch vụ bảo dưỡng.v.v Do vậy, các dịch vụ trên phải được bảo đảm để hỗ trợ cho nông nghiệp
- Máy móc cơ giới hoá làm việc ngoài trời dễ han gỉ và chóng hư hỏng
là công cụ cơ giới, là đầu vào được đầu tư bằng vốn cố định là chủ yếu nên phải có các biện pháp sử dụng hiệu quả:
+ Máy móc thiết bị được trang bị phải phù hợp với điều kiện tự nhiên lịch sử xã hội của từng vùng đặc biệt chú ý tới cơ khí trung và lớn khi điều kiện sản xuất nông nghiệp của Hà Nội đang được dồn điền đổi thửa tích cực
+ Máy móc thiết bị phải đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống đặc biệt ở những vùng có điều kiện về tự nhiên và vốn nên đầu tư máy vạn năng và công
cụ có công suất lớn, tốc độ nhanh Ở những vùng điều kiện còn hạn chế nên
sử dụng loại máy móc bền, nhẹ, rẻ hiệu quả và đảm bảo bố trí các dịch vụ sửa chữa hợp lý tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh
+ Phải sử dụng tổng hợp các loại máy móc, kết hợp công cụ thô sơ với
Trang 6máy móc hiện đại, tăng cường quản lý và bảo quản máy móc
+ Thành phố cần có chính sách tích tụ ruộng đất và chính sách lao động làm thuê ở nông thôn thì cơ giới mới được thực hiện tốt Cơ giới hoá và điện khí hoá là những bước đi đầu tiên để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn nhằm nâng cao năng suất lao động của nông dân, hạ giá thành nông sản với chất lượng và sản lượng ngày càng cao
- Đóng góp vào đầu ra của cơ giới hoá không chỉ bản thân máy móc công
cụ, mà còn tuỳ khả năng cung cấp các dịch vụ sửa chữa, sản xuất hay nhập khẩu phụ tùng, cung cấp xăng dầu Như thị trường cung cấp dịch vụ sửa chữa, xăng dầu không tốt sẽ ảnh hưởng đến kết quả đầu ra mang tính chất thời vụ
- Phạm vi hoạt động máy móc rộng lớn, phức tạp bởi vì hoạt động sản xuất tiến hành trên phạm vi rộng lớn Dẫn đến tuyệt đại bộ phận máy móc, công cụ hoạt động chủ yếu ngoài trời nên dễ han gỉ và chóng hư hỏng
Do vậy để việc sử dụng máy móc thực sự hiệu quả cần chú ý đến một số vấn đề sau đây:
+ Thứ nhất, mọi tác động của quá tŕnh cơ giới hoá trong nông nghiệp cần phải phù hợp với quy luật sinh học của các loại cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên chúng ta cần qua tác dụng cơ giới hoá để hướng quá tŕnh sinh học theo mục đích, hiệu quả nhằm giảm đi tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp
+ Thứ hai, về số lượng và chủng loại khi trang bị phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, lịch sử và xă hội của từng ngành, từng vùng trong nền nông nghiệp hàng hoá, đặc biệt chú ý tới cơ khí nhỏ khi điều kiện sản xuất nông nghiệp nước ta còn manh mún, phân tán
+ Thứ ba, về mặt sản xuất và trang bị phải đảm bảo đồng bộ cả hệ thống máy, cả tập đoàn công cụ hoặc kết hợp giữa hệ thống máy móc với tập đoàn công cụ, tăng thêm máy vạn năng và công cụ có công suất lớn, tốc dộ nhanh trong điều kiện cho phép Phải đảm bảo quy cách thống nhất và đầy đủ
Trang 7phụ tùng, chú ý các loại máy móc bền, nhẹ rẻ, hiệu quả khi mà điều kiện về vốn của ta chưa có Sắp xếp hệ thống cơ sở sản xuất và sửa chữa hợp lý tránh việc cạnh tranh không lành mạnh làm giảm hiệu quả máy móc
+ Thứ tư, về việc sử dụng phải lựa chọn và quy hoạch địa bàn sử dụng tổng hợp các loại máy móc và công cụ, kết hợp chặt chẽ máy móc với công cụ cải tiến, cơ giới hoá với biện pháp kỹ thuật nông nghiệp, tăng cường quản lý
và bảo quản máy móc
+ Thứ năm, đi đôi với quá trình cơ giới hoá cần đẩy mạnh quá trình phân công lao động trong công nghiệp và phát triển nông thôn một cách tổng hợp Việc cơ giới hoá tiết kiệm lao động chỉ thực sự diễn ra khi việc áp dụng máy móc có thể hoặc không làm thay đổi tỷ lệ yếu tố đầu vào sử dụng (lao động và vốn), nhưng tỷ lệ lao động trong tổng giá trị sản lượng giảm so với tỉ
lệ vốn, thậm chí cả khi giá tương đối của lao động, vốn giữ nguyên Như vậy việc thực hiện cơ giới hoá hiệu quả trong khuôn khổ tác động phù hợp về chính sách các yếu tố đầu vào khác
+ Thứ sáu, nếu việc thực hiện cơ giới hoá làm tăng sản lượng đầu ra với một tổng chi phí nguồn lực đă cho, lúc đó cơ giới hoá thay thế yếu tố sản xuất (chi phí lao động làm giảm, chi phí vốn không tăng) Thực hiện cơ giới hoá trong trường hợp này là phải gắn liền với quan điểm thay thế của chính sách cơ giới hoá Trường hợp này chỉ xảy ra khi giá máy móc giảm xuống một cách nhân tạo nhờ chính sách tín dụng, trợ cấp, giá xăng dầu thấp …trong khi đó giá lao động tăng lên
+ Thứ bảy, việc giải quyết mối quan hệ giữa công suất hoạt động của máy móc và chi phí cho một đơn vị sản phẩm đòi hỏi cần phải giải quyết tốt mối quan hệ mật thiết giữa công suất máy và quy mô trang trại tối ưu Nghĩa
là cơ giới hoá có thể sẽ không thực hiện được trong điều kiện không thừa
Trang 8nhận việc tập trung ruộng đất hoặc không thừa nhận chính sách lao động làm thuê ở nông nghiệp, nông thôn
1.1.3 Sự cần thiết áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp
Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng vật nuôi, đảm bảo góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển toàn diện, giải phóng sức lao động cho con người đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn xã hội
Thành phố Hà Nội hiện có 29 Quận, huyện, thị xã, trong đó có 22 quận, huyện, thị xã sản xuất nông nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên 332.888,99
ha, dân số của Hà Nội trên 6,5 triệu người, trong đó 2,4 triệu dân sống ở nội thành và khoảng 4,1 triệu dân sống ở khu vực nông thôn, ngoài ra còn hàng triệu người từ các vùng miền trong cả nước đến tạm cư làm ăn sinh sống Hiện nay và trong tương lai, nông nghiệp, nông thôn vẫn là nơi sản xuất mang lại thu nhập chính cho hàng triệu nông dân ngoại thành; cung cấp nông sản thực phẩm an toàn, chất lượng cao cho thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng và là thị trường tiêu thụ lớn của cả nước
Tuy nhiên việc ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự phát, không theo quy hoạch thiếu tính đồng bộ và còn nhiều hạn chế, như trong sản xuất lúa mới tập trung chủ yếu khâu làm đất, còn khâu gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản chưa được quan tâm đầu tư nên hiệu quả thấp, thất thoát lớn Các trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản phần lớn theo hướng quảng canh thủ công chưa có sự đầu tư khép kín áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất Đặc biệt lực lượng lao động chính trong nông nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các ngành nghề khác như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nên vào thời vụ sản xuất nông nghiệp như gieo trồng
và thu hoạch đang dần dần thiếu hụt đi lực lượng lao động Nông nghiệp Hà
Trang 9Nội cần phải vươn lên, đi đầu và xứng tầm với vị trí của một Thành phố lớn trên cả nước
Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV đề ra nhiệm vụ cho Ngành Nông nghiệp & PTNT Thành phố giai đoạn 2011 -
2016: “Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa sử dụng kỹ thuật cao, có năng suất, chất lượng gắn với mục tiêu phát triển đô thị sinh thái, môi trường bền vững” Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ
ngành nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp Sớm hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung thâm canh quy mô hợp lý, gắn với công nghiệp chế biến; xây dựng các cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc tập trung theo quy hoạch Mở rộng diện tích rau an toàn, rau
có giá trị kinh tế cao; tăng diện tích trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả Tập trung đầu tư, hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và chế biến, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cho nông dân Phấn đấu tăng giá trị gia tăng nông nghiệp đạt bình quân 1,5 - 2%/năm
Để thực hiện được điều đó chúng ta phải từng bước ứng dụng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như kỹ thuật về giống, kỹ thuật về canh tác, kỹ thuật về chăm sóc, tưới tiêu, thu hoạch, bảo quản chế biến nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hoá nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu Song, thực hiện công việc này có phần không nhỏ của việc đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông nghiệp, áp dụng máy móc trang thiết bị vào thay thế công cụ và lao động phổ thông Chính vì vậy việc hình thành phát triển cơ giới hóa trong sản xuất nông
nghiệp là rất cần thiết để nông nghiệp Hà Nội phát triển hợp lý, đúng hướng,
góp phần tích cực thúc đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn của thành phố Hà Nội
Trang 101.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả cơ giới hóa trong nông nghiệp
1.2.1 Chỉ tiêu phản ánh kết quả áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp (sản xuất lúa)
- Tỷ lệ diện tích cơ giới hóa khâu gieo cấy trên tổng diện tích đất trồng lúa
- Tỷ lệ diện tích cơ giới hóa khâu phòng trừ sâu bệnh trên tổng diện tích đất trồng lúa
- Tỷ lệ diện tích cơ giới hóa khâu thu hoạch trên tổng diện tích đất trồng lúa
1.2.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp (sản xuất lúa)
- Đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế và tổ chức sản xuất (tăng năng suất, tăng thu nhập cho lao động, giảm thất thoát, giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian, đảm bảo thời vụ tăng chất lượng sản phẩm sau thu hoạch)
- Đánh giá hiệu quả văn hóa, xã hội và môi trường
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đưa cơ giới hóa vào trong sản xuất nông nghiệp
1.3.1 Điều kiện tự nhiên: như khí hậu, thời tiết, diện tích, địa hình trong đó đặc biệt là diện tích và địa hình Do vậy, phải trang bị máy móc sao cho phù họp với từng vùng và từng loại diện tích nhất định
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
- Phong tục tập quán, phương thức sản xuất: ở những nơi khác nhau thường có phong tục tập quán và phương thức sản xuất khác nhau, có những nơi rất lạc hậu mang đậm tư tưởng sản xuất tiểu nông với công cụ thô sơ và sức lao động chủ yếu là con người Do vậy phải giúp đỡ họ nhận thức được rõ vai trò của máy móc, công cụ cơ giới đối việc sản xuất nông nghiệp và tính toán kỹ điều cụ thể từng nơi, từng vùng mà trang bị máy móc, công cụ cơ giới
Trang 11cho phù hợp
- Trình độ phát triển kinh tế của nông dân nói chung và nông thôn nói riêng vẫn còn nghèo nàn lạc hậu nên ảnh hưởng đến việc mua sắm các loại máy móc, công cụ phục vụ cho việc sản xuất Do vậy cần phải có sự hỗ trợ từ phía nhà nước cho việc đầu tư máy móc
Nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn hiện nay còn dồi dào, mà việc giải quyết việc làm cho họ khó khăn, phức tạp, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài Điều này ảnh hưỏng việc đưa máy móc vào trong sản xuất bởi vì nó sẽ làm cho tình trạng việc làm ở nông nghiệp, nông thôn càng trở nên càng phức tạp hơn
- Phần lớn lao động ở nông thôn rất phong phú nhưng không qua đào tạo dẫn đến không đủ khả năng sử dụng hiệu quả trang thiết bị cơ giới hoá
1.4 Khái quát chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp
1.4.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn:
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996): đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện
nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản,
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001): đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và
đưa nông, lâm, ngư nghiệp lên một trình độ mới
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006): đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ
các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Phát triển công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ
Trang 12- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011): phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn
Từ thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm chú ý tới phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tổng thể sự phát triển chung của đất nước Nông dân là một lực lượng quan trọng của cách mạng và hiện còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, mà chính nông nghiệp, nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế
và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Đến nay mặc dù sau 25 đổi mới, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu thể hiện sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới
1.4.2 Nghị quyết số 26/NQ-TW của về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xác định rõ “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”
1.4.3 Quyết định số 443/QĐ-TTg, ngày 04/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ v/v hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vây vốn trung, dài hạn ngân hàng để thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất, kinh doanh
1.4.4 Quyết định số 497/QĐ-TTg, ngày 17/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ quyết định việc hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục
vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn:
Nhà nước hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay ngắn, trung hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam của các tổ chức, cá nhân vay mua máy móc, thiết
bị, phương tiện, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà
ở khu vực nông thôn Đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí, phương
Trang 13tiện phục vụ sản xuất, chế biến nông nghiệp và máy vi tính: mức tiền vay tối
đa bằng 100% giá trị hàng hoá (riêng đối với máy vi tính, mức tiền vay tối đa không quá 5 triệu đồng/chiếc) và được hỗ trợ 100% lãi suất vay Đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp: mức tiền vay tối đa bằng 100% giá trị hàng hoá nhưng không vượt quá 7 triệu đồng/ha và được hỗ trợ 4% lãi suất vay Đối với vật liệu xây dựng các loại để làm nhà ở: mức tiền vay tối đa bằng 100% giá trị hàng hoá nhưng không vượt quá 50 triệu đồng và được hỗ trợ 4% lãi suất vay
1.4.5 Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về Khuyến nông
1.4.6 Nghị định 61/2010/NĐ-CP ngày 04/06/2010 về “Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn: các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp (như trồng, chăm sóc rừng, sản xuất, phát triển giống cây lâm nghiệp, dịch vụ kỹ thuật trồng rừng, chế biến lâm sản, ván nhân tạo, sản xuất máy phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp) có thể
áp dụng các ưu đãi về đất đai như: miễn, giảm tiền sử dụng đất; miễn, giảm tiền thuê đất; hỗ trợ thuê đất của hộ gia đình, cá nhân; miễn, giảm tiền thuê đất khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất và hỗ trợ đầu tư như: đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường, dịch vụ tư vấn, hỗ trợ áp dụng khoa học công nghệ, cước phí vận tải
1.4.7 Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được
Trang 14giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.4.8 Thủ tưóng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 về chính sách hỗ trợ làm giảm tổn thất sau thu hoạch, đối với nông sản, thủy sản: hỗ trợ lãi suất vốn vay đối với các khoản vay dài hạn bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân qua hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để mua máy móc, thiết bị sản xuất trong nước nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch Các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư các dự án xây dựng kho dự trữ 4 triệu tấn lúa, kho lạnh bảo quản rau quả, thủy sản kho tạm trữ cà phê theo quy hoạch được miễn tiền thuê đất theo Quyết định số 57/2010/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ; được Nhà nước hỗ trợ 20% kinh phí giải phóng mặt bằng, 30% kinh phí hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu đi vào hoạt động và giảm
50% trong 2 năm tiếp theo Các dự án đầu tư vào lĩnh vực chế tạo máy móc
nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch được hưởng chính sách đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định hiện hành Áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu 0% đối với các máy móc, thiết bị sản xuất nông nghiệp trong nước chưa chế tạo được 1.4.9 Thông tư số 62/2010/TT-BNNPTNT, ngày 28/10/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Quy định danh mục các loại máy móc, thiết bị được hưởng chính sách theo Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg, ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản: Các tổ chức, cá nhân sản xuất máy móc, thiết bị giảm tổn thất sau thu hoạch tự xác định giá trị sản xuất trong nước và đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để công bố Danh mục máy móc, thiết bị nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch hàng năm có xem xét, bổ sung theo yêu cầu thực tế các loại máy móc, thiết bị được hưởng các chính sách qui
Trang 15định tại Điều 1 và Điều 2 của Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15 tháng
10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản
1.4.10 Chương trình hành động 02/CTr-TU, ngày 31/10/2008 của Thành
ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW Hội Nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
1.4.11 Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chương trình 02/CT-TU về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nhân dân giai đoạn 2011-2015; Hội đồng nhân dân đã ban hành Nghị quyết 03/NQ-HĐND; UBND đã ban hành Quyết định số 2333/QĐ-UBND về xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn 2030 1.4.12 Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội đến năm 2020 đã được xây dựng hiện đang chờ UBND Thành phố phê duyệt để triển khai tổ chức thực hiện
1.4.13 Căn cứ vào công văn số 3433 UBND-NN ngày 11/5/2011 của UBND Thành phố Hà Nội về việc giao cho Sở Nông nghiệp & PTNT xây dựng đề án Phát triển cơ giới hóa nông nghiệp Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020
1.4.14 Quyết định số 1882/QĐ-UBND ngày 07/5/2012 của UBND Thành phố về việc phê duyệt nhiệm vụ lập Đề án “Phát triển cơ giới hóa nông nghiệp TP Hà Nội giai đoạn 2012 - 2016 định hướng đến năm 2020”: Đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, giải phóng sức lao động, nâng cao sức cạnh tranh của các loại sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần đẩy mạnh
sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Hà Nội, nâng cao đời sống cho nông dân Ưu tiên đầu tư trang thiết bị máy móc cơ điện trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, bảo quản nông lâm sản, giết mổ gia súc gia cầm cho các
Trang 16vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm; tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho các hộ dân, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH - HĐH, từng bước nâng cao đời sống cho nông dân góp phần thiết thực vào chương trình xây dựng nông thôn mới
1.5 Khái quát về tình hình áp dụng cơ giới hóa ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình cơ giới hóa nông nghiệp chung của cả nước
a Kết quả cơ giới hóa nông nghiệp của cả nước
*Trong sản xuất nông nghiệp: Đến cuối năm 2011, cả nước có gần 500
nghìn máy kéo các loại, tổng công suất trên 500 triệu mã lực (HP), 17.992 máy gặt lúa, 580.000 máy tuốt lúa Trang bị động lực trong nông nghiệp cả nước đạt 1,16 HP/ha canh tác (Thái Lan đạt 4 HP/ha; Hàn Quốc 4,2 HP/ha; Trung Quốc 6,1 HP/ha)
Mức độ cơ giới hóa các khâu: khâu làm đất 80%; gieo trồng và cấy 25%; chăm sóc (chủ yếu là phun thuốc bảo vệ thực vật) 60%; tưới nước chủ động 90%; thu hoạch 20%; sấy thóc 30%; chuồng trại công nghiệp và bán công nghiệp trong chăn nuôi 30%; giết mổ và chế biến công nghiệp 14%
*Trong sản xuất lâm nghiệp: Cơ giới hóa trong sản xuất cây giống 70%
(chủ yếu làm đất, tạo bầu), trong khai thác rừng 80% (chủ yếu chặt cây, bốc sếp, vận chuyển gỗ)
*Trong nuôi trồng thủy sản: Cơ giới hóa các khâu sơ chế, phối trộn
thức ăn, sục khí, bơm cấp thoát nước
*Hệ thống dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp: Hiện có 1.267 cơ sở trên
18.000 người chuyên kinh doanh và 1.218 cơ sở với 14.146 người chuyên sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành máy móc, thiết bị Các dịch vụ này phần lớn do tổ hợp tác xã và tư nhân đảm nhiệm, chiếm khoảng 80% số cơ sở dịch vụ
Trang 17*Chủ sở hữu máy móc nông nghiệp: Trước đây chủ sở hữu máy móc
nông nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh, nay đã chuyển dần sang sở hữu tư nhân, hộ gia đình Hiên tại, hộ gia đình sở hữu trên 90% loại máy kéo có công suất trên 35 HP, gần 100% loại máy kéo có công suất từ 12 -
14 HP Bình quân 100 hộ nông dân có 1,1 máy kéo lớn (trên 15 HP), 2,4 máy kéo nhỏ
Nhìn chung cơ giới hóa nông nghiệp ở nước ta còn thấp, chưa đồng bộ, phát triển chưa toàn diện và còn chênh lệch rõ rệt giữa các vùng, miền Nguyên nhân chủ yếu là do: Quy mô đồng ruộng nhỏ, phân tán, manh mún Ngành cơ khí nông nghiệp Việt Nam chưa phát triển Chưa có sự gắn kết giữa nhà cung cấp dịch vụ và người mua và sử dụng máy Chất lượng lao động nông thôn thấp Đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp nói chung và cơ khí nông nghiệp nói riêng còn quá thấp, không đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới Người dan tự đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị nông nghiệp Cơ chế, chính sách còn thiếu và nhiều bất cập
b Định hướng phát triển cơ giới hóa nông nghiệp Việt Nam đến 2020
Để đạt mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành nước công nghiệp: GDP nông nghiệp đạt 10 - 13%, thu nhập của người dân nông thôn tăng gấp trên 2,5 lần so với hiện nay, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội nông thôn thì cần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, trong đó phát triển cơ giới hóa nông nghiệp là mắt xích quan trọng
Mức độ cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 cần đạt như sau:
- Trồng trọt: Làm đất > 95%; gieo trồng, cấy > 50%; chăm sóc > 80%, tưới chủ động > 95%, thu hoạch 50%, sấy hạt 50%
- Chăn nuôi: Chồng trại > 50%; giết mổ, chế biến công nghiệp 37%
Trang 181.5.2 Thực trạng cơ giới hóa nông nghiệp Hà Nội
a Thực trạng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp
*Lĩnh vực trồng trọt:
- Cây lúa: Đầu tư cơ giới hóa ở 4 khâu:
+ Làm đất: có 4.737 máy kéo các loại Trong đó 1.929 máy Việt Nam (40,6%); 2.595 máy Trung Quốc (54,8%); 208 máy Nhật Bản (4,4%) còn lại
11 máy là các nước khác Tổng công suất khoảng 117.350 HP, trong đó 2.358 máy kéo nhỏ công suất < 20 HP chiếm 63,7%; 2.240 máy kéo trung bình công suất từ 22 – 35 HP chiếm 34,4%; 139 máy kéo lớn hơn 45 HP chiếm 2% Diện tích đất trồng lúa được làm bằng máy 71.200 ha, đạt 69,2% Nông dân
sở hữu 4.632 máy chiếm 97,8%; Hợp tác xã 105 máy chiếm 2,2%
+ Gieo cấy: có 1.241 dụng cụ sạ hàng, trong đó 71 chiếc sạ 4 hàng, 830 chiếc sạ 6 hàng, 145 chiếc sạ 8 hàng và 04 máy cấy Diện tích sạ hàng đạt 14.284,7 ha (đạt 7,1%) Trong đó Hợp tác xã có 1.091 chiếc (87,9%); nông dân 150 chiếc (12,1%)
+ Phòng trừ sâu bệnh: có 520 máy phun thuốc (chạy bằng điện 312 máy chiếm 60%, chạy bằng động cơ 208 máy chiếm 40%) Xuất xứ: Nhật Bản 270 máy chiếm 52%; Trung Quốc 156 máy chiếm 30%; Việt Nam 94 máy chiếm 18% Diện tích lúa được phun thuốc phòng trừ sâu bệnh bằng máy 10.400 ha, đạt 10,2% Trong đó nông dân có 420 máy chiếm 81%, Hợp tác xã
99 máy chiếm 19%, doanh nghiệp 01 máy
Trang 19máy (29%); Việt Nam 1.281 máy (71%) Sở hữu: Nông dân 240 máy chiếm 60,7%; Hợp tác xã 104 máy chiếm 26,3%; doanh nghiệp 53 máy chiếm 13%
Máy tuốt lúa: có 2.336 máy Xuất xứ Việt Nam 2.080 máy chiếm 89%, Trung Quốc 188 máy chiếm 8%; Nhật Bản 68 máy chiếm 3% Trong đó nông dân có 2.236 máy chiếm 95,7%; hợp tác xã 72 máy chiếm 4,3%
- Cây rau: Đầu tư ở 3 khâu:
+ Làm đất: có 194 máy Xuất xứ Việt Nam 89 máy (46%); Trung Quốc
93 máy (48%); Nhật Bản 23 máy (12%) Các máy đều có công suất nhỏ 8HP - 10HP Diện tích đất trồng rau được làm bằng máy 4.600 ha, đạt 12,6% Nông dân có 168 máy chiếm 86,4%; Hợp tác xã 26 máy chiếm 13,6%
+ Tưới nước: Diện tích nước tiết kiệm bán tự động 4.600 ha chiếm 16,2% + Bảo vệ thực vật: có 230 máy của Nhật Bản, Trung Quốc Diện tích rau được phun thuốc bằng máy 4.600 ha chiếm 16,2%; trong đó nông dân sở hữu 150 máy (65,2%); Hợp tác xã 80 máy (34,7%)
- Cây hoa: Đầu tư cơ giới hóa ở 3 khâu:
+ Làm đất: có 11 máy kéo, công suất nhỏ 8HP - 10HP Diện tích được làm bằng máy 220 ha (đạt 13%) Nông dân sở hữu 100%
+ Tưới nước: diện tích tưới nước tiết kiệm 154 ha chiếm 8,4%
+ Bảo vệ thực vật: có 58 máy, xuất xư Nhật Bản Diện tích hoa được phun thuốc bằng máy 284 ha chiếm 72,5% Nông dân sở hữu 52 máy (92,4%); hợp tác xã 6 máy (chiếm 7,6%)
- Cây ăn quả: Đầu tư cơ giới hóa ở 2 khâu (bảo vệ thực vật và tưới nước tiết kiệm) với 05 đối tượng cây ăn quả:
Trang 20+ Cây bưởi: có 12 máy phun thuốc phòng trừ sâu bệnh Xuất xứ Trung Quốc Diện tích bưởi được phun thuốc bằng máy 375,6 ha (đạt 22,6%) Tưới nước tiết kiệm 62 ha (đạt 2,5%) Trong đó sở hữu của nông dân 100%
+ Cây cam: có 12 máy phun thuốc phòng trừ sâu bệnh Xuất xứ Trung Quốc và Nhật Bản Diện tích cam được phun thuốc bằng máy 360 ha (đạt 22,5%) Tưới nước tiết kiệm 112 ha (đạt 13,8%) Trong đó nông dân có 19 máy (chiếm 86,4%) và 100% hệ thống tưới nước tiết kiệm; Hợp tác xã có 3 máy (chiếm 13,6%)
+ Cây nhãn: có 10 máy phun thuốc phòng trừ sâu bệnh Xuất xứ Trung Quốc và Nhật Bản Diện tích nhãn được phun thuốc bằng máy 200 ha (đạt 10,2%) Tưới nước tiết kiệm 134 ha (đạt 6,8%) Trong đó nông dân sở hữu 100%
+ Cây thanh long: có 2 máy phun thuốc phòng trừ sâu bệnh Xuất xứ Trung Quốc và Nhật Bản Diện tích được phun thuốc bằng máy 40 ha (đạt 80%) Tưới nước tiết kiệm 45 ha (đạt 90%) Trong đó nông dân sở hữu 100%
+ Cây chuối: có 3 máy làm đất công suất 10HP của Nhật Bản, 10 máy phun thuốc phòng trừ sâu bệnh xuất xứ Trung Quốc và Nhật Bản Diện tích được trồng bằng bằng máy 140 ha (đạt 8,4%), phun thuốc bằng máy 200 ha (đạt 11,9%) Trong đó nông dân sở hữu 100%
- Cây chè: đầu tư cơ giới hóa 3 khâu: bảo vệ thực vật, tưới nước tiết kiệm và sơ chế Có 25 máy phun thuốc phòng trừ sâu bệnh của Nhật Bản, phun thuốc phòng trừ sâu bênh 500 ha, chiếm 16,7% 03 hệ thống tưới nước tiết kiệm tưới cho 03 ha chè chiếm 0,1% diện tích trồng chè 405 máy vò chè,
414 máy sao chè chiếm 10,1% số hộ trồng chè; 20 cơ sở sản xuất chè xanh, chè hương các loại Diện tích chè được phun thuốc bằng máy 500 ha chiếm 16,7%; tưới nước tiết kiệm 3 ha chiêm 0,1 % và 3.000 tấn chè khô thành phẩm được sơ chế
Trang 21*Lĩnh vực chăn nuôi:
- Chăn nuôi bò sữa: Đầu tư cơ giới hóa ở 3 khâu:
+ Cắt cỏ: có 1.365 máy Trong đó 800 máy Việt Nam (chiếm 59%); Nhật Bản 565 máy (chiếm 41%)
+ Thái cỏ: 1.365 máy Trong đó xuất xứ Việt Nam 1.589 máy (chiếm 70%); Trung Quốc 680 máy (chiếm 30%) Lượng cỏ xanh được thái đáp ứng khoảng 78,4% nhu cầu thức ăn thô xanh cho bò sữa Nông dân sở hữu 1.150 máy chiếm 85%, doanh nghiệp có 215 máy chiếm 15%
+ Vắt sữa: có 290 máy Số bò vắt sữa bằng máy 1.160 con (đạt 16,5%), lượng sữa bò vắt bằng máy 2.982 tấn (đạt 18,6%) Sở hữu hộ gia đình 156 máy chiếm 53,7%; chủ trang trại 33 máy chiếm 11,4%; tập thể quốc doanh
101 máy chiếm 34,9%
- Chăn nuôi lợn:
+ Đầu tư xây dựng 533 chuồng nuôi 191.800 con lợn, trong đó 105 chuồng nuôi công nghiệp nuôi 42.000 con chiếm 2,6%; 428 chuồng nuôi bán công nghiệp nuôi 148.800 con chiếm 9,2% Sở hữu chuồng nuôi chủ yếu là nông dân và chủ trang trại 100% Các chuồng nuôi đều nằm ngoài khu dân cư
+ Máy nghiền thức ăn: có 106 máy chiếm 20%
- Chăn nuôi gà: có 636 chuồng nuôi 2.775.000 con; các chuồng nuôi đều xa khu dân cư Trong đó có 231 chuồng nuôi công nghiệp nuôi 1.155 nghìn con chiếm 9,1%; 405 chuồng bán công nghiệp nuôi 1.620 nghìn con chiếm 9,3% Sở hữu chuồng nuôi chủ yếu là nông dân và chủ trang trại 100%
*Lĩnh vực thủy sản:
- Máy sục khí: có 536 máy sục khí cho 282 ha, chiếm 26,9% diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh; 2,9% diện tích nuôi trồng thủ sản xuất thành phố Sở hữu máy sục khí chủ yếu là nông dân và chủ trang trại
Trang 22- Máy đùn thức ăn: có 137 cái chiếm 1,4% diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh
b Hệ thống dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp:
Các huyện sản xuất nông nghiệp đều có cơ sở chuyên kinh doanh và các cơ sở chuyên sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành máy móc, thiết bị cơ giới hóa nông nghiệp Các dịch vụ này phần lớn do tư nhân đảm nhiệm
c Đào tạo nhân lực:
Trung tâm khuyến nông Hà Nội phối hợp với các quận, huyện, thị xã tổ chức 15 lớp tập huấn với 500 lượt người tham dự về công tác quản lý và kỹ thuật vận hành, bảo dưỡng máy, thiết bị cơ giới hóa nông nghiệp
d Chính sách cơ giới hóa nông nghiệp:
Trong 3 năm (2009 - 2011) ngân sách thành phố, huyện hỗ trợ khoảng
04 tỷ đồng cho các hộ dân đầu tư mua sắm máy làm đất, dụng cụ sạ hàng, máy gặt đập, máy phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, máy cắt cỏ, máy thái cỏ, máy vắt sữa
Trang 23Chương 2 Đặc điểm cơ bản huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu
Mỹ Đức là huyện nằm phía Tây Nam Thành phố Hà Nội, gồm 22 xã và thị trấn, trong đó có 12 xã đồng bằng dọc sông Đáy, 9 xã trung du và 1 xã miền núi Trung tâm huyện lỵ cách Thành phố Phủ Lý 37 km, Hà Đông 38
km, cách trung tâm thành phố 54 km về phía Tây Nam, điều kiện giao lưu với các địa phương này tương đối thuận lợi Toàn huyện có 21 xã và 1 Thị trấn
Toạ độ địa lý từ: 20o35’40” đến 20o43’40” vĩ độ bắc và 105o38’44” đến
105o49’33” kinh độ đông
+ Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ;
+ Phía đông có sông Đáy là gianh giới tự nhiên với huyện ứng Hoà; + Phía tây giáp huyện Lương Sơn, huyện Lạc Thủy (Tỉnh Hoà Bình); + Phía nam giáp huyện Kim Bảng (Tỉnh Hà Nam)
số cao nhất là xã Phúc Lâm (1605người/km2); xã có mật độ thấp nhất là xã An Phú (328 người/km2) Ở một số vùng, do sự chi phối của nền kinh tế thị
Trang 24trường nên đã hình thành các tụ điểm có ưu thế hơn về phát triển kinh tế như
xã Hương Sơn, thị tứ An Mỹ (xã An Mỹ), Phúc Lâm, Hợp Tiến, đây là các khu vực có dịch vụ thương mại tương đối phát triển, là các điểm giao lưu hàng hoá của nhiều cụm dân cư và các vùng lân cận, mang sắc thái của một
đô thị Những khu vực này ngày càng được phát triển cùng với kinh tế dịch vụ
đang và sẽ trở thành các thị trấn, thị tứ trong tương lai Nhu cầu mở rộng quy
mô các điểm dân cư tập trung như trên cũng cần phải được tính đến
Năm 2010 huyện Mỹ Đức có 172 ngàn người với 43.950 hộ, trong đó dân số thành thị 6.591 người, chiếm 3,82%, dân số nông thôn 165.409 người, chiếm 96,18% dân số toàn huyện
Thời gian qua, do làm tốt công tác kế hoạch hoá gia đình, nên đã giảm được tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 1,05% (năm 2005) xuống còn 0,93%(năm 2009), chất lượng dân số và tuổi thọ bình quân ngày càng tăng
- Về lao động, tính đến năm 2010, số người trong độ tuổi lao động của huyện có 88.734 người, chiếm 51,9% dân số, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 62,1%; công nghiệp - xây dựng chiếm 10%; dịch vụ thương mại chiếm 27,9% Nhìn chung số lao động tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế -
xã hội trên địa bàn huyện hiện nay được sử dụng chưa thật hợp lý Tình trạng thiếu việc làm, năng suất lao động thấp vẫn còn phổ biến
Tính đến tháng 12 năm 2011 dân số cả huyện là 188.732 người, tổng số
hộ là 37.459 hộ Số người trong độ tuồi lao động là 107.521 người, trong đó lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 64.489 người Dân tộc sinh sống chủ yếu là dân tộc Kinh Bình quân mỗi hộ có từ 4 - 5 người, tuy nhiên số lao động bình quân trong mỗi hộ chỉ khoảng 2 lao động/hộ Chi tiết từng xã được thể hiện ở bảng sau:
Trang 25Bảng 2.1 Hiện trạng dân số, lao động huyện Mỹ Đức năm 2011
STT Xã, phường
Tổng
số nhân khẩu
Số người trong độ tuổi lao động
Tổng
số
Tham gia sản xuất nông nghiệp
Tham gia sản xuất công nghiệp
Tham gia dịch
vụ
Tham gia các ngành nghề khác
Trang 26Huyện Mỹ Đức là huyện đông dân, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh hơn mức chung của toàn thành phố Đây là một thuận lợi về khả năng cung cấp lực lượng lao động cho phát triển kinh tế xã hội của huyện, cũng như tạo
ra một thị trường tiêu thụ hàng hóa tiêu dùng rộng lớn so với các địa phương khác trong thành phố Tuy vậy, đây cũng là một thách thức lớn cho huyện trong việc phát triển khu dân cư nhà ở, khu đô thị cũng như vấn đề an ninh, trật tự an toàn xã hội
Trình độ dân trí và tay nghề của người lao động hiện tại chưa cao, tỷ
lệ lao động qua đào tạo đạt thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu để huyện chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh sang các ngành công nghiệp và dịch vụ
b Kinh tế
Kinh tế huyện Mỹ Đức thuận lợi phát triển mạnh theo hướng tổng hợp bao gồm cả công nghiệp, dịch vụ, trao đổi mua bán và trung chuyển hàng hóa, phát triển du lịch, đồng thời cũng có nhiều điều kiện phát triển nông nghiệp trồng lúa, chăn nuôi gia súc, gia cầm và phát triển trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả cũng như rau mầm có giá trị kinh tế cao Thứ tự ưu tiên phát triển kinh tế của huyện:
1 Sản xuất nông nghiệp
số hộ có thu nhập cao ngày càng nhiều Đời sống nhiều hộ gia đình được cải
thiện (cả về vật chất lẫn tinh thần), tỷ lệ hộ khá, giàu tăng lên rõ rệt
Trang 27Biểu 2.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất 2005 - 2011
Đơn vị: tỷ đồng
trưởng (%)
2005 2006 2011
I Giá trị sản xuất (giá 1994) 759,2 867,20 1666 10,34
1 Nông lâm nghiệp 403,30 410,60 481 3,85
1 Nông lâm nghiệp 394,36 418,11 548
2 Công nghiệp - xây dựng 128,36 153,45 361
3 Dịch vụ thương mại 158,97 186,98 508
Nông lâm nghiệp 57,85 55,12 39,90
Công nghiệp - xây dựng 18,83 20,23 25,00
Dịch vụ thương mại 23,32 24,65 35,10
Nguồn: Số liệu niên giám thống kê huyện Mỹ Đức
Trong giai đoạn 2001 - 2011 kinh tế của huyện đã có bước phát triển khá, giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân 9,2%/năm; trong đó giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước (giai đoạn 2001 - 2005 tăng 9,0%/năm; giai đoạn từ
Trang 282006 đến 2011 tăng bình quân 10,34%/năm Thu nhập bình quân trên đầu người tăng từ 2,59 triệu đồng/người năm 2000 lên 3,92 triệu đồng/người năm
2005 và đến năm 2011 đạt 8,1 triệu đồng/người
- Trong 5 năm qua, tuy ngành Công nghiệp, Dịch vụ, Thương mại của huyện phát triển với tốc độ khá cao (tốc độ tăng trưởng ngành du lịch thương mại đạt 61%/năm, ngành công nghiệp xây dựng đạt 34,66%/năm); song đến nay nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản) vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế (năm 2011 giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 39,9% tổng giá trị sản xuất của huyện) Do đó việc bố trí ổn định đất cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn huyện trong những năm tới cần phải được quan tâm
* Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong 10 năm qua cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Tỷ trọng giá trị sản xuất khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản giảm từ 65,4% năm 2000 xuống 57,85% năm 2005 và đến năm 2011 còn 39,9% (bình quân mỗi năm giảm 2,9%/năm) Tỷ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 16,7% năm 2000 lên 18,8% năm 2005 và năm 2009 đạt 25,0% (bình quân mỗi năm tăng 1%/năm) Tỷ trọng ngành Dịch vụ - Thương mại tăng từ 17,9% năm 2000 lên 23,32% năm 2005 và năm 2010 đạt 35,1%
Như vậy, mặc dù cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch tích cực, song còn chậm
Trang 29quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI và đặc biệt là thực hiện có hiệu quả
về đổi mới cơ cấu giống, mùa vụ, tăng cường đầu tư thâm canh, ứng dụng TBKT, đưa các giống cây, con có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với thị trường vào sản xuất, giá trị hàng hoá nông nghiệp tăng nhanh Đưa hệ số gieo trồng trên đất ruộng tăng từ 2,2 lần (năm 2005) lên 2,8 lần (năm 2008);
Tính đến 31/12/2009, toàn huyện đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng được 1.636 ha trong đó:
- Chuyển sang đất thuỷ sản kết hợp với chăn nuôi và trồng trọt đạt 1.542,65ha
- Chuyển sang đất trồng cây lâu năm kết hợp với chăn nuôi đạt 87ha
- Chuyển sang chăn nuôi tập trung đạt 18,6ha
* Sản xuất lương thực: 5 năm qua diện tích gieo trồng lúa cả năm tăng 470,5ha, năm 2005 tổng diện tích trồng lúa cả năm có 14.659,9ha, đến năm
2009 diện tích là 15.130,4ha; năm 2010 là 15.129 ha; năm 2011 là 15.431,04
ha Diện tích trồng ngô biến động không nhiều, năm 2004 có 385,6ha, đến năm 2009 là373ha Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 2009 đạt 96.365,5 tấn (trong đó sản lượng thóc 93.202 tấn, ngô 3163,5 tấn), bình quân đầu người đạt 524kg/người/năm, an ninh lương thực được đảm bảo
* Sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày: Cây đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày chính của huyện, diện tích trong những năm qua không ngừng tăng lên Năm 2004 có 4.405ha, sản lượng đạt 6.415tấn; đến năm 2011 diện tích đạt 5.231ha, sản lượng đạt 8,839 tấn
* Vùng cây ăn quả diện tích tăng nhanh trong những năm gần đây, năm
2007 toàn huyện có 102,4ha, đến năm 2011 diện tích đạt 349,7 ha
b Chăn nuôi
Tiếp tục có bước phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ
Trang 3030,4% năm 2005 lên 37,8% năm 2010) Trong đó đàn bò tăng khá nhanh, năm
2005 mới có 10959 con thì đến năm 2009 đạt 11.642 con đạt tốc độ tăng 7,4%/năm, đàn bò tăng mạnh do chương trình cải tạo đàn bò thịt được quan tâm; Đàn lợn trong giai đoạn 2004-2009 phát triển không ổn định do bệnh dịch và thị trường không ổn định Năm 2004 tổng đàn có 89.073 con năm
2007 có 128.893 con, năm 2009 chỉ còn 99780 con, nhưng đến năm 2011 có 108.247 con Trên địa bàn huyện đã có một số hộ chăn nuôi theo phương thức tập trung với quy mô lớn (trên 100 con/lứa) Đàn gia cầm trong giai đoạn
2004 -2009 do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nên tổng đàn ngày càng giảm, năm 2005 có 698 ngàn con thì đến năm 2009 còn 621 ngàn con, năm
2011 tổng đàn gà tăng lên 11.673.629 con
c Nuôi trồng thuỷ sản
Đây là thế mạnh của huyện Tính đến thời điểm 31/12/2011, toàn huyện
đã chuyển được 1.542,65ha từ đất lúa trũng hiệu quả kinh tế thấp sang mô hình nuôi thuỷ sản kết hợp với trồng trọt và chăn nuôi cho hiệu quả kinh tế cao:
Nhìn chung, các mô hình trên đều cho hiệu quả kinh tế cao, thu nhập bình quân 40-60 triệu đồng/ha/năm, cá biệt có những trang trại cho thu nhập 80-90 triệu đồng/ha/năm
d Lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện có 3.712,67 ha, chiếm 16,41% diện tích tự nhiên, trong đó có 453 ha là rừng sản xuất (12,20 % tổng diện tích rừng) và 3.259,67 ha rừng đặc dụng (87,80 % diện tích rừng) Rừng phân bố chủ yếu ở các xã: Hợp Tiến, Hương Sơn, An Phú, Tuy Lai,
Diện tích rừng của huyện chủ yếu là rừng đặc dụng, rừng sản xuất chủ yếu là mới trồng sản lượng gỗ khai thác còn hạn chế do vậy nguồn thu của người dân trên địa bàn huyện từ lâm nghiệp rất thấp, không đáng kể
Trang 31Tóm lại: sản xuất nông nghiệp của Mỹ Đức, mặc dù không ít khó khăn
và hạn chế, nhưng đã có những tiến bộ nhất định trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là mô hình vườn - ao - chuồng, vườn đồi đã và đang phát triển Trong tương lai, khi quy mô diện tích đất sản xuất nông - lâm nghiệp bị thu hẹp do chuyển sang các mục đích sử dụng khác (công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ du lịch…), cần phải khoanh định duy trì một quỹ đất nông - lâm nghiệp nhất định, kết hợp với việc bố trí cây trồng, vật nuôi hợp lý nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nâng cao giá trị sản xuất, giữ vững và ổn định lương thực
2.2.2 Sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đã có bước phát triển Giai đoạn 2000-2005, tốc độ tăng trưởng đạt 9,9%/năm; giai đoạn 2005-2011 đạt 34,66%/năm Năm 2011, cơ cấu kinh tế của ngành chiếm 25% trong tổng giá trị gia tăng của toàn huyện
Sản xuất công nghiệp của huyện nhìn chung vẫn mang tính thủ công là chính, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, năng suất lao động thấp Sản phẩm chính của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Mỹ Đức: Dệt khăn mặt các loại, khai thác
Trang 322.2.3 Thương mại và du lịch
Những năm qua hoạt động thương mại của Mỹ Đức có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng ngành giai đoạn 2006-2011 đạt 61,12%/năm Tỷ trọng ngành trong cơ cấu nền kinh tế cũng tăng từ 23,32% năm 2005 lên 35,1% năm 2011
a Thương mại
Quy mô vẫn còn nhỏ lẻ, chủ yếu là bán lẻ, chưa có các kênh bán buôn
ra thị trường lớn Hiện tại huyện có có 1 trung tâm thương mại (thị trấn Đại Nghĩa) 2 chợ cấp vùng (xã Hương Sơn, xã An Mỹ) và 9 chợ ổn định, 11 chợ tạm cho 22 đơn vị hành chính, một số xã chưa có chợ gây hạn chế đến lưu thông hàng hoá, đặc biệt là đối với nông sản
Trong những năm qua số hộ làm dịch vụ thương mại ở huyện tăng nhanh, từ 1349 hộ năm 2000 lên 1.774 hộ năm 2011, thu hút trên 3000 lao động Giá trị sản lượng của ngành thương mại tăng từ 160,5 tỷ đồng năm
2005 lên 569 tỷ đồng vào năm 2011
b Du lịch
Với lợi thế là địa phương có nhiều thắng cảnh nổi tiếng như Chùa Hương, điểm du lịch hồ Quan Sơn, nên trong những năm gần đây du lịch của huyện phát triển khá nhanh Số lượng khách đến Chùa Hương hàng năm không ngừng tăng lên Năm 2002 số lượt khách đến là 340.300 lượt thì đến năm 2005 tăng lên 370.400 lượt Năm 2011 đạt trên 1,23 triệu lượt du khách (doanh thu từ du lịch đạt 381 tỷ đồng)
Điểm du lịch Hồ Quan Sơn có cảnh quan thiên nhiên đẹp nhưng hạ tầng còn kém, các hình thức đầu tư khai thác còn đơn điệu
Trang 33Trong tương lai, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp, sự phát triển của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và phát triển du lịch thương mại, thì các hoạt động thương mại - du lịch của huyện
sẽ được phát triển với tốc độ khá cao
+ Địa hình đồng bằng gồm 12 xã, thị trấn ven sông Đáy Địa hình khá bằng phẳng và hơi dốc theo hướng từ Đông sang Tây, rất thuận lợi cho việc xây dựng công trình thuỷ lợi tự chảy dùng nguồn nước sông Đáy tưới cho các cánh đồng lúa thâm canh Độ cao địa hình trung bình dao động trong khoảng từ 3,8 đến 7 m so với mặt biển Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành các hồ đầm nhỏ, tiêu biểu là Đầm Lai, Thài Lài
Phần tiếp giáp giữa các dãy núi phía Tây và đồng bằng phía Đông là vùng úng trũng: vùng này có nhiều khu vực địa hình thấp tạo thành các hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai , hồ Cầu Giậm, Bán Nguyệt, Ngái Lạng, Đồng Suối, Thung Cấm với diện tích hàng ngàn ha Khu vực này có nhiều lợi thế phát triển du lịch, nuôi thả thuỷ sản kết hợp trồng một số loại cây
ăn quả
Trang 34a Khí hậu thủy văn
*Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia
thành 2 mùa khá rõ nét với các đặc trưng khí hậu chính như sau:
- Nhiệt độ không khí: Bình quân năm là 23,10C, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 13,60C (vào tháng 1) Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là tháng 7 trên 33,20C, mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng
3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10
- Lượng mưa và bốc hơi:
+ Lượng mưa bình quân năm là 1.520,7 mm, phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85,2 % tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336,1mm Mùa khô từ cuối tháng 10 đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 17,5 - 23,2mm
+ Lượng bốc hơi: Bình quân năm là 859 mm, bằng 56,5% so với lượng mưa trung bình năm
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 80 - 89%, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn
- Sương muối hầu như không có; mưa đá rất ít khi xảy ra Thông thường cứ 10 năm mới quan sát thấy mưa đá 1 lần
Thuỷ văn: Chế độ mưa theo mùa ảnh hưởng rõ nét đến chế độ thuỷ văn
của các sông chính trong khu vực
+ Hệ thống sông Đáy: là một phân lưu của sông Hồng, đoạn sông chảy qua địa phận huyện Mỹ Đức dài khoảng 42 km Độ uốn khúc của sông lớn,
Trang 35sông bị bồi lấp mạnh Về mùa khô, nhiều đoạn sông chỉ như một lạch nhỏ Tuy nhiên, lưu lượng đủ cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
+ Sông Thanh Hà bắt nguồn từ vùng núi đá huyện Lương Sơn, Kim Bôi (Hoà Bình) và chảy vào sông Đáy tại cửa cầu Hội Xá xã Hương Sơn Sông có chiều dài 28 km và diện tích lưu vực 390 km2 Do không có đê nên sông thường gây ngập úng cho các khu vực 2 bên bờ trong mùa mưa
Ngoài ra trên địa bàn của huyện còn có sông Mỹ Hà và các kênh lớn như Kênh tiêu 7 xã, kênh Phù Đổng dọc trục huyện …
Huyện Mỹ Đức nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 26oC Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.749,50 mm nhưng phân bố không đều, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung vào tháng 7, 8, 9 Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa thường không đáng kể Độ ẩm trung bình năm là 84,5% và sự chênh lệch giữa các tháng khá lơn, tháng cao nhất (tháng 3) là 90% và tháng thấp nhất (tháng 12) là 30% Chế độ thủy văn trên địa bàn huyện được chi phối bởi hệ thống sông suối và hồ đập Sông Đáy chảy qua huyện 10km ảnh hưởng quan trọng đối với hiện tượng thủy văn của các xã ở rìa phía Đông chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam sang tỉnh Hà Nam Trên địa bàn còn có 6 hồ và khoảng 15 con suối, đây là nguồn thủy văn quan trọng cung cấp cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của dân cư
Điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho Mỹ Đức những thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đang dạng hóa các loại vật nuôi, cây trồng Hệ thống sông suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sản xuất và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển du lich
Trang 36b Đất đai, tài nguyên
Trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau :
1 Đất phù sa không được bồi P 5526,49 23,88
9 Đất đen trên sản phẩm bồi tụ cacbonat RDv 30,00 0,13
Nguồn: Trung tâm khuyến nông Hà Nội
- Đất phù sa được bồi hàng năm (ký hiệu Pb)
Diện tích 211,79 ha chiếm 0.91% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân
bố ở ngoài đê thuộc các xã Đốc Tín, Vạn Kim, Phù Lưu Tế, Phùng Xá, Xuy
Trang 37Xá, Lê Thanh, An Mỹ và Bột Xuyên, một phần diện tích đất bị ngập nước vào mùa mưa
Đây là loại đất tốt, có độ phì cao, thích hợp với phần lớn các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu đỗ, lạc, dâu
- Đất phù sa không được bồi (ký hiệu P)
Diện tích 5.526,49 ha chiếm 23.88% diện tích tự nhiên toàn huyện Phân bố tập trung ở các xã Thượng Lâm, Mỹ Thành, Tuy Lai, Bột Xuyên, An
Mỹ, Lê Thanh, Hồng Sơn, Xuy Xá, Phùng Xá, Phù Lưu Tế, Hùng Tiến, Đốc Tín và Vạn Kim Trên loại đất này phần lớn diện tích đã được khai thác trồng lúa nước hai vụ, một phần diện tích trồng các loại cây trồng cạn ngắn ngày như ngô, mía, đậu đỗ
- Đất phù sa glây (ký hiệu Pg)
Diện tích 5.115,24 ha chiếm 22.10% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở những nơi địa hình thấp, khó thoát nước,tập trung ở các xã Đồng Tâm, Thượng Lâm, Hồng Sơn, Hợp Tiến, Hợp Thanh, TT Đại Nghĩa, Đại Hưng, An Tiến, Hùng Tiến, An Phú, Vạn Kim và Hương Sơn, phần lớn diện tích loại đất này đều đã được khai thác trồng hai vụ lúa nước có tưới
Diện tích 33,49 ha chiếm 0.14% diện tích tự nhiên toàn huyện phân bố
ở các xã Thượng Lâm, Đồng Tâm, Tuy Lai và An Phú
Do phân bố ở địa hình cao, thành phần cơ giới tầng mặt nhẹ nên hiện tại phần lớn loại đất này được trồng các loại cây màu và cây trồng cạn ngắn ngày
Trang 38- Đất đỏ vàng trên đá sét (ký hiệu Fs)
Diện tích 201,50 ha chiếm 0.78% diện tích tự nhiên toàn huyện có mặt
ở các xã Hồng Sơn và Hợp Tiến Là sản phẩm phong hoá của đá phiến sét, đất
có màu đỏ vàng là chủ đạo
Hiện tại loại đất này được khai thác trồng cây dài ngày hoặc trồng rừng, tuy nhiên cần có biện pháp chống xói mòn rửa trôi gây thoái hoá đất
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (ký hiệu Fp)
Diện tích 737,57 ha chiếm 3.19% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân
bố ở các xã Thượng Lâm, Đồng Tâm, Tuy Lai, An Phú và Hồng Sơn
Hiện tại trên loại đất này ở những nơi đất có tầng dày khá từ 50 cm đến 100 cm được trồng cây lâu năm và cây ăn quả Những nơi đất tầng mỏng trồng rừng
- Đất đỏ nâu trên đá vôi ( ký hiệu Fv )
Diện tích 419,19 ha chiếm 1.81% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân
bố ở các xã Hợp Thanh, Hồng Sơn và Hương Sơn
Do hình thành từ sản phẩm phong hoá của đá vôi đất có màu đỏ nâu là chủ đạo, tầng đất thường khá dày Để khai thác hiệu quả loại đất này những nơi có tầng đất dày nên trồng cây ăn quả, nơi tầng đất mỏng trồng rừng kết hợp nuôi gia súc
- Đất than bùn (ký hiệu T)
Diện tích 625,60 ha chiếm 2.70% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân
bố ở các xã Hồng Sơn, Hợp Tiến và Hương Sơn
- Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat (ký hiệu RDv)
Diện tích 30,0 ha chiếm 0,13% diện tích tự nhiên toàn huyện chỉ có mặt
ở xã Hương Sơn Hiện tại trên loại đất này nhân dân địa phương khai thác trồng các loại cây màu như sắn, ngô, khoai lang
Trang 39* Tài nguyên nước
Do cấu tạo địa chất, phía tây có dãy núi đá vôi nên nguồn nước ngầm chủ yếu thuộc dạng tồn đọng tại các kẽ nứt Kast Về nước mặt có sông Đáy chảy qua ở phía đông với chiều dài trên 40 km và sông đào Mỹ Hà ở phía tây dài trên 30 km, ngoài ra còn có một hồ chứa nước Quan Sơn với diện tích 850
ha hiện là nguồn dự trữ nước cho trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản và phục vụ dịch vụ du lịch
Để sử dụng tốt tài nguyên nước cho mục tiêu phát triển sản xuất và phục vụ du lịch cần quy hoạch theo hướng giữ lại nguồn nước hồ Quan Sơn
và các hồ lạch trong khu vực Hương Sơn, Tuyết Sơn phục vụ du lịch, vui chơi, giải trí; dùng nước từ sông Đáy phục vụ cho mục đích tưới tiêu (kể cả trong mùa khô)
*Tài nguyên động thực vật
Diện tích rừng tự nhiên hiện có tới 3914,67 ha tập trung chủ yếu ở vùng Hương Sơn Các loại động vật, thực vật ở đây rất đa dạng, phong phú Theo kết quả điều tra thống kê được: 350 loài thực vật thuộc 92 họ, trong đó có nhiều loại cây quí hiếm như: Lành Vanh, cây Xưa, cây Nho Vàng, cây Lát Hoa .Hệ động vật ở đây nhìn chung là nghèo về số loài và số lượng
*Tài nguyên nhân văn
Mỹ Đức là huyện có nhiều di tích lịch sử - tôn giáo, đặc biệt là vùng Hương Sơn vừa là khu danh thắng, vừa là khu bảo tồn tự nhiên Cụm thắng cảnh Hương Sơn với nhiều công trình kiến trúc được xây dựng từ thế kỷ 17 -
18 như chùa Thiên Trù, Long Vân, Tuyết Sơn, Hương Tích, Hinh Bồng … nằm xen giữa cảnh sắc núi rừng, hang động độc đáo là nơi hàng năm diễn ra
lễ hội tiêu biểu của Việt Nam, kéo dài 3 tháng, thu hút hàng triệu du khách tham quan Ngoài ra, Mỹ Đức còn có: Thung Cấm, Quan Sơn, Thung Ngái,
hồ Tuy Lai là những địa điểm đang và sẽ phát triển dịch vụ du lịch
Trang 40Quy hoạch sử dụng đất cần khai thác triệt để các thế mạnh về tài nguyên nhân văn vào mục tiêu phát triển kinh tế của huyện và khu vực
*Tài nguyên khoáng sản
Huyện Mỹ Đức tập trung 2 khoáng sản chính là than bùn và đá vôi
- Than bùn: phân bố rải rác trên 10 xã vùng núi, tập trung ở xã Đồng Tâm, Thượng Lâm và vùng Hương Sơn với trữ lượng hàng triệu tấn Hiện nay đang được khai thác làm phân vi sinh ở xã Thượng Lâm với diện tích khoảng 30ha
- Đá vôi: kéo dài từ xã Đồng Tâm đến xã Hương Sơn với chiều dài trên
40 km, chiều rộng từ 1- 2 km, chiều cao trung bình từ 50 - 100 m, trữ lượng ước tính trên 600 triệu m3 Đây là nguồn tài nguyên cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (nhất là xi măng)
*Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội môi trường dưới góc độ gây áp lực đối với đất đai
Từ thực tế phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong 10 năm qua và xu thế phát triển trong thời gian tới, cho thấy có một số vấn đề liên quan đến sử dụng quỹ đất đai của huyện cần lưu ý; yêu cầu quy hoạch sử dụng đất cần giải quyết Những vấn đề đó là:
- Kinh tế của huyện đã, đang và tiếp tục phát triển theo hướng tăng nhanh tỷ trọng nghành Công nghiệp - Xây dựng và Thương mại Để thực hiện được vấn đề phát triển kinh tế như trên yêu cầu phải tăng cường xây dựng cơ
sở công nghiệp và dịch vụ, thương mại Do đó cần phải bố trí đất cho việc xây dựng các cụm, điểm công nghiệp, các cơ sở kinh doanh dịch vụ, thương mại,
du lịch trong thời gian tới
- Việc phát triển đô thị là một tất yếu khách quan; để đảm bảo phát triển đô thị trên địa bàn huyện đạt tiêu chuẩn của các cấp đô thị theo quy