1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp góp phần ổn định và nâng cao mức sống cho người dân tái định cư khu công nghiệp lương sơn, huyện lương sơn, tỉnh hoà bình

115 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 781,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng vấn đề ổn định đời sống cho những hộ dân bị di dời để xây dựng khu công nghiệp đang là bài toán khó với các nhà quản lý và cho chính các doanh nghiệp tại khu công nghiệp này Xuất p

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, theo chương trình đào tạo Cao học Khoá 18 ( 2010-2012), chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp tôi xây dựng đề cương và đi nghiên cứu, thực tập với nội dung

"Một số giải pháp góp phần ổn định và nâng cao mức sống cho người dân tái định cư khu công nghiệp Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình" nay

đã hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cho khoá học

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt cho tôi suốt quá trình học tập tại trường Cảm ơn các Thầy, cô giáo trong khoa Đào tạo Sau Đại học, thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và QTKD đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt kiến thức

Đặc biệt cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn đã tạo điều kiện, chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan: Phòng tài chính kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê huyện Lương Sơn, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực tập thu được kết quả tốt

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để công bố công trình khoa học nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 04 năm 2013

Nguyễn Thị Minh Huấn

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ i

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề di dân, tái định cư 3

1.1.1 Vấn đề di dân 3

1.1.2 Tái định cư 6

1.1.3 Chính sách tái định cư 6

1.2 Kinh nghiệm về tổ chức và thực hiện công tác tái định cư trên thế giới 20

1.2.1 Tại một số nước Châu Á 28

1.2.2 Tại Việt Nam 33

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Các đặc điểm cơ bản của huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình 42

2.1.1 Các đặc điểm về tự nhiên 42

2.1.2 Các đặc điểm kinh tế xã hội 47

2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện cơ bản của Huyện Lương Sơn 58

2.2 Giới thiệu về khu công nghiệp Lương Sơn 61

2.3 Phương pháp nghiên cứu 62

2.3.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu khảo sát 62

2.3.2 Phương pháp khảo sát, thu thập số liệu, tài liệu 62

Trang 3

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu: 63

2.3.4 Phương pháp chuyên gia 67

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68

3.1 Tình hình thu hồi đất, di chuyển dân cư cho phát triển khu công nghiệp Lương Sơn – Hòa Bình 68

3.1.1 Tình hình thu hồi đất cho khu công nghiệp Lương Sơn 68

3.1.2 Tình hình bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất tại KCN Lương Sơn 69 3.1.3 Tình hình tổ chức tái định cư cho các hộ phải di dời 73

3.2 Thực trạng việc làm, thu nhập và chi tiêu của người dân tái định cư 74

3.2.1 Thông tin về các hộ gia đình điều tra 74

3.2.2 Sự thay đổi các điều kiện sản xuất và đời sống của các hộ điều tra 75

3.2.3 Đánh giá tổng hợp mức sống của người dân tái định cư 80

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức sống của người dân tái định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn 86

3.3.1 Kiểm định chất lượng thang đo 87

3.3.2 Thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA 87

3.3.3 Phân tích hồi quy bội 91

3.4 Những thành công và tồn tại trong công tác TĐC trên địa bàn huyện Lương Sơn 95

3.4.1 Những thành công 95

3.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân trong công tác tái định cư 96

3.5 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao mức sống cho người dân tái định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn 97

3.5.1 Giải pháp về chính sách Error! Bookmark not defined 3.5.2 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng Error! Bookmark not defined 3.5.3 Về phía người dân Error! Bookmark not defined

Trang 4

3.5.4 Về phía doanh nghiệp Error! Bookmark not defined

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

1 Kết luận 99

2 Kiến nghị 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Cơ cấu đất đai huyện Lương Sơn - Hoà Bình 39 2.2 Hiện trạng dân số, lao động huyện Lương Sơn 42 2.3 Tình hình KT-XH của huyện Lương Sơn 2009 - 2011 50

2.4 Thang đo các yếu tố ảnh hưởng tới mức sống của người dân tái định

3.1 Kết quả thực hiện kế hoạch thu hồi đất của dự án 62

3.3 Số tiền đền bù và hỗ trợ cho người dân tái định cư 66

3.5 So sánh diện tích đất bình quân tại nơi ở cũ và nơi TĐC 70 3.6 So sánh sự thay đổi về tài sản của người dân trước và sau TĐC 72 3.7 Sự thay đổi về việc làm của người dân trước và sau TĐC

3.8 Bảng thống kê số lượng vật nuôi của người dân năm 2012

3.9 Sự thay đổi cơ cấu chi tiêu của các HGĐ điều tra

3.10 Sự thay đổi cơ cấu thu nhập của các HGĐ điều tra

3.11 Kết quả kiểm định Cronbach alpha

3.12 Kiểm định KMO and Bartlett's Test

3.13 Tổng phương sai được giải thích

3.14 Ma trận nhân tố xoay Rotated Component Matrixa

3.15 Tóm tắt mô hình - Model Summaryb

3.16 ANOVAb

3.17 Hệ số hồi quy - Coefficientsa

3.18 Vị trí quan trọng của các yếu tố

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, đặc biệt là những năm gần đây việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020

Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, một diện tích lớn đất đai trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp được thu hồi sử dụng vào mục đích phát triển khu công nghiệp Việc thu hồi đất diễn ra trên diện rộng trong nhiều năm qua đã tác động lớn đến đời sống nhân dân và tình hình kinh tế xã hội khu vực có đất bị thu hồi ở cả hai góc độ tích cực và tiêu cực

Một vấn đề đang đặt ra hiện nay là tác động của việc di dời đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân tái định cư Việc di chuyển những người dân bị ảnh hưởng ra khỏi địa bàn cư trú lâu dài dẫn đến sự thay đổi về môi trường sống, văn hóa và tập tục canh tác, điều kiện khí hậu…ngoài việc phải thay đổi môi trường sống, người dân còn bị mất đất nông nghiệp, do vậy chính quyền địa phương cần có những định hướng cho người dân giúp họ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để từng bước ổn định thu nhập

Bên cạnh việc ổn định đời sống vật chất cho người dân thì việc quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần cho người dân cũng cần được chú trọng nơi tái định cư của người dân cần có đủ các yếu tố như cơ sở vật chất đầy đủ,

có hệ thống điện, cấp thoát nước, trường học, trạm y tế, chợ trung tâm, nhà văn hóa…nhóm dân cư bị tác động lớn nhất phải di dời đó là người già và trẻ

em, hiện nay khi tổ chức tái định cư chính quyền vẫn chưa quan tâm đến nhóm dễ bị tổn thương nhất

Trang 8

Là địa phương thuộc tỉnh Hòa Bình nhưng huyện Lương Sơn lại có một lợi thế mạnh trong việc phát triển công nghiệp và thu hút những dự án công nghiệp trong và ngoài nước Huyện có những lợi thế về địa lý do nằm giáp danh thủ đô Hà Nội, thuận lợi về giao thông, thiên nhiên, nguyên liệu và nguồn lao động dồi dào…Hiện tại huyện đã có khu công nghiệp Lương Sơn

đi vào hoạt động Nhưng vấn đề ổn định đời sống cho những hộ dân bị di dời

để xây dựng khu công nghiệp đang là bài toán khó với các nhà quản lý và cho chính các doanh nghiệp tại khu công nghiệp này

Xuất phát từ những vấn đề trên, để hiểu hơn về những tác động của việc tái định cư đến mức sống của người dân tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp góp phần ổn định và nâng cao mức sống cho người dân tái định cư khu công nghiệp Lương Sơn huyện Lương Sơn – Hòa Bình”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần ổn định an sinh xã hội, nâng cao mức sống cho người dân thuộc diện tái định cư khu công nghiệp Lương Sơn, huyện Lương Sơn – Hòa Bình

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề di dân, tái định cư

1.1.1 Vấn đề di dân

Nghiên cứu di dân trên thế giới mới chỉ bắt đầu dưới thời kỳ phát triển

Tư bản chủ nghĩa ở phương Tây với sự hợp tác của nhiều ngành khoa học khác nhau (địa lý nhân văn, kinh tế, lịch sử, xã hội học, thống kê, toán học,…) [4, tr 42]

Các lý thuyết về di dân gồm: Lý thuyết quá độ di dân; lý thuyết kinh tế

về di dân; lý thuyết của Ravenstein; lý thuyết đô thị hóa quá mức; lý thuyết

Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này di dân đồng nhất với sự di động dân cư

Trang 10

Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định Định nghĩa này được Liên Hợp Quốc sử dụng nhằm khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển theo một khoảng cách nhất định qua một địa giới hành chính, với việc thay đổi nơi cư trú [5, tr 137]

Sự vận động và phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với các cuộc di chuyển dân cư Trong hầu hết các quốc gia trên thế giới, do sự phân

bố dân cư không đồng đều nên Chính phủ mỗi nước đều có những biện pháp khác nhau để phân bố lại dân cư nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sẵn

có Tại Việt Nam, trong suốt 4.000 năm lịch sử, trải qua các triều đại khác nhau, đặc biệt là triều đại nhà Nguyễn, đã tổ chức nhiều cuộc di dân về phía Nam để phát triển kinh tế, xã hội và củng cố Nhà nước của mình Từ sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chú ý đặc biệt đến vấn đề phân bố lại lao động và dân cư để phát triển kinh tế - xã hội Do vậy trong bốn thập kỷ qua, di dân đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội quan trọng với quy mô và thành phần ngày càng phức tạp [7, tr 4]

Như vậy, có thể khái quát rằng di dân là sự di chuyển cư dân từ địa điểm này sang địa điểm khác, đó là một hiện tượng xã hội xảy ra trong suốt quá trình phát triển lịch sử của nhân loại dưới tác động của những nguyên nhân kinh tế, xã hội khác nhau qua các thời kỳ Trong các nguyên nhân đó thì nguyên nhân kinh tế là nguyên nhân quyết định

Di dân sẽ gây ra những tác động lớn đến các vấn đề dân số, kinh tế - xã hội Trên phạm vi toàn thế giới, di dân không làm ảnh hưởng đến số lượng dân số nói chung, nhưng đối với từng nước, từng khu vực lại có ảnh hưởng không nhỏ Di dân có tác động trực tiếp đến quy mô dân số Sự ra đi của một

bộ phận dân cư sẽ làm cho quy mô dân số và sức ép dân số tại nơi đó giảm và

Trang 11

ngược lại Di dân có ảnh hưởng lớn trong việc phân bố lại lực lượng sản xuất, nguồn lao động theo lãnh thổ và khu vực kinh tế Mỗi nhóm cư dân, mỗi cộng đồng đều có đời sống văn hóa, phong tục tập quán khác nhau, nên khi chuyển đến địa điểm mới dễ gây ra sự xáo trộn, xung đột, phân biệt đối xử trong cộng đồng nơi đến

Trên thực tế có nhiều cách phân loại di dân dựa trên các góc độ khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu Theo tính chất di dân, sẽ có hai loại là di dân tự nguyện và di dân không tự nguyện (ép buộc) Di dân tự nguyện là trường hợp người di chuyển tự nguyện di chuyển theo đúng mong muốn hay nguyện vọng của mình Trong khi đó, di dân ép buộc diễn ra trái với nguyện vọng di chuyển của người dân Theo đặc trưng di dân, được chia thành 2 loại

là di dân có tổ chức và di dân tự phát Di dân có tổ chức là hình thái di chuyển dân cư theo kế hoạch và các chương trình, dự án do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra, tổ chức và chỉ đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội Di dân tự phát là hình thái di dân mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền [4,

tr 39 - 41]

Đối với nước ta, công tác di dân luôn nhận được sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước thông qua các chương trình, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, củng cố an ninh quốc phòng

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, sẽ đề cập đến hình thức di dân có

tổ chức, cụ thể là di dân để thực hiện dự án xây dựng nhà máy thủy điện, phục

vụ mục tiêu quốc gia về an ninh năng lượng Di dân có tổ chức gắn liền với quá trình tái định cư không tự nguyện (hay tái định cư bắt buộc)

Trang 12

và làm thay đổi cuộc sống của họ vốn đã được ổn định nhiều đời

Tái định cư được hiểu theo nghĩa rộng là mọi ảnh hưởng, tác động tới tài sản và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập

do dự án phát triển gây ra, bất kể họ có phải di chuyển hay không Tái định cư theo nghĩa hẹp chỉ sự di chuyển của các hộ bị ảnh hưởng tới định cư ở nơi ở mới [11, tr 13]

1.1.3 Chính sách tái định cư

1.1.3.1 Chính sách tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới (WB)

Chính sách tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới [6, tr 32] gồm các mục tiêu chính:

i) Đảm bảo các hộ bị ảnh hưởng do dự án phải được hưởng lợi từ dự án

và ít nhất cũng khôi phục hoặc cải thiện được cuộc sống, đặc biệt là đối với những nhóm người dễ bị tổn thương Đây phải được xem như là kế hoạch phát triển Kế hoạch tái định cư không tự nguyện là một phần của dự án;

ii) Cần tránh hoặc giảm thiểu tối đa tái định cư không tự nguyện/bắt buộc khi có thể; và

iii) Khi không thể tránh được việc di dời, cần phải: cung cấp đầy đủ nguồn đầu tư và cơ hội chia sẻ lợi ích của dự án cho các hộ bị ảnh hưởng

Chính sách có những điều khoản chủ yếu được tóm tắt như dưới đây:

Trang 13

- Đền bù đầy đủ theo giá thay thế trước khi trước khi trưng dụng đất

- Giúp đỡ các hộ bị ảnh hưởng trong thời gian chuyển tiếp ở nơi định

cư mới

- Giúp đỡ hộ bị ảnh hưởng phục hồi mức sống, tạo thu nhập, tăng cường năng lực sản xuất hay ít nhất cũng hồi phục lại mức sống của họ như trước khi có dự án

- Đặc biệt chú ý đến nhóm người nghèo và dễ bị tổn thương nhất

- Có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập và thực hiện kế hoạch tái định cư

- Những người tái định cư cần phải được hoà nhập về mặt kinh tế-xã hội với cộng đồng tiếp nhận Cần tham vấn với cộng đồng tiếp nhận

- Các thủ tục pháp lý sẽ không bị cản trở khi xem xét đền bù và phục hồi cuộc sống Những người chiếm dụng trái phép sau ngày giới hạn sẽ không được đền bù

Kế hoạch tái định cư có mục tiêu phục hồi và cải thiện sinh kế cho các

hộ phải di dời càng nhanh càng tốt Khi không tránh được số lượng lớn người phải di dời, cần có kế hoạch đền bù, tái định cư, thời gian và nguồn vốn thực hiện chi tiết Kế hoạch tái định cư với chiến lược phát triển và nguồn vốn đầu

tư nhằm cải thiện hoặc ít nhất cũng phục hồi được mức sống cho các hộ bị ảnh hưởng Chiến lược tái định cư trên cơ sở đất đền đất cho người dân, nếu không có đất cần tạo cơ hội để tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm cho họ Kế hoạch tái định cư cần được lập chi tiết về đền bù, di chuyển, cơ cấu về tổ chức thực hiện, nguồn tài chính và nhân lực để đạt được mục tiêu về phục hồi thu nhập

1.1.3.2 Chính sách tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) [6, tr 33]

Có ba yếu tố quan trọng trong tái định cư bắt buộc, đó là:

Trang 14

(i) Đền bù những tài sản bị mất và những thiệt hại về sinh kế và thu nhập,

(ii) Hỗ trợ di dời bao gồm cung cấp địa điểm di dời với các dịch vụ và phương tiện thích hợp, và

(iii) Hỗ trợ để khôi phục đạt được ít nhất bằng mức sống trước khi có

dự án

Đối với những dự án đòi hỏi di chuyển người dân thì tái định cư phải là phần tổng hợp trong thiết kế dự án và phải được giải quyết từ các giai đoạn đầu tiên trong chu trình dự án, có nghiên cứu các nguyên tắc sau đây:

- Tránh tái định cư bắt buộc ở những nơi có thể bố trí dân cư tại chỗ

- Khi không thể tránh khỏi di dân, cần giảm đến mức tối đa việc di chuyển bằng cách xem xét tất cả các phương án thiết thực của dự án

- Những người bị buộc phải di chuyển cần được đền bù và trợ giúp, sao cho tương lai kinh tế và xã hội của họ nhìn chung cũng sẽ được thuận lợi như khi không có dự án

- Những người bị ảnh hưởng cần phải được thông tin đầy đủ và được tham khảo ý kiến về các phương án tái định cư và đền bù

- Những thiết chế văn hoá và xã hội hiện hữu của những người bị di chuyển và của những người ở nơi tiếp nhận dân tái định cư cần phải được hỗ trợ và sử dụng tới mức tối đa có thể, và những người bị di chuyển cần phải được hoà nhập về mặt kinh tế và xã hội vào cộng đồng nơi họ di chuyển tới

- Việc thiếu các quyền pháp lý chính thức về đất của một số nhóm xã hội bị ảnh hưởng không thể cản trở việc họ được đền bù; cần chú ý đặc biệt đến những hộ gia đình mà chủ hộ là phụ nữ và những nhóm xã hội dễ bị ảnh hưởng khác

- Tái định cư bắt buộc cần phải được nhận thức và thực hiện tới mức tối

đa như một phần của dự án

Trang 15

- Toàn bộ chi phí tái định cư và đền bù cần được thực hiện trong chi phí

và hiệu ích của dự án

- Những chi phí về đền bù và tái định cư có thể được xem xét đưa vào vốn vay của Ngân hàng đối với dự án

1.1.3.3 Các chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ TĐC

Trong công tác tái định cư, chính sách tái định cư là khuôn khổ pháp lý quan trọng để tổ chức thực hiện Dự án di dân, tái định cư thành công Chính sách tái định cư là một nhóm các chính sách liên quan đến việc thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ và xây dựng cơ sở hạ tầng các khu tái định cư cho những người

bị ảnh hưởng khi nhà nước thu hồi đất cho các hoạt động với mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng Các chính sách này có thể được ban hành bởi nhiều cấp chính quyền, các bộ ngành có liên quan Tại Việt Nam, chính sách tái định cư chủ yếu dừng lại ở việc đền bù các thiệt hại cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất, các quy định về hỗ trợ và lập khu tái định cư để tạo nơi ở mới cho các hộ phải di chuyển Các chính sách liên quan đến các chương trình, biện pháp nhằm giúp những người bị ảnh hưởng khôi phục lại cuộc sống và sinh kế hầu như chưa được đề cập

Qua hoạt động thực tiễn, các chính sách về đền bù, hỗ trợ ở nước ta đã

có những thay đổi cơ bản, từng bước được cải thiện, điều chỉnh Từ việc thu hồi đất đai, nhà cửa không ràng buộc trách nhiệm tái định cư vào trước năm

1993, đến Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994, Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 22/4/1998, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và gần đây nhất

là Nghị định 84/2007/NĐ-CP là một quá trình đổi mới nhận thức về công tác

di dân, tái định cư, thể hiện quyết tâm và nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước trong đổi mới công tác tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp với quan điểm phát triển và hội nhập quốc tế

Trang 16

Trên cơ sở Luật đất đai năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 giao quyền cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất và Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Nghị định này mới nhấn mạnh đến việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất, còn vấn đề tái định cư chưa được đề cập đầy đủ, vì vậy năm 1998 Nhà nước ban hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 22/4/1998 về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất

để sử dụng vào mục đích an ninh - quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế Nghị định 90/CP, trong đó quy định các dự án có thu hồi đất ở

và đất sản xuất phải lập khu tái định cư để đảm bảo những người bị ảnh hưởng có thể ổn định đời sống và khôi phục thu thập

Năm 2003, Nhà nước ban hành Luật đất đai số 13/2003/QH11 quy định

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập và thực hiện các

dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ Dựa trên cơ sở Luật đất đai, Chính phủ đã ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường và hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Một trong những điểm mới của Nghị định này là yêu cầu việc thu hồi đất phải lập dự án tái định cư để đảm bảo người bị ảnh hưởng được hỗ trợ về sản xuất và đời sống ổn định cuộc sống lâu dài Gần đây nhất

là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Nghị định này đã quy định

cụ thể đối với một số trường hợp thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ về đất khi nhà nước thu hồi đất

Trang 17

Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP Việc di dời dân, giải phóng mặt bằng yêu cầu phải di chuyển nhiều người được quy định tại Điều 38 của Nghị định 197: “Đối với dự án do Chính phủ, Quốc hội quyết định phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng thì tùy trường hợp

cụ thể Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc trình Chính phủ xem xét quyết định chính sách tái định cư đặc biệt với mức hỗ trợ cao nhất được áp dụng là

hỗ trợ toàn bộ chi phí lập khu tái định cư mới, xây dựng nhà ở, cải tạo đồng ruộng, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất và hỗ trợ khác” Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 1997 cũng quy định các công trình thủy điện lớn, có quy mô di chuyển và tái định

cư trên 20.000 người phải được Quốc hội xem xét thông qua

Nhận thức mục tiêu di dân, tái định cư không đơn thuần là giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình thủy điện mà còn gắn với phát triển bền vững Do vậy chính sách tái định cư phải đạt được mục tiêu đảm bảo cho người dân di chuyển có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai Theo Nghị định 197, việc tổ chức tái định cư được Chính phủ giao cho Ủy ban nhân dân các tỉnh nơi có dân phải di chuyển là chủ đầu tư các dự án di dân tái định cư, chủ động lập kế hoạch và tổ chức bộ máy thực hiện

Dưới đây là tóm tắt một số văn bản pháp luật về tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các chính sách liên quan đến đền bù, TĐC từ năm 1993

- Luật Đất đai 1993

- Nghị định 90/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về quy định đền

bù những thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất

- Nghị định 87/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về giá đất

Trang 18

- Nghị định 17/NĐ-CP ngày 21/3/1998 điều chỉnh Phần 2, Điều 4 của Nghị định 87/CP về quy định khung giá các loại đất

- Nghị định 22/1998/NĐ-CP về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất

- Luật Đất đai 2003

- Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện Luật Đất đai

- Nghị định 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 188/2004/NĐ-CP, hướng dẫn phương pháp xác định giá đất và tổ chức thực hiện

- Nghị định 197/2004/NĐ-CP về đền bù, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.1.3.4 Trình tự các bước lập quy hoạch, thực hiện kế hoạch di dân tái định

- Xây dựng quy hoạch định hướng tái định cư

Nghiên cứu về tái định cư ở giai đoạn này nhằm phục vụ công tác lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình và xin phép đầu tư, các nghiên cứu này nhằm mục tiêu lựa chọn quy mô đầu tư công trình và sơ bộ tổng mức đầu tư, gồm các nội dung:

+ Xác định quy mô ảnh hưởng và đánh giá thiệt hại do thu hồi đất theo các phương án dự kiến

+ Nghiên cứu đề xuất và cân đối địa bàn bố trí tái định cư

+ Đề xuất với chủ đầu tư phương án giảm thiểu thiệt hại về kinh tế xã hội và tác động môi trường vùng dự án

+ Khái toán sơ bộ nhu cầu vốn đầu tư hạng mục đền bù di dân và tái định cư

Trang 19

- Xây dựng Quy hoạch tổng thể di dân tái định cư

Các nghiên cứu về tái định cư trong giai đoạn này phục vụ lập dự án đầu tư xây dựng công trình và được triển khai cụ thể hơn tại địa bàn vùng dự

án sau khi đã có phương án chọn ở giai đoạn lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình và xin phép đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt Các nội dung trong báo cáo:

+ Tổng hợp và đánh giá thiệt hại của dự án do thu hồi đất theo quy mô đầu tư dự án được phê duyệt

+ Xác định quy mô, vị trí, địa điểm và số lượng các vùng, khu, điểm tái định cư

+ Đề xuất phương án xây dựng cơ sở hạ tầng và quy hoạch sản xuất phục hồi thu nhập cụ thể cho từng khu tái định cư

+ Đề xuất phương án điều chuyển dân cư tái định cư phù hợp với đặc điểm, tập quán, nguyện vọng của đầu đi và nơi đến

+ Tính toán chuẩn xác tổng mức đầu tư hạng mục đền bù, di dân và tái định cư

- Xây dựng quy hoạch chi tiết các khu (điểm) tái định cư

Căn cứ vào quy hoạch tổng thể, Ủy ban nhân dân các tỉnh cho lập các

dự án Quy hoạch chi tiết các khu (điểm) tái định cư theo Quy hoạch tổng thể

đã được Chính phủ phê duyệt Các dự án tái định cư phải đảm bảo nguyên tắc

đủ đất sản xuất và nước sinh hoạt cho những hộ bị ảnh hưởng phải di dời Chính sách Chính phủ cũng yêu cầu việc lựa chọn các điểm tái định cư phải

có dân tham gia trong việc lựa chọn nơi đến và thống nhất với phương án di chuyển

Nội dung chính của quy hoạch chi tiết TĐC bao gồm:

+ Quy hoạch chi tiết mặt bằng khu, điểm tái định cư

+ Quy hoạch bố trí các điểm dân cư và khu chức năng nông thôn

Trang 20

+ Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho khu tái định cư: Giao thông, điện, cấp thoát nước sinh hoạt; các công trình kiến trúc công cộng: Trụ sở, trường học các cấp, trạm xá, chợ, bến xe,…

+ Quy hoạch sản xuất và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế phục hồi và ổn định thu nhập

+ Khái toán tổng dự toán hạng mục bồi thường thiệt hại và xây dựng tái định cư

Quy hoạch chi tiết được phê duyệt là cơ sở pháp lý để triển khai công tác khảo sát thiết kế kỹ thuật hay thiết kế kỹ thuật thi công các hạng mục công trình thành phần

- Triển khai thực hiện quy hoạch chi tiết

Sau khi Quy hoạch chi tiết các khu/điểm tái định cư được phê duyệt, các tỉnh lập kế hoạch đền bù và đầu tư để xây dựng các điểm tái định cư Việc lập kế hoạch đầu tư hàng năm cho công tác di dân, tái định cư được giao cho

Ủy ban nhân dân tỉnh Căn cứ vào kế hoạch hàng năm, Chính phủ giao nguồn vốn để thực hiện

Như vậy, điểm mới của công tác tái định cư là việc lập kế hoạch đã phân cấp cho địa phương Các địa phương lập kế hoạch trên cơ sở quy hoạch tổng thể đã phê duyệt và chính sách đã ban hành cho từng dự án Các Bộ, ngành Trung ương chỉ chủ yếu thực hiện chức năng giám sát và kiểm tra việc thực hiện chính sách và kế hoạch đã giao

1.1.3.5 Khái niệm mức sống và ổn định nâng cao mức sống

Mức sống là mức độ thỏa mãn cuộc sống của người dân, là tập hợp các điều kiện sống bao gồm xã hội, chính trị, mức sản xuất chung, môi trường, chi tiêu, giải trí… làm tiêu chí đánh giá

Vấn đề ổn định nâng cao mức sống cho người dân bao gồm 2 nhân tố chính, đó là các chủ trương, chính sách, cơ sở hạ tầng của nhà nước và nhân

Trang 21

tố thứ hai là người dân Người dân phải có điều kiện về trình độ và thu nhập

để có thể ổn định và nâng cao mức sống Để ổn định thu nhập người dân phải

có sinh kế bền vững

Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó [10,

tr 7]

Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất

và chi phí vật chất của hộ Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:

- Nguồn nhân lực: bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn

- Nguồn lực xã hội: là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm

uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ

- Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng

Trang 22

Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân

và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ

- Nguồn lực vật chất: bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin

- Nguồn lực tài chính: là những gì liên quan đến tài chính mà con người

có được như: nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, bổng, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng

Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng

Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; các cơ

sở hạ tầng xã hội hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin

Để ổn định thu nhập và nâng cao mức sống cả hộ gia đình và cộng đồng phải ý thức được việc không chỉ sử dụng nguồn lực sẵn có mà phải liên tục bổ sung, tăng cường và phát triển nguồn lực đó để phát triển bền vững sinh kế của mình

- Để duy trì và tăng cường nguồn lực con người có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ

Trang 23

khi chính bản thân con người sẵn sàng đầu tư cho vốn con người của mình bằng cách tham gia vào các khoá đào tạo, tiếp cận với các dịch vụ

Vì vậy, cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, công nghệ và đào tạo nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát triển nguồn nhân lực

- Duy trì và tăng cường nguồn lực xã hội là tăng cường xây dựng vốn

xã hội, tập trung vào các thể chế địa phương như thông qua việc tạo ra các khả năng, huấn luyện đào tạo hay phân phối các nguồn lực hoặc thông qua việc tạo ra một môi trường dân chủ thông thoáng

Thông thường, những để nguồn lực xã hội cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác, cần gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể, xã hội vào nguồn vốn xã hội

- Duy trì và tăng cường nguồn lực tự nhiên cần được thực hiện bằng cách điều chỉnh các phương cách tiếp cận đối cới nguồn lực tự nhiên, cải thiện việc quản lý các nguồn lực Việc hỗ trợ nguồn lực tự nhiên có thể thông qua sự chuyển đổi các tiến trình và cấu trúc tự nhiên đồng thời có sự tái tạo cho nhu cầu sử dụng trong tương lai

Một trong những nội dung chính của khôi phục cuộc sống là theo đuổi mục tiêu ổn định nhiều loại nguồn lực khác nhau sao cho không ảnh hưởng đến sự ổn định của môi trường tự nhiên

- Tăng cường nguồn lực vật chất nhằm giúp người dân tiếp cận cơ sở hạ tầng thích hợp, những thứ giúp ích cho sinh kế của họ

Nguồn lực vật chất không chỉ yêu cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra và nguồn lực con người đáp ứng những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ

- Tạo nguồn lực tài chính cho người dân không nên hỗ trợ trực tiếp vốn tài chính mà nên thông qua các trung gian gián tiếp như:

Trang 24

+ Tăng cường hiệu quả tiết kiệm và dòng tài chính

+ Tăng cường tiếp cận dịch vụ tài chính

+ Cải thiện môi trường dịch vụ tài chính

Sử dụng nguồn vốn nào và kết hợp các nguồn vốn và tài sản như thế nào để đạt hiệu quả cao:

- Xác định qui mô của các hoạt động tạo thu nhập

- Cách thức quản lý như thế nào để bảo tồn các nguồn vốn

- Cách thức tiếp nhận và áp dụng những kiến thức, kỹ năng tăng cường sinh kế như thế nào

- Cách thức đối phó với những cú sốc, những rủi ro hay khủng hoảng như thế nào

- Cách sử dụng nguồn lao động (sức lao động, kỹ năng lao động, thời gian lao động) như thế nào để làm được những điều trên

Các hộ gia đình cần được trang bị những kiến thức liên quan đến chiến lược ổn định đời sống khi bắt đầu cuộc sống mới tại nơi tái định cư như:

- Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập chỉ để tồn tại mà không có tích luỹ cho tương lai cũng như không quan tâm đến môi trường xung quanh

- Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu nhập, nhưng ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động cộng đồng và an ninh

xã hội

- Chiến lược tích luỹ: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng

và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ của cải và giàu có Đây chính là chiến lược sinh kế bền vững

Như vậy, mục tiêu của hoạt động khôi phục sinh kế bền vững là kết quả của các sinh kế bền vững, bao gồm:

- Tăng cường an ninh lương thực;

Trang 25

- Nâng cao thu nhập và ổn định nguồn thu nhập;

- Nâng cao chất lượng đời sống và giá trị cuộc sống

- Giảm khả năng tổn thương từ các biến động (như thiên tai, bệnh dịch, thay đổi môi trường sống, môi trường sản xuất ) và các tác động do mùa vụ gây ra trong quá trình hoạt động sinh kế;

- Sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.1.3.6 Một số chỉ tiêu đánh giá mức sống

* Các chỉ tiêu liên quan tới đặc điểm và nguồn lực của hộ tái định cư

- Tên, tuổi, giới tính, thành phần dân tộc, trình độ văn hóa của chủ hộ

- Số nhân khẩu, lao động của hộ

- Tổng diện tích đất của hộ, trong đó: diện tích đất ở, diện tích đất nông nghiệp,…

- Số tiền bồi thường về tài sản (nhà ở, cây trồng, ) do phải di chuyển

- Số tiền hỗ trợ (di chuyển, sản xuất, ổn định đời sống, chuyển đổi nghề nghiệp,…)

* Các chỉ tiêu về sản xuất của hộ tái định cư

- Diện tích canh tác của hộ, bao gồm: diện tích đất trồng lúa nước, diện tích nương trồng ngô,…

- Công thức luân canh

- Năng suất cây trồng, vật nuôi

- Sản lượng cây trồng, vật nuôi

- Giá trị sản xuất từ cây trồng, vật nuôi

- Chi phí sản xuất, bao gồm: chi phí cho trồng trọt, chi phí cho chăn nuôi,…

* Các chỉ tiêu về đời sống của hộ tái định cư

- Thu nhập của hộ: Từ trồng trọt, từ chăn nuôi,…

Trang 26

- Chi tiêu của hộ cho các mục đích khác nhau: Chi cho ăn mặc; giáo dục - y tế; đồ dùng; chi khác

- Bình quân diện tích đất ở/nhân khẩu

- Bình quân diện tích đất canh tác/lao động

- Thu nhập bình quân/lao động

- Thu nhập bình quân/nhân khẩu

- Số tiền tích lũy/nhân khẩu

- Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố, bán kiến cố; tỷ lệ hộ có đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi lại, phương tiện giải trí

- Tỷ lệ hộ gặp khó khăn trong công tác đền bù, hỗ trợ, tái định cư

- Tỷ lệ hộ gặp khó khăn trong sản xuất: Thiếu đất sản xuất, đất xói lở

do mưa lũ, hạn chế về kỹ thuật sản xuất, thiếu vốn sản xuất, dịch bệnh đối với vật nuôi,…

- Tỷ lệ hộ gặp khó khăn trong đời sống: thiếu nước sinh hoạt, diện tích đất ở thấp, sinh hoạt văn hóa hạn chế, thiếu thông tin, đi lại khó khăn

1.2 Khái niệm sinh kế và khôi phục sinh kế bền vững

1.2.1.Khái niệm về sinh kế

Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một

Trang 27

cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó [10, trang 7]

Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ Bao gồm những vấn đề như thành phần của

hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:

- Nguồn nhân lực: bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn

- Nguồn lực xã hội: là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm

uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ

- Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng

Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân

và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ

- Nguồn lực vật chất: bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin

- Nguồn lực tài chính: là những gì liên quan đến tài chính mà con người

có được như: nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn

Trang 28

khác như lương, bổng, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng

Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng

Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; các cơ

sở hạ tầng xã hội hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin

1.2.2 Khái niệm sinh kế bền vững

Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những biến động, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực cũng như nguồn lực của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên [10, trang 9] Mục tiêu sinh kế bền vững hướng đến một tầm rộng lớn hơn, chú trọng vào con người và hiểu tầm quan trọng của các quy trình và cấu trúc trong quá trình xác định cách mà các nguồn lực, tài sản được tạo ra và sử dụng

Như vậy, để có sinh kế bền vững, trước hết cần phải sử dụng các nguồn lực, tài sản vốn có một các bền vững lâu dài Cả hộ gia đình và cộng đồng phải ý thức được việc không chỉ sử dụng nguồn lực sẵn có mà phải liên tục bổ sung, tăng cường và phát triển nguồn lực đó để phát triển bền vững sinh kế của mình

- Để duy trì và tăng cường nguồn lực con người có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ

Trang 29

khi chính bản thân con người sẵn sàng đầu tư cho vốn con người của mình bằng cách tham gia vào các khoá đào tạo, tiếp cận với các dịch vụ

Vì vậy, cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, công nghệ và đào tạo nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát triển nguồn nhân lực

- Duy trì và tăng cường nguồn lực xã hội là tăng cường xây dựng vốn xã hội, tập trung vào các thể chế địa phương như thông qua việc tạo ra các khả năng, huấn luyện đào tạo hay phân phối các nguồn lực hoặc thông qua việc tạo ra một môi trường dân chủ thông thoáng

Thông thường, những để nguồn lực xã hội cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác, cần gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể, xã hội vào nguồn vốn xã hội

- Duy trì và tăng cường nguồn lực tự nhiên cần được thực hiện bằng cách điều chỉnh các phương cách tiếp cận đối cới nguồn lực tự nhiên, cải thiện việc quản lý các nguồn lực Việc hỗ trợ nguồn lực tự nhiên có thể thông qua sự chuyển đổi các tiến trình và cấu trúc tự nhiên đồng thời có sự tái tạo cho nhu cầu sử dụng trong tương lai

Một trong những nội dung chính của mục tiêu sinh kế bền vững là theo đuổi mục tiêu ổn định nhiều loại nguồn lực khác nhau sao cho không ảnh hưởng đến sự ổn định của môi trường tự nhiên

- Tăng cường nguồn lực vật chất nhằm giúp người dân tiếp cận cơ sở hạ tầng thích hợp, những thứ giúp ích cho sinh kế của họ

Nguồn lực vật chất không chỉ yêu cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra và nguồn lực con người đáp ứng những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ

- Tạo nguồn lực tài chính cho người dân không nên hỗ trợ trực tiếp vốn tài chính mà nên thông qua các trung gian gián tiếp như:

Trang 30

+ Tăng cường hiệu quả tiết kiệm và dòng tài chính

+ Tăng cường tiếp cận dịch vụ tài chính

+ Cải thiện môi trường dịch vụ tài chính

1.2.3 Khôi phục sinh kế bền vững

Bản thân mỗi hộ gia đình để tồn tại đều có một sinh kế riêng với cách thức tổ chức sản xuất, sử dụng nguồn lực và tài sản của mình để kiếm sống Qua thời gian, sinh kế của mỗi hộ gia đình có sự tương đồng và liên kết chặt chẽ với nhau trong mỗi cộng đồng, tạo nên sinh kế của cộng đồng Những sinh kế này dù ở những địa phương còn kém phát triển, những cộng đồng dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn nhưng xét ở khía cạnh tích cực thì bản thân nó đã là một sinh kế bền vững

Khi những biến động xảy ra (như một cuộc di dân quy mô lớn) di chuyển toàn bộ cộng đồng đến một hoặc một vài địa phương khác thì cũng có nghĩa

là có một biến động to lớn đến hoạt động sinh kế của hộ dân cũng như của cộng đồng bị ảnh hưởng Việc di chuyển, đặc biệt là di chuyển tái định cư của các dự án thuỷ điện, sẽ làm thay đổi môi trường sống, tác động mạnh mẽ đến lối sống, điều kiện sản xuất, sinh hoạt và các nguồn lực, tài sản khác của hộ gia đình và cộng đồng Để tồn tại, người dân cũng như cộng đồng đó sẽ phải

có những nỗ lực để duy trì những hoạt động sinh kế cũ cũng như cố gắng tiếp nhận những cách thức hoạt động sinh kế mới phù hợp với nơi ở mới, đó là những hoạt động khôi phục sinh kế

Khôi phục sinh kế bền vững có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bản thân hộ gia đình và cộng đồng chịu tác động khi phải di dân tái định cư quy mô lớn

Để khôi phục sinh kế, bản thân hộ gia đình phải đặt ra chiến lược sinh kế riêng cho mình phù hợp với chiến lược sinh kế chung của cả cộng đồng đã bị ảnh hưởng Chiến lược sinh kế để chỉ ra phương pháp và mức độ kết hợp các lựa chọn và quyết định mà con người đưa ra trong việc sử dụng và quản lý các

Trang 31

nguồn vốn nhằm đạt đến mục tiêu và kết quả sinh kế đã được xác định [10, trang 9] Chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của con người như:

- Sử dụng nguồn vốn nào và kết hợp các nguồn vốn và tài sản như thế nào để đạt hiệu quả cho sinh kế

- Xác định qui mô của các hoạt động tạo thu nhập

- Cách thức quản lý như thế nào để bảo tồn các nguồn vốn

- Cách thức tiếp nhận và áp dụng những kiến thức, kỹ năng tăng cường sinh kế như thế nào

- Cách thức đối phó với những cú sốc, những rủi ro hay khủng hoảng như thế nào

- Cách sử dụng nguồn lao động (sức lao động, kỹ năng lao động, thời gian lao động) như thế nào để làm được những điều trên

Để khôi phục sinh kế bền vững, hộ gia đình và cộng đồng cần phải có những chiến lược sinh kế bền vững Thông thường với những hộ dân bị ảnh hưởng bởi những biến động to lớn, ảnh hưởng tới hoạt động sinh kế của họ sẽ lần lượt có chiến lược khôi phục kinh tế theo ba cấp độ chiến lược như sau:

- Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập chỉ để tồn tại mà không có tích luỹ cho tương lai cũng như không quan tâm đến môi trường xung quanh

- Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu nhập, nhưng ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động cộng đồng và an ninh

xã hội

- Chiến lược tích luỹ: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng

và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ của cải và giàu có Đây chính là chiến lược sinh kế bền vững

Trang 32

Như vậy, mục tiêu của hoạt động khôi phục sinh kế bền vững là kết quả của các sinh kế bền vững, bao gồm:

- Tăng cường an ninh lương thực;

- Nâng cao thu nhập và ổn định nguồn thu nhập;

- Nâng cao chất lượng đời sống và giá trị cuộc sống

- Giảm khả năng tổn thương từ các biến động (như thiên tai, bệnh dịch, thay đổi môi trường sống, môi trường sản xuất ) và các tác động do mùa vụ gây ra trong quá trình hoạt động sinh kế;

- Sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Bản thân hộ gia đình và cộng đồng bị ảnh hưởng có thể tự điều chỉnh để khôi phục sinh kế cho mình nhưng như vậy sẽ phải mất rất nhiều thời gian cũng như sẽ phải trả những giá rất đắt cho quá trình này Hơn nữa, những hộ phải tái định cư của các công trình thuỷ điện thường là người dân tộc thiểu số

có trình độ dân trí thấp và rất chậm thích nghi, vì vậy việc tái định cư nếu không có sự hỗ trợ từ những người tổ chức tái định cư để cùng với người dân xây dựng chiến lược khôi phục sinh kế phù hợp, đúng đắn có thể sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cộng đồng bị ảnh hưởng cũng như những dự

án được triển khai

Chính vì vậy, với các dự án buộc phải thu hồi đất và di chuyển người dân quy mô lớn (như các dự án xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp hay các dự án thuỷ điện) cần phải có kế hoạch tái định cư và khôi phục sinh kế bền vững cho người dân phải tái định cư Các kế hoạch tái định cư này ngoài những hỗ trợ về xây dựng hạ tầng cơ sở còn cần các kế hoạch tạo sinh kế và chiến lược khôi phục sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng Do người dân buộc phải tái định cư một cách không tự nguyện để phục vụ lợi ích kinh tế hay lợi ích quốc gia, vì vậy đòi hỏi chính phủ hay các tổ chức kinh tế xã hội liên quan

Trang 33

phải có những kế hoạch, những chiến lược phù hợp và mang tính bền vững trong việc khôi phục sinh kế bền vững cho họ

1.2.4 Các điều kiện sinh kế bền vững và trường hợp phải khôi phục sinh kế bền vững

1.2.4.1 Các điều kiện sinh kế bền vững

Như vậy, điều kiện để có một sinh kế bền vững là hộ gia đình và cộng đồng cần lập ra được một chiến lược sinh kế bền vững để tái tạo và sử dụng các nguồn lực, tài sản của mình một cách bền vững

Các chính sách và thể chế là những cơ hội cho chiến lược sinh kế của hộ gia đình hay cộng đồng được thực hiện một các bền vững Các chính sách và thể chế bao gồm những luật lệ, những qui định, những chính sách cụ thể của các tổ chức các cấp, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ liên quan đến hoạt động sinh kế của người dân và cộng đồng

Chính sách và thể chế không những tạo ra cơ hội nhằm giúp cho người dân và cộng đồng thực hiện các mục tiêu đã xác định để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống trong sinh kế mà còn là cơ hội, là cứu cánh cho người dân

và cộng đồng giảm thiểu được các tổn thương và sử dụng hợp lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tuy nhiên, nếu chỉ có chính sách và thể chế thì chưa thể có một sinh kế bền vững mà điều kiện quan trọng là khả năng tiếp cận của các chính sách, thể chế này đến người dân, và khả năng tiếp cận các cơ hội đó của người dân Vì vậy, cần khuyến khích, vận động được người dân tích cực tham gia vào mọi quá trình phát triển, đồng thời huy động sự tích cực tham gia của nhiều bên có liên quan từ chính quyền các cấp, các tổ chức, đoàn thể

1.2.4.2 Các trường hợp cần khôi phục sinh kế bền vững

Việc khôi phục sinh kế bền vững chỉ phải thực hiện trong các trường hợp người dân bị tác động đột biến đến sinh kế và các tác động này ảnh hưởng

Trang 34

không có lợi đến sinh kế của họ [10, trang 10] Thông thường, sinh kế thường

bị ảnh hưởng bởi các biến động hay các thay đổi của hoàn cảnh kinh tế - xã hội và môi trường như sau:

* Các loại biến động thường gặp

- Biến động do sức khỏe của con người

- Biến động kinh tế (làm ăn thua lỗ, mất nguồn thu nhập )

- Biến động do chiến tranh và xung đột

- Biến động về mùa màng thất bát (mất mùa)

- Biến động về khủng hoảng gia súc, gia cầm, cây trồng (do dịch bệnh)

- Biến động về thời tiết, khí hậu (do bão lụt, ngập lũ, hạn hán, nóng lạnh), do môi trường bị phá hoại nghiêm trọng

* Các thay đổi về kinh tế - xã hội

- Tăng dân số

- Biến động về lao động (thiếu hoặc thừa lao động)

- Biến động về kinh tế (giá hàng hoá bấp bênh)

- Biến động về chính trị

- Thay đổi công nghệ (mẫu mã biến đổi, chủng loại mặt hàng thay thế )

- Biến động về giá cả, thị trường

- Biến động do phải di chuyển chỗ ở và điều kiện sản xuất (do các dự án

di dân tái định cư) Đây là trường hợp nghiên cứu của luận văn

1.3 Kinh nghiệm về tổ chức và thực hiện công tác tái định cư trên thế giới

1.3.1 Tại một số nước Châu Á

Thực tiễn thực hiện chính sách đền bù và tái định cư đối với người dân

bị ảnh hưởng của các dự án phát triển, nhất là dự án thủy điện ở một số nước Châu Á rất đa dạng Yêu cầu cơ bản cần thực hiện trong chính sách này là

Trang 35

nhận thức đúng tầm quan trọng của chính sách, trách nhiệm của Nhà nước, chủ dự án và các cấp chính quyền trong việc thực hiện tái định cư Những điều đó nhằm đảm bảo những lợi ích của những người dân bị di chuyển và cả người dân bản địa của các vùng được chuyển đến trong việc đảm bảo những điều kiện môi trường sống, sản xuất và ổn định cuộc sống

Mọi nỗ lực để giảm thiểu bất lợi, có kế hoạch và phương án hợp lý cho tái định cư, xây dựng các chính sách hỗ trợ đồng bộ, phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm cải thiện cách kiếm sống cho toàn bộ những người bị ảnh hưởng để từng bước ổn định cuộc sống,… hiện tại đang là mối quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương nước ta Do đó, việc tìm hiểu những kinh nghiệm tái định cư, đặc biệt là tái định cư các công trình thủy điện ở một số nước Châu Á có điều kiện tương đồng với Việt Nam là rất cần thiết để rút ra bài học kinh nghiệm, góp phần tổ chức và thực hiện công tác tái định cư các công trình thủy điện ở nước ta được tốt hơn

 Tại Trung Quốc

Trung Quốc là nước có số người bị di chuyển là khá lớn Từ năm 1980 nước này đã đưa ra nhiều luật và quy định ở các cấp khác nhau về gần như mọi khía cạnh của công tác tái định cư Luật Quản lý đất đai của Trung Quốc năm 1986 và các điều sửa đổi, bổ sung năm 1988 đã làm rõ quyền về đất và đảm bảo quyền sử dụng đất thuộc sở hữu Nhà nước Cá nhân không thể mua hay bán quyền sở hữu đất Luật này hướng dẫn các tỉnh, thành phố, quận, huyện và thị trấn chịu trách nhiệm thực hiện chiếm dụng đất và tái định cư, chính thức hóa các thủ tục, tham khảo ý kiến và giải quyết khiếu nại của những người bị ảnh hưởng

Trong quá trình cải cách kinh tế, Trung Quốc đã xây dựng rất nhiều công trình thủy lợi, thủy điện lớn, trong đó phải kể đến việc xây dựng đập

Trang 36

chắn nước Tam Hiệp Bên cạnh lợi ích mà công trình tạo ra như tăng công suất điện, kiểm soát lũ…, việc xây dựng công trình này cũng có những tác động kinh tế, xã hội trực tiếp và gián tiếp mà điển hình là việc di dời dân bởi xây dựng đập và hồ chứa lớn cần rất nhiều đất Việc di dân có liên quan chặt chẽ tới vấn đề tái định cư

Từ năm 1950-1990, theo ngân hàng Thế giới, Trung Quốc có tới 10,2 triệu người phải di dời, trong đó riêng dự án đập Tam Hiệp phải di dời tới 1,3 triệu người Dự án này kéo dài 13 năm với hơn 3.000 công nhân tham gia Đây là công trình bao gồm 3 đập chắn nước lớn bắc qua sông Hoàng Hà, đó là đập Xiaolangdi, đập Shuikou và đập Yantan Trong đó đập Xiaolangdi được xem là đập có số lượng người tái định cư lớn nhất và thành công nhất lên tới 180.000 người Số lượng người tái định cư của đập Xiaolangdi được giải quyết trong giai đoạn 1992 - 2012, phần lớn nguồn kinh phí này sẽ được WB tài trợ Mục đích là giải quyết thu nhập và đảm bảo mức sống tối thiểu cho người dân tái định cư thông qua việc xây dựng mới khoảng 10 thị trấn và 276 làng tái định cư Để tạo công ăn việc làm cho người tái định cư khi chuyển từ nghề nông sang làm tại các vùng công nghiệp, Chính phủ đã khuyến khích phát triển ngành nghề kinh doanh địa phương Các ngành nghề này sẽ được miễn thuế trong vòng 3 - 5 năm Các doanh nghiệp công nghiệp tại các vùng tái định cư được vay vốn với lãi suất ưu đãi Đến nay, theo báo cáo của WB, trong số 2.000 người đầu tiên được di dời thành công thì có tới 60% đã có mức thu nhập cao hơn Tại các vùng tái định cư đã hoàn thành có 766 người

đã được làm việc trong các nhà máy [10, tr 64 - 65]

Có thể nói, chương trình tái định cư Đập Tam Hiệp được xem là chương trình tái định cư lớn nhất từ trước đến nay ở Trung Quốc và cũng tốn kém nhất Trong đó ngoài nguồn vốn ngân sách, nguồn tài trợ WB, còn bao gồm vốn vay ngân hàng, vốn huy động từ các doanh nghiệp địa phương và

Trang 37

các nguồn khác Những giải pháp đưa ra trong quá trình tổ chức thực hiện tái định cư được dựa trên đặc điểm sau: Những khó khăn của vùng tái định cư sẽ tăng lên do một tỷ lệ lớn người chuyển cư đa số là dân làm nông nghiệp; Do phần lớn người chuyển đến vẫn tiếp tục làm nông nghiệp, vì vậy cần chú trọng đa dạng hóa nông nghiệp phù hợp với nguyện vọng của dân; Dân cư vùng tiếp đón thông thường không hợp tác với các kế hoạch tái định cư nên phải có các giải pháp tìm kiếm sự hợp tác của dân vùng tiếp đón

Một kinh nghiệm của Tam Hiệp là thông thường các nhà lập kế hoạch tái định cư đánh giá thấp các chi phí cho tái định cư, thường bỏ qua các dự tính cho phát triển, vì thế rất cần phải lập các Quỹ phát triển, những quỹ này cần thiết cho mục tiêu phát triển trước khi các hộ dân tái định cư có thể có lãi ròng từ sản xuất Để chương trình tái định cư thành công, cần có quy hoạch tổng thể về giải phóng mặt bằng, xây dựng các thị trấn, các làng tái định cư (trong đó bao gồm cả quy hoạch phát triển ngành nghề) trước khi tiến hành tái định cư Tránh tình trạng các khu tái định cư xây xong, nhưng dân tái định cư không thể ổn định cuộc sống do thiếu các công trình hạ tầng cơ sở như điện, nước…, thiếu đất sản xuất… Để tạo cuộc sống ổn định cho người dân trong diện tái định cư, điều quan trọng là tạo việc làm cho họ tại nơi tái định cư Bên cạnh việc cấp tiền bồi thường cho người dân, Trung Quốc đặc biệt chú trọng tới việc tạo công ăn việc làm cho người tái định cư thông qua việc quy hoạch lại các ngành nghề, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp thuộc các vùng tiếp nhận dân tái định cư, gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tái định cư mà phần lớn là nông dân có thể tìm được việc làm phù hợp Một kinh nghiệm rất đáng tham khảo đó là sự phối hợp giữa hỗ trợ của chính quyền sở tại với đóng góp kinh phí của chính những người dân tái định cư

Trang 38

 Tại Indonex ia

Tại Indonexia, theo quy định số 1/1994 của Bộ trưởng Các vấn đề ruộng đất và cơ quan Đất quốc gia hướng dẫn thực thi Nghị định 55/1993 về Chiếm dụng đất vì sự phát triển lợi ích công cộng Thống đốc mỗi tỉnh sẽ thành lập một Ban Chiếm dụng đất theo từng cấp (I hoặc II) Ban này có quyền kiểm kê đất đai và các tài sản khác trên đất bị chiếm dụng, kiểm tra tình trạng pháp lý của đất, thông báo và thương lượng với những người bị ảnh hưởng và cơ quan sử dụng đất, ước tính đền bù, ghi lại và chứng kiến việc trả đền bù [9, tr 23 - 24]

 Tại Philipin

Tại Philipin, Hiến pháp năm 1997 định ra chính sách cơ bản về đất đai

và đòi hỏi đền bù công bằng cho đất tư nhân bị Nhà nước xung công Lệnh Hành pháp 1035 (1985) của Chính phủ, hướng dẫn việc thu hồi tài sản tư nhân vì mục đích phát triển, theo đó Chính phủ có thể sử dụng biện pháp mua theo thỏa thuận hoặc trưng dụng Việc đền bù hoa màu bị thiệt hại của người thuê đất, các cộng đồng văn hóa và người dân phải chuyển cư do Bộ Cải cách ruộng đất và các cơ quan chiếm dụng đất tiến hành [9, tr 24]

 Tại Thái Lan và Malaixia

Đối với Thái Lan và Malaixia, cả hai nước này đều không có luật tái định cư, nhưng việc tổ chức, thực hiện công tác di dân, tái định cư trong ngành điện của cả hai nước tỏ ra rất hiệu quả Trong dự án thủy điện Batang

Ai ở Malaixia, các chính sách và kế hoạch di chuyển người bản địa được nghiên cứu và chuẩn bị kỹ càng Cơ quan sản xuất điện ở Thái Lan, khu vực Nhà nước, đã liên tục cải tiến các hoạt động tái định cư ngay từ khi thành lập (năm 1968), chính sách tái định cư cho mỗi dự án đều dựa trên các bài học từ những dự án trước Chiến lược tái định cư của nhà cầm quyền dựa trên cơ sở

Trang 39

thương lượng trực tiếp với các cộng đồng bị ảnh hưởng và đền bù trọn gói [9,

tr 24]

Tóm lại, các nguyên tắc chung cần phải tuân thủ khi tổ chức, thực hiện công tác tái định cư nói chung và tái định cư các công trình thủy điện nói riêng được các nước áp dụng là:

- Đền bù đất đai và tài sản bị mất theo giá trị thay thế Đền bù các công trình kiến trúc bao gồm cả chi phí tháo dỡ, vật liệu hư hỏng, vận chuyển đến nơi mới, lắp đặt theo phong tục tập quán văn hóa dân tộc

- Coi trọng đặc biệt việc giải quyết đất sản xuất cho hộ tái định cư trong nông nghiệp Việc chuyển đổi nghề nghiệp chỉ thực hiện khi không thể tìm được đất canh tác Các tổ chức Tài chính như WB, ADB cũng khuyến khích chủ trương “đất đổi đất” trong các dự án cho vay cũng như các dự án phát triển nói chung

- Các chương trình di dân, tái định cư phải chú trọng việc đầu tư khai hoang, chuyển nhượng hoặc trưng thu đất, đầu tư các công trình thủy lợi, thâm canh đa dạng hóa sản xuất, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là giải pháp căn bản để phục hồi thu nhập cho hộ gia đình sau tái định

Nhận thức việc phục hồi thu nhập cho hộ tái định cư là quá trình trong nhiều năm, Chính phủ Trung Quốc đã lập ra quỹ phục hồi thu nhập sau tái định cư để hỗ trợ cho người dân 10 năm, thậm chí 20 năm cho hộ gia đình sau tái định cư Nguồn vốn hỗ trợ cho tái định cư được trích từ thuế tài nguyên của các công trình thủy điện

1.3.2 Tại Việt Nam

 Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng

Một trong những thành quả rõ nét nhất ở thành phố Đà Nẵng trong những năm qua là công tác quy hoạch xây dựng và chỉnh trang đô thị, khai

Trang 40

thác nguồn lực trong dân, khai thác có hiệu quả quỹ đất để phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng không gian đô thị

Trước năm1997, mặc dù là trung tâm hành chính - kinh tế - xã hội của một tỉnh lớn - Quảng Nam - Đà Nẵng song thành phố Đà Nẵng lúc đó chỉ có 3 quận nội thành mà trong đó chỉ có quận I (Hải Châu) là thực chất mang tính phố phường Còn ở các quận II, III thì đằng sau vài dãy phố nghèo là tình trạng bán nông, bán thị với những xóm làng xen giữa những vũng, đầm ngập nước Sau 1997, “thành phố chủ trương vừa chú trọng phát triển sản xuất kinh doanh vừa tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cấp và chỉnh trang

đô thị”

Với quyết sách đúng đắn, táo bạo của Đảng bộ cùng với chủ trương hợp lòng dân, biết phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, Đà Nẵng đã thực hiện chương trình đô thị hoá khá thành công trên cả bề rộng lẫn bề sâu Với việc hình thành các khu dân cư mới như Thạc Gián, Vĩnh Trung, Bạch Đằng Đông, Nam cầu Tuyên Sơn không gian đô thị thành phố không còn bó hẹp ở một số phường của quận Hải Châu và Thanh Khê như trước Đến nay,

Đà Nẵng được mở rộng thành 6 quận nội thành với quy mô rộng lớn, chất lượng cơ sở hạ tầng tương xứng với đô thị loại I Trong 8 năm qua, thành phố

đã vận động gần 65.000 hộ gia đình, nghĩa là hơn một phần ba cư dân toàn thành phố chịu giải toả di dời dể lấy đất xây dựng những công trình công cộng, phúc lợi

Theo báo cáo của lãnh đạo Phòng Quản lý đô thị thuộc UBND thành phố thì đến cuối năm 2004, thành phố đã triển khai thực hiện trên 100 dự án

có liên quan đến giải toả di dời dân cư Đồng hành với quá trình giải toả là việc quy hoạch, kiến tạo nơi ở mới theo tiêu chuẩn đô thị văn minh, hiện đại Đến nay đã có hơn 100 khu tái định cư, khu chung cư được xây dựng làm chỗ

ở cho hàng chục ngàn hộ dân trong diện di dời, giải toả để chỉnh trang đô thị

Ngày đăng: 17/05/2021, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Đặng Nguyên Anh (2006), Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi
Tác giả: TS. Đặng Nguyên Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2006
2. Đặng Nguyên Anh (2007), “Tái định cư cho các công trình thuỷ điện ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (số 8/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư cho các công trình thuỷ điện ở Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2007
3. Đỗ Văn Hòa, Trịnh Khắc Thẩm (1999), Nghiên cứu di dân ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu di dân ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Hòa, Trịnh Khắc Thẩm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
4. Khúc Thị Thanh Vân (2007), Ảnh hưởng của chính sách tái định cư đến đời sống người dân sau tái định cư nghiên cứu trường hợp thủy điện Bản Vẽ, Luận văn thạc sỹ xã hội học, Viện Xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chính sách tái định cư đến đời sống người dân sau tái định cư nghiên cứu trường hợp thủy điện Bản Vẽ
Tác giả: Khúc Thị Thanh Vân
Năm: 2007
5. Nguyễn Ngọc Tuấn (2004), Một số kinh nghiệm tái định cư trong các dự án phát triển tại một số nước trên thế giới, Tạp chí Địa lý nhân văn số 7 tháng 12 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm tái định cư trong các dự án phát triển tại một số nước trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tuấn
Năm: 2004
6. Nguyễn Thị Thanh Thảo (2006), “Tái định cư khu đập Tam Hiệp kinh nghiệm Trung Quốc”, Kỷ yếu hội thảo khoa học tài chính đối với vấn đề tái định cư thực trạng và giải pháp, Viện Khoa học tài chính - Bộ Tài chính, 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư khu đập Tam Hiệp kinh nghiệm Trung Quốc”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học tài chính đối với vấn đề tái định cư thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thảo
Năm: 2006
7. Phạm Hồng Hoa, Lâm Mai Lan (2000), Tái định cư trong các dự án phát triển chính sách và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư trong các dự án phát triển chính sách và thực tiễn
Tác giả: Phạm Hồng Hoa, Lâm Mai Lan
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
8. Ngân hàng Phát triển châu Á (1995), Cẩm nang về tái định cư - Hướng dẫn thực hành Khác
9. Ngân hàng Phát triển châu Á (2000), Chính sách tái định cư không tự nguyện ở Việt Nam Khác
10. Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 Khác
11. Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Khác
12. Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 7 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về Hướng dẫn thực hiện Nghị định Chính phủ 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.Trang Website Khác
15. Website, www.dpihoabinh.gov.vn 16. Website, www.gso.gov.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w