TÓM TẮT Đề tài “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng” tập trung phân tích hiệu quả sản xuất lúa, xác định các yếu tố ảnh hưởng và
Tính cấp thiết của đề tài
Trong mỗi Quốc gia, mỗi thời kỳ, mỗi điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể đều có một chiến lược cụ thể đảm bảo an ninh lương thực khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là đảm bảo đủ nhu cầu lương thực tối thiểu cho mọi thành viên trong xã hội Việt Nam đi lên từ cây lúa nước, từ một nền nông nghiệp lạc hậu, cho đến nay, lao động nông nghiệp chiếm khoảng 75%, nguồn thu nhập chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng việc sản xuất lương thực, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu cho vấn đề an ninh lương thực Quốc gia Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp trong đó diện tích sản xuất và sản lượng lúa thu hoạch hàng năm chiếm hơn 50% cả nước Huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng là một trong số rất nhiều địa phương sống chủ yếu bằng nghề canh tác lúa Trong nhiều năm qua sản xuất nông nghiệp đã đạt được những tiến bộ đáng kể, trong đó cây lúa đóng vai trò chủ đạo Với lợi thế, địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, huyện đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, đã mạnh dạn đưa các giống lúa mới có năng suất cao Nhờ vậy mà những năm qua sản lượng lúa được ổn định, năng suất, chất lượng không ngừng tăng lên góp phần nâng cao hiệu quả cho nông hộ từ hoạt động sản xuất lúa Bên cạnh đó vẫn còn không ít hộ nông dân sản xuất kém hiệu quả, mất mùa do chăm sóc, bón phân, phun thuốc không đúng kỹ thuật, năng suất không cao do sử dụng giống lúa sẵn có từ vụ thu hoạch trước, giống không thuần Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trong quá trình sản xuất với điều kiện khí hậu đất đai tại địa phương, để nâng cao giá trị thu nhập cho người nông dân trên một đơn vị diện tích nhằm có những định hướng đúng đắn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cho người nông dân, đưa hoạt động sản xuất lúa ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực
Trước tình hình đó, nghiên cứu “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng” là cần thiết nhằm đánh giá thực trạng sản xuất lúa của địa phương, khẳng định lại vai trò chủ lực của cây lúa trong nền kinh tế nói chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn Huyện.
Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra một số giải pháp góp phần giúp người nông dân nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất lúa trong thời gian tới
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất lúa;
+ Đánh giá thực trạng sản xuất lúa hiện nay của các hộ nông dân tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng;
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:
- Thực trạng sản xuất lúa hiện nay của hộ nông dân tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thông qua nguồn số liệu sơ cấp từ việc phỏng vấn trực tiếp nông hộ và số liệu thứ cấp tổng hợp từ niên giám thống kê, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích, xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả sản xuất lúa của 3 vụ: Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông
- Dựa vào kết quả phân tích hồi quy đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ thông qua tác động của từng yếu tố
- Bên cạnh đó, việc thu thập thông tin từ phỏng vấn, kinh nghiệm sản xuất, xin ý kiến chuyên gia và định hướng phát triển ngành hàng lúa gạo tại địa phương để đề xuất thêm một số giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ trong thời gian tới
Cấu trúc của luận văn được kết cấu thành 3 chương và kết luận - kiến nghị
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất lúa
- Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA
Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất lúa
1.1.1 Sản xuất lúa và đặc điểm của sản xuất lúa
Lúa là cây nông nghiệp, sản xuất lúa gạo cũng là một bộ phận của sản xuất nông nghiệp, là việc sử dụng đất đai để trồng trọt tạo ra nguồn lương thực chủ yếu đó là lúa gạo
Là một bộ phận của sản xuất nông nghiệp, cho nên sản xuất lúa mang đầy đủ các đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nói chung, cụ thể: a) Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế Đây là đặc điểm quan trọng phân biệt nông nghiệp với công nghiệp Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Quy mô và phương hướng sản xuất, mức độ thâm canh và cả việc tổ chức lãnh thổ phù hợp nhiều vào đất đai Đặc điểm này đòi hỏi trong sản xuất nông nghiệp phải duy trì và nâng cao độ phì cho đất, phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên đất b) Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các cây trồng và vật nuôi Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, các cơ thể sống Chúng sinh trưởng và phát triển theo các quy luật sinh học và chịu tác động rất lớn của quy luật tự nhiên Vì vậy, việc hiểu biết và tôn trọng các quy luật sinh học, quy luật tự nhiên là một đòi hỏi quan trọng trong quá trính sản xuất nông nghiệp c) Sản xuất nông nghiệp có tính mùa vụ Đây là đặc điểm điển hình của sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi tương đối dài, không giống nhau và thông qua hàng loạt giai đoạn kế tiếp nhau Thời gian sản xuất bao giờ cũng dài hơn thời gian lao động cần thiết để tạo ra sản phẩm cây trồng hay vật nuôi Sự không phù hợp nói trên là nguyên nhân gây ra tính mùa vụ Để khắc phục tình trạng này, cần thiết phải xây dựng cơ cấu nông nghiệp hợp lý, đa dạng hóa sản phẩm (tăng vụ, xen canh, gối vụ), phát triển ngành nghề dịch vụ d) Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Đặc điểm này bắt nguồn từ đối tượng lao động của nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi Cây trồng và vật nuôi chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có đủ 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên là: nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và dinh dưỡng Các yếu tố này kết hợp chặt chẽ với nhau, cùng tác động trong một thể thống nhất và không thể thay thế nhau e) Trong nền kinh tế, nông nghiệp trở thành sản xuất hàng hóa
Biểu hiện cụ thể của xu hướng này là việc hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hóa nông nghiệp và đẩy mạnh chế biến nông sản để nâng cao giá trị thương phẩm
Ngoài ra, sản xuất lúa còn có một số đặc điểm như sau:
- Về mặt sinh thái, sức đề kháng sâu bệnh và khả năng chịu đựng của lúa kém do vậy sản xuất lúa phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Điều này có ảnh hưởng nhất định đến xu hướng phát triển chung cũng như mùa màng thu hoạch trong từng thời điểm cụ thể
- Do sản xuất lúa gạo phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên lúa chỉ được trồng phổ biến ở các nước có đồng bằng châu thổ, khí hậu nhiệt đới ẩm, nắng lắm, mưa nhiều, những nước này chủ yếu là các nước đang phát triển như: Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan… Hiện nay do trình độ đô thị hoá, việc tăng dân số quá nhanh cũng như việc xây dựng các khu công nghiệp ồ ạt nên diện tích nông nghiệp hay diện tích trồng lúa ngày càng bị hu hẹp Do đó việc tăng sản lượng lúa phụ thuộc vào khả năng tăng năng suất, vì thế mà yêu cầu cần có trình độ thâm canh cao, khoa học tiến bộ trong sản xuất lúa
- Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm với hai đồng bằng châu thổ rộng lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, dân số tập trung ở nông thôn khá cao (75%) rất thuận lợi phát triển lúa nước Song song đó là các khó khăn như: bão, lũ lụt, hạn hán, hay các biến động bất thường của thời tiết luôn đe doạ tới hoạt động sản xuất
- Hiện nay lúa gạo đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam do đó sản xuất lúa gạo rất được chú trọng cả về tăng năng suất và diện tích bằng các biện pháp như thâm canh, xen canh, gối vụ hay áp dụng các biện pháp khoa học trong khâu gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch và tạo giống chất lượng tốt…
1.1.2 Vai trò của sản xuất lúa
Sản xuất lúa có đầy đủ vai trò của ngành sản xuất nông nghiệp như: a) Cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội
Nhu cầu ăn là nhu cầu cơ bản, hàng đầu của con người Xã hội có thể thiếu nhiều loại sản phẩm nhưng không thể thiếu lương thực, thực phẩm Do đó, việc thỏa mãn các nhu cầu về lương thực, thực phẩm trở thành điều kiện khá quan trọng để ổn định xã hội, ổn định kinh tế Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với việc thỏa mãn nhu cầu này Đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm không chỉ là yêu cầu duy nhất của sản xuất nông nghiệp, mà còn là cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội Ở Việt Nam, lúa là cây nông nghiệp cung cấp nguồn lương thực chính cho quốc gia b) Cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ
Các ngành công nghiệp nhẹ như: chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến hoa quả, công nghiệp dệt, giấy, đường phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp Quy mô, tốc độ tăng trưởng của các nguồn nguyên liệu là nhân tố quan trọng quyết định quy mô, tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp mày c) Cung cấp một phần vốn cho công nghiêp hóa
Công nghiệp hóa đất nước là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Để công nghiệp hóa thành công, đất nước phải giải quyết rất nhiều vấn đề trong đó có vấn đề về vốn Là một nước nông nghiệp, thông qua việc xuất khẩu nông sản phẩm, sản xuất nông nghiệp có thể góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho nền kinh tế d) Hoạt động sản xuất nông nghiệp là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ
Nhu cầu sử dụng các loại sản phẩm công nghiệp và dịch vụ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là rất lớn, góp phần đáng kể trong việc mở rộng thị trường của các ngành công nghiệp và dịch vụ Đây là điều kiện thuận lợi để góp phần cho công nghiệp và dịch vụ phát triển e) Phát triển sản xuất nông nghiệp là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội
Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân cư của đất nước Phát triển sản xuất nông nghiệp một mặt đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, là thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và dịch vụ Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là cơ sở ổn định, phát triển nền kinh tế quốc dân
Phát triển sản xuất nông nghiệp trực tiếp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn, là cơ sở để ổn định chính trị, xã hội
Hơn thế nữa, sản xuất nông nghiệp tạo ra công ăn, việc làm cho người lao động, tạo điều kiện cho người lao động có thu nhập, hạn chế tham gia vào tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, ổn định
Ngoài ra, sản xuất lúa còn có các vai trò sau:
- Lúa gạo là một trong những loại cây lương thực chính của thế giới Đặc biệt với các nước Châu Á đây là loại lương thực chính để tạo ra các sản phẩm thiết yếu phục vụ cho đời sống Chính vì lý do trên lúa gạo có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp chất dinh dưỡng thiết yếu cho con người
Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tình hình sản xuất và kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa của một số quốc gia trên thế giới
Lúa gạo là loại thực phẩm quan trọng cho trên 50% dân số thế giới Thời gian gần đây, ngành lúa ga ̣o có hai chuyển biến lớn: (1) Chính phủ Thái Lan tăng giá gạo nội địa để giúp nông dân có đời sống tốt hơn; (2) Ấn Độ bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu loại gạo thường dùng (không thơm Basmati) gây ảnh hưởng lớn đến thị trường ga ̣o thế giới
Tùy vào tài nguyên đất đai, điều kiện tự nhiên và định hướng phát triển của mỗi quốc gia mà ở các nước có sự khác nhau về diện tích canh tác lúa Bên cạnh đó, sự phù hợp của cây lúa đối với từng loại đất, khí hậu, thời tiết, điều kiện canh tác nên năng suất ở mỗi quốc gia cũng không giống nhau Sự khác nhau về diện tích, năng suất dẫn đến sản lượng lúa ở mỗi quốc gia khác nhau Điều này thể hiện ở bảng 1.1 dưới đây
Bảng 1.1: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở một số nước trên thế giới năm 2011
STT Tên quốc gia Diện tích (ha) Năng suất
Nguồn: Tổng hợp từ website faostat.fao.org Qua bảng 1.1 ta thấy, Ấn Độ có diện tích canh tác lúa nhiều nhất, tiếp đến là Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Philipines và Pakistan Tuy nhiên nếu xét về mặt năng suất thì Trung Quốc đứng vị trí đầu tiên, tiếp đến là Việt Nam Điều này chứng tỏ Việt Nam là quốc gia có lợi thế trong ngành sản xuất lúa gạo so với các nước trên thế giới
Hàng năm tình trạng sản xuất lúa thế giới bị chi phối bởi các yếu tố chính sau đây:
- Chính sách an ninh lương thực quốc gia
- Tình trạng thời tiết, khí hậu, điều kiện tự nhiên
- Nhu cầu tiêu thụ của thế giới và chính sách xuất khẩu trong nước
- Ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, tài chính, năng lượng
Việc xuất khẩu lúa gạo của các quốc gia cũng phụ thuộc vào chính sách an ninh lương thực trong từng thời kỳ Bảng 1.2 dưới đây cho thấy được số lượng và giá trị xuất khẩu gạo năm 2011 của một số nước trên thế giới
Bảng 1.2: Tình hình xuất khẩu lúa gạo ở một số nước trên thế giới năm 2011
STT Tên quốc gia Số lượng XK (tấn) Giá trị XK
Nguồn: Tổng hợp từ website faostat.fao.org
* Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa của một số quốc gia:
Kinh nghiệm của Trung Quốc:
- Tập trung phát triển khoa học – công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
- Phát triển công nghệ sinh học, xây dựng công nghệ sản xuất của hơn 60 sản phẩm hoa màu, lúa gạo, lúa mì, khoai tây, táo và áp dụng thành công trên diện rộng về kỹ thuật cấy mô kháng virus vào giống
- Lĩnh vực công nghệ thông tin: xây dựng nhiều ngân hàng dự trữ thông tin nông nghiệp, ngân hàng dự trữ nông nghiệp, ngân hàng tài nguyên giống cây trồng, ngân hàng dự trữ kết quả khoa học – công nghệ, ngân hàng dữ liệu thống kê kinh tế nông nghiệp Các ngân hàng này được lưu trữ, cập nhật và khai thác mang tính hiệu quả cao
- Đầu tư nghiên cứu ra các loại phân hỗn hợp nồng độ cao, tan chậm thay thế cho phân đơn, nồng độ thấp hiện tại
- Về thiết bị nông nghiệp: ứng dụng máy móc, thiết bị đồng bộ phù hợp với cấu trúc, kỹ thuật trồng trọt, tiết kiệm được năng lượng
Kinh nghiệm của Thái Lan:
- Thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo chiến lược xây dựng cơ cấu kinh tế toàn diện và ổn định Phân vùng sản xuất nhằm giải quyết tình trạng sản xuất không ổn định, xây dựng vùng chuyên canh sản xuất, phân chia diện tích đất nhất định để sản xuất các loại cây trồng đảm bảo tưới tiêu tốt Cung cấp cho nông dân các loại giống khác nhau để phù hợp với từng loại đất, từng mùa vụ Quản lý sau thu hoạch hiệu quả bằng cách mua sắm phương tiện xây dựng các Kho chứa lúa Thúc đẩy nghiên cứu các công trình khoa học trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo, phối hợp với các ngân hàng dữ liệu nông nghiệp công bố các nghiên cứu phục vụ cho hoạt động sản xuất của người dân Cấp tín dụng, hỗ trợ vốn lãi suất ưu đãi cho nông dân
- Tập trung nâng cao sản lượng lúa thông qua việc áp dụng biện pháp kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất, hoàn thiện hệ thống tưới tiêu, quản bá thị trường lúa gạo, tăng giá trị xuất khẩu, nâng cao đời sống nông dân
- Phát triển các vùng nông nghiệp sinh thái đô thị, hình thành vùng sản xuất chuyên môn hóa xen kẽ với khu công nghiệp và dân cư Các nông sản sạch và có giá trị kinh tế cao được chú trọng phát triển Vấn đề tiêu thụ sản phẩm được giải quyết trên cơ sở phát triển quan hệ hợp tác giữa công ty chế biến lương thực với các hộ nông dân ở vùng sản xuất Đặc biệt, Chính phủ Thái Lan rất quan tâm đến các chính sách tài chính, tín dụng, khuyến nông, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải quyết ô nhiễm nhằm đẩy mạnh các vùng phát triển nông nghiệp trong đó có lúa gạo
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Kinh tế Việt Nam gồm công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ nhưng nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu, kết nối với nhiều ngành kinh tế khác Với khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp cho việc trồng lúa Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích đất trồng lúa lớn nhất trong cả nước Để thấy được diễn biến diện tích lúa của Việt Nam trong thời gian qua ta có bảng 1.3 dưới đây
Bảng 1.3: Diễn biến diện tích lúa được trồng ở Việt Nam ĐVT: ha
2 Trung du và miền núi phía Bắc 669.800 670.400 666.400 670.900 674.000
Bắc Trung bộ và duyên hải miền
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
Qua bảng 1.3 ta thấy, diện tích đất canh tác lúa của Việt Nam không ngừng tăng lên giai đoạn 2008 – 2012 Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy chính sách an ninh lương thực quốc gia đang được đẩy mạnh Trong đó một số vùng có giảm diện tích canh tác do chuyển sang loại cây trồng khác, nhưng sự giảm sút này không nhiều bằng sự tăng lên của một số vùng nên nhìn một cách tổng thể thì diện tích sản xuất lúa tăng dần qua các năm Để thấy được năng suất sản xuất lúa của người nông dân, ta xem bảng 1.4 dưới đây
Bảng 1.4: Diễn biến năng suất lúa ở Việt Nam ĐVT: tấn
2 Trung du mà miền núi phía Bắc 4,41 4,55 4,63 4,77 4,84
3 Bắc Trung bộ và duyên hải miền
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
Qua bảng 1.4 ta thấy, năng suất lúa không ngừng tăng lên qua các năm Đây là diễn biến tích cực cho thấy hoạt động sản xuất lúa của người nông dân Việt Nam đang dần được nâng cao về mặt hiệu quả Việc tăng lên về diện tích và năng suất tất yếu dẫn đến sản lượng lúa Việt Nam tăng theo
Bảng 1.5: Diễn biến sản lượng lúa ở Việt Nam ĐVT: tấn
Trung du và miền núi phía
Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
Việc xuất khẩu lúa gạo phụ thuộc vào chính sách an ninh lương thực và xuất khẩu của quốc gia Thời gian qua, sự tăng lên về sản lượng, ngành sản xuất lúa gạo không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực trong nước mà còn gia tăng về mặt số lượng xuất khẩu Điều này thể hiện rõ qua bảng 1.6 dưới đây Bảng 1.6: Tình hình xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam
STT Năm Số lượng XK (tấn) Giá trị XK (1.000USD)
Nguồn: Tổng hợp từ website faostat.fao.org
Qua bảng 1.6 ta thấy, xuất khẩu lúa gạo nước ta không ngừng tăng lên về cả số lượng và giá trị Đây là dấu hiệu tích cực khẳng định sự đóng góp của ngành nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất lúa gạo nói riêng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Lược khảo tài liệu nghiên cứu
- Mai Văn Nam (2006), “Nghiên cứu lợi thế so sánh sản phẩm lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long” Đề tài này nhóm tác giả sử dụng phương pháp thống kê mổ tả nhằm mô tả thực trạng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm lúa Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích và xác định các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất lúa Kết quả phân tích từ hàm Cobb-Douglas giúp xác định mức độ tác động của từng yếu tố đầu vào đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp phân tích lợi thế so sánh (DRC) để so sánh giữa chi phí cơ hội với giá trị tăng thêm do nó tạo ra Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao năng suất sản xuất lúa của nông hộ
- Mai Văn Nam (1999), “Hiệu quả sản xuất lúa và một số giải pháp nhằm tăng hiệu quả sản xuất lúa ở tỉnh Cần Thơ” Trong đề tài này các tác giả đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích, đánh giá các yếu tố đầu vào bình quân ảnh hưởng đến năng suất lúa như thế nào Ngoài ra tác giả còn sử dụng hàm giới hạn khả năng sản xuất Frontier được ước lượng bằng phương pháp đánh giá tối ưu (MLE – Maximum Likelihood Estination) trên phần mềm LIMDEP để phân tích điểm xuất lượng tối ưu mà tại đó năng suất đạt được cao nhất với chi phí đầu tư canh tác thấp nhất
- Phạm Vân Đình (2006), “Nghiên cứu lợi thế so sánh sản phẩm lúa ở vùng đồng bằng sông Hồng” Trong đề tài này tác giả đã sử dụng các phương pháp: hạch toán chi phí và kết quả sản xuất để tính toán các chỉ tiêu: giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), giá trị gia tăng (VA), thu nhập hỗn hợp (MI) của 1 ha lúa; phân tích các kênh tiêu thụ để xác định việc tiêu thụ lúa của các tỉnh điều tra theo hình thức nào sẽ cho hiệu quả hơn; hàm sản xuất Cobb- Douglas và hàm giới hạn khả năng sản xuất để phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong sản xuất lúa, hàm giới hạn khả năng sản xuất phản ánh năng suất tối đa mà nông dân có thể đạt được trong điều kiện kỹ thuật và chi phí xác định; phương pháp phân tích lợi thế so sánh (DRC) nhằm so sánh chi phí cơ hội của nguồn lực trong nước với giá trị của nguồn lực này do sản phẩm tạo ra
- Võ Thị Lang (2006), “So sánh hiệu quả của mô hình ba giảm ba tăng và mô hình canh tác truyền thống trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long” Trong đề tài này tác giả và các cộng sự đã sử dụng mô hình hồi quy tương quan đạng logarithm để ước lượng những yếu tố ảnh hưởng đến chi phí về sức khỏe của người nông dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long
- Nguyễn Thị Lương (2007), “Phân tích hiệu quả sản xuất lúa của chương trình ba giảm ba tăng ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2005 – 2006”
Trong đề tài này tác giả đã sử dụng: hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích và xác định các yếu tố đầu vào ảnh hưởng thế nào đến năng suất lúa; hàm tương tác các yếu tố sản xuất để phân tích mối quan hệ của các biến độc lập ảnh hưởng như thế nào đến sự tăng trưởng của biến phụ thuộc; phương pháp hạch toán chi phí và kết quả sản xuất để tính toán các chi phí trong sản xuất lúa như chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí tưới tiêu
- Thái Hoàn Ân (2007), “Đánh giá hiệu quả của mô hình canh tác lúa – tôm càng xanh tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang” Đề tài này tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm mô tả tình hình sản xuất và thực trạng của nông hộ đang canh tác mô hình lúa độc canh và lúa – tôm càng xanh tại huyện Thoại Sơn; phương pháp phân tích các chỉ số tài chính để so sánh các chỉ tiêu tài chính của các hộ nông dân đang canh tác mô hình lúa độc canh và lúa – tôm càng xanh Tác giả sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích và xác định các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình lúa độc canh và mô hình lúa – tôm càng xanh
- Lê Nguyễn Đoan Khôi và Nguyễn Ngọc Vàng (2012), “Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất tiêu thụ lúa gạo - trường hợp cánh đồng mẫu lớn tại An Giang” Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế và tài chính giữa hai nhóm nông hộ trong mô hình cánh đồng mẫu lớn và ngoài mô hình; phương pháp phân tích lợi ích chi phí (CBA) để phân tích thu nhập từ mô hình bao gồm các chi phí và doanh thu từ mô hình; tác giả còn sử dụng hàm lợi nhuận để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận sản xuất lúa của nông hộ thông qua việc ước lượng bằng công cụ hồi quy tương quan
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
Huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng được thành lập theo Nghị định 02/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ
Với diện tích tự nhiên 23.593 ha, bằng 7,14% diện tích tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng Huyện Châu Thành nằm ở phía Bắc của tỉnh Sóc Trăng, cách Thành phố Sóc Trăng 13 km, phía Đông giáp thành phố Sóc Trăng và các huyện Long Phú, Kế Sách; phía Tây giáp huyện Phụng Hiệp, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang; phía Nam giáp huyện Mỹ Tú; phía Bắc giáp huyện Kế Sách và thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang
Châu Thành là cửa ngõ của tỉnh Sóc Trăng và có quốc lộ 1A đi qua xuyên suốt chiều dài của huyện, kết nối với các tuyến đường tỉnh 939B, 982, là tuyến giao thông huyết mạch đi trong và ngoài huyện, nối địa bàn huyện với các tỉnh Hậu Giang, Bạc Liêu
Huyện được chia thành 07 xã: Hồ Đắc Kiện, Phú Tâm, Thuận Hòa, Phú Tân, Thiện Mỹ, An Hiệp, An Ninh và 01 thị trấn Châu Thành là huyện lỵ Dân số có 100.683 người, chiếm 7,78% dân số trung bình của tỉnh; có 03 dân tộc anh em Kinh - Hoa – Khmer sinh sống Quốc lộ 1A xuyên qua Huyện khoảng 20 km và chia huyện Châu Thành thành 02 vùng:
- Vùng Đông quốc lộ 1A: chủ yếu gồm Thị trấn Châu Thành, xã Phú Tân, Phú Tâm và một phần xã An Hiệp và Hồ Đắc Kiện
- Vùng Tây quốc lộ 1A: Chiếm phần lớn diện tích trong huyện gồm các xã An Ninh, Thiện Mỹ, An Hiệp, Thuận Hòa và phần lớn xã Hồ Đắc Kiện
Với lợi thế về giao thông thủy, bộ và khu công nghiệp An Nghiệp của tỉnh – có quy mô 220 ha nằm trên địa bàn xã An hiệp và xã Phú Tâm của huyện Châu Thành, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển toàn diện các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ Đặc biệt coi trọng thu hút các dự án đầu tư và phát triển một số vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế trang trại, các ngành công nghiệp phụ trợ cho khu công nghiệp An Nghiệp và cung cấp sản phẩm nông sản thực phẩm sạch cho thành phố Sóc Trăng
Toàn huyện có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 70 –
200 cm Địa chất được hình thành bởi các tầng địa chất chủ yếu là trầm tích mới Độ sâu từ 0-20m phổ biến là đất sét pha thịt có độ dẻo cao mềm, chịu lực kém Độ sâu từ 20-21 m là đất sét có độ dẻo trung bình và thấp, chịu lực tốt Huyện có độ dốc chính nghiêng từ Đông sang Tây, với phần lớn diện tích đất nằm ở vùng tương đối cao, tập trung ở các xã Phú Tân, Phú Tâm, An Hiệp,
An Ninh và Thị trấn Châu Thành Phần diện tích còn lại nằm ở vùng trung bình đến thấp tập trung ở các xã Hồ Đắc Kiện, Thiện Mỹ, Thuận Hòa Đặc điểm địa hình, đất đai tạo cho Châu Thành tiềm năng, thế mạnh về phát triển toàn diện các ngành kinh tế
* Lợi thế tiềm năng về tài nguyên đất đai:
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Châu Thành là 23.593 ha, chiếm 7,14% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Sóc Trăng Trong đó, đất đai được sử dụng mới nhiều mục đích khác nhau, cụ thể:
- Đất nông nghiệp là 21.145 ha, chiếm 89,6% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện (đất sản xuất nông nghệp là 19.482 ha, chiếm 82,6%, chủ yếu trồng lúa 16.497 ha, đất trồng khác 2.985 ha); đất lâm nghiệp là 524 ha và đất nuôi trồng thủy sản là 56 ha, đất nông nghiệp khác 1.083 ha Đất phi nông nghiệp 2.448 ha, chiếm 10,4% diện tích tự nhiên, trong đó đất ở 420 ha, đất chuyên dùng 1.580 ha; đất sông rạch và mặt nước là 330 ha, các loại đất phi nông nghiệp khác là 52 ha, đất chưa sử dụng còn 66 ha
Tài nguyên đất đai của huyện đã được khai thác sử dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên trong vùng Phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã được đầu tư thâm canh, nâng cao mức thu nhập trên một đơn vị diện tích đất sản xuất; đồng thời, đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng khối lượng các loại nông sản có giá trị kinh tế cao Từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế và nâng cao mức sống người dân
* Lợi thế tiềm năng về tài nguyên nước:
Một là, nguồn nước mặt: chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi sông Hậu, sông Mỹ Thanh theo kênh Phụng Hiệp – Sóc Trăng, sông Nhu Gia và qua sông Kế Sách vào các kênh 8 thước, 9 thước, Trà Cú,… cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn huyện
Ngoài ra còn có các ao, hồ, kênh rạch được phân bố rải rác và là tiềm năng lớn cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Chế độ thủy triều các sông rạch trên địa bàn huyện chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không điều của biển Đông với biên độ triều từ 0,4 – 1 m Tuy nhiên, Châu Thành là vùng đất cao nên không bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn, nhưng khó khăn về nước trong mùa khô
Hai là, nguồn nước ngầm: khá dồi dào, nước ngầm mạch sâu từ 100 –
180 m, chất lượng nước tốt để sử dụng cho sinh hoạt, nước ngầm mạch nông từ 5 – 30 m thường bị nhiễm mặn vào mùa khô
* Lợi thế tiềm năng về tài nguyên rừng:
Diện tích đất lâm nghiệp của huyện có 524 ha, chiếm 2,2% diện tích đất tự nhiên toàn huyện Rừng ở Châu Thành là rừng sản xuất, chủ yếu là rừng tràm Tài nguyên rừng của huyện Châu Thành tập trung ở các lâm trường thuộc các phân trường Sóc Trăng Rừng được trồng trên đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả
* Lợi thế tiềm năng về tài nguyên du lịch:
Các đình chùa, làng nghề là những điểm du lịch có thể kết nối với các tour du lịch nội tỉnh và liên tỉnh để đón khách tham quan du lịch
Một là, các loại đình chùa mang nét văn hóa tâm linh: loại đình chùa mang nét văn hóa người Việt như Chùa Ni Cô và Tịnh xá Ngọc Hòa ở xã An Ninh; Chùa mang nét văn hóa dân tộc Khmer như chùa Bốn Mặt, chùa Phnorroka (xã Phú Tâm), chùa Peng Sam Đất, Kom Pong Tróp (xã An Hiệp) Hai là, làng nghề truyền thống: Châu Thành có nhiều làng nghề truyền thống có thể phục vụ khách tham quan du lịch và mua sắm các sản phẩm làm quà lưu niệm như Làng nghề lạp xưởng, bánh Pía ở Vùng Thơm; làng nghề đan lát ở xã Phú Tân,…
* Lợi thế tiềm năng về tài nguyên khoáng sản:
Châu Thành có nguồn đất sét, cát, các loại khoáng sản khác chưa được điều tra khảo sát Nguồn đất sét có thể sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, ngói,…
* Lợi thế tiềm năng về tài nguyên thủy sản: