1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang

80 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH THÂN THỊ HƯỜNG THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

THÂN THỊ HƯỜNG

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHUYẾN NÔNG CHỦ YẾU

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA

TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60-31-10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Đỗ Thị Bắc

Thái Nguyên, năm 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn chỉnh luận văn đều đã được cảm ơn, các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Thân Thị Hường

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu,

Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại

học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi

điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thần cho tôi trong quá trình học tập và

thực hiện đề tài

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đỗ Thị Bắc đã trực tiếp

hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện

thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện,

Trạm Khuyến nông, phòng Nông nghiệp&PTNT, phòng Thống kê huyện Yên

Thế, cán bộ và nhân dân các xã Bố Hạ, Phồn Xương và Tiến Thắng huyện Yên

Thế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng

nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Thân Thị Hường

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TRONG SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA VÀ PHƯƠNG

1.1 Cơ sở lý luận về khuyến nông và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 4

1.1.2 Vai trò, mục tiêu và chức năng của khuyến nông đối với

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.2.3 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế sản

1.2.4 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế

Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG

TRONG SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ

SẢN XUẤT LÚA TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG 41

2.1 Tác động của môi trường vi mô và vĩ mô đến hoạt động khuyến

2.1.3 Một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội chủ yếu đã đạt được giai doạn

2.2 Nhu cầu của nông dân về khuyến nông trong sản xuất và nâng

2.2.1 Đánh giá chung của nông dân về khuyến nông trong sản

2.2.2 Nhu cầu tập huấn khuyến nông trong sản xuất và nâng cao

2.3 Thực trạng hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao

2.3.2 Thực trạng các hoạt động khuyến nông trong những năm qua 60

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.3.5 Các chủ trương, chính sách cho hoạt động khuyến nông

2.3.6 Một số kết quả hoạt động khuyến nông trong những năm qua 66 2.3.7 Những phương pháp và hoạt động khuyến nông chủ yếu của huyện Yên Thế đối với sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa 68 2.3.8 Tình hình hoạt động khuyến nông và sản xuất lúa của huyện

2.3.9 Đánh giá hoạt động khuyến nông và hiệu quả kinh tế các

2.3.10 Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa bằng một số

2.3.11 Khuyến nông với việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm lúa gạo

2.4 Hoạt động khuyến nông trong việc nâng cao hiệu quả xã hội và

2.5 Đánh giá chung về hoạt động khuyến nông đối với sản xuất

2.5.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động khuyến nông và

Chương III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHUYẾN NÔNG CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

3.2.2 Những định hướng chủ yếu về hoạt động khuyến nông nhằm

nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 93

3.2.3 Những mục tiêu chủ yếu về hoạt động khuyến nông nhằm nâng

cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 94

3.3 Những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả

3.3.2 Thực hiện hoạt động khuyến nông một cách có nguyên tắc 100

3.3.3 Đổi mới nội dung hoạt động công tác khuyến nông, chú

3.3.5 Làm tốt công tác truyền thông khuyến nông sản xuất lúa 112

3.3.6 Lập kế hoạch và đánh giá các chương trình khuyến nông sản xuất lúa 113

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Yên Thế giai

Bảng 2.6: Tỉ lệ CBKN so với nông dân và tỉ lệ CBKN cơ sở/1 đơn vị

Bảng 2.7: Các hoạt động khuyến nông trong sản xuất lúa trên địa bàn

Bảng 2.8: Cơ cấu giống, thời vụ gieo cấy lúa vụ xuân năm 2008- 2009 72

Bảng 2.10: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của huyện Yên Thế

Bảng 2.11: Kết quả đưa các giống lúa mới vào mô hình trồng thử

Bảng 2.12: So sánh chi phí sản xuất 1ha của một số giống lúa trồng

Bảng 2.13: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1ha của một số 80

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

giống lúa trồng mô hình với giống lúa đại trà (Khang dân) năm 2009 Bảng 2.14: Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1ha của một số giống lúa trồng mô hình với giống lúa đại trà (Khang dân) của nhóm hộ điều

Bảng 2.15: So sánh chi phí sản xuất 1ha lúa theo phương pháp mới

Bảng 2.16: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1ha lúa theo

Bảng 2.17: Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1ha lúa theo phương

Bảng 3.1: Dự kiến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của huyện

Bảng 3.4: Dự kiến các hoạt động khuyến nông trong sản xuất lúa trên

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu đồ 2.2: Nhu cầu về khuyến nông trong nâng cao hiệu quả kinh

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 04 : Truyền thông khuyến nông là hoạt động thông tin hai chiều 13

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 2.1: phiếu điều tra tình hình sản xuất lúa của các nông hộ

Phụ lục 2.2: Quy trình kỹ thuật xạ lúa theo hàng bằng giàn kéo tay 143

Phụ lục 2.5: Một số hình ảnh hoạt động khuyến nông trong sản xuất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta là một nước nông nghiệp có lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp là chủ yếu Phát triển nông nghiệp nông thôn là một phạm trù rộng lớn và quan trọng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Đặc biệt, đối với cây lúa là loại cây trồng giữ vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp

Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Sản xuất nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng tác động của nhiều yếu tố Cây lúa là cây lương thực chủ yếu nên việc phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đã trở thành mục tiêu của quốc gia

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong điều kiện kinh tế thị trường thực tế cho thấy người nông dân Việt Nam đang thiếu những thông tin cần thiết, họ cần được đào tạo, nâng cao kiến thức và kỹ năng phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo Vì vậy tháng 3/1993 Chính phủ ban hành nghị định 13/CP kèm theo thông tư liên tịch số 02/LN/TT ngày 02/8/1993 hướng dẫn thi hành Nghị định và các nghị định về công tác khuyến nông - Hệ thống tổ chức khuyến nông ra đời có nhiệm vụ giúp nông dân giải quyết những nhu cầu cần thiết [3]

Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, người dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp trong đó sản xuất lúa là chính Do vậy, phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt sản xuất lúa là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của huyện Tuy nhiên, sản xuất lúa hàng hoá còn ít, hiệu quả kinh tế thấp, đời sống người dân còn nhiều khó khăn

Trong những năm qua đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu thực hiện trên địa bàn với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội (KTXH) ở địa phương Tuy nhiên chưa có công trình, đề tài nghiên cứu

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

những giải pháp khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

Trong khi đó, việc xem xét đánh giá thực trạng công tác khuyến nông trong

sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế là việc làm cần thiết và thiết thực, từ

đó có thể định hướng và đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy thế

mạnh và hạn chế những mặt yếu trong sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế sản

xuất lúa

Xuất phát từ đó tôi lựa chọn đề tài: "Thực trạng và những giải pháp

khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại

huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang" góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã

hội nông thôn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung

Mục tiêu bao trùm của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng khuyến

nông về sản xuất lúa của huyện Yên Thế, đề xuất những giải pháp khuyến

nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây lúa của huyện, góp

phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn của huyện Yên

Thế, tỉnh Bắc Giang

* Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề khuyến

nông và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

- Phân tích, đánh giá thực trạng, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt

động khuyến nông nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa bàn huyện

Yên Thế từ năm 2007-2009

- Đề ra định hướng và những giải pháp khuyến nông nhằm nâng cao

hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện Yên Thế trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề khuyến nông chủ yếu nhằm nâng

cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của người dân nông thôn, các hộ và cộng

đồng tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

* Phạm vi nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi nghiên cứu về không gian, thời gian và nội dung nghiên cứu

+ Không gian: Tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang + Thời gian: Số liệu từ năm 2007-2009

+ Nội dung: Thực trạng hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Tuy vậy, hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa là vấn đề rất rộng nên luận văn tập trung nghiên cứu đối với một

số hoạt động chính và mô hình sản xuất lúa của huyện Yên Thế

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực,

là tài liệu giúp nông dân, xã, huyện và tỉnh đánh giá sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, để đưa

ra được các giải pháp khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, để sản xuất lúa đạt hiệu quả cao, có cơ sở khoa học

5 Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và phương pháp nghiên cứu Chương II : Thực trạng hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Chương III: Phương hướng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN

NÔNG TRONG SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH

TẾ SẢN XUẤT LÚA VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về khuyến nông và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

1.1.1 Khái niệm về khuyến nông

Khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụ

nhiều mục đích rộng rãi, do đó có nhiều quan niệm và định nghĩa về khuyến

nông, nhưng từ những sự hiểu biết khác nhau đó, chúng ta cũng có thể thống

nhất được những điểm chung của khuyến nông

Theo định nghĩa chữ Hán, "khuyến" có nghĩa là khuyên người ta cố

gắng hết sức trong công việc, còn "khuyến nông" nghĩa là khuyên mở mang

phát triển trong nông nghiệp

Thuật ngữ "Extension" có nguồn gốc ở Anh, sau đó được mở rộng tới

các Hội giáo dục khác ở Anh và các nước khác "Extension" với nghĩa ban

đầu là "triển khai" hay "mở rộng", khi ghép với từ "Agriculture" thành

"Agricultural Extension" thì dịch là "khuyến nông" [13]

“Khuyến nông là phương pháp động, nhận thông tin có lợi tới người dân

và giúp họ thu được những kiến thức, kỹ năng và những quan điểm cần thiết

nhằm sử dụng một cách có hiệu quả thông tin hoặc kỹ thuật này”

(B.E.Swanson và J.B.Claar)

“Khuyến nông , khuyến lâm là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm

giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng

đắn” (A.W.Va den Ban và H.S Hawkins - khuyến nông, 1988)

“Khuyến nông, khuyến lâm được xem như một tiến trình của việc hoà

nhập các kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại, các quan điểm, kỹ năng để

quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử

dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để có khả năng

vượt qua các trở ngại gặp phải” (D.Sim và H.A.Hilmi -FAO Rorestry Paper

80, 1987, FAO Rome)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

“Khuyến nông, khuyến lâm là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, các nhu cầu và giúp họ tự quyết định giải quyết vấn đề chính của

họ”(Malla - A Manual for training Field Worrkers, 1989)

“Khuyến nông, khuyến lâm là một quá trình giáo dục Các hệ thống khuyến nông khuyến lâm thông báo, thuyết phục và kết nối con người, thúc đẩy các dòng thông tin giữa nông dân và các đối tượng sử dụng tài nguyên

khác các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà lãnh đạo” (Falconer,

F.-Forestry, A Review of Key Issues, Social Forestry Network Paper 4e, 1987, O.D.I., London)

“Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó có người già và người trẻ học bằng cách thực hành”

(Thomas, G.Floes)

Qua rất nhiều định nghĩa khác nhau, chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu khuyến nông theo hai nghĩa:

- Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng, là khái niệm chung để chỉ tất cả những

hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Khuyến nông là ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết với nhau để chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ Nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn

- Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp, là một tiến trình giáo dục không

chính thức mà đối tượng của nó là nông dân Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ Khuyến nông là

sử dụng các cơ quan nông lâm ngư, các trung tâm khoa học nông lâm ngư để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ có thể áp dụng nhằm thu được nhiều sản phẩm hơn

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trên cơ sở đúc kết hoạt động khuyến nông ở Việt Nam, chúng ta có thể

định nghĩa về khuyến nông như sau: Khuyến nông là cách đào tạo và rèn

luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương,

chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý,

những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn

đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống,

nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn

Khuyến nông là cách giáo dục ngoài học đường cho nông dân Khuyến

nông là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo… cho nông dân theo

nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt; đồng thời đó là quá trình tiếp thu kiến

thức và kỹ năng một cách dần dần và tự giác của nông dân [18]

* Triết lý của Khuyến nông

Triết lý của khuyến nông về phát triển nông thôn đã được đề cập đến tại

nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc tế và trên nhiều ấn phẩm

Theo các tác giả Thomas, G.Floers, Pedro, B.Bueno, Lapastora, và Tổ

chức hợp tác quốc tế vì phát triển và đoàn kết (CIDSE) đã đưa ra triết lý là:

+ Khuyến nông dựa trên quan điểm cho rằng nông dân là những người

thông minh, có năng lực, mong muốn nhận được thông tin và kiến thức mới

để phát triển sản xuất nhằm đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho gia đình,

cho cá nhân và cho cộng đồng của mình

+ Người nông dân đã sống qua nhiều đời tại địa phương họ, trong môi

trường sinh thái và môi trường xã hội của cộng đồng mình, họ có sự hiểu biết

khá rõ về những yếu tố môi trường xã hội như phong tục, tập quán, kinh

nghiệm làm ăn ở địa phương Do đó nếu biết khơi dậy tiềm năng bằng nhiều

yếu tố chủ quan và khách quan thì ước vọng của người nông dân và cộng

đồng nông thôn đều có thể trở thành hiện thực Người nông dân vốn sống gần

thiên nhiên và sống bằng sức lao động của chính mình nên họ có nhiều đức

tính quý là sống chân thành, cởi mở, cần cù siêng năng trong lao động, nhiều

người lại rất thông minh, ham học hỏi, cầu tiến bộ

+ Người nông dân cũng như các thành phần khác trong xã hội, đều có

một sự mong muốn là đời sống vật chất và tinh thần ngày một được cải thiện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Điều yếu kém, hạn chế của người nông dân là thiếu thông tin, thiếu kiến thức

kỹ thuật và cũng có thể do cơ chế tổ chức, cơ chế chính sách chưa phù hợp

Do vậy nếu khuyến nông cung cấp đầy đủ thông tin, hướng dẫn kỹ thuật, tạo

ra cơ chế thông thoáng phù hợp, người nông dân hoàn toàn có khả năng giải quyết các vấn đề của chính họ một cách thành công

+ Người cán bộ khuyến nông (CBKN) được nhận trách nhiệm đưa thông tin, đưa các tiến bộ kỹ thuật đến nông dân Nghiên cứu tháo gỡ những vướng mắc của người dân ở nông thôn, động viên khuyến khích họ, cộng đồng họ, tự nguyện, tự chủ trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn trong cộng đồng + Cơ sở triết lý nói trên dẫn đến những mục tiêu mà khuyến nông cần đạt được, những nguyên tắc khuyến nông phải tôn trọng, những phương pháp khuyến nông được áp dụng và đạo đức, tư cách của CBKN khi làm việc với nông dân

1.1.2 Vai trò, mục tiêu và chức năng của khuyến nông đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam

* Vai trò:

- Khuyến nông có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông thôn Trong điều kiện nước ta hiện nay, nông nghiệp nông thôn có vai trò to lớn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhưng ở nhiều vùng nông thôn mức sống và trình độ dân trí còn rất thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình

độ sản xuất còn lạc hậu Đây là những thách thức rất lớn trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Khuyến nông được coi là một trong những con đường góp phần giải quyết những thách thức đó

Ngày nay công tác khuyến nông trở nên không thể thiếu được ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương và đối với từng hộ nông dân Mọi quốc gia đều cần

sự cung ứng đầy đủ lương thực thực phẩm cho toàn dân nước đó, nếu tiêu chuẩn sống nói chung là phải trên mức đủ để tồn tại, thì sản xuất nông nghiệp phải cung cấp đủ thức ăn không chỉ cho nông dân và gia đình họ, mà còn cho những người làm trong ngành nghề khác như y tế, giáo dục, vận tải, công nghiệp, quốc phòng… Chỉ có như thế những người này mới quay trở lại đóng

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

góp cho sự phát triển của những vùng nông thôn và giúp cho sự sản sinh và duy

trì một tiến trình chung của sự phát triển kinh tế - xã hội Thiếu một nền sản xuất

nông nghiệp tăng trưởng vững chắc thì toàn bộ những cố gắng phát triển xã hội

và kinh tế sẽ bị hạn chế nghiêm trọng Vì vậy công tác khuyến nông cần phải

được tăng cường củng cố và phát triển, trong mối quan hệ này khuyến nông thực

sự là phương cách hữu hiệu để thực hiện phát triển nông thôn

Sơ đồ 01: Vai trò của công tác khuyến nông

(Ghi chú: Các mũi tên chỉ sự tác động của các cơ quan, hoạt động ảnh

hưởng đến phát triển nông thôn, nhưng cũng có hướng mũi tên ngược lại do

tác động của hoạt động phát triển nông thôn tới các tổ chức và hoạt động đó)

- Vai trò của khuyến nông trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triển

nông nghiệp

Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới thường là kết quả

của các cơ quan nghiên cứu khoa học như viện, trường, trạm… Những tiến bộ

Giáo dục

Phát triển nông nghiệp nông thôn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

này cần được nông dân chọn lựa, áp dụng vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động Trên thực tế giữa nghiên cứu và áp dụng có một khâu trung gian để chuyển tải hoặc cải tiến cho phù hợp để nông dân áp dụng được

Ngược lại những kinh nghiệm của nông dân, những đòi hỏi cũng như nhận xét đánh giá về kỹ thuật mới của nông dân cũng cần được phản hồi đến các nhà khoa học để họ giải quyết cho sát thực tế Trong những trường hợp này, vai trò của khuyến nông khuyến lâm chính là chiếc cầu nối giữa khoa học với nông dân

Sơ đồ 02: Vai trò của khuyến nông trong phát triển nông nghiệp

- Vai trò của khuyến nông đối với Nhà nước Khuyến nông là một trong những tổ chức giúp Nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp

Trực tiếp hoặc góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến các cơ quan Nhà nước, trên cơ sở đó Nhà nước hoạch định, cải tiến đề ra được chính sách phù hợp

* Mục tiêu

Mục tiêu của khuyến nông là làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông không chỉ nhằm những mục tiêu phát triển kinh tế mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân người nông dân và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Muốn đạt được những mục tiêu đó, người CBKN phải thảo luận với

nông dân, giúp họ có cách nhìn thực tế và lạc quan hơn đối với mọi vấn đề

trong cuộc sống để họ tự giải quyết biện pháp vượt qua những khó khăn [13]

Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ban hành ngày 26/4/2005 của Chính phủ

về khuyến nông - khuyến ngư đã chỉ rõ 3 mục tiêu của khuyến nông, khuyến

ngư như sau:

+ Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức,

kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất

+ Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông

thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng

bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy

quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

+ Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham

gia khuyến nông, khuyến ngư

* Chức năng của khuyến nông:

Chức năng cơ bản của khuyến nông không những là truyền bá thông tin

và huấn luyện nông dân mà còn biến những thông tin, kiến thức được truyền

bá, những kỹ năng đã đào tạo thành những kết quả cụ thể trong sản xuất và

đời sống

Thực tiễn hoạt động củaa ngành nông nghiệp trong những năm đổi mới

vừa qua, tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động khuyến nông trên toàn quốc có

một số nội dung hoạt động của công tác khuyến nông Việt Nam trong giai

đoạn mới như sau:

1 Phổ biến tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến về trồng trọt, chăn

nuôi, lâm nghiệp, chế biến, bảo quản nông lâm thuỷ sản và những kinh

nghiệm điển hình sản xuất giỏi, chuyển đổi cơ cấu kinh tế

2 Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản

xuất, dịch vụ, kinh doanh; thông tin về thị trường, giá cả nông sản để nông

dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3 Dịch vụ giống, vật tư kỹ thuật để xây dựng mô hình [12]

1.1.3 Nguyên tắc hoạt động và phương pháp khuyến nông

- Khuyến nông cùng làm với dân, không làm thay cho dân

- Khuyến nông là một công việc đầy trách nhiệm

- Khuyến nông là nhịp cầu thông tin hai chiều Khuyến nông là một nhịp cầu vừa chuyển giao kiến thức KHKT của các

cơ quan nghiên cứu đến cho nông dân, vừa tiếp nhận thông tin của nông dân chuyển đến các cơ quan nghiên cứu

Sơ đồ 03: Khuyến nông là nhịp cầu nối

- Khuyến nông không áp đặt, không mệnh lệnh

- Khuyến nông hợp tác với những tổ chức phát triển nông thôn khác

- Khuyến nông làm việc với các đối tượng khác nhau

1.1.3.2 Phương pháp khuyến nông

Khuyến nông là một hình thức giáo dục ngoài học đường, đối tượng chính là nông dân lao động, là những người có tuổi, là thanh niên nam nữ

Cơ quan nghiên cứu

Khuyến

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nông thôn Phương pháp khuyến nông là cách làm về khuyến nông để đạt

được những mục tiêu đã đặt ra Có nhiều phương pháp khuyến nông, phương

pháp nào cũng có mặt tích cực và mặt hạn chế của nó Cho nên việc sử dụng

phương pháp nào cần có sự suy xét, đánh giá

- Các loại hình phương pháp khuyến nông

+ Phương pháp khuyến nông chung

+ Phương pháp khuyến nông chuyên ngành

+ Phương pháp khuyến nông đào tạo và tham quan

+ Phương pháp khuyến nông có nông dân tham gia (PRA)

+ Phương pháp khuyến nông lập dự án

+ Phương pháp khuyến nông phát triển hệ thống nông nghiệp

+ Phương pháp khuyến nông cùng chịu phí tổn

+ Phương pháp khuyến nông tổ chức giáo dục

- Phương pháp cá nhân

- Phương pháp khuyến nông theo nhóm

- Hội họp

- Trình diễn

- Hội thảo đầu bờ

- Phương pháp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân

1.1.4 Truyền thông khuyến nông

Khuyến nông có nhiệm vụ chủ yếu là chuyển giao TBKT và công nghệ

mới… trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp đến đại đa số nông dân giúp họ

nâng cao trình độ canh tác, nâng cao đời sống Đây là cách nhanh nhất rút ngắn

khoảng cách về tri thức, là cách tốt nhất để chớp lấy thời cơ phát triển nhanh

hơn, chống tụt hậu trong sản xuất nông nghiệp so với các nước tiên tiến

Để có được nguồn thông tin, CBKN rất cần nhanh chóng tiếp cận với

các phương tiện thông tin hiện đại, đa dạng, còn nông dân Việt Nam rất cần từ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

người CBKN những kiến thức đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng Để làm tốt việc chuyển giao TBKT, CBKN cần nắm được những nguyên tắc cơ bản của truyền thông và những phương pháp truyền thông

Sơ đồ 04 : Truyền thông khuyến nông là hoạt động thông tin hai chiều

Để đáp ứng nhu cầu của luồng thông tin nông nghiệp ở địa phương, đáp ứng nhu cầu người nhận và thực hiện được mục đích truyền thông, truyền thông trong khuyến nông là hoạt động hai chiều: chiều lên và chiều xuống

1.1.5 Lập kế hoạch và đánh giá các chương trình khuyến nông

- Chương trình khuyến nông muốn thực hiện có hiệu quả tốt đều phải có

kế hoạch chu đáo Không thể có một hoạt động riêng lẻ, mọi trình diễn, tham

Chiều xuống

NGƯỜI DÂN - CỘNG ĐỒNG - NÔNG THÔN

Chiều lên

CÁC CƠ QUAN KHUYẾN NÔNG

Nội dung:

- Các chủ trương, chính sách khuyến nông và phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp

- Các phương thức sản xuất, các chương trình khuyến nông mới

- Kỹ thuật sản xuất nông, lâm nghiệp

- Các khuyến cáo của Nhà nước

Nội dung:

- Những phương thức sản xuất truyền thống

- Những kinh nghiệm sản xuất, các kết quả

từ mô hình, từ thử nghiệm (thông qua đánh giá)

- Những nhu cầu, nguyện vọng và kiến nghị

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

quan, hội họp, chiếu phim… đều là cấu thành của một chương trình khuyến

nông toàn diện để CBKN và nông dân hướng tới các mục tiêu phát triển Có

hai hình thức lập kế hoạch:

+ Lập kế hoạch từ dưới lên: Nông dân cùng với CBKN xây dựng những

kế hoạch phát triển nông nghiệp trên cơ sở những nhu cầu và những tiềm

năng ở địa phương, sau đó, yêu cầu cấp trên hỗ trợ thực hiện

+ Lập kế hoạch từ trên xuống: Trong trường hợp này, CBKN chỉ cần

thực hiện những kế hoạch khuyến nông do cấp trên đưa xuống Có thể anh ta

sẽ phải hoàn thành một số chỉ tiêu cho trước

Chương trình khuyến nông chỉ có thể thành công nếu biết kết hợp cảu hai

hình thức lập kế hoạch nói trên Và sự tham gia của người dân trong khi lập kế

hoạch là một phần rất quan trọng trong tiến trình giáo dục của khuyến nông

- Đánh giá các hoạt động khuyến nông là quá trình xem xét, phân tích

hoạt động khuyến nông với sự tham gia của CBKN và nông dân Đánh giá để

khẳng định thành công hay thất bại của hoạt động khuyến nông đó theo mục

tiêu và kế hoạch ban đầu Mục đích đánh giá tiến độ thực hiện và kết quả các

hoạt động; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các nội dung hoạt động,

điều chỉnh các hoạt động tiếp theo; đề xuất cho các hoạt động khuyến nông

mở rộng Việc đánh giá các chương trình khuyến nông là rất cần thiết nhằm

giúp CBKN xác định xem các mục tiêu đề ra có đạt được hay không, và các

nguyên nhân gây ra không đạt mục tiêu trong khi thực hiện chương trình Kết

quả của việc đánh giá và phân tích cập nhật tình hình sẽ tạo cơ sở cho khuyến

nông xây dựng được những chương trình tốt hơn cho thời gian tiếp theo

1.1.6 Khuyến nông với một số lĩnh vực hoạt động chủ yếu

* Khuyến nông và kinh tế thị trường, khuyến nông với CNH-HĐH nông

nghiệp nông thôn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ở nước ta hiện nay việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một tất yếu khách quan phù hợp với đòi hỏi phát triển của nền kinh tế Cũng như mọi hoạt động khác của nền kinh tế, công tác khuyến nông cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế này

Năm 2007, nước ta trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới - WTO Nông dân nước ta đã, đang và sẽ đi chợ toàn cầu, tri thức hoá Nông nghiệp sẽ hiện đại hoá, công nghiệp hoá ngang tầm khu vực Nông thôn Việt Nam mới, văn minh sẽ được hình thành Người nông dân sản xuất

ra cho hai thị trường: trong nước và xuất khẩu ví dụ như năm 2005 chúng ta sản xuất ra 36 triệu tấn thóc thì tiêu dùng trong nước hết 25 triệu tấn, còn xuất khẩu hơn 10 triệu tấn; GDP khoảng 60 tỷ USD thì tiêu dùng trong nước gần

40 tỷ, còn xuất khẩu trên 20 tỷ Trong các ngành hàng sản xuất có một số ngành hàng tăng trưởng nhờ tiêu dùng trong nước tăng lên nhưng đồng thời nền sản xuất của nước ta cũng hướng về xuất khẩu, đã là nền sản xuất hàng hoá Như vậy tiêu dùng trong nước cũng quan trọng ngang với xuất khẩu, trên

80 triệu dân nước ta ưa chuộng hàng hoá thì lợi ích cũng như xuất khẩu, đó là

sự phát triển bền vững Hoạt động khuyến nông nhằm thúc đẩy phát triển

“tam nông” Trước đây trọng tâm là khuyến nông kỹ thuật (technic) thì hiện nay cần chuyển sang khuyến nông công nghệ (technology), khuyến nông kinh

tế (đánh giá hiệu quả), khuyến nông xã hội (tổ chức sản xuất), khuyến nông thị trường (định hướng XHCN Việt Nam) [15]

Giúp cho nông hộ biết cách phân tích, xác định nhu cầu thị trường về nông sản hàng hoá để lựa chọn phương hướng sản xuất kinh doanh; biết lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp; biết lựa chọn TBKT và công nghệ phù hợp; biết cách tổ chức quản lý, sử dụng lao động và các nguồn lực… Biết

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phát huy lợi thế so sánh, nội lực và tranh thủ các nguồn hộ trợ thông qua các

chương trình, dự án, biết cách tổ chức sản xuất, liên kết giữa các nhóm hộ

Khuyến nông cần phải hướng dẫn nông dân, giúp họ có những hiểu biết

nhất định về thị trường: Biết sản xuất hàng hoá, sản xuất cây, con gì để có thể

bán được nhiều và nhanh? Sản xuất như thế nào để có lãi nhiều? Cách tiếp

cận thị trường, có khi người dân sẽ gặp phải những khó khăn như sản xuất

được nhiều sản phẩm nhưng không tiêu thụ được hoặc năng suất cây trồng,

vật nuôi cao, chi phí cao vì vậy sản xuất không có lãi

Sơ đồ 05: Khuyến nông trong kinh tế thị trường Việt Nam

* Khuyến nông với việc đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng hoá

Khuyến nông thực hiện thông tin tuyên truyền về đường lối, chính sách,

pháp luật của Nhà nước; tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ; cung cấp

thông tin thị trường, giá cả, pháp luật thương mại, quảng bá thương hiệu, tiêu

chuẩn chất lượng, vận chuyển, sự phát triển của thị trường nông sản… từ đó

Ngân hàng, tín dụng Khuyến nông (xã hội hoá) Doanh nghiệp

Sản xuất (hộ nông dân)

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Nghiên cứu KH,CN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

định hướng giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn sản xuất với chế biến và thị trường Nông sản hàng hoá được tiêu thụ dễ dàng hơn

* Tín dụng khuyến nông

Trong hoạt động tín dụng người cho vay vốn (là ngân hàng) và khuyến nông cùng giúp nông dân phát triển sản xuất, vốn vay được bảo toàn và phát triển, đời sống của người dân càng no đủ Khuyến nông là người gần gũi nông dân, biết rõ tâm tư nguyện vọng của người nông dân, có thể giúp đỡ họ về kỹ thuật và có các kiến thức về thị trường nên có thể tư vấn cho người dân nên sử dụng vốn vay như thế nào cho có lợi nhất và hiệu quả nhất Những kiến thức về thị trường do khuyến nông mang lại giúp nông dân tiến hành sản xuất gắn với thị trường, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ dễ hơn, mang lại hiệu quả cao hơn

* Khuyến nông với bảo vệ môi trường sinh thái

Đối tượng của công tác khuyến nông là người nông dân, phát triển nông nghiệp và góp phần phát triển nông thôn Để bảo vệ môi trường thì mô hình nông nghiệp phải mang tính bền vững, mà đặc trưng của nó là quy mô phải hợp lý, thâm canh đa dạng về chủng loại cây trồng vật nuôi, đang dạng hoá về chế độ canh tác, các tài nguyên năng lượng và sinh học được bảo toàn, tái tạo,

tự điều chỉnh và tự tái sinh Đây là mô hình rất phù hợp với công tác khuyến nông vì quy mô sản xuất của mỗi hộ gia đình nông dân ở Việt Nam thường là nhỏ và có điều kiện để quản lý hệ thống sản xuất ở đây theo đúng những yêu cầu của nông nghiệp bền vững nếu được hướng dẫn đầy đủ Mặt khác, công tác khuyến nông còn đặc biệt quan tâm giáo dục người nông dân biết cách phát triển kinh tế hộ gia đình mình theo đúng các phương pháp khoa học sinh thái nhân văn, giúp bảo vệ môi trường

* Đào tạo cán bộ khuyến nông

CBKN là người làm trực tiếp, thường xuyên với nông dân trong công tác phát triển nông thôn nên người CBKN cần phải có kiến thức và kỹ năng thực

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hành về nông nghiệp như quản lý, trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ

lợi CBKN là người tuyên truyền, khuyến cáo chủ trương, chính sách của

Đảng và Nhà nước, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật tới nông dân,

những cách làm ăn mới CBKN là người có thể tư vấn cho nông dân nên sản

xuất gì và như thế nào để đạt hiệu quả CBKN là người đem kiến thức đến

cho dân và giúp họ sử dụng kiến thức đó Do vậy người CBKN cần được đào

tạo, được trang bị đầy đủ các thông tin và kiến thức kỹ thuật để giúp đỡ nông

dân Tuy nhiên, khi làm khuyến nông, người CBKN phải dựa vào đường lối,

chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp phát triển nông

thôn [13]

1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

1.2.1 Vai trò, đặc điểm và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

- Vai trò

Cây lúa là cây trồng chính ở Việt Nam Vị trí quan trọng của cây lúa trong

đời sống con người luôn được khẳng định qua nhiều thời đại Lúa gạo đáp ứng

yêu cầu trực tiếp của con người Lúa gạo là lương thực chính cho hơn một nửa

số dân trên thế giới, chủ yếu các nước ở vùng nhiệt đới và một phần á nhiệt đới,

châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh Trong cơ cấu sản xuất lương thực của thế

giới, lúa mì chiếm 30,5%, lúa gạo 26,5%, ngô 24%, còn lại là những loại ngũ

cốc khác Ngoài ra, lúa gạo còn được dùng làm thức ăn cho gia súc, là nguyên

liệu cho công nghiệp và là nguyên liệu để xuất khẩu Các sản phẩm phụ của thóc

gạo như rơm rạ, trấu, cám đều được phục vụ lợi ích của con người

- Đặc điểm

Cây lúa được trồng ở nhiều nơi, từ 400

vĩ Nam đến 300 vĩ Bắc Ở nước

ta, cây lúa phát triển tốt ở những vùng nhiệt đới ẩm điển hình, vùng nhiệt đới

ẩm không điển hình và cả vùng nhiệt đới núi cao nếu điều kiện đất và nước

cho phép Ở vùng nhiệt đới ẩm điển hình có tổng nhiệt khoảng 90000C không

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông-Bắc (từ đèo Cà trở vào) thì quanh năm có nước là gieo cấy được Từ khi có giống lúa ngắn ngày, ở vùng này, nông dân thường làm 3 vụ ăn chắc: Đông xuân, Hè thu, mùa; ở vùng nhiệt đới không điển hình, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc có nơi có cả gió Lào khô nóng, những nơi không chủ động được nước, nông dân tập trung làm hai vụ ăn chắc, cấy lúa trung ngày để có năng suất cao và ổn định [8]

- Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

Lúa gạo là lương thực không thể thiếu được cho hơn một nửa số dân trên thế giới Lúa gạo tham gia xuất khẩu, làm tăng thu nhập quốc dân Lúa gạo luôn là mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh truyền thống của Việt Nam

1.2.2 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế

a Quan điểm về hiệu quả kinh tế

- Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác đó là việc: tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành

và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động” [10] hay

là hiệu quả C.Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động là cơ sở của

hết thảy mọi xã hội” và sự tăng lên của sức sản xuất hay mức lao động, chúng

ta hiểu nói chung là sự thay đổi bằng cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một hàng hoá sao cho

số lượng lao động ít hơn mà lại có được một sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn [9]

- Hiệu quả theo quan điểm của các nhà kinh tế học thị trường, David

Begg lại cho rằng “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng một

loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng một hàng hoá khác Một nền kinh

tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó” ông còn khẳng

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

định hiệu quả là không lãng phí [2] Quan điểm này vẫn chưa thật sự đầy đủ

và chúng ta khó xác định được hiệu quả

- Một số nhà kinh tế khác, đại diện là Prokto cho rằng “Hiệu quả của

nền sản xuất xã hội là tăng năng suất lao động” [12] Quan điểm này đồng

nhất hiệu quả nền sản xuất xã hội với các biểu hiện cụ thể của nó

- Các nhà kinh tế người Đức lại nói “Hiệu quả kinh tế là mức độ tiết

kiệm chi phí và mức tăng kết quả hữu ích đạt được” [11] Quan điểm này xuất

phát từ việc quan tâm giải quyết mâu thuẫn giữa giới hạn khả năng sản xuất

và nh cầu ngày càng tăng của con người, do vậy họ quan tâm đến mối quan hệ

giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được trên giác độ xã hội cũng như doanh

nghiệp Quan điểm này chỉ đi sâu vào bản chất chứ không phải là khái niệm

về hiệu quả, đồng thời chưa nói rõ cách ước lượng hiệu quả

- Quan điểm khác lại khẳng định “Hiệu quả kinh tế đạt được biểu hiện là

mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất được và chi phí bỏ ra

để đạt được kết quả đó” [16] Mối quan hệ so sánh này được xem xét cả về

hai mặt số tương đối và số tuyệt đối Khi phân tích quan điểm này ta nhận

thấy rằng:

+ Hiệu quả trước hết được đo bằng hiệu số giữa kết quả sản xuất đạt

được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Ở khía cạnh này, mới chỉ

rõ quy mô của hiệu quả chứ chưa phản ánh đầy đủ và đúng mức hiệu quả, bởi

vì mục tiêu của các đơn vị kinh tế là tối đa lợi nhuận trong điều kiện bị giới

hạn các nguồn lực chứ không phải là đạt được kết quả sản xuất ở bất kỳ mức

chi phí nào

+ Hiệu quả kinh tế được xác định bởi sự so sánh tương đối (phép chia)

giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Cách đánh giá

này đã chỉ rõ được mức độ hiệu quả các nguồn lực sản xuất, từ đó có thể so

sánh hiệu quả kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau Tuy vậy, chưa thể

hiện được quy mô sản xuất nói chung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Theo ý kiến nhận xét của các nhà kinh tế khác: Những quan điểm về hiệu quả kinh tế nêu trên chỉ mới nhìn nhận ở những góc độ và khía cạnh trực tiếp, nó chưa toàn diện Khi đánh giá hiệu quả kinh tế phải đặt trên tổng thể kinh tế - xã hội tức là phải quan tâm đến những mục tiêu phát triển xã hội như nâng cao mức sống, cải thiệu điều kiện học tập, làm việc Quan điểm này là toàn diện bởi vì nó đã thể hiện được mối quan hệ giữa kinh tế vĩ mô và vi mô, phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới

- Ở nước ta, coi hiệu quả kinh tế không chỉ đơn thuần là thu được lợi nhuận tối đa mà còn phải phù hợp với yêu cầu của xã hội và đáp ứng được đường lối chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Chính

vì vậy, Đảng ta khẳng định rõ “Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan

trọng nhất của sự phát triển” [4]

Vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế và là đặc trưng của mọi hình thái kinh tế xã hội

Do đó, để có một quan điểm hoàn chỉnh về hiệu quả kinh tế, chúng tôi xuất

phát từ luận điểm kinh tế học của C.Mác “Quy luật tiết kiệm thời gian trong khi

sử dụng các nguồn lực xã hội” [10] và những luận điểm của lý thuyết hệ thống

cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan

hệ vật chất hình thành giữa con người và con người trong quá trình sản xuất

b Một số loại hiệu quả cơ bản

Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà động thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống KT-XH của con người Những kết quả đó là: cải thiện điều kiện sống và làm việc, cải tạo môi trường, môi sinh, nâng cao đời sống tinh thần và văn hoá cho nhân dân, tức là đạt được hiệu quả xã hội [11]

Mặt khác, xét trên phạm vi cá biệt, một hoạt động kinh tế hay một tiến

bộ kỹ thuật có thể mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị nhưng xét trên phạm vi xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chính vì vậy khi đánh giá hiệu quả cần phân loại và làm rõ mối liên hệ giữa

chúng để có nhận xét chính xác

Nếu căn cứ vào nội dung khác ta phân hiệu quả ra thành hiệu quả kinh

tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

- Hiệu quả kinh tế là khâu trung gian của tất cả các loại hiệu quả và có

vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác

- Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối quan hệ giữa kết quả hữu ích về mặt xã

hội và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Nó đánh giá chủ yếu về mặt xã

hội của hoạt động sản xuất Các loại hiệu quả có liên quan chặt chẽ với hiệu

quả kinh tế và biểu hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người

- Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do

hoạt động sản xuất gây ra như xói mòn, ô nhiễm đất, không khí, bệnh tật

việc xác định hiệu quả môi trường là tương đối khó

Trong 3 loại hiệu quả trên thì hiệu quả kinh tế đóng vai trò quyết

định và nó được đánh giá đầy đủ khi kết hợp với hiệu quả xã hội và môi

trường [6]

c Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được tính toán dựa vào bản chất của hiệu

quả Đó là quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra hay giữa chi phí và kết

quả thu từ chi phí đó

H = Q/ C Trong đó: H: Là hiệu quả

Q: Là lượng kết quả thu được

C: Là lượng chi phí sản xuất

Từ đó chúng ta có thể xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau của hiệu

quả như:

+ Hiệu số (Q-C) Max là trị số tuyệt đối của hiệu quả

+ Hiệu số (Q-C)/C Max là trị số tương đối của hiệu quả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Hiệu số C/Q Min, biểu thị tỷ trọng chi phí cần thiết để có được một đơn vị kết quả, hay còn gọi là suất tiêu hao, suất chi phí và được sử dụng rộng rãi trong thực tế

1.2.3 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động khuyến nông và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

* Các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên:

Lúa sinh trưởng mạnh hay yếu, tốt hay xấu, nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Thời gian sinh trưởng thay đổi theo mùa vụ, thời vụ, địa lý nơi gieo cấy Yếu tố chi phối lớn nhất là ánh sáng và nhiệt độ

- Nhiệt độ là yếu tố quan trọng đối với sự sống của cây lúa Nhiệt độ làm lúa sinh trưởng nhanh hay chậm, phát dục tốt hay xấu Lúa sinh trưởng bình thường ở nhiệt độ 25-280C Nếu nhiệt độ thấp hơn 170C sinh trưởng của lúa chậm lại, nếu thấp hơn 130C thì lúa ngừng sinh trưởng, nếu nhiệt độ thấp kéo dài nhiều ngày lúa có thể chết Nếu nhiệt độ cao, trong phạm vi từ 28-350C thì lúa sinh trưởng nhanh, nảy mầm nhanh nhưng chất lượng kém Khi nhiệt độ cao hơn 350C vào lúc phân bào giảm nhiễm hoặc kéo dài hơn 1 giờ vào lúc nở hoa thì làm tỉ lệ lép của lúa cao lên Mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ cao hay nhiệt độ thấp, mạnh hay yếu là tuỳ thuộc vào giống lúa và giai đoạn sinh trưởng phát triển của lúa

- Ánh sáng là động lực để cây lúa quang hợp, ánh sáng ảnh hưởng đến cây lúa có hai mặt: Cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp và số giờ chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến sự phát triển, ra hoa, kết quả của lúa sớm hay muộn

- Lượng mưa cần thiết cho cây lúa trung bình từ 6-7mm/ngày trong mùa mưa, 8-9mm/ngày trong mùa khô, lượng nước thẩm thấu trong ruộng khoảng 0,5-0,6mm/ngày thì 1 tháng cây lúa cần khoảng 200mm và một vụ lúa 5 tháng cần lượng mưa khoảng 1000mm Ở những vùng có lượng mưa trên 1000mm trong 5-6 tháng thì đều trồng được lúa

- Đất đai: Muốn lúa có năng suất cao, đất cần đáp ứng một số yêu cầu sau: + Các loại đất có địa hình bằng, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến sét + Hàm lượng dinh dưỡng N, P, K tổng số khá

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Độ mặn <0,5% tổng số muối tan (TSMT)

* Nhóm biện pháp kĩ thuật canh tác

Biện pháp kĩ thuật canh tác là sự tác động của con người vào cây trồng

như chọn giống, kĩ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh…

+ Giống lúa: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả

kinh tế của cây lúa Mỗi giống có năng suất nhất định và cho năng suất cao

khi đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của chúng Tuy nhiên mỗi giống chỉ phù hợp với

từng loại đất cụ thể, từng miền khí hậu nhất định cho nên việc lựa chọn giống

phù hợp và cho năng suất cao đối với từng địa phương là hết sức quan trọng

và cần thiết

+ Kĩ thuật chăm sóc: Đây là một khâu không thể thiếu trong quá trình

sản xuất nếu muốn đạt năng suất cao Trong quá trình chăm sóc phải cung cấp

đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng có như vậy mới đem lại năng suất

như mong muốn

+ Phòng trừ sâu bệnh: Sâu bệnh là một trong những nguyên nhân làm

giảm năng suất lúa Ở cây lúa tình hình sâu bệnh rất phức tạp, với từng giống

lúa thường xuyên xuất hiện những loại sâu bệnh khác nhau Trong quá trình

sản xuất cần quan tâm tới đồng ruộng để phát hiện kịp thời các loại bệnh Từ

đó có biện pháp tiêu diệt ngay khi chúng mới xuất hiện Phòng chống sâu

bệnh kịp thời, hữu hiệu sẽ giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn và đem lại năng

suất và chất lượng lúa tốt hơn

* Nhóm các nhân tố kinh tế - tổ chức

Các nhân tố của nhóm này gồm nhiều vấn đề có thể chia ra như sau:

+ Trình độ năng lực của chủ thể sản xuất kinh doanh: Có tác dụng quyết

định trực tiếp tổ chức và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa Năng lực của các chủ

thể kinh tế sản xuất kinh doanh thể hiện qua:

Trình độ khoa học kĩ thuật và tổ chức quản lí của các chủ thể:

Khả năng ứng xử trước những thay đổi của điều kiện kinh tế thị trường

và môi trường sản xuất kinh doanh

Khả năng và trình độ trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật của các chủ hộ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Quy mô sản xuất: Các nông hộ khác nhau có diện tích đất canh tác khác nhau Diện tích càng lớn thì mọi công việc như tổ chức, chăm sóc, thu hoạch, chi phí, cũng được tiết kiệm hơn Do vậy quy mô sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế

+ Thị trường: Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất lúa Trên thực tế do bản chất của người nông dân vốn rất thực dụng do đó nếu

vụ trước được mùa thì lập tức vụ sau người nông dân sẽ đầu tư vào sản xuất nhiều hơn Vì vậy vấn đề đặt ra là khi có sản lượng cao cần mở rộng thị trường tiêu thụ làm sao cho sản xuất ổn định và phát triển để người sản xuất đảm bảo chi phí cho quá trình sản xuất

* Nhóm nhân tố xã hội

Để thấy được sự ảnh hưởng của nhóm nhân tố này đến năng suất lúa chúng ta nghiên cứu các nhóm nhân tố sau:

- Thói quen tiêu dùng: Đó là sự hình thành tập quán của người tiêu dùng,

nó phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia, mỗi vùng cũng như trình độ dân trí của mỗi vùng, quốc gia đó

- Thu nhập: Nói lên sức mua của người tiêu dùng, nếu thu nhập thấp sức mua của người tiêu dùng giảm và ngược lại

Tóm lại các nhóm nhân tố có liên quan mật thiết và tác động qua lại với nhau, làm biến đổi lẫn nhau và cùng ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và hiệu quả sản xuất Do vậy đánh giá đúng sự tác động của nó đến hiệu quả sản xuất lúa là rất cần thiết để có những giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa

1.2.4 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa ở một số nước trên thế giới và Việt Nam

1.2.4.1 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

ở một số nước Châu Á

Ấn Độ: Chương trình thiết lập 100 trung tâm khuyến nông khuyến lâm

và một văn phòng khuyến nông khuyến lâm trung ương, 10 trung tâm khuyến nông khuyến lâm vùng nhằm cải thiện sự liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu

và chuyển giao công nghệ về sản xuất lúa

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nepal: Các chương trình khuyến nông về sản xuất và nâng cao hiệu quả

sản xuất lúa được tổ chức để cung cấp cho người dân sự hiểu biết các chính

sách mới về khuyến nông trong nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, các luật lệ,

các lợi ích có liên quan đến quản lý các nguồn tài nguyên của họ Nhà nước

đào tạo cán bộ khuyến nông cấp huyện và cộng đồng Nhà nước phát triển

khuyến nông trong nâng cao hiệu quả sản xuất lúa thông qua các chương trình

truyền thanh đại chúng, báo, tạp chí

Thái Lan: Thái Lan có ba tổ chức hoạt động có liên quan đến khuyến

nông khuyến lâm là cục lâm nghiệp hoàng gia, hội nông dân và hội phát triển

cộng đồng

Tại Thái Lan nhiều cách tiếp cận để thực hiện hoạt động khuyến nông

trong sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đã đuợc áp dụng như: Tiếp

cận theo chuyên môn hóa hàng hóa, tiếp cận theo kiểu đào tạo và tham quan,

tiếp cận có sự tham gia, tiếp cận theo các dự án, tiếp cận theo kiểu chia sẻ chi

phí, theo kinh nghiệm phát triển các vùng bảo tồn và phát triển lâm nghiệp

cộng đồng thì hình thức tiếp cận có sự tham gia của người dân là có hiệu quả

hơn cả [6]

Philippin: Hệ thống khuyến nông được thành lập năm 1976 Nhà nước

xây dựng các chính sách, lập kế hoạch, xây dựng các chương trình khuyến

nông trong sản xuất lúa và các dự án phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế sản

xuất lúa Mạng lưới khuyến nông chủ yếu do các trường đại học, các viện

nghiên cứu, các tổ chức tình nguyện và tổ chức phi chính phủ thực hiện

Indonesia: Hệ thống khuyến nông được xây dựng từ trung ương đến cấp

cơ sở Các trung tâm khuyến nông được hình thành ở các cấp cộng đồng Mỗi

trung tâm phụ trách 2 - 3 xã Cả nước có khoảng 7000 cán bộ khuyến nông

khuyến lâm Mỗi trung tâm có một cán bộ giám sát Cán bộ khuyến nông

trong sản xuất lúa được đào tạo tại các trường cao đẳng, cán bộ giám sát được

đào tạo tại các trường Đại học Nông nghiệp [5]

1.2.4.2 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

ở Việt Nam

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng

và Nhà nước, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển nhanh, đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu,

tự cung, tự cấp, quy mô nhỏ, chúng ta đã vươn lên để dần dần trở thành một nước có nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và

có tỷ suất hàng hoá ngày càng lớn, có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới Nước ta đã trở thành một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu gạo,

cà phê, điều, tiêu, thuỷ hải sản trên thị trường quốc tế

Đồng hành cùng người nông dân để chia sẻ những thuận lợi, khó khăn trên con đường hướng tới phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững là những cán bộ, nhân viên, tình nguyện viên hệ thống Khuyến nông - Khuyến ngư Việt Nam Trải qua gần 10 năm, kể từ ngày 02/3/1993, khi Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông - khuyến ngư, hệ thống khuyến nông - khuyến ngư Việt Nam đã được hình thành, củng cố và ngày càng phát triển một cách toàn diện Khuyến nông khuyến ngư đã tích cực chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật, canh tác cho nông dân, chuyển tải kịp thời mọi chủ trương, đường lối, chính sách phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp của Đảng và Nhà nước… Khuyến nông - khuyến ngư Việt Nam thực

sự đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng suất, chất lượng sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Tuy vậy, sau 12 năm thực hiện Nghị định 13/CP, công tác khuyến nông

đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất, khoa học công nghệ và xu hướng hội nhập kinh

tế quốc tế Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Thuỷ sản đã trình Chính phủ để sửa đổi, bổ sung một số nội dung hoạt động khuyến nông, thay thế cho Nghị định 13/CP Ngày 26/4/2005, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về khuyến nông, khuyến ngư

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nghị định 56/2005/NĐ-CP ra đời đã quy định rõ hơn về hệ thống tổ

chức khuyến nông, khuyến ngư (nhất là tổ chức khuyến nông cơ sở), mục

tiêu, nguyên tắc, chính sách và nội dung hoạt động khuyến nông (bổ sung

thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến

nông); mở rộng đối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông

khuyến ngư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác khuyến nông -

khuyến ngư

Nhìn chung, hiện trạng nền sản xuất nông nghiệp của nước ta vẫn chưa

tương xứng với tiềm năng và lợi thế cạnh tranh, chưa chủ động hội nhập với

nền kinh tế khu vực và thế giới Với đất nước phần lớn dân số sống ở nông

thôn thì cần phải có quyết tâm và giải pháp mạnh hơn, đồng bộ hơn để thúc

đẩy ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững theo hướng công

nghiệp hoá - hiện đại hoá trong xu thế hội nhập sau khi Việt Nam đã chính

thức là thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) Việc chuyển giao

những tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ cao ngày càng trở nên cấp thiết và cần

có cơ chế đổi mới về chính sách, tổ chức, quản lý để người nông dân Việt

Nam được trang bị đầy đủ hơn kiến thức khoa học kỹ thuật và kỹ năng tay

nghề hiện đại, phù hợp với đòi hỏi mới của thị trường Bên cạnh đó, việc tập

hợp được nhiều lực lượng làm công tác khuyến nông theo xu hướng xã hội

hoá là vấn đề rất cần được quan tâm Trong chương trình hành động của

Chính Phủ nhằm thực hiện Nghị Quyết 26- NQ/TW về nông nghiệp, nông

dân, nông thôn (ban hành ngày 05/8/2008) đã nêu rõ các giải pháp về "Phát

triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, đào

tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá

nông thôn"

a Tổ chức khuyến nông - khuyến ngư trung ương

Cục Khuyến nông Khuyến lâm ra đời vào năm 1993 vừa làm nhiệm vụ

quản lý nhà nước về trồng trọt, chăn nuôi vừa triển khai các hoạt động khuyến

nông Trong quá trình hoạt động, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thấy được sự

bất cập khi trên cùng một đơn vị vừa tiến hành song song nhiệm vụ quản lý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nhà nước và dịch vụ công (khuyến nông) Chính vì vậy, ngày 18/7/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 86/CP cho phép tách Cục Khuyến nông Khuyến lâm thành 2 đơn vị trực thuộc Bộ là Cục Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Sơ đồ 06: Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ

NN và PTNT với một số chức năng nhiệm vụ chính: Hoạch định chính sách và kế hoạch khuyến nông; hướng dẫn về tổ chức và phương pháp

Câu lạc bộ khuyến nông

Làng khuyến nông

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trung tâm Khuyến nông tỉnh

Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trạm Khuyến nông huyện Cấp huyện

Khuyến nông xã/thôn Cấp xã

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

khuyến nông; chỉ đạo thực hiện các chương trình, dự án khuyến nông; tư

vấn về chính sách, pháp luật, tổ chức sản xuất, thị trường; xây dựng

chương trình, giáo trình, hướng dẫn tập huấn kỹ thuật và nghiệp vụ cho

cán bộ, khuyến nông viên và nông dân; thông tin tuyên truyền về các hoạt

động khuyến nông

Tổng số cán bộ nhân viên của Trung tâm hiện nay là 81 người, trong đó

50 người thuộc biên chế chính thức và 31 người làm việc theo cơ chế hợp

đồng, có 9 phòng và 01 bộ phận thường trực tại T.P Hồ Chí Minh

b Tổ chức khuyến nông - khuyến ngư địa phương: Tỉnh - huyện - xã -

thôn bản

* Hệ thống khuyến nông- khuyến ngư cấp tỉnh

- Hệ thống khuyến nông: Ở cả 63 tỉnh/thành phố đều đã thành lập Trung

tâm Khuyến nông với tổng số 1.628 cán bộ khuyến nông, bình quân mỗi trung

tâm khuyến nông tỉnh/thành phố có 25,4 cán bộ viên chức (trong đó CBVCKN

có trình độ đại học trở lên 1.128 người (chiếm 69,5%), cán bộ trình độ trung

cấp 207 người (chiếm 12,7%) và trình độ sơ cấp 191 người (chiếm 11,8%)

- Hệ thống khuyến ngư: Ở63 tỉnh, thành trong cả nước đều có tổ chức

hoạt động khuyến ngư

+ 26 trong số 29 tỉnh có biển thành lập Trung tâm Khuyến ngư

+ 9 tỉnh Miền núi trung du phía Bắc, công tác khuyến ngư giao cho

Trung tâm Thủy sản

+ 3 tỉnh, công tác khuyến ngư giao cho Chi cục BVNLTS

Số lượng cán bộ khuyến ngư các tỉnh là 1.123 người, bình quân mỗi

Trung tâm khuyến ngư (hoặc các đơn vị hoạt động khuyến ngư tương đương)

có 22,4 người Tuy vậy, số lượng cán bộ khuyến ngư phân bố không đều:

Đồng bằng sông Cửu long có số lượng cán bộ khuyến ngư đông nhất, gấp 3

lần các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc và 4 lần các tỉnh Đông Nam Bộ

* Hệ thống khuyến nông cấp huyện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hiện nay 585/648 huyện trên cả nước có Trạm khuyến nông huyện (chiếm 90,3%) trực thuộc trung tâm KN tỉnh hoặc UBND huyện với tổng số 3.219 người, bình quân mỗi huyện có 5,5 người (trong đó nhân viên khuyến nông có trình độ từ Đại học trở lên là 2.288 người, chiếm 71%, trình độ trung cấp là 818 người và sơ cấp là 177 người) Phụ cấp trách nhiệm cho các trạm trưởng hoặc phó trạm trưởng tương đương như trưởng hoặc phó phòng của

Trung tâm Khuyến nông tỉnh

* Khuyến nông cấp xã

Hiện nay có 10.306 xã có nhân viên khuyến nông (chiếm 96,6%) với tổng số 10.543 người (trong đó trình độ từ trung cấp trở lên chiếm 41%; dân tộc thiểu số chiếm 20 %) Khuyến nông viên cấp xã ở một số tỉnh (như Hà Giang, Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Giang ) được hưởng lương theo ngạch chuyên môn đào tạo, còn lại các tỉnh khác thì chỉ được hưởng phụ cấp

từ 100.000 - 300.000đ/tháng tuỳ theo điều kiện kinh tế của tỉnh

* Khuyến nông viên thôn, bản

Hiện cả nước chỉ có 15 tỉnh có khuyến nông viên thôn bản với tổng số 15.744 người Một số tỉnh có lực lượng KNV thôn, bản tương đối đầy đủ như Nghệ An, Hà Giang, Cao Bằng, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Tây, Đắc Lắc, Đắc Nông

c Chương trình khuyến nông trong nâng cao hiệu quả sản xuất lúa

- Chương trình khuyến nông sản xuất hạt giống lúa lai F1: Sau 15 năm,

khuyến nông đã đào tạo, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ sản xuất hạt lai thông qua mô hình cho nông dân ở 26 tỉnh, thành phố với gần 40 đơn vị tham gia Quy mô trình diễn 10.818 ha, kinh phí 57,745 tỷ đồng, đưa diện tích lúa lai F1 từ 173 ha (1992) lên 1.500 ha của những năm 2000-2005; 1.300 ha của những năm 2006-2008 (do ảnh hưởng thời tiết) Năng suất hạt giống từ 300 kg/ha (1992) lên 2.500 kg/ha những năm 2000 Nhiều đơn vị sản xuất ở những vùng thuận lợi về thời tiết năng suất đạt 38-40 tạ/ha, chất lượng hạt giống tốt, đạt tiêu chuẩn ngành Giá thành hạt giống sản xuất trong nước chỉ

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

bằng 60% so với giống nhập khẩu, hàng năm tiết kiệm cho Nhà nước hàng

trăm tỉ đồng Từ chỗ chúng ta hoàn toàn nhập nội hạt giống, đến nay đã tự túc

được khoảng 25% nhu cầu hạt giống lúa lai cho sản xuất, góp phần khống chế

giá nhập khẩu vào Việt Nam

Nhờ áp dụng sáng tạo quy trình công nghệ sản xuật hạt giống F1 của thế

giới cho một số tổ hợp nhập khẩu như Nhị ưu 838, Nhị 63, Bác ưu 64, Bác ưu

903, Dưu 527 Đến nay đã có nhiều tổ hợp được lai tạo trong nước đạt kết

quả tốt như TH3-3, TH3-4, VL20, VL24, HYT83, HYT100, HYT102,

HYT103 Một số tỉnh có diện tích sản xuất lớn là: Lào Cai, Yên Bái, Nam

Định, Thanh Hoá, Quảng Nam, Đắc Lắc, Hà Nam

- Chương trình phát triển lúa lai thương phẩm: Song song với việc phát

triển sản xuất hạt giống lúa lai F1 là các chương trình phát triển lúa lai thương

phẩm Đến nay đã phát triển ở hầu hết các tỉnh, thành phố phía Bắc và Tây

Nguyên Năng suất bình quân đạt 65 tạ/ha, cá biệt có những nơi đạt 100 tạ/ha

Từ năm 1993 đến nay chương trình khuyến nông đã hỗ trợ kinh phí 16,9 tỉ

đồng, xây dựng được 7.300 ha trình diễn ở những vùng khó khăn lương thực

Trong những năm gần đây diện tích lúa lai thương phẩm đạt 620-650 ngàn

hecta, năng suất tăng so với lúa thuần từ 10-15 tạ/ha, góp phần nâng cao năng

suất, sản lượng lúa, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thúc đẩy cho việc

chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng

- Chương trình khuyến nông phát triển lúa chất lượng: Chương trình bắt

đầu triển khai từ năm 1997, tập trung ở 2 vựa lúa chính là Đồng bằng sông

Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, nay đã được mở rộng ở tất cả các vùng,

các tỉnh có trồng lúa, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao phục vụ trong

nước và xuất khẩu

Từ kết quả nghiên cứu, chọn tạo, nhập khẩu một số giống lúa chất lượng

cao, cùng với việc áp dụng biện pháp "3 giảm, 3 tăng" ở Miền Nam, bón phân

cân đối, hợp lý ở Miền Bắc, chương trình khuyến nông đã tập trung xây dựng

mô hình trình diễn nhân nhanh các giống lúa: Bắc thơm số 7, Hương thơm số

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1, các giống lúa P, VĐ20, VND95-20, MTL499, Jasmine, Basmati đột biến, OM4490, OM4498, OM3536, OM6073, OM1348, OM1350, OM2514, OM2517, OM4900, OMCS94, OMCS2395, OMCS2000…, các giống lúa đặc sản: Tám xoan, Dự, Nàng hương chợ Đào cung cấp cho nông dân Chương trình khuyến nông đã hỗ trợ 8,4 tỉ đồng, tổ chức nhân giống 5.450 ha, cung cấp cho sản xuất 27-28 ngàn tấn giống cho sản xuất Sản xuất lúa chất lượng kinh phí hỗ trợ 31,576 tỉ đồng, xây dựng được 29.657 ha trình diễn, hàng năm thu hút hàng vạn nông dân tham gia Hiệu quả lúa chất lượng cao hơn lúa thường từ 700-1.000 đ/kg

Chương trình khuyến nông sản xuất hạt giống lúa lai F1, phát triển lúa lai thương phẩm, phát triển lúa chất lượng đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực và đưa Việt Nam trở thành nước có sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới (năm 2008 xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo) [1]

1.2.4.3 Kinh nghiệm khuyến nông với nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

ở tỉnh Bắc Giang

- Đối với hoạt động khuyến nông nâng cao hiệu quả sản xuất lúa: Triển khai với quy mô 111,4 ha tại 10 huyện bằng các giống ĐB5, ĐB6, N46 và LT2 Đây là các giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, sinh trưởng ngắn ngày, chống chịu sâu bệnh, chống đổ, gạo ngon, năng suất từ 55-65 tạ/ha Đến nay 2 giống lúa này đã được các địa phương mở rộng diện tích

Vụ đông xuân năm 2009, toàn tỉnh Bắc Giang gieo cấy được 52.240 ha, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2008 Đặc biệt, nhờ áp dụng nhiều biện pháp mới trong canh tác, năng suất lúa của tỉnh đã đạt 53,3 tạ/ha - cao nhất từ trước đến nay Các biện pháp canh tác mới được áp dụng trong sản xuất lúa vụ xuân năm 2009 là: phương pháp SRI, 3 giảm 3 tăng, gieo thẳng lúa theo hàng bằng giàn kéo tay, tăng cường sử dụng các loại phân bón tổng hợp, phân có nguồn gốc sinh học, các chế phẩm sinh học…Cụ thể, áp dụng phương pháp SRI, 3 giảm 3 tăng là 10.000 ha, chiếm 19,4%; gieo thẳng lúa theo hàng bằng giàn kéo tay 4.000 ha, chiếm 7,8%; gieo vãi bằng tay 1.000 ha, chiếm 1,9% Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp- PTNT, khi áp dụng các phương pháp canh tác

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

này, giảm chi phí đầu vào sản xuất (giảm giống, công lao động, thuốc

BVTV…) từ 15 - 20%, năng suất và hiệu quả kinh tế tăng từ 10 - 15%

Đối với việc tăng cường sử dụng các loại phân bón có nguồn gốc hữu

cơ trong sản xuất lúa, vụ đông xuân vừa qua, 7.680,8/76.140ha thuộc 6

huyện của tỉnh đã sử dụng phân bón NEB-26 Theo kết quả đánh giá, việc sử

dụng NEB-26 đã giảm được 50% lượng đạm, từ đó đã giảm được chi phí

công vận chuyển, chi phí bảo quản kho tàng, giảm thiểu ô nhiễm môi

trường, không độc hại cho người và động vật mà cây trồng vẫn sinh trưởng,

phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao trên một

đơn vị diện tích

Tại vụ mùa, toàn tỉnh tiếp tục mở rộng diện tích lúa áp dụng những

phương thức canh tác mới Trong đó, phương pháp SRI, 3 giảm 3 tăng, gieo

thẳng lúa theo hàng bằng giàn kéo tay đối với những nơi chủ động nguồn

nước tưới tiêu là 22.000 ha (chiếm 37%); sử dụng phân bón NEB-26 là

20.000 ha (chiếm 34% tổng diện tích gieo trồng lúa)

Bảng 1.1: Năng suất lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 1.2: Sản lượng lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Chọn điểm nghiên cứu

Sau khi khảo sát kỹ lưỡng địa bàn nghiên cứu, để chọn được các hộ điều tra chúng tôi căn cứ vào tiêu chí khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ kỹ thuật chia huyện Yên Thế thành 3 khu vực:

- Khu vực có khả năng tiếp cận thông tin kỹ thuật tốt đó là các xã gần trung tâm là: Phồn Xương, Đồng Tâm, TT Cầu Gồ, Tân Hiệp, Hồng Kỳ, Đồng Lạc Để đại diện cho vùng này chúng tôi chọn nghiên cứu xã Phồn Xương

- Khu vực có khả năng tiếp cận thông tin kỹ thuật trung bình đó là: TT

Bố Hạ, xã Bố Hạ, Tân Sỏi, Đồng Kỳ, Đông Sơn, Hương Vỹ, Đồng Hưu Để đại diện cho vùng này chúng tôi chọn nghiên cứu xã Bố Hạ

- Khu vực có khả năng tiếp cận thông tin kỹ thuật kém hơn, tập trung ở các xã vùng cao như: Tiến Thắng, Tam Tiến, Đồng Vương, Đồng Tiến, Xuân Lương, Canh Nậu, Tam Hiệp, An Thượng Để đại diện cho vùng này chúng tôi chọn nghiên cứu xã Tiến Thắng

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.3.2 Phương pháp thu thập thông tin số liệu

a Thu thập số liệu, tài liệu đã công bố

Thu thập và tính toán từ những số liệu đã công bố của các cơ quan

Thống kê Trung ương, các báo chí chuyên ngành và những báo cáo khoa học

đã được công bố, các tài liệu do các cơ quan của tỉnh Bắc Giang, của huyện

Yên Thế và các xã, thị trấn trong huyện Yên Thế, các tài liệu xuất bản liên

quan đến huyện Những số liệu này được thu thập chủ yếu ở Trạm Khuyến

nông, Phòng Thống kê, phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nội vụ, Phòng

Lao động Thương binh và Xã hội, Văn phòng UBND huyện, các phòng có

liên quan của huyện Yên Thế Tài liệu của Cục Thống kê và các ngành chức

năng của tỉnh Bắc Giang Các thông tin này giúp cho nhà nghiên cứu có cơ sở

đánh giá tình hình hoạt động khuyến nông tại địa phương

b Thu thập số liệu mới

Thu thập số liệu mới được thực hiện qua các phương pháp sau:

* Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)

Đi thực tế để quan sát đánh giá thực trạng, thu thập những thông tin qua

những người dân ở vùng nghiên cứu và các cán bộ, thu thập những tài liệu

thông tin đã có tại nơi nghiên cứu

* Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)

Trực tiếp tiếp xúc với người dân tại nơi nghiên cứu, tạo điều kiện và

thúc đẩy sự tham gia của người dân vào những vấn đề cần nghiên cứu, đàm

thoại với họ để thu thập những thông tin nhằm nắm bắt được thực trạng sản

xuất, đời sống và những tiềm năng, những khó khăn, nhu cầu của các hộ

nông dân Phương pháp được sử dụng nhằm đánh giá đúng hiện tại và đưa ra

các giải pháp phát triển sản xuất lúa

* Phương pháp điều tra hộ nông dân

- Chọn hộ điều tra: Áp dụng chọn mẫu ngẫu nhiên (chọn điểm, chọn hộ),

tiến hành lựa chọn các vùng, các đơn vị điều tra Từ 3 vùng trong huyện lấy ra

3 xã đại diện Mỗi xã chọn 30 hộ; chọn và phân ra làm 3 loại hộ giàu, trung

bình, nghèo, tỷ lệ giữa các loại hộ bước đầu được chọn theo nhận định chủ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

quan từ tỷ lệ các loại hộ chung trong toàn xã, sau đó dựa vào tài liệu tính toán thu được phân loại hộ theo tiêu thức mức thu nhập bình quân/khẩu

+ Sử dụng mức phân loại hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo của Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Bắc Giang để phân loại hộ, hộ khá thu nhập bình quân trên 800.000 đồng/khẩu/tháng, hộ trung bình thu nhập bình quân từ 200.000-800.000 đồng/khẩu/tháng, hộ nghèo thu nhập bình quân từ dưới 200.000 đồng/khẩu/tháng Việc chọn hộ điều tra theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên trong từng nhóm, số hộ điều tra ở các điểm nghiên cứu như sau:

Bảng 1.3: Tổng hợp số hộ điều tra ở các xã nghiên cứu

Tổng số

hộ điều tra (hộ)

Phân loại hộ

Số hộ (hộ)

Cơ cấu (%)

Số hộ (hộ)

Cơ cấu (%)

Số hộ (hộ)

Cơ cấu (%)

- Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp linh hoạt với hộ nông dân, đàm thoại với họ thông qua một loạt các câu hỏi mở và phù hợp với tình hình thực tế Sử dụng linh hoạt và thành thạo các dạng câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Như thế nào và bao nhiêu? Phỏng vấn số hộ đã chọn, kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp

Trang 25

Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.3.3 Phương phỏp phõn tớch

a Phương phỏp so sỏnh

Phương phỏp so sỏnh (so theo thời gian, theo khu vực, theo cơ cấu kinh

tế) để xỏc định xu hướng mức biến động của cỏc chỉ tiờu phõn tớch, phản ỏnh

chõn thực hiện tượng nghiờn cứu, phõn tớch tài liệu được khoa học, khỏch

quan, phản ỏnh đỳng những nội dung kinh tế nụng thụn cần nghiờn cứu

b Phương phỏp dự bỏo thống kờ

Dự bỏo là việc xỏc định cỏc thụng tin chưa biết cú thể xảy ra trong tương

lai của hiện tượng được nghiờn cứu dựa trờn cơ sở số liệu thống kờ trong

những giai đoạn đó qua Dự bỏo sự biến động về hiệu quả một số loại cõy

trồng vật nuụi; dự bỏo biến động về thu nhập bỡnh quõn của nụng hộ và dự

bỏo biến động về kết quả hoạt động khuyến nụng trờn địa bàn huyện trong

thời gian tới

Cụng việc dự bỏo hoàn toàn khụng dễ dàng, bởi lẽ chỳng ta phải núi

trước những điều chưa biết, sự chớnh xỏc trong kết quả dự bỏo sẽ mang đến sự

thành cụng hay thất bại của một phương ỏn

Mụ hỡnh dự bỏo: y ˆn h  y tn( )h Với 1

1

n

n y t y

1.3.4.1.Chỉ tiờu đỏnh giỏ hiệu quả kinh tế

+ Tổng giỏ trị sản xuất (GO): Là giỏ trị tớnh bằng tiền của toàn bộ cỏc

loại sản phẩm trờn một đơn vị diện tớch tớnh trong một vụ sản xuất

IC Ci Pi

+ Giỏ trị gia tăng (VA): Là phần giỏ trị tăng thờm khi sản xuất trờn một đơn vị diện tớch trong một vụ

VA = GO - IC + Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu thuần tuý của người sản xuất bao gồm cả cụng lao động và lợi nhuận thu được từ sản xuất hay một chu kỳ sản xuất trờn một quy mụ diện tớch

MI = VA - (A+T) Trong đú: VA: giỏ trị tăng thờm A: Giỏ trị hao mũn TSCĐ T: Thuế sử dụng đất nụng nghiệp + Lợi nhuận (Pr): Là phần lói rũng trong thu nhập hỗn hợp khi sản xuất một đơn vị diện tớch trong một vụ

Pr = GO - IC + Số tương đối: t = y1/y0

0

: l¯ số tương đối

y : Mức độ kỳ nghiên cứu: Mức độ kỳ gốc

t y

+ Số tuyệt đối: ∆ = y1 -y0

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư: GO/IC; VA/IC; Pr/IC

1.3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Khi xem xét vấn đề hiệu quả chúng ta không thể tách hiệu quả kinh tế ra

khỏi hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường sinh thái, hiệu quả kinh tế đề cập

đến vấn đề lợi nhuận, trên góc độ toàn xã hội thì đó là thu nhập quốc dân đạt

được trên đầu người, trên mỗi ngày công Những chỉ tiêu này có thể không cao

nhưng biến được đất từ không sinh lợi thành sinh lợi, tăng khả năng tạo công ăn

việc làm có thu nhập, tăng được cơ sở hạ tầng cho nông thôn, góp phần nâng cao

dân trí, thay đổi thói quen canh tác lạc hậu, biến môi trường đang suy thoái thành

môi trường phục hồi, bền vững hơn sẽ có ý nghĩa cao về mặt xã hội

Các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội gồm:

- Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân

- Cung cấp lương thực thiết yếu cho nhân dân

- Góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

- Góp phần tích cực vào thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước

như xoá đói giảm nghèo, bài trừ tệ nạn xã hội…

- Xây dựng môi trường sinh thái bền vững cho sản xuất và đời sống sinh

hoạt cộng đồng

- Phát huy lợi thế so sánh của vùng

1.3.4.3 Các chỉ tiêu về cải tạo môi trường sinh thái

Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng có tác dụng

rất lớn trong việc cải tạo đất Sản xuất lúa bền vững, đảm bảo không gây ô

nhiễm môi trường, sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả sẽ tạo môi trường

sinh thái, bền vững trong lành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TRONG SẢN XUẤT

VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG 2.1 Tác động của môi trường vi mô và vĩ mô đến hoạt động khuyến nông trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, nằm ở vùng trung

du miền núi phía bắc, Việt Nam Trung tâm văn hoá chính trị là thị trấn Cầu

Gồ cách thành phố Bắc Giang 27 km theo đường tỉnh lộ 284 về phía tây bắc, cách thủ đô Hà Nội 75 km về phía đông bắc trên địa bàn huyện có các tuyến đường tỉnh lộ 265 nối với quốc lộ 1A tại thị trấn Kép, đường 292 nối với tỉnh Lạng Sơn, đường 284 nối với huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên huyện có tuyến đường sắt Kép Lưu Xá chạy qua Nhìn Chung hệ thống giao thông đường bộ của huyện nối với các địa phương khác khá phát triển, đến nay cơ bản đã được hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu kinh tế với các tỉnh như Thái Nguyên, Hà Nội, Lạng Sơn, đây là một lợi thế quan trọng của huyện Yên Thế có 21 xã thị trấn, có vị trí tiếp giáp với các địa phương của tỉnh Bắc Giang và các tỉnh khác như sau:

+ Phía Đông giáp với huyện Lạng Giang của tỉnh Bắc Giang + Phía Tây giáp với huyện Phú Bình - Thái Nguyên + Phía Nam giáp với huyện Tân Yên - Bắc Giang + Phía Bắc giáp với huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn Với vị trí như vậy Yên Thế rất thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế với các huyện khác trong và ngoài tỉnh Đặc biệt trên địa bàn huyện có 2 thị trấn là Cầu

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Gồ, Bố Hạ là nơi tập trung dân cư đông đúc, tiềm năng phát triển to lớn chắc

chắn sẽ thúc đẩy kinh tế toàn huyện tiến bước vững chắc trong thời gian tới

b Địa hình, thổ nhưỡng

* Địa hình: Yên Thế thuộc vùng núi thấp, có nhiều sông suối độ chia

cắt khá mạnh, địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam có 3 dạng địa

hình chính:

Địa hình vùng núi thấp: Phân bố chủ yếu ở phía Bắc huyện, thường

bị chia cắt mạnh độ dốc khá lớn hướng dốc chính từ Bắc xuống Nam độ

cao trung bình so với mặt nước biển từ 200 - 300 mét, vùng này đất đai

còn khá tốt rừng còn nhiều, độ ẩm khá Loại địa hình này có diện tích

khoảng 9200,16ha (chiếm 30,56 diện tích toàn huyện) vùng này có thể

trồng được nhiều loại cây ăn quả, cây lâm nghiệp độ dốc bình quân > 15

độ Vùng này có mật độ dân cư thấp, kinh tế chưa phát triển tiềm năng đất

còn nhiều

Địa hình đồi thấp: Phân bố rải rác ở các xã trong huyện, có độ chia cắt

trung bình địa hình lượn sóng, độ dốc bình quân từ 8 - 15 độ hướng dốc

không ổn định, vùng này đất trung bình một số nơi bị xói mòn trơ sỏi đá Loại

hình này có diện tích 8.255 ha chiếm 35,32% diện tích tự nhiên có khả năng

phát triển cây lâu năm

Địa hình đồng bằng: Loại địa hình này khá bằng phẳng ven theo các

sông suối, và các dải ruộng nhỏ kẹp giữa dãy đồi Độ dốc bình quân từ 0 - 8

độ vùng này có diện tích 10.633 ha chiếm 35,32% diện tích tự nhiên Trên

loại địa hình này có khả năng phát triển cây lương thực, cây màu

* Thổ nhưỡng: Yên Thế có tổng diện tích tự nhiên 30.141,31 ha, xét về

tính chất đất toàn huyện có 4 nhóm đất chính được chia làm 9 đơn vị đất

chính như sau:

- Nhóm đất phù xa bao gồm 3 đơn vị đất chính:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Đất phù sa được bồi (Pb): Diện tích 180 ha, phân bố ở địa hình vàn cao, ven sông Thương và sông Sỏi, loại đất này khá bằng phẳng và tơi xốp, thoát nước tốt thích hợp cho trồng rau, màu, ngô, đậu đỗ…

+ Đất phù xa không được bồi(P): Có diện tích 280 ha phân bố ở các cánh đồng trong đê, hàng năm không được phù xa bồi đắp thích hợp với trồng lúa, màu…

+ Đất phù xa ngòi suối (Py): Có diện tích 1835 ha, phân bố thành các dải nhỏ ven các suối trong vùng, thích hợp trồng màu

- Nhóm đất xám bạc màu:

Đất bạc màu trên phù va cổ có diện tích 3163 ha, tuy nghèo đạm, lân, mùn song nhóm đất này có ưu điểm là giàu kali, tơi xốp, thoát nước tốt thích hợp với các loại cây như lạc, đậu đỗ, khoai tây, khoai lang, cà rốt, rau

- Nhóm đất đỏ vàng: Tổng diện tích 21980,16 ha chiếm 73% diện tích tự nhiên được phân bố ở tất cả các xã trong huyện được chia ra làm 4 đơn vị đất như sau:

+ Đất nâu vàng trên phù xa cổ (Fp): Diện tích 5230 ha, phân bố ở vùng địa hình bậc thang, gò lượn sóng nhẹ, độ dốc nhỏ thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây trồng cạn ngắn ngày

+ Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét (Fs): Diện tích 3760,16 ha phân bố chủ yếu ở các vùng đồi núi cao đất có độ dốc tương đối lớn, tầng đất dày từ

30 cm đến > 1m, đất có kết cấu tốt, có khả năng giữ nước và dinh dưỡng khá, thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả

+ Đất vàng nhạt trên đá cát và dăm cuội kết (Fq): Diện tích 10.450 ha, phân bố chủ yếu ở vùng núi cao, độ dốc lớn, thích hợp cho phát triển cây lâm nghiệp, một số nơi có thể trồng cây công nghiệp và cây ăn quả

+ Đất nâu tím trên đá sét (Fe): Có diện tích 2540 ha phân bố chủ yếu ở vùng đồi có tầng đất dầy trung bình thích hợp cho trồng cây dài ngày

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Nhóm đất có tầng đất mỏng có nhiều sỏi đá:

Diện tích 650 ha, phân bố chủ yếu ở các vùng đồi, qua quá trình sói mòn sỏi

sạn nổi lên trên mặt đất, loại này có tầng đất mỏng, độ phì kém, bạc màu, muốn đưa

vào sản xuất nông nghiệp cần cải tạo hoặc có chế độ chăm bón thích hợp

Đất ao hồ sông suối chưa điều tra: là 2.013,37 ha

c Điều kiện khí hậu, thời tiết, thuỷ văn

Yên Thế nằm trong cung đông triều, tiếp giáp với đồng bằng Bắc bộ có

khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 4 mùa rõ rệt: Mùa hạ nóng ẩm mưa

nhiều, có gió mùa đông nam, mùa đông lạnh và khô, ít mưa hướng gió thịnh

hành là Đông Bắc, còn lại hai mùa Xuân và Thu có tính chuyển tiếp Theo tài

liệu khí tượng sử dụng số liệu trung bình nhiều năm cho thấy:

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,30C, tháng nóng nhất 290

C (tháng 7), tháng lạnh nhất 15,90

C ( tháng 1 ) Nhiệt độ trung bình cao nhất: 32,60

C Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 13,20

C Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 2,80

C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không quá cao từ 4,80

C - 7,80C

Tổng tích ôn trong vùng khá cao, thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại

cây trồng, trong năm có thời gian nhiệt độ xuống thấp dưới 150

C (tháng 12 - 2) rất thuận lợi cho phát triển một số loại cây ăn quả á nhiệt đới như vải thiều

- Bức xạ nhiệt: Là vùng có bức xạ nhiệt trung bình số giờ nắng bình quân cả

năm là 1729,7; tháng có số giờ nắng bình quân cao nhất là tháng 9 (200,5 giờ)

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình cả năm là 1518,4 mm mưa thường tập

trung vào các tháng mùa mưa (tháng 5, 6, 7, 8, 9) chiếm khoảng 78,9% lượng mưa

cả năm Các tháng 12 đến tháng 1 rất ít mưa (lượng mưa không đáng kể)

- Bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình hàng năm: 1012,2 mm bằng 66,6%

lượng mưa bốc hơi tập trung vào các tháng có nhiệt độ cao (tháng 5, 6, 7)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm tương đối cao: 81% tháng có độ ẩm không khí cao nhất là tháng 4 (86%) thấp nhất là tháng 12 (76%)

- Gió, bão: Là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc vào mùa Đông, tốc độ gió bình quân là 2,1m/s, mùa hạ thịnh hành là gió Đông Nam Vùng ít chịu ảnh hưởng của bão

Tóm lại: Khí hậu thời tiết thuỷ văn của huyện đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất lúa của huyện Nhìn chung khí hậu thời tiết thuỷ văn trong vùng cũng có những điều kiện thuận lợi, song vùng này cũng phải chịu những thay đổi đột ngột của khí hậu thời tiết thuỷ văn gây nên như hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh, gây tác động không nhỏ đến sản xuất lúa của huyện Cần phải có những giải pháp chủ động phòng chống thiên tai khi điều kiện khí hậu, thời tiết thuỷ văn bất lợi, khai thác những điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa

Đất nông nghiệp trong huyện chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng diện tích đất

tự nhiên của toàn huyện Trong đó, diện tích trồng lúa luôn ổn định ở mức trên 4.000 ha, cụ thể: Năm 2007 là 4.305,06 ha, năm 2008 là 4.299,05 ha, năm 2009

là 4.292,05 ha Diện tích trồng lúa qua các năm giảm do việc chuyển đổi cơ cấu

Trang 29

Cơ cấu (%) Số lượng

Cơ cấu (%) 2008/

2007 2009/

2008 BQ 2007-2009 Tổng diện tích đất tự nhiên ha 30.141,31 100,00 30.141,31 100,00 30.141,31 100,00 100,00 100,00 100,00

Nguồn: Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Yên Thế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sản xuất nông nghiệp và do sự chuyển mục đích sử dụng sang đất ở và đất chuyên dụng Vì vậy, đất ở tăng từ 1.436,99 ha năm 2007 lên là 1.445,19 ha năm 2009; đất chuyên dùng tăng từ 2.114,30 ha năm 2007 lên là 2.138,06 ha năm 2009 (Bảng 2.1)

Năm 2009, trong tổng diện tích tự nhiên của huyện thì đất nông nghiệp chiếm 79,26%, đất phi nông nghiệp chiếm 17,08%, đất chưa sử dụng chiếm 3,66% (Biểu đồ 2.1)

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đất đai của huyện Yên Thế năm 2009

N¨m 2009

§Êt n«ng nghiÖp:79,26%

§Êt phi n«ng nghiÖp:17,08%

§Êt ch-a sö dông:3,66%

Trong thời gian tới, để khai thác một cách có hiệu quả các lợi thế và khắc phục những bất lợi của huyện cần bố trí sử dụng đất đai hợp lý, cân đối giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và dân sinh

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý nhà nước, sự quan tâm tới kinh tế hộ gia đình, kinh tế nông thôn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, hội đồng nhân dân, UBND các cấp đã hoạt động một cách có hiệu quả Trong những năm gần đây nền kinh tế của huyện có những chuyển biến tích cực đáng kể, xuất hiện nhiều mô hình làm ăn khá trên các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và dịch

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vụ Nền kinh tế của huyện chịu ảnh hưởng của nền kinh tế của tỉnh Bắc Giang

và cả nước, đồng thời nó còn chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới đặc biệt

là khối ASEAN Nền kinh tế có sự chuyển dịch rõ rệt từ nền kinh tế nông

nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công, nông nghiệp, dịch vụ đa thành phần Từ

thực trạng kinh tế nêu trên, mặc dù trình độ thâm canh nông nghiệp của nhân

dân trong huyện khá cao, song do xu thế đất nông nghiệp bình quân đầu người

ngày một giảm Để đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế, tránh nguy cơ tụt hậu

toàn huyện phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, sử dụng

hợp lý tài nguyên đất đai trong huyện ở cả vùng đồng bằng, trung du lẫn vùng

đồi núi đồng thời xây dựng, nâng cấp cấu trúc hạ tầng một cách đồng bộ

a Tình hình dân số và lao động

* Về dân số: Tổng dân số toàn huyện năm 2007 là 93.636 người, trong

đó dân số nông thôn là 86.549 người chiếm 92,43%, dân số thành thị là 7.087

người chiếm 7,57% Năm 2008 tổng dân số là 93.982 người, tăng so với năm

2007 là 0,37% Năm 2009 tổng dân số là 94.664 người, tăng so với năm 2008

là 0,61% Cùng với nó thì số người và tỉ lệ dân số thành thị, nông thôn cũng

có sự biến đổi

* Về lao động: Với lao động hiện nay toàn huyện năm 2009 là 45.516

người, trong đó: tỉ lệ lao động nông nghiệp là chủ yếu chiếm 85,63% số lao

động, lao động phi nông nghiệp chiếm 14,37% tổng số lao động Số lượng lao

động tăng qua các năm, tốc độ tăng bình quân 3 năm 2007-2009 là 1,89%, lao

động nông nghiệp tăng 1,46%, lao động phi nông nghiệp tăng 4,57% Như

vậy tức là đã có sự chuyển dịch cơ cấu lao động (Bảng 2.2)

* Dân tộc: Yên Thế là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang Trong địa

bàn huyện có 8 dân tộc anh em cùng chung sống (Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu,

Cao Lan, Hoa, Mông, Dao) Trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 27% dân số

toàn huyện Mật độ dân là 300 người/km2, dân số chủ yếu tập chung ở những

vùng có điều kiện thuận lợi cho trồng trọt, gần đường giao thông còn lại một

số dân tộc ít người ở những vùng khó khăn, dân cư thưa thớt

Số lượng Cơ cấu (%)

Số lượng Cơ cấu (%)

2008/

2007 2009/

2008

BQ 2007-

2009

I Tổng số nhân khẩu người 93.636 100,00 93.982 100,00 94.664 100,00 100,37 100,73 100,55

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hiện nay công tác khuyến nông, khuyến lâm đã được chú trọng đến hầu

hết các xã trong huyện nên người dân tộc đã biết áp dụng các biện pháp kỹ

thuật, sử dụng giống cây trồng mới, luân canh trên đất đồi núi mang lại hiệu

quả kinh tế cao

b Cơ sở vật chất kỹ thuật

- Hệ thống giao thông

Do đặc điểm là huyện miền núi, nên hệ thống giao thông của huyện hết

sức phong phú, có cả giao thông đường bộ, đường thuỷ, và hệ thống vật chất

đường sắt có thể đưa vào hoạt động trở lại

Mạng lưới giao thông bao gồm hệ thống đường tỉnh lộ 284, tỉnh lộ 265,

đường liên huyện, đường đô thị, đường liên xã Huyện có 56 km đường tỉnh

lộ chạy qua, đường liên huyện là 61,7 km, đường liên xã là 225 km trong đó

100% đường tỉnh lộ đã rải Apphan, 80% đường liên huyện được rải bê tông,

60% đường liên xã đã được cứng hoá

Hệ thống giao thông đường thuỷ khá thuận tiện trên sông Thương và hạ

lưu sông Sỏi

Hiện nay 2 thị trấn - 2 trung tâm kinh tế của huyện được nối liền bằng

hệ thống giao thông rất thuận lợi Đây là điều kiện quan trọng giúp Yên Thế

đi lên, phát triển toàn diện và bền vững nền kinh tế, giao lưu văn hoá và mở

rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong những năm tới

- Hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện, hệ thống kênh mương

Tính đến hết năm 2008 toàn huyện có 17.000 máy điện thoại cố định đã

phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân

Toàn huyện có 21/21 xã thị trấn đã có hệ thống điện lưới quốc gia nên

đã phục vụ tốt cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Hệ thống kênh mương mức độ kiên cố hoá còn thấp, chưa đáp ứng được

nhu cầu, các cấp chính quyền cần quan tâm hơn trong những năm tới

c Hệ thống y tế giáo dục

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Y tế năm 2009, tổng số cán bộ ngành y, dược 276 người, số y bác sỹ bình quân trên 1000 dân 2,9 Huyện có 1 bệnh viện đa khoa, 1 phân viện tại Tam Tiến, ở 21 xã thị trấn đều có trạm xá đã phần nào đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân

Hệ thống giáo dục: Trong năm học 2009-2010, toàn huyện có 22 trường mẫu giáo, với 172 lớp, 241 giáo viên và 3.730 học sinh Huyện có 46 trường ở các cấp, trong đó: Tiểu học: 20lớp, Phổ thông cơ sở: 02 lớp, Trung học cơ sở:

21 lớp, Trung học phổ thông: 03 lớp Có 587 phòng học, 664 lớp, có 17.216 học sinh Số giáo viên trực tiếp giảng dạy là 1.136 người

2.1.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đã đạt được giai doạn 2007-2009

Sau sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, huyện Yên Thế được đánh giá tình hình phát triển đang ở thế ổn định và có tăng trưởng Tuy nhiên huyện Yên Thế vẫn là một huyện thuần nông, sản xuất mang tính chất tự cung

tự cấp là chủ yếu

Trong giai đoạn 2007-2009, cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch tích cực Tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản so với tổng giá trị sản xuất tăng từ 13,77% vào năm 2007 lên 26,40% vào năm 2009, đạt tốc độ tăng bình quân 2007-2009 là 51,01% (Bảng 2.3) Có được điều đó là do các chương trình phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn được tích cực triển khai thực hiện; các cơ chế chính sách được thực hiện đồng bộ; các ngành nghề: Sản xuất vôi hòn, cay vôi, gạch chỉ, mộc dân dụng, tre đan, khai thác cát, sỏi, chế biến lâm sản được quan tâm chỉ đạo, thu hút và giải quyết việc làm được cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông thôn

Cùng với nó là ngành thương mại - dịch vụ cũng có tỷ trọng tăng dần Năm 2007, ngành thương mại dịch vụ đạt 142.457 triệu đồng, chiếm 18,55% tổng giá trị sản xuất Năm 2009 đạt 176.000 triệu đồng, chiếm 19,26% tổng giá trị sản xuất Như vậy, tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ liên tục tăng qua các năm, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 2007-2009 là 11,15%

Trang 32

2008/

2007 2009/

2008

BQ 2007- 2009

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Giai đoạn 2007-2009, tuy giá cả có nhiều biến động nhưng hoạt động thương mại vẫn tiếp tục có bước phát triển, với sự tham gia tích cực của nhiều thành phần kinh tế, các loại vật tư, hàng hoá thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, xi măng, vật tư kỹ thuật nông nghiệp, các mặt hàng chính sách xã hội… đều được cung ứng đầy đủ, kịp thời, phương thức kinh doanh đa dạng và phong phú Phối hợp với Sở Công thương tỉnh tiến hành khảo sát,

bổ sung quy hoạch hệ thống chợ, trung tâm thương mại, siêu thị và mạng lưới kinh doanh xăng dầu trên địa bàn huyện đến năm 2020; hoàn thành và đưa vào sử dụng chợ thị trấn Bố Hạ, tiến hành khởi công xây dựng Bến xe khách thị trấn Cầu Gồ, xây dựng mới 03 cửa hàng xăng dầu xã Tam Tiến, Xuân Lương, Hồng Kỳ Dịch vụ vận tải, giao lưu buôn bán hàng hoá tiếp tục phát triển; lượng xe vận tải, xe du lịch, xe tư nhân tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng; đáp ứng yêu cầu phục vụ vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân

Hoạt động của đa số các HTX dịch vụ nông nghiệp từng bước đi vào nền nếp, hiệu quả; chỉ đạo tổ chức đại hội hết nhiệm kỳ cho 2 HTX dịch vụ nông nghiệp (Tân Hiệp, thị trấn Cầu Gồ); lập đề án phát triển HTX giai đoạn 2009- 2015 cho 03 HTX (Phồn Xương, Đồng Kỳ, Hồng Kỳ)

Hệ thống chợ nông thôn được quan tâm cải tạo, nâng cấp và xây mới,

cơ sở giao lưu buôn bán như: ăn uống công cộng, kinh tế văn phòng phẩm, cơ khí phát triển đa dạng

* Tình hình sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2007 - 2009 trong điều kiện có nhiều khó khăn bất lợi về thời tiết, giá cả vật tư phân bón, thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao, dịch bệnh trên đàn vật nuôi luôn có nguy cơ bùng phát; trước tình hình đó, UBND huyện đã có nhiều cơ chế, giải pháp kích cầu sản xuất, chỉ đạo kịp thời các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn hướng dẫn, giúp đỡ

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

bà con nông dân khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất: Chuyển dịch cơ cấu

giống cây trồng và mùa vụ, đưa nhiều loại cây, con giống mới có năng suất và

chất lượng cao vào sản xuất Riêng năm 2009, tiến hành cung ứng kịp thời

75.720kg giống lúa thuần, 3.786kg giống lúa lai, 9.480kg giống ngô lai,

8.296kg lạc giống, 4.895kg giống khoai tây và gần 4.000 tấn phân bón; triển

khai nhiều mô hình trồng cây giống mới gắn với sản xuất hàng hoá đã đem lại

hiệu quả và cho thu nhập cao (mô hình sản xuất lúa theo phương pháp xạ lúa

theo hàng bằng giàn kéo tay, mô hình giống lúa mới ĐB5, ĐB6, mô hình sản

xuất lúa theo phương pháp 3 giảm 3 tăng; mô hình sử dụng phân bón hữu cơ

sinh học NEB-26; mô hình bạch đàn hom giống PN 14; mô hình trồng cây tai

chua 13,3ha; mô hình chè LDP1, LDP2 giâm hom ); đẩy mạnh công tác tập

huấn chuyển giao KHKT với 363 lớp (250 lớp từ nguồn ngân sách huyện),

thu hút trên 18.000 lượt người tham dự; các loại hình dịch vụ về nước, giống,

phân bón, bảo vệ thực vật được chỉ đạo chặt chẽ, cơ bản đáp ứng kịp thời nhu

cầu sản xuất nông nghiệp Tập trung chỉ đạo làm tốt công tác phòng trừ sâu

bệnh trên cây trồng, khoanh vùng tiêm phòng dịch, khử trùng tiêu độc vệ sinh

môi trường (Tiêm phòng vắc xin cho trên 9.000 con trâu bò, 69.000 con lợn,

2.200.000 con gia cầm và trên 7.000.000 liều vắc xin khác) [19]

Giá trị sản xuất lúa tăng qua các năm Năm 2007 đạt 47.560 triệu đồng,

năm 2009 đạt 51.731 triệu đồng, tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm

2007-2009 là 4,29%

Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi không ngừng tăng lên Năm 2007 đạt

70.135 triệu đồng, năm 2009 đạt 213.704 triệu đồng, tốc độ phát triển bình

quân 2007-2009 là 74,56% Đó là do huyện đã biết phát huy lợi thế so sánh

vùng đồi núi thoải, vườn vải, vườn hồng kết hợp chăn nuôi gà thả vườn Hiện

nay, chăn nuôi gà đã thành nghề phổ biến ở huyện "Gà đồi Yên Thế" đã có

mặt trên nhiều thị trường khó tính trong nước (Bảng 2.4)

(trđ) Cơ cấu (%) Số lượng

(trđ) Cơ cấu (%)

2008/

2007 2009/

2008

BQ 2007-2009

3 Rau đậu và gia vị 13.437 3,20 12.036 2,84 11.484 4,99 89,57 95,41 92,45

4 Cây công nghiệp 10.714 2,55 12.776 3,01 15.796 6,86 119,25 123,64 121,42

Trang 34

Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn

Túm lại, giai đoạn 2007-2009 huyện đó xõy dựng và triển khai cú hiệu

quả một số đề ỏn về trồng trọt, chăn nuụi gắn với hỗ trợ kớch cầu sản xuất

do đú tỡnh hỡnh sản xuất nụng nghiệp tiếp tục ổn định và cú bước phỏt triển:

Tổng diện tớch gieo trồng cõy hàng năm đạt kế hoạch đề ra, năng suất cỏc loại

cõy trồng chủ yếu đạt và vượt chỉ tiờu kế hoạch; năng suất lỳa và tổng sản

lượng lương thực cõy cú hạt đạt cao nhất kể từ trước đến nay; đàn vật nuụi

đang dần phỏt triển theo hướng sản xuất hàng hoỏ, nhiều mụ hỡnh luõn canh

cõy trồng đó đem lại hiệu quả kinh tế cao, cỏc mụ hỡnh kinh tế trang trại đang

được mở rộng và cú bước phỏt triển đó gúp phần nõng cao thu nhập và ổn

định đời sống nhõn dõn

2.2 Nhu cầu của nụng dõn về khuyến nụng trong sản xuất và nõng cao

hiệu quả kinh tế sản xuất lỳa

2.2.1 Đỏnh giỏ chung của nụng dõn về khuyến nụng trong sản xuất và

nõng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lỳa

Hiện nay, ở huyện Yờn Thế cú một số tổ chức cung cấp dịch vụ cụng

cho nụng dõn là: Khuyến nụng, Hội Nụng dõn, cỏn bộ thỳ y, cỏn bộ kiểm

lõm, ngõn hàng nụng nghiệp, ngõn hàng chớnh sỏch và một số đoàn thể

kỏhc như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niờn Mỗi tổ chức

đều đặt ra cho mỡnh nhiệm vụ riờng song được đỏnh giỏ cú hoạt động sõu,

rộng và thu hỳt được nhiều nụng dõn tham gia hơn cả là khuyến nụng và

Hội Nụng dõn

Nụng dõn tiếp cận với khuyến nụng trong sản xuất và nõng cao hiệu quả

kinh tế sản xuất lỳa qua khỏ nhiều hoạt động 100% nụng dõn đều biết cú hoạt

động khuyến nụng trờn địa bàn, những hoạt động mà hộ biết đến nhiều là: Tập

huấn (100% hộ nụng dõn được hỏi đó từng dự hoặc cú người nhà đi dự lớp tập

huấn về sản xuất lỳa của cơ quan khuyến nụng), xõy dựng mụ hỡnh trỡnh diễn

khuyến nụng, thụng tin khuyến nụng qua tài liệu (tờ rơi), thăm đồng, thăm

Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhà nụng dõn, liờn hệ cung ứng giống vật tư cho nụng dõn, kiểm tra tỡnh hỡnh sõu bệnh hại lỳa, chỉ đạo hướng dẫn nụng dõn cỏch phũng trừ

Những hoạt động khuyến nụng ớt được hộ biết đến hơn là: Liờn hệ tiờu thụ sản phẩm lỳa gạo cho nụng dõn cú 37,5% hộ được biết (chủ yếu là cỏc hộ vựng thấp); hoạt động đưa nụng dõn đi tham quan học tập chỉ cú 28,5% hộ biết (Biểu đồ 2.2) Cỏc hộ nụng dõn khẳng định rằng cần thiết phải cú cỏn bộ khuyến nụng ở địa phương của họ vỡ những thay đổi về giống, về kỹ thuật sản xuất ngày một hiệu quả phần lớn do khuyến nụng khuyến cỏo và hướng dẫn

Biểu đồ 2.2 Nhu cầu về khuyến nụng trong nõng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lỳa của nụng dõn trong huyện

Tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc lúa Xây dựng mô hình trình diễn Liên hệ cung ứng giống, vật t- cho nông dân

Cung cấp tờ rơi, sách mỏng

Kiểm tra sâu bệnh hại lúa và h-ớng dẫn, chỉ đạo

phòng trừ Liên hệ, hợp đồng tiêu thụ sp lúa gạo cho ND

Đ-a nông dân đi tham quan

Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra năm 2009

Cú thể thấy nụng dõn huyện yờn Thế đó cú sự tiếp cận tương đối rộng đối với cỏc hoạt động khuyến nụng trong sản xuất lỳa, khuyến nụng giữ một vai trũ quan trọng trong chuyển giao, hướng dẫn về kỹ thuật sản xuất, tuy

Trang 35

Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhiờn mức độ tiếp cận chưa sõu thể hiện ở cỏc hoạt động mà nụng dõn biết

đến nhiều chủ yếu là cỏc hoạt động khuyến nụng lập kế hoạch đưa xuống,

nụng dõn chưa mạnh dạn nờu lờn nhu cầu, mong muốn của mỡnh với khuyến

nụng Cỏc hoạt động về liờn hệ, hợp đồng tiờu thụ sản phẩm lỳa gạo cho nụng

dõn cũn hạn chế và chưa mang lại hiệu quả rừ rệt Cú nhiều thắc mắc, nhu cầu

nhỏ lẻ của nụng dõn nảy sinh trong quỏ trỡnh sản xuất, nhất là trong vấn đề

nõng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lỳa chưa được khuyến nụng đỏp ứng một

cỏch thoả đỏng hoặc khuyến nụng chưa bắt gặp Khuyến nụng cần cú bước

đột phỏ trong tiếp cận và đỏp ứng nhu cầu của nụng dõn

2.2.2 Nhu cầu tập huấn khuyến nụng trong sản xuất và nõng cao hiệu quả

kinh tế sản xuất lỳa

Từ trước đến nay, hoạt động tập huấn khuyến nụng trong sản xuất lỳa

diễn ra đều đặn 2-3 lần/năm vào trước vụ và trong vụ sản xuất

Biểu đồ 2.3 Nhu cầu nội dung tập huấn KN của ND trong huyện

0% 20% 40% 60% 80% 100%

Chọn giống

Làm đất, gieo mạ

Kỹ thuật cấy và chăm sóc

Cách phòng trừ sâu bệnh hại lúa

Thông tin thị tr-ờng lúa gạo

Cơ cấu (%) Cần và rất cần Cơ cấu (%) Cần vừa phải Cơ cấu (%) ít cần

và không cần

Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra năm 2009

Cỏc lớp tập huấn này chủ yếu hướng dẫn cơ cấu giống, thời vụ và một

số kỹ thuật mới trong làm đất, gieo cấy, chăm súc và phũng trừ sõu bệnh hại

lỳa cho nụng dõn Nụng dõn cho rằng những lớp tập huấn thời vụ như vậy vẫn

Số húa bởi Trung tõm Học liệu – Đại học Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn

rất cần thiết với họ Xem xột cụ thể một số nhu cầu chung về kiến thức kinh

tế, kỹ thuật của nụng dõn trong sản xuất lỳa như sau:

Cú 5 khõu chớnh trong sản xuất và tiờu thụ sản phẩm lỳa gạo mà nụng dõn mong muốn được khuyến nụng hướng dẫn, phổ biến kiến thức kỹ thuật là chọn giống; làm đất, gieo mạ; kỹ thuật cấy và chăm súc; cỏch phũng trừ sõu bệnh hại và thụng tin về thị trường lỳa gạo Phần lớn cỏc hộ nụng dõn cần và rất cần được cơ quan khuyến nụng tập huấn kỹ thuật mới tốt hơn nữa nhất là ở cỏc xó vựng cao, vựng sõu sản xuất chưa phỏt triển (Biểu đồ 2.3) Đặc biệt cú 45% hộ dõn thấy cần và rất cần được tập huấn cung cấp thụng tin về thị trường lỳa gạo, những hộ này chủ yếu là ở cỏc xó sản xuất hàng hoỏ phỏt triển

và những hộ cú điều kiện kinh tế khỏ hơn Do xu hướng sản xuất nụng sản theo hướng hàng hoỏ thỳc đẩy nhiều nụng dõn chuyển từ sản xuất tự cấp, tự tỳc, nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hoỏ nhưng thấy lỳng tỳng trong việc giải quyết vấn đề phỏt sinh trong quỏ trỡnh sản xuất và tiờu thụ sản phẩm như làm thế nào để cú sản phẩm tốt theo đỳng yờu cầu của người mua, bảo quản sản phẩm như thế nào cho tốt, giống mới cú hiệu quả nhưng khụng biết mua ở đõu, làm thế nào để cạnh tranh được trờn thị trường Trong khi đú, những hoạt động khuyến nụng lại đang phần lớn chỳ trọng vào tập huấn kỹ thuật

2.3 Thực trạng hoạt động khuyến nụng trong sản xuất và nõng cao hiệu quả sản xuất lỳa trờn địa bàn huyện

2.3.1.Quỏ trỡnh hỡnh thành tổ chức khuyến nụng huyện Yờn Thế

Trạm Khuyến nụng huyện YờnThế trực thuộc Trung tõm Khuyến nụng - Khuyến lõm tỉnh Bắc Giang Việc thành lập trờn cơ sở mỗi xó, thị trấn cú một CBKN cơ sở Sau khi thành lập, cơ cấu tổ chức của hệ thống khuyến nụng huyện bao gồm: Trạm Khuyến nụng và 21 CBKN làm việc tại cỏc xó, thị trấn

và được hưởng phụ cấp 72.000đ/thỏng Về cơ bản đội nghũ CBKN ở cỏc xó, thị trấn này chưa được tổ chức một cỏch hoàn thiện Để thực hiện cỏc Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về tiếp tục củng cố, đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH nụng nghiệp nụng thụn trong cả nước Đứng trước những yờu cầu cấp bỏch trong thực tiễn của sản xuất nụng nghiệp và vai trũ của cụng tỏc khuyến

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nông đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân UBND tỉnh Bắc

Giang đã ra quyết định số 24/QĐ-UB ngày 11/3/2003 chuyển Trạm Khuyến

nông thuộc Trung tâm Khuyến nông - khuyến lâm tỉnh về UBND huyện, thị

xã quản lý; quyết định số 25/QĐ-UB ngày 11/3/2003 về chế độ, chính sách,

tiêu chuẩn CBKN cơ sở Sở Nông nghiệp tỉnh Bắc Giang ban hành Hướng

dẫn số 473/HD-NN ngày 04/7/2003 Hướng dẫn thực hiện Quyết định số

24/QĐ-UB ngày 11/3/2003 của UBND tỉnh Bắc Giang

Cho đến nay, tổ chức khuyến nông huyện Yên Thế đã dần được kiện

toàn Có 06 biên chế làm việc tại Trạm và 21/21 xã, thị trấn có CKBN cơ sở

làm việc theo chế độ hợp đồng dài hạn, được hưởng lương, phụ cấp từ nguồn

ngân sách huyện, được xét nâng lương thường xuyên, được đóng bảo hiểm

theo quy định hiện hành

2.3.2 Thực trạng các hoạt động khuyến nông trong những năm qua

Giai đoạn 2007 - 2009 công tác khuyến nông huyện đã đạt được một số

thành tựu đáng kể Đã xây dựng được 20 mô hình trình diễn, trong đó có 10

mô hình về trồng trọt bao gồm: mô hình dưa hấu triển khai tại xã An Thượng,

mô hình nhãn, vải tại xã Phồn Xương, Đồng Kỳ; mô hình lúa gieo xạ theo

hàng bằng giàn kéo tay tại 11 xã thị trấn, mô hình cấy lúa mạ khay… 3 mô

hình lâm nghiệp gồm: mô hình bạch đàn, mô hình keo lai hom, mô hình cây

tai chua…5 mô hình chăn nuôi về gà, lợn, bò… 2 mô hình thuỷ sản về cá

chép lai và cá rô phi đơn tính

Hàng năm tổ chức được trên 100 lớp tập huấn kỹ thuật trồng trọt, chăn

nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản, đặc biệt là sản xuất lúa Ngoài ra còn có cả các lớp

về tiến bộ xử lý sản phẩm phụ từ nông nghiệp như: kỹ thuật ủ rơm làm thức

ăn chăn nuôi, kỹ thuật xây hầm khí Biogas sử dụng phân thải trong chăn nuôi,

kỹ thuật ủ phân theo phương pháp mới nhằm tăng hiệu quả bón phân nên đã

góp phần đáng kể vào việc tăng giá trị sản xuất nông nghiệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đặc biệt, năm 2007 là năm đầu tiên Trạm Khuyến nông huyện Yên Thế phối hợp với Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện thực hiện chuyên mục "Nhà nông cần biết" với nội dung về khuyến nông, nông nghiệp đã có ý nghĩa quan trọng trong công tác truyền thông khuyến nông tới bà con nông dân Các chương trình được truyên truyền rộng rãi và đều được nông dân áp dụng có hiệu quả

2.3.3 Chất lượng đội ngũ CBKN huyện Yên Thế

Tổng số cán bộ - nhân viên của Trạm bao gồm 06 người với 05 cán bộ trình độ đại học, 01 cán bộ trình độ trung cấp Trong đó có 02 kỹ sư trồng trọt, 01 kỹ sư chăn nuôi, 01 kỹ sư thuỷ sản, 01 kỹ sư lâm nghiệp và 01 kỹ sư kinh tế nông nghiệp Năm 2009 có 21/21 xã, thị trấn có CBKN cơ sở được UBND huyện ký hợp đồng dài hạn, hưởng lương, phụ cấp theo bằng cấp, được nâng lương thường xuyên, được tham gia bảo hiểm theo quy định hiện hành của Nhà nước Trong số CBKN cơ sở, 18 cán bộ trình độ đại học, 03 cán

bộ trình độ cao đẳng với các chuyên ngành khác nhau (Bảng 2.5)

Trình độ cán bộ của Trạm và CBKN cơ sở rất đồng đều Đây là điều kiện thuận lợi cho công tác khuyến nông Đội ngũ CBKN cơ sở đã được kiện toàn cả về số lượng và chất lượng là đội ngũ có sự bổ sung sức mạnh đáng kể cho hoạt động khuyến nông

Tỉ lệ cán bộ khuyến nông so với dân số thì mức bình quân chung của toàn huyện là 1/4.508, tỉ lệ cán bộ khuyến nông so với diện tích đất tự nhiên thì mức bình quân chung của toàn huyện là 1/1.435,3 Điều đó có nghĩa là mỗi cán bộ khuyến nông cơ sở phải đảm nhận 4.508 người với địa bàn là 1.435,3 ha trong công tác khuyến nông (Bảng 2.6) Đây cũng là một trong những khó khăn trong công tác khuyến nông của huyện Ngoài công tác khuyến nông, CBKN cơ sở vẫn phải đảm nhận thêm các nhiệm

vụ khác về nông lâm nghiệp, bảo vệ thưc vật nên đôi khi bị phân tán trong công tác

Trang 37

Trồng trọt Chăn nuôi Lâm nghiệp Thuỷ

Cấp huyện

Cấp

xã, thị trấn

Cấp thôn, bản

Nguồn: Trạm Khuyến nông huyện Yên Thế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 2.6: Tỉ lệ CBKN so với nông dân và tỉ lệ CBKN cơ sở/1 đơn vị diện tích đất tự nhiên ở huyện Yên Thế năm 2009

STT Tên xã, thị trấn DT (ha) Dân số

(người)

CBKN

cơ sở (người)

KNV thôn bản

DT/CBKN (ha)

DS/ CBKN (người)

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hệ thống khuyến nông của huyện còn chưa có hệ thống khuyến nông viên

thôn bản nên CBKN cơ sở vẫn phải đảm nhiệm toàn bộ địa bàn xã mình

Trong thời gian tới, huyện Yên Thế cần sớm có quy định cụ thể về chức năng,

nhiệm vụ của CBKN cơ sở, mối quan hệ công tác với các cơ quan khác, đặc

biệt cần sớm bổ sung thêm mạng lưới khuyến nông viên thôn bản để hoạt

động khuyến nông đạt hiệu quả cao hơn

2.3.4 Về cơ chế chính sách đối với công tác khuyến nông

Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng là hướng dẫn cho nông dân tiến bộ

kỹ thuật mới, giúp họ nghiên cứu kết hợp lại với nhau để nhằm đạt được

những mục tiêu của quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn Tất cả các

mục tiêu của công tác khuyến nông đều gắn với cá chính sách nông nghiệp,

các mục đích phát triển kinh tế của đất nước Những mục đích đó bao gồm

các chỉ tiêu như: Cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao thu nhập, quan trọng

hơn cả về giả cả thị trường nông nghiệp tín dụng, cung ứng vật tư cần thiết

đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự chấp nhận những tiến bộ KHKT

cho nông nghiệp Trong đó chính sách về khuyến nông nhằm cung cấp những

hướng cơ bản nhất cho việc phát triển công tác khuyến nông của cả nước nói

chung và của huyện Yên Thế nói riêng

2.3.5 Các chủ trương, chính sách cho hoạt động khuyến nông của tỉnh và

của huyện

* Đối với tỉnh Bắc Giang:

Bên cạnh các chính sách theo Nghị định số 13/CP ngày 2/3/1993 của

Chính phủ ban hành quy định về công tác khuyến nông, tổ chức khuyến nông

Nhà nước chính thức được ra đời Ở tỉnh Bắc Giang, ngày 22/7/1993 UBND

tỉnh Hà Bắc (cũ) đã có quyết định số 691/QĐ-UB về việc thành lập Trung tâm

Khuyến nông trực thuộc Sở Nông nghiệp và ngày 17/9/1993 UBND tỉnh Hà

Bắc đã có quyết định số 256/QĐ-UB về việc thành lập Trung tâm khuyến lâm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trực thuộc Sở Lâm nghiệp Đến ngày 20/1/1997 UBND tỉnh Bắc Giang đã có quyết định thành lập Trung tâm Khuyến nông khuyến lâm trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT

Trung tâm KNKL là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu

và tài khoản riêng Trung tâm có chức năng, nhiệm vụ chính là chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho nông dân thông qua các hình thức: Xây dựng mô hình trình diễn, huấn luyện, đào tạo cán bộ khuyến nông cơ sở và nông dân; tổ chức thông tin tuyên truyền, tham quan, hội thảo

Cho đến nay, hệ thống tổ chức khuyến nông Bắc Giang đã được kiện toàn một bước quan trọng:

- Trung tâm KNKL tỉnh: Trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, có 20 biên chế và hợp đồng dài hạn, trong đó 100% có trình độ đại học, là kỹ sư chuyên ngành và cử nhân kinh tế; được phân thành 4 bộ phận: Trồng trọt, Chăn nuôi, Thông tin tuyên truyền và Hành chính kế toán

- Trạm Khuyến nông: Trực thuộc UBND huyện, thị xã (theo quyết định

số 24/QĐ-UB ngày 11/3/2003 của UBND tỉnh) Trạm có tư cách pháp nhân,

có con dấu và tài khoản riêng Mỗi Trạm có từ 3-6 biên chế và hợp đồng dài hạn, trong đó chủ yếu là kỹ sư trồng trọt, chăn nuôi và lâm sinh

- Khuyến nông xã: Mỗi xã, phường, thị trấn có 1 khuyến nông viên có trình độ từ trung cấp trở lên làm việc theo chế độ hợp đồng, được nhà nước tuyển dụng và trả lương theo bằng cấp đào tạo (theo quyết định số 25/QĐ-UB ngày 11/3/2003 của UBND tỉnh)

Ngoài ra, tỉnh còn thực hiện các chính sách trợ giá cho một số loại cây, con chủ yếu để phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân

Cụ thể là các giống cây trồng như: các giống lúa, ngô; giống lợn, gà và một số laọi cây con giống mới đưa vào sản xuất

* Đối với huyện Yên Thế:

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Để tạo điều kiện tốt cho hoạt động khuyến nông, hàng năm UBND

huyện Yên Thế ra quyết định giao dự toán phân bổ kinh phí cho hoạt động

khuyến nông bao gồm kinh phí trả lương cho cán bộ làm việc tại Trạm và

CBKN cơ sở Ngoài ra, huyện còn dành kinh phí cho xây dựng đề án, các mô

hình khuyến nông, trợ giá cây con giống mới, trợ giá mua các loại công nông

cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp

Bên cạnh các tổ chức, các nhóm khuyến nông cơ sở được thành lập và

hoạt động trực tiếp với người nông dân thì trong những năm qua hệ thống các

đơn vị như: Trạm Thú y, Trạm Bảo vệ Thực vật, Chi nhánh công ty Vật tư Kỹ

thuật nông nghiệp các tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội như: Hội Nông

dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh đều tập trung nhằm đẩy mạnh các

hoạt động của công tác khuyến nông có hiệu quả

2.3.6 Một số kết quả hoạt động khuyến nông trong những năm qua

* Công tác tuyên truyền và tập huấn chuyển giao KHKT

- Giai đoạn 2007 - 2009, Trạm Khuyến nông huyện Yên Thế đã tổ chức

tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật nông - lâm - ngư nghiệp được tổng số

404 lớp cho 16.367 lượt người tham gia Trong đó, riêng năm 2009, Trạm đã

tổ chức được 179 lớp cho 6.914 lượt người tham gia Các lớp tập huấn được

tổ chức theo kế hoạch mô hình khuyến nông và theo nhu cầu của bà con nông

dân Phương pháp giảng và chất lượng bài giảng ngày càng được đổi mới,

nâng cao và phù hợp với nhận thức của bà con nông dân nên việc áp dụng vào

sản xuất đều đạt hiệu quả kinh tế cao

- Phối hợp với Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện thực hiện chuyên

mục "Nhà nông cần biết" được 120 chương trình truyền hình và 120 chương trình

truyền thanh Nội dung chủ yếu tập chung hướng dẫn kỹ thuật gieo xạ lúa theo

hàng bằng giàn kéo tay, chống rét cho mạ, phòng chống rét cho cá, kỹ thuật cải

tạo ao ương cá, chăm sóc vải, kỹ thuật sử dụng phân bón phân NEB - 26 trên lúa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vụ mùa và một số các thông tin thị trường phục vụ sản xuất Các chương trình được truyên truyền rộng rãi và đều được nông dân áp dụng có hiệu quả

* Công tác xây dựng mô hình trình diễn

Những năm qua được sự quan tâm, tạo điều kiện của Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh Bắc Giang và sự lãnh chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện, nên việc xây dựng mô hình trình diễn rất được chú trọng

Giai đoạn 2007 - 2009 Trạm Khuyến nông tổ chức xây dựng được tổng

số 35 mô hình Trong đó, năm 2009 thực hiện 10 mô hình Trong đó: Trồng trọt có 02 mô hình (sử dụng phân bón NEB - 26 và Ngô giống mới); chăn nuôi

có 02 mô hình (Lợn nái móng cái và mô hình nuôi Gà bố mẹ giai đoạn II); thuỷ sản 01 mô hình nuôi thâm canh cá Rô phi đơn tính; lâm nghiệp 03 mô hình ( 02 mô hình trồng Bạch đàn hom giống mới PN14 và 01 mô hình cây Tai chua); công cụ sản xuất mới: Có 02 mô hình đều triển khai giàn xạ lúa theo hàng bằng giàn kéo tay Các mô hình đã thu hút được nhiều hộ nông dân tham gia, nó sẽ là cơ sở để các hộ khác học tập theo rồi nhân rộng ra toàn huyện và khu vực lân cận Tất cả các mô hình đó đều tập trung vào những cây, con mới và tiến bộ kỹ thuật mới để thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu của người dân, thực hiện theo hướng sản xuất thâm canh, tăng vụ và tăng cường sản xuất hàng hoá

* Công tác tham quan, học tập, trao đổi KHKT và kinh nghiệm sản xuất

Việc đi tham quan học tập trao đổi khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất

là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng vì nó tạo nguồn động lực và ý chí cho người nông dân vươn lên trong sản xuất Trong 3 năm 2007 - 2009 Trạm Khuyến nông đã tổ chức được hơn 60 cuộc tham quan hội thảo Riêng năm 2009 giao ban Khuyến nông cơ sở, hội thảo, trao đổi kinh nghiệm sản xuất được 23 cuộc tại các điểm sản xuất điển hình, với nội dung đánh giá kiểm điểm hoạt động khuyến nông, kinh nghiệm gieo xạ lúa theo hàng, gieo cấy mạ khay,

Cá Rô phi đơn tính, chăn nuôi Gà đồi, ứng dụng phân bón NEB, úm Gà bằng

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phương pháp cải tiến, Qua hội nghị các đại biểu được nghe và đóng góp ý

kiến, học hỏi kinh nghiệm sản xuất của địa phương đó Các cuộc đều được các

đại biểu đánh giá cao và áp dụng có hiệu quả

2.3.7 Những phương pháp và hoạt động khuyến nông chủ yếu của huyện

Yên Thế đối với sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

* Phương pháp cá nhân:

Đối với phương pháp này CBKN của huyện Yên Thế, Ban phát triển

nông nghiệp các cơ sở, Ban chủ nhiệm các CLBKN thường xuyên đến gặp

nông dân trực tiếp ở nhà hoặc ngoài đồng với tư cách như một người bạn thân

quen hàng xóm đến thăm nhau để cùng nhau thảo luận những vấn đề hai bên

cùng đề cập đến và cung cấp thông tin hay những giải pháp để họ có một

hướng đi đúng đắn trong quá trình sản xuất Trước khi đến thăm người nông,

CBKN phải mang theo giấy bút để ghi chép lại đầy đủ những vấn đề mà họ đã

thảo luận với người nông dân, đặc biệt là những yêu cầu thắc mắc của người

dân chưa được giải quyết ngay trong quá trình đến thăm

* Phương pháp khuyến nông theo nhóm:

Phương pháp này cũng đòi hỏi những CBKN ở huyện trực tiếp về các

cơ sở để tiếp xúc với một số hộ nông dân Do đó phương pháp khuyến nông

theo nhóm có thể cùng một lúc tiếp xúc được với nhiều nông dân thông qua

môi trường hoạt động mang tính cộng đồng Qua phương pháp này mà

CBKN huyện Yên Thế đã đem đến cho người nông dân những thông tin về

tiến bộ KHKT để giúp họ có thể tự giải quyết được những vấn đề trong quá

trình sản xuất của mình

* Phương pháp khuyến nông truyền thống:

Yên Thế là một huyện miền núi, những năm qua hầu hết các xã, thị

trấn trên địa bàn huyện đã được lắp đặt tương đối đầy đủ hệ thống truyền

thanh tới các cơ sở và được phủ sóng hết Các hệ thống truyền hình cũng

đã được phủ sóng trong toàn huyện

2007-2009

1 Tập huấn

2 Hội nghị, hội thảo Cuộc 12 15 17 125,0 113,3 119,0

3 Số lần CBKN đi thăm ruộng lần 72 82 88 113,9 107,3 110,6

4 Tổ chức tham quan mô hình sản xuất lúa

7 Số buổi trình diễn buổi 12 15 21 125,0 140,0 132,3

8 CLBKN CLB 52 52 52 100,0 100,0 100,0

9 Quy trình sản xuất phát cho nông dân bản 2147 2280 2587 106,2 113,5 109,8

10 Số giờ phát thanh về sản xuất lúa giờ 60 70 85 116,7 121,4 119,0

Nguồn: Trạm Khuyến nông huyện Yên Thế

Ngày đăng: 11/10/2016, 19:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 01: Vai trò của công tác khuyến nông - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Sơ đồ 01 Vai trò của công tác khuyến nông (Trang 10)
Sơ đồ 04 : Truyền thông khuyến nông là hoạt động thông tin hai chiều - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Sơ đồ 04 Truyền thông khuyến nông là hoạt động thông tin hai chiều (Trang 12)
Sơ đồ 05: Khuyến nông trong kinh tế thị trường Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Sơ đồ 05 Khuyến nông trong kinh tế thị trường Việt Nam (Trang 14)
Sơ đồ 06: Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Sơ đồ 06 Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam (Trang 20)
Bảng 1.2: Sản lƣợng lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 1.2 Sản lƣợng lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009 (Trang 23)
Bảng 1.1: Năng suất lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 1.1 Năng suất lúa của tỉnh Bắc Giang năm 2007-2009 (Trang 23)
Bảng 2.1: Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.1 Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 (Trang 29)
Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 (Trang 30)
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 (Trang 32)
Bảng 2.4: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 (Trang 33)
Bảng 2.6: Tỉ lệ CBKN so với nông dân và tỉ lệ CBKN cơ sở/1 đơn vị  diện tích đất tự nhiên ở huyện Yên Thế năm 2009 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.6 Tỉ lệ CBKN so với nông dân và tỉ lệ CBKN cơ sở/1 đơn vị diện tích đất tự nhiên ở huyện Yên Thế năm 2009 (Trang 37)
Bảng 2.7: Các hoạt động khuyến nông trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.7 Các hoạt động khuyến nông trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Yên Thế giai đoạn 2007-2009 (Trang 40)
Bảng 2.10: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của huyện - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.10 Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của huyện (Trang 43)
Bảng 3.3: Định mức kỹ thuật đối với lúa N46 - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.3 Định mức kỹ thuật đối với lúa N46 (Trang 55)
Bảng 3.4: Dự kiến các hoạt động khuyến nông trong sản xuất lúa trên địa bàn - Thực trạng và những giải pháp khuyến nông chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.4 Dự kiến các hoạt động khuyến nông trong sản xuất lúa trên địa bàn (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w