Luận văn
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I - HÀ NỘI
ĐỖ ĐÌNH CA
KHẢ NĂNG VÀ TRIEN VONG PHAT TRIEN
CAy Quit VA MOT SO CAY AN QUA CO MUI KHAC
VUNG BAC QUANG - HA GIANG
LUAN AN PHO TIEN SI KHOA HOC NONG NGHIEF
Chuyén nganh : TRONG TROT
Mã hiệu : 4-01-08- - Người hướng dẫn : GSTS TRẤN THỂ TỤC
_LA 48/46 |
HÀ NỘI - 1996
Trang 2LOI CAM ON
Đề tài “Khả năng và triển vọng phái triển cây quít và một số cây ăn quả
có múi khác vùng Bắc quang - Hà giang” được tiến hành từ năm 1990 đến nay, tại vùng Bắc quang tỉnh Hà giang và hoàn thành tại Trung tâm nghiên cứu cây
ăn quả Phú hộ, Khoa đào tạo sau đại học - Trường Đại học Nông nghiệp I- Hà nội, huyện Bắc quang - tỉnh Hà giang
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của tập thể cán bộ Khoa đào tạo sau đại học, Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Phú hộ, UBND và Ban Nông lâm huyện Bắc quang, Sở Nông lâm, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Hà giang
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Giáo sư Tiến sĩ Trần Thế Tục - Viện trưởng viện nghiên cứu Rau qua người trực tiếp hướng dân và giúp đỡ chúng tôi hết lòng trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng chân thành cảm ơn phó giáo sư tiến sĩ Nguyên Hữu Tê, phó giáo sư, phó tiến sĩ Phạm Chí Thành phó tiến sĩ Hoàng Ngọc Thuận phó tiến
sĩ Phạm văn Côn, phó tiến sĩ Phùng Quốc Tuấn, Cao Anh Long, Thiều Thị Sáu
và các đồng nghiệp khác đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến về phương hướng, phương pháp và nội dung nghiên cứu đề tài
Xin chan thanh-cam ơn đối với sự quan tâm giúp đỡ của Bộ giáo dục và Đào tạo, Vụ Khoa học Kỹ thuật - Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
đã tạo điều kiện thuận lợi cho đề tài hoàn thành
ĐỖ ĐÌNH CA
Trang 3Mục đích yêu cầu và nội dung của đề tài
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Những nghiên cứu trong nước
Những nghiên cứu nước ngoài
Những kết luận qua phân tích tổng quan
PHẦN 2 : KẾT QUÁ NGHIÊN CÚU
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HIỆN
TRẠNG SÁN XUẤT QUẢ CÓ MÚI Ở VÙNG BẮC QUANG
Một số nét tổng quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
Trang 4Tình hình sản xuất nông nghiệp
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Tình hình sẵn xuất nông nghiệp
Tình hình sản xuất lương thực ở Bắc quang
Tình hình sán xuất cây ăn quả ở Bắc quang
Sản xuất cây ăn quả nói chung
Sản xuất quả có múi ở Bắc quang
CÁC YẾU TỔ SINH THÁI VÀ CAY AN QUẢ CÓ MÚI Ở BẮC QUANG
Khí hậu và sự phát triển cam quít ở Bắc quang
Chế độ Nhiệt vùng Bắc quang
Chế đó mưa và ẩm
Những hiện tượng thời tiết đặc biệt
Đất đai và sự phát triển cây ăn quả có múi ở Bắc quang
Các loại đất và cấp độ dốc có khả năng trồng cây ăn quả
có múi ở Bắc quang
Tính chất của các loại đất trồng cam quít
Thành phần giống loài và đặc điểm các giống cam quít có triển vọng phát triển
Thành phần giống loài cây ăn quả có múi vùng Bắc quang
Đặc điểm hình thái các giống cam quít chủ yếu và có triển vọng phát triển ở Bắc quang
Một số đặc tính sinh vật học của các giống cam quít vùng Bắc quang
Thời kỳ xuất hiện lộc
76
76
76
9
Trang 5Một số chỉ tiêu công nghệ và sinh hóa quả của một số
HIỆU QUẢ TỔNG HỢP CỦA VIỆC TRỒNG CÂY ĂN
HƯỚNG PHÁT TRIEN CAY AN QUA VUNG BAC
Cơ cấu và quy mô phát triển cây ăn quả 116 Cây ăn quả trong cơ cấu hệ thống cây trồng 116 Quy mô, cơ cấu phát triển các loại cây ăn quả có múi
Dự kiến năng suất, sản lượng cây ăn quả có múi ở Bắc quang
Một số biện pháp kỹ thuật.nhằm đảm bảo cho khả năng phát
Bố trí sử dùng đất phát triển vườn cây ăn quả 119 Chọn tạo giống cam quít có chất lượng cao phù hợp: với sản 120
Trang 6VỊ.2.3
VỊ.3
VỊ.3.1
VỊ.3.2
xuất hàng hóa và có tính rải vụ
Tăng cường kỹ thuật bảo quản chế biến Các chính sách hỗ trợ phát triển
Trang 7PHAN 1: NHUNG VAN ĐỀ CHUNG
CHUONGI: MỞ ĐẦU
II ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng hợp lý tài nguyên hiện là một trong những nội dung được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là vùng núi, trình độ dân trí phát triển chưa kịp yêu cầu phát triển kinh tế Đề tài: “Khả năng và triển vọng phát triển cây quít và một số cây ăn quả có múi khác vùng Bắc quang - Hà giang” thuộc loại hình nghiên cứu trên
Cây ăn quả có múi (cam, chanh, quít, bưởi) là những loài cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao,để sử dụng và được nhiều người ưa chuộng Trên thế giới hiện nay có khoảng 60 nước trên thế giới trồng cam quít, phân bố từ miền xích đạo tới vĩ độ 42 bắc - nam [85] Những năm 1980 -
1985, sản lượng đạt 54 triệu tấn, đứng vị trí thứ 2 sau nho, đến năm 1990 dat 65 triệu tấn, đứng thứ nhất trong 6 loại quả được sản xuất nhiều và có giá trị trao đổi trên thị trường thế giới là: nho 63 triệu tấn, chuối 42 triệu tấn, táo tây 42 triệu tấn, xoài 15 triệu tấn và dứa 9 triệu tấn Dự kiến đến năm 2000 sản lượng quả có múi trên thế giới sé dat 85 triệu tấn, trong đó sản lượng quít chiếm từ 10
- 13% (khoảng 8 - 10 triệu tấn), đứng vị trí thứ 2 sau cam (cam từ 68 - 70%) [120]
Các nước sản xuất nhiều là Nhật bản, khoảng 45% sản lượng quít trên thế giới; Tây ban nha: 16%; Braxin: 8%; Italia: 6% và Mỹ: 4% [120]
Ở Đông Nam Á, quít có vị trí quan trọng trong sản xuất quả có múi ở một số nước như Thái lan: 561.000 tấn với 44.800 ha năm 1986-1987; Inđônêxia : 489.000 tấn (1986) Sản lượng quít của 2 nước này chiếm hơn 80% sản lượng quả có múi Philppin : 39.796 tấn (1987) đứng thứ hai sau
Trang 8Calamondin (Calamondin : 51.291 tấn) An độ sản lượng quít chiếm 41% trong tổng số 2,47 triệu tấn năm 1988 (Cam 23%, chanh 22,3%) Pakistan (1993) sản lượng quít chiếm 70% trong tổng số 1,578 tiệu tấn Miến điện 100% là quít với sản lượng 75.000 tấn năm 1990 [131]
Việt nam là một trong những vùng nguyên thuỷ của các loài cây ăn quả
có múi (cam, quít ) Trong quá trình sản xuất, qua chọn lọc tự nhiên, một số giống địa phương và một số giống nhập nội lâu đời đã trở thành nổi tiếng như cam Bố hạ, Xã đoài, Sông Con, Vân du, bưởi Đoan hùng, quít Lý nhân, quít Tiêu Tính đến năm 1991 diện tích cam quít cả nước có khoảng 15.361 ha với sản lượng 127.316 tấn So với năm 1980 diện tích tăng 3.293 ha và sản lượng 44.029 tấn (diện tích năm 1980 là 12.068 ha, sản lượng 83.287 tấn) Tuy nhiên diện tích và sản lượng trên chủ yếu là từ các vùng sản xuất cá thể trong nước Khu vực nhà nước (các nông trường quốc doanh) chiếm khối lượng rất nhỏ, khoảng 7 - 10 nghìn tấn, và quá trình sản xuất từ năm 1960 đến nay không ổn định, có chiều hướng giảm (diện tích năm 1980 khoảng 4.000 ha, sản lượng 20.000 tấn, đến năm 1990 diện tích chỉ còn trên 1.000 ha với sản lượng 7 - 10 nghìn tấn)[60,61]
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm sút trên là do sản xuất quả có múi ở các nông trường tập trung chủ yếu là cam, các loài khác như quít, chanh, bưởi rất ít hoặc không có Và như trên vừa nêu, sản xuất quả có múi và sự tăng trưởng của nó ở tất cả các vùng trong cả nước thập kỷ vừa qua lại không phải chủ yếu là cam
Trong cơ chế thị trường hiện nay, vấn đề đặt ra với bất cứ ngành sản xuất nào cũng phải phát huy được hết các lợi thế tự nhiên để sản xuất ra các mặt hàng mang tính đặc sản của mình Bởi vậy, nghiên cứu tìm tòi phát huy tiềm
Trang 9năng sản xuất hàng hóa như sản xuất quả có múi của một vùng sản xuất nào đó
là vấn đề cần thiết để tồn tại và phát triển
Nước ta có nhiều vùng có lợi thế phát triển sản xuất quả có múi hàng hóa như vùng Đồng bằng sông Cửu long, vùng Phủ quỳ - Nghệ an, vùng Sông Bôi - Thanh hà - Hòa bình và các vùng thuộc các tỉnh Miền núi phía Bắc như: Bố hạ
- Hà bắc, Bắc sơn - Lạng sơn, Hàm yên, Chiêm hóa - Tuyên quang, Lục yên - Yên bái và Bắc quang - Hà giang
So với vùng trồng cam quít phía Nam (từ Nghệ an trở vào) các vùng trồng cam quít phía Bắc, diện tích nhỏ hơn, song có nhiều lợi thế về điều kiện
tự nhiên, khí hậu, đặc biệt có nhiều chủng loại giống có thể sản xuất hàng hóa
đa dạng
Vùng Bắc quang - Hà giang (bao gồm 1 phần của huyện Vị xuyên), là một trong những vùng sản xuất quả có múi nhiều ở các tỉnh phía Bắc Sản xuất nông nghiệp ở đây sau cây lúa là cây ăn quả có múi Riêng huyện Bắc quang
có 28 xã thì 26 xã trồng cam quít Tổng diện tích của vùng đến năm 1994 có 1.558,67 ha, trong đó Bắc quang : 1.457,67 ha và 5 xã của Vị xuyên 101 ha Sản lượng (chỉ tính diện tích cho sản phẩm) là 5.801,5 tấn (Bắc quang 4.056 tấn, Vị xuyên 1.745,5 tấn).[§]
Tuy nhiên cũng thấy rằng đây là vùng sản xuất mang tính tự phát, sản phẩm chủ yếu là cam Sành (giống lai của Citrus sinensix với Citrus reticulata), các loài khác như chanh, quít, bưởi tỷ trọng so với cam Sành rất thấp
Dưới tác động của quy luật sản xuất hàng hóa, cam Sành hiện nay đang bộc lộ những nhược điểm cơ bản như mã quả xấu, vỏ dày, nhiều xơ bã và nhiều hạt Sản phẩm tập trung gây căng thẳng thời vụ thu hoạch và ứ đọng gây hư hồng trong khâu tiêu thụ Mặt khác, do trồng trọt từ đời này qua đời khác, giống không được tuyển chọn, nhiều vườn cam bị thoái hóa, năng suất thấp,
Trang 10sâu bệnh phát triển Nhiều xã trong vùng hiện nay người dân đã thay thé dan cam Sành bằng các giống quít thấy có hiệu quả kinh tế cao hơn Vì so với cam Sành, quít có nhiều chủng loại, có thể rải vụ thu hoạch, hơn nữa ưu thế nổi bật của quít là chúng có mã quả đẹp, năng suất cao, ít sâu bệnh và dễ sử dụng
Nhìn chung, sản xuất quả có múi ở Bắc quang đang có những chuyển biến tốt theo vận hành của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là chính sách giao đất, giao rừng cho hộ nông dân của Đảng và Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các hộ nông dân vươn lên chủ động trong sản xuất Tuy nhiên, với tiềm năng sẵn có của vùng sự biến đổi trên mới chỉ là bước đầu, và đứng trước hiện trạng của vườn cam đang bị thoái hóa, sâu bệnh phát triển, đã và đang đặt ra những vấn đề lớn cần giải quyết, đó là :
- Phải xem xét đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có những khó khăn, thuận lợi gì cho việc tiếp tục phát triển cây ăn quả có múi, và việc phát triển cây ăn quả có múi trong hệ thống nông nghiệp toàn vùng như thế nào cho
Cơ sở khoa học của việc giải quyết những mục tiêu của đề tài được dựa trên cơ sở điều tra khảo sát, đánh giá tiềm năng tự nhiên, tiềm năng sinh học của vùng, và phân tích đánh giá các điều kiện kinh tế, xã hội có liên quan tới việc đảm bảo và phát huy tiềm năng đó đối với sản xuất cây ăn quả có múi.
Trang 1112 MỤC ĐÍCH,YÊU CẦU VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu hiện trạng và khả năng phát triển cây quít và cây ăn quả có múi khác ở vùng Bắc quang - Hà giang nhằm xây dựng Bắc quang trở thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung
12.2 Yêu câu:
- Phải tiến hành thu thập, phân tích đặc điểm khí hậu, đất đai và điều tra khảo sát tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở hầu hết các vùng trồng cam quít ở Bắc quang
- Xác định được khả năng mở rộng diện tích trồng cam quít trong những năm tới và cơ cấu giống sản xuất hàng hóa
- Có được những dẫn liệu thể hiện được hiệu quả kinh tế của việc trồng quit
- Đánh giá thực trạng sản xuất cây ăn quả có múi ở vùng Bắc quang
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường sinh thái đối với
sự sinh trưởng, phát triển của cam quít nói chung và quít nói riêng ở vùng Bắc quang
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất phẩm chất một số giống cam quít phổ biến và có triển vọng phát triển Bước đầu đánh hiệu quả kinh tế cuả việc trồng quít so với một số cây trồng chính ở Bắc quang
13_ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU
L3.1 Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
Trang 12- Điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai vùng Bắc quang
- Điều kiện kinh tế, xã hội vùng Bắc quang
- Cam quít vùng Bắc quang với những đặc điểm:
+ Giống trồng mang tính tự phát, không được thiết kế, quy hoạch về cơ cấu giống cũng như vị trí trồng trọt
+ Không được chăm sóc bón phân và phòng trừ sâu bệnh một cách đúng
kỹ thuật và đầy đủ, ngoài việc có làm cỏ hàng năm còn chủ yếu theo lối khai thác bóc lột tiềm năng tự nhiên
L3.2_ Phương pháp nghiên cứu
1.3.2.1 Thu thập và phân tích thông tin thứ cấp
- Đánh giá tiềm năng tröng cam quít vùng Bác quang bằng cách phân tích tài liệu khí hậu, đất đai và điều kiện kinh tế xã hội, đối chiếu với yêu cầu của cam quít và so sánh với một số vùng trồng cam quít chính trong nước
- Xác định mức độ biến động của các yếu tố khí hậu theo hệ số:
SX V% = ——x 100
Trang 13- Lấy mẫu trên hai loại vườn trồng cam quít: Vườn đã trồng 20 năm và vườn mới trồng 3 - 5 năm
- Lấy mẫu theo tầng quy định (không lấy theo tầng phát sinh) dựa vào độ sâu của bộ rễ cam quít tập trung ở tầng từ 0 - 60 cm Mỗi phẫu diện được lấy 3 mẫu ở tầng từ 0 - 20 cm; 20 - 40 cm; 40 - 60 cm
Chỉ tiêu và phương pháp phân tích
- pH«c¡ theo phương pháp rút tỉnh KCI 1N
- Mùn tổng số (%) theo phương pháp Tiurin
- Đạm tổng số (%) theo phương pháp Kjeldahl
- PO; tổng số (%) theo phương pháp Oniani
- KO tổng số (%) theo phương pháp quang kế ngọn lửa
- PaO; dễ tiêu (mg/1008) theo phương pháp Oniani
- Dam dé tiéu (mg/100g) theo phương pháp Kjeldahl
- KạO đễ tiêu (mg/100g) theo phương pháp Kiecxanốp
- Ca*", Mg”” (1đ1/100g) theo phương pháp Trilon B
2-Điều tra giống theo phương pháp ngẫu nhiên và trọng điểm dựa vào sự phân chia các loại đất
3-Phân tích đặc điểm của giống theo tài liệu hướng dẫn của IBPGR 1988 (Tổ chức quốc tế về tài nguyên di truyền thực vật)
4-Đánh giá giống qua phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và
phẩm chất Các chỉ tiêu được tính ra trị số trung bình và sai số trung bình
5-So sánh năng suất các giống theo phương pháp tính trị số (khi bình phương)
Số qủa thu được
€ Tỷ lệ đậu quả = (Số lưng hoa quả rụng + Số quả) zl 00
Mỗi giống theo dõi 5 cây cùng lứa tuổi va trên cùng loại đất
Trang 147- Đánh giá triển vọng trồng quít ở Bắc quang qua trồng khảo nghiệm một
Số giống tốt chon lọc trong vùng và nhập nội từ các địa phương khác 8- Điều tra kinh nghiệm trồng cây ăn quả có múi và các hệ thống sản xuất khác theo phương pháp KIP (Key Informant Panel) - Phương pháp thu thập thông tin từ nông dân để thu thập các thông tin tổng quát hoặc chuyên biệt
9- Đánh giá hiệu quả của việc trong quit qua so sánh hiệu quả kinh tế của
nó với một số cây trồng khác trong cùng điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội vùng Bắc quang
Tổng thu và tổng chỉ tính theo giá cố định năm 1994
Lãi thuần = Tổng thu - Tổng chỉ
Thu nhập thuần = Tổng thu - Tổng chỉ (không tính công lao động gia đình nông dân bỏ ra)
Trang 15CHUONG I: TONG QUAN
IL1 SO LUGC LICH SUPHAT TRIEN NGHE TRONG CAM QUIT 6 VIET
NAM VA CAC VUNG TRONG CAM QUIT CHINH
Theo lịch sử Việt nam (tập I -1971) nghề trồng cây ăn quả của Việt nam
đã có từ thời kỳ đồ đá trong các di chỉ văn hóa Bắc sơn, Hòa bình, Quỳnh văn Các loại quả của Việt nam đã có mặt trong các truyền thuyết rất xa xưa của người Việt cổ: dưa hấu, quả thị (trong truyện Tấm Cám), cây khế (trong di tích cây khế) v.v [53]
Các tác giả Trung quốc: Cao Mỹ Chuân, Nguyễn Hữu Tư từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI mô tả ở Giao châu trong mỗi gia đình người Việt đều có vườn trồng rau và cây ăn quả: như chuối, vải thiều, nhãn, cam quít, dừa, khế, tram, lựu, mơ v.v [53]
Trong “Vân đài loại ngữ” Lê Quý Đôn viết: “Nước Nam ta cũng có rất nhiều thứ cam : cam Sen (gọi là Liên cam), cam Vú (Nhũ cam) da sần mà vị rất ngon, cam Chanh (Đắng cam) da mỏng và mỡ, vừa chua vừa ngọt thay, cam Sành (Sinh cam) da dày vị chua, cam Mật (Mật cam) da mỏng vị ngọt, cam Giấy (Chỉ cam) tức là Kim quất, da rất mỏng, sắc hồng, trông đẹp mã, vị chua, cam Động đình, quả to, vỏ dày, chua lắm Quất trục (cây quít) ghi trong Thiên
Vũ Công và sách Chu thư, là sản vật quý của Nam phương đem sang Trung quốc trước tiên Đời Hán, ở Giao chỉ người ta cử một chức quan coi quít để hàng năm đem cống Hương Viên Tử, tục gọi là Thanh Yên Tử, ăn Thanh yên khỏi váng đầu, chóng mặt .”[17]
Nhìn chung, cam quít cũng như nghề trồng cam quít ở nước ta đã có từ lâu đời nay Tuy nhiên phải đến đầu thế kỷ XIX (trong thời kỳ thuộc Pháp 1884
Trang 16- 1945), nghề trồng cây ăn quả nói chung và cam quít nói riêng mới được phát triển Một số trạm nghiên cứu cây ăn quả được thành lập ở các tỉnh như: Trạm Vân du - Thanh hóa, trạm Phủ quỳ - Trung thôn (Nghi lộc - Nghệ an), Đồng lô
- Hà ứnh, Sông Dinh - Quảng bình, Tích trường - Quảng trị, Tây lộc - Huế, Đại lộc - Quảng nam, Quảng ngãi - Quảng ngãi, Đồng xuân - Phú yên, Nha trang - Khánh hòa v.v vừa nghiên cứu các cây ăn quả trong nước, vừa nghiên cứu nhập nội các giống cây ăn quả ôn đới và á nhiệt đới [139]
Trong giai đoạn này, các nhà kinh tế của Việt nam và người nước ngoài chưa có ý thức khai thác nghề trồng cây ăn quả Nhu cầu quả tươi trong nước còn rất ít và tình trạng này kéo dài trong suốt những năm chiến tranh chống Pháp
Có thể nói nghề trồng cây ăn quả của Việt nam nói chung và cam quít nói riêng được phát triển một bước so với tất cả các thời kỳ trước đây là từ sau năm 1960 Những nông trường chuyên doanh trồng cam quít đầu tiên ra đời ở miền Bắc với diện tích 223 ha (1960) đến năm 1965 đã có trên 1.600 ha và sản lượng 1.600 tấn, trong đó xuất khẩu 1.280 tấn Năm 1975 diện tích phát triển tới 2.900 ha, sản lượng đạt 14.600 tấn, xuất khẩu 11.700 tấn [30 ]
Sau ngày miền Nam giải phóng từ năm 1976 đến năm 1984, đã có 27 nông trường cam quít, với diện tích xấp xỉ 3.500 ha Sản lượng năm cao nhất (1976) đạt 22.236 tấn, trong đó xuất khẩu 20.916 tấn [30 ] Phải nói đây là thời
kỳ huy hoàng nhất của ngành trồng cam quít nước ta Ngoài ra, do ảnh hưởng của các nông trường đã làm hình thành các vùng sản xuất cam quít tập trung trong nhân đân xung quanh các nông trường Có thể nói sự thành lập các nông trường quốc doanh đã tạo một bước ngoặt quan trọng trong việc phát triển kinh
tế vườn ở khắp các tỉnh trong cả nước, đặc biệt ở các vùng có truyền thống lâu đời trồng loại cây ăn quả này Do vậy, sau năm 1985 mặc dù diện tích và sản
Trang 17lượng cam ở các nông trường quốc doanh giảm đi, song tổng diện tích và sản lượng cam của cả nước vẫn tăng Năm 1985 diện tích cam quít cả nước là
17.026 ha, năm 1990 tăng và đạt 19.062 ha, trong đó có 14.499 ha cho sản
phẩm với sản lượng 119.238 tấn Năm 1991 diện tích cho sản phẩm là 15.361
ha và sản lượng đạt 127.316 tấn [61]
Là nơi xuất xứ của các giống cam quít trên thế giới, vì vậy trên khắp đất nước ta, từ vùng đồng bằng đến vùng Trung du, Miền núi, tỉnh nào cũng có thể trông được cam quít Tuy nhiên, do ưu thế của từng địa phương về điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai khác nhau mà cam quít được trồng tập trung nhiều hay
ít Có thể đễ nhận thấy có 3 vùng cam quit lớn ở nước ta là: vùng Trung du, Miền núi các tỉnh phía Bắc, vùng Khu IV cũ và vùng Đồng bằng sông Cửu long
1-Vùng Đồng bằng sông Cửu long: gồm các tỉnh Tiền giang, Bến tre, Đồng tháp, Vĩnh long, Trà vinh, Cần thơ, Sóc trăng và An giang có giới hạn địa
lý từ 9°15' đến 10°30’ vi do Bắc và 105° đến 106°45' độ kinh đông Day là
vùng tận cùng phía nam đất nước thuộc châu thổ sông Cửu long, địa hình rất bằng phẳng, bằng hoặc cao hơn mực nước biển 3 - 5 m Khác hẳn với hai vùng trồng cam lớn ở phía Bắc là các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí v.v được phân bố theo 2 mùa trong năm khá rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau, và sự
phân bố này tương đối ổn định qua các năm
Về chế độ Nhiệt: vùng Đồng bằng sông Cửu long có chế độ nhiệt cao và rất ôn hòa Nhiệt độ trung bình năm 24,5 - 29,8°C, sai biệt tối đa của nhiệt độ trung bình các tháng từ 2,6 - 4°C Tháng nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ trung bình: 24 - 25°C, nhiệt độ tối thấp trung bình là 21 -
Trang 1822°C Thời kỳ nóng nhất là các tháng 3,4,5, trong đó tháng 4 là tháng cực đại của nhiệt độ, nhiệt độ trung bình: 28 - 29°C, nhiệt độ tối cao trung bình 34 - 35°C, nhiệt độ tuyệt đối cao không quá 38-39°C Bức xạ nhiệt lớn và ổn định Tổng lượng bức xạ bình quân năm từ 148kCal/cm? đến 162kCal/cm’ [3]
Về chế độ mưa và ẩm: Lượng mưa trung bình hàng năm ở vùng Đồng bằng sông Cửu long thấp hơn so với 2 vùng ở phía bắc dao động từ 1.300 - 1.600mm (Bến tre: 1.460mm, Can tho: 1.520mm,Vinh long: 1.340mm) 90% tập trung vào mùa mưa, chỉ có 10% ở các tháng mùa khô, trong mùa mưa chỉ
có tháng 11 là có lượng mưa ổn định nhất, còn các tháng khác đặc biệt là tháng
7 và 8 số ngày mưa cũng như lượng mưa rất biến động: mùa khô có 2 tháng I1
và 2 là mưa ít nhất, mỗi tháng chỉ có 2 - 3 ngày mưa, lượng mưa dưới 20mm ngay ở những khu vực nhiều mưa Do vậy ở Đồng bằng sông Cửu long thường
có 2 đợt hạn đáng kể: đợt hạn tháng 5, tháng 6 gọi là hạn đầu vụ, và tháng 7, tháng 8 gọi là hạn bà Chằng Độ ẩm không khí trung bình 83 - 85%, tháng khô hạn nhất (tháng 2,3) độ ẩm không khí còn 75% [3]
Ở Đồng bằng sông Cửu long rất ít bão Trong thời kỳ 55 năm quan sát chỉ có § cơn bão đổ bộ trực tiếp vào bờ biển Nam bộ, phần lớn chỉ bị ảnh hưởng bão từ những nơi khác[3]
Nói chung, trừ hạn, khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu long có những ưu thế đáng kể so với các vùng khác trong nước, đặc biệt là chế độ nhiệt cao và ôn hòa trong suốt năm, tần suất thiên tai ở đây cũng thấp so với các vùng khác trong nước Chính vì những ưu thế trên, vùng Đồng bằng sông Cửu long có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, trong đó sản xuất quả có múi (cam quít) là một trong những nghề được phát triển sớm nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất so với cả nước hiện nay Theo Tổng cục thống
kê đến năm 1990 diện tích cam quít ở vùng Đồng bằng sông Cửu long là 7.470 ˆ
Trang 19
-17-ha bằng 52% diện tích cam quít cả nước, và sản lượng đạt 79.025 tấn chiếm 66% [3]
Lịch sử trồng cam quít ở Đồng bằng sông Cửu long có từ lâu đời, được hình thành ngay từ những ngày đầu khai phá vùng đất Nam bộ (cuối thế kỷ XV dau thé ky XVI) dudi triều đại nhà Nguyễn Theo các tác giả Đại Nam thống nhất chí, ở tỉnh Gia định đã có trồng các thứ cây ăn quả như xoài, chuối, cau, đừa, thạch lựu, mơ, đào, cam, quít, bưởi, chanh, phật long, long nhãn, mít, khế,
na, chôm chém v.v [33] Do có quá trình lịch sử lâu đời nên người dân ở vùng Đồng bằng sông Cửu long rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả này Chủ yếu cam quít được trồng ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm Ven cdc song Tiền, sông Hậu nông dân thường lên liếp trong cam quit để tránh mực nước ngầm cao vào những tháng lũ (tháng 9 - 10), hay hiện nay người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ thuật “ép trái” để tránh thu hoạch vào thời kỳ mưa nhiều trái ít ngọt, giá bán rẻ bằng cách ngưng tưới nước vào tháng 2, tháng
3 Qua tháng 5 họ mới xới xáo, bón phân tưới nước để có trái chín tập trung bán vào dịp Tết đương lịch và Tết nguyên đán (thường cam quít ở Đồng bằng sông Cửu long chín vào tháng 9 đến tháng 12) Trước đây đa số nông dân nhân giống cam quít bằng cách chiết cành, một số ít nhân giống bằng hạt, song hiện nay họ đã biết áp dụng các kỹ thuật nhân giống tốt hơn bằng cách ghép Đặc biệt trong kỹ thuật chăm sóc, người ta đã biệt điều khiển tầng, tán, chiều rộng, chiều cao của cây để sử dụng được tối đa năng lượng mặt trời, dinh dưỡng khoáng, nước, không khí trong đất, hình thành một sự cân bằng khá hoàn chỉnh trong môi trường sinh thái vùng đồng bằng [3]
Các tỉnh trồng nhiều cam quít nhất ở Đồng bằng sông Cửu long là: Tiền giang, Bến tre, Cần thơ chiếm tới 88% diện tích và sản lượng của toàn vùng Ở
Trang 20đây cũng có tập đoàn giống loài cam quít rất phong phú như: cam Chanh, cam Sành, bưởi, chanh Giấy, chanh Laim, quít, quất v.v Theo Granfurd, cam ở Nam bộ trái lớn, hương vị tuyệt hảo vượt xa loại cam mang từ Trung hoa vào cùng mùa Các giống được ưa chuộng và trồng nhiều hiện nay là: cam Sành, cam Mật, quít Tiều (hay quít Hồng), quít Xiêm, quít Đường, bưởi Đường, bưởi Năm roi, bưởi Long tuyền, chanh Giấy v.v Năng suất của các giống trên, ở điều kiện đất đai, khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu long tương đối cao Theo Trần Thế Châu năng suất bình quân của các tính đối với cam đạt 105 tạ/ha, chanh 88 tạ, quít 87 tạ, bưởi 74 tạ ở các huyện trọng điểm cam dat 237ta/ha, chanh 128 ta, quit 242ta, budi 177 ta [3]
Cam quít được phát triển nhiều và mạnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu long, ngoài yếu tố khí hậu, đất đai thuận lợi còn do cam quít là loài cây có giá trị và hiệu quả kinh tế rất cao so với các loại cây trồng khác Sơn Nam trong cuốn sách “Đồng bằng sông Cửu long hay văn minh miệt vườn” viết:” Một mẫu vườn dừa bằng 5 mẫu ruộng, 1 mẫu vườn cam quít chăm sóc kỹ lưỡng huê lợi bằng 10 mẫu vườn dừa”{36] Số liệu điều tra của Trường Đại học Cần thơ - 12/1992 cũng cho thấy quít là cây cho hiệu quả kinh tế cao nhất, lãi thuần trên 1ha đạt 82.4 triệu đồng sau quít là cam, đạt 54,6 triệu/ha; chanh 43,7 triệu/ha
và bưởi 21 triệu/ha [3]
Nhìn tổng quan vùng Đồng bằng sông Cửu long có nhiều ưu thế về điều kiện khí hậu nhất là chế độ nhiệt ổn định, ôn hòa, khả năng mở rộng diện tích trồng cam quít còn lớn (trên 200.000 ha - Theo Nguyên Ngọc Chân và cộng tác - viên), có tập đoàn giống phong phú, đa dạng, nhiều giống hiện tại được coi là những giống tốt, cho năng suất cao, hiệu quả kinh tế lớn Song, so sánh với các vùng trồng cam quít khác ở trong nước, các điều kiện về khí hậu, đất đai cũng như về giống để đáp ứng với yêu cầu sản xuất cam quít hàng hóa đạt chất lượng
Trang 21tốt, trong cơ chế thị trường hiện nay thì vùng Đồng bằng sông Cửu long còn có
những hạn chế nhất định, đó là:
Chế độ nhiệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu long cao, ôn hòa trong suốt cả năm rất thuận lợi cho sinh trưởng của cam quít, song do không có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt ngày đêm những tháng quả chín ngắn, nên khả năng hình thành các sắc tố Anthoxyan ở vỏ cam quít kém, mã quả xấu khi chín vỏ quả vẫn xanh, cần phải có công nghệ Degreening sau thu hoạch thì quả mới có mã đẹp Cũng do nhiệt độ cao, nên quả thường nhiều hạt (15-20hạt/quả), tỷ lệ xơ
bã cao, vách múi đai [3]
Đất phi sa là loại đất tốt thích hợp với cam quít, song ven các sông Tiền, sông Hậu hoặc các cù lao mạch nước ngầm cao, gây cản trở tới sự ăn sâu của bộ rễ cam quít và ảnh hưởng tới tuổi thọ của chúng Theo kết quả điều tra của Trường Đại học Cần thơ tháng 12 năm 1992 thì chu kỳ kinh tế của bưởi đạt
25 năm, nhưng của quít chỉ có 14.9 năm cam 9 năm và chanh 1,6 năm [3]
Sâu bệnh sẽ phát triển rất nhanh, đặc biệt là ở vùng khí hậu nóng như vùng Đồng bằng sông Cửu long Do vậy chỉ phí cho công tác bảo vệ thực vật, phòng trừ sâu bệnh rất tốn kém Chỉ từ năm 1994 trở lại đây, riêng bệnh vàng lá
đã gây thiệt hại nghiêm trọng đối với sản xuất cam quít của vùng Theo thông báo của Sở nông nghiệp Cần thơ, đến tháng 3-1994 đã có 3.000 trong số 10.000
ha vườn cam quít bị bệnh vàng lá, thiệt hại ước tính tới ngàn tỷ đồng ở huyện Châu thành Ơ huyện Tam bình (Vĩnh long) cũng có tới 780 ha trong số 2600
ha cam quít bị sâu bệnh, có thể bị thiệt hại hàng chục tỷ đồng [76]
2; Vàng khu IV cũ: Khu IV cũ gồm các tỉnh Thanh hóa, Nghệ an, Hà tinh trai dai tir vi d6 18 đến vĩ độ 20°30° bắc Diện tích cam quit của vùng năm
1985 có khoảng 3.357 ha, nhưng đến năm 1990 chỉ còn lại 2.597 ha Ở Hà tĩnh
Trang 22cam quit trong rải rác ở trong các hộ gia đình thuộc huyện miền núi Hương sơn
và Hương khê với diện tích khoảng 200 ha, chủ yếu là giống cam Bù, chín rất muộn khoảng tháng 2, tháng 3 dương lịch Ở Thanh hóa, tổng số diện tích có khoảng 852 ha, tập trung chủ yếu ở các nông trường Thống nhất, Vân du, Thạch quảng, Hà trung và Sông Gâm ì Nông trường Phúc do, Lam sơn trước đây cũng có trồng cam, nhưng về sau lại phá bỏ trồng cấy khác Nói chung ở Thanh hóa trừ Nông trường Thạch quảng, còn lại các nông trường khác diện tích cam
bị già cỗi đần đần cũng sẽ bị thay thế bằng các cây trồng khác[30]
Trọng điểm trồng cam quít ở khu IV cũ là vùng Phủ quỳ - Nghệ an, gồm một cụm các nông trường chuyên trồng cam, với diện tích năm 1985 khoảng 1.350 ha, năm 1990 là 1.600 ha [60] Đây là vùng trồng cam tập trung có ưu thế về tiềm năng đất đai, đặc biệt là kinh nghiệm sản xuất vì có đội ngũ đông, đảo cán bộ công nhân được đào tạo chuyên nghiên cứu và sản xuất quả có múi
Vùng Phủ quỳ nằm ở phía tây-bắc tỉnh Nghệ an, từ vĩ d6 19°09 đến 19°30°vĩ độ bắc và 105°24°độ kinh đông, thuộc địa phận huyện Nghĩa đàn và 1 phần huyện Quỳ hợp Diện tích tự nhiên là 730.000 ha, trong đó có gần 300.000 ha đất đỏ bazan (hơn 40%), ngoài ra còn có các loại đất khác như đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến (gần 30%), đất đá vôi, đất phù sa không được bồi hàng năm, đất bồi tụ ven sông suối, có lý tính nhẹ, hàm lượng các
chất dinh dưỡng và khả năng giữ độ ẩm kém hơn đất bazan, song cũng là những loại đất trồng cam quít rất tốt Phủ quỳ nằm ở độ cao 70 -80 m so với mặt biển, khác với vùng Đồng bằng sông Cửu long, đây là vùng đồi núi, nhưng phần lớn diện tích đất có độ dốc từ 3 - 6° rất thuận lợi cho trồng cam quít và các cây trồng lâu năm khác.[21]
Về điều kiện khí hậu, vùng Phủ quỳ hoàn toàn khác với vùng Đồng bằng sông Cửu long Do chịu ảnh hưởng của 2 loại gió mùa: đông- bắc (gió lạnh) và
Trang 23tây-nam (gió nóng), nên khí hậu vùng Phủ quỳ phân thành 4 mùa rõ rệt: xuân sha, thu, đông Mùa đông gió mùa đông bắc bị chặn lại ở các dãy núi phía tây
và nam, tạo ra kiểu lòng chảo, trong điều kiện đồi núi phức tạp dễ xảy ra hiện tượng bức xạ nhiệt, tiền đề quan trọng của việc hình thành sương muối trong các tháng mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa đông vùng Phủ quỳ từ 15 - 172C Nhiệt độ tuyệt đối thấp trong tháng lạnh nhất (tháng 1) xuống tới 2”C Tuy nhiên tần xuất thấp khoảng 10 năm mới xuất hiện 1 lần Thực tế xảy ra từ 2 - 5°C Số ngày có nhiệt độ thấp dưới 10°C ở Phủ quỳ thường
có tới 10 ngày Đây là một hạn chế lớn đối với sinh trưởng của cam quít Ngược lại về mùa hè do ảnh hưởng của gió mùa tây-nam nên khí hậu rất khô và nóng Nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa nóng từ 27 - 30°C, nhiệt độ tối cao trung bình là 33°C - 33,6°C Tuyệt đối cao trong tháng nóng nhất (tháng 7) lên tới 42°C Lượng mưa ở vùng Phủ quỳ xấp xi 1.600mm/năm, nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào mùa nóng, gây hiện tượng xói mòn đất, trong khi đó các tháng mùa đông lại ít mưa, lượng bốc hơi lớn, gây hiện tượng hanh khô, thiếu nước Bình quân 1 năm vùng Phủ quỳ có đến 180 - 220 ngày hạn (chỉ số khô hạn K > 0,8) [21]
Do những hạn chế về mặt khí hậu, thời tiết, cho nên mặc dù có những ưu thế to lớn về mặt đất đai và trình độ khoa học kỹ thuật, song sản xuất cam quít
ở vùng Phủ quỳ vẫn thường không ổn định Năm 1965 các nông trường trồng cam mới thành lập, diện tích còn ít ( 100ha) cam mới bứơc vào kinh doanh năm tứ nhất, năng suất đạt 54,5 tạ/ha Sau 10 năm (1975), năng suất tăng lên đạt 83,03 tạ/ha Năm 1976 là năm cam có năng suất cao nhất đạt 126,3ta/ha Những năm về sau năng suất giảm dần, năm 1984 năng suất chỉ còn 64,5 tạ/ha
và năm 1990: 47,8 tạ/ha [30)
Trang 24Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng vùng Phủ quỳ vẫn là vùng có tiềm năng to lớn về sản xuất cam quít Những điển hình đạt năng suất cao ở các nông trường vùng Phủ quỳ những năm qua cũng không phải ít, ví dụ như cam ở đội 3 - Nông trường Cò Đỏ trồng trên đất bazan năm thứ 9 đạt từ 45 tấn/ha, năm 1981 có vườn đạt từ 55 tấn/ha Trên đất đá vôi của Nông trường Sông Con năm thứ 10 đạt bình quân 48,3 tấn/ha (đội Tân xuân), có vườn cam đạt 60tấn/ha (đội Đức thịnh) [15] Hơn nữa phát triển cam quít ở vùng Phủ quỳ mặc dù năng suất những năm vừa qua bị giảm, song vẫn là cây trồng cho hiệu quả kinh
tế lớn nhất Theo báo cáo tổng kết 10 năm của các nông trường vùng Phủ quỳ ye J thì trị giá sản lượng bình quân lha cam nhiều gấp 2 lần lha cà phê, chè, gấp:
3-Vùng miền núi phía bắc: Gồm các tỉnh nằm trong dải vĩ độ từ 22 - 23°
vĩ độ bắc, như Tuyên quang, Yên bái, Lào cai, Hà giang, Cao bằng, Lạng sơn, Bắc thái Điều kiện khí hậu, đất đai hoàn toàn khác với 2 vùng kể trên
Về khí hậu: Do vị trí địa lý của các tỉnh kể trên nằm sát vành đai á nhiệt
đới, lại có địa hình đồi núi và độ cao so với mặt biển tương đối cao (từ 100m
trở lên), cho nên điều kiện khí hậu, đặc biệt là chế độ nhiệt hàng năm mang sắc 'thái của khí hậu nam á nhiệt đới, có mùa đông lạnh và mùa hè tương đối nóng
Trang 25Nhiệt độ trung bình năm nằm trong khoảng 21 - 22°C, nhiệt độ trung bình
tháng lạnh nhất (tháng 1) từ 14 - 15°C Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) từ 27 - 28°C Tuy nhiên do ảnh hưởng của điều kiện địa hình ở mỗi tỉnh và mỗi địa phương trong tỉnh khác nhau cũng là gây nên sự biến đổi phức tạp về điều kiện khí hậu Ở các vùng núi cao, hoặc các vùng phía đông-bắc nhiệt độ tuyệt đối thấp trong các tháng mùa đông có thể xuống tới 0°C và ở các thung lũng bị che chắn bởi các dãy núi cao, nhiệt độ tuyệt đối cao trong các tháng mùa hè có thể lên tới 41°C Day là một trong những khó khăn đối với việc bố trí cơ cấu giống cáy trồng ở các vùng miền núi phía bắc [26]
Lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía bắc từ 1.600 - 1.800mm Riêng trung tâm Bắc quang - Hà giang và trung tâm Hoàng Liên Sơn tỉnh Lào cai, lượng mưa trung bình năm rất lớn từ 2.500 - 3.200mm Tuy nhiên, sự phân
bố của mưa không đều, giống như vùng Phủ quỳ, phần lớn lượng mưa tập trung vào các tháng mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng khác lượng mưa không đáng kể Đặc biệt, ở vùng núi phía bắc (trừ vùng Đông Bắc) ít bão và chỉ bị ảnh hưởng của bão [ 26 ]
Về đất đai: rất đa dạng, gồm các loại đất feralit phát triển trên đá biến chất như: đá gơnai, đá vôi, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đất phù sa cổ, phù sa không được bồi ven các sông suối, đất đốc tụ do quá trình rửa trôi xói mồn tạo nên v.v
Trang 26doanh nước ta trước đây viết: “ Việt nam so với các nứơc nhiệt đới khác có ưu thế phát triển cam quít Việt nam ở miền nhiệt đới bắc từ vĩ tuyến 22 đến vĩ tuyến 23, theo điều kiện khí hậu của Việt nam, đặc biệt là về mặt chế độ nhiệt hàng năm thì gần với vành đai ắ nhiệt đới Trong miền này có các tỉnh Lai châu, Yên bái, Tuyên quang, Bắc cạn, Lạng sơn Ở những tỉnh trên có ngưồn đất đai chưa khai thác lớn, thích hợp đầy đủ cho việc phát trién cam quit Việc nghiên cứu những tỉnh lớn phía bắc như Hà giang, Lao cai, Lai châu đã ching minh ring cam quit phat triển rất tốt ở đây và cho năng suất cao và phẩm chất quả tốt ” [149 ]
Trên thực tế, cam quít đã là một cây trồng phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bác Chúng thường được trông ở những vùng đất ven các sông, suối, như sông Hồng, sông Lô, sông Gâm, sông Thương, sông Chảy v.v Có khi được trồng thành từng vùng tập trung 300, 500 hoặc trên 1.000 ha như ở Bắc sơn - Lạng sơn, Hàm yên, Chiêm hóa - Tuyên quang, Bắc quang, Vị xuyên - Hà giang v.v Ở những vùng trên cam quít đã trở thành nguồn thu nhập chủ yếu của các hộ nông dân, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với bất cứ loại cây nào khác trên cùng loại đất Đặc biệt, ở vùng núi phía bắc là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quít phong phú và đa dạng, đặc biệt là các giống cam quít Kết quả điều tra giống cam quít ở tỉnh Lạng sơn từ năm 1988 đến năm 1989 của Hoàng Ngọc Thuận [55] và kết quả điều tra giống cam quít ở vùng Bắc quang -
Hà giang từ năm 1989 đến năm 1992 của Đỗ Đình Ca [1] cho thấy, chỉ mới ở 2 vùng trên, tập đoàn giống cam quít đã có tới 33 giống, thuộc 5 loài khác nhau (theo khóa phân loại 16 loài của Reece - 1967)[125], trong đó có nhiều giống quý như quít Chum, quít Sen (quýt Chun), quít Đường, quít Đỏ, quít Vàng Bắc sơn, quít Vàng Bắc quang Những giống này cho năng suất rất cao trong điều kiện sinh thái địa phương, có những cây ở lứa tuổi 15 - 20 năm đạt từ 350 - 500
Trang 27kg quả/cây như giống quít Vàng ở Bắc sơn - Lạng sơn, phẩm chất quả tốt, thích hợp với phát triển làm hàng hóa Một trong những giống quít trên (quýt Vàng Bắc sơn) đã tham gia vào mặt hàng xuất khẩu cam quít sang Liên xô (cũ) những năm 1989 -1990
Có thể nói, vùng núi các tỉnh phía Bắc cũng là vùng có tiềm năng phát triển cam quít lớn, đặc biệt có ưu thế và điều kiện khí hậu, khả năng mở rộng điện tích và tập đoàn giống phong phú, đa dạng
Khí hậu ở vùng núi các tỉnh phía Bắc, ngoài thích hợp với sinh trưởng phát triển bình thường của cam quít, còn có ưu thế nổi bật so với vùng Đồng bằng sông Cửu long là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho quả cam quít dễ phát mã, thể hiện đúng đặc trưng của giống, vì vậy mã quả cam quít ở phía bắc bao giờ cũng đẹp hơn ở phía nam, quả ít hạt hơn, thịt mềm, mọng nước và ít xơ bã
Hạn chế cơ bản của việc phát triển cam quít ở vùng múi phía bắc là:
- Địa bàn phân tán, ít có vùng tập trung lớn như vùng Phủ quỳ - Nghệ an hoặc vùng Đồng bằng sông Cửu long Hiện nay mới chỉ có một số vùng tương đối tập trung trồng nhiều cam quít đó là vùng Bắc sơn - Lạng sơn , vùng Hàm yên, Chiêm hóa - Tuyên quang và vùng Bắc quang, VỊ xuyên - Hà giang
- Địa hình đốc, giao thông đi lại khó khăn, vì vậy nhiều vùng có đất trồng cam quít rất tốt, nhưng do hạn chế về giao thông, vận chuyển, nên lại không phát triển được
- Trình độ dân trí thấp vì vậy việc áp dụng khoa hoạc kỹ thuật hoặc các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất hạn chế, tính thích ứng với nền kinh tế sản xuất hàng hóa chậm Ngay ở những vùng trồng cam quít nhiều, lâu đời như ở Bắc quang - Hà giang hoặc Bắc sơn - Lạng sơn, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn rất ít, chủ yếu sản xuất theo lối kinh nghiệm, thường chỉ độc
Trang 28canh một giống, nên sản phẩm tập trung, gây ứ đọng, sâu bệnh phát triển cộng
với việc đầu tư chăm sóc kém dẫn đến sự thoái hóa giống, phẩm chất ngày
càng xuống cấp
Khắc phục những trở ngại trên, phát huy thế mạnh của các tỉnh miền núi phía bắc về điều kiện tự nhiên khí hậu để sản xuất hàng hóa quả có múi, chỉ có
thể làm từng bước và bắt đầu từ việc nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
mới, đặc biệt là những tiến bộ kỹ thuật về giống vào những vùng sản xuất có kinh nghiệm, trên cơ sở đó phát triển ra các vùng khác Mặt khác, việc tạo vùng sản xuất ở vùng núi chủ yếu là tạo sự liên kết sản xuất giữa các hộ gia đình trong vùng Vì vậy, việc tuyên truyền phổ cập những kiến thức cơ bản về
kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc cũng như kiến thức về kinh tế thị trường là cần thiết
Trang 29MOT SO VUNG TRONG
CAM CLYT CHINH:
Trang 30I2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CAM QUÍT VỚI VIỆC ĐÁNH GIÁ XÁC ĐỊNH
GIỐNG VÀ VÙNG SINH THÁI TRỒNG TRỌT
11.2.1 Những nghiên cứu trong nước
1- Công tác nghiên cứu cam quít ở Việt nam có từ những năm trước cách mạng, tháng 8, với những tác gia dau tiên là: G.Frontou, Bùi Huy Đáp, Nguyễn
văn Quyền Những nghiên cứu trong thời kỳ này chủ yếu tập trung vào công
tác điều tra, thu thập, phát hiện các giống quý, bước đầu nghiên cứu ảnh
hưởng của một số yếu tố khí hậu (nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa) đến sinh
trưởng, năng suất, phẩm chất quả của các giống cam quít trong nước và tập đoàn giống nhập nội Công việc nghiên cứu này được tập trung chủ yếu ở 2 trạm Tây lộc - Huế và Vân du - Thanh hóa [21]
Các giống đã được thu thập mô tả và bước đầu đánh giá một số đặc
tính sinh vật học và phẩm chất quả, gồm 34 giống cam, trong đó có 19 giống nhập nội từ Mỹ hoặc từ các nước vùng Địa Trung Hải, 15 giống trong nước, có những giống hiện nay vẫn được trồng phổ biến như cam Bố hạ, cam Xã đoài v.v 16 giống quít, trong đó 3 giống nhập nội là Satsuma, Bouffarik, Clementine, còn lại là giống trong nước, có những giống hiện nay
vẫn nổi tiếng là tốt như quít Hương cần - Huế, quít Hồng nhiêu, cam Đường v.v 5 giống chanh và 6 giống bưởi [139]
2- Nguyễn Mạnh Oánh trong cuốn “' Hiện trạng cây ăn quả ở các tỉnh Bến tre, Cần thơ, Sa đéc và Trà vinh" viết năm 1933 [140]đã mô tả tương đối kỹ tập đoàn cây có múi ở các tỉnh trên và giới thiệu kỹ thuật trồng cam quít theo
kiểu lên liếp và trồng xen với các cây ăn quả khác như măng cụt, sầuriêng,
cà phê trong điều kiện hay bị ngập lụt ở vùng Đồng bằng sông Cửu long
Trang 313- Tran Thế Tục, tromg kết quả nghiên cứu cơ cấu giống cam năm 1977 cho biết: Ngoài các giống đã được trồng trọt lâu đời ở nước ta, giống cam Navel
(đặc biệt là Washington Navel) có những ưu điểm nổi bật về phẩm chất,
tính chống chịu, thời gian chín quả sớm, nhưng năng suất thấp, có thể nghiên cứu chọn lọc hoặc làm vật liệu lai tạo với các giống địa phương
Các giống có nguồn sốc khu IV (Sông Con, Xã Đoài) có thể đưa về
trông ở phía bắc vẫn đảm bảo năng suất cao và có chất lượng tốt hơn do
tránh được mưa muộn cuối mùa Ngược lại, giống cam Sành Bố hạ, khi đưa
vào miền trung vẫn đảm bảo phẩm chất và khả năng sinh trưởng, phát triển
tốt hơn so với nơi nguyên thủy [67]
4- Hoang Ngọc Thuận.năm1985 qua điều tra trong sản xuất đã phát hiện giống
cam Khuyên (tên địa phương) có năng suất cao, chất lượng tốt, có thể chọn
lọc và phổ biến trong sản xuất đại trà [52]
1989, kết quả đã thu thập được 16 giống Theo tác giả có thể tạm xếp vào 5 nhóm: quít quả nhỏ, ngọt có múi thơm mạnh (quít Kinôkumi); cam Sành; quít vỏ vàng, trọng lượng trunh bình, thuộc nhóm Ponkan (Citrus reticulata); quít vỏ Đỏ (quít Unshiu): va quit Chua (quít rừng - Citrus sunki) Trong số các giống điều tra thu thập có 2 giống QDI-88 (Quảng đông thuộc nhóm 4)
va VP1-88 (Vang - thuộc nhóm 3), có thể nhân phổ biến rộng cho sản xuất
[55]
6- Trần Thế Châu, Nguyễn Văn Tiếp khảo sát tiềm năng sản xuất một số rau
quả ở các tỉnh phía nam năm 1993 cho biết các giống cam, quít được ưa chuộng và trồng nhiều ở vùng Đồng bằng sông Cửu long và Đông nam bộ
là: cam Sành, cam Mật, quít Tiều (còn gọi là quít Hồng), quít Xiêm, quít
Đường, bưởi Năm roi v.v [3]
Trang 327- Lâm Quang Phổ, Nguyễn Công Chử, Nguyễn Xuân Hải theo dõi, so sánh 36
giống cam nhập nội và trong nước năm 1980 kết luận các giống địa phương
Xã Đoài, Sông con, Vân du có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao ở
nhiều vùng trồng trọt [40]
§- Nguyễn Thị Chắt, Nguyền Đình Tuệ khảo nghiệm các giống cam nhập nội: Valencia orlinda, Valencia campbell va Hamlin tir nim 1982 đến năm 1985 ở3 vùng sinh thái Phú hộ - Vĩnh phú; Nông trường Sông Bôi - Hòa bình; và Phủ quỳ - Nghệ an kết luận giống chín muộn Valencia orlinda thích hợp với
điều kiện sinh thái khí hậu Việt nam, có thể bổ xung vào cơ cấu giống hiện
có kéo dài thời gian thu hoạch [4]
9- Lê Quang Hạnh, Lê Đình Sơn Lê Đình Định, khảo sát một số đặc tính sinh vật học của giống cam Bù - Hà nh năm 1990 cho biết cam Bù là một giống chín rất muộn ( tháng 2.3 dương lịch), muộn hơn cả giống cam Valencia nhập nội, thích hợp với nhiều loại đất nên thuận lợi cho việc mở rộng diện tích trồng cam ở các tỉnh trung du và miền núi Quả cam Bù có thể xuất
khẩu hoặc cho công nghệ xi rô qua [22]
10-Lâm Quang Phổ, năm1967 nghiên cứu quy luật ra cành, tình hình ra hoa
đậu quả và mâu thuẫn giữa sinh trưởng và phát dục của 2 giống cam Bố hạ
và Xã Đoài [39] nhận xét :
- Đối với cam quít cành vụ xuân chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng lượng cành
cả năm và có xu hướng tăng dần theo tuổi cam Ngưồn gốc của cành xuân
phức tạp, song về tỷ lệ thì cành xuân phát sinh nhiều nhất trên cành hè và
thu năm trước Cành hè phát sinh ngay trên cành xuân cùng năm Khi cây
mang quả (tuổi càng lớn) cành hè giảm Nếu cành hè giảm thì cành thu phát sinh trên cành xuân là chính Cành vụ đông không đáng kể nhất là khi
cây lớn tuổi
Trang 33- Thời kỳ ra từng đợt cành có liên quan chặt chẽ đến điều kiện nhiệt độ, ẩm
độ của địa phương Các đợt cành thưa dần khi tuổi cam càng lớn, và khi đi
vào sản xuất ổn định cây cam chỉ còn hai đợt cành chủ yếu là xuân và thu Cành thu so với tổng cành chiếm 14.4 - 15% những cành quả chủ yếu phát
sinh trên cành thu, chiếm tới 85%
- Có sự mâu thuẫn nhất định giữa nuôi cành và nuôi quả Mâu thuẫn này nảy sinh từ vụ xuân Thực hiện các biện pháp kỹ thuật là để lập lại cân đối giữa cành và quả, trong vụ hè nhằm bảo vệ quả là chính và trong vụ thu nuôi lộc
để có cành dự trữ năm sau
11-Nguyễn Xuân Hải, năm1980 nghiên cứu tổ hợp gốc ghép cho cam có nhận
xét các loại bưởi, cam Voi, Trấp đều có khả năng làm gốc ghép tốt với ưu
thế sinh trưởng khỏe, nhưng lại bị sâu hại phá nặng, đặc biệt là sâu vẽ bùa
trong thời kỳ vườn ươm [21]
12-Phạm Thừa,năm 1977 cho rằng các giống cam Chanh ghép trên chanh ta (Citrus limonia, Osbeck) Có tốc độ sinh trưởng mạnh, phân cành tốt, mức
độ sâu bệnh sau khi ghép có chiều hướng giảm [21]
13-Hoàng Ngọc Thuận, Phạm Thị Hương và các cộng tác viên nghiên cứu một
số gốc ghép cam quít nhân bằng cành kết luận chanh Eureka, chanh Đào,
chanh Lime có thể nhân bằng phương pháp vô tính để làm gốc ghép cho
cam, quít Trong vụ hè thu chanh Eureka có tỷ lệ ra rễ cao, tỷ lệ sống sau ra
ngôi cao nhất, sức sinh trưởng của cây và bộ rễ, sức hợp ban đầu khi ghép
với các giống cam, quít, chanh rất tốt [57]
14-Trần Thế Tục nghiên cứu sự phát triển của bộ rễ cam trên một số loại đất ở
vùng Phủ quỳ - Nghệ an, nhận xét [70]:
- Trên ba loại đất trồng cam: đất bazan, đất phiến thạch, đất dốc tụ thì thấy
trên đất bazan rễ cam ăn xa và sâu nhất
Trang 34- Bộ rễ cam thuộc loại ăn nông và ưa thoáng Trên nhiều loại đất rễ tập trung
phân bổ ở lớp đất từ 0 - 40cm trên đất bazan rễ tập trung ở 0 - 60cm
- Cùng trồng trên một loại đầt và cùng có chế độ chăm sóc, các giống cam
khác nhau có sự có sự phân bố bộ rẻ khác nhau Giống cam có bộ tán khỏe, tương ứng có bộ rễ phát triển tốt, và ngược lại
15-Trần Văn Năm, Lâm Quang Phổ năm 1980 khảo sát mối quan hệ giữa đặc
tính vật lý đất với năng suất cam cho rằng độ chua trao đổi và độ dày tầng
đất có ảnh hưởng tương đối rõ Đất phù sa cổ là loại đất thích hợp với cây
cam [21]
16-Phạm Quang Lộc, năm1975 nhận xét trong điều kiện thâm canh trung bình,
vườn cam có độ dày tầng đất trên 100 cm có thể cho sản lượng ổn định 10 -
12 vụ, đất dày 40 -50 cm chỉ cho thu hoạch 6 - 7 vụ, sớm có hiện tượng già
cỗi tàn lụi [33]
17-Đoàn Triệu Nhạn, Nguyễn Trí Chiêm, năm1975 nghiên cứu diễn biến một
số đặc tính lý hóa ở đất bazan trồng cam có nhận xét sau một thời gian trồng
trọt, hàm lượng dinh dưỡng trước hết là mùn bị giảm sút nhanh chóng [21] 18-Lê Đình Sơn,năm1980 đề cập đến hai quá trình đồng thời xảy ra trong đất trồng cam vùng Phủ quỳ khẳng định chiều hướng thoái hóa mạnh mẽ hơn
xu thế thuộc hóa, dẫn đến tình trạng đất bị nghèo kiệt ảnh hưởng tới tuổi thọ
của cây [44]
19-Phan Quốc Sủng, Phan Bá.năm1974.nghiên cứu hiện tượng cam xốp ở các
nông trường vùng Phủ quỳ cho rằng hiện tượng này có nguyên nhân phức tạp, do tác động của sâu hại, tình trạng sinh lý của cây, tình hình sinh dưỡng
trong đất, giống cây và gốc ghép, các yếu tố lân,vôi.v.v Biện pháp
ngănngừa hiện tượng cam xốp có hiệu quả là bón phân đầy đủ và cân đối,
Trang 35chú trọng đến lân và vôi tăng hàm lượng mùn để tăng khả năng hấp
thụ [21]
20-Nguyễn Tử Siêm, năm1980 nghiên cứu tính chất của đất đồi cho biết trên
đất đồi lân là yếu tố hạn chế hàng đầu đối với tất cả các loại cây trồng, ngay
cả cây bộ Đậu [42]
21-Lê Đình Định,năm 1968 và năm 1975 nghiên cứu tình hình đinh dưỡng đất
trồng cam ở chu kỳ I của một số loại đất chính vùng Phủ quỳ - Nghệ an kết
năm
- Lân, đặc biệt là lân dẻ tiêu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh
giá độ phì của loại dat trong cây lâu năm trên đồi nói chung va dat trong
cam nói riêng [15 ]
22-Vũ Mạnh Hải, nghiên cứu tiềm năng trồng cam vùng Phủ quỳ kết luận :
- Năng suất không phụ thuộc vào chủng loại đất mà chỉ quan hệ đến một số
yếu tố đỉnh dưỡng trong đất, trong đó hàm lượng mùn và kali tổng số có quan hệ thuận, còn đạm tổng số và lân đễ tiêu quan hệ nghịch
- Điều kiện khí tượng vùng Phủ quỳ không thuận lợi cho sinh trưởng và phát
triển của cây cam, các yếu tố hạn chế là lượng bốc hơi các tháng 2, 3, 7 và
lượng mưa các tháng 4, 5, 6.[21]
Trang 36JL2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài
1-Tập thể cdc tac gid: A Haury, A Fouque, C Moreuil, P Soulez va J F
Lichou năm1978 khi nghiên cứu về năng suất và chất lượng của các giống
cam quít thấy rằng:
- Ở khí hậu nhiệt đới trong các yếu tố trong các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng quả cam, quít, Tansor Tangelo thì cường độ mưa trong hai tháng trước khi thu hoạch là yếu tố quan trọng nhất Thời gian này hơi khô hoặc hơi mưa, chất lượng cam cũng dược nâng cao, còn mưa nhiều quá thì hàm
lượng chất khô hòa tan và axit bị giảm dẫn đến chất lượng giảm
- Những xứ nằm ở Vĩ độ 0 -20” có khuynh hướng sản xuất bưởi Chùm và chanh Giấy ( Lime) có chất lượng tuyệt hảo
- Trong điều kiện nhiệt đới cây lai của quít có quả to, Tangor và Tangelo thường cho những quả tốt hơn cam
- Muốn cải lương chất lượng quả cam, quít phải tìm những giống chín vào thời kỳ sau thời kỳ khô từ 1 - 2 tháng Tuy nhiên cũng có thể điều khiển
thời kỳ nở hoa để quả chín vào thời kỳ thích hợp, hoặc lựa chọn những
giống cam quít dựa vào chênh lệch “nở hoa và chín quả” của chúng và dựa
vào hàm lượng chất khô hòa tan và độ chua [24]
2-P J Cassin dựa vào thời gian ra hoa va chin qua cla cam, quit đã phân vùng
cam, quít trên thế giới thành 3 vùng chính : A, B, và C [85]
- Vùng A có 3 tiểu vùng :
+ Vùng AI : Vùng ít nóng thuộc lân cận vĩ độ 40 bắc - nam
+ Vùng A2 : Vùng nóng vừa, nằm giữa vĩ độ 33-34° đến 38-39° bắc - nam
+ Vùng A3 : Vùng nóng từ vĩ độ 29 - 30° đến 32 - 34° bắc - nam
Trang 37Thời giân nở hoa rộ ở bắc bán cầu và nam bán cầu chênh lệch nhau 6 tháng
- Vùng B: Á nhiệt đới (Semitropical) tử vĩ độ 22-23° đến 28-29° bắc - nam
Mùa hạ nóng, mưa nhiều mùa đông khô và rét Thời gian ra hoa rộ ở bắc
bán cầu tháng 2,3; nam bán cầu 8.9 Khoảng cách hoa rộ đến quả chín 7 -
7,5 tháng
- Vùng C: Vùng cận nhiệt đới : Từ xích đạo đến vĩ độ 22 - 23 bic-nam Miia
hạ nóng mưa nhiều Mùa đông khô, số ngày khô trong tháng khác nhau theo vị trí địa lý Sự sai khác về nhiệt độ giữa mùa hạ và mùa đông thấp,
Trang 38khoảng 26 - 28°C Lượng mưa trung bình năm 1642,5mm tập trung từ tháng
4 đến tháng 9 Tháng 10 đến tháng 3 năm sau có mưa nhưng rất ít (34,6 - 97,9mm) Độ ẩm không khí trung bình năm 77%,các tháng 5, 6, 7, 8, cao hơn (80%) Kết hợp với nhiệt độ cao thuận lợi cho việc tăng kích thước quả
Từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11 nhiệt độ hơi xuống thấp, kết hợp với khô hanh có tác dụng tốt đến tĩch lũy chất dinh dưỡng trong quả và hình thành
các sắc tố Anthoxyan làm mã quả sáng đẹp [21]
4- Millernăm 1951 nghiên cứu điều kiện sinh thái khí hậu đối với cam quit cho rằng một vùng trồng cam quít tốt phải có nhiệt độ trung bình năm > 21°C, cao nhất không quá 40°C và thấp nhất không dưới 5°C [143]
5- C.Moreuilnăm1978 nhận xét các giống trồng ở điều kiện rất ẩm của Neufchetau thuộc GUADELCUƯP với lượng mưa hàng năm cao hơn
4.000mm cho biết :
- Các giống Osceola, dancy lên mã đẹp, thịt quá mềm nhiều nước vị ngọt Giống Tangelo mineola vị ngon nhưng vách múi khá dai Giống Orlando thịt quả mịn, mềm rất nhiều nước nhưng ít thơm Giống Clementin vị ngọt
nhưng mã quả xấu quít Kins thịt quả mềm nhiều nước, thơm nhưng nhiều
hạt, vỏ xanh
- Qua 38 lần đo đất khô hòa tan 53% trường hợp bằng hoặc hơn 9,5; đó là trị
số tương đối thỏa đáng đối với miền nhiệt đới ẩm [24]
6- Gandhi S.R,năm 1963, cho biết cam và quít có yêu cầu khí hậu khác nhau
nhiều Cam mọc tốt ở những vùng Á nhiệt đới, khí hậu khô, có mùa hè và
mùa đông phân biệt rõ rệt và mưa ít quít lại thích mùa hè nhiệt đới và ẩm hơn, mùa đông ấm hơn và mưa nhiều hơn [11]
7- Gandhi S.R, năm1963,nhận thấy cam quít mọc tốt ở nhiều loại đất, nhưng
tốt nhất là đất mịn trung bình hoặc nhẹ, có đất cát hơi nặng hơn, rất mẫn
Trang 39cảm với nồng độ muối và không thể chịu được trong điều kiện ngập nước
trong một thời gian nào đó Tang day của đất phải trên Im; quít có thể chịu
được độ chua cao hơn cam, pH có thể trên 4 và mọc tốt trong phạm vi 5 - 8, còn đối với cam trong phạm vi 6 - 8 [11]
§- Larua,năm 1973nhận xét trồng cam trên đất thuỷ thành, có cát trên bề mặt
thường có hiện tượng ngạt rẻ và triệu chứng tàn lụi mà nguyên nhân còn
chưa sáng tỏ Còn trên đất nặng lại xuất hiện triệu chứng giống như bệnh
đốm [21]
9- Webber,nam 1943,thấy rằng ở vùng nhiệt đới ( California) cam quít có 3 giai đoạn sinh trưởng chính trong năm, giai đoạn 1 vào đầu vụ xuân cuối tháng 2 đầu tháng 3, giai đoạn 2 Cuối tháng 6 đầu tháng 7, giai đoạn 3 vào
vụ thu từ 13/8 đến 26/8 [145]
Gonzales Sicilia quan sát ở các vùng Levante - Tây ban nha và ở Marôc cũng kết luận cam quít có 3 giai đoạn sinh trưởng chính trong năm: giai đoạn 1: cuối vụ đông đầu vụ xuân; giai đoạn 2 đầu mùa hè và cuối mùa thu; giai đoạn 3 có nhưng không hữu hiệu [146]
10-Mchedlidze,năm1967 lại thấy trons một năm, cam quít có 4 giai đoạn sinh trưởng và chiều dài các đợi lộc ở các giai đoạn khác nhau, giai đoạn 1 (xuân) từ 5 - 15cm; giai đoạn 2 (hè): 10 - 30cm; giai đoạn 3 (thu): 5 - 20cm;
giai đoạn 4 (đông): 5 - 17em [145]
Sự khác nhau giữa các đợt lộc cũng đã được quan sát bởi Chandler
(1967)[144], Gonzales Sicilia (1968)[147], Cooper va cong su (1963)[145],
Krishmanurti và cộng su (1960)[145],Mendel (1968)[121] va Surguladze
(1972)[145]
11-Erickson,năm 1955 thấy rằng đối với cam quít thường ra hoa tập trung nhưng tỷ lệ đậu quả tương đối thấp vì tất cả các hoa, nụ và quả nhỏ đều bị
Trang 40rụng trước khi quả tăng trưởng Những cây cam ở vị trí độc lập, tỷ lệ đậu
quả từ 2,33 - 5,33% ( giống Shamouti) Yếu tố ảnh hưởng đến rụng quả là nhiệt độ cao trên 37°C trong tháng 6 [91]
12-Chandler.năm 1967 cho rằng đối với cam quít tỷ lệ đậu quả đến lúc thu
hoạch chỉ đạt từ 3-7% ở những vùng có lượng mưa thấp, tỷ lệ rụng quả lớn
hơn đặc biệt đối với cam Navel [144]
13-Noort,năm1969 làm thí nghiệm tưới tiêu ở Nam phi nhận xét những vườn năng suất cao tỷ lệ đậu quả đạt 6,7%,vườn năng suất kém chỉ đạt được
0.13%.Thời kỳ rụng quả nhiều nhất vào thời gian 12 tuần sau khi ra hoa [145]
14-Ekimov.năm 1955 quan sát trên quit Satsuma 6 diéu kién A nhiệt đới (Liên
xô cũ) thấy có 3 thời kỳ rụng quả:
- Thời kỳ 1 : Trong thời gian ra hoa và sau khi kết thúc hoa
- Thời kỳ 2 : Vào tháng 6
- Thời kỳ 3 : Vào tháng 7
Thời kỳ tiếp tục về sau không đáng kể, chỉ chiếm 1 - 2%, và ông cho rằng sự rụng hoa quả là cần thiết và là hiện tượng sinh lý bình thường [145]
15-Gonzales Sicilia.năm 1968 cho rằng sự rụng quả xảy ra trong thời gian 1 - 2 ngày ngay sau khi hình thành quả và tăng đần đến tháng 6 [147]
1-3 NHŨNG KẾT LUẬN QUA PHÂN TÍCH TỔNG QUAN
1- Nếu xem cam quít là một ngành sản xuất hàng hóa phải đặt nó trong bối cảnh kinh tế, xã hội chung của vùng
2- Mỗi vùng đều có những đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kể
cả về loại giống cây trồng, vật nuôi, bởi vậy việc nghiên cứu phát triển