luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LƯƠNG ANH DŨNG
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN CỦA ðÀN BÒ BRAHMAN NUÔI TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT
TINH ðÔNG LẠNH MONCADA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRẠCH
TS LÊ VĂN THÔNG
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các tài liệu tham khảo trích dẫn trong Luận văn ñều có nguồn gốc xuất xứ thực tế
và ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Lương Anh Dũng
Trang 3Lãnh ñạo và tập thể các thầy cô trong Viện sau ñại học, Các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi - Nuôi trồng thuỷ sản; các thầy cô trong Bộ môn chăn nuôi Chuyên khoa - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã dạy dỗ, hướng dẫn và tạo mọi ñiều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Ban lãnh ñạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Trung tâm Giống gia súc lớn Trung ương, Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh ñông lạnh Moncada, Trạm Lưu giữ và cung ứng tinh giống gia súc ñã tạo mọi ñiều kiện thuận lợi, khích lệ và giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia ñình, bạn bè và ñồng nghiệp ñã tạo mọi ñiều kiện thuận lợi giúp ñỡ tôi về mọi mặt, ñộng viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Lương Anh Dũng
Trang 41.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài 2
2.3 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về khả năng sinh trưởng
3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
4.1 Khả năng sinh trưởng của bò Brahman sinh ra tại Moncada 37
Trang 54.1.4 Sinh trưởng tương ñối 49 4.1.5 Kích thước một số chiều ño và chỉ số cấu tạo thể hình 50
4.2.3 Thời gian phối giống có chửa sau khi ñẻ 59
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A Sinh trưởng tuyệt đối
a Hằng số tích hợp liên quan đến khối lượng sơ sinh
ME Mean error (sai số)
MAE Mean absolute error (sai số tuyệt đối)
MPE Mean prediction error (sai số dự đốn)
MAPE Mean absolute prediction error (sai số dự đốn tuyệt đối)
m Khối lượng bị trưởng thành dự đốn
R Sinh trưởng tương đối (%)
RAPE Relative abosolute prediction error (sai số dự đốn tương đối) R² R-Squared (hệ số xác định)
R²- Adj R-Squared Adj (hệ số xác định hiệu chỉnh)
SE Standard error (sai số tiêu chuẩn)
TLTT LPð Tỷ lệ thụ thai lần phối đầu (%)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
4.2 Các hàm sinh trưởng của bê cái và bê đực Brahman 39 4.3 Các tham số thống kê đánh giá độ tin cậy, độ chính xác và khả
năng dự đốn tiềm năng của các hàm sinh trưởng 41 4.4 Khối lượng tích luỹ ở các độ tuổi của bê Brahman (kg) 45 4.5 Sinh trưởng tuyệt đối của bê Brahman (g/ngày) 47 4.6 Sinh trưởng tương đối của bê Brahman (%) 49 4.7 Kích thước một số chiều đo chính của bê Brahman (cm) 50 4.8 Chỉ số cấu tạo thể hình của bê Brahman (%) 53 4.9 Tuổi phối lần đầu của bị cái Brahman tại Moncada 56 4.10 Tuổi đẻ lứa đầu của bị cái Brahman tại Moncada 58 4.11 Thời gian phối giống cĩ chửa sau khi đẻ 59 4.13 Khả năng thụ thai và tỷ lệ đẻ tồn đàn 62
Trang 8DANH MỤC HÌNH
2.2 Các liên hệ trong trục dưới ñồi-tuyến yên-buồng trứng 18 2.3 Những biến ñổi về nội tiết, sinh lý và hành vi liên quan ñến hiện
tượng ñộng dục ở bò cái (Jainudeen et al., 1993,) 19 2.4 Các sóng phát triển noãn bao trong một chu kỳ tính 21 4.1 ðường cong Gompertz biểu diễn sinh trưởng của bò cái Brahman 42 4.2 ðường cong Gompertz biểu diễn sinh trưởng của bò ñực Brahman 42 4.3 ðường cong Logistic biểu diễn sinh trưởng của bò cái Brahman 42 4.4 ðường cong Logistic biểu diễn sinh trưởng của bò ñực Brahman 42 4.5 ðường cong Brody biểu diễn sinh trưởng của bò cái Brahman 43 4.6 ðường cong Brody biểu diễn sinh trưởng của bò ñực Brahman 43 4.7 ðường cong Negative exponential biểu diễn sinh trưởng của bò
4.13 Kích thước một số chiều ño chính của bê Brahman 51
Trang 9
1 MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Sự phát triển về kinh tế - xã hội của một ñất nước sẽ thúc ñẩy các nhu cầu ngày càng cao của ñời sống xã hội, trong ñó có nhu cầu về thực phẩm như: thịt - trứng - sữa ðất nước ta ñang trên ñà phát triển, thực hiện Công nghiệp hoá, hiện ñại hoá, nên ñời sống nhân dân ngày một nâng cao Chính vì vậy trong thời gian tới nhiệm vụ của ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi bò thịt nói riêng càng phải ñẩy mạnh hơn nữa
Chăn nuôi bò ñã gắn với người nông dân nước ta từ bao ñời nay, ở khắp các vùng miền từ miền núi, vùng trung du ñến ñồng bằng Bò ñược nuôi
ñể cung cấp sức cày kéo, và cung cấp thịt cho nhu cầu của xã hội trong khi ñó thức ăn chính của bò là cỏ và các phụ phẩm nông nghiệp, không cạnh tranh lương thực của con người và các loài vật nuôi khác Ngày nay với sự ra ñời của các loại máy móc giúp thay thế dần việc sử dụng bò làm cày kéo Bò ñã dần ñược chuyển sang nuôi bán thâm canh và thâm canh ñể cung cấp sản phẩm thịt cho xã hội
Giống bò phổ biến ở nước ta hiện nay là bò vàng Việt Nam (bò ñịa phương) có tầm vóc nhỏ bé, khối lượng trưởng thành thấp: bò cái là 160-200kg và bò ñực là 250-300kg(Trần Trung Thông và CS., 2010)[20] ðể cải tạo bò ñịa phương, từ những năm 1970 nước ta bắt ñầu công cuộc cải tạo ñàn
bò bằng chương trình “Sind hoá”, ta ñã chủ ñộng nhập nhóm bò Zebu (còn ñược gọi là bò Cải tiến hay bò thịt Nhiệt ñới) gồm các giống Red Sindhi, Sahiwal và Brahman Những năm gần ñây, bò Brahman ñược dùng chủ yếu
ñể cải tạo bò vàng Việt Nam thông qua kỹ thuật thụ tinh nhân tạo
Bò Brahman có ngoại hình chắc khỏe, tầm vóc lớn hơn so với các
giống bò Zêbu khác; hệ cơ bắp phát triển, có u cao, yếm thõng, da mềm, thịt
Trang 10săn và tai to dài cụp xuống Tốc ựộ tăng trọng nhanh, chịu ựựng rất tốt ựiều kiện nhiệt ựới nóng ẩm, kháng bệnh tốt, chuyển hoá tốt thức ăn có hàm lượng
xơ cao; khối lượng trưởng thành con ựực 700 - 900 kg, con cái 450 - 650 kg, khối lượng bê sơ sinh 23 - 25kg, tỷ lệ thịt xẻ 52 - 58% (Lê Quang Nghiệp và CS., 2006)[16]
Hiện nay bò Brahman ựược nuôi rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, cung cấp một lượng lớn thực phẩm chất lượng cho xã hội Tuy nhiên, ở Việt Nam mới chỉ ựược nuôi chủ yếu tại các công ty chăn nuôi có vốn nhà nước và các viện nghiên cứu với mục ựắch nhân giống và nghiên cứu, chưa phát triển nhân rộng ra sản xuất để phát triển và nhân rộng giống bò Brahman thì việc nghiên cứu, ựánh giá khả năng thắch nghi của chúng thông qua ựánh giá sinh trưởng và sinh sản của bò Brahman sinh ra ở Việt Nam là việc rất cần thiết
Chắnh vì vậy chúng tôi thực hiện ựề tài nghiên cứu: ỘKhả năng sinh trưởng
và sinh sản của ựàn bò Brahman nuôi tại Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh ựông lạnh MoncadaỢ
1.2 Mục ựắch nghiên cứu
- đánh giá khả năng sinh trưởng và sinh sản của bò Brahman sinh ra tại Việt Nam ựược nuôi tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh ựông lạnh Moncada
- Góp phần phát triển nhân rộng giống bò Brahman ra sản xuất
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ựề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Việc nghiên cứu ựánh giá khả năng sinh trưởng và khả năng sinh sản của ựàn bò Brahman sinh ra tại Việt Nam giúp ựánh giá khả năng thắch nghi của chúng, ựồng thời tìm ra những biện pháp khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao khả năng sinh sản và sức sản xuất của bò Brahman tại Việt Nam
Trang 111.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu ñánh giá khả năng sinh trưởng và khả năng sinh sản của ñàn bò Brahman sinh ra tại Việt Nam là cơ sở ñể nhân rộng và phát triển giống bò thịt nhiệt ñới ở Việt Nam
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Theo Gatner (1922) (trích từ Nguyễn ðức Hưng và CS., 2008)[11] quá trình sinh trưởng trước hết là do kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích của tế bào tạo nên sự sống Như vậy sự sinh trưởng của sinh vật phải thông qua 3 quá trình:
- Phân chia tế bào bằng hình thức nguyên nhiễm ñể tăng số lượng tế bào
- Tăng thể tích của tế bào bằng quá trình sinh tổng hợp các chất trong tế bào, ñặc biệt là quá trình sinh tổng hợp protein xẩy ra tại riboxom
- Tăng thể tích giữa các tế bào bằng cách tăng cường tổng hợp các chất gian bào
Về mặt sinh học như trên ñã nói sự sinh trưởng ñược xem như là một
sự tổng hợp protein, cho nên người ta thường lấy khối lượng làm chỉ tiêu tăng trưởng Tăng trưởng thực sự là các tế bào mô cơ có tăng thêm khối lượng, số lượng và kích thước các chiều Sự tăng trưởng ñược bắt ñầu từ khi trứng ñược thụ tinh cho ñến khi cơ thể ñã trưởng thành, ñược chia làm hai giai ñoạn chính
là giai ñoạn trong bào thai và giai ñoạn ngoài thai Thông thường tế bào phân chia mạnh ở giai ñoạn phôi thai phát triển Tế bào tăng thể tích và các chất hình thành là cả một giai ñoạn từ phôi thai ñến khi cơ thể trưởng thành
Trang 13Theo Nguyễn đức Hưng và CS (2008)[11] sinh trưởng là kết quả của
sự tác ựộng tương hỗ của các hệ thống tổ chức và chức năng của cơ thể Sinh trưởng là tổng thể của các quá trình xẩy ra ựồng thời của việc tăng lên về mặt
số lượng, thể tắch bề mặt và kắch thước, khối lượng của từng phần cũng như toàn bộ cơ thể con vật
Sinh trưởng là tắnh trạng số lượng chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài Do có sự tương tác giữa kiểu gen và ngoại cảnh mà sinh trưởng mang tắnh quy luật, ựảm bảo cho cơ thể phát triển ựạt tỷ
lệ hài hoà và cân ựối Sinh trưởng và phát dục của bê thường tuân theo quy luật sinh trưởng phát dục không ựồng ựều theo giai ựoạn, tuổi và theo giới tắnh Sinh trưởng và phát dục không tách rời nhau mà ảnh hưởng lẫn nhau làm cho cơ thể con vật hoàn chỉnh, sinh trưởng có thể phát sinh từ phát dục và ngược lại sinh trưởng tạo ựiều kiện cho phát dục tiếp tục hoàn chỉnh (Trần đình Miên và CS., 1992)[14]
2.1.1.2 Quy luật sinh trưởng phát triển của gia súc
2.1.1.2.1 Quy luật theo giai ựoạn
Ở các giai ựoạn phát triển khác nhau của cơ thể gia súc, quá trình sinh trưởng cũng khác nhau Theo Nguyễn Hải Quân và CS (1995)[19] quá trình phát triển của cơ thể từ bào thai ựến cơ thể trưởng thành rồi già cỗi ựều tuân theo những quy luật tự nhiên của sinh vật Nhiều người ựã nghiên cứu tìm hiểu quy luật nhằm mục ựắnh tác ựộng vào từng giai ựoạn phát triển của cơ thể, tạo ựiều kiện tăng năng suất sản phẩm vật nuôi
Midendorpher (1867) (trắch từ Nguyễn Hải Quân và CS., 1995)[19] nghiên cứu tắnh giai ựoạn trong sinh truởng của gia súc Ông ựã chứng minh gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau ựó tăng trọng giảm dần theo từng tháng tuổi
Quá trình sinh trưởng phát triển của gia súc phải trải qua một số giai
Trang 14ñoạn, mỗi giai ñoạn ñòi hỏi ñiều kiện sống nhất ñịnh và có ñặc ñiểm riêng
a Giai ñoạn phát triển trong cơ thể mẹ
Giai ñoạn này ñược bắt ñầu từ lúc trứng ñược thụ tinh ñến khi con vật
ñẻ ra ngoài Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003)[22] quá trình phát triển của bào thai bò diễn ra trong khoảng 280 ngày và ñược chia ra các thời kỳ cơ bản như sau:
- Thời kỳ phôi (ngày 1-34), trong giai ñoạn này diễn ra các quá trình phức tạp biệt hoá các mô bào kèm theo việc hình thành các hệ thống và cơ quan chính Trong thời kỳ này phôi phát triển mạnh, khối lượng của nó tăng khoảng 600 lần
- Thời kỳ tiền thai (ngày 35-60), cơ quan nội tạng, các mô, tổ chức thần kinh, sụn, tuyến sữa, cơ quan sinh dục và ñặc trưng của giống bắt ñầu hình thành Như vậy kể cả thời kỳ phôi, sau 60 ngày toàn bộ các cơ quan ñã ñược hình thành và phát triển Hợp tử bình quân nặng 3 microgam, sau 60 ngày nặng 8-15g, tức là ñã tăng 3-5 triệu lần
- Thời kỳ bào thai (ngày 61-ñẻ), trong giai ñoạn này chủ yếu là quá
trình sinh trưởng Cường ñộ sinh trưởng so với giai ñoạn trước có giảm ñi nhiều, nhưng khối lượng tuyệt ñối tăng rất nhanh, nhất là từ tháng thứ 7 ñến khi ñẻ: 5 tháng 2-4 kg, 7 tháng 12-16 kg Khối lượng sơ sinh 25-40 kg Như vậy trong 2-2,5 tháng cuối khối lượng của thai tăng 13-24 kg, tức là bằng khoảng 2/3 ñến 3/4 khối lượng sơ sinh
b Giai ñoạn phát triển ngoài cơ thể mẹ
Bắt ñầu từ khi con vật ñược sinh ra cho ñến khi về già và chết, ñược chia làm 4 thời kỳ
- Thời kỳ bú sữa: Bắt ñầu từ khi con vật ñược sinh ra cho ñến khi thôi
bú sữa Ở những vật nuôi khác nhau thì thời gian này cũng khác nhau, nó phụ thuộc vào các yếu tố: di truyền, chăm sóc nuôi dưỡng và tập quán của người
Trang 15chăn nuôi (Nguyễn ðức Hưng và CS., 2008)[11]
Trong giai ñoạn này bê sinh trưởng rất nhanh Lúc ñầu cơ năng tiêu hoá chủ yếu là dạ múi khế Về sau cùng với sự tiếp nhận thức ăn thực vật tăng lên
dạ cỏ phát triển nhanh chóng Sữa là thức ăn chính của bê và ñược thay thế dần bằng các loại thức ăn thực vật ðến cuối thời kỳ này thức ăn thực vật chiếm chủ yếu trong khẩu phần (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)[22]
- Thời kỳ thành thục (thời kỳ phát triển sinh dục): Kể từ khi cai sữa cho ñến khi con vật có biểu hiện về tính dục Thời gian thành thục sinh dục phụ thuộc vào ñặc ñiểm của giống, khí hậu và ñiều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Trong thời kỳ này gia súc có tốc ñộ sinh trưởng nhanh Tuy các bộ phận sinh dục ñã hình thành từ thời kỳ bào thai, nhưng lúc ñó buồng trứng và dịch hoàn chưa hoạt ñộng, phải ñến thời kỳ này các bộ phận sinh dục mới bắt ñầu hoạt ñộng, lúc này có sự phân biệt về tính ñực cái, con cái có phản xạ kiếm con ñực, con ñực có ngoại hình thay ñổi: thân thể nở nang, tính tình hung hăng, con cái ôn hoà (Nguyễn Hải Quân và CS., 1995)[19]
- Thời kỳ trưởng thành: Từ khi con vật có biểu hiện tính dục cho ñến khi các cơ quan sinh dục và các chức năng sinh lý khác hoạt ñộng hoàn chỉnh, sinh trưởng phát dục hầu như ổn ñịnh, cơ thể ít tăng sinh Trong thời kỳ này con vật thành thục về thể vóc (Nguyễn ðức Hưng và CS., 2008)[11]
- Thời kỳ về già: Kể từ khi sức khỏe, sức sản xuất của con vật giảm dần, khả năng sinh sản giảm và dần mất hẳn Thời kỳ này trao ñổi chất kém,
dị hóa mạnh hơn ñồng hóa, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp Vì vậy, trong thực tiễn chăn nuôi cần xác ñịnh ñúng thời ñiểm giảm sút các chức năng của cơ thể
và có kế hoạch thay thế, loại thải vật nuôi (Nguyễn ðức Hưng và CS., 2008)[11]
2.1.1.2.2 Quy luật sinh trưởng và phát triển không ñồng ñều
ðiểm nổi bật nhất trong sự phát triển của cơ thể gia súc là sự sinh
Trang 16trưởng và phát dục không ñồng ñều ðặc ñiểm ñó thường thể hiện ở sự thay ñổi rõ rệt về tốc ñộ sinh trưởng và cường ñộ tăng trọng của cơ thể tuỳ theo tuổi Có bộ phận ở thời kỳ này thì phát triển nhanh ở thời kỳ khác lại phát triển chậm (Nguyễn Hải Quân và CS., 1995)[19]
- Không ñồng ñều về tăng khối lượng:
Lúc còn non, con vật tăng trọng chậm, sau ñó tăng trọng nhanh hơn, ñến thời kỳ trưởng thành tăng trọng chậm lại rồi dần dần ổn ñịnh, cuối cùng không tăng trọng, thậm chí giảm khối lượng do cơ thể không tăng sinh mà tế bào chết
ñi Ðồ thị tăng trọng có dạng hình parabol Hệ số sinh trưởng của thời kỳ bào thai bao giờ cũng cao hơn so với giai ñoạn ngoài thai Ở bò khối lượng giao tử 0,50 mg, khối lượng sơ sinh 35 kg và khối lượng lúc 60 tháng tuổi 500 kg Như vậy ở giai ñoạn bào thai sự phát triển tăng 70.000 lần còn ở giai ñoạn ngoài thai trong 60 tháng tăng 15 lần (Nguyễn ðức Hưng và CS., 2008)[11]
- Không ñồng ñều về hệ thống xương:
Bê mới sinh có dạng cao hơn dài, bò trưởng thành có dạng dài hơn cao Qua sự phát triển cá thể, nhìn chung khi ra khỏi cơ thể mẹ, con vật ban ñầu phát triển mạnh chiều dài, tiếp theo là chiều sâu, cuối cùng là chiều rộng Sự phát triển tuần tự theo chiều dài, sâu, rộng cũng tuân thủ theo một qui luật nhất ñịnh và ở từng giai ñoạn cũng có sự khác nhau Ở bò, trong giai ñoạn bào thai, phần ñầu phát triển nhanh, ra khỏi bụng mẹ phần lưng phát triển nhanh
và cuối cùng là phần mông Hiện tượng ñó gọi là sinh trưởng bậc thang hay theo sóng Người ta hình dung sóng sinh trưởng là từ ñầu ñi về phía sau và từ ñuôi ñi về phía trước Hai sóng ñó gặp nhau vùng hông (Nguyễn ðức Hưng
và CS., 2008)[11]
2.1.1.2.3 Quy luật tính chu kỳ
Sự phát triển trong cơ thể gia súc và của từng bộ phận trong cơ thể gia súc qua các thời kỳ có những ñặc ñiểm khác nhau Tính chất không ñồng ñều
Trang 17của nhịp ñộ phát triển rất phù hợp với sự hoạt ñộng hưng phấn và ức chế của
hệ thần kinh, với sự ñồng hoá và dị hoá có thời kỳ mạnh, có thời kỳ yếu của
cơ thể Và cũng từ tính chất không ñồng ñều của hệ thần kinh và quá trình trao ñổi chất mà sự sinh trưởng phát triển của gia súc chịu ảnh hưởng cũng ñi theo một nhịp ñộ lúc yếu lúc mạnh mang tính chu kỳ (Nguyễn Hải Quân và CS., 1995)[19]
2.1.1.4 Một số chỉ tiêu ñánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc
* Sinh trưởng tích luỹ
Sinh trưởng tích luỹ là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hoặc của từng bộ phận cơ thể tại các thời ñiểm khảo sát Biểu thị sinh trưởng của gia súc tại một thời ñiểm nào ñó, chính là kết quả sinh trưởng tích lũy tại thời ñiểm nghiên cứu
- Khối lượng gia súc ở các tháng tuổi chính là sinh trưởng tích luỹ ðồ thị sinh trưởng tích lũy về khối lượng theo lý thuyết có dạng hình chữ S Khi bắt ñầu nó tăng lên rất chậm, sau ñó tăng tốc ñộ nhanh rồi nằm ngang và dần dần giảm xuống Tuy nhiên ñường biểu diễn này thay ñổi theo loài, phẩm giống, theo ñiều kiện nuôi dưỡng, cho nên cần so sánh ñường biểu diễn thực
tế với ñường biểu diễn lý thuyết ñể biết khả năng sinh trưởng của vật nuôi (Nguyễn ðức Hưng và CS., 2008)[11]
- Sự tăng trưởng về kích thước các chiều cơ thể cũng là một trong những chỉ tiêu ñánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc Trong chăn nuôi bò người ta thường ñánh giá sự tăng kích thước cơ thể thông qua xác ñịnh một số chiều ño chính: cao vây (CV), vòng ngực (VN) và dài thân chéo (DTC) Các chiều ño này cũng là cơ sở ñể xác ñịnh các chỉ số cấu tạo thể hình như: Chỉ số dài thân, chỉ số tròn mình và chỉ số khối lượng
- ðể nghiên cứu sinh trưởng của sinh vật, nhiều nhà nghiên cứu ñã ñưa
ra các hàm hồi qui ñể mô hình hoá quá trình ñó như:
Trang 18Hàm Gompertz ñược Gompertz (1825)[35] ñưa ra mô hình có dạng:
Y = m- m*EXP(-b*x)
Nihat Tekel và CS (2009)[38] sử dụng các hàm sinh trưởng Gompertz, Logistic, Brody, Negative exponential và Bertalanffy mô hình hoá sinh trưởng của dê từ sơ sinh ñến 12 tháng tuổi ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy hàm Brody
và Bertalanffy là phù hợp nhất
Ở Việt Nam, Trần Quang Hân (1996)[9] mô hình hóa sinh trưởng của lợn Trắng Phú Khánh và lợn lai F1(Yorkshire x Trắng Phú Khánh) cho thấy hàm Gompertz phù hợp hơn hàm Schumacher; Nguyễn Thị Mai (2000)[13] mô hình hóa sinh trưởng của dê Bách Thảo và con lai pha máu với dê sữa cao sản ngoại; Trần Quang Hạnh và ðặng Vũ Bình (2009)[7] mô hình hóa sinh trưởng của bò cái Holstein Friesian (HF) và con lai F1, F2, F3 (HF x lai sind) nuôi tại Lâm ðồng; Phạm Thế Huệ (2010)[9] mô hình hóa sinh trưởng của bò lai sind,
F1 (Brahman × Lai Sind) và F1 (Charolais × Lai Sind) nuôi tại ðak Lăk Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu trên bò Brahman Vì vậy, việc mô hình hoá quá trình sinh trưởng của ñàn bò Brahman là cần thiết trong công tác giống
* Sinh trưởng tuyệt ñối (A)
Tăng trưởng bình quân trong 1 tháng, hoặc trong 1 ngày của gia súc
Trang 19chính là ñộ sinh trưởng tuyệt ñối, ñường cong biểu diễn có dạng hình chuông, tăng dần ñể ñạt giá trị cực ñại sau ñó giảm dần Cường ñộ sinh trưởng tương ñối với ñường cong sinh trưởng lý thuyết có dạng ñường tiệm cận Hyperbol,
hệ số sinh trưởng cũng là các chỉ tiêu giúp cho việc ñánh giá sinh trưởng và phát dục của gia súc Tỷ lệ giữa khối lượng sơ sinh và các giai ñoạn phát triển sau khi ñẻ là những chỉ tiêu quan trọng ñể chọn lọc, phải ñặt khối lượng sơ sinh vào chương trình chọn lọc vì chỉ tiêu này ảnh hưởng ñến cường ñộ sinh
trưởng và năng suất sau này (Dawson và CS., 1947)[34]
Như vậy sinh trưởng tuyệt ñối là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hoặc của từng bộ phận của cơ thể ñược tăng lên trong một ñơn
vị thời gian (tháng, tuần, ngày)
* Ðộ sinh trưởng tương ñối (R%)
ðộ sinh trưởng tương ñối là phần khối lượng, kích thước, thể tích của
cơ thể hoặc từng bộ phận cơ thể tại thời ñiểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời ñiểm sinh trưởng trước ðộ sinh trưởng tương ñối ñược tính bằng số phần trăm (%)
2.1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng ñến sinh trưởng và phát triển
a Yếu tố di truyền
Về mặt sinh học, sinh trưởng ñược xem như là quá trình tích lũy các chất mà quan trọng là protein Tốc ñộ và cách thức sinh tổng hợp protein chính là tốc ñộ và phương thức hoạt ñộng của các gen ñiều khiển sự sinh
trưởng của cơ thể (Williamson và Payner, 1978)[43]
Theo Nguyễn ðức Hưng và CS (2008)[11] trong những yếu tố ảnh hưởng ñến sự phát triển của cơ thể nói chung và các chiều nói riêng, phải kể ñến yếu tố di truyền Nhiều nhận xét trên các cá thể sinh ñôi ñã cho thấy rằng mức ñộ to lớn của cá thể và của các chiều phần lớn là do di truyền Wright chia các gen ảnh hưởng ñến mức ñộ to lớn của con vật thành ba loại:
Trang 20- Gen ảnh hưởng ñến sự phát triển nói chung, ñến các chiều, ñến tính năng sinh lý học của các chiều
- Gen ảnh hưởng theo nhóm, ví dụ nhóm này chỉ ảnh hưởng ñến xương
mà không ảnh hưởng ñến cơ
- Gen ảnh hưởng chỉ ñến một vài tính trạng
ðối với bò yếu tố di truyền quyết ñịnh ñến khối lượng sơ sinh, tốc ñộ tăng trọng (g/ngày), kích thước cơ thể, khối lượng trưởng thành, tỷ lệ thịt xẻ… Mỗi giống khác nhau do có vật chất di truyền khác nhau nên khả năng sinh trưởng cũng khác nhau
Lush và cộng sự phát hiện thấy có những hệ thống gen ñặc biệt ñối với xương và cơ và ñã xác ñịnh sự tương quan di truyền giữa các chiều cơ thể và khối lượng ở các lứa tuổi khác nhau Sự tương quan di truyền tăng tiến theo tuổi giữa các tính trạng của một nhóm (ví dụ giữa chiều dài và cao vây) nhưng lại giảm ñi giữa các tính trạng của các nhóm khác nhau (ví dụ giữa cao vây và vòng bụng) Ðáng chú ý là sự tương quan theo tuổi giảm ñi rất nhiều giữa các tính trạng của các nhóm khác nhau, ví dụ giữa cơ và xương Sự thay ñổi theo tuổi về tương quan kiểu hình và di truyền chứng tỏ rằng ban ñầu các gen ảnh hưởng ñến sự phát triển nói chung tác ñộng tương ñối mạnh trong lúc con vật càng lớn lên thì các nhóm gen, các gen ñặc biệt riêng rẽ lại có tác dụng nhiều hơn Tính di truyền về mặt sức sản xuất cao hay thấp, chuyên hóa hay kiêm dụng rõ ràng ảnh hưởng ñến sự sinh trưởng phát dục của cơ thể nhất
là ñối với những bộ phận của cơ thể trực tiếp ñến sức sản xuất ñó Ví dụ bò sữa cao sản có bầu vú to, tĩnh mạch vú phát triển; bò thịt có phần mông vai phát triển, tròn nẩy, rắn chắc (Nguyễn ðức Hưng và CS., 2008)[11]
b Yếu tố môi trường
Ðiều kiện thiên nhiên có thể ảnh hưởng trực tiếp ñến cơ thể vật nuôi và tất nhiên ñến sự phát triển các bộ phận trong cơ thể Yếu tố về dịch bệnh, ký
Trang 21sinh trùng sẽ làm cho quá trình phát triển chậm lại Khí hậu quá nĩng cĩ thể làm cho con vật chĩng mệt mỏi, tiêu phí năng lượng nhiều, nhất là khi làm việc hoặc sản xuất Lạnh quá cùng với độ ẩm cao cũng làm cho con vật dễ
ốm Trái lại độ ẩm vừa phải cĩ thể kích thích sự sinh trưởng Các điều kiện thiên nhiên khác như hạn hán, úng lụt, mưa bão đều cĩ ảnh hưởng gián tiếp đến sinh trưởng qua khí hậu, qua tập đồn cây dùng làm thức ăn cho gia súc Các chất đất trồng cây thức ăn cho gia súc cũng cĩ ảnh hưởng nhất định đến trao đổi chất của con vật (Nguyễn ðức Hưng và CS., 2008)[11]
Các yếu tố stress chủ yếu ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất và sức sản xuất gồm: thay đổi nhiệt độ chuồng nuơi, tiểu khí hậu xấu Khí hậu cĩ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc đặc biệt là ở giai đoạn cịn non Thực tế cho thấy ở vùng khí hậu ơn đới bê sinh trưởng, phát triển tốt hơn ở vùng nhiệt đới Stress nĩng, ẩm làm giảm nhiệt nội sinh, giảm thu nhận thức ăn cũng như địi hỏi tăng thải nhiệt và thay đổi hàm lượng hormon (Trần Quang Hạnh, 2010)[8]
c Yếu tố nuơi dưỡng
Việc nuơi dưỡng mà chủ yếu là thức ăn cĩ tác dụng rất lớn đến sự phát triển của vật nuơi Cho vật nuơi ăn khẩu phần tính theo giai đoạn, thực hiện chế độ vận động thích hợp, sử dụng chuồng trại sạch sẽ, đầy đủ ánh sáng sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển
Khẩu phần khơng hợp lý, chăm sĩc nuơi dưỡng kém, tiêm phịng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc đặc biệt là ở giai đoạn cịn non (Trần Quang Hạnh, 2010)[8]
Bị là gia súc thuộc lồi nhai lại, cĩ đặc điểm tiêu hố riêng biệt, cần rất nhiều thức ăn thơ xanh trong khẩu phần Bởi vì chỉ cĩ thức ăn thơ xanh mới tạo nên mơt trường dạ cỏ thích hợp cho hệ vi sinh vật hoạt động và phát triển Trong khẩu phần được bổ sung một lượng thức ăn tinh hợp lý sẽ giúp cho đàn
Trang 22bò có khả năng sinh trưởng tốt Sự mất cân ñối trong khẩu phần do thiếu thức
ăn thô xanh và sử dụng qúa nhiều thức ăn tinh dẫn tới những rối loạn trong sinh lý tiêu hoá, tạo ra quá nhiều axít dạ cỏ gây ngộ ñộc axít
2.1.2 ðặc ñiểm sinh sản của bò cái
2.1.2.1 Hoạt ñộng chu kỳ tính
a Sự thành thục tính dục
Trong quá trình trưởng thành một con ñực hoặc cái ñạt ñược mức thành thục về tính dục là khi chúng có khả năng sản sinh giao tử và biểu hiện ñầy ñủ các hệ quả tập tính sinh dục Ở con cái thành thục về tính là lúc bộ máy sinh sản ñã ñủ phát triển, sản sinh ra tế bào trứng có khả năng thụ tinh và mang thai (Kunitada, 1992)[36]
Gia súc sau khi sinh ra, cơ thể tiếp tục sinh trưởng, phát triển ðến một giai ñoạn nhất ñịnh con vật có những biến ñổi, chuẩn bị cho việc sản sinh ra các giao tử hoạt ñộng, thời kỳ này gọi là dậy thì Tiếp theo, khi mà hoạt ñộng
sinh sản ñã hội tụ ñầy ñủ các yếu tố ñể sản sinh ra ñời sau - ñó là sự "thành thục" về tính dục (Nguyễn ðức Hùng và CS., 2003)[6]
Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể ñã phát triển căn bản hoàn thiện Dưới tác ñộng của thần kinh, nội tiết tố, con vật xuất hiện các hiện tượng của hưng phấn sinh dục (các phản xạ về sinh dục), khi ñó
có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng (Trần Tiến Dũng và CS., 2002)[4]
Ở bê một tháng tuổi trên buồng trứng ñã xuất hiện nang trứng nhưng bê cái không ñộng dục, trứng không rụng cho tới khi bê cái ñược 8-11 tháng tuổi Có ñến 70% chu kì ñộng dục ñầu tiên của bò cái tơ không biểu hiện rõ dấu hiệu mặc dù chúng có rụng trứng và hình thành thể vàng Lần ñộng dục tiếp theo, biểu hiện ñộng dục rõ ràng và mạnh mẽ hơn Tuổi thành thục về sinh dục ở bò khoảng 8-12 tháng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ñặc biệt là dinh dưỡng Giống bò lớn con thành thục về tính muộn hơn bò giống nhỏ con
Trang 23Nuôi dưỡng tốt bò cái thành thục về tính sớm hơn so với nuôi dưỡng kém (ðinh Văn Cải và Nguyễn Ngọc Tấn, 2007)[3]
Giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau Các giống bò có tầm vóc nhỏ thành thục sớm hơn giống bò có tầm vóc lớn (Nguyễn Xuân Tịnh và CS., 1996)[21]
ðộng dục lần ñầu xuất hiện ở những con bò tơ hướng sữa thường sớm hơn so với những con thuộc các giống hướng thịt Bò sữa ôn ñới có tuổi xuất hiện ñộng dục lần ñầu tiên vào khoảng 10 tháng tuổi (4-18 tháng), sớm hơn so với các giống bò nhiệt ñới (18-24 tháng tuổi) (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)[22]
b Chu kỳ tính
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái ñặc biệt cơ quan sinh dục có biến ñổi kèm theo sự rụng trứng Sự phát triển của trứng dưới sự ñiều tiết của hóc-môn thuỳ trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách
có chu kỳ và biểu hiện bằng những triệu chứng ñộng dục theo chu kỳ, ñược gọi là chu kỳ tính Thời gian 1 chu kỳ tính là từ lần rụng trứng trước ñến lần rụng trứng sau (Nguyễn Xuân Tịnh và CS., 1996)[21]
Sau khi thành thục tính dục, gia súc cái bắt ñầu có hoạt ñộng sinh sản Dưới sự ñiều hoà của hormon tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín) và rụng trứng, kèm theo nó là sự biến ñổi toàn thân và cơ quan sinh dục ñược biểu hiện ra các triệu chứng ñặc biệt, gọi là triệu chứng ñộng dục Quá trình này ñược lặp ñi, lặp lại trong một khoảng thời gian nhất ñịnh, ñược gọi
là chu kỳ ñộng dục (Nguyễn ðức Hùng và CS., 2003) [6]
Thời gian của một chu kỳ ñộng dục ở bò trung bình là 21 ngày, dao ñộng trong khoảng 18-24 ngày Nhiều nhà nghiên cứu ñã chia chu lỳ ñộng dục của bò thành 4 giai ñoạn (Hình 2-4) với những ñặc trưng cơ bản như sau:
Trang 24Hình 2.1: Các giai ñoạn của chu kỳ ñộng dục ở bò
* Tiền ñộng dục
ðây là giai ñoạn diễn ra ngay trước khi ñộng dục Trong giai ñoạn này trên buồng trứng một noãn bao lớn bắt lớn nhanh (sau khi thể vàng của chu kỳ trước bị thoái hoá) Vách âm ñạo dày lên, ñường sinh dục tăng sinh, xung huyết Các tuyến sinh dục phụ tăng tiết dịch nhờn trong suốt, khó ñứt Âm môn hơi bóng mọng Cổ tử cung hé mở Bỏ ăn, hay kêu rống và ñái rắt Có nhiều bò ñực theo trên bãi chăn, nhưng chưa chịu ñực
* ðộng dục
ðây là một thời kỳ ngắn biểu hiện hiện tượng "chịu ñực" của bò cái
Thời gian chịu ñực dao ñộng trong khoảng 6-30 giờ, bò tơ trung bình 12 giờ,
bò cái sinh sản 18 giờ Lúc này niêm dịch chảy ra nhiều, càng về cuối càng trắng ñục như hồ nếp, ñộ keo dính tăng Âm môn màu hồng ñỏ, càng về cuối càng thẫm Cổ tử cung mở rộng, hồng ñỏ Chịu ñực cao ñộ
* Hậu ñộng dục
Tính từ lúc con vật thôi chịu ñực ñến khi cơ quan sinh dục trở lại trạng thái bình thường (khoảng 5 ngày) Con cái thờ ơ với con ñực và không cho giao phối Niêm dịch trở thành bã ñậu Sau khi thôi chịu ñực 10-12 giờ thì rụng trứng Khoảng 70% số lần rụng trứng vào ban ñêm Có khoảng 50% bò
Trang 25cái và 90% bò tơ bị chảy máu trong giai ñoạn này
* Giai ñoạn yên tĩnh
ðây là giai ñoạn yên tĩnh giữa các chu kỳ ñộng dục ñược ñặc trưng bởi
sự tồn tại của thể vàng (corpus luteum) Nếu không có chửa thì thể vàng sẽ
thành thục khoảng 8 ngày sau khi rụng trứng và tiếp tục hoạt ñộng (tiết progesteron) trong vòng 8-9 ngày nữa và sau ñó thoái hoá Lúc ñó một giai
ñoạn tiền ñộng dục của một chu kỳ mới lại bắt ñầu
Nếu trứng ñược thụ tinh thì giai ñoạn này ñược thay thế bằng thời kỳ mang thai (thể vàng tồn tại và tiết progesteron), ñẻ và một thời kỳ không có hoạt ñộng chu kỳ sau khi ñẻ trước khi bò cái trở lại có hoạt ñộng chu kỳ tiếp (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) [22]
c ðiều hoà chu kỳ tính
Chu kỳ tính (chu kỳ ñộng dục) của bò cái diến ra rất phức tạp bao gồm các quá trình liên hệ với nhau từ những biến ñổi sinh lý bên trong buồng trứng, các cơ quan của bộ máy sinh dục và những biểu hiện ra bên ngoài, chi phối cả hoạt ñộng của bò cái trong thời gian ñộng dục Các quá trình phức tạp này ñược Nguyễn Xuân Trạch và CS (2006)[23] phân tích rất cụ thể như sau:
*Liên hệ thần kinh-nội tiết giữa vùng dưới ñồi-tuyến yên-buồng trứng
Hoạt ñộng sinh dục của bò cái ñược ñiều hoà sự phối hợp thần kinh-nội tiết trong trục dưới ñồi - tuyến yên - buồng trứng (hình 2.5) Vùng dưới ñồi (Hypothalamus) tiết GnRH (Gonadtropin Releasing Hormone) GnRH tác ñộng làm chuyển ñổi thông tin thần kinh trong não thành tín hiệu nội tiết ñể kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Follicle Stimulating Hormone) và
LH (Luteinizing Hormone) FSH và LH ñược tiết vào hệ tuần hoàn chung và ñược ñưa ñến buồng trứng, kích thích buồng trứng phân tiết estrogen, progesteron và inhibin Các hormone buồng trứng cũng ảnh hưởng ñến việc tiết GnRH, FSH và LH thông qua cơ chế tác ñộng ngược Progesteron chủ
Trang 26yếu tác ñộng lên vùng dưới ñồi ñể ức chế tiết GnRH, trong khi ñó estrogen tác ñộng lên thuỳ trước tuyến yên ñể ñiều tiết FSH và LH Inhibin chỉ kiểm soát (ức chế) việc tiết FSH
Hình 2.2: Các liên hệ trong trục dưới ñồi-tuyến yên-buồng trứng
* ðiều hoà hoạt ñộng chu kỳ tính và ñộng dục
Chu kỳ ñộng dục ở bò cái có liên quan ñến những sự kiện kế tiếp nhau trong buồng trứng, tức là sự phát triển noãn bao, rụng trứng, sự hình thành và thoái hoá của thể vàng, dẫn ñến hiện tượng ñộng dục Các sự kiện này ñược ñiều hoà bởi trục dưới ñồi-tuyến yên-buồng trứng thông qua các hormone (Hình 2.5) Những biến ñổi về nội tiết, sinh lý và hành vi liên quan ñến hiện tượng ñộng dục ñược phác hoạ ở hình 2.6
Trước khi ñộng dục xuất hiện (tiền ñộng dục), dưới tác dụng của FSH do
tuyến yên tiết ra, một nhóm noãn bao buồng trứng phát triển nhanh chóng và
Trang 27sinh tiết estradiol với số lượng tăng dần Estradiol kích thích huyết mạch và tăng trưởng của tế bào ñường sinh dục ñể chuẩn bị cho quá trình giao phối và thụ tinh FSH cùng với LH thúc ñẩy sự phát triển của noãn bao ñến giai ñoạn cuối
Hình 2.3: Những biến ñổi về nội tiết, sinh lý và hành vi liên quan ñến hiện tượng ñộng dục ở bò cái (Jainudeen và CS., 1993, trích theo Nguyễn
Xuân Trạch và CS., 2006) [23])
Khi hàm lượng estradiol trong máu cao sẽ kích thích thần kinh gây ra
hiện tượng ñộng dục Sau ñó (hậu ñộng dục) trứng sẽ rụng sau một ñợt sóng
tăng tiết LH (LH surge) từ tuyến yên Sóng này hình thành do hàm lượng estradiol trong máu cao kích thích vùng dưới ñôì tăng tiết GnRH Sóng LH cần cho sự rụng trứng và hình thành thể vàng vì nó kích thích trứng chín, làm tăng hoạt lực các enzym phân giải protein ñể phá vỡ các mô liên kết trong vách noãn bao, kích thích noãn bao tổng hợp prostaglandin là chất có vai trò
Trang 28rất quan trọng trong việc làm vỡ noãn bao và tạo thể vàng
Sau khi trứng rụng thể vàng ñược hình thành trên cơ sở các tế bào ở ñó ñược tổ chức lại và bắt ñầu phân tiết progesteron Hormone này ức chế sự phân tiết gonadotropin của tuyến yên thông qua hiệu ứng ức chế ngược, do ñó
mà ngăn cản ñộng dục và rụng trứng cho ñến chừng nào mà thể vàng vẫn còn
hoạt ñộng (pha thể vàng của chu kỳ)
Tuy nhiên, trong pha thể vàng (luteal phase) các hormone FSH và LH
vẫn ñược tiết ở mức cơ sở (tonic) dưới kích thích cuả GnRH và ức chế ngược của các hormone steroid và inhibin từ các noãn bao ñang phát triển FSH ở mức cơ sở (thấp) này kích thích sự phát triển của các noãn bao buồng trứng
và kích thích chúng phân tiết inhibin Mức LH cơ sở cùng với FSH cần cho sự phân tiết estradiol từ các noãn bao lớn và progesteron từ thể vàng trong thời
kỳ yên tĩnh của chu kỳ
Thực ra trong mỗi chu kỳ ñộng dục không phải chỉ có một noãn bao phát triển mà có nhiều noãn bao phát triển theo từng ñợt sóng với khoảng cách ñều nhau ðối với bò thường có 2-3 ñợt sóng/chu kỳ Mỗi ñợt sóng như vậy ñược ñặc trưng bởi một số noãn bao có nang nhỏ cùng bắt ñầu phát triển, sau ñó 1 noãn bao ñược chọn thành noãn bao trội, noãn bao trội này sẽ ức chế sự phát triển tiếp theo của các noãn bao cùng phát triển còn lại trong nhóm ñó Sự ức chế của noãn bao trội này thông qua inhibin do nó tiết ra làm ức chế tiết FSH của tuyến yên Tuy nhiên, chừng nào còn có mặt của thể vàng (hàm lượng progesteron trong máu cao) thì noãn bao trội không cho trứng rụng ñược mà bị thoái hoá và một ñợt sóng phát triển noãn bao mới lại bắt ñầu (Hình 2.4)
Trang 29Hình 2.4: Các sóng phát triển noãn bao trong một chu kỳ tính
(Ginther và CS., 1989, trích theo Nguyễn Xuân Trạch và CS., 2006 [23])
Nếu trứng rụng của chu kỳ trước không ñược thụ thai thì ñến ngày 17-18 của chu kỳ nội mạc tử cung sẽ tiết prostaglandin F 2 alpha, hóc-môn này có tác dụng làm tiêu thể vàng và kết thúc pha thể vàng của chu kỳ Noãn bao trội nào
có mặt tại thời ñiểm này sẽ có khả năng cho trứng rụng nhờ có hàm lượng progesteron trong máu thấp Việc giảm hàm lượng progesteron sau khi tiêu thể vàng làm tăng mức ñộ và tần số tiết GnRH và do ñó mà tăng tiết LH của tuyến yên Kết quả là noãn bao tiền rụng trứng (trội) tăng sinh tiết estradiol và gây ra
giai ñoạn tiền ñộng dục (pha noãn bao) của một chu kỳ mới
Tuy nhiên, nếu trứng rụng trước ñó ñã ñược thụ tinh thì thể vàng không tiêu biến và không có trứng rụng tiếp Thể vàng trong trường hợp này sẽ tồn tại cho ñến gần cuối thời gian có chửa ñể duy trì tiết progesteron cần cho quá trình mang thai Thể vàng thoái hoá trước khi ñẻ và chỉ sau khi ñẻ hoạt ñộng chu kỳ của bò cái mới dần dần dược hồi phục
Trang 302.1.2.3 Tuổi phối giống lần ñầu
Trong chăn nuôi bò cái sinh sản thì chỉ tiêu tuổi phối giống lần ñầu ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của chúng Tuổi phối giống lần ñầu quyết ñịnh tới tuổi ñẻ lứa ñầu Nên khi tuổi phối giống lần ñầu quá sớm, sẽ gây ảnh hưởng tới khối lượng bê con sinh ra, bò mẹ khó ñẻ do khung xương chậu chưa phát triển hoàn thiện và kìm hãm sự phát triển của thể vóc, thậm chí ảnh hưởng tới cả tuổi sử dụng của bò cái Còn khi phối giống lần dầu quá muộn,
có thể do dinh dưỡng quá thiếu khi gia súc ñang trong thời kỳ sinh trưởng, phát dục gây ảnh hưởng tới khả năng thành thục, kéo dài tuổi phối giống lần ñầu và tuổi ñẻ lứa ñầu
ðối với bò sữa do khả năng thành thục sớm nên tuổi phối giống lần ñầu thường sớm Theo Nguyễn Văn ðức và SC (2008)[5] nghiên cứu trên ñàn bò Holstein Friesian nuôi tại Mộc Châu có tuổi phối giống lần ñầu 18,71 ± 4,43 tháng Chỉ tiêu này thường muộn hơn ñối với bò Brahman Hoàng Văn Trường và Nguyễn Tiến Vởn (2008)[25] nghiên cứu trên ñàn bò Brahman nuôi trong nông hộ ở Bình ðịnh cho thấy tuổi phối giống lần ñầu là 29,3 – 30,7 tháng
2.1.2.4 Tuổi ñẻ lứa ñầu
Tuổi ñẻ lứa ñầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng ñánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Tuổi ñẻ lứa ñầu ñược quyết ñịnh bởi tuổi phối giống lần ñầu Tuy nhiên, tuổi ñẻ lứa ñầu còn phụ thuộc vào các yếu tố như:
Di truyền, ngoại cảnh, chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng và phụ thuộc vào kết quả của phối giống lần ñầu, mà kết quả của phối giống lần ñầu lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: sự theo dõi ñộng dục, thời ñiểm phối giống, kỹ thuật phối Do ñó tuổi ñẻ lứa ñầu thường không ổn ñịnh, biến ñộng lớn và kéo dài
do ảnh hưởng của các yếu tố trên
Trang 31Trong ñiều kiện nước ta, do ảnh hưởng của của khí hậu và chế ñộ dinh dưỡng không hợp lý cho nên tuổi ñẻ lứa ñầu ñối với bò thường cao Theo ðinh Văn Tuyền và CS (2008) [26] thì tuổi ñẻ lứa ñầu của bò Brahman nuôi tại Thành Phố Hồ Chí Minh là 38,3 tháng (biến ñộng từ 35 ñến 49,5 tháng) Tuổi ñẻ lứa ñầu của bò Brahman nuôi trong nông hộ ở Bình ðịnh biến ñộng
từ 43,1 ñến 47,2 tháng (Hoàng Văn Trường và Nguyễn Tiến Vởn, 2008)[25] Nghiên cứu trên ñàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì, Tăng Xuân Lưu
và CS (2000)[12] cho thấy tuổi thành thục sinh dục trung bình là 26,9 tháng (biến ñộng 13,8 – 61 tháng), ñẻ lứa ñầu lúc 38,7 tháng (biến ñộng 24 – 72 tháng) ðối với bò sữa Holstein Friesian (HF) thuần nuôi ở Lâm ðồng thì tuổi phối giống lần ñầu 16,84 ± 0,11 tháng, tuổi ñể lứa ñầu 27,87 ± 0,52 tháng (Phạm Ngọc Thiệp và Nguyễn Xuân Trạch, 2004)[27]
2.1.2.5 Thời gian hồi phục của tử cung sau khi ñẻ
Tử cung của gia súc cái là một bộ phận của cơ quan sinh dục có khả năng co giãn rất lớn Trong thời gian mang thai khối lượng và kích thước của
tử cung ñược tăng lên gấp hàng chục lần so với bình thường Sau khi ñẻ, tử cung lại có khả năng co rút trở lại kích thước và khối lượng gần như bình thường, ñể rồi lại bắt ñầu một chu kỳ sinh sản mới Thời gian từ sau khi ñẻ, ñể
tử cung hàn gắn các vết thương trong quá trình ñẻ, vết thương tách núm nhau
và ñào thải hết các hỗn dịch còn lại sau khi ñẻ ra ngoài Cùng với sự co rút của cơ tử cung trở lại kích thước ban ñầu ñồng thời khôi phục lại chức năng của tử cung, gọi là thời gian hồi phục của tử cung sau khi ñẻ
Kích thước tử cung của bò sau khi ñẻ ñược hồi phục trở lại gần như bình thường vào khoảng ngày thứ 30 nhưng cần khoảng 15 ngày nữa thì trương lực tử cung mới ñược hồi phục hoàn toàn Như vậy, quá trình hồi phục
tử cung của bò sau ñẻ, nếu không có biến chứng, cần khoảng 45 ngày và ñây gọi là giai ñoạn chờ phối chủ ñộng Vì thế, không nên phối giống cho bò
Trang 32trước 45 ngày sau khi ñẻ (ðinh Văn Cải và Nguyễn Ngọc Tấn, 2007)[3]
Sự hồi phục của tử cung sau khi ñẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Cá thể, ñiều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình ñẻ, sự can thiệp khi ñẻ và sự hộ
lý chăm sóc sau khi ñẻ Thời gian hồi phục của tử cung sau khi ñẻ có ảnh hưởng quyết ñịnh tới thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ và thời gian phối giống
có chửa sau khi ñẻ, do ñó ảnh hưởng tới khoảng cách giữa hai lứa ñẻ và năng
suất sinh sản của bò cái
2.1.2.6 Thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ
Sau khi ñẻ, khi tử cung hay cơ quan sinh dục cái ñã hồi phục hoàn toàn thì gia súc bắt ñầu vào một chu kỳ sinh sản mới bằng hiện tượng ñộng dục Trong ñiều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc hợp lý và tình trạng sức khoẻ bình thường của gia súc cái thì thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ cũng ñồng thời với thời gian hồi phục của tử cung sau khi ñẻ, hay nói cách khác thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ phản ánh khả năng hồi phục của tử cung sau khi ñẻ Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều yếu tố tác ñộng ñến làm cho thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ bị kéo dài ra như: yếu tố thời tiết, khí hậu, ñiều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc hộ lý sau khi ñẻ, tình trạng sức khoẻ và bệnh tật cũng như các yếu tố bên trong cơ thể con vật (sự hoạt ñộng không bình thường của các tuyến nội tiết, của buồng trứng ) và ñó cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng vô sinh tạm thời
Trong thực tế, sự phát hiện ñộng dục trở lại sau khi ñẻ ñôi khi gặp khó khăn, có thể do sự hồi phục chưa hoàn toàn của cơ quan sinh sản ở gia súc cái hoặc do một nguyên nhân nào ñó làm cho lần ñộng dục trở lại sau khi ñẻ có biểu hiện không rõ dàng, ñộng dục nhẹ (ñộng dục ngầm) dẫn ñến không phát hiện ñược Vì thế xác ñịnh thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ thường thiếu chính xác
Trang 33Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Trường và Nguyễn Tiến Vởn (2008) [25] trên ñàn bò Brahman nuôi trong nông hộ ở Bình ðịnh, thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ từ 221,3- 347,2 ngày
2.1.2.7 Thời gian phối giống có chửa sau khi ñẻ
Thời gian phối giống có chửa sau khi ñẻ là một trong những chỉ tiêu quan trọng ñánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Nó có ảnh hưởng lớn nhất tới khoảng cách hai lứa ñẻ, bởi thời gian mang thai của bò ít biến ñộng (Từ 275-285 ngày) Trong thực tế có những bò cái thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ rất sớm khoảng 30 ngày, nhưng người ta cũng không cho phối giống ngay mà ñợi thêm 1-2 chu kỳ sau mới phối Vì khi ñó tỷ lệ thụ thai cao, hơn nữa phải có thêm thời gian ñể cơ thể bò cái hồi phục hoàn toàn
Trong ñiều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, tình trạng sức khoẻ gia súc cái bình thường, không bị mắc bệnh ở ñường sinh dục, theo dõi ñộng dục, kỹ thuật phối giống tốt và tinh dịch ñảm bảo thì thời gian phối giống có chửa sau khi ñẻ cũng ñồng thời với thời gian phối giống lại sau khi ñẻ Nhưng trong thực tế, thời gian phối giống có chửa sau khi ñẻ thường bị kéo dài so với thời gian phối lại sau khi ñẻ do ảnh hưởng cuả những yếu tố trên
2.1.2.8 Khoảng cách lứa ñẻ
Khoảng cách giữa hai lứa ñẻ ñược tính từ lần ñẻ lứa trước tới lần ñẻ lứa sau nó là thước ño khả năng sinh sản của gia súc một cách rõ rệt nhất Khoảng cách giữa hai lứa ñẻ ảnh hưởng ñến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, ảnh hưỏng tới tổng số bê con sinh ra của bò mẹ
Khoảng cách giữa hai lứa ñẻ bằng khoảng thời gian phối giống lại có chửa sau khi ñẻ và thời gian mang thai Thời gian mang thai thường ổn ñịnh,
ít biến ñộng (275-285 ngày) do ñó khoảng cách giữa hai lứa ñẻ phụ thuộc lớn nhất vào thời gian phối giống có chửa sau khi ñẻ
Trang 34Ngoài ra còn một nguyên nhân ảnh hưởng lớn nhất tới khoảng cách giữa hai lứa ñẻ ñó là hiện tượng sảy thai Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng sảy thai như: Bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucelloris), chế ñộ quản lý, chăm sóc, viêm nhiễm ñường sinh dục, thời tiết khí hậu
Như vậy, ñể có nhiều sản phẩm chăn nuôi (có nhiều bê; có nhiều sữa )
và nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi, cần phải làm sao cho bò cái, trong
cả quãng ñời của chúng, ñẻ càng nhiều càng tốt, tức là phải rút ngắn khoảng cách giữa các lứa ñẻ Không phát hiện kịp thời kỳ bò ñộng dục trở lại sau khi
ñẻ, chậm phối giống hoặc phối giống nhưng không thụ thai là những nguyên nhân chủ yếu kéo dài khoảng cách giữa 2 lứa ñẻ ðể rút ngắn thời gian chửa lại sau khi ñẻ thì cần phải nuôi dưỡng chăm sóc tốt ñể con vật sớm ñộng dục trở lại, ñồng thời phải theo dõi phát hiện ñộng hớn kịp thời và dẫn tinh với tỷ
lệ thụ thai cao (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) [22]
2.1.2.9 Những yếu tố ảnh hưởng ñến khả năng sinh sản của bò cái
a Yếu tố di truyền
Các tính trạng sinh sản thường có hệ số di truyền (h2) thấp Hầu hết các biến ñổi quan trọng quan sát thấy về khả năng sinh sản ñều do ảnh hưởng của ñiều kiện ngoại cảnh
Các giống khác nhau và ngay cả các cá thể thuộc cùng một giống cũng có khả năng sinh sản khác nhau Tuy nhiên hệ số di truyền về khả năng sinh sản rất thấp, nên sự khác nhau về sinh sản chủ yếu là do ngoại cảnh chi phối thông qua tương tác với cơ sở di truyền của từng giống và cá thể Những giống hay cá thể có khả năng thích nghi cao với khí hậu, chống ñỡ bệnh tật tốt trong một môi trường
cụ thể sẽ cho khả năng sinh sản cao hơn (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) [22]
b Nuôi dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng tới sinh sản rất ña dạng và có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi Bò là gia súc thuộc loài nhai lại, có ñặc ñiểm
Trang 35tiêu hoá riêng biệt, cần rất nhiều thức ăn thô xanh trong khẩu phần Bởi vì chỉ
có thức ăn thô xanh mới tạo nên môt trường dạ cỏ thích hợp cho hệ vi sinh vật hoạt ñộng và phát triển Theo Nguyễn Xuân Trạch và CS (2006)[23] Dinh dưỡng ảnh hưởng ñến sinh sản của bò trên những khía cạnh sau:
- Mức dinh dưỡng: Cung cấp nhiều hay ít quá các chất dinh dưỡng ñều
ảnh hưởng không tốt ñến khả năng sinh sản của bò cái Nuôi dưỡng thấp với
bò cái tơ sẽ kìm hãm sinh trưởng nên chậm ñưa vào sử dụng và giảm khả năng sinh sản về sau Thiếu dinh dưỡng ñối với bò trưởng thành sẽ kéo dài thời gian hồi phục sau khi ñẻ Hơn nữa dinh dưỡng thiếu gia súc sẽ gầy yếu,
dễ bị mắc bệnh tật nên sẽ giảm khả năng sinh sản Ngược lại, nếu dinh dưỡng cao quá, nhất là quá nhiều gluxit sẽ làm cho con vật quá béo, buồng trứng tích
mỡ nên giảm hoạt ñộng chức năng
- Loại hình thức ăn: Thức ăn kiềm tính thích hợp cho sự phát triển của
hợp tử và bào thai Thức ăn toan tính làm giảm tỉ lệ thụ thai do các yếu tố tạo axit cao nên gây ra sự nghèo kiềm một mặt do sự mất cân ñối trong bản thân thức ăn, mặt khác kiềm bị cơ thể thải ra ngoài cùng với các yếu tố tạo axít thừa dưới dạng muối, gây toan huyết, không thích hợp cho sự hình thành hợp tử
- Cân bằng các chất dinh dưỡng: Cân bằng các chất dinh dưỡng trong
khẩu phần có ảnh hưởng sâu sắc và nhiều mặt tới hoạt ñộng sinh sản của con cái Ví dụ, thừa P sẽ tạo photphat Ca, Na, K thải ra ngoài dẫn tới mất kiềm, toan huyết Ngược lại nếu thiếu P sẽ ảnh hưởng xấu ñến cơ năng buồng trứng: buồng trứng nhỏ lại, noãn bao ít, sau khi ñẻ thường chỉ ñộng dục lại 1-2 lần, nếu không phối kịp thời thì phải ñến sau khi cạn sữa mới ñộng dục lại Bò sữa cao sản dễ bị thiếu P
c Chăm sóc quản lý
Công tác chăm sóc quản lý không những có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất sinh sản của bò cái mà còn thể hiện trình ñộ và kinh
Trang 36nghiệm của người chăn nuôi Nếu chăm sóc quản lý không tốt ñể gia súc gầy yếu, sẩy thai, mắc các bệnh, ñặc biệt là các bệnh sản khoa sẽ làm giảm khả năng sinh sản
Tổ chức phối giống là khâu quan trọng có ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai
và tỷ lệ ñẻ của bò cái cái Việc tổ chức theo dõi phát hiện ñộng dục tốt, kỹ thuật phối giống tốt và phối giống ñúng thời ñiểm cộng với chất lượng tinh tốt
sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và tăng khả năng sinh sản của ñàn bò
d Bệnh tật
ðối với gia súc cái sinh sản thì các rối loạn chức năng sinh sản và bệnh sản khoa như: sẩy thai truyền nhiễm, kí sinh trùng ñường sinh dục, bệnh buồng trứng, tử cung v.v ñều là những bệnh nguy hiểm làm giảm khả năng sinh sản
2.2 Nguồn gốc và ñặc ñiểm của giống bò Brahman
Brahman là giống bò có u (Bos indicus) Bò Brahman nổi tiếng là giống bò thịt nhiệt ñới, ñược nuôi rộng rãi ở các nước nhiệt ñới và cận nhiệt ñới Giống Brahman ñược tạo ra ở Mỹ và ñược tạo thành từ những giống bò Guzerat, Nerole, Gyr và Krishna Velley vào cuối thế kỉ 19 ñầu thế kỉ 20 (ðinh Văn Cải, 2007)[2]
Bò Brahman có ngoại hình chắc khỏe, tầm vóc lớn hơn so với các
giống bò Zêbu khác; hệ cơ bắp phát triển, có u cao, yếm thõng, da mềm, thịt
săn và tai to dài cụp xuống Bò có màu lông trắng xám hoặc ñỏ Tốc ñộ tăng trọng nhanh, chịu ñựng rất tốt ñiều kiện nhiệt ñới nóng ẩm, kháng bệnh tốt, chuyển hoá tốt thức ăn có hàm lượng xơ cao; khối lượng trưởng thành con ñực 700 - 900 kg, con cái 450 - 650 kg, khối lượng bê sơ sinh 23 - 25kg, tỷ lệ thịt xẻ 52 - 58% Brahman Là giống chủ lực ñể lai tạo với các giống bò thịt cao sản ôn ñới tạo ra nhiều giống bò thịt nhiệt ñới năng suất cao như Santa Gertrudis, Braford, Droughtmaster, Angus, Limousine, Brangus (Lê Quang
Trang 37Nghiệp và CS., 2006) [15]
Ở Việt Nam, bò Brahman ñược nhập khẩu từ các nước CuBa và Australia, hiện ñang ñược nuôi tại các tỉnh Ninh Bình, Bình ðịnh, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm ðồng, Tuyên Quang và Hà Nội Với
số lượng ñàn không nhiều song cũng góp phần tạo con giống cung cấp nhu cầu trong nước ñồng thời có vai trò quan trọng trong công tác cải tạo, nâng cao tầm vóc ñàn bò vàng Việt Nam
2.3 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về khả năng sinh trưởng và sinh sản của bò Brahman
Hoàng Văn Trường và CS (2000)[24] cho thấy khả năng sinh sản của
bò cái Brahman thuần nuôi trong nông hộ tại Bình ðịnh tương ñối thấp, khoảng cách lứa ñẻ 20,5 tháng, thời gian ñộng dục lại sau khi ñẻ gần 10 tháng (296 ngày), hệ số phối 1,69 lần Khối lượng lúc 12 tháng tuổi là 211,4 kg với con ñực và 177,0 kg với con cái; lúc 18 tháng tuổi là 268,3kg với con ñực và 228,0 với con cái
ðinh Văn Cải và CS (2005)[1] nghiên cứu trên ñàn bò Brahman ở Bình ðịnh có tuổi ñộng dục lần ñầu lúc 24,3 tháng và ñẻ lứa ñầu lúc 36,2 tháng; tỷ lệ ñẻ bình quân 58,84%/năm, hệ số phối 1,74; tỷ lệ ñậu thai phối lần ñầu 45,45% và khoảng cách lứa ñẻ 20,5 tháng Khối lượng bê sơ sinh 23,68 ± 0,48 kg, 6 tháng tuổi 137,95 ± 7,47kg; 12 tháng tuổi 207,69 ± 5,00kg; 18 tháng tuổi 286,02 ± 6,63kg Trong ñiều kiện nuôi dưỡng trong nông hộ thiếu thức ăn, bê cái 12 tháng tuổi 177,0 ± 4,92kg, 18 tháng tuổi 228,0 ± 6,67kg Tăng trọng bê trong giai ñoạn bú sữa ñạt trên 620g/ngày; giai ñoạn 6 – 12 tháng là 218 g/ngày với bò trong nông hộ và 385 g/ngày với bò trong Trại; giai ñoạn 12 – 18 tháng tuổi là 248 g/ngày với bò trong nông hộ và 434 g/ngày với bò trong Trại
Hoàng Văn Trường và Nguyễn Tiến Vởn (2008) [25] nghiên cứu trên
Trang 38ñàn bò Brahman nuôi trong nông hộ ở Bình ðịnh từ tháng 1 năm 2001 ñến tháng 6 năm 2007 cho thấy khối lượng lúc sơ sinh là 24,3 kg ñối với bê cái và 25,8 kg ñối với bê ñực; 6 tháng tuổi ñạt 130,7 kg ñối với bê cái và 143,6 kg ñối với bê ñực; 12 tháng tuổi ñạt 193,5kg ñối với bê cái và 199,1 kg ñối với
bê ñực và 18 tháng tuổi ñạt 220,1 kg ñối với bê cái và 272,2 kg ñối với bê ñực; kích thước một số chiều ño lúc 18 tháng tuổi: Cao vây 116,5cm, Dài thân chéo 120,9cm và Vòng ngực 145,6cm; bò cái thành thục sinh dục vào khoảng 27-28 tháng tuổi, tuổi phối giống lần ñầu từ 29-30 tháng và khoảng cách lứa
ñẻ 560-673 ngày (18-22 tháng)
ðinh Văn Tuyền và CS (2008) [26] cho biết ñàn bò Brahman nuôi tại
TP Hồ Chí Minh có khoảng cách lứa ñẻ trung bình 412 ngày (13,54 tháng),
hệ số phối trung bình 1,36 lần Khối lượng khối lượng lúc sơ sinh là 20,54 ± 3,05kg với bê cái và 22,59 ± 3,49kg với bê ñực; 6 tháng tuổi: 127,4 kg với con cái và 144,3 kg với con ñực; lúc 12 tháng tuổi: 204,7 kg với con cái và 195.2 kg với con ñực; lúc 18 tháng tuổi: 251,0 kg với con cái và 289,0 kg với con ñực; lúc 24 tháng tuổi: 318,8 kg với con cái và 324,3kg với con ñực
Tuổi thành thục về tính bò cái Brahman ở Hoa Kỳ là 690 ngày (22,68 tháng) theo Reynolds (1967)[38] và 592 ngày (19,46 tháng) theo Chase và
Trang 393 đỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 đối tượng nghiên cứu
đối tượng nghiên cứu là 111 bò cái Brahman sinh ra tại Việt Nam từ tháng 5 ựến tháng 12 năm 2005 ựược nuôi tại Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh ựông lạnh Moncada (Ba Vì, Hà Nội) từ tháng 1 năm 2007 và ựàn bê con của chúng ựẻ ra từ tháng 3 năm 2008 ựến tháng 7 năm 2011
đàn bò cái ban ựầu gọi là thế hệ P; ựàn con sinh ra gọi là thế hệ 1
3.2 địa ựiểm và thời gian nghiên cứu
- địa ựiểm: Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh ựông lạnh Moncada Ờ xã Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà nội
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2010 ựến tháng 7 năm 2011
3.3 điều kiện nghiên cứu
- đàn bò ựược chăn nuôi theo phương thức tập trung bán chăn thả
- đàn bò ựược nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý theo cùng một quy trình kỹ thuật của Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương, tại Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh ựông lạnh Moncada
- Khẩu phần ăn của ựàn bò gồm cỏ xanh, cỏ khô, thức ăn tinh có bổ sung khoáng Nhu cầu dinh dưỡng ựược tắnh dựa theo tiêu chuẩn RNC (1987)
- Thực hiện quy trình phòng bệnh, nội quy thú y theo ựúng quy ựịnh và theo lịch
3.4 Nội dung nghiên cứu
3.4.1 đánh giá khả năng sinh trưởng
3.4.1.1 Sinh trưởng tắch luỹ và mô hình hoá quá trình sinh trưởng
- Khối lượng ở các ựộ tuổi: Sơ sinh, 6, 12, 18 và 24 tháng tuổi (kg)
- Mô hình hoá quá trình sinh trưởng
Trang 403.4.1.2 Sinh trưởng tuyệt ựối (g/ngày) ở các giai ựoạn tuổi 0-6, 7- 12, 13- 18, 19-24 tháng tuổi
3.5.1.3 Sinh trưởng tương ựối (%) tại các giai ựoạn tuổi: 0-6, 7- 12, 13- 18,
3.4.2 đánh giá khả năng sinh sản
3.4.2.1 Tuổi phối giống lần ựầu (tháng)
3.4.2.2 Tuổi ựẻ lứa ựầu (tháng)
3.4.2.3 Thời gian phối giống có chửa sau khi ựẻ (ngày)
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng
3.5.1.1 Khối lượng và mô hình hoá sinh trưởng (ựộng thái sinh trưởng)
* Khối lượng ở các ựộ tuổi:
- Khối lượng bê sơ sinh ựược xác ựịnh bằng cân ựồng hồ (kg);
- Khối lượng ở các ựộ tuổi (6, 12, 18, 24 tháng tuổi): được xác ựịnh bằng cách cân khối lượng toàn ựàn bê bằng cân ựiện tử Digi-Star (Hoa Kỳ), căn cứ vào ngày sinh, tuổi lúc cân, khối lượng cân và sử dụng các hàm sinh trưởng