Sở dĩ nói thế bởi lớp từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Việt vô cùng phong phú và đa dạng, nó phản ánh một cách đầy đủ, tương ứng với cách phân chia từng cái cụ thể của con người trong
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
LÊ THỊ NỮ HƯƠNG
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 5/2016
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục bài luận văn 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 6
1.1 Lý thuyết về chiếu vật và chỉ xuất 6
1.1.1 Vật quy chiếu 6
1.1.2.Quy chiếu 8
1.1.3 Chỉ xuất (Deixis) 10
1.1.3.1 Khái niệm 10
1.1.3.2 Ba phạm trù định vị: ngôi, không gian và thời gian 10
1.1.4 Người nói- người nghe 11
1.2 Phạm trù xưng hô 12
1.2.1 Khái niệm về xưng hô 12
1.2.2 Phương tiện xưng hô 13
1.3 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp 13
1.3.1 Nhân vật giao tiếp 14
1.3.1.1 Vai giao tiếp 14
1.3.1.2 Quan hệ liên cá nhân 15
1.3.2 Hoàn cảnh giao tiếp 16
1.4 Lý thuyết về hội thoại 18
1.4.1 Khái niệm hội thoại 18
Trang 41.4.2.2 Hành vi đe dọa thể diện 21
1.5 Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng 21
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG “SỐ ĐỎ” VÀ “VỠ ĐÊ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 23
2.1 Các từ ngữ xưng hô trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 23
2.1.1 Kết quả khảo sát, thống kê và phân loại 23
2.1.2 Hoạt động của các phương tiện dùng để xưng hô trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 25
2.1.2.1 Xưng hô bằng danh từ chỉ tên riêng 25
2.1.2.2 Xưng hô bằng danh từ thân tộc 29
2.1.2.3 Xưng hô bằng đại từ nhân xưng 39
2.1.2.4 Xưng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, chức danh 44
2.1.2.5 Nhóm kiểu loại xưng hô khác 49
2.2 Các phương tiện dùng để xưng hô trong tiểu thuyết “Vỡ đê”
của Vũ Trọng Phụng 51
2.2.1 Kết quả khảo sát, thống kê và phân loại 51
2.2.2 Hoạt động của các từ ngữ dùng để xưng hô trong tiểu thuyết “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 53
2.2.2.1 Xưng hô bằng tên riêng 53
2.2.2.2 Xưng hô bằng danh từ thân tộc 56
2.2.2.3 Xưng hô bằng đại từ nhân xưng 58
2.2.2.4 Từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, chức danh 61
2.2.2.5 Nhóm kiểu loại xưng hô khác 62
2.3 Tiểu kết chương 2 63
Trang 53.1 Các nhân tố chi phối cách xưng hô của nhân vật trong tác phẩm 65
3.1.1 Văn hóa truyền thống dân tộc 65
3.1.1.1 Xưng khiêm hô tôn 65
3.1.1.2 Xưng hô linh hoạt 67
3.1.2 Vai giao tiếp của các nhân vật 69
3.1.2.1 Tuổi tác 69
3.1.2.2 Vị thế xã hội 71
3.2 Vai trò của từ ngữ xưng hô trong việc khắc họa tính cách và tâm lý nhân vật trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng 73
3.3 Xu hướng gia đình hóa trong xưng hô và phép lịch sự trong xưng hô trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng 77
3.3.1 Xu hướng “gia đình hóa” trong xưng hô 77
3.3.2 Phép lịch sự trong cách xưng hô 79
3.4 Tiểu kết 81
PHẦN KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6Bảng 2.1: Các từ ngữ xưng hô trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 23 Bảng 2.2: Số lượng và tỷ lệ từ ngữ xưng hô bằng tên riêng trong tiểu thuyết
“Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 27 Bảng 2.3: Cấu tạo tên riêng trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 28 Bảng 2.4: Bảng thống kê đối chiếu những danh từ thân tộc được sử dụng
trong gia đình người Việt và ngoài xã hội 36 Bảng 2.5 Số lượng và tỷ lệ từ ngữ xưng hô bằng danh từ thân tộc trong
tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 38 Bảng 2.6: Cấu tạo của danh từ thân tộc trong tiểu thuyết “Số đỏ”
của Vũ Trọng Phụng 38 Bảng 2.7: Bảng thống kê các đại từ nhân xưng làm phương tiện xưng hô
trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt 40 Bảng 2.8: Bảng thống kê những cấp độ biểu đạt tình cảm bằng các đại từ nhân
xưng trong tiếng Việt 42 Bảng 2.9: Số lượng và tỷ lệ phương tiện xưng hô bằng đại từ nhân xưng trong
tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 43 Bảng 2.10: Cấu tạo đại từ nhân xưng trong tiểu thuyết “Số đỏ”
của Vũ Trọng Phụng 43 Bảng 2.11: Cấu tạo chi tiết của đại từ nhân xưng trong tiểu thuyết “Số đỏ” của
Vũ Trọng Phụng 44 Bảng 2.12: Số lượng và tỷ lệ từ ngữ xưng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp, chức
vụ trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 48 Bảng 2.13: Cấu tạo của từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, chức danh trong
tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 49
Trang 7Bảng 2.15: Các phương tiện xưng hô trong tiểu thuyết “Vỡ đê”
của Vũ Trọng Phụng 51
Bảng 2.16: Số lượng và tỉ lệ phương tiện xưng hô bằng tên riêng
trong tiểu thuyết “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 54
Bảng 2.17: Cấu tạo của tên riêng trong tiểu thuyết “Vỡ đê”
của Vũ Trọng Phụng 55
Bảng 2.18: Số lượng và tỷ lệ từ ngữ xưng hô bằng danh từ thân tộc
trong tiểu thuyết “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 57
Bảng 2.19: Cấu tạo của danh từ thân tộc trong tiểu thuyết “Vỡ đê”
của Vũ Trọng Phụng 57
Bảng 2.20: Số lượng và tỷ lệ từ ngữ xưng hô bằng đại từ nhân xưng trong tiểu thuyết “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 59
Bảng 2.21: Cấu tạo đại từ nhân xưng trong tiểu thuyết “Vỡ đê”
của Vũ Trọng Phụng 59
Bảng 2.22: Cấu tạo chi tiết của đại từ nhân xưng trong tiểu thuyết “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 60
Bảng 2.23: Số lượng và tỷ lệ từ ngữ xưng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ trong tiểu thuyết “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 61
Bảng 2.24: Cấu tạo từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, chức danh trong tiểu thuyết “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 62
Bảng 2.25: Số lượng và tỷ lệ từ ngữ xưng hô bằng kiểu loại xưng hô khác trong tiểu thuyết “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 62
Bảng 2.26: Bảng so sánh số lượng và tần số các phương tiện xưng hô trong tiểu thuyết “Số đỏ” và “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng 63
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ văn chương là hệ thống cấu tạo để thực hiện chức năng giao tiếp thẩm mỹ của văn học Trước đây, người ta hiểu ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản, thể hiện qua các phép tu từ Ngày nay, người ta hiểu ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ của toàn bộ văn bản văn chương Trên cấp độ văn bản, các đơn vị ngôn ngữ không kết hợp giản đơn theo tuyến tính, mà trở thành một cấu trúc chỉnh thể có nội dung và có ý nghĩa riêng Có thể nói ngôn ngữ có một vai trò vô cùng to lớn trong đời sống con người, nó ra đời đáp ứng nhu cầu giao tiếp của xã hội Như vậy, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất của con người Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học lấy ngôn từ làm chất liệu Với chất liệu đó, văn học chứa đựng khả năng giao tiếp mà không phải loại hình nghệ thuật nào cũng có thể có được Bên cạnh đó, văn học và ngôn ngữ ngày càng có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng qua lại với nhau Có thể nói rằng từ điểm nhìn ngôn ngữ soi chiếu vào văn chương là một hướng đi mới trong nghiên cứu văn học
và từ kết quả nghiên cứu văn học này lại tìm được nhiều cái mới mẻ, độc đáo của ngôn ngữ
Xưng hô bao gồm từ ngữ xưng hô và cách xưng hô là một phần không thể thiếu trong giao tiếp ngôn ngữ của bất cứ một dân tộc nào trên thế giới Đối với tiếng Việt cũng vậy, xưng hô là một trong những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ giao tiếp Sở dĩ nói thế bởi lớp từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Việt vô cùng phong phú và đa dạng, nó phản ánh một cách đầy đủ, tương ứng với cách phân chia từng cái cụ thể của con người trong gia đình và ngoài xã hội, những từ ngữ ấy luôn chuyển mình một cách linh hoạt trong từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Khi vận dụng vào giao tiếp, các từ ngữ xưng
Trang 9hô đó còn nói lên thái độ của người đối thoại, thể hiện những sắc thái, tình cảm để rồi từ đó hình thành một chiến lược giao tiếp phù hợp, đồng thời đem lại những hiệu quả nhất định trong việc thực hiện mục đích giao tiếp Trong giao tiếp, đối tượng xưng hô chủ yếu là hai phái nam và nữ Cho nên với những quy tắc nhất định, việc lựa chọn những từ ngữ xưng hô chỉ giới tính góp phần phản ánh một cách sâu sắc đặc trưng văn hóa tư duy của con người
ở mỗi một dân tộc, mỗi vùng miền hay một cộng đồng nào đó Xưng hô đúng, hay sẽ góp phần thúc đẩy giao tiếp phát triển Ngược lại, xưng hô không hợp
lí sẽ gây những hậu quả không mong muốn trong giao tiếp Qua cách sử dụng
từ xưng hô người ta có thể biết được thái độ, tình cảm, học vấn, mối quan hệ, suy nghĩ của các nhân vật tham gia giao tiếp Vì vậy, xưng hô là một yếu tố tiên quyết và quan trọng, là một vấn đề đã thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học từ trước đến nay
Vũ Trọng Phụng là một cây bút bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực Ông
sử dụng rất nhiều các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô trong tác phẩm của mình, điều này mang rất nhiều dụng ý nghệ thuật của tác giả Vậy, việc Vũ Trọng Phụng sử dụng các từ ngữ xưng hô trong tác phẩm của ông mang lại
hiệu quả nghệ thuật như thế nào? Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài: Từ ngữ
xưng hô trong một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xưng hô trong trong gia đình là vấn đề vô cùng phức tạp nhưng lại vô cùng thú vị trong tiếng Việt Nhà nghiên cứu Bùi Minh Yến với một loạt bài được đăng trên tạp chí Ngôn ngữ đã đi sâu vào khảo sát và bàn về những vấn
đề này Tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1990 có bài: Xưng hô giữa vợ và chồng
trong gia đình người Việt [37] Tiếp đó có bài: Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt [38] trên tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1993 Cũng tại
tạp chí này, số 2 năm 1994, Bùi Minh Yến cũng có bài viết: Xưng hô giữa
Trang 10ông bà và cháu trong gia đình người Việt [39] Thông qua những bài viết này,
Bùi Minh Yến đã chỉ ra rằng các từ ngữ xưng hô trong gia đình người Việt chủ yếu là danh từ thân tộc, danh từ riêng Và tùy theo tôn ti trật tự, thứ bậc, mức độ tình cảm, độ tuổi của các thành viên trong gia đình mà người nói lựa chọn những cách xưng hô khác nhau
Nguyễn Văn Khang lại quan tâm đến vấn đề xưng hô trong gia đình
người Việt qua bài viết: Nghi thức lời nói trong gia đình người Việt trong công trình nghiên cứu Ứng xử ngôn ngữ trong gia đình người Việt [24] Khi
khảo sát từ ngữ xưng hô, ông đặc biệt chú ý đến những sắc thái tình cảm của chúng mà cụ thể là các danh từ thân tộc
Nếu như các nhà nghiên cứu trên quan tâm đến các phương tiện và cách xưng hô trong gia đình người Việt thì Hoàng Thị Châu lại đặt ngòi bút của mình vào cách xưng hô xã giao trong cơ quan nhà nước, các đoàn thể với bài
viết: Vài đề nghị chuẩn hóa cách xưng hô trong xã giao [10] được đăng trên
tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 3, năm 1995 Thông qua việc phân tích sự bất tiện trong việc dùng danh từ thân tộc để xưng hô theo truyền thống, bà đề nghị chuẩn hóa cách xưng hô xã giao, công vụ theo hai hướng:
Thứ nhất: Nên trung hòa các sắc thái biểu cảm của danh từ thân tộc khi làm phương tiện xưng hô xã giao
Thứ hai: Chọn “tôi” làm phương tiện xưng hô và “ông-bà” để hô cho người lớn hơn, còn “anh- chị” để xưng hô cho người nhỏ hơn hoặc bằng “tôi”
Bài viết của Đỗ Long: Về một khía cạnh biểu hiện của “cái tôi” với cách
tiếp cận ngôn ngữ học trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 3, năm 1990
[27] đã phát hiện ra rằng người Việt xưng “tôi” Một “cái tôi” e ấp kín đáo sau cái chung trong danh từ thân tộc, “cái tôi” khiêm nhường, thậm chí e dè, khúm núm, nhút nhát, không dám tự khẳng định trong các từ ngữ xưng hô có tính chất ẩn dụ: mận, đào, thuyền Qua đó, ta có thể dễ dàng nhận thấy sự phong phú tiềm tàng của các từ ngữ xưng hô khi đi vào khai thác những giá
Trang 11trị ngữ dụng của chúng
Một hướng nghiên cứu từ ngữ xưng hô và cách xưng hô phổ biến trong thời gian gần đây, đó chính là xét các đặc điểm của từ ngữ xưng hô dưới góc
độ ngôn ngữ học đối chiếu Đại diện tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là
Nguyễn Văn Chiến với công trình: Ngôn ngữ học đối chiếu: Đối chiếu ngôn
ngữ Đông Nam Á [12] Với công trình này thì ông đã mở ra một hướng tiếp
cận mới về nghiên cứu ngôn ngữ học Đề tài này đã gặt hái được những kết quả xuất sắc trong việc nghiên cứu tiếng Việt trong sự so sánh đối chiếu với ngôn ngữ các nước trong khu vực để thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa chúng
Ngoài ra, để xác định tường mình hơn khái niệm từ ngữ xưng hô,
Nguyễn Thị Ly Kha có bài viết: Có phải danh từ thân tộc được dùng như đại từ
nhân xưng ở cả ba ngôi [23] Nguyễn Thị Ly Kha, qua nghiên cứu chức năng
xưng hô của danh từ thân tộc, bà khẳng định danh từ thân tộc chỉ được dùng như đại từ nhân xưng ngôi thứ I và ngôi thứ II, còn ở ngôi thứ III không phải bất kỳ trường hợp nào danh từ thân tộc cũng được dùng như đại từ nhân xưng
Như vậy, vấn đề xưng hô trong tiếng Việt thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề này vẫn còn mang tính sự trên các tạp chí, đề tài luận văn chuyên ngành ngôn ngữ học
Vũ Trọng Phụng là một cây bút bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực Ngôn ngữ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là ngôn ngữ của tự nhiên, sống động, mang hơi thở của cuộc sống Các tác phẩm của ông đã sớm gây được tiếng vang đối với độc giả, tạo nên một phong cách rất đặc trưng Tuy nhiên,
việc xem xét tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nói chung và “Số đỏ”, “Vỡ đê”
nói riêng ở góc độ ngôn ngữ thì rất còn hạn chế
Vì vậy, “Số đỏ” và “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng là “vùng đất mới lạ và
lý thú” để chúng tôi khảo sát phương tiện và cách xưng hô trong tiếng Việt Đưa các lý thuyết về xưng hô vào việc nghiên cứu tác phẩm sẽ tạo được hiệu ứng thú vị trong việc tìm hiểu tác phẩm dưới góc độ Ngôn ngữ học Cho đến
Trang 12nay, chưa có bất kì một bài viết, công trình nghiên cứu nào đề cập vấn đề nghiên cứu như đề tài chúng tôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khóa luận này chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề: “Từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian thực hiện đề tài nên đề tài chỉ khảo sát từ ngữ xưng hô trên hai cuốn tiểu thuyết “Số đỏ” và “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài khóa luận này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu
chính là phương pháp miêu tả ngôn ngữ với các thủ pháp luận giải bên trong
và các thủ pháp luận giải bên ngoài Việc miêu tả từ ngữ xưng hô trong tác phẩm phải sử dụng các thủ pháp nghiên cứu như: thống kê-phân loại và hệ thống hóa; thủ pháp phân tích văn cảnh, thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp đối chiếu so sánh các nhóm được miêu tả,
Trong từng phần, từng chương khác nhau, những phương pháp nghiên cứu trên được chúng tôi sử dụng một cách linh hoạt và đậm nhạt khác nhau nhằm xử lý một cách có hiệu quả yêu cầu ban đầu mà đề tài đặt ra
5 Bố cục bài luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của bài luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Khảo sát các từ ngữ xưng hô trong tiểu thuyết “Số đỏ” và
“Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng
Chương 3: Từ ngữ xưng hô trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nhìn từ đặc điểm dụng học- văn hóa
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Lý thuyết về chiếu vật và chỉ xuất
Dụng học (Pramatique) là một trong ba phương diện của tín hiệu, cho đến nay, những vấn đề về đối tượng, phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học vẫn chưa được thống nhất nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ngữ dụng học, mỗi nhà nghiên cứu lại có mỗi một cách hiểu khác nhau về vấn đề nay Theo Morris “Dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa kí hiệu và sự giải thích chúng, sự giải thích về ý nghĩa mà kí hiệu được dùng” [13, tr.203] Như vậy theo quan điểm này thì phương diện ngữ dụng của hoạt động ngôn ngữ là những đặc điểm về việc dùng ngôn ngữ (những duyên cớ, động thái tâm lý của các bên giao tiếp, những kiểu diễn từ đã được xã hội hóa, những đối
tượng của diễn từ ) Còn trong tạp chí Langue Francaise (số 42, tháng 5,
1979), A M Diller và F Recsanati đã định nghĩa: “Ngữ dụng nghiên cứu việc
dùng ngôn ngữ trong diễn từ và các chỉ hiệu đặc thù trong ngôn ngữ, những cái làm nên cách thức nói năng” [13, tr.204] Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh vấn đề ngữ dụng
Ngữ dụng đang là một lĩnh vực hiện đang hấp dẫn nhiều nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề của ngôn ngữ học đã được xem xét dưới góc nhìn của dụng học Trong phạm vi nghiên cứu của bài báo cáo tốt nghiệp chúng tôi cần thấy phải vận dụng một số khái niệm thuộc lĩnh vực này để có thể giải quyết những vấn
đề ban đầu mà đề tài đặt ra
1.1.1 Vật quy chiếu
Khái niệm về “vật quy chiếu” có cơ sở từ sự phân biệt rạch ròi của
Trang 14G.Frege (1892) về nghĩa của từ và cái sự vật mà từ ấy gọi tên Ở Việt Nam, thuật ngữ này được Cao Xuân Hạo dịch là “Sở chỉ” (vật quy chiếu): “Trong câu nói các từ ngữ mới có sở chỉ (referent), tức là dùng để trực tiếp chỉ một đối tượng cụ thể hay những tập hợp những đối tượng có giới hạn cụ thể” [17, tr.54]
Ví dụ: Một đứa trẻ mới học nói, nó chỉ hiểu sở chỉ của từ ngữ mà nó nói Chẳng hạn: “mẹ” ứng với một người cụ thể thường xuyên chăm sóc nó, cho
nó ăn hay hôn nó Về sau, khi mở rộng tiếp xúc, nó hiểu “mẹ” còn ứng với nhiều người đàn bà khác có đặc điểm như vậy với bạn nó Như vậy, nó đã hiểu ý nghĩa của từ “mẹ”
Như vậy, “vật quy chiếu” khác với ý nghĩa của từ: nghĩa của từ là kết quả của một quá trình trừu tượng hóa từ những trường hợp sử dụng từ ngữ trong một câu nói cụ thể Vật quy chiếu là “sự vật khách quan và cụ thể của thế giới bên ngoài ngôn ngữ ứng với mỗi từ cụ thể trong câu nói Nó là mục tiêu cuối cùng của việc sử dụng của từ ngữ, vì công dụng chủ yếu của ngôn ngữ là thông báo sự tình của thế giới bên ngoài ngôn ngữ” [17, tr.55]
Một sự vật cụ thể khách quan có thể ứng với nhiều từ ngữ khác nhau trong ngôn ngữ Ta nói những từ ngữ ấy đồng vật quy chiếu Hiện tượng đồng vật quy chiếu này được thể hiện rất rõ ở những vấn đề xưng hô trong tiếng Việt, bởi mỗi người là tổng hòa của nhiều mối quan hệ xã hội, ở môi trường này thì họ đóng vai trò này, ở môi trường khác họ đóng vai trò khác
Ví dụ: Một người là giáo viên tên Tuấn, được học sinh gọi là “thầy giáo”, được đứa con gọi là “bố”, được bố mẹ gọi là “con”, được anh, chị gọi
là “em”, được bạn bè gọi là “Tuấn còi” Như vậy, những từ “thầy giáo”,
“con”, “em”, “bố”, “Tuấn còi” là đồng vật quy chiếu
Tuy nhiên, cần lưu ý không phải bất cừ từ nào trong câu nói cụ thể đều
có vật quy chiếu
Trang 15Trong ngôn ngữ các từ ngữ sau đây luôn có vật quy chiếu:
- Các danh từ riêng: Sơn, Nam, Ngọc, Anh…
- Các đại từ nhân xưng: tao, mày, nó…
- Các đại từ chỉ định: này, nọ, kia…
- Các danh ngữ được đánh dấu xác định bằng những đại từ chỉ định: người đàn bà ấy, người đàn ông kia, cô gái nọ…
Dĩ nhiên những từ ngữ này phải xuất hiện trong câu nói cụ thể, hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mới có thể xác định vật quy chiếu J.Lyons nói rằng: “từ ngữ dùng trong một câu nói cụ thể, tự nó không có sở chỉ Nó được người nói dùng để chỉ sự vật Sở chỉ của từ thuộc hành động phát ngôn” [40, tr.58]
1.1.2 Quy chiếu
Quy chiếu để xác định tính đúng sai của những diễn ngôn cần quy chiếu với sự vật nào đó được nói tới trong hoàn cảnh giao tiếp
Ví dụ: Con mèo tím kìa mẹ!
Mệnh đề do câu trên biểu thị sẽ sai nếu “mèo”quy chiếu với những động vật thật được gọi là “mèo” Vì thực tế không có con mèo nào màu tím cả Nhưng sẽ đúng nếu quy chiếu với mèo đồ chơi bằng nhựa
Vậy nên, “tính đúng sai của một câu tùy thuộc vào sự quy chiếu của các từ trong câu” [7, tr.230] J.Lyons định nghĩa: “Quy chiếu là mối quan hệ giữa từ và các
sự vật, biến cố, hành động và tính chất mà chúng thay thế” [40, tr.666]
Trang 16Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh ý nghĩa của toàn cảnh giao tiếp của các diễn ngôn, ông định nghĩa: “Sự chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định Nó là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh) và diễn ngôn” [7, tr.231]
Quy chiếu là vấn đề để tạo ra và hiểu những diễn ngôn Có những câu luôn luôn hiểu đúng bởi vì nó luôn luôn được quy chiếu với các sự vật, hiện tượng (Ví dụ: nước sôi ở 100˚C) Nhưng lại có những câu gắn liền với ngữ cảnh mới có thể xác định được tính đúng sai
Các danh từ tên riêng thực hiện sự quy chiếu cá thể ít phụ thuộc vào ngữ cảnh nhất Đối với các từ loại khác, nếu ngữ cảnh và đồng văn cảnh chưa đủ
để xác định sự vật được quy chiếu thì có thể dùng những từ khác để trợ giúp
Đó là vai trò của các định ngữ và bổ ngữ J.Lyons đã nói về điều này như sau:
“Ranh giới quy chiếu của các đơn vị từ không có đường phân rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo lên nhau Ranh giới giữa các từ là võ đoán và không xác định”[40, tr.670]
Ví dụ: “Muốn quy chiếu một trong hai người được chỉ định thích hợp bằng “girl” hay “woman” người ta có phể phân biệt bằng tên, tuổi, màu tóc, nước da ” [59, tr.670]
Các đại từ nhân xưng thực hiện chức năng quy chiếu sự vật bằng cách quy chiếu chúng với người nói, người nghe có mặt trong giao tiếp
Trong tiếng Việt, đại từ chỉ định: này, nọ, kia, ấy… không quy chiếu với
sự vật cụ thể nhưng khi đi kèm với các danh từ, chúng quy chiếu với một sự vật cụ thể Các đại từ nhân xưng, các đại từ chỉ định trên được gọi là các từ chỉ xuất
Trang 171.1.3 Chỉ xuất (Deixis)
1.1.3.1 Khái niệm
Theo Đỗ Hữu Châu, khái niệm chỉ xuất được hiểu: “là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ trỏ Quy tắc điều khiển chỉ trỏ là: sự vật được chỉ trỏ phải ở gần (trong tầm với người chỉ và trong tầm với người nhìn lẫn người được chỉ) đối với một vị trí được lấy làm mốc” [7, tr.72]
Như vậy, “Deixis là một từ gốc Hi Lạp có nghĩa là “chỉ trỏ”, “chỉ ấn” được dùng để xử lý đặc điểm định hướng của ngôn ngữ có liên quan đến không gian và thời gian” [40, tr.435]
Các biểu thức chỉ xuất bao gồm cả đại từ xưng hô thực hiện chức năng chiếu vật không thông qua chức năng miêu tả mà thông qua chức năng định vị của vật được nói tới
1.1.3.2 Ba phạm trù định vị: ngôi, không gian và thời gian
* Ngôi
Ngôi chỉ ra vai của các nhân vật giao tiếp trong hành động ngôn ngữ cụ thể Trong tiếng Việt, có 3 ngôi Trong đó: ngôi thứ I là kết quả của sự tự quy chiếu của người nói Ngôi thứ II là kết quả của sự tự quy chiếu do người nói tiến hành trong giao tiếp tới một hay những người đang tham gia giao tiếp
Ngôi thứ III quy chiếu tới vật hay người được nói tới trong giao tiếp
Trang 18Như vậy, trong ba phạm trù định vị trên, phạm trù ngôi có liên quan chặt chẽ với vấn đề xưng hô Nhìn chung thì sự định vị trong ngôn ngữ dựa trên nguyên tắc “tự kỉ trung tâm”, tức là lấy mình làm trung tâm Người nói lấy mình làm mốc để quy chiếu đến người/ sự vật được nói tới, hay tham gia trong hoạt động giao tiếp Nhưng không phải bao giờ nguyên tắc này cũng được thực hiện một cách triệt để Trong hội thoại, đôi khi điểm gốc không phải ở người nói mà là ở một đối tượng khác Đó là trường hợp xưng gọi thay vai trong cách xưng hô của người Việt chúng ta
1.1.4 Người nói- người nghe
Nói về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thi ca, nhà nghiên cứu R.Jakobson
đã chỉ ra 6 chức năng của ngôn ngữ trong một mô hình nổi tiếng bao gồm:
Người phát =>Bối cảnh, Thông điệp, tiếp xúc, Mã => người nhận
Trong mô hình này ông đã chỉ ra 6 nhân tố cấu thành của mọi sự kiện ngôn ngữ, mọi hành động giao tiếp bằng ngôn ngữ Ta thấy người phát (người nói) và người nhận (người nghe) là nhân tố khởi đầu và kết thúc của một hành động giao tiếp Dụng học rất quan tâm đến các yếu tố trong mô hình này Armengaud khi cố gắng trả lời những câu hỏi “Nói với ai? Ai nói? Và nói cho ai? Anh nghĩ tôi là ai để có thể nói với tôi như vậy?” [7, tr.221] đã đặc biệt quan tâm tới hai nhân tố:
- “Ai nói”: người phát- người nói
- “Nói vói ai”, “nói cho ai”: người nhận- người nghe
G.Smith giải thích “Dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người dùng” [7, tr.223]
Thuật ngữ “người dùng” không phải là một thuật ngữ trừu tượng, cô lập Trong hoạt động giao tiếp “người dùng” trước hết là người sử dụng ngôn ngữ
để truyền thông điệp- người phát và sau đó là người tiếp nhận những tín hiệu ngôn ngữ để nắm được thông điệp- người nhận Người phát và người nhận
Trang 19quan hệ thường xuyên với nhau, tác động lẫn nhau Bản thân của mỗi người
có vốn sống, kinh nghiệm sống, ngôn ngữ và hiểu biết riêng
Người phát (người nói lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ để truyền thông điệp đến người nhận) Nói cái gì?, nói như thế nào? Là đều do người nói quyết định Ngôn ngữ cung cấp những phương tiện để anh ta làm việc đó: những yếu tố ngữ âm, những lớp từ vựng, những cấu trúc ngữ pháp, những yếu tố phong cách Những phương tiện ngôn ngữ chứa đựng những tầng ý nghĩa và những giá trị biểu cảm Người nói tùy vào những kinh nghiệm ngôn ngữ, kinh nghiệm sống, hiểu biết của bản thân mà lưạ chọn phương tiện thích hợp để truyền thông điệp
Người nhận (người nghe) nhận tín hiệu ngôn ngữ và vận dụng những hiểu biết của mình để giải mã, từ đó hiểu thông điệp mà người nói gửi tới Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, người nói ở ngôi nhân xưng thứ nhất còn người nghe ở ngôi nhân xưng thứ hai
1.2 Phạm trù xưng hô
1.2.1 Khái niệm về xưng hô
Để cuộc hội thoại có thể tiến hành, đầu tiên chủ thể giao tiếp phải tìm cách đưa mình và đối tượng vào diễn ngôn bằng cách lựa chọn những từ xưng
hô thích hợp Do đó, trong một cuộc hội thoại đầy đủ và đảm bảo tính lịch sự thì xưng hô có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập quan hệ liên cá nhân và xác định thái độ, tình cảm giữa các vai giao tiếp Khái niệm phạm trù
“xưng hô” cũng được hiểu và lý giải theo nhiều cách khác nhau
Theo Bùi Minh Yến: “Khái niệm xưng hô được ý thức như là một hành
vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp và tương quan tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp Khi thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhận nhiệm vụ khởi tạo sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc hội thoại, điều chỉnh cuộc
Trang 20hội thoại theo đích đã định, bảo đảm hiệu lục hành vi” [37, tr.17]
Theo Diệp Quang Ban: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp” [1, tr.111] Tức là đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi (đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định: ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3 và đại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt)
Đồng tình với quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Phạm Ngọc Thưởng đã cắt nghĩa và xác định vai trò của từng yếu tố sau:
-“Xưng” là hành động của người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình Đó là hành động tự quy chiếu của người nói (ngôi 1) [33, tr.12]
-“Hô” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói (ngôi thứ 2) [33, tr.12]
Trong hoạt động giao tiếp, các vai giao tiếp phải trực tiếp giao thiệp với nhau bằng lời, trong đó các phương tiện xưng hô sẽ được sử dụng
1.2.2 Phương tiện xưng hô
Phương tiện xưng hô là những đơn vị từ, ngữ dùng để chỉ vai người nói
và người nghe trong hành động giao tiếp, chẳng hạn các đại từ nhân xưng, các danh từ thân tộc, các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, có khi đó là họ tên… các phương tiện xưng hô này rất nhiều và đa dạng về màu sắc biểu cảm Chúng được quy chiếu vào đối tượng giao tiếp nào là do hoàn cảnh giao tiếp quy định
1.3 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp
Theo Các Mác: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” và các mối quan hệ này được biểu hiện rõ nhất trong giao tiếp Chính vì vậy, giao tiếp không chỉ là một hoạt động giao tếp cơ bản mà nó còn đánh dấu một
Trang 21bước phát triển vượt bậc của loài người Nghiên cứu từ xưng hô do đó không thể đặt ngoài quá trình giao tiếp Theo Đỗ Hữu Châu, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ đáng chú ý là sự có mặt của các nhân tố giao tiếp: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn
Ngữ cảnh giao tiếp là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn Nó là một tổng thể của những hợp phần như nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn (hoàn cảnh giao tiếp)
1.3.1 Nhân vật giao tiếp
“Nhân vật giao tiếp tức là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ” [7, tr.15] Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, nó
có thể thúc đẩy hoặc tự kết thúc cuộc hội thoại Do đó, nhân vật giao tiếp chính là linh hồn của cuộc hội thoại Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân
1.3.1.1 Vai giao tiếp
Vai giao tiếp chính là cương vị xã hội của mỗi cá nhân nào đó trong một
hệ thống các quan hệ xã hội chồng chéo nhau, mỗi cá nhân trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp nhất định lại đóng một vai khác nhau hợp thành một bộ vai cho mình trong hệ thống giao tiếp chung Chẳng hạn: Khi đi học là sinh viên, khi
đi xem phim là khán giả, khi ở nhà là con đối với bố mẹ, là anh đối với các
em, là cháu đối với ông bà….Sự phong phú trong các vai giao tiếp từ đó cũng tạo nên sự phong phú trong cách xưng hô cho mỗi cá nhân
Để tiến hành giao tiếp, các thành viên tham gia giao tiếp phải xác lập vị thế giao tiếp của mình, nghĩa là phải nhận thức một cách đầy đủ về đối tượng tham gia giao tiếp (về tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, mục đích giao tiếp, vốn sống ) và về chính bản thân mình Nếu giao tiếp mới là sự gặp gỡ, tiếp
Trang 22xúc lần đầu thì các thành viên tham gia giao tiếp phải có bước thăm dò đối tượng thông qua cách giao tiếp, trình độ văn hóa ứng xử của mình để có thể thu thập thông tin về đối phương
Trên cơ sở có được thông tin về đối tượng giao tiếp mà nhân vật giao tiếp lựa chọn từ xưng hô thích hợp Trong nhiều trường hợp, tùy thuộc vào ngữ cảnh mà nhân vật giao tiếp lại giữ một vị thế giao tiếp nhất định Không phải cứ nhiều tuổi, địa vị xã hội cao, chức vụ lớn sẽ giữ vị thế giao tiếp cao hơn đối tượng còn lại mà chúng ta phải xác định trong ngữ cảnh đó yêu cầu gì của cuộc giao tiếp là nổi bật, giá trị nào là ưu tiên để từ đó lựa chọn các phương tiện xưng hô thích hợp Cách xưng hô trong quan hệ gia tộc khác với cách xưng hô ngoài xã hội Do đó, nhân vật phải xác định đúng vị thế giao tiếp, xây dựng chiến lược, động cơ, mục đích giao tiếp phù hợp mới tạo hiệu quả cao trong giao tiếp
1.3.1.2 Quan hệ liên cá nhân
“Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [7, tr.17]
Theo quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp này có thể diễn tiến theo hai kiểu: Quan hệ vị thế xã hội (quyền uy) và quan hệ khoảng cách (thân cận)
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả quá trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn Do đó, xưng hô chịu áp lực rất mạnh từ quan hệ này Qua việc sử dụng từ xung hô mà vai nghe biết được vai nói xác định quan hệ vị thế
và quan hệ xã hội với mình như thế nào Trong tiếng Việt, lựa chọn và sử dụng từ xưng hô được coi như là một chiến lược trong việc thiết lập quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
Trong những cơ quan, công sở… thì nghi thức giao tiếp là một điều bắt buộc mọi người phải tuân theo nên quan hệ quyền uy ở đây được xác lập một
Trang 23cách vững vàng và ít bị thay đổi nhất Nhân viên và thủ trưởng đã có những từ xưng hô giúp định vị thứ bậc rõ ràng, không thể có sự đổi ngôi trừ khi xuất hiện vấn đề tình cảm, mục đích riêng, chi phối giao tiếp
Thực ra, trong đời sống thường ngày thì giao tiếp trong gia đình, tiêu biểu là trong cách lựa chọn từ xưng hô đã cho chúng ta thấy đây không chỉ là biểu hiện của việc tôn trọng quan hệ thân cận mà còn là biểu hiện của quan hệ quyền uy trong việc tạo ra không khí vừa tôn nghiêm, vừa thân mật trong gia đình Chẳng hạn, thay bằng cách xưng ông (bà) và hô cháu thì các nhân vật giao tiếp ở đây chuyển thành cách xưng ông (bà) và hô con, em…Thay bằng cách gọi bố (mẹ) thì người con (đã có con) chọn cách xưng con thông thường lại chuyển cách hô mà đứng ở vị trí con mình gọi bố (mẹ) là ông (bà)…
1.3.2 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố chủ đạo chi phối hoạt động giao tiếp của con người Đó là thế giới thực tại mà chúng ta đang sống với tất cả những nhân tố xã hội, ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như: hiểu biết về thế giới xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử ; phong tục tập quán; trình độ học vấn; kinh nghiệp xã hội; thói quen sử dụng ngôn ngữ; phạm vi giao tiếp (công sở, gia đình, ngoài xã hội, trong các vùng lãnh thổ riêng…); đề tài, chủ đề hay hình thức giao tiếp… Trong hoàn cảnh giao tiếp, người ta đặc biệt chú ý đến sự tồn tại của tính quy thức và phi quy thức trong giao tiếp thông qua sự diễn đạt ngôn ngữ của các vai giao tiếp Tính quy thức ở đây được hiểu là những yêu cầu, những quy tắc, những nghi lễ… trong những hoàn cảnh giao tiếp hẹp (không gian, thời gian cụ thể để cuộc giao tiếp diễn ra như trong các nghi lễ ngoại giao, tôn giáo, trong công sở, nhà trường…) Đó là các nghi thức mang tính quy phạm,
có tính mẫu mực riêng mà các thành viên tham gia giao tiếp ngầm hiểu và tôn trọng thực hiện nó
Trang 24Ngược lại, tính phi quy thức là những hành vi giao tiếp ngoài xã hội, nơi những hoạt động giao tiếp diễn ra mà không chịu ảnh hưởng chi phối của bất
cứ quy tắc, nghi lễ nào Các vai giao tiếp được tự do , thoải mái bộc lộ mình Tính quy thức/ phi quy thức của hoàn cảnh giao tiếp còn ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn và sử dụng các từ xưng hô, nó có mối quan hệ rất chặt chẽ với các chức năng của từ xưng hô cũng như vị thế xã hội và quyền uy của nhân vật giao tiếp Do đó, có thể nói trong hệ thống từ xưng hô chúng ta có thể xét đến từ xưng hô có tính quy thức và từ xưng hô không có tính quy thức
Ở những người có vị thế ngang nhau như bạn với bạn thì việc xưng hô phi quy thức sẽ diễn ra nhiều hơn so với xưng hô có tính quy thức Ngược lại, xưng hô ở vị thế không ngang bằng thì vai giao tiếp (nhất là vai thấp hơn) thường có lối xưng hô quy thức, chuẩn mực, “xưng khiêm hô tôn”
Các đại từ xưng hô thực thụ trong tiếng Việt (trừ đại từ xưng tôi) phần lớn ít có tính quy thức Các danh từ thân tộc (ông, bà, cô, chú, anh….) đang chiếm ưu thế trong các giao tiếp xã hội cùng các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp (giáo sư, bác sĩ, thầy giáo) mang tính quy thức cao trong hoạt động giao tiếp Trong khi đó danh từ chỉ tên riêng lại mang tính chất trung gian và thường phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà xác định tính quy thức/ không quy thức
Ví dụ trong phát ngôn sau:
- Mời em Ngọc lên bảng!
- Ngọc lấy cho chị cái túi xách trên bàn nhé!
Cũng là hai người, mối quan hệ là chị em nhưng đặt trong hai hoàn cảnh giao tiếp khác nhau thì mỗi người lại đóng một vai khác nhau do đó tính quy thức cũng được biểu hiện khác nhau:
- Ở phát ngôn 1: có hai vai giao tiếp gồm cô giáo và học sinh Trong môi trường học tập yêu cầu tính nghi thức cao do đó cách hô bằng tên riêng (em)
Trang 25“Ngọc” thể hiện tính quy thức cao hơn
- Ở phát ngôn 2: có hai vai giao tiếp là chị và em Xét trong tương quan thì vai giao tiếp không tương bằng nhưng ở đây hoàn cảnh giao tiếp chi phối chính việc sử dụng từ xưng hô kết hợp với nhân tố thái độ, ngữ điệu… khiến việc sử dụng từ hô bằng tên riêng “ Ngọc” ít tính quy thức hơn
1.4 Lý thuyết về hội thoại
1.4.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và hiện nay ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia đều quan tâm đến hội thoại Ở Việt Nam, kế thừa những thành quả ngôn ngữ học của thế giới, hội thoại đã trở thành mảng nghiên cứu hấp dẫn của ngôn ngữ học ứng dụng
Khái niệm “hội thoại” vô cùng phong phú và đa dạng Mỗi nhà nghiên
cứ có một cách hiểu và định nghĩa khác nhau Nguyễn Thiện Giáp: “Giao tiếp hội thoại là hình thức cơ bản của ngôn ngữ Giao tiếp hội thoại luôn luôn có
sự hồi đáp giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau” [14, tr.63]
Xét một cách tổng thể, khái niệm hội thoại được các nhà nghiên cứu nhắc đến đều bao gồm yếu tố chỉ nhân vật tham gia hội thoại và quy tắc luân phiên lượt lời giữa các vai giao tiếp thúc đẩy hội thoại phát triển
Đỗ Hữu Châu đưa ra khái niệm “hội thoại” một cách bao quát và rộng hơn, có thể áp dụng cho nhiều loại hình ngôn ngữ: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại là khái niệm dành cho mọi hình thức hội thoại khác nhau” [7, tr.201] Theo Đỗ Hữu Châu, hội thoại bao gồm một số đặc điểm sau:
- Thoại trường khác nhau sẽ có cuộc hội thoại khác nhau Tức là với một
Trang 26không gian-thời gian cụ thể sẽ tương ứng với hình thức hội thoại phù hợp với nó
- Số lượng tham gia hội thoại cũng khiến hội thoại mang những tính chất với những tên gọi khác nhau Chẳng hạn, với hai người tham gia, chúng ta đặt tên hình thức hội thoại là song thoại, ba người tham gia thì tương ứng với hình thức tam thoại, nhiều người tham gia hội thoại hơn nữa thì có hình thức
đa thoại Tuy nhiên, cách đặt tên này cũng mang tính chất tương đối
- Cương vị và tư cách của người tham gia hội thoại cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc hội thoại Theo đó, vị thế giao tiếp sẽ trở thành một nhân
tố duy trì, thúc đẩy và kết thúc cuộc hội thoại
- Các cuộc hội thoại đều có những “đích” cụ thể khác nhau Để bắt đầu các đối tác hội thoại đã phải xác định mục tiêu giao tiếp mà mình cần đạt được từ đó xây dựng chiến lược phù hợp Tuy nhiên, đối với những cuộc tán ngẫu thì “đích” này thường không cụ thể và mang tính tự phát
- Các cuộc hôi thoại càng khác nhau ở đặc điểm có hình thức hay không
có hình thức Căn cứ vào từng cuộc hội thoại mà hình thức thể hiện, quy trình
tổ chức, dẫn dắt cũng khác nhau, có khi không cần hình thức tổ chức hỗ trợ nào cả
Với hình thức hội thoại khác nhau thì ngữ vực để thể hiện nó cũng khác nhau [7, tr.201]
Hội thoại là một công cụ đặc biệt trong cuộc sống, nó là một công cụ hữu hiệu trong việc thúc đẩy quá trình tạo nên kết quả của các cuộc giao tiếp
1.4.2 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân
Hội thoại không phải diễn ra một cách tùy tiện mà luôn theo những quy tắc nhất định Một cuộc hội thoại thông thường phải thường đảm bảo những quy tắc nhất định:
- Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
- Quy tắc điều hành nội dung của cuộc hội thoại
Trang 27- Quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại
- Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân của hội thoại (phép lịch sự)
Trong các quy tắc trên thì quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân của hội thoại (phép lịch sự) có ảnh hưởng rõ rệt đến sự lựa chọn và sử dụng các từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Việt Lịch sự là hiện tượng có tính phổ quát đối với mọi xã hội và trong mọi lĩnh vực Có thể nói: “Phép lịch sự là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác với mình [7, tr.280]
1.4.2.1 Thể diện
Khái niệm “thể diện” (face) của Goffman, Brown và Levinson đã được định nghĩa là: “hình ảnh về ta công cộng mà mỗi thành viên muốn mình có được” [7, tr.246] Đó chính là hình ảnh hoặc ấn tượng tích cực mà cái “ta” tự xây dựng nên cho mình nhằm chỉ ra cho những người tham gia giao tiếp được biết Theo lý thuyết này, “thể diện” được phân thành hai phương diện: thể hiện âm tính và thể hiện dương tính Theo G.Yule thì: “Thể hiện dương tính của một người là cái nhu cầu được chấp nhận, thậm chí được yêu thích bởi người khác, được đối xử như là các thành viên của cùng một nhóm xã hội và nhu cầu được biết rằng mong muốn của mình cũng được người khác chia sẻ Nói đơn giản thì thể diện âm tính là nhu cầu được độc lập còn thể hiện dương tính là nhu cầu liên thông với người khác” [7, tr.245]
Thể diện âm tính bao gồm những cái tương ứng gọi là “lãnh địa của cái tôi” như: Lãnh địa cơ thể, không gian, thời gian, tài sản vật chất hay tinh thần Tuy nhiên, đề cao thể diện âm tính cũng sẽ đẫn đến sự bảo thủ và cố hữu của mỗi cá nhân Còn thể hiện dương tính nói theo C.K.Orecchioni thì “thể diện dương tính tương ứng với tính quá tự mê, tự đề cao giá trị của mình và cố gắng áp đặt cho người khác trong tương tác” [7, tr.266]
Do đó, sự cân bằng giữa thể diện âm tính và thể diện dương tính là một
Trang 28yêu cầu cần thiết và khá khó khăn đối với từng cá nhân trong việc tự hoàn thiện bản thân mình
1.4.2.2 Hành vi đe dọa thể diện
Đại bộ phận các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại đến thể diện Tương ứng với các thể diện sẽ xuất hiện các hành vi đe dọa thể diện như:
- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người thực hiện như: biếu, tặng, thề thốt…
- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người thực hiện như: cảm ơn, xin lỗi, thú tội…
- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người tiếp nhận như: khuyên nhủ, nói chặn, dặn dò,…
- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người tiếp nhận như: phê bình, mắng mỏ [7, tr.267]
Do tiềm năng đe dọa thể diện như vậy nên lịch sự trong giao tiếp chủ yếu
là sự điều phối các thể diện bằng hành vi ngôn ngữ nhằm tôn trọng thể diện của mình cũng như thể diện của người đối thoại Xác định rõ điều này khi tiến hành hoạt động lịch sự, người nói nên cân nhắc hiệu lực đe dọa thể diện ở hành vi tại lời mà mình sắp thực hiện
Mức độ đe dọa thể diện của một hành vi ngôn ngữ theo Brown và Levinson được đánh giá theo các thông số: quyền lực, khoảng cách, mức độ trầm trọng (mức độ áp đặt) của các hành vi đe dọa thể diện
Lịch sự không chỉ giúp đạt hiệu quả cao trong giao tiếp, giúp tôn vinh bản thân và đối tượng mà lịch sự còn là nét văn hóa, là đặc thù giao tiếp của mỗi dân tộc Do đó, lịch sự là vấn đề chung của toàn xã hội, toàn bộ loài người trên thế giới
1.5 Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912, mất năm 1939, quê ở huyện Mỹ Hào,
Trang 29tỉnh Hưng Yên Ông được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam thế kỉ XX Vốn xuất thân trong một gia đình nghèo, lại mồ côi cha từ nhỏ nên gia đình không đủ điều kiện, sau khi học hết tiểu học, Vũ Trọng Phụng buộc phải thôi học để đi làm kiếm sống Sau một thời gian làm thư kí đánh máy cho nhà hàng Gôđa và nhà in IDEO, ông chuyển sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp Vũ Trọng Phụng viết nhiều thể loại, nhưng thành công nhất trên hai lĩnh vực: phóng sự và tiểu thuyết
Cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tay của Vũ Trọng Phụng là Dứt tình được
đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo Tuy nhiên đến năm 1936 thì ông mới được
sự quan tâm đặc biệt của bạn đọc với sự nở rộ của bốn cuốn tiểu thuyết:
Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê và Làm đĩ Ở đó, các vấn đề của hiện thực cuộc sống
đã được Vũ Trọng Phụng khai thác, “bóc tách” một cách sâu sắc và đậm nét Ngoài tiểu thuyết thì Vũ Trọng Phụng còn viết nhiều phóng sự nổi tiếng,
trong đó phóng sự đầu tay là Cạm bẫy người (1933) đăng trên báo Nhật Tân với bút danh Thiên Hư Tiếp đó là Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Lục sì
đã góp phần tạo nên danh hiệu “ông vua phóng sự đất Bắc” cho Vũ Trọng Phụng Năm 1939, do bị bệnh lao phổi, không có tiền chữa trị nên ông đã mất khi tuổi đời còn rất trẻ
Trang 30CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG “SỐ ĐỎ” VÀ “VỠ ĐÊ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
2.1 Các từ ngữ xưng hô trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng
2.1.1 Kết quả khảo sát, thống kê và phân loại
“Số đỏ” là một trong những tiểu thuyết thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác văn chương của Vũ Trọng Phụng Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ một cách rõ nét trong tiểu thuyết này Thông qua việc tìm hiểu các từ ngữ dùng để xưng hô trong cuốn tiểu thuyết sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các thủ pháp nghệ thuật của nhà văn
Khảo sát các phương tiện dùng để xưng hô trong tiểu thuyết “Số đỏ” của
Vũ Trọng Phụng chúng tôi thu được kết quả sau:
STT
Sự phân bố
Các đơn vị
từ vựng làm
phương tiện xưng hô
Số lượng xuất hiện Tần số sử dụng
Trang 31*Nhận xét:
Theo bảng thống kê trên, chúng tôi đi đến mấy nhận xét sau đây:
- Xét về tần số sử dụng các từ ngữ dùng để xưng hô theo thứ tự từ cao đến thấp, chúng ta có thể thấy được:
+ Cao nhất là đại từ nhân xưng, với 1149/ 3220 lượt sử dụng, chiếm
35,68% trong tổng số lượt sử dụng các từ ngữ dùng để xưng hô
+ Thứ 2 là danh từ chỉ tên riêng, với 1043/3220 lượt sử dụng, chiếm
32,39% trong tổng số lượt sử dụng các từ ngữ dùng để xưng hô
+ Thứ 3 là danh từ thân tộc, với 874/3220 lượt sử dụng, chiếm 27,15%
trong tổng số lượt sử dụng các từ ngữ dùng để xưng hô
+ Thứ 4 là danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, chức danh, với 116/3220
lượt sử dụng, chiếm 3,60% trong tổng số lượt sử dụng các từ ngữ dùng để xưng hô
+ Thấp nhất là kiểu loại xưng hô khác, với 38/3220 lượt sử dụng, chiếm
1,18% trong tổng số lượt sử dụng các từ ngữ dùng để xưng hô
- Xét về tổng số các từ ngữ dùng để xưng hô theo thứ tự từ cao đến thấp, chúng ta có được:
+ Cao nhất là danh từ chỉ tên riêng, với số lượng 41/115 các từ ngữ
dùng để xưng hô, chiếm 35,65% trong tổng số các đơn vị từ vựng dùng để xưng hô
+ Thứ 2 là danh từ thân tộc, 27/115 các phương tiện dùng để xưng hô,
chiếm 23,48% trong tổng số các từ vựng dùng để xưng hô
+ Thứ 3 là đại từ nhân xưng và danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, chức
danh, số lượng 19/115 các từ ngữ dùng để xưng hô, cùng chiếm 16,52%
trong tổng số các từ vựng dùng để xưng hô
+ Thấp nhất là kiểu loại xưng hô khác với số lượng 9/115 các từ ngữ
dùng để xưng hô, chiếm 7,83% trong tổng số các từ vựng dùng để xưng hô
Trang 32Sau đây, chúng tôi sẽ đi sâu vào miêu tả cụ thể hoạt động các từ ngữ xưng hô đã khảo sát ở tác phẩm
2.1.2 Hoạt động của các phương tiện dùng để xưng hô trong tiểu thuyết
“Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng
2.1.2.1 Xưng hô bằng danh từ chỉ tên riêng
a Về danh từ chỉ tên riêng làm phương tiện xưng hô trong tiếng Việt
Trong hầu hết các tài liệu về ngữ pháp tiếng Việt, tên riêng tiếng Việt được xếp vào cùng nhóm với từ loại danh từ và được gọi là danh từ riêng (danh từ chỉ tên riêng) Đến nay, quan điểm của nhiều tác giả về nhóm danh từ này vẫn chưa được thống nhất
Các nhà từ vựng học tiếng Việt thường gọi tên riêng là từ, nhưng lại không xếp chúng thuộc lớp từ nào Các nhà ngữ pháp học tiếng Việt tuy xếp tên riêng cùng loại với danh từ và gọi chúng là “danh từ riêng”, nhưng khi miêu tả đặc điểm từ loại của chúng, thì người thì người ta mới vỡ lẽ ra rằng các tên riêng có nhiều điểm rất khác biệt so với danh từ Nói cách khác, các tên riêng không nằm gọn trong cùng một “khuôn” với các danh
từ Chính vì thế, có người vẫn không khỏi băn khoăn khi xếp tên riêng cùng nhóm với danh từ Chẳng hạn, Nguyễn Tài Cẩn cũng đã từng cân nhắc khi xếp tên riêng vào cùng lớp với danh từ Theo ông, nếu căn cứ vào chức năng ngữ nghĩa khác nhau của tên riêng và tên chung, thì các tên riêng “đáng được tách ra” thành một hệ thống, còn danh từ chung có thể với động từ và tính từ làm thành một hệ thống khác Ngay cả Đinh Văn Đức cũng không thấy dành cho tên riêng một vị trí đáng kể nào trong tác phẩm của mình khi viết về từ loại tiếng Việt
Danh từ chỉ tên riêng (chỉ người) trong tiếng Việt thường được sử dụng nhiều giữa những người bạn với nhau, vì thế sẽ tạo được gần gũi và thân mật hơn bình thường
Trang 33Ví dụ: Chiều mai Xuân tới chở Tuyết đi chơi nhé
Tuy nhiên, cách sử dụng danh từ chỉ tên riêng cũng có những “luật bất thành văn” của nó Trong tiếng Việt, khi đối thoại với những người lớn tuổi hơn hoặc chức vị cao hơn thì người nói sẽ không bao giờ chỉ gọi tên riêng của người đó mà phải kèm theo các từ chỉ sự đề cao họ, thông thương là với cấu trúc:
danh từ thân tộc + danh từ chỉ tên riêng
Ví dụ: “Ông Tuấn đi đâu thế ạ?”
Trang 35Các danh từ tên riêng làm phương tiện xưng hô được cấu tạo theo bảng sau:
Sự phân bố Đặc điểm cấu tạo
Số lượng xuất hiện Tần số sử dụng
Bảng 2.3: Cấu tạo tên riêng trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng
+ Nhóm thuần túy tên riêng là nhóm chủ yếu trong 5 đặc điểm cấu tạo
nên tên riêng trong cuốn tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng Với số
lượng 17/41, tương ứng với 41,46% trong tổng số các danh từ chỉ tên riêng làm phương tiện xưng hô Và nhóm này chiếm tới 806/1043 lượt sử dụng, tương ứng với 77,28% trong tổng số các danh từ chỉ tên riêng đi vào hoạt
Trang 36động trong tác phẩm Xuân Tóc Đỏ là danh từ chỉ tên riêng thuần túy xuất hiện
nhiều nhất (464 lượt)…
+ Tiếp đến là nhóm danh từ tên riêng kết hợp với danh từ thân tộc với
15/41, tương ứng với 36,59% trong tổng số các danh từ chỉ tên riêng làm phương tiện xưng hô Chiếm 178/1043 lượt sử dụng, tương ứng với 17,07% trong tổng số các danh từ chỉ tên riêng đi vào hoạt động trong tác phẩm
Ví dụ: cụ Hồng (45 lượt), ông Hàn (4 lượt), cậu ký Đại (1 lượt)…
+ Nhóm danh từ tên riêng kết hợp với danh từ chỉ nghề nghiệp với
5/41 tương ứng 12,19%) trong tổng số các danh từ chỉ tên riêng làm phương tiện xưng hô, chiếm 51/1043 lượt sử dụng, tương ứng 4,89% trong tổng số
các danh từ chỉ tên riêng đi vào hoạt động trong tác phẩm Ví dụ: Bác sĩ
Trực Ngôn (26 lượt), thầy Min Đơ (13 lượt), thầy Min Toa (10 lượt)…
+ Nhóm danh từ tên riêng kết hợp với danh từ đơn vị với 3/41 chiếm
7,32% trong tổng số các danh từ chỉ tên riêng làm phương tiện xưng hô, chiếm 4/1043 lượt sử dụng, tương ứng 0,38% trong tổng số các danh từ chỉ
tên riêng đi vào hoạt động trong tác phẩm Ví dụ: bé Chắt (1 lượt)…
+ Nhóm danh từ tên riêng kết hợp với từ ngữ chỉ chức sắc trong Thiên
chúa giáo có vị trí thấp nhất Số lượng 1/41 chiếm 2,44% trong tổng số các
danh từ chỉ tên riêng làm phương tiện xưng hô, chiếm 4/1043 lượt sử dụng, tương ứng 0,38% trong tổng số các danh từ chỉ tên riêng đi vào hoạt động
trong tác phẩm Ví dụ: Sư cụ Tăng Phú (4 lượt)
2.1.2.2 Xưng hô bằng danh từ thân tộc
a Về danh từ thân tộc làm phương tiện xưng hô trong tiếng Việt
* Khái quát danh từ thân tộc
“ Thân tộc là danh từ chỉ những giá trị có quan hệ huyết thống hoặc có quan hệ hôn nhân với bản thân mình Từ xưng hô thân tộc là những từ dùng
để xưng hô giữa những người có quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết
Trang 37thống với nhau trong giao tiếp ngôn ngữ” [15, tr.139] Theo thống kê có tới
19 từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc, với 13 từ thuộc quan hệ trên
tôi (cụ, cố, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, thím, cô, dì, cậu, mợ), 3 từ thuộc thế
hệ ngang với tôi (anh, chị, em) và 3 từ thuộc thế hệ sau tôi (con, cháu, chắt)
Với ngôn ngữ của tiếng Việt, xưng hô thân tộc là một bộ phận hợp thành rất quan trọng Nó bao gồm lớp từ ngữ xưng hô quen thuộc nhất và cũng có mối quan hệ mật thiết nhất đối với mỗi thành viên tham gia giao tiếp và nó luôn gắn liền với cuộc sống của họ “Lớp từ ngữ này xuất hiện từ rất lâu, gần như là song song với lịch sử ngôn ngữ và văn minh nhân loại Cùng với thời gian và sự phân hóa, phát triển của gia đình và xã hội Lớp từ ngữ xưng hô thân tộc từ chỗ đơn giản phân tán đã hoàn thiện dần và ngày càng phong phú Đó là lớp từ ngữ không thể tách rời đời sống thường nhật của con người và trở thành một hệ thống” [15, tr.141]
* Phạm vi sử dụng của danh từ thân tộc làm phương tiện xưng hô
Trước hết, danh từ thân tộc là lớp từ được dùng để xưng hô của các thành viên trong gia đình người Việt Các danh từ thân tộc được bắt nguồn bởi những mối quan hệ có tính quy phạm bởi các thế hệ trong gia đình, mỗi thế hệ, mỗi vai bậc đều được quy định bởi một từ thân tộc riêng như anh
của bố thì gọi là “bác”, em gái của bố thì gọi là “cô”
Tuy bị chi phối nghiêm ngặt của luật tôn ti thứ bậc trong gia đình và chuẩn mực của xã hội như đạo đức, tập quán nhưng xưng hô bằng danh từ thân tộc trong gia đình không phải là một khuôn mẫu chặt cứng, bất di bất dịch mà trái lại trong đời sống giao tiếp ngôn ngữ, chúng trở nên đa dạng và phong phú, muôn hình vạn trạng, nhiều vẻ dưới tác động của hàng loạt những nhân tố ngôn ngữ và xã hội Điều đó được thể hiện trong rất nhiều trường hợp xưng hô, chẳng hạn, khi con cái đã trưởng thành thì bố mẹ sẽ
gọi con mình là anh, chị và xưng là bố, tôi…hay gọi con mình bằng tên của
Trang 38cháu là: bố thằng Nam, mẹ cái Hồng
Ngoài phạm vi gia đình, quan hệ xóm giềng ở nông thôn cũng như quan hệ hàng xóm ở thành thị, người ta lựa chọn cách xưng hô bằng từ ngữ xưng hô thân tộc để giao tiếp với nhau, làm nổi bật tính chất “đại gia đình” trong cộng đồng, điều này là một trong những đặc điểm của văn hóa người Việt
Như vậy, lớp danh từ thân tộc là tiểu lớp từ không những để chỉ mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình mà nó còn là lớp từ được dùng
xưng hô ngoài xã hội Nói như Phạm Ngọc Hàm: “từ ngữ xưng hô thân tộc
chỉ chung cho hệ thống ngôn ngữ văn hóa được hình thành từ các kiểu xưng
hô thân tộc trong xã hội loài người” [15, tr.146]
Trong gia đình, các danh từ thân tộc chỉ có thể bắt nguồn từ ba nhân tố: huyết thống, hôn nhân và pháp luật Quan hệ thân tộc tuy ổn định và ít thay đổi nhưng lớp từ xưng hô biểu thị quan hệ đó luôn thay đổi cùng với các hệ thống xã hội, phản ánh sinh động diễn biến của các giai đoạn lịch sử xã hội Do
đó, chúng không phải là một con số xác định mà là một hệ thống mở
Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam hình thành trên cơ sở sản xuất nông nghiệp là chính, tính chất quan hệ làng xã ngàn xưa có ảnh hưởng đặc biệt sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của người Việt
Nam Do đó, khái niệm “đại gia đình” mang đậm quan niệm đạo lý truyền
thống dân tộc Chính vì vậy, trong giao tiếp xã hội, những danh từ thân tộc được sử dụng như một phương tiện xưng hô phổ biến trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, các danh từ thân tộc thường gặp: cố, ông, bà, bố, mẹ, chú, bác, cô, thím, dì, dượng, anh, chị, cậu, mợ, em Ngày nay, tính chất
“gia đình hóa xã hội” trong cách xưng hô rất sinh động được thể hiện trong
cách giao tiếp của người Việt, những danh từ thân tộc được sử dụng một cách phổ biến và linh hoạt Tuy nhiên, không phải tất cả các danh từ thân tộc
Trang 39được sử dụng trong gia đình đều được dùng để xưng hô ngoài xã hội Thực tế cho thấy, người Việt luôn coi trọng sự chân tình, luôn muốn gần gũi nên khi
xưng hô ngoài xã hội, các danh từ thân tộc chỉ quan hệ hôn nhân: vợ,
chồng,… ít được sử dụng Trong xã hội, các danh từ thân tộc được sử dụng
để xưng hô trong mối quan hệ hàng xóm, láng giềng, xưng hô trong công sở, nơi làm việc hay thậm chí là xã giao giữa những cuộc gặp gỡ qua đường…Những danh từ thân tộc đã trở thành phương tiện xưng hô thông dụng trong nhiều môi trường, hoàn cảnh trong hệ thống ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Từ xưa, người Việt đã “tối lửa tắt đèn có nhau”, sống với nhau bằng nghĩa bằng tình “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình” Chính vì thế,
xu thế “gia đình hóa xã hội” là một đặc điểm quan trọng trong cách xưng hô,
đối nhân xử thế của người Việt chúng ta Đây cũng là điều mà nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả cũng thừa nhận Các danh từ thân tộc khi được sử
dụng theo lối “gia đình hóa xã hội” thì nó đã mất đi nghĩa gốc Chúng tôi xin
đưa ra bảng thống kê sau để làm rõ hơn đặc điểm này:
Ví dụ: Con hơn cha là
Trang 40Mẹ
Chỉ người đàn bà có con trong mối quan hệ với con
Ví dụ: Thưa mẹ con mới
đi làm về
Dùng để chỉ người đàn bà ngang tuổi với mẹ mình ngoài
Dì
Dùng để gọi người phụ
nữ chị em với mẹ của mình
Ví dụ:
Mất cha còn chú
Mất mẹ bú dì
Dùng để chỉ người phụ nữ tương đương tuổi với mẹ mình khi giao tiếp ở ngoài xã hội
Ví dụ: Dì ơi! Cho con hỏi
đường Tôn Đức Thắng nằm ở đâu?
O
Dùng để gọi người em gái của bố mình, (đây là phương ngữ của người Trung Bộ)
Ví dụ: Ba ơi! O út nhắn
ba sáng mai vô nhà bà nội có việc
Dùng để gọi người phụ nữ hay người con gái của xứ Huế
mẹ sinh ra hoặc chỉ ba hoặc mẹ mình sinh ra
Chỉ người phụ nữ lớn hơn tuổi mình một chút ở ngoài xã hội
Ví dụ:
Chị lao công như sắt như